Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Cầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Cầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

Vụ án “Về Kinh Bắc” (1982-1985) - kỳ 2

 Hoàng Hưng

Chuyên án “Về Kinh Bắc” chắc đã được khởi động từ quãng giữa năm 1982, khi anh Nguyễn Mạnh Hùng, TS Kinh tế, GS đại học Laval, Quebec, Canada, cũng là nhà văn Việt Nam hải ngoại có bút hiệu Nam Dao, đang làm việc/thăm chơi ở Hà Nội, xin nhà thơ Hoàng Cầm một bản chép tay tập thơ Về Kinh Bắc để đem về Canada. Nguyễn Mạnh Hùng được chính quyền Việt Nam coi là “Việt kiều yêu nước”, đã đóng góp tích cực cho phong trào ủng hộ miền Bắc, chống Mỹ và chính quyền miền Nam từ khi còn là sinh viên ở Canada. Sau khi đất nước thống nhất, anh đã nhiều lần về nước làm việc theo lời mời của các Viện chuyên môn. Mặt khác, anh lại quan hệ thân thiết với các nhà văn trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm, đặc biệt với nhà thơ Hoàng Cầm mà anh yêu mến.

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2023

Đôi dòng tâm tưởng về thơ

Nhà thơ Hoàng Cầm gửi cho Hoàng Hưng

Người từ chớm hoa niên – có thể sớm hơn – sống mỗi ngày một thêm hoe hoe khao khát.

Khát khao trời đất, núi sông, biển, gió, mây, thèm tiếng chim lạ, lành, lanh lảnh hay nỉ non, thèm tiếng ong vi vi tìm hoa, thèm trông bướm chập chờn cánh lá, thèm một heo may gợi nhớ một ai xa, thèm tia nắng sớm đông, thèm ăn cả một cánh đồng lúa chín, cả một vườn cam mọng, ăn cả một bầu trời biêng biếc.

Khát khao yêu thương, thèm một hơi thở bên vai, một sợi tóc óng, một vuốt ve dìu dịu, một cái hôn chậm trong nhịp tim đập nhanh, gấp gáp, thèm một ánh mắt nhìn làm rạng hồng khuôn mặt, làm say lâng lâng suốt một mùa mưa đọng ngọc trên khuôn cửa mở nhìn ra tít tắp một phương trời thơm và ấm như hương chăn gối tân hôn.

Khát khao vô tận.

Thứ Ba, 29 tháng 8, 2023

Tiến tới xét lại một vụ án văn học: Con người Trần Dần

Hoàng Cầm

Lời toà soạn báo Nhân văn số 1, ra ngày 20.9.1956
Ít lâu nay, nhất là trong giới văn nghệ, vấn đề Trần Dần được nhiều người nhắc tới. Đó không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà chính là vì vấn đề Trần Dần không còn là một vấn đề riêng của anh hay của một số người nào, mà là vấn đề của chung, có liên quan tới quyền chính đáng tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do sáng tác của tất cả mọi người.
Theo tinh thần đó, chúng tôi đăng bài này.

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2023

Hoàng Cầm nói về Văn Cao & khẩu hiệu “Phục xuống mà sáng tác”!

Hoàng Hưng ghi

(Từ khẩu hiệu này mà ra đời Cổng tỉnh (Trần Dần), Trường ca quan họ (Hoàng Cầm), Những người trên cửa biển (Văn Cao), thơ Lê Đạt (sau in thành Bóng chữ) và Đặng Đình Hưng bắt đầu làm thơ! Trong một buổi tụ họp ở phòng trà Phúc Châu năm 1956 sau khi “Giai phẩm Mùa Xuân” bị “oánh” nặng vì đăng bài thơ Nhất định thắng của Trần Dần; Trần Dần bị bắt, tự cứa cổ và được Tướng Nguyễn Chí Thanh giải thoát, về họp với bạn bè)

------------------------------------------------------------------------------

…Lúc bấy giờ anh Văn Cao nói ra một câu mà có thể là ghi vào văn học lịch sử được tức là “Ra Giai phẩm mùa xuân chưa có gì mới một chút gọi là đổi mới thôi, mới hoe hoe lên cái đổi mới mà nó đánh như thế thì liệu mình có chịu không? Chúng mình có chịu để cho họ đánh như thế không? “Tất nhiên chả thằng đéo nào chịu được”! Tôi phải văng ra “Đéo thằng nào chịu chuyện phê phán như thế”! Thế nhưng mà mình không có được một tờ báo nào cả tức là mình không có quyền một tờ báo nào hết, nhưng quyền sáng tác của mình vậy thì phải “phục xuống mà sáng tác”. Sau này phê phán Nhân văn thì thường thường họ đem câu ấy của Văn Cao ra để họ nhấn mạnh cái âm mưu của bọn Nhân văn Giai phẩm nó kiên trì lắm, nó lâu dài lắm, nó phục xuống, phục xuống tức là im lặng, nằm giấu một chỗ gọi là phục xuống để mà sáng tác tức là cái đó là âm mưu dai dẳng của Nhân Văn Giai Phẩm, về sau dựa vào câu nói của Văn Cao như thế họ nêu luôn ở nhiều bài khi phê phán Nhân Văn, họ nêu câu Văn Cao cho nên tôi nghĩ rằng câu nói của Văn Cao ở phong trà Phúc Châu thôi trong cuộc anh em nói chuyện bình thường thôi nó trở thành câu nói ghi vào lịch sử được. “Phục xuống mà sáng tác!”

Câu nói của Văn Cao “Phục xuống mà sáng tác là tất cả đều tán thành, thôi cứ lặng lẽ, thằng nào có đề tài gì, xúc cảm gì, suy nghĩ gì, tư tưởng gì thì cứ lặng lẽ ngồi một xó mà sáng tác chưa biết sẽ in ở đâu cả mà phải biết lấy sáng tác là cái sự sống trong cuộc đời của mình, có sáng tác mới thành văn nghệ sĩ được, có sáng tác có tác phẩm thì công việc của mình muốn đóng góp với xã hội, với loài người thì mới tồn tại được, không sáng tác thì anh đóng góp bằng cái gì, anh không phải nhà lý luận, phê bình thì anh đóng góp bằng sáng tác vào cuộc sống của con người, trong khi chính quyền nghiêm ngặt như vậy thì anh phải phục xuống tức là anh phải im lặng chỉ làm việc thôi không khoe khoang, không có ba hoa, không có gì hết cứ lặng lẽ, khuất đi, khuất cái thân mình đi, ngồi vào một xó nào đấy mà sáng tác.

…Trần Dần bắt đầu viết “Cổng tỉnh” tôi không biết là viết gì mà khi nào xuống cũng thấy làm việc suốt ngày. Lê Đạt cũng thế, lúc này làm thơ nhiều lắm nhưng mà có thể những bài ngắn có thể những bài dài thì tôi chưa đọc của Lê Đạt có nhiều cái tôi chưa đọc cái nào sắp sửa đem in tôi mới đọc. Còn tôi thì tôi bắt đầu viết “Tiếng hát quan họ”, trường ca về quan họ, tập quan họ cũng là tác phẩm của tôi trong thời kỳ Nhân Văn, cái tư tưởng đấu tranh của nó nằm rải rác trong các câu thơ nhưng chủ yếu là đoạn mở đầu và đoạn kết thúc cả trường ca dài khoảng 650 câu…

Còn Văn Cao? Lúc bấy giờ cả 3 người Lê Đạt, Trần Dần và tôi đều thống nhất với nhau một nhận định là thế này: Văn Cao là thằng có tài và nó còn nhiều tiềm năng, lực sáng tác của nó còn mạnh mẽ nhưng riêng về nhạc thì nó hết rồi, cả ca khúc nữa nó cạn rồi, cạn cả đề tài, cạn cả giai điệu, từ kháng chiến về trước thì rõ ràng Văn Cao làm khá nhiều nhất là những bài ca cách mạng thì lúc bấy giờ phải nói nhân dân hát rất nhiều “Bao chiến sĩ anh hùng lạnh lùng ôm gươm ra sa trường”, Thăng Long hành khúc, rồi đến cả 3 thứ quân, Thủy quân, Không quân, Bộ binh, cả về đề tài nông thôn như là “Gánh thóc về”, “Làng tôi”, phải nói ca khúc Văn Cao rất đa dạng, bài nào nó đi bài ấy… Nhận định Văn Cao còn nhiều tiềm năng nghệ thuật, riêng về âm nhạc thì nó cạn, thế thì phải đẩy nó sang thơ nhưng bây giờ ông thích vẽ, vẽ tức là một bộ môn nghệ thuật lớn, một ngành nghệ thuật, nếu có tài thì vẽ cũng hay lắm và Văn Cao là một con người ai cũng thấy đa tài thì có thể vào hội họa thì nó có thể làm nên một cái gì đấy chứ không phải là không đâu, còn thơ thì cậu có vẻ lơ là lắm! Trần Dần, Lê Đạt mới thúc tôi bảo rằng chỉ có mày mày mới động viên được nó hoặc thúc đẩy nó thậm chí khi thân mật mày có thể mắng cho nó vài câu cũng được, chỉ có mày mới làm được chứ chúng tao làm sao mà nổi tiếng bằng nó, nó vào nghệ thuật sớm, bậc đàn anh mình thì có cái cớ gì mà thúc đẩy được, cậu thì cậu thúc đẩy được bây giờ cậu thúc đẩy nó làm tập thơ gì đi, làm thơ gì cũng được chữ vẽ thì mênh mông lắm biết thế nào được! Mặc dù ông đa tài nhưng đa tài gì thì đa tài nhưng có chỗ mạnh chỗ yếu chứ không như nhau được. Đấy là quyết định họ phân công tôi bảo việc này giao cho thằng Cầm phải làm thế nào động viên nó có được một tập thơ trong thời gian “phục xuống mà sáng tác” này. Tôi thì tôi được cái hay nghe anh em lắm, anh em bảo cái gì nghe hay thì tôi làm luôn, tôi không bao giờ phản đối hay tự ái gì cả. Lần ấy ở cơ quan làm việc, tôi vẫn làm việc ở cơ quan nhà xuất bản, lúc bấy giờ vẫn là nhà xuất bản văn nghệ, tôi vẫn làm như là phó cho ông Tô Hoài, thì tôi viết “Trường ca quan họ”, đến khi thấy có vẻ là Văn Cao có vẻ nghe mình rồi thì bắt đầu Văn Cao làm trường ca về Hải Phòng là nơi mà Văn Cao sinh ra ở đấy, sinh sống và học ở đấy, thì bao nhiêu xúc cảm, bao nhiêu kỷ niệm, bao nhiêu suy nghĩ của Văn Cao, nhân thể viết về vùng quê bé của mình thời thủa bé… Thì Trần Dần ở Nam Định, sống ở Thành phố Nam Định thì Trần Dần mới viết Cổng Tỉnh, tôi chưa đọc nhưng tôi biết viết về Nam Định, con người, cảnh của Nam Định trước năm 1945; Lê Đạt thì làm một số bài thơ lặt vặt, tôi thì có “Trường ca quan họ”, thế thì lúc bấy giờ chưa ai nghĩ đến Đặng Đình Hưng, chưa ai thấy Đặng Đình Hưng có tiềm năng về thơ, chưa xuất hiện thì chưa biết thúc đẩy Hưng làm cái gì bây giờ, lúc bấy giờ Hưng vẫn đam mê bà Liên, sang đến năm 1956 thì Hưng đã bị kỷ luật rồi, kỷ luật vì không cắt đứt với bà Liên. Tối hôm mà Hưng có cuộc tiếp xúc với ông Lành thì chúng tôi ngồi cả ở nhà Hưng, hai người sống ở đấy đường hoàng không có hề vụng trộm giấu giếm gì cả như là khiêu khích với bà Thoa, là vợ cả vợ chính thức của ông Hưng. Bây giờ tôi phải kể chuyện này để về sau có quan hệ về thơ ca thì phải kể chuyện ông Hưng…

image

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022

Tròn 40 năm vụ án “Về Kinh Bắc” (kỳ 4)

NHỮNG NGƯỜI CÓ DUYÊN NỢ VỚI “VỀ KINH BẮC” (II)

Hoàng Cầm kể, Hoàng Hưng ghi

3. Hoàng Hưng

Cũng năm 1982, Hoàng Hưng, một nhà thơ trẻ từ Sài Gòn ra, đến thăm tôi và bảo: “Em ra Hà Nội chỉ độ một tuần nữa thì em về Sài Gòn, vậy anh làm thế nào anh chép cho em toàn bộ tập “Về Kinh Bắc”. Ở trong ấy em có sinh hoạt với nhóm anh em trẻ làm thơ, họ muốn có tập “Về Kinh Bắc” của anh để nghiên cứu bởi vì cứ nghe đồn hoặc là thuộc vài câu vài bài thích lắm mà tam sao thất bản cả, anh chịu khó chép giúp em”. (Trước kia tôi đã chép cho Hoàng Hưng ba bài: ‘Tam cúc’, ‘Diêu bông’, ‘Vườn ổi’). Tôi còn chần chừ thì ông Minh Đức Trần Thiếu Bảo đến bảo là “Hoàng Hưng bảo nó xin anh tập Về Kinh Bắc thì anh cho nó đi! Tôi có bảo cậu ấy bồi dưỡng cho anh, giờ anh nghỉ bán rượu để chép thì anh làm gì có tiền mà chi tiêu”. Ông Minh Đức mua giúp Hoàng Hưng 200 tờ giấy trắng đẹp lắm, mỗi một hôm bán rượu đến độ rỗi rãi vắng khách thì tôi mới ngồi chép, thường thường về đêm, khoảng 10h30 tôi lại chép độ 1 tiếng đồng hồ trước khi đi ngủ. Thành ra độ 10 ngày tôi mới chép xong. Khi tôi giao cho Hoàng Hưng tập “Về Kinh Bắc” tại nhà ông Trần Thiếu Bảo – lúc ấy nhà ông cũng mới mở quán ăn uống – thì Hoàng Hưng lại sẵn có một bìa do anh Văn Cao trình bày và bốn tranh phụ bản của Bùi Xuân Phái, có ba cái tôi thích lắm bởi vì anh Bùi Xuân Phái đã đọc “Về Kinh Bắc” rồi và anh đã từng vẽ phụ bản cho tôi chép một tập mà tôi cho cà phê Lâm. Chính cái bản cho cà phê Lâm có một hôm tôi đã mượn về, vì có mấy anh bạn uống rượu cứ đòi xem, họ uống suốt từ 9h sáng cho đến chiều, ngồi uống rồi đọc tập “Về Kinh Bắc”. Đến chiều hôm ấy tôi không tìm thấy lại tập thơ nữa. Tập ấy là tập tôi chép rất đẹp, cũng có bốn phụ bản của Bùi Xuân Phái cũng rất đẹp, anh vẽ những cảnh hội Kinh Bắc, hai cô con gái quan họ, một chân dung của tôi, thành ra anh Lâm giữ như là của gia bảo…

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2022

Tròn 40 năm vụ án “Về Kinh Bắc” (kỳ 3)

NHỮNG NGƯỜI CÓ DUYÊN NỢ VỚI “VỀ KINH BẮC” (I)

Hoàng Cầm kể, Hoàng Hưng ghi

1. Cô “Cần Thơ”:

Cần Thơ là ai? Tôi quan hệ thế nào với cô?

Nguyên tôi có người bạn ở trong Sài Gòn là anh Nguyễn Bùi Chấn, anh ruột cô Nguyễn Thị Bắc là hoa khôi tỉnh Bắc Giang – tôi định nhờ cô Bắc diễn vở kịch Kiều Loan mà rốt cuộc là không thành, mà thành một người tình của tôi. Nguyễn Bùi Chấn là bạn học cũ của tôi suốt từ năm đồng ấu cho đến năm lớp nhất ở tỉnh Bắc Giang. Năm 1979, anh có viết thư cho tôi đại ý là: Ở bên Pháp có một nữ bác sĩ còn ít tuổi hâm mộ thơ của anh, tên cô ấy là Bùi Thị Cần Thơ, vậy thì nhận được thư này anh làm ơn cho tôi biết ngay là anh có vui lòng quan hệ với một người như thế không? Cô ấy cũng nói anh thích có cái quà gì hoặc anh thích bất cứ cái gì, cô ấy sẽ gửi tặng anh. Vốn tính tôi khi thấy có một độc giả yêu thích thơ mình như thế, nhất lại là nữ, thì tôi sốt sắng ngay.

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2022

Tròn 40 năm vụ án “Về Kinh Bắc” (kỳ 2)

HOÀNG CẦM Ở XÀ LIM BỘ

Hoàng Cầm kể, Hoàng Hưng ghi lại

Nhiều năm trước khi anh Hoàng Cầm qua đời, lần nào đến chơi với anh trên cái chuồng cu nhà 43 Lý Quốc Sư tôi cũng giục anh tập trung thời gian kể lại chuyện đời mình cho bạn bè nghe, và từ đó sẽ làm thành một cuốn hổi ký. Kẻo muộn, bạn già như sợi chỉ manh! Anh lười, khất lần, nhưng tôi ép tới, nên cuối cùng anh phải nghe. (Tôi cũng thường giục anh Lê Đạt như thế, nhưng anh cứ bảo: “Chưa đến lúc, tớ còn sống lâu chán!”). Từng đoạn, từng mảnh đời Hoàng Cầm được nhớ lại, kể lại như thế… Rồi cái nào hợp tai “chính thống” thì anh viết ra, cho đăng báo, kiếm tiền đi lại với… nàng tiên. Còn những cái nghịch tai? Thì cứ để đấy, sớm muộn cũng có lúc… Hôm nay, nhân kỷ niệm 40 năm vụ án “Về Kinh Bắc”, tôi xin kể lại một đoạn mà anh đã kể về những ngày ở “xà lim bộ” – Hoàng Hưng

***

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2021

Văn Việt giới thiệu: Nhà thơ Hoàng Cầm đọc thơ và trò chuyện với đoàn Quan họ Bắc Ninh 1994

Đầu năm 1994, nhà thơ Hoàng Cầm với nhà thơ Hoàng Hưng, nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán về thăm quê Hoàng Cầm ở Làng Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh. Trong chuyến đi có buổi gặp gỡ thân mật đoàn quan họ Bắc Ninh đang biểu diễn tại đây. Buổi này có đạo diễn Tự Huy và anh Hoàng Kỳ là con trai nhà thơ tham dự. Nhà thơ đã đọc bài thơ tình ở tuổi ngoại thất thập và bài thơ tóm tắt cuộc đời ông, ông cũng kể vài mẩu chuyện về Nhân Văn-Giai Phẩm và vụ án Về Kinh Bắc.  Đây là tư liệu lần đầu tiên công bố, do nhà thơ Hoàng Hưng ghi lại và cung cấp cho Văn Việt.

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2016

Thi sĩ Hoàng Cầm – nghĩ lúc nằm im

Nguyễn Thị Ngọc Hải

hoang-cam

Tháng 4 năm 2000, tôi được người cháu - Nguyễn Hữu Chiến Thắng - phóng viên chuyên làm các chương trình Văn học nghệ thuật của Đài truyền hình Việt Nam, dẫn đến ngôi nhà số 43 phố Lý Quôc Sư. “Ngôi nhà khó đến”. Sao vậy nhỉ? “bệnh kinh niên của văn nghệ sỹ” là rượu và bạn kia mà. Hơn nữa, qua những câu chuyện của “đám Thụy Kha, Trọng Tạo và nhà nhiếp ảnh Nguyễn Đình Toán“, ai cũng biết thi sĩ “Bên kia sông Đuống” không hề bị chia cắt với bạn của ông. May mắn là lúc đó ông còn ra phòng khách tiếp chuyện chúng tôi. Không như gần mười năm sau, lần gặp của tôi với nhà thơ do Nguyễn Đình Toán dẫn tới, đã phải trò chuyện với ông ngay tại giường nằm.

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

CÁC “TAI NẠN VĂN CHƯƠNG” (26): VỀ KINH BẮC (5)

Những người có duyên nợ với “Về Kinh Bắc” (tiếp theo)
Hoàng Cầm kể (HH ghi)
5/ Nguyễn Doãn Nhạ:
Sau này về tôi mới biết chuyện tôi bị bắt chắc chắn là do Tố Hữu, Tố Hữu có công an riêng của ông, chính là công an Hà Nội, để mà săn sóc những người Nhân Văn Giai Phẩm. Người bắt tôi là là trưởng phòng an ninh chính trị của Sở Công an Hà Nội, tên là Nguyễn Doãn Nhạ.
Tôi mới gặp ông Nhạ có một lần vào năm 1974, chưa giải phóng. Lúc ấy tôi đang uống bia ở Hồ Tây thì có một anh trẻ tuổi, độ 18, đến bảo “Chú ơi, chú về nhà đi, chú về đi rồi cháu sẽ đến gặp chú”, cậu ta nói rất nhỏ… Tôi đoán là có chuyện gì rồi, nhưng chả việc gì phải trốn tránh. Buổi chiều cậu ta đến, nhưng không dám vào nhà mà kêu tôi ra cửa. Cậu ta có vẻ rất e dè, nói thì thào: “9h sáng mai chú đến sở công an ở đường Trần Hưng Đạo, chú đến đấy sẽ có người đón chú vào”.
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

CÁC “TAI NẠN VĂN CHƯƠNG” (25): VỀ KINH BẮC (4)

Nhng người có duyên nợ với “Về Kinh Bắc”
Hoàng Cầm kể (HH ghi)
1/ Cô “Cần Thơ”:
Cần Thơ là ai? Tôi quan hệ thế nào với cô?
Nguyên tôi có người bạn ở trong Sài Gòn là anh Nguyễn Bùi Chấn, anh ruột cô Nguyễn Thị Bắc là hoa khôi tỉnh Bắc Giang - tôi định nhờ cô Bắc diễn vở kịch Kiều Loan rút cuộc là không thành mà thành một người tình của tôi. Nguyễn Bùi Chấn là bạn học cũ của tôi suốt từ năm đồng ấu cho đến năm lớp nhất ở tỉnh Bắc Giang. Năm 1979, anh có viết thư cho tôi đại ý là: Ở bên Pháp có một nữ bác sĩ còn ít tuổi hâm mộ thơ của anh, tên cô ấy là Bùi Thị Cần Thơ, vậy thì nhận được thư này anh làm ơn cho tôi biết ngay là anh có vui lòng quan hệ với một người như thế không? Cô ấy cũng nói anh thích có cái quà gì hoặc anh thích bất cứ cái gì, cô ấy sẽ gửi tặng anh. Vốn tính tôi khi thấy có một độc giả yêu thích thơ mình như thế, nhất lại là nữ, thì tôi sốt sắng ngay.
Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2015

CÁC “TAI NẠN VĂN CHƯƠNG” (22): VỀ KINH BẮC (1)

Về Kinh Bắc bài nào cũng buồn
(Tâm tình với bạn đọc talawas)

Hoàng Cầm 

Tập thơ
 Về Kinh Bắc (NXB Văn học 1994) không được nêu tên trong danh mục những tác phẩm được Giải thưởng của Nhà nước Việt Nam lần thứ V, nhưng trong các tập thơ Bên kia sông Đuống (NXB Văn hoá 1993), Lá Diêu bông (NXB Hội Nhà văn 1993), 99 tình khúc (NXB Văn học 1999) được nêu trong giải thưởng, có rất nhiều bài nằm trong bản thảo Về Kinh Bắc, trong đó có đủ những bài thơ chủ yếu bị quy kết là phản động hồi những năm đầu thập kỷ 1980 (“Cây tam cúc”, “Lá Diêu bông”, “Quả vườn ổi”…). Để bạn đọc có dịp đọc toàn bộ tập thơ đã trở thành một di sản văn hoá nước nhà trong bản chính thức của nó, chúng tôi đã đề nghị chính tác giả Hoàng Cầm cung cấp tài liệu. Nhà thơ đã vui vẻ nhận lời và nhân dịp này, có đôi lời tâm sự với bạn đọc. 
talawas



Về Kinh Bắc ra đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt. Vào cuối những năm 1950, bốn anh em chúng tôi (Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng) sau khi đi lao động cải tạo về, vẫn nằm trong thời kỳ bị kiểm soát chặt chẽ. Nói cho đúng thì riêng tôi không phải đi lao động, (không biết vì lý do gì mà những nơi Hội Nhà văn liên hệ để đưa tôi đến lao động đều không nơi nào chịu nhận, thế là tôi thoát!) trong khi Lê Đạt thì đi Phú Thọ, Trần Dần đi Thái Nguyên. Và nói về sự kiểm soát thì tôi cũng được thoải mái hơn hai anh ấy. Tôi cứ việc ở nhà trong khi Lê Đạt và Trần Dần thì tất cả các buổi sáng phải đến ngồi ở Hội Nhà văn. Chỉ uống nước chè, tán chuyện, cười ha hả thôi, nhưng vẫn phải đến. Nhưng việc in ấn thì dứt khoát là không được phép. Trong tình cảnh ấy, tôi đề xướng với các bạn: lúc này chính là lúc bọn mình phải để tâm vào việc phá ra về thi pháp, phải phá ra khỏi kiểu thơ Tố Hữu, hay nói rộng ra là kiểu thơ cũ mà mình đã chán ngấy. Thế là bốn anh em thống nhất về đường lối sáng tác. Từ đấy hai anh Trần Dần, Lê Đạt ở Hội Nhà văn sáng sáng chỉ tán chuyện một lúc rồi mỗi người yên lặng cắm cúi viết lách. Trần Dần viết Cổng tỉnh dựa vào những kỷ niệm thời thanh niên ở Nam Định. Lê Đạt thì những kỷ niệm ở Yên Bái (thân phụ của anh làm xếp ga ở đó) cho anh loạt thơ sau in trong Bóng chữ. Đặng Đình Hưng, với sự "đỡ đầu" (dùng đúng từ anh nói) của Trần Dần, cũng viết được những bài thơ mới hẳn, lâu lâu anh lại đến khoe, rất hào hứng. Tôi rất thích những bài thơ ấy của Hưng, và học tập được khá nhiều ở tinh thần mới mẻ của anh.

Riêng tôi, như đã nhiều lần tự bạch, tôi viết Về Kinh Bắc hoàn toàn nhờ chìm đắm vào những kỷ niệm thời thơ ấu. Tôi luôn nghĩ rằng: với bất cứ anh thi sĩ nào, cái thời kỳ từ 5 đến 15 tuổi là thời kỳ quyết định hơi thơ, cốt cách thơ của cả đời anh ta. Từ năm 4 tuổi đến 14 tuổi (lúc đỗ certificat 
[1] ), tôi sống ở một phố nhỏ trên đường quốc lộ 1, cách thị xã Bắc Giang 6 km. Mười năm ấy ăn vào mình nhiều nhất. Chỗ tôi ở là một con phố đìu hiu, lèo tèo vài hàng quán, ông thân sinh tôi mở hàng thuốc bắc ở đó, còn mẹ tôi thì có gánh hàng xén. Cái phố ấy vẫn có phong vị nông thôn với rặng tre, cây đa, con đường đất nhỏ, lại có tí văn minh với cảnh ô tô, tàu hoả, tôi hay ra ga xem khách lên khách xuống, tàu đến tàu đi. Những đêm trăng cô hàng xóm thích hát xướng tập họp bọn trẻ trong phố ra giữa đường hoặc cái bãi rộng sau ga hát trống quân, cò lả…

Có lẽ vì thế mà toàn bộ tập Về Kinh Bắc chìm trong cái buồn, cái buồn của sự hoài vọng quê hương, bài nào cũng buồn, câu nào cũng buồn. Hồi trong Hoả Lò 
[2] bị buộc phải viết kiểm điểm về tập thơ này, tôi cũng dễ dàng thừa nhận là tập thơ buồn quá. Nguyên cái buồn ấy hình như đã là chống lại đường lối văn nghệ của Đảng rồi, vì Đảng yêu cầu văn nghệ phải khấn khởi tươi vui. Nhưng ngoài cái đó ra, tôi còn phải nhắm mắt tự nhận tội với những từ nặng nề nhất như phản động, chống Đảng. Có điều tôi cũng viết rất khéo sao cho nếu bản kiểm điểm sau này được công bố thì bạn bè và công chúng cũng thấy đó là sự nhận tội không tự nguyện, nhận mà là không nhận. Thí dụ như tôi dẫn chứng câu thơ "Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa" là rủa Đảng, bài thơ “Lá Diêu bông” và một số bài khác là mang tính chất tư sản, than thở số phận con người, qua đó thấy cuộc sống thất vọng quá, buồn quá, những ước nguyện đẹp nhất đều không thực hiện được.

Sau khi tôi ra tù, không ít bạn trách tôi vì sao lại nhận tội như thế? Có phải là hèn quá chăng? Nhưng thực tế hoàn cảnh tôi trong tù rất khốn đốn, sau ba tháng là sức khoẻ suy sụp, nếu kéo dài thêm hai tháng nữa thì có thể chết trong tù. Vì vậy, trước sức ép ngày đêm của những người công an thụ lý và những hứa hẹn của họ, tôi suy nghĩ: phải giữ cái mạng của mình cái đã, phải tồn tại, phải sống, còn tác phẩm của mình chẳng đi đâu mà mất, nó còn hay không là do nó, nó có giá trị thì nó sẽ tồn tại. Cho nên tôi quyết định nhận tội. Khi tôi viết xong bản kiểm điểm (dài 6 trang giấy thếp thì phải), anh công an thụ lý tên N. đọc ngay, và bảo "Tốt quá rồi!". Hôm sau, anh đem đến một cái cassette mới toanh, bảo tôi tự đọc bản kiểm điểm vào máy. Anh cẩn thận dặn tôi phải đọc hết sức tự nhiên, không phải như người bị ép buộc hoặc như đọc dictée 
[3] . Là một diễn viên kịch, tôi thừa sức để "diễn" theo đúng ý anh. Tôi muốn tỏ ra hết sức ngoan ngoãn, cốt để được về. Tôi vừa đọc xong, anh ta chồm dậy, bắt tay tôi rối rít và cảm ơn cảm ơn hai lần liền, sau đó cho người đi mua phở cho tôi ăn. Anh còn tuyên bố: "Chúng tôi sẽ đề nghị để Tết này anh được về". Tôi mừng quá, viết thư về cho bà Yến [4] báo tin vui. Thế là suốt những ngày gần Tết năm ấy tôi cứ khấp khởi đợi chờ. Sau này tôi biết bà Yến nhà tôi cũng trong tâm trạng ấy. Sáng 30 Tết bà bắt anh con rể mang xe đến chờ ở cổng Hoả Lò suốt từ sáng tới tối. Nhưng thực tế là tôi không được thả như lời hứa của công an mà ngay mồng 4 Tết thì bị chuyển tới "xà lim bộ"[5] và tiếp tục bị giam, tổng cộng là 18 tháng.

Vì sao lại có chuyện thay đổi như thế? Có phải anh công an tên N. đã nói lừa tôi cốt để tôi nhận tội cho được việc của anh ta? Tôi cũng không rõ sự thực thế nào, cho đến một hôm sau khi đã ra tù, tôi tình cờ gặp một anh công an thụ lý khác (xin phép không nêu tên) ở quán bia Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật (đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội). Trông thấy tôi anh mừng lắm, anh mời tôi vào uống bia để tâm sự. Anh nói là anh đã ra khỏi ngành, và anh kể cho tôi một chuyện khá bất ngờ. Chuyện đại ý như sau: Sau khi tôi nhận tội, công an đã định cho tôi về thật. Nhưng trong thời gian chờ đợi giải quyết, thì một hôm ông Lê Đức Thọ 
[6] gọi công an lên hỏi về vụ Hoàng Cầm ra sao rồi, và thông báo rằng có một số trí thức Pháp, những người quen biết nhiều với ông, đã giúp đỡ ông và đoàn đại biểu Việt Nam ở Hội nghị Paris, vừa gửi thư cho ông yêu cầu nếu xét Hoàng Cầm không có tội trạng gì cụ thể thì hãy thả ngay nhà thơ ra. Ông còn nhắc nhở: "Các cậu xem thế nào thì giải quyết đi, không có thì mang tiếng lắm". Sự việc trên được công an báo cáo với Tố Hữu [7] . Ông lập tức hạ lệnh: "Ngoại quốc can thiệp hả? Đã thế thì cho thêm một năm nữa!"

Thái độ cứng rắn đến nghiệt ngã của Tố Hữu với riêng tôi cũng như với các anh em Nhân văn-Giai phẩm rất nhất quán. Ngay cả đối với những sáng tác mà anh em chúng tôi tìm lối mới vào cuối những năm 1950 nói trên, ông cũng rất ghét, mặc dù không biết ông có đọc hay không. Lại nói là sau khi bốn người chúng tôi bật ra được thứ thơ ấy, ai cũng mãn nguyện vì đã lộ rõ cốt cách từng người. Riêng tôi thì ngay từ lúc viết xong Về Kinh Bắc, tôi đã tin là nó có giá trị, có đóng góp cho văn học nước nhà. Tuy tôi không dám truyền đi rộng rãi, chỉ cho vài người bạn đọc, nhưng rồi nó được tự động lan truyền, đặc biệt có những bạn sinh viên trẻ say mê nó lạ lùng. Phải nói tình yêu đối với Về Kinh Bắc có cái gì đó rất đặc biệt. Tôi không tin là tập thơ dễ hiểu chút nào, đặc biết là phần Nhịp một với "những đêm ngũ hành" kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Ngay nhà thơ Lữ Huy Nguyên, cố giám đốc NXB Văn học, cũng thú thực với tôi rằng: "Em in cho anh thì cứ in chứ nói thật là em chỉ hiểu được 1/4 tập thơ". Đến anh công an thụ lý N. sau khi tôi nhận tội cũng thú nhận: "Thực tình tôi chẳng hiểu anh nói gì, bây giờ anh khai ra tôi mới biết ý đồ chống Đảng của anh, thì ra anh thâm thuý thật!"

Việc chúng tôi sáng tác những tác phẩm mới nhanh chóng được báo cáo với Tố Hữu. Một người bạn được tham dự buổi họp tuyên giáo mở rộng kể với tôi rằng trong cuộc họp Tố Hữu đã cảnh báo: "Tụi Trần Dần Hoàng Cầm… bây giờ đang thực hiện đúng khẩu hiệu phục xuống sáng tác mà Văn Cao đã khởi xướng. Phải canh chừng và dập tắt ngay."

Đây là lần đầu tiên tôi nói rõ một số chuyện liên quan đến Về Kinh Bắc, nói ra để khép lại những cái đau buồn ấu trĩ của một thời. Bây giờ, tôi xin các bạn thưởng thức nó vượt qua mọi bối cảnh chính trị xã hội, thưởng thức nó như một tác phẩm nghệ thuật mà đến hôm nay tôi vẫn thấy hài lòng. 
Hoàng Cầm

Tham khảo: Một trong những bản thảo đầu tiên của VKB (tang vật vụ án):