Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Câu đối Tết

 Hà Sĩ Phu

1- CẢM HỨNG TRƯỚC ĐI HA CỦA DÂN TC

Cuối năm con Rắn Ất Tỵ, Thiên tai bão lụt hòa với Nhân tai xả lũ, cuốn đi mấy nghìn sinh mạng, bao nhiêu làng mạc, cơ man nào là tài sản cùng gia súc gia cầm. Đại họa đã đến đúng lúc thời cuộc chính trị khẩn trương, các cán bộ cao cấp bị hút vào cuộc phân chia quyền lực trước Đại hội 14 của đảng, việc cấp cứu trước đại họa khiến dân phải tự lo cho nhau là chủ yếu.

Tìm hiểu tục thờ "Thổ công ông Táo"

 Hoàng Tuấn Phổ

Nước ta, nhà nào cũng thờ “Thổ công ông Táo”, nhưng ngoài quan niệm tín ngưỡng chung nhất, cách thức thờ cúng, nhiều nơi, thậm chí từng nhà cũng có những nét khác nhau, do cách hiểu “Hai ông một bà” chỉ theo cửa miệng nhân gian.

Hằng năm, đến khoảng giữa tháng chạp âm lịch, dân ta, nhà nào cũng mua tranh, tượng giấy, gọi tắt là “ông công” về thờ để thay tranh, tượng cũ, sẽ đốt đi vào chiều 23 tháng chạp. Tranh, tượng nào cũng theo công thức: Một bà ngồi giữa mũ áo chỉnh tề, hai ông ngồi hai bên cũng nghiêm trang áo mũ. Chân bà đi hài, chân ông đi hia, chỉ thiếu cái váy cho bà, cái quần cho ông! Người ta vẫn đặt câu hỏi: Tại sao? Nhưng không thấy ai trả lời! Thực ra, thời phong kiến, theo điển lệ ghi chép các đời chỉ thấy vua ban: Áo, mũ, đai, hốt, thẻ bài, hia... không hề có váy, quần hay cái xiêm phủ ngoài quần đối với đại thần. Có lẽ mấy thứ thông thường ấy các vị phải tự túc, tín chủ không cúng thì cũng chẳng sao đã có cái áo dài, rộng thùng thình che lấp kín...!

Việc thờ cúng nghiêm túc hóa thành “Hai ông một bà” mang vẻ hài hước, tuy hài hước mà vẫn nghiêm túc bởi đã là tục lệ dân gian truyền lại từ ngàn xưa chẳng ai dám bỏ. Nguyên nhân do hiểu sai ý nghĩa tục lệ từ một cổ tích dân gian.

Ngày xưa, chị vợ lấy anh chồng đôi bên đẹp duyên phải lứa. Người chồng nghe lời rủ rê của bạn bè, nay rượu chè, mai cờ bạc phải bán hết nhà cửa, ruộng nương. Hai vợ chồng đành chia tay mỗi người một ngả. Chị vợ đi lấy một anh chàng nghèo, tính tình hiền lành, siêng năng, thức khuya dậy sớm, hà tằn hà tiện. Nhờ vậy, hai vợ chồng làm ăn chẳng mấy chốc nên cửa nên nhà, có ruộng sâu trâu nái. Anh chồng cũ không còn gì để ăn chơi, đói quá đành bị gậy đi ăn mày, trước kiếm ăn xa, sau kiếm ăn gần. Cứ thế, đã qua mấy năm trời, anh không nhớ. Một hôm anh vào một gia đình cửa cao nhà rộng có vẻ giàu có, để xin ăn. Bà chủ nhà nghe tiếng nói quen quen, nhìn kỹ, nhận ra người chồng cũ. Bà lấy mấy bát gạo ra cho, cả quả cà muối và gói mắm. Ăn mày quen ngõ, ít bữa sau ăn hết gạo, người chồng cũ lại mò đến và người vợ xưa thương tình lại đem gạo ra cho. Rồi anh ta cũng nhận ra... ôm mặt khóc hu hu, bây giờ biết hối đã quá muộn!

Hôm ấy người chồng đi cày, bắt được con cầy hương, mừng quá tha trâu về sớm để làm thịt nó cho kịp bữa ăn trưa. Chị vợ sợ lộ, giấu anh ta trong đống rơm. Anh chồng lấy rơm đốt để thui cầy, chẳng may lửa cháy lan ra cả đống rơm. Người ăn mày sợ không dám chui ra. Đống rơm cháy bùng lên rất nhanh. Người vợ thấy anh chồng cũ đang quằn quại trong đống lửa cũng nhảy vào để cứu, nào ngờ bị cháy luôn. Người chống thấy vợ bị nạn lửa, không làm gì nổi, cũng nhảy luôn vào đống lửa, chết theo! Thế là chết cả ba mạng người và con cầy hương!

Trong đống lửa bùng bùng có mùi khói xạ hương thơm ngào ngạt bay xông lên tận thiên đình. Ngọc hoàng ngó xuống trần gian biết chuyện chết thê thảm, oan ức cũng thương tâm, cho ba người được làm thổ công ông bếp, soi xét công việc hay dở, thiện ác trong gia đình, đến ngày 23 tháng chạp lên trời tâu bày với Ngọc hoàng để ngài trị tội. Bởi thế, nhà nào cũng phải lập bàn thờ hai ông một bà... cúng vái chu đáo. Chiều 23 tháng chạp, lễ tiễn các vị lên thiên đình chầu Ngọc hoàng, lễ vật càng phải trọng thể, cúng cả ba con cá chép làm “ngựa” cưỡi để ba ngài nói toàn điều tốt cho chủ nhà. Lễ tục này rất trọng, nên người ta thường gọi “tết ông táo”, “tết ông công”.

Chung quanh lễ “tết ông Táo”, “tết ông Công” người ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi: 1. Các vị lên trời bao giờ mới trở về? 2. Trong thời gian các vị vắng mặt, ai ở nhà để giám sát mọi việc, bảo vệ đất đai cho gia chủ? 3. Các ngài sẽ trở về chỗ cũ hay Ngọc hoàng thay vị mới? 4. Ngày nào sẽ có các vị mới thay? 5. Có lễ tiễn, tại sao không có lễ đón? 6. Do sự tích gì, cá chép lại thành ngựa cưỡi của thổ công ông bếp?... Tục lệ từ dân gian mà ra tất nhiên câu hỏi, lời đáp cũng từ dân gian mà có.

Không có ngày đón “ông Công ông Táo” riêng. Các vị từ trên trời xuống hạ giới nhận nhiệm vụ mới vào đêm giao thừa. Còn thời gian các vị vắng mặt ở hạ giới từ chiều 23 đến chiều 30 thì không biết! Người này nói năm mới sẽ có thổ công ông bếp mới, người kia bảo vẫn hai ông một bà cũ, nếu họ ăn ở không bị Ngọc hoàng khiển trách. Phương tiện giao thông kỳ diệu của ba vị là cá chép thì lại mượn chuyện “cá chép hóa long”. Trời cho phép các loài cá thi nhảy, nếu loài cá nào bay nhảy cao qua được 9 bậc “Vũ môn” thì hóa rồng, chỉ có cá chép bay tài nhất nhưng chưa đủ 9 bậc, mới hóa được hai cái râu bị đuối sức rơi tõm xuống nước! Cá rô cũng hăng hái thi tài. Nó không bay, không nhảy được thì gằn ngược, nhưng ăn thua gì so với 9 bậc Vũ môn cao vòi vọi. Vì thế có câu ca chế giễu:

Năm nay mưa gió dồi dào

Cá rô rạch ngược lên đầu Vũ môn!

Nói về tín ngưỡng dân gian rất phức tạp, càng đi sâu vào các vùng miền càng thấy vô cùng phong phú. Quan niệm “đất có Thổ công, sông có Hà bá” xưa nay ở đâu cũng lập bàn thờ, đắp nền, đặt bát hương. Nhân dân miền Bắc phổ biến cách thờ thổ công ông táo chỉ cần cái bàn nhỏ nhưng phải treo cao, vừa tỏ ý tôn kính vừa gọn gàng. Nhưng treo bàn thấp không đẹp, treo cao quá dễ bị ngã. Nhà văn hóa tài năng họ Trần quê Nam Định, ngụ Hà Nội, bắc ghế đứng thắp hương bàn “ông công”, chẳng may bị ngã què chân! Đừng oán thổ công ông bếp. Hãy kiến thiết lại bàn thờ cho vừa tầm. Gần đây, một số người Thanh Hóa đi làm ăn xa (miền Nam) về lập bát hương ở góc nhà. Họ thờ ai? Không ai biết! Hoặc người này nói thờ thần tài, người kia bảo thờ ông địa. Đã thờ “ông Địa”, “ông Tài” (Tài, Lộc) thôi không thờ “thổ công ông bếp”, vì “thổ” là đất, đất là địa mà bếp cũng nặn từ đất, tất cả đều ở đất, do đất, thì phải thờ dưới đất. Cái lô-gíc dân gian ấy cũng có lý. Còn thần tài, thì tài hay lộc đều cũng sinh ra từ đất, do đất cả! Có người giải thích với tôi như vậy. Đa số do bắt chước nhau mà thờ!

Nhìn chung lĩnh vực tín ngưỡng dân gian đã nói là khá rắc rối, phức tạp. Riêng việc thờ thần linh ở góc xó nhà dưới nền đất hay nền lát, khó chấp nhận, vì đi lại bụi bặm, quét lau trở ngại, mất sự tôn kính và vệ sinh tối thiểu. Phong tục người Việt, ban thờ thổ công ông táo tuy nhỏ nhưng phải treo cao, còn cao hơn cả ban thờ gia tiên, chứng tỏ vị trí quan trọng của ba vị, nhất là Táo quân.

Táo quân, Thổ công, Long mạch là ba vị thần trong gia đình mỗi nhà, mỗi vị phụ trách một việc: Bếp lửa, đất cát, long mạch. Tam vị hợp nhất, cùng thờ chung một chỗ, bởi ba việc do 3 vị phụ trách. Ba việc khác nhau nhưng đều có quan hệ với nhau trong một gia đình: Bếp núc, thổ cư, long mạch. Long mạch là mạch nước ngầm chảy dưới mặt đất. Đất ta ở phải có mạch nước ngầm cây cối mới tươi tốt, nhà cửa mới mát mẻ. Long mạch nói ở đây là thủy mạch không phải sơn mạch, cũng không phải địa mạch của địa lý phong thủy.

“Hai ông một bà” theo cách hiểu của dân gian có hàm ý hài hước, mặc dù theo tục lệ, họ rất được tôn kính, thờ cúng chu đáo.

Thời nay, người ta khấn vái linh tinh, quên cả bài văn khấn, tuyệt nhiên không có chuyện cổ tích dân gian thế sự đáng thương của hai người chồng và một người vợ, cũng như chuyện cưỡi cá chép lên thiên đình.

Tôn hiệu ba vị thần ấy là gì? Là “Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân”, “Thổ công”, “Long mạch”. Ba vị này tôn hiệu Táo quân dài nhất đứng thứ nhất, Thổ công thứ hai, Long mạch thứ ba.

Quy định một ngôi nhà ở, nhà bếp phải đặt phía Đông (Đông trù) để thần hướng về mặt trời lặn mọc. Nơi đó là tòa phủ riêng của thần (Táo phủ) được tôn gọi là “vua Bếp” (Táo phủ thần quân). Vai trò tối ư quan trọng của thần bếp có nguồn gốc do tục thờ thần lửa từ thượng cổ, nếu không phải từ tối cổ. Vấn đề phát minh ra LỬA vô cùng quan trọng, nó là nguồn gốc của văn minh. Do đó, vai trò người giữ lửa cũng vô cùng quan trọng. Đánh mất lửa là đánh mất mạng sống. Nhân vật Viếng Ku linh trong sử thi Đẻ đất đẻ nước đánh mất lửa bị Nhà Lang bắt phải chết hóa làm con bọ hung. Gần đây người Việt còn có tục đêm ba mươi tết phải giữ lửa để sáng mùng một không được xin lửa và dẫu có xin lửa hàng xóm cũng không ai cho, vì cho lửa sẽ bị mất vận đỏ, vận may. Tháng một, chạp nhà nào cũng lấy đất sét nhào luyện với một ít trấu pha lẫn chút tro bếp nặn ba ông núc đội nồi, nặn cả một ông ne để đè tro than giữ lửa. Sau thời gian phơi nắng, ông núc, ông ne khô xếp cất vào trong góc nhà, đến 23 tháng chạp đem ra thay ông núc, ông ne mới, còn hai ông cũ đem bỏ ngoài bụi tre.

Ngày 23 tháng chạp, ngày tết ông Táo, tiễn ông Táo cũ, đón ông Táo mới, nên phải thay ông núc mới. Ông Táo cũ về trời để Ngọc hoàng sai đi nơi khác, cho ông Táo mới xuống thay. Tết ông Táo là tết tiễn Táo cũ, đón Táo mới, các thần đi mây về gió, không cần cá chép làm ngựa, vì chuyện cá chép vượt Vũ môn có vượt nổi đâu, dĩ nhiên nó không thể hóa rồng để bay lên trời.

Trước kia, người ta vẽ tranh 3 con cá chép dưới chân ba vị thổ công, ông bếp. Ngày nay, người ta cúng cá chép thật, có con chỉ to bằng ngón tay cái, lẫn cả cá giếc. Cá chép thật có năm giá đắt quá không mua được, vì hiếm hoi phải thay bằng cá vàng, không biết các ngài có cưỡi nổi hay đành cuốc bộ vậy! Chuyện tín ngưỡng nghiêm túc hóa ra hài hước, chữ tục đi liền chữ lệ, cái lệ hóa thành cái tệ!

HTP. Tết Tân Sửu (2021)

---------

Ghi chú của Hoàng Tuấn Công:

Bài đã đăng mục “Văn hoá - giải trí”, báo Thanh Hoá, 01/02/2021. Đây là bài Tết cuối cùng của Tiên nghiêm tôi.

René Magritte và triết học của cái phi lý (2)

 Nguyễn Man Nhiên

 

Bản chất của sự Đồng nhất và Che giấu

 

Magritte nhiều lần trở lại với hình ảnh người đàn ông đội mũ quả dưa (bowler hat) như một ẩn dụ cô đọng cho con người hiện đại – đặc biệt là con người trong xã hội tư sản, nơi cá nhân vừa hiện diện như một chủ thể tự do, vừa bị hòa tan trong những chuẩn mực vô hình của đời sống tập thể. Trong tác phẩm Golconde (1953), vô số người đàn ông ăn mặc giống hệt nhau lơ lửng giữa không trung, rải khắp không gian đô thị. Tính chất siêu thực của bức tranh không nằm ở sự biến dạng hình thể hay cảnh tượng kỳ dị, mà ở chính sự lặp lại rợn ngợp của cái bình thường: mỗi nhân vật đều rõ ràng, cụ thể, nhưng tổng thể lại khước từ mọi dấu hiệu của cá tính hay khác biệt. Sự đồng nhất hóa ở đây không phải là một tai nạn, mà là một trạng thái tồn tại.

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

“Quốc mẫu”?

 Thái Hạo

Vì thấy tấm ảnh dưới đây hôm nay được dân tình chia sẻ tràn ngập mạng xã hội, tôi dứt khoát không tin là ảnh thật (làm sao có thể tin nổi?!), nên cách đây 1 giờ đã lên bài cảnh báo bạn bè. Nhưng sau đó, bên dưới bình luận, do được nhiều người cung cấp nguồn ảnh, tôi mới biết là mình lạc hậu quá! Ảnh thật 100%, và sự kiện này cũng thật 100%.

Bình tâm lại, tôi viết xuống đây vài dòng, với nội dung khẳng định: không thể gọi mẹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “quốc mẫu”. Vì sao?

Để “đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp”, cần một nền kinh tế đủ sức hấp thu

Lê Học Lãnh Vân

Tiến sĩ thông thường là nhà nghiên cứu, và kèm theo đó, thầy giảng dạy. Là nhà nghiên cứu, người tiến sĩ có thể đi làm cho công ty sản xuất hoặc, nếu có đầu óc kinh doanh, có thể mở doanh nghiệp. Chú ý rằng một tiến sĩ có thể có kiến thức khoa học chuyên ngành cao nhưng chưa chắc nghiên cứu ứng dụng sản xuất giỏi hơn các nhà khoa học có bằng cấp thấp hơn!

René Magritte và triết học của cái phi lý (1)

 Nguyễn Man Nhiên

 

Khám phá chiều sâu triết học và mỹ học trong thế giới hội họa đầy nghịch lý của René Magritte (1898–1967), họa sĩ người Bỉ và là một trong những nhân vật trung tâm của Chủ nghĩa Siêu thực (Surrealism). Tuy gắn bó về mặt lịch sử với phong trào này, Magritte đồng thời cũng là một trường hợp đặc biệt: ông không chỉ mở rộng biên giới của hội họa, mà còn sử dụng hình ảnh như một phương tiện tư duy, nhằm chất vấn những giả định nền tảng về tri giác, ngôn ngữ và thực tại.

Hauntology và vấn đề “bóng ma” trong "Spectres de Marx" theo Colin Davis

 Tino Cao

Năm 1993, khi Jacques Derrida công bố Spectres de Marx, bối cảnh trí thức châu Âu vừa trải qua cú sốc của năm 1989. Bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô tan rã, và luận đề “kết thúc lịch sử” của Francis Fukuyama được lặp lại như một chân lí của thời đại. Chủ nghĩa Marx bị tuyên bố là đã chết, đã bị lịch sử vượt qua, đã trở thành một di tích của thế kỉ 19. Chính trong bầu không khí ấy, Derrida mở đầu cuốn sách của mình bằng việc trở lại với câu nổi tiếng của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản: “Un spectre hante l’Europe: le spectre du communisme”, được Karl Marx và Friedrich Engels viết vào cuối năm 1847 và được xuất bản lần đầu, tháng 2 năm 1848, tại London. Nhưng thay vì xem câu này như một khẩu hiệu cách mạng, ông nhìn nó như một cấu trúc thời gian. “Bóng ma” ở đây không phải là linh hồn người chết mà là một hình thức tồn tại lạ lùng của cái đã qua nhưng vẫn chưa qua, của cái chưa tới nhưng đã tác động. Từ đó, Derrida đề xuất một thuật ngữ gây nhiều tranh luận: hauntology, một cách chơi chữ với ontology, nhằm chỉ một kiểu bản thể học bị ám.

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

"Xuyên qua mọi chiến tuyến" – khi lịch sử trở thành văn chương đương đại

 Bảo Chân

Có những cuốn sách chúng ta đọc để giải trí, nhưng có những cuốn sách khi đọc xong, chúng ta phải định nghĩa lại những gì mình từng biết. Xuyên qua mọi chiến tuyến của Nguyễn Xuân Thọ chính là cuốn sách như thế bởi lẽ, nó xuất hiện như một nhắc nhớ, giản dị nhưng khiến lay động người đọc vốn lâu nay vẫn thường đọc lịch sử đóng khung trong những diễn ngôn chính thống, những văn bản tường thuật khô khan hoặc những huyền thoại tập thể. Ở đây, lịch sử, trước hết, là câu chuyện của những con người cụ thể.

Phá Tam Giang, nơi hẹn với tử thần

 Liễu Trương

Thi ca miền Nam thời 54-75 đã hình thành trong một bối cảnh lịch sử mới, với một tâm thức mới, và đã trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Có cả một khoảng cách lớn lao giữa Thơ Mới thời tiền chiến và thơ miền Nam, nhân sinh quan, cách nhìn thế giới, cách nhìn tương lai của hai thời kỳ hoàn toàn khác hẳn nhau. Về tình yêu chẳng hạn, tình yêu trong Thơ Mới là thứ tình yêu ngây thơ, lãng mạn, vô tư, tình yêu trong thơ miền Nam là thứ tình yêu rắn rỏi, biết rõ thân phận mình và tự biết mình ngắn hạn trước lịch sử, trước cái chết. Cho nên thi ca miền Nam một mặt rời bỏ cái quá khứ quá yên bình, thiếu trưởng thành, mặt khác phản kháng chiến tranh gieo bao hiểm họa, đau thương. Đó là về nội dung, về hình thức thi ca miền Nam tuy còn duy trì phần nào các thể thơ truyền thống, nhưng đã hiển nhiên nghiêng về thơ tự do và thơ văn xuôi.

"Nơi trăng không hắt bóng" là một thế giới người tù khác lạ

 FB Sương Nguyệt Minh

“Không phải ai bị giam cũng có tội, và không phải ai mặc sắc phục cũng thực thi công lý”. Là tội phạm bị giam dữ, cải tạo nhưng họ lặng lẽ, âm thầm nghĩ ngợi và rất ít khi nói bằng lời. Ngôn ngữ tục tằn, thô lỗ, “hổ báo” tranh giành sát phạt vắng thiếu trong tác phẩm này. Nhiều tình huống bất ngờ xót xa gây sang chấn và dư âm buồn thương kéo dài cho bạn đọc.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 11)

 Nguyn Phương Mai

"LÃNH THỔ", "SINH MẠNG", HAY "VĂN HÓA"?

Thời gian đầu ở Ukraine, bộ câu hỏi phỏng vấn của tôi luôn có đoạn: “Lãnh thổ hay sinh mạng quan trọng hơn?”

Càng ở lâu, tôi càng hiểu đó vẫn là một câu hỏi đúng, nhưng thiếu.

Thơ Ngô Nguyên Dũng

 

Ngũ Ngôn Ngô Nguyên Dũng

 

Tranh Đỗ Quang Em

1.

lần cuối

 

tôi ôm tôi dậy muộn

điểm tâm với bóng mình

vụn bánh mì luống cuống

bàn ghế những lặng thinh

 

            nỗi gì như gợi nhớ

            thuở mười tám ra đi

            mồ hôi trên lưng áo

            mưa ngơ ngác dậy thì

 

tôi gọi tôi khản tiếng

người đi biền biệt xa

lời trong đêm lặng gió

sao rụng đốm mắt lòa

 

            tôi treo tôi lên vách ([1])

            thời gian vết sẹo buồn

            tôi hỏi người có nhớ

            chỗ tôi giấu vết thương

 

tôi hư cấu ngôn ngữ

không chấm phẩy xuống hàng

đợi nắng lên phơi chữ

chim nhặt sạch nghìn trang

 

            tôi nhìn tôi lần cuối…

 

2.

chốn cũ

 

lâu rồi không nhớ mặt

một lặng lẽ một tôi

chừng mười năm không gặp

hương tóc mưa rã rời

 

            hoa úa tàn bên cửa

            lá phủ kín sân ngoài

            chim quên về lần nữa

            nắng cũng biết thở dài

 

cửa một lần khép lại

người ngoảnh mặt biệt tăm

hoàng hôn ai khóa trái

chăn gối nhớ chỗ nằm

 

3.

mộ sách

 

tôi gấp sách lên kệ

thắp ngọn gáy sách buồn

thác sau nhà Võ Phiến ([2])

vẫn âm ỉ tang thương

 

            còn đó mùa biển động ([3])

            ngựa đã nản chân bon ([4])

            trường thiên Nguyễn Mộng Giác

            mộ sách giấc mưa tuôn

 

đi trong nghĩa trang sách

không thấy miếu lẫn đền ([5])

những trang chữ nhàu rách

nằm đó mỗi cái tên

 

(01.2026)

 

([1]) Cảm ý "Tôi Nhìn Tôi Trên Vách" - Tiểu thuyết của cố văn sĩ Túy Hồng.

([2]) Cảm ý "Thác Đổ Sau Nhà" - Truyện ngắn của cố văn sĩ Võ Phiến.

([3])"Mùa Biển Động" - Trường thiên tiểu thuyết của cố văn sĩ Nguyễn Mộng Giác.

([4]) Cảm ý "Ngựa Nản Chân Bon" - Truyện ngắn của cố văn sĩ Nguyễn Mộng Giác.

([5]) Cảm ý "Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền" - Tập thơ của cố văn sĩ Mai Thảo.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Thế giới thơ mộng Đinh Cường: “Đi vào cõi tạo hình II”

 Phan Tấn Hải

Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập Đi vào cõi tạo hình II của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường.

Công lý và cứu rỗi trong một truyện ngắn của Lev Tolstoi

 Lê Thọ Bình

Trong toàn bộ sáng tác đồ sộ của nhà văn Nga Tolstoi, từ Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina, Phục sinh cho đến hàng loạt truyện vừa và tiểu luận, tôi đặc biệt thích truyện ngắn Chúa biết sự thật nhưng chẳng nói ngay (Бог правду видит, да не скоро скажет).

Panorama đô thị mất tên SG, 08-2001

 (Nhân đọc một bài thơ họ Nguyễn trên VIỆT # 8)

Bùi Hoằng Vị

Bài thơ này vốn được gửi tạp chí VIỆT ở Úc 2001, nơi đã đặt nó cho ấn phẩm số 9, tuy nhiên ngay sau đó tạp chí bị đình bản nên họ đã post ở tienve.org, nơi bây giờ cũng đã ngưng hoạt động. Năm ngoái, chúng tôi có sửa lại 4, 5 chỗ (chẳng hạn, chữ “ngõa thể” thành “lõa thể”, “Bắc Cực” thành “Bắc Kỳ”,…) cho dễ dịch, và bây giờ “ký gửi” nó ở vanviet.info cùng hai phiên bản chuyển ngữ này. Về sau, nếu các văn bản có được “ký gửi” đâu khác nữa, link này sẽ luôn đính kèm để làm nguồn tham khảo. Cảm ơn vanviet.info.

Tập san Khoa học Kỹ thuật (1957-1973)

Hà Dương Tường

Lời nói đầu

Trên mặt báo này, chúng tôi đã giới thiệu bốn tạp chí phổ biến khoa học của người Việt trong thời kỳ Pháp thuộc, chính xác là trước Cách mạng tháng 8.1945. Bài viết kỉ niệm 100 năm ngày ra đời của tờ đầu tiên trong số đó, với đường dẫn về các bài giới thiệu từng tạp chí, đã nhấn mạnh hoài bão chung của những người chủ trương các tạp chí này: làm sao để những kiến thức khoa học của thời đại – hoàn toàn xa lạ với xã hội Việt Nam thời đó – được phổ biến rộng rãi và được đông đảo dân chúng tiếp nhận. So sánh lực lượng với Pháp, đây hiển nhiên là một yêu cầu thiết yếu của cuộc đấu tranh giành độc lập, đồng thời cũng là nền tảng cho những thay đổi cần thiết về cuộc sống xã hội, từ kinh tế quốc phòng tới các hoạt động văn hoá, giáo dục... trong công cuộc giữ gìn độc lập, phát triển đất nước mai sau. Thực ra, nói "hiển nhiên" là với cái nhìn của ngày hôm nay chứ ở nửa đầu thế kỉ 20 không phải ai cũng thấy cái "yêu cầu thiết yếu" ấy, và theo thiển ý, hoàn toàn không thừa khi nhấn mạnh vai trò tiên phong của những người chủ trương các tạp chí nói trên trong nỗ lực phổ biến khoa học vào xã hội Việt Nam.

Nhưng thời thế không cho phép họ đi xa hơn. Chiến tranh Thế giới lan tới Đông Dương. Và khi chiến tranh kết thúc, sự ngoan cố của các chính quyền Pháp muốn tiếp tục chế độ thực dân trên đất nước ta, dẫn tới cuộc Kháng chiến 9 năm 1945-1954. Rồi Hiệp Định Genève tiễn người Pháp ra đi, tạm chia đôi đất nước trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử được dự trù sẽ tiến hành hai năm sau. Hai năm "tạm thời" ấy rồi sẽ kéo dài hơn hai mươi năm, với nhiều lý do khác nhau mà sự phân tích không thuộc phạm vi của loạt bài viết này.

Trong hai mươi năm chia cách ấy, ở cả hai miền, những "trí thức khoa học" đều nỗ lực tiếp tục công việc của mình, ở các trường đại học, các viện nghiên cứu, các bệnh viện, xí nghiệp, v.v. Về mặt phổ biến khoa học tới quần chúng rộng rãi thông qua các cơ quan báo chí, rất tiếc chúng tôi không đủ dữ liệu để có thể viết về những gì đã được thực hiện ở ngoài Bắc (dù có biết tới một Tạp chí Khoa học kỹ thuật của Viện Khoa học Việt Nam những năm 1960). Bài viết này, về một tập san xuất bản ở Sài Gòn trong những năm 1957-1973, do đó sẽ là bài cuối cùng (ít ra trong trước mắt) về những tờ báo phổ biến khoa học của người Việt trước năm 1975. Sau đó, là đất nước độc lập, thống nhất, một thời kỳ khác mở ra...

Thật ra, do quan hệ gia đình (cụ thân sinh là một nhân vật chủ chốt của tập san, trong bài sẽ nói rõ hơn), người viết đã biết về tập san này từ lâu, nhưng khi nghĩ tới viết về nó (cụ thể là khi tưởng niệm 20 năm ngày cụ qua đời) thì mới biết đứa con tinh thần của cụ để lại sau khi di tản năm 75 hiện không biết lưu lạc nơi đâu. May mà một người quen giới thiệu mạng lưới Worldcat kết nối những thư viện trên thế giới, qua đó được biết Thư viện trường Đại học Cornell (bang NY, Hoa Kỳ) có một bản đã đóng thành sách của tập san này. Gia đình ở bên Mỹ liền tiến hành mượn về (qua hệ thống liên thư viện) và sao chụp (scan) lại toàn bộ. Nhưng, vậy mà chưa phải vậy! Bộ sưu tập của Cornell rút cục còn thiếu nhiều số (nguyên năm 1962 và vài số khác). Hỏi bạn bè ở trong nước, hi vọng có mối từ Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố HCM (TVKHTHtpHCM), mà tiền thân là Thư viện Trung ương của Việt Nam Cộng hoà, nơi trên nguyên tắc là lưu trữ (theo chế độ lưu chiểu) các ấn phẩm trong nước, nhưng cũng phải qua nhiều lần mới tìm được người nhận vào Thư viện này tìm kiếm (các tư liệu thời VNCH còn thuộc diện "hạn chế người đọc"). Kết quả là Thư viện này cũng chỉ có của tập san này các năm 57-58, 62-63 và 64-65 (đóng thành 3 tập), và sau khi được Thư viện cung cấp bản scan của 7 số năm 1962, cuối cùng chúng tôi vẫn chưa có đầy đủ tập san trong tay (thiếu các số 23, 26, 52 và 68). Người bạn làm môi giới với TVKHTH tpHCM cũng đã có nhã ý đi một vòng các nhà sách cũ ở TPHCM, và hỏi thêm bạn bè ở các thư viện ngoài Hà Nội nhưng không thấy tăm hơi nào khác. Trước tình hình vô vọng đó, người viết quyết định, thiếu còn hơn không, vẫn cho ra mắt bạn đọc bài viết này, mong rằng nó không đến nỗi vô ích - và biết đâu, một bạn đọc trong hay ngoài nước tình cờ tìm được các số thiếu nói trên!

Vả chăng, đây cũng chỉ là một bài báo, giới thiệu một tập san, và cũng như các bài viết về 4 tạp chí đã nhắc tới trên kia, nó không có tham vọng là một công trình nghiên cứu đầy đủ về loại hình báo chí còn rất ít được quan tâm tới hiện nay: các tạp chí chuyên về phổ biến khoa học tới đông đảo quần chúng nói chung, và về tạp chí này nói riêng. Một nghiên cứu cần thiết, theo thiển ý, nhưng đó lại là câu chuyện khác.

Cuối bài, bạn đọc có thể xem mục lục toàn bộ của tập san (trừ các số 23, 52 và 68(*)- tuy thiếu số 26 trong hai Thư viện nói trên, nhưng mục lục của số này được in trong tổng mục lục của năm 1961) trong hai tệp Excel, một theo tên tác giả, một theo thứ tự ngày tháng. Nếu bạn muốn đọc bản pdf các số báo của hai thư viện nói trên (đây là pdf hình ảnh, chưa qua xử lý "OCR"), xin vào địa chỉ Drive này:

https://drive.google.com/drive/folders/1cRluK3tO4HesOGsKLrNTPLyH42uGb3ze

HDT

(*) Số 68 này được nói tới trong Lời mở đầu của Số đặc biệt về Kỹ nghệ VN, tháng 8 năm 1972. Tuy nhiên, số đặc biệt này không được đánh số, cũng như Số đặc biệt về Nông nghiệp, tháng 8.1973. Trong hai bản Mục lục ở cuối bài, để tiện sắp xếp, chúng tôi đã cho hai số đặc biệt này các số 69 và 70.

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Ga xép

 Truyện kịch của Ái Điu

Thời gian: Đêm khuya. Đồng hồ nhà ga kim phút dừng ở số 12. Không có kim giờ.

Nhân vật:

- Người già: tóc bạc, cỡ trên 70 tuổi; mặc bộ đồ cũ nhưng sạch sẽ.

- Người trung niên: da trắng; áo xanh da trời, đeo kính trắng.

- Cô gái trẻ: trang điểm diêm dúa; y phục màu trắng, hở hang, lộ cả ngực, chân.

- Nhân vật phụ: các bóng ma; vừa là diễn viên, vừa là khán giả; cử động như múa hình thể; chập chờn, mờ ảo.

Bộ phim “Sheep in the Box” của Hirokazu Kore-eda

 Lê Hồng Lâm

Bộ phim mới nhất có tên Sheep in the Box của Hirokazu Kore-eda vừa tung ra poster với hình một cậu bé có gương mặt ngây thơ nhưng bàn tay của một robot. Đây là dự án điện ảnh mới nhất của đạo diễn đương đại nổi tiếng nhất của điện ảnh Nhật Bản sau Monster (2023).

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Khi sĩ phu ngoảnh mặt – bi kịch của một dân tộc

 Nguyễn Thanh Huy

Vài chục năm trước, khi đọc giai đoạn văn thơ Trung Đại, thấy nhiều bậc danh gia phải chọn lối sống ẩn dật nơi ruộng vườn hoặc tiêu dao chốn thâm sơn cùng cốc. Hình ảnh đó như một nét đặc trưng trong phong cách sống của người Á Đông, vừa cao đẹp, vừa yếm thế.

Thơ haiku của Miura Chora

 Miura Chora (1729−1780) gặp nhà thơ Buson khi ông này mới hai mươi tuổi. Cả hai đều rất ngưỡng mộ Bashō và phong cách giản dị của ông.

Tính thờ ơ và phóng túng của Chora khiến ông bị một số người ghét bỏ, nhưng ông không quan tâm đến tính thực tế hay những việc trần tục và điều này được phản ánh trong phong cách văn chương của ông.

Thơ haiku của Chora trong sáng và giản dị, nhưng tao nhã. Ông yêu thích văn học cổ điển, đặc biệt là thơ hòa ca, và một sự thấu hiểu mọi thứ thấm đẫm trong thơ ông.

Những bài dưới đây do Bạt Xứ dịch hầu hết từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson.

                                                                                                                          - Bạt Xứ

 

                    Tranh Matsubayashi Keigetsu

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

“A Châu đã bảo ta giữ đường này cho bộ đội, thì ta giữ đường này cho bộ đội” (“Nhớ” và “quên”, hay là sự tương tác giữa kí ức bản địa và hệ tư tưởng quốc gia)

 Lã Nguyên

1. Giới thuyết vấn đề

Sự tương tác giữa kí ức bản địa và hệ tư tưởng quốc gia là vấn đề vô cùng phức tạp, có phạm vi nghiên cứu rất rộng, cho nên chúng tôi cần giới thuyết một số điểm mấu chốt sau đây:

Thứ nhất, chúng tôi chỉ thảo luận về kí ức bản địa ở bình diện kí ức văn hóa và kí ức văn hóa thì được tiếp cận chủ yếu từ góc độ kí hiệu học.

Kỹ thuật là ngôn ngữ của cảm xúc

 FB Nguyễn Đình Đăng

Truyện ngụ ngôn của Aesop Con cáo và chùm nho kể rằng, một ngày nọ, một con cáo nhìn thấy chùm nho chín mọng tuyệt đẹp treo lủng lẳng trên cành cây. Cáo thèm chùm nho tới mức mõm nó chảy nước dãi. Nhiều lần nó cố nhảy lên để đớp chùm nho nhưng mọi cố gắng của nó đều vô ích. Chùm nho treo quá cao, cáo nhảy kiểu gì cũng không tới. Cáo ngồi ngồi xuống và nhìn những quả nho với vẻ chán ghét. “Mình thật là ngu ngốc,” nó nói. “Mình lại phí công đến thế chỉ để lấy một chùm nho còn xanh và chua chẳng đáng để thèm muốn. Chỉ bọn ngu mới ăn những quả nho này.” Rồi nó bỏ đi với vẻ rất khinh bỉ.

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Thơ có nhà thơ hay nhà thơ có thơ?

 Tiểu luận Ngu Yên

Thơ sẽ vô hình khi không có nhà thơ. Nhà thơ không có thơ cũng sẽ vô hình, chỉ còn bóng.

Có thơ và thơ như thế nào là hai điều mà hầu hết ai làm thơ hoặc yêu thơ đều muốn biết.

Nếu đời và sống cùng con người chỉ là màu đen và xám, thì thơ tự nó phải hóa thân màu sắc và người làm thơ là người biết làm sao cho thơ nở hoa – màu.

Màu gì?

Màu sáng tạo.

Những mới lạ trong “Dấu về gió xóa” của Hồ Anh Thái

 Nghiêm Lương Thành

Tiểu thuyết Dấu về gió xóa của nhà văn Hồ Anh Thái từ khi ra đời đến nay đã nhận được những luồng dư luận sôi nổi. Nhân dịp tiểu thuyết vừa được Nhà xuất bản Trẻ in lại lần thứ ba, đầu năm 2026, xin giới thiệu một bài viết về cuốn tiểu thuyết này.

Tôi đọc thơ (1): Ý Nhi và Paul Éluard

 Bảo Chân

- Bài Thơ tặng của Ý Nhi (1986)

Căn nhà của hai ta như con thuyền giữa sóng
con đường mỗi ngày ta qua như bước trên cát bỏng
gió ào ào thổi hết những đêm thâu

Ta là lũ trẻ thơ chưa biết lo âu
hay là kẻ đã qua nhiều sống chết
mà đến cùng nhau giữa thời khắc nghiệt

Nhánh cây nhỏ em sẽ trồng trên cát
sẽ canh giữ ngọn đèn qua suốt đêm sâu
và cánh cửa căn phòng mỗi ban mai em sẽ mở

Xin anh giữ lòng trắng trong, thơ nhỏ
sự can trường của kẻ đã phong sương
để cùng em đi hết một con đường

“Tư tưởng Phật giáo – Một giới thiệu toàn diện về truyền thống Ấn Độ” – cuốn sách lý tưởng để khám phá triết học Phật giáo

 Dương Thắng

1. Một trong những ý kiến phổ biến về Phật giáo mà chúng ta thường nghe thấy đó là khẳng định rằng việc giác ngộ về Phật giáo không liên quan gì đến lý thuyết, khái niệm, lập luận hay thảo luận… Nhưng chỉ cần tiến hành những khám phá đơn giản về lịch sử và quá trình tiến hóa của Phật giáo là có thể thấy ngay rằng những ý kiến kiểu như vậy là rất không xác đáng và gây mất phương hướng.

Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 2)

 Václav Havel

Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang

Chính trị và lương tâm

"Chính trị và lương tâm" (tháng 2 năm 1984): Trong phần ghi chú Havel viết: “Đây là diễn văn dành cho buổi nói chuyện ở Trường đại học Toulouse, tôi lẽ ra đã phát biểu ở đấy trong buổi lễ nhận bằng Tiến sĩ danh dự, nếu tôi đã được tham dự…”. Dĩ nhiên là Havel không có hộ chiếu và không thể ra nước ngoài được. Trong buổi lễ diễn ra tại Trường đại học Toulouse-Le Mirail vào ngày 14 tháng 5 năm 1984, ông Tom Stoppard, một nhà soạn kịch người Anh, đã đọc thay Vaclav Havel.

Chuyện làng văn: Nhà thơ trẻ bỏ viết...

 Đặng Chương Ngạn

Nhà thơ Phạm Nhật Hồng sinh năm 1946. Năm 1983, khi vừa tròn 37 tuổi, ông được xem là một trong những gương mặt thơ trẻ sung sức của vùng mỏ. Được điều về Hà Nội công tác tại Ban Thi đua Bộ Năng lượng, ông ở trong một căn phòng tập thể chật chội. Ban ngày làm công chức, tối đến, nhà thơ trẻ cày thơ, nuôi quyết tâm: phen này ra thủ đô phải cho “vua biết mặt, chúa biết tên”.

Người phiêu bạt “xé mặt nạ”

Hoàng Minh Tường

Bùi Mai Hạnh (BMH) luôn làm người ta bất ngờ. Cách đây gần hai chục năm, tôi có đọc cuốn sách BMH viết Lê Vân Yêu và Sống, tôi rất bất ngờ. Bất ngờ thứ nhất là về cuộc đời nhiều khốc liệt éo le nhiều dung mạo của Lê Vân, nhưng bất ngờ hơn nữa là về người viết, không những đã thể hiện trung thực mà còn bằng tài năng bút pháp của mình, dẫn dụ hấp dẫn độc giả, làm cuốn sách lan tỏa. Nếu không có BMH thì Lê Vân chỉ là một nghệ sĩ thôi. BMH đã làm cho cuộc đời người nghệ sĩ ấy trở thành một nỗi ám ảnh, mang thân phận của một thời cuộc đầy trăn trở, khó khăn nhất của Việt nam. Và rồi tôi đã quên đi, tôi cứ tưởng BMH, người tôi coi như một cô em cùng quê, sang làm dâu nước Úc, sống cuộc đời bình lặng nuôi con. Và thật là đột ngột, BMH ra một cuốn sách làm tôi choáng ngợp.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Lý Tiểu Long là người kỳ thị, Đại Hán?

 Nguyễn Hoàng Văn

“Võ đạo Nhật Bản là như thế này ư?”

Đang giao đấu tay không với tốc độ vũ bão nhưng, bằng cách nào đó như xiếc, tên mật thám Hắc Long của Nhật lén lút tra bộ móng sắt vào ba ngón tay như chớp khiến chiến sĩ ái quốc Trung Hoa – tôi nhớ là tài tử Huỳnh (Hoàng) Nguyên Thân – bất ngờ ăn đòn. Đưa cánh tay với ba vệt dài rướm máu lên, chiến sĩ ái quốc Trung Hoa liếm lấy vết thương rồi cười gằn, buông lời sỉ nhục cả nền văn hóa Nhật.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 10)

 Nguyễn Phương Mai

Suốt 4 năm qua, người Ukraine đã trụ lại trong một cuộc chiến không cân sức (bài 1, bài 2, bài 3, bài 4, bài 5). Lịch sử trở thành yếu tố quan trọng để trả lời hai câu hỏi: Tại sao họ chưa bỏ cuộc (bài 6, bài 7, bài 8); và tại sao các yếu tố thù ghét Nga cực đoan tồn tại (bài 9).

Tuy nhiên, như mọi xung đột trong lịch sử, một số người Ukraine cũng nghi ngờ tính chính nghĩa của cuộc chiến. Để khách quan, bài viết kỳ này tạo không gian để họ được lên tiếng.