Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Dan Slater. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dan Slater. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 23 tháng 12, 2024

Từ Phát triển đến Dân chủ – Sự Biến đổi của châu Á Hiện đại (kỳ 12)

Tác giả: Dan Slater Joseph Wong

Việt dịch: Nguyễn Quang A

Nhà Xuất bản Princeton University Press, 2022

9. Chủ nghĩa xã hội kiến tạo-phát triển

SỰ THỐNG TRỊ VÀ TRÁNH DÂN CHỦ

CÁCH ĐÂY KHÔNG LÂU, cách tự nhiên để chia châu Á đã là chia thành châu Á tư bản chủ nghĩa và châu Á xã hội chủ nghĩa. Không đâu trên thế giới Chiến tranh Lạnh đã gây chia rẽ hơn hay quyết định hơn đến sự phát triển của một khu vực bằng ở đây. Hai làn sóng cách mạng cộng sản bạo lực—ở Trung Quốc và Bắc Triều Tiên trong cuối các năm 1940, và Việt Nam và Cambodia trong giữa-các năm 1970—đã chêm một cái nêm ý thức hệ dài và sâu xuyên qua Đông Bắc Á và Đông Nam Á như nhau. Trong ba cụm được thảo luận cho đến nay—các cụm chủ nghĩa nhà nước, Britannia, và chủ nghĩa quân phiệt kiến tạo-phát triển—việc đánh bại chủ nghĩa cộng sản nằm tại trung tâm của các định chế chính trị và kinh tế chiếm ưu thế mà các nhà cai trị đã xây dựng. Nhưng ở Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, và Cambodia, các đảng cầm quyền đã không tìm cách để xây dựng các sự phòng vệ kiến tạo-phát triển mạnh hơn chống lại cách mạng xã hội chủ nghĩa mà để xây dựng bản thân cách mạng xã hội chủ nghĩa.1

Chủ nghĩa cộng sản rõ ràng là lời nguyền rủa đối với chủ nghĩa tư bản kiến tạo-phát triển. Chỉ với việc vứt bỏ kế hoạch hóa kinh tế tự cung tự cấp thì châu Á xã hội chủ nghĩa mới có thể “gia nhập” châu Á kiến tạo-phát triển và ngừng sự đầy quyết tâm chống lại nó. Như được nêu chi tiết trong chương 6, Trung Quốc đã dẫn đầu. Trong khi chương đó khám phá Trung Quốc trước-1989 như một trường hợp xã hội chủ nghĩa lập dị, chương này đặt Trung Quốc đương thời vào cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển mà đã nổi lên kể từ các năm 1990. Nó sẽ cho thấy rằng Trung Quốc tiếp tục dẫn đường, vút lên về mặt kinh tế trên các láng giềng xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển của nó. Tuy vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) cầm quyền không nới lỏng sự bám chặt quyền lực của nó ngay cả khi nó đã làm dịu phong cách quản trị của nó trong các thập niên ngay sau thời kỳ toàn trị Maoist.

Thời kỳ cải cách của Trung Quốc bắt đầu trong cuối các năm 1970. Thế nhưng vào cuối các năm 1980, việc ĐCSTQ đàn áp dữ dội các sinh viên biểu tình dân chủ tại Quảng Trường Thiên An Môn đã làm cho rất rõ rằng cải cách chỉ có nghĩa là kiến tạo-phát triển và kinh tế học tư bản chủ nghĩa, không phải chính trị và bầu cử dân chủ. Sự chuyển đổi của Trung Quốc đã không phải là một sự chuyển đổi kép (kinh tế và chính trị), như ở phần lớn Đông Âu. Như chúng tôi lập luận trong chương 6, Trung Quốc năm 1989 đã quá mạnh để sụp đổ như Liên Xô, nhưng cũng quá yếu để thừa nhận dân chủ như Đài Loan và Hàn Quốc. Không giống các anh em xã hội chủ nghĩa của nó ở Liên Xô và Đông Âu, ĐCSTQ kiên định tránh việc dân chủ hóa qua sự yếu kém.2 Và không giống các trường hợp Á châu lân cận trong cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển, ĐCSTQ đã thiếu sức mạnh và sự tự tin để thử nghiệm với nền dân chủ.

Việt Nam đã bắt đầu tiến hành một sự thay đổi kiến tạo-phát triển tương tự khoảng một thập niên sau Trung Quốc, trong cuối các năm 1980. Với sự sụp đổ của Liên Xô, siêu cường đỡ đầu của nó, Việt Nam đã dứt khoát chia tay sự đi cùng với Bắc Triều Tiên, nơi triều đại gia đình Kim nhất quán từ chối các cải cách chính trị và kinh tế như nhau. Khi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) cầm quyền đã cải cách và mở cửa nền kinh tế bị bần cùng hóa và hướng nội của Việt Nam, nó cần quyết định liệu để đi theo một con đường bầu cử và dân chủ tới tính hiện đại chính trị hậu-cộng sản (như ở phần lớn Đông Âu) hay để cứu mô hình chính trị của chủ nghĩa xã hội độc-đảng bằng việc dứt khoát từ bỏ mô hình kiến tạo-phát triển kinh tế chủ nghĩa xã hội (như ở Trung Quốc). Việt Nam đã chọn con đường sau, và ĐCSVN cầm quyền đã đạt được một kỳ công rất giống với kỳ công của ĐCSTQ: duy trì sự thống trị độc-đảng trong khi thúc đẩy sự phát triển kinh tế quốc gia nhanh chóng.

Con đường của Cambodia tới sự phát triển đã gập nghềnh hơn nhiều. Đến đầu các năm 1990, Khmer Đỏ cộng sản diệt chủng đã vẫn nổi dậy chiến đấu chống lại Đảng Nhân dân Cambodia (CPP) xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam dựng lên ở Phnom Penh qua cuộc xâm lấn trong cuối các năm 1970. Sự can thiệp LHQ đưa Khmer Đỏ khỏi rừng rậm và buộc CPP chấp nhận các cuộc bầu cử đa đảng tương đối tự do và công bằng để có đủ tư cách cho viện trợ đa phương to lớn. Trong hơn hai mươi lăm năm, chính trị Cambodia đã là một câu chuyện của CPP do Hun Sen–lãnh đạo cố gắng phát triển nền kinh tế quốc gia và phá hủy, không đơn giản đánh bại, đối lập của nó. Bất chấp tất cả các sự khác biệt quan trọng của nó với Trung Quốc và Việt Nam, Cambodia tương tự đã đi một con đường từ chủ nghĩa xã hội tự cung tự cấp đến chủ nghĩa kiến tạo-phát triển kinh tế dân tộc chủ nghĩa tăng trưởng-cao dưới sự cai trị độc-đảng suốt thời kỳ sau–Chiến tranh Lạnh. Quỹ đạo độc đoán của Cambodia đã không khác biệt một cách có ý nghĩa với quỹ đạo của Trung Quốc và Việt Nam, bất chấp các cuộc bầu cử đa đảng.

Vào các năm 2010, tất cả ba trường hợp xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển đã trở thành các ứng viên khả thi để theo đuổi dân chủ qua sức mạnh, với Trung Quốc là ứng viên mạnh nhất trong số đó. Tuy nhiên như trong cụm Britannia kiến tạo-phát triển, chẳng nước nào đã làm vậy. Điều gì về cụm chủ nghĩa xã hội kiến tạo-phát triển khiến nó tránh dân chủ hơn các trường hợp trong các cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển (Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc) và cụm quân phiệt chủ nghĩa kiến tạo-phát triển (Indonesia, Thái Lan, và Myanmar)?

Sự phát triển tổng thể thấp hơn của cụm xã hội chủ nghĩa là một phần cần thiết của câu chuyện, nhưng không phải toàn bộ câu chuyện. Nếu cụm quân phiệt chủ nghĩa kiến tạo-phát triển đã không quá kém phát triển để thử nghiệm với các cải cách dân chủ, thì cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển cũng chẳng. Quả thực, nếu bất kể nước nào trong cụm xã hội chủ nghĩa đang trên con đường để trở thành một chế độ độc tài thu nhập-cao, nó chắc chắn là Trung Quốc. Khi nó tiếp tục trở nên giàu với tốc độ chưa từng thấy, tuy nhiên Trung Quốc có vẻ ngày càng thiên về tránh dân chủ như Singapore. Có vẻ nó không thích chọn dân chủ qua sức mạnh, như các đối thủ của nó, Nhật Bản và Đài Loan, đã chọn một khi các chế độ của chúng đã tích tụ đủ sự tự tin rằng chuyển đổi dân chủ sẽ không báo hiệu cái chết của chính chúng cũng chẳng làm cho quỹ đạo kiến tạo-phát triển của chúng mất ổn định.

Sự ghanh đua của Trung Quốc với Nhật Bản và Đài Loan dân chủ là quan trọng. Một trong các lý do chính cho sự khăng khăng tránh dân chủ của Trung Quốc, chúng tôi lập luận, là địa-chính trị. Sự kết thúc Chiến tranh Lạnh đã cải thiện đầy kịch tính các quan hệ của Trung Quốc với Hàn Quốc, nhưng không phải với Nhật Bản hay Đài Loan. Những mối bất bình lịch sử đối với Nhật Bản, một khát vọng mạnh để thống nhất Đài Loan với Trung Quốc, và những nhận thức lâu dài rằng Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc đều là những con rối yếu của Hoa Kỳ tiếp tục định hình quan điểm của Trung Quốc về dân chủ. Hơn nữa, khi các quan hệ Mỹ-Trung xấu đi trong thời kỳ hiện tại của Tập Cận Bình và của đồng thuận lưỡng đảng tăng lên ở Washington rằng Trung Quốc là một mối đe dọa cho trật tự quốc tế hiện hành, thì các triển vọng rằng địa chính trị có thể ủng hộ cải cách dân chủ ở Trung Quốc, như chúng đã ủng hộ các láng giềng của nó trong cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển, trở nên thậm chí xa vời hơn.

Địa chính trị diễn ra theo cách khác ở Việt Nam và Cambodia. Khi Cambodia thử quăng sang một bên hệ thống đa đảng do sự can thiệp LHQ đưa vào, chế độ Hun Sen đã đúc số phận địa-chính trị của nó hầu như hoàn toàn với Trung Quốc. Như thế có sự khuếch tán và sự mô phỏng chế độ bên trong cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển mà phản chiếu những gì chúng ta thấy sớm hơn trong cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển. Nhưng trong khi dân chủ hóa qua sức mạnh thành công của Nhật Bản đã giúp truyền cảm hứng tự tin vào những cải cách tương tự ở Đài Loan và Hàn Quốc, sự tránh dân chủ độc-đảng thành công của Trung Quốc đã làm cho Cambodia (như Việt Nam trước nó) bạo dạn để mô phỏng tấm gương độc đoán của Trung Quốc.

Câu chuyện địa-chính trị của Việt Nam đang đổi theo một hướng rất khác. Hà Nội ngày càng xem Bắc Kinh với cùng loại oán giận và sự lo lắng mà Bắc Kinh xem xét Tokyo và Washington.3 Khi sức mạnh của Trung Quốc tăng lên, Việt Nam đã trở nên gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Nếu Việt Nam tin rằng sự ủng hộ Mỹ là cả thiết yếu cho sự sống sót của nó và tùy thuộc vào việc làm sâu sắc các cải cách chính trị, các tín hiệu địa-chính trị sẽ làm cho dân chủ qua sức mạnh có khả năng hơn. Sự ganh đua địa-chính trị tăng lên giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang định hình lại cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển vào đúng lúc này, với một hỗn hợp của các hệ lụy thuận lợi và không thuận lợi cho các triển vọng dân chủ trong vùng.

Với rất nhiều sự khác biệt giữa chúng, liệu có hợp lý không để coi Trung Quốc, Việt Nam, và Cambodia là một cụm kiến tạo-phát triển duy nhất? Chúng tôi tin là có, vì vài lý do chủ chốt. Rõ ràng nhất, tất cả ba trường hợp đã đều thử các sự chuyển đổi từ chủ nghĩa xã hội sang chủ nghĩa tư bản, và sự liên kết giữa các mô hình kiến tạo-phát triển và các phương thức dân chủ hóa—con đường từ phát triển đến dân chủ—là ở tâm của phân tích so sánh của chúng tôi. Quan trọng nhất cho các mục đích giải thích của chúng tôi, mà tập trung vào sự tự tin chiến thắng và sự tự tin ổn định, Trung Quốc, Việt Nam, và Cambodia chia sẻ các lịch sử cách mạng bạo lực. Trong tất cả ba trường hợp, các chế độ xã hội chủ nghĩa cầm quyền có thể xác nhận một cách đáng tin cậy là đã mang lại hòa bình và trật tự tương đối cho một xã hội trước kia bị chiến tranh tàn phá. Các bóng ma kéo dài của xung đột lịch sử không chỉ cho các Đảng Xã hội chủ nghĩa này một loại thô của tính chính danh Hobbesian; chúng cũng làm cho sự tự tin ổn định đặc biệt khó để có được, và các cải cách dân chủ đặc biệt mạo hiểm để ủng hộ.

Ý thức hệ xã hội chủ nghĩa cũng quan trọng theo cách tiềm năng khác có hại cho sự tự tin ổn định. Trong các cụm nhà nước chủ nghĩa và Britannia kiến tạo-phát triển, các công dân đã trải nghiệm tiêu chuẩn sống tăng lên qua sự phát triển tư bản chủ nghĩa. Bất bình đẳng thu nhập và của cải đã là một sản phẩm phụ của sự tăng trưởng tư bản chủ nghĩa do nhà nước-lãnh đạo. Ngược lại, trong cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển, hàng thập niên hòa nhập xã hội chống-tư bản chủ nghĩa và ý thức hệ xã hội chủ nghĩa đã hợp pháp hóa sự bác bỏ các chính sách nâng cao tăng trưởng nhưng làm sâu sắc bất bình đẳng. Chuyển đổi dân chủ vì thế có thể tăng cường chủ nghĩa dân túy cánh tả trong cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển, và đáng kể hơn thế so với trong bất kể cụm nào khác ở châu Á kiến tạo-phát triển, với những hậu quả tai hại cho sự phát triển kinh tế tiếp tục.

Chuyển từ sự tự tin ổn định sang sự tự tin chiến thắng, sự thực rằng Trung Quốc và Việt Nam độc đoán thiếu các cuộc bầu cử đa đảng cạnh tranh đặt chúng vào một hạng hoàn toàn khác với các cụm kiến tạo-phát triển khác. Quan trọng nhất, Trung Quốc và Việt Nam được miễn khỏi các tín hiệu bầu cử rõ ràng về sự suy giảm chớm nở. Các tín hiệu như vậy đã giúp thúc đẩy các sự thừa nhận dân chủ ở Đài Loan và Hàn Quốc, và vẫn có thể làm vậy ở Singapore. Chế độ độc tài độc-đảng, như chúng ta thấy ở Trung Quốc và Việt Nam, không nhất thiết độc đoán sâu hơn chủ nghĩa độc đoán đa đảng, nhưng nó là độc đoán khác biệt theo ý nghĩa quan trọng này. Sau khi không đáp ứng với các tín hiệu bầu cử rõ ràng về sự sụt giảm bắt đầu trong các năm 2010 với các cải cách dân chủ, Cambodia đã gia nhập lại hàng ngũ của các chế độ độc tài độc-đảng và bây giờ không có các tín hiệu bầu cử rõ ràng về sức mạnh của nó, giống các chế độ ở Trung Quốc và Việt Nam.4

Cuối cùng, các cuộc cách mạng dân tộc chủ nghĩa thành công do các đảng cộng sản lãnh đạo ở Trung Quốc và Việt Nam (mặc dù ít hơn thế nhiều ở Cambodia) cung cấp một chuyện kể bình dân và tạo tính chính danh cho sự cai trị độc-đảng lâu dài, có thể được dùng như một thay thế hiệu quả cho dân chủ hóa bầu cử, đặc biệt nếu sự phát triển kinh tế tiếp tục nhanh. Mặc dù nó chắc chắn là vị kỷ cho các chế độ này để tiếp tục tránh dân chủ, không phải hoàn toàn không thành thực để cho rằng sự cai trị độc-Đảng Xã hội chủ nghĩa có thể phản ứng nhanh với các mong muốn bình dân theo những cách mà các nền dân chủ cạnh tranh đa đảng thường không mang lại. Các nền dân chủ đa đảng càng vấp ngã để đáp ứng các thách thức quản trị đương đại, câu chuyện thay thế này sẽ chắc chắn càng trở nên to tiếng hơn, đáng chú ý nhất ở Trung Quốc, mà chúng tôi quay sang bây giờ.

Một Trung Quốc Mạnh

Cho đến 1989, ĐCSTQ đã đơn giản quá yếu để dân chủ hóa qua sức mạnh. Quảng Trường Thiên An Môn đã là câu chuyện không chỉ về tính kiên cường đối với sự sụp đổ mà cũng về sự từ chối để thừa nhận. ĐCSTQ đã thiếu sức mạnh và sự tự tin chế độ tiền lệ cần thiết để đi theo con đường của Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc. Đấy là bài học chính của chương 6, trong đó chúng tôi cho rằng Trung Quốc trong 1989 đã chỉ bắt đầu sự chuyển đổi của nó khỏi chủ nghĩa xã hội, tự tách mình ra khỏi các tai họa của thời đại Mao, và muộn màng bước vào hàng ngũ của châu Á kiến tạo-phát triển.

Ba thập niên kể từ đó, Trung Quốc được công nhận trong chương này trong vị trí đúng của nó như nước lãnh đạo không thể tranh cãi của cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển của châu Á. Giàu vượt quá dự đoán của bất cứ ai, Trung Quốc và chế độ ĐCSTQ lãnh đạo nó, là đủ mạnh để xem xét sự chuyển đổi từ một vị thế sức mạnh. Tuy vậy, ngay cả sau khi tích lũy được sức mạnh chế độ ghê gớm, Trung Quốc vẫn hết sức không chắc để làm vậy, phần lớn do các đặc tính chung với các nước khác trong cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển.

Giống Việt Nam và Cambodia, Trung Quốc vẫn là một nước kiến tạo-phát triển đến muộn với các vấn đề lần lữa khổng lồ về sự tương đối nghèo và bất bình đẳng, các vấn đề đặc biệt rõ rệt căn cứ vào di sản xã hội chủ nghĩa của chế độ. Nó cũng có một lịch sử của các xung đột nội bộ tàn phá làm cho sự tự tin ổn định được chế độ và nhân dân Trung quốc đặc biệt đánh giá cao, nhưng một sự tự tin mà cũng đặc biệt khó để có được. Thiếu bất cứ lịch sử nào của các cuộc bầu cử đa đảng, ĐCSTQ cũng thiếu cơ sở bằng chứng rõ ràng cho sự tự tin chiến thắng mà đặc trưng cho các đảng thống trị trong các cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển và Britannia kiến tạo-phát triển. Có lẽ quan trọng nhất, sự định vị địa-chính trị của Trung Quốc như đối thủ siêu cường lớn nhất của nước Mỹ trong thực tiễn loại trừ dân chủ hóa trên cơ sở dân tộc chủ nghĩa. Cho dù dân chủ qua sức mạnh sẽ thúc đẩy sự nhảy vọt lớn nhất đến sự tự do dân chủ cho nhân dân Trung quốc, ban lãnh đạo Trung quốc—nhất là dưới Tập Cận Bình—dường như kiên quyết chống lại việc theo đuổi nó.

Củng cố nền Kinh tế

Ngay sau sự đàn áp Thiên An môn 1989, ĐCSTQ bắt đầu một con đường kinh tế cắt bớt, khắc khổ, và củng cố sự kiểm soát nhà nước. Tự do hóa kinh tế, các nhà lãnh đạo Trung quốc lập luận, đã thúc đẩy các đòi hỏi cho tự do hóa chính trị. Toàn bộ hệ thống như thế cần được kiềm chế trở lại nếu Trung Quốc muốn tránh một tai họa khác.5

Được Thủ tướng Lí Bằng dẫn đầu, chế độ nhanh chóng tái tập trung nền kinh tế, đặt sự nhấn mạnh đến mô hình kiến tạo-phát triển xã hội chủ nghĩa, kế hoạch hóa nhà nước được phe Lí ưa chuộng. Các năm trước các cuộc biểu tình Thiên An môn, theo quan điểm của Lí, là bằng chứng về nền kinh tế đang tự do hóa chạy điên cuồng. ĐCSTQ, sau 1989, đã ưu tiên tái cân bằng nền kinh tế, cho dù nó có nghĩa là sự tăng trưởng chậm lại. Nhà nước đã giảm lạm phát bằng việc đưa lại các sự kiểm soát giá. Chính phủ đã hồi sinh khu vực doanh nghiệp sở hữu nhà nước (SOE) qua các chính sách bảo hộ và một dòng tín dụng ngày càng tăng cho các hãng nhà nước.

Mặc dù các cải cách cắt giảm đã hiệu quả trong việc làm giảm lạm phát, chúng “đã vượt quá” tác động dự kiến của chúng với các hậu quả tức thì và nghiêm trọng cho sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc. Đáng chú ý, năng suất, cũng như tiêu dùng, đã giảm nhanh. Hãy nhớ rằng trong thập niên từ 1979 đến 1988, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm của Trung Quốc đã lởn vởn quanh 10 phần trăm; trong 1989 và 1990, nó lao xuống còn chỉ 4 phần trăm.

Chẳng bao lâu sau đó, chính phủ lại sang số lần nữa, quay trở lại một chương trình nghị sự cải cách kinh tế tự do. Đặng Tiểu Bình bắt đầu Chuyến Đi Miền Nam nổi tiếng của ông trong 1992, thăm các tỉnh và thành phố miền nam chủ chốt mà đã nhanh chóng trở thành các động cơ năng động của sự phát triển công nghiệp ban đầu của Trung Quốc. Đặng báo hiệu rằng Trung Quốc phải tiếp tục, thậm chí tăng tốc, con đường cải cách của nó, ủng hộ các khuyến khích thị trường, đầu tư nước ngoài, và thương mại quốc tế. Giang Trạch Dân, trở thành chủ tịch trong 1993, theo sự ra hiệu từ Đặng và đưa vào khái niệm nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Bằng việc chấp nhận dứt khoát mô hình và tên “thị trường”, tuyên bố chính thức của Giang đã là điểm ngoặt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế tiến hóa của ĐCSTQ.6

Mục tiêu của sự chuyển đổi sau-1992 sang một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đã là để “bỏ kế hoạch.” Việc hủy các biện pháp cắt bớt 1989, nhà nước đưa lại sự định giá thị trường vào cho các hàng hóa và các dịch vụ. Chính phủ đã mở rộng sự tự do hóa giá cả thêm nữa trong các khu vực tiêu dùng, kể cả trong các thị trường năng lượng và thực phẩm. Chính quyền Giang đã thực hiện một loạt cải cách doanh nghiệp, làm tăng tính di động lao động và sự linh hoạt lương, mà đã tăng tốc sự tăng trưởng của các doanh nghiệp tư nhân. Nhà nước khuyến khích tính di động vốn nhiều hơn để tài trợ các doanh nghiệp khu vực-tư nhân. Sở Giao dịch Chứng khoán Thượng Hải, sở giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới hiện nay, được thành lập lại trong 1990 sau khi bị đóng cửa trong 1949 khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) được thành lập.

ĐCSTQ cũng đã tạo không gian cho khu vực-tư nhân đang phát triển nhanh bằng việc cải cách khu vực SOE. Tuy việc này đã không xảy ra nhanh, vì cải cách SOE đã (và tiếp tục là) tương đối chậm chạp do những sự gián đoạn lao động tiềm tàng to lớn nảy sinh từ tư nhân hóa và việc thu hẹp lại các SOE. Đây chỉ là một trong nhiều cách mà di sản xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc là quan trọng, và một trong các nhân tố phân biệt Trung Quốc với các láng giềng Á châu kiến tạo-phát triển của nó mà không có một quá khứ xã hội chủ nghĩa.

Để khởi động quá trình cải cách SOE, Giang đã tuyên bố chiến dịch “giữ (doanh nghiệp) lớn, thả nhỏ” trong 1997. Các nhà lập kế hoạch và quản lý nhà nước được khuyến khích để “buông” các SOE kém hiệu quả trong khi duy trì sự kiểm soát đối với các SOE lớn, nhất là các SOE trong các ngành chiến lược. Việc cải cách từ từ khu vực SOE, cùng với sự tăng trưởng nhanh của khu vực doanh nghiệp tư nhân, đã làm thay đổi phong cảnh công nghiệp của Trung Quốc. Vào cuối các năm 1990, khu vực SOE chiếm chỉ 28 phần trăm tổng sản lượng công nghiệp. Trong khi đó, các công ty khu vực-tư nhân chiếm tuyệt đại đa số sản lượng công nghiệp cũng như xuất khẩu của Trung Quốc.7

Để giải quyết vấn đề tài khóa của nó, ĐCSTQ đã thực hiện những cải cách thuế quan trọng trong 1994, đưa vào vài loại thuế mới để tạo thu nhập cho nhà nước trung ương. Quan trọng nhất, các cải cách đã tập trung các luồng tài khóa cho chính phủ trung ương. Trước đó, tuyệt đại đa số (lên đến 80 phần trăm) thu nhập thuế đã ở lại trong kho bạc tỉnh, ràng buộc khả năng của chính phủ trung ương để phân bổ các nguồn lực cho quốc phòng, đầu tư cơ sở hạ tầng, và các sáng kiến chiến lược khác như phát triển kinh tế quốc gia. Trước 1994, chính phủ trung ương đã buộc phải chịu thâm hụt ngân sách kinh niên, đôi khi cần vay các chính quyền địa phương và tỉnh đổi lấy các IOU (giấy nợ-I Owe yoU).8

Cải cách tài khóa 1994 đã làm tăng đột ngột quy mô ngân sách trung ương và năng lực của nhà nước để tiến hành các chiến lược đầu tư trong nền kinh tế. Giữa 1995 và 2012, thu nhập thuế trung ương đã tăng hơn gấp đôi. Mặc dù các chính quyền địa phương và tỉnh bị mất phần của chúng trong chiếc bánh tài khóa, chúng có được sự tự trị hơn để phát triển các nền kinh tế địa phương của chúng. Ít phụ thuộc vào sự hào phóng tài khóa, các chính quyền vùng nắm bắt các cơ hội thị trường để thu hút đầu tư nước ngoài, phát triển các hãng sinh lời, đóng cửa các hãng vi phạm, và tăng thu nhập xuất khẩu của chúng. Nói đơn giản, cải cách tài khóa đã tăng tốc các cải cách thị trường của Trung Quốc trong khi cũng củng cố định chế quan trọng nhất của tất cả các định chế độc đoán: nhà nước trung ương.

Chế độ ĐCSTQ đã tự do hóa các quy tắc và các quy định quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hướng vào của nó. Giữa 1979 và 1999, FDI hướng vào được tích lũy của Trung Quốc đã tăng lên hơn 300 tỉ USD và khoảng 1 ngàn tỉ USD một thập niên muộn hơn. Vào giữa-các năm 1990, chỉ vài năm sau Chuyến Đi miền Nam của Đặng, các hãng đầu tư-nước ngoài đã chiếm một phần năm sản lượng công nghiệp và 40 phần trăm của tổng xuất khẩu.

Các hãng chế tạo nước ngoài được thu hút tới Trung Quốc bởi vì cung lao động dồi dào và thị trường người tiêu dùng khổng lồ của nó. Chúng cũng được thu hút tới các đặc khu kinh tế và những dàn xếp thuế được ưu đãi của chúng, đặc biệt trong các tỉnh ven biển thân thiện-xuất khẩu của Trung Quốc. Trong sự chuẩn bị sự gia nhập 2001 của nó vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Trung Quốc đã cam kết giảm thuế nhập khẩu ngang hầu hết các khu vực và tìm kiếm nhiều FDI hơn để thúc đẩy các ngành xuất khẩu của nó. Chính phủ đã hợp nhất và sau đó đã phá giá đồng tiền Trung quốc để tạo thuận lợi cho thương mại và đặc biệt để tăng các mặt hàng xuất khẩu Trung quốc. Như phần của chiến lược “ra toàn cầu” của Giang, Trung Quốc đã vĩnh viễn đảo ngược thâm hụt thương mại của nó bắt đầu trong giữa-các năm 1990.9

Hồ Cẩm Đào kế vị Giang Trạch Dân như chủ tịch của Trung Quốc trong 2003, chỉ định Ôn Gia Bảo làm thủ tướng. Trong hầu hết các khía cạnh, chính quyền Hồ-Ôn (2003–13) đã tiếp tục quỹ đạo tăng trưởng-cao, định hướng-toàn cầu mà Giang đã khởi xướng một thập niên trước. Sự tăng trưởng kinh tế nhanh đã củng cố tính chính danh thành tích của chế độ cầm quyền. Trung Quốc trở nên giàu hơn, và điều này tạo ra sự ủng hộ cho chế độ ĐCSTQ độc tài.

Tuy vậy, chính quyền Hồ nhận ra rằng thành quả phát triển của Trung Quốc đã không làm lợi cho hầu hết mọi người, và rằng nhiều người, đặc biệt những người trong lục địa và ở nông thôn, bị bỏ lại đằng sau. Nếu chế độ muốn lợi dụng thành tích kinh tế của nó về mặt chính trị, một mình sự tăng trưởng tổng hợp sẽ là không đủ để duy trì tính chính danh của nó. “Chất lượng tăng trưởng,” như Hồ diễn đạt, cần nhiều sự chú ý hơn.

Trong đầu các năm 2000, nền kinh tế nông thôn của Trung Quốc bị đau khổ. Các doanh nghiệp hương trấn được lợi ban đầu từ các cải cách sau-1978 đã bị sự cạnh tranh khu vực-tư nhân chèn ép. Vào giữa-các năm 1990, các doanh nghiệp nông thôn, đã quan trọng cho việc hấp thu dư thừa lao động nông thôn và cung cấp việc làm dựa vào-lương sớm hơn trong thời kỳ cải cách, về cơ bản đã lạc hậu. Sợ rằng sự tăng trưởng thiếu cân đối có thể kích động đối lập chính trị với chế độ, ĐCSTQ đã tập trung vào sự phát triển nông thôn, khuyến khích sự tăng trưởng công nghiệp nhiều hơn ở các tỉnh nội địa của Trung Quốc và cung cấp sự miễn thuế một phần thu nhập cho các hộ gia đình nông thôn.

Vào các năm 2000, hố sâu kinh tế đã rộng ra nghiêm trọng giữa các tỉnh miền tây nội địa và các tỉnh ven biển. Không lâu sau khi nắm quyền trong 2003, chính phủ Hồ đã tăng gấp đôi sáng kiến “phát triển miền tây,” được đưa ra trong cuối các năm 1990 để giảm bất bình đẳng kinh tế vùng.10 Nhiều người trong ban lãnh đạo ĐCSTQ đã lo sự xuất hiện của “hai Trung Quốc”—các thành phố ven biển giàu và các tỉnh nội địa bị bần cùng—sẽ kích sự bất mãn và có khả năng làm giảm sự ủng hộ chính trị cho chế độ cầm quyền và chiến lược phát triển của nó. Chính phủ Hồ-Ôn đã phân bổ một cách không cân đối nhiều nguồn lực hơn cho các tỉnh miền tây cho sự phát triển cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sự trao đổi và thương mại, đầu tư công nghiệp vào các khu vực tăng trưởng chiến lược, và giảm thuế để thu hút đầu tư nước ngoài và tạo ra các khu chế xuất được ưu đãi.

Chính phủ Hồ cũng đã ưu tiên cải cách chính sách xã hội, đặc biệt sự mở rộng từ từ của các chương trình bảo hiểm xã hội do nhà nước-tài trợ. Bất chấp hàng thập niên tăng trưởng kinh tế và sự cam kết nhà nước cho sự phát triển xã hội chủ nghĩa, các chương trình phúc lợi do chính phủ vận hành của Trung Quốc thực sự đã loại trừ nhiều người nghèo nông thôn và đô thị. Các gia định thu nhập thấp đã không được hưởng một mạng an sinh xã hội, có nghĩa là họ tự trả tiền cho các dịch vụ xã hội. Trước đó đến giữa-các năm 2000, chẳng hạn, chi tiêu từ-túi-riêng về chăm sóc sức khỏe đã vượt tài trợ chính phủ.11

Chế độ Hồ đã đảo ngược điều này bằng việc tăng phần của nhà nước trong hóa đơn chăm sóc sức khỏe quốc gia. Trong 2006 tài trợ công cho chăm sóc sức khỏe đã cao hơn các khoản chi từ túi-riêng lần đầu tiên kể từ đầu các năm 1990. Trong 2009 chính phủ đã thực hiện một sơ đồ bảo hiểm sức khỏe mới và sâu rộng, phủ không chỉ những người lao động nông thôn và đô thị mà cả các cư dân thất nghiệp và những người phụ thuộc không-làm việc. Phần lớn được tài trợ công, chương trình bảo hiểm phổ quát đã mở rộng độ phủ lên 95 phần trăm dân cư, đảm bảo sự tiếp cận đến chăm sóc sức khỏe và thuốc cho gần như tất cả các công dân, bất kể tình trạng việc làm của họ. Các cải cách chính sách xã hội này đã rất được lòng dân giữa các công dân Trung quốc, tạo ra nhiều sự ủng hộ hơn cho chế độ ĐCSTQ.

Tóm lại, thành tích phát triển kinh tế của ĐCSTQ là rất đáng kinh ngạc. Vào 2010, Trung Quốc đã vượt Nhật Bản như nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Thu nhập trên đầu người đã vút lên cao từ đầu các năm 1990 trở đi, nâng Trung Quốc vào tầng trên của các nước thu nhập-trung bình của thế giới và kéo hàng trăm triệu người khỏi sự nghèo cùng cực, một thành tựu phát triển con người chưa từng có. Nếu chủ tịch Tập Cận Bình hiện thời có thể thực hiện đúng những lời hứa hào phóng của ông, sự nghèo cùng cực ở Trung Quốc sẽ được loại bỏ hoàn toàn qua một hỗn hợp của sự chi tiêu công quá mức và sự tăng trưởng kinh tế tiếp tục.

Trung Quốc cũng đã trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới về mặt tổng lượng thương mại và xuất khẩu. Trung Quốc đã năng nổ đa dạng hóa các thị trường của nó ở phương Bắc toàn cầu cũng như trong các nền kinh tế mới nổi ở Đông Nam Á, Trung Á, và châu Phi. Một thời bị chê vì sự thiếu thương hiệu toàn cầu hấp dẫn của chúng, bây giờ các công ty Trung quốc đang cạnh tranh trong các thị trường tiêu dùng một thời được thống trị bởi các thương hiệu Mỹ, Nhật bản, và Âu châu. Trong 2001 chỉ 11 hãng Trung quốc được liệt kê trên Fortune 500 của thế giới; vào 2020, các hãng Trung quốc đã chiếm 124 trong số 500 hãng lớn nhất trên thế giới, che khuất Hoa Kỳ (với 121 công ty) và hơn gấp đôi Nhật Bản (với 53 công ty).12

Các công ty Trung quốc không chỉ khổng lồ; chúng đang leo lên chuỗi giá trị toàn cầu. Được lợi từ các năm đầu tư công và đầu tư khu vực-tư nhân vào các đại học, các phòng thí nghiệm nghiên cứu, nghiên cứu khoa học và công nghệ, Triển khai, và thương mại hóa, các hãng Trung quốc đang thách thức các hãng lãnh đạo toàn cầu trong những công nghệ tiên tiến.

Sự hiện diện kinh tế của Trung Quốc trên sân khấu thế giới đã phát triển theo những cách khác. Trong các năm gần đây, Trung Quốc đã dẫn đường trong việc hình thành các consortium đầu tư xuyên quốc gia đầy tham vọng, như Sáng kiến Vành đai và con Đường và Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Á châu. Các hãng Trung quốc cũng đã trở thành một trong những nguồn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong các nền kinh tế đang lên khác ở phương Nam toàn cầu.

Việc Tích tụ các Sức mạnh Chế độ

Sự phát triển kinh tế phi thường của Trung Quốc đã tạo ra tính chính danh thành tích to lớn cho chế độ. Tuy vậy, trong khi sự tăng trưởng kinh tế là một nguồn quan trọng của sự ủng hộ chính trị của một chế độ độc đoán, nó không phải là nguồn duy nhất. Hơn nữa, như chúng ta đã thấy trong các phần khác của châu Á kiến tạo-phát triển, sự tăng trưởng kinh tế nâng cao các đòi hỏi xã hội cho thành tích chính phủ tốt hơn, ngay cả khi nó nâng cao tính chính danh chế độ. Kể từ vụ thảm sát Thiên An môn 1989, đảng cầm quyền ở Trung Quốc đã ở trên một quỹ đạo rõ ràng để tích tụ các sức mạnh, kể cả nhưng không hạn chế ở tính chính danh thành tích kinh tế.

Một chế độ bị yếu trong cái bóng của 4 tháng Sáu 1989, ĐCSTQ đã nhanh chóng xây dựng lại bộ máy đảng. Thật quan trọng, nó đã thể chế hóa một quy trình kế vị lãnh đạo nội bộ, một hỗn hợp của các tiêu chuẩn phi chính thức về cân bằng phe phái và các cơ chế chính thức cho sự cất nhắc có tính trọng dụng nhân tài lên các cấp bậc đảng. Sự kế vị lãnh đạo có thể dự đoán được, một đặc tính chủ chốt của sức mạnh và tính bền của đảng độc đoán, đảm bảo sự ổn định hơn bên trong đảng và là giảm những sự chia rẽ bè phái mà trước đây đã làm yếu ĐCSTQ dưới cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Trong chừng mực sự kế vị lãnh đạo xảy ra, sự chuyển tiếp từ Giang Trạch Dân sang Hồ Cẩm Đào trong 2003 đã bình thản, không có sự cố về mặt chính trị, như sự chuyển tiếp lãnh đạo tiếp theo sang Tập Cận Bình.

ĐCSTQ cũng đã tích cực xây dựng lại và định hình lại cơ sở đảng viên của nó. Căn cứ vào những cố gắng của đảng để phát triển nền kinh tế và theo đuổi một con đường thực dụng hơn là ý thức hệ đến phát triển, “các kẻ thù giai cấp” trước kia như các doanh nhân khu vực-tư nhân được hội nhập vào hàng ngũ đảng. Tại Trung Quốc đang hiện đại hóa nhanh, các doanh nhân tư bản chủ nghĩa là một cơ sở ủng hộ quan trọng nếu được giúp đỡ, và một nguồn tiềm năng của đối lập chính trị đối với đảng cầm quyền nếu bị bóp nghẹt. Dù đã nói thế, bất chấp chủ nghĩa thực dụng ý thức hệ của Đặng, di sản xã hội chủ nghĩa của đảng đã khiến khó để ủng hộ các doanh nhân tư nhân. Việc thâu nạp các doanh nhân vào ĐCSTQ đã chậm.

Quá trình thâu nạp này đã lấy được đà trong đầu các năm 2000. Trong 2002, chủ tịch Giang sắp mãn nhiệm đã đưa ra một khẩu hiệu quần chúng mới tại Hội nghị Nhân dân tòa Quốc (NPC-Quốc hội): “ba đại diện.” Đảng cầm quyền, ông tuyên bố, phải đại diện những cố gắng của Trung Quốc để phát triển các hình thức năng suất cao nhất, để hoàn thiện văn hóa xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc, và để đại diện các lợi ích của nhân dân Trung quốc. Đảng tiến hóa, vì thế, cũng cam kết đại diện cho các lợi ích của các doanh nhân, mà đã báo hiệu một cửa mở cho các nhà kinh doanh-tư nhân để trở thành các đảng viên.

Họ đã làm thế theo từng đàn không lâu sau đó. Các ước lượng gợi ý rằng gần một nửa các nhà kinh doanh-tư nhân của Trung Quốc là các đảng viên ĐCSTQ. Dù bởi vì ĐCSTQ đã thành công thâu nạp các “nhà tư bản đỏ” này hay họ đã chia sẻ các quan điểm tương tự với các quan điểm của đảng cầm quyền, giai cấp doanh nhân đang nổi lên của Trung Quốc đã không đòi các cải cách chính trị, như nhiều nhà lãnh đạo ĐCSTQ ban đầu đã sợ (và một số nhà quan sát bên ngoài ban đầu đã dự đoán). Thay vào đó, các doanh nhân nói chung đã ủng hộ đảng cầm quyền và status quo (hiện trạng) chính trị, và họ được xem như các đối tác hơn là các kẻ thù của ĐCSTQ. Nói đơn giản, các doanh nhân đã củng cố liên minh cầm quyền của đảng cầm quyền.13

Sau Thiên An Môn, ĐCSTQ đã lập các kênh mới cho input (đầu vào) từ dưới lên, tạo ra các phương thức tham gia bình dân mới và các nguồn tính chính danh chính trị mới giữa các công dân. Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung quốc (CPPCC) được chế độ ca ngợi như một cơ chế thể chế qua đó các công dân có thể cất lên tiếng nói, ý kiến của họ về mọi vấn đề của chính trị và chính sách, từ chính sách đối nội đến các vấn đề đối ngoại. CPPCC gồm chủ yếu các đảng viên, tuy nó cũng bao gồm các tổ chức đại diện các khu vực khác nhau của xã hội, như liên đoàn thanh niên, các hội doanh nhiệp, thương mại, các tổ chức lao động, và các tổ chức chính trị liên kết-ĐCSTQ khác. Chịu trách nhiệm với NPC, CPPCC định vị bản thân mình như đoàn thể bày tỏ ý kiến quốc gia cho input xã hội, kể cả những phàn nàn chính trị. Nó được dự định để cung cấp van xả-áp lực mà đã hết sức thiếu trong thời gian dẫn đến khủng hoảng tháng Sáu 1989.

Những cố gắng để tạo ra cái các quan chức Trung quốc gọi là “chủ nghĩa độc đoán hiệp thương” tiếp cận xuống tới mức địa phương. Ví dụ, ĐCSTQ đã thực hiện các cải cách bầu cử làng trong cuối các năm 1990 để khiến các cuộc bầu cử nông thôn minh bạch và ít tham nhũng hơn. Mặc dù các cuộc bầu cử này vẫn còn xa mới cạnh tranh, cải cách bầu cử đã dẫn đến sự tham gia công dân tăng lên vào chính trị và quản trị địa phương. Tương tự, sự tăng nhanh của các tổ khu dân cư đô thị bắt đầu trong các năm 1980 có ý định để tạo ra nhiều input xã hội hơn vào các công việc đô thị địa phương. Để cải thiện sự quản trị địa phương và phản ứng chính quyền, chế độ ĐCSTQ cũng đã khuyến khích các thử nghiệm mức địa phương về các thực hành tư vấn để tạo ra nhiều con đường hơn cho input công dân vào các vấn đề chính sách.14

Trước sự đàn áp thẳng tay gần đây dưới thời Tập, chế độ thực tế đã hoan nghênh sự phát triển của xã hội dân sự, và đặc biệt sự hình thành của cái gọi là các tổ chức phi chính phủ (NGO). Các NGO Trung quốc phải đăng ký với các nhà chức trách; vì thế, chúng được nhắc tới như “các NGO được chính quyền tổ chức,” hay các GONGO. Hiện thời ở Trung Quốc có hơn 500.000 GONGO được đăng ký, với những ước lượng về hàng triệu nhóm xã hội dân sự tiềm tàng không có đăng ký hoạt động ở Trung Quốc.

Khu vực NGO không nhất thiết đối kháng với chế độ, như chúng ta thường kỳ vọng trong các xã hội khác. Chính phủ tích cực cộng tác với các nhóm xã hội dân sự, đặc biệt các nhóm liên quan đến cung cấp dịch vụ xã hội và các sự nghiệp phi-chính trị khác. Từ quan điểm của chế độ độc đoán, chừng nào các diễn viên xã hội dân sự—kể cả các nhóm không đăng ký—kiềm chế khỏi các hoạt động chính trị rõ ràng, thì chính phủ sẵn lòng nuôi dưỡng sự phát triển của chúng.15

ĐCSTQ trong các năm 1990 và 2000 đã ngày càng trở nên khoan dung hơn, mặc dù vẫn một cách chọn lọc, với sự bất đồng và phản kháng chính trị. Internet đã cung cấp một diễn dàn quan trọng cho sự phản hồi công dân, kể cả những sự than phiền với chính phủ. Gần đây chế độ đã đàn áp hoạt động vận động “netizen (công dân mạng)” (activism), mặc dù internet tiếp tục là một nơi, dù bị giám sát cẩn thận, cho hoạt động lật đổ chính trị. Về mặt huy động dân chúng và phản kháng, theo nghĩa đen hàng trăm cuộc phản kháng (biểu tình) nhỏ bắt đầu xảy ra hàng ngày ở Trung Quốc. Hầu như tất cả “các sự cố” phản kháng này đã nhỏ về quy mô, gồm chỉ một vài cá nhân. Các cuộc phản kháng cũng thường là về các mối quan tâm địa phương, từ những người tố giác các quan chức địa phương tham nhũng đến những than phiền NIMBY (không trong sân sau của tôi). Đối với ĐCSTQ, sự bất đồng chính kiến đã trở thành một nguồn phản hồi quan trọng mặc dù được quản lý cẩn trọng cho chế độ, miễn là sự bất đồng chính trị được định vị, bị kiềm chế và không lan rộng hay huy động các phong trào phản kháng lớn hơn.16

Cái tất cả điều này thêm vào là sự thực ĐCSTQ ngày nay, không như trong 1989, là một đảng cầm quyền rất mạnh, bình dân, và hết sức thích nghi. Nó đã tích tụ các sức mạnh chồng lên các sức mạnh kể từ thời kỳ cải cách bắt đầu hơn bốn thập niên trước. Sau 1989, đảng cầm quyền đã tổ chức lại thành công về nội bộ và đã củng cố quyền lực của nó. Nó đã tạo ra tính chính danh phổ biến giữa các công dân và sự ủng hộ chính trị trong vị trí lãnh đạo sự biến đổi kinh tế, xã hội, và chính trị phi thường của Trung Quốc. Và quan trọng nhất, nó đã thích nghi và tiến hóa và, ít nhất trong vài thập niên, đã sang tên một chế độ mềm hơn, khoan dung hơn, và cởi mở hơn. ĐCSTQ ngày nay không phải là ĐCSTQ như nó đã là dưới thời Mao, cũng chẳng là đảng cầm quyền trong năm 1978 vào lúc bắt đầu thời kỳ cải cách, cũng chẳng như ngay cả trong 1989 khi chế độ chọn để đàn áp thẳng tay và dùng bạo lực chấm dứt các cuộc biểu tình Quảng Trường Thiên An Môn.17 Nói cách khác, nếu ĐCSTQ thu lượm sức mạnh trong các năm 1980, như chúng tôi lập luận trong chương 6, chúng tôi có thể nói dứt khoát ĐCSTQ ngày nay là một đảng có các sức mạnh phi thường và là đủ mạnh để xem xét việc thừa nhận dân chủ qua sức mạnh.

Các tín hiệu báo điềm xấu?

So với các tín hiệu báo điềm xấu (báo điềm gở) nhưng vẫn làm yên lòng mà đã báo hiệu những sự thừa nhận dân chủ phòng ngừa như trong các trường hợp rộng như Hàn Quốc, Indonesia, và thậm chí Myanmar, các chỉ báo về sự suy giảm chớm nở ở Trung Quốc vẫn không đáng báo động và không rõ cho ĐCSTQ. Đồng thời, sau bốn thập niên tích tụ các sức mạnh chính trị và kinh tế, khả năng của ĐCSTQ để tiếp tục tích tụ sức mạnh như vậy có thể đang tàn đi. Có các dấu hiệu về đảng cầm quyền có thể đã đạt, hay đang sắp đến gần, đỉnh cao quyền lực của nó.18

Nhịp độ phát triển kinh tế của Trung Quốc đã chậm lại, đi từ một sự tăng trưởng trung bình 10 phần trăm một năm xuống “bình thường mới” hiện nay khoảng 6 phần trăm bắt đầu trong giữa-các năm 2010, và chậm thậm chí thêm nữa giữa đại dịch coronavirus bắt đầu trong 2020. Xu hướng chậm lại này không phải là một sự ngạc nhiên. Các nhà kinh tế học cho rằng Chủ tịch Tập, khi lên nắm quyền trong 2013, đã thừa kế một nền kinh tế cần cải cách cơ cấu lớn. Cần các cải cách khó khăn nếu muốn nền kinh tế Trung quốc tiếp tục tăng trưởng với cùng tốc độ như trước kia. Năng suất đã giảm sút trong nền kinh tế Trung quốc bắt đầu trong đầu các năm 2000. Các nền kinh tế mới nổi ở Đông Nam Á và các phần khác của thế giới đang phát triển đã bắt đầu xén bớt lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc về lao động chế tác dồi dào và rẻ. Các hãng Trung quốc bắt đầu di chuyển các nhà máy của chúng ra nước ngoài, tìm kiếm các thị trường lao động rẻ hơn ở nơi khác, hệt như các hãng nước ngoài đã nhìn vào Trung Quốc và thúc đẩy sự phát triển công nghiệp nhanh của nước này trong các năm 1980.

Trong khi tiêu dùng trong nước đã tăng lên trong các năm gần đây, một phần lớn của sự tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Trung Quốc có thể vẫn được quy cho đầu tư. Tuy vậy, chiến lược tăng trưởng do đầu tư-dẫn dắt của Trung Quốc có khả năng đang đạt các giới hạn của nó. Những cố gắng hiện thời của chủ tịch Tập để tăng thu nhập nông thôn và giảm bất bình đẳng được dùng một phần để giải quyết sự bất cân đối đầu tư-tiêu dùng bằng việc tăng chi tiêu hộ gia đình ở Trung Quốc. Tuy vậy, những người nghi ngờ sợ các cố gắng này có thể quá muộn vì các nền kinh tế địa phương đang vật lộn với sự nghiện của chúng với sự tăng trưởng do đầu tư-thúc đẩy. Việc tái cân bằng cuối cùng có thể có nghĩa là nền kinh tế chậm lại, mà có thể tỏ ra là hiểm họa về mặt chính trị cho chế độ.

Nền kinh tế Trung quốc cũng ngày càng bị những gánh nặng nợ nần khổng lồ. Những mối lo gần đây về Evergrande và các consortium phát triển bất động sản khác dùng đòn bẩy nợ cao đe dọa gây bất ổn định các thị trường tài chính của Trung Quốc. Khu vực SOE, mà đã là một mục tiêu của những cải cách khó khăn kể từ các năm 1990, cũng tiếp tục hút hết các nguồn lực đầu tư chính phủ. Khu vực vẫn tràn ngập các khoản vay không trả được, phản ánh sự bất lực hay sự không sẵn lòng của nhà nước để buông các hãng zombie (thây ma), không sinh lời. Ngoài ra, các chính quyền địa phương đang mang những gánh nợ không thể chịu nổi, khi chúng đạt các mục tiêu tăng trưởng kinh tế của chúng nhờ đầu tư được tài trợ-bằng nợ. Nợ hộ gia đình và người tiêu dùng cũng tăng lên ở mức vi mô, vì giá nhà ở và chi phí sinh hoạt nói chung tiếp tục tăng vọt ở các thành phố Trung quốc.19 Sự nợ nần tăng lên khiến các nguyên tắc kinh tế cơ bản của Trung Quốc không còn hoạt động đúng nữa.

Các mức bất bình đẳng tăng lên gây ra một thách thức chính trị và kinh tế nghiêm trọng cho chế độ ĐCSTQ, đặc biệt vì sự cam kết của đảng với một ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Hệ số Gini của Trung Quốc đã tăng từ dưới 0,3 vào lúc bắt đầu thời kỳ cải cách trong đầu các năm 1980 lên gần 0,5 trong các năm 2000. Các ước lượng không chính thức cho thấy nó tồi hơn nhiều, gợi ý hệ số Gini của Trung Quốc có thể gần 0,6 hơn, mà sẽ xếp hạng nó giữa các xã hội bất bình đẳng nhất thế giới.

Các mức bất bình đẳng tăng lên một phần là do sự đình trệ về lương nông thôn trong các năm vừa qua và sự giảm sút tổng thể về các cơ hội và năng suất kinh tế ở nông thôn. Giá cả tăng lên đã làm bình đẳng thu nhập trầm trọng ở các thành phố. Tuy vậy, bất bình đẳng tăng lên không được trải nghiệm về một mình bất bình đẳng thu nhập. Các sự chênh lệch của cải đang trở nên đặc biệt rõ rệt ở Trung Quốc, khi sự tiếp cận đến nhà ở và giáo dục ngày càng bị hạn chế. Các sự chuyển giao của cải giữa các thế hệ đã mở rộng khoảng cách của cải của Trung Quốc. Các mức chênh lệch quá xá như vậy cắt đến lõi ý thức hệ xã hội chủ nghĩa và bản sắc của ĐCSTQ.

Việc cân bằng sự tăng trưởng kinh tế với các mối quan tâm khác thích đáng về mặt chính trị nêu ra những thách thức khó khăn cho chế độ hiện tại. Các công dân Trung quốc đã chuyển sự chú ý của họ sang—đã bày tỏ sự bất mãn của họ với—chất lượng cuộc sống của họ. Đúng như chính quyền Hồ-Ôn đã tiên tri tập trung vào “chất lượng tăng trưởng” hơn là chỉ sự tăng trưởng tổng hợp, nhân dân Trung quốc ngày càng chú ý hơn đến các mối quan tâm hậu-duy vật. Sự an toàn người tiêu dùng, chẳng hạn, đã trở thành một tâm điểm cho sự bất đồng quan điểm công dân và sự huy động dân chúng. Cái gọi là các vấn đề và lời than phiền NIMBY, như việc nhà nước thu hồi đất và các chi phí của đô thị hóa nhanh và sự dời chỗ, cũng đang đến mặt tiền chính trị. Các mối lo ngại môi trường liên quan đến ô nhiễm không khí và sự tiếp cận đến nước sạch đã đưa chính phủ vào thế thủ.20 ĐCSTQ đang ngày càng đối mặt với vô số thách thức chính trị và kinh tế.

Cách chế độ chọn để đáp ứng với sự phản kháng đang nổi lên và chính trị gây tranh cãi minh họa liệu nó cảm nhận các thách thức như vậy như tốt hay như các mối đe dọa sinh tồn.21 Ngày càng có vẻ như ĐCSTQ cảm nhận chúng như các mối đe dọa sinh tồn. Mặc dù nó đã tự miêu tả mình như một chế độ khoan dung và tham khảo ý kiến hơn, đảng cầm quyền tiếp tục đầu tư các nguồn lực đáng kể vào bộ máy an ninh nội bộ, phát triển các chiến thuật đàn áp tinh vi để nhổ tận rễ những người bất đồng quân điểm nhạy cảm về chính trị. Việc chế độ ĐCSTQ thường xuyên triển khai các công nghệ tốn kém cho việc giám sát internet, sự kiểm duyệt báo chí và media xã hội, giám sát CCTV, các chiến dịch thông tin sai lệch, sự đe dọa bỏ tù, và thậm chí sự đàn áp bạo lực gợi ý đảng cầm quyền đánh giá chính trị gây tranh cãi nổi lên như các mối đe dọa cho sự ổn định của chế độ. Bất chấp các sức mạnh của ĐCSTQ được tích lũy qua sự phát triển khó tin của Trung Quốc, sự đổi hướng đàn áp của nó dưới chế độ Tập hiện tại không ngụ ý sự tự tin ổn định, mà đúng hơn là ngược lại.

Ngoài các thách thức kinh tế và chính trị trong nước ra, thì tình hình địa-chính trị đối với Trung Quốc đã trở nên ngày càng căng thẳng. Ngày càng niều nước đang chỉ trích Trung Quốc và hồ sơ nhân quyền của nó, các yêu sách lãnh thổ của nó trong khu vực, và ảnh hưởng kinh tế mở rộng của nó về mặt quốc tế. Khi Trung Quốc trở nên hùng mạnh hơn trên sân khấu thế giới, các láng giềng của nó đang trở nên bực dọc và lo lắng hơn về sự bắt nạt của Trung Quốc, và các cường quốc lớn khác đang nghi ngờ sâu sắc hơn về sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Đấy là một sự thay đổi lớn so với các năm 1990, khi Trung Quốc đầu tiên hội nhập mình đầy đủ hơn vào nền kinh tế quốc tế và đã thiết lập các chỗ đứng quan trọng trong các định chế quản trị toàn cầu như WTO, Ngân hàng Thế giới, và nhiều tổ chức khu vực Á châu. Trung Quốc cộng sản đã không là một đồng minh của phần còn lại của thế giới, nhưng nó cũng đã chẳng là kẻ thù hay kẻ thách thức của nó. Tuy vậy, ngày nay nó ngày càng được cảm nhận như, và cư xử như thể nó là, một đối thủ địa-chính trị của Hoa Kỳ và các đồng minh của nó. Các sự chỉ trích toàn cầu về các chính sách Trung quốc—từ sự đối xử của chế độ với những người Uighur Muslim ở Tân Cương, đến các mối lo an ninh về các hãng Trung quốc, đến những cáo buộc về các chính sách thương mại không công bằng—đang đóng góp cho các áp lực ngày càng không thân thiện và cạnh tranh lên Trung Quốc từ phần còn lại của thế giới.

Các hậu quả chính trị, kinh tế, và ngoại giao tương lai của sự ganh đua hiện tại với Hoa Kỳ là mập mờ. Là không rõ, chẳng hạn, liệu bản thân các nhà lãnh đạo Trung quốc xem các cơn gió ngược địa-chính trị là một tín hiệu đáng lo ngại và như các áp lực có thể làm hại chế độ và tính chính danh chính trị của nó ở trong nước. Là rõ, tuy vậy, rằng các cuộc chiến thương mại kéo dài, những sự cãi vã ngoại giao với các nước thân thiện trước kia, các đụng độ biên giới nổ ra lặp đi lặp lại, và một dàn hợp xướng tăng lên của sự lên án quốc tế đối với các hành động trong nước và quốc tế của Trung Quốc sẽ khiến ngày càng khó cho Trung Quốc để tiếp tục theo cách suôn sẻ như nó đã có trong bốn thập niên qua.

Sau khi đã phát triển một thành tích phát triển kinh tế thực sự phi thường, chế độ ĐCSTQ có vẻ đang tiến gần đến một điểm uốn quan trọng. Nó có thể hoặc đi con đường cải cách chính trị tới một tương lai tự do hơn hay tăng gấp đôi sự đổi hướng độc đoán của Tập. Lý thuyết của chúng tôi về dân chủ qua sức mạnh có thể giúp thông báo phân tích này.

Như chúng tôi cho thấy suốt cuốn sách này, các chế độ mạnh chắc có khả năng nhất để chọn thừa nhận dân chủ khi chúng vượt qua đỉnh cao quyền lực của chúng. Hơn nữa, đảng độc đoán cầm quyền càng gần đỉnh cao đó, sự chuyển đổi càng có khả năng sẽ ổn định và đảng cầm quyền đương nhiệm giữ được quyền lực. Nói đơn giản, chế độ càng mạnh, càng tốt cho chế độ đương nhiệm nếu nó chọn nền dân chủ.

Các tín hiệu mà chế độ ĐCSTQ nhận được trong thập niên qua hay khoảng thế, từ các tín hiệu kinh tế đến địa-chính trị, không nhất thiết có nghĩa là đảng cầm quyền đang bắt đầu suy giảm. Tại thời khắc hiện tại, ĐCSTQ có được sự ủng hộ chính trị rộng rãi, và tính chính danh thành tích mà nó đã tạo ra trong bốn mươi năm qua cung cấp cho đảng cầm quyền sức mạnh chính trị và kinh tế đáng kể—bây giờ.

Bởi vì ĐCSTQ ở Trung Quốc là một trường hợp ứng viên cho dân chủ qua sức mạnh, chúng tôi không biết—vì chúng tôi không thể biết chắc chắn tương lai sẽ là gì—liệu thực ra chế độ đã vượt qua đỉnh cao quyền lực của nó và đang ở trong vùng buồn vui lẫn lộn hay không. Như chúng ta thấy với các trường hợp trong cụm Britannia kiến tạo-phát triển, việc đợi để tìm ra với sự chắc chắn, tuy vậy, có thể gây ra các mối đe dọa thực và có lẽ sống còn đối với chế độ đương nhiệm.

Một chủ đề lặp đi lặp lại suốt cuốn sách này là sự phát triển tạo ra sự bất mãn của riêng nó. Thành công quá khứ, do các kỳ vọng tăng lên của mọi người về thành công tương lai, tạo ra các nhóm bất đồng chính kiến biệt lập mà có thể nhanh chóng trở thành đối lập trưởng thành. Bruce Dickson mô tả câu đố như nghịch lý Tocquevillian, hay “cách mạng của những kỳ vọng tăng lên,” mà ông cho là ở lõi của “tình thế khó xử của nhà độc tài.” Trong trường hợp Trung Quốc, Dickson suy đoán rằng “cho dù hiện nay đảng không đối mặt với đối lập có tổ chức, nó có thể bị cách mạng của những kỳ vọng tăng lên phá hủy.”22 Mặc dù các thách thức mà ĐCSTQ hiện tại đối mặt có thể không báo điềm xấu ngay lập tức, tuy nhiên chúng báo hiệu các thách thức xã hội, kinh tế, và địa-chính trị mà chế độ trong hình thức hiện thời của nó không thể giải quyết nổi.

Hệt như mô hình tăng trưởng kinh tế hiện thời của Trung Quốc đã đạt các giới hạn của nó và cần được cải cách đáng kể, công thức tính chính danh thành tích mà chế độ đã dựa vào đến nay để duy trì sự thống trị chính trị của nó có thể cũng sắp hết hạn. Quyết định của ĐCSTQ để tăng các năng lực ngăn chặn và đàn áp của nó trong các năm gần đây, và việc siết chặt quyền lực độc đoán của nó dưới Chủ tịch Tập, gợi ý đảng đương nhiệm cảm nhận rằng cách tốt nhất để đối phó các trở ngại lờ mờ này là di chuyển Trung Quốc ra xa hơn, thay vì gần hơn, con đường dân chủ hóa ổn định, nhà nước-mạnh của các láng giềng Bắc Á gần nhất của nó.

Bất chấp sự tự tin ổn định và chiến thắng ĐCSTQ nên có vì các sức mạnh được tích tụ trong bốn thập niên qua, dường như chế độ đang chọn để tránh xa sự lựa chọn dân chủ-qua-sức mạnh. Như chúng ta đã thấy ở chương 8 trong các trường hợp của Malaysia và Hồng Kông, và như chúng tôi khám phá muộn hơn trong chương này trong trường hợp Cambodia, việc tránh xa con đường này đến với các rủi ro lớn của riêng nó.

Các Triển vọng Dân chủ của Trung Quốc

Trong lý thuyết dân chủ qua sức mạnh của mình, chúng tôi nêu bật nghịch lý của sức mạnh đảng đương nhiệm. Khi “một đảng cầm quyền có được năng lực đương nhiệm đáng kể, điều này không chỉ làm tăng khả năng của nó để duy trì sự cai trị độc đoán, mà có thể làm giảm sự bắt buộc của nó để làm vậy.”23 Nói cách khác, khi một đảng đương nhiệm đủ mạnh để duy trì sự kìm kẹp độc đoán của nó lên quyền lực chính trị trong lúc này, nó cũng đủ mạnh để thừa nhận dân chủ mà không thừa nhận thất bại, như thế làm tăng khả năng nó có thể chọn con đường dân chủ.

Theo quan điểm của chúng tôi, ĐCSTQ rõ ràng là đủ mạnh để chọn cả hai đường; nó đang trong vùng ít đắng cay hơn ngọt ngào rất nhiều. Đảng cầm quyền Trung Quốc có thể khẳng định một cách đáng tin cậy rằng nó đã sắp đặt và trông nom sự phát triển phi thường của Trung Quốc. Đảng ngày nay, không như trong 1989, có một “quá khứ có thể sử dụng được” đáng thuyết phục mà nó có thể khai thác để tạo ra sự ủng hộ cử tri cho đảng dẫn Trung Quốc vào pha tiếp theo của xã hội hiện đại hóa, kinh tế, và chính trị. Thành tích của ĐCSTQ không giới hạn ở kinh tế học. Các cải cách quản trị để làm tăng năng lực tham vấn của chế độ phản ánh tính phản ứng nhanh của đảng với các đòi hỏi và input công dân. Việc ĐCSTQ thâu nạp các doanh nhân tư bản chủ nghĩa phản ánh khả năng của nó để thích nghi với sự tiến hóa kiến tạo-phát triển của Trung Quốc. Các công dân Trung quốc ủng hộ chế độ một cách rộng rãi, thừa nhận vai trò quá khứ và thành tích lịch sử của đảng.24

Nói đơn giản, thành tích phát triển kinh tế và chính trị của đảng sẽ là tấm vé lớn nhất tới sự ổn định và chiến thắng trong một tương lai dân chủ. Về khía cạnh này, Trung Quốc tiếp tục trông ngày càng giống các láng giềng nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển của nó, và ngày càng ít gống khối Soviet trước kia mà đã sụp đổ ba thập niên trước. Trong hỗn hợp của chủ nghĩa xã hội kiến tạo-phát triển của Trung Quốc, sự cam kết của chế độ với sự tăng trưởng kinh tế và chủ nghĩa kiến tạo-phát triển đã tiếp tục tăng lên, còn trọng lượng của chủ nghĩa xã hội đã nhẹ đi.

ĐCSTQ lẽ ra phải tự tin rằng nếu nó dân chủ hóa theo các điều kiện và sự định thời gian của riêng nó, Trung Quốc sẽ vẫn ổn định. Nếu ĐCSTQ lãnh đạo quá trình chuyển đổi, như Quốc Dân Đảng (QDĐ) đã làm ở Đài Loan, chế độ đương nhiệm chắc chắn sẽ đưa ra các sự bảo vệ thể chế và các điều kiện hiến pháp để đảm bảo một quá trình chuyển đổi ổn định.25 Ngược với nỗi sợ rằng nền dân chủ sẽ mang lại sự hỗn loạn và sự bất ổn định, người ta có thể kỳ vọng một sân chơi bằng phẳng, dân chủ hơn ở Trung Quốc để mang lại van xả-áp lực cần để tháo ngòi một số căng thẳng chính trị bên trong Trung Quốc, kể cả việc quản lý các mối quan hệ hòa bình và bền vững hơn dọc ngoại vi bất ổn của Trung Quốc. Quả thực, một trong những bài học cốt lõi học được từ cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển là chuyển đổi dân chủ có khả năng nuôi dưỡng nhiều hơn, không phải ít hơn, sự ổn định chính trị ở Trung Quốc.

Đảng cầm quyền ở Trung Quốc là bình dân. Không chỉ các công dân Trung quốc ủng hộ chế độ đang quản trị, như được bày tỏ trong hầu như mọi cuộc khảo sát ý kiến; hầu hết người dân ủng hộ ĐCSTQ một cách cụ thể, mà phải cho đảng đương nhiệm sự tự tin chiến thắng dư dả. Tất nhiên, các công dân chỉ trích đảng và chế độ, và chắc sẽ chỉ trích ngày càng công khai hơn trong một nền dân chủ. Các nhà phê bình ĐCSTQ, chẳng hạn, sẽ hình thành một đảng đối lập với ĐCSTQ trong một nền dân chủ đa đảng. Thế nhưng, hiện tại, không có lựa chọn thay thế khả thi nào cho ĐCSTQ đương nhiệm. Nếu Trung Quốc dân chủ hóa, không có đảng thách thức có thể tưởng tượng được nào có thể làm nó mất ghế như đảng cầm quyền trong ngắn hạn. Hơn nữa, như chúng ta đã thấy trong cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển, các đối thủ của một chế độ độc đoán có thể ủng hộ một đảng kế vị độc đoán trong cuộc bầu cử sau khi nó dân chủ hóa hệ thống chính trị. Nói cách khác, ĐCSTQ nên có nhiều sự tự tin rằng việc thừa nhận dân chủ sẽ không có nghĩa là sự thất bại của nó như các đảng cầm quyền đương nhiệm ở Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan đã tự tin, nếu không phải nhiều hơn.

Có nhiều người bên trong Trung Quốc cho rằng chuyển đổi dân chủ sẽ cản trở sự phát triển của Trung Quốc. Những người chỉ trích chỉ ra tấm gương Soviet và truyện cảnh báo về glasnost và perestroika cho những người muốn là các nhà cải cách dân chủ. Tại Trung Quốc, bài học rút ra từ tấm gương Soviet đã là chuyển đổi dân chủ gây ra sự bất ổn định chính trị và sự rối loạn kinh tế. Nó cũng đã có nghĩa là cái chết chính trị của Đảng Cộng sản Liên Xô (ĐCSLX). Chẳng gì tốt đến từ dân chủ hóa cả, theo chuyện kể phê phán này.

Đó là bài học sai để rút ra từ tấm gương Soviet. Sự thất bại dân chủ ở Liên Xô trước kia và cái chết của ĐCSLX là do sự sụp đổ hơn là sự thừa nhận dân chủ của đảng cầm quyền đương nhiệm. ĐCSLX bắt đầu thừa nhận chỉ một nửa các biện pháp cải cách tự do hóa vào lúc khi chế độ đã mất tính chính danh và không được lòng dân rồi, đến mức khi một sự mở cửa dân chủ xảy ra, đảng cầm quyền đương nhiệm nhanh chóng bị đá ra ngoài. Nếu chế độ Trung quốc có học bất cứ thứ gì từ tấm gương Soviet, thì bài học đó nên là việc đợi quá lâu sau khi một đảng độc đoán cai trị vượt qua đỉnh cao quyền lực của nó khiến cho chuyển đổi dân chủ ít ổn định hơn và ít thuận lợi hơn cho những người đương nhiệm. Như chúng tôi đã cho thấy trong cụm Britannia, khi một chế độ tránh nền dân chủ quá lâu, vượt qua ngày “tốt nhất-trước khi (best-before)” của nó, nó làm tăng rủi ro của việc lao qua vùng buồn vui lẫn lộn (vùng cay đắng-ngọt ngào, bittersweet spot) hoàn toàn, dẫn đến hoặc cái chúng tôi gọi là chủ nghĩa độc đoán cay đắng (Hồng Kông và, ngày càng, Singapore) hay thậm chí sự thất bại hoàn toàn của chế độ độc đoán (như ở Malaysia).

Các Trở ngại cho nền Dân chủ Trung quốc

Bất chấp là một trường hợp thuyết phục cho chế độ ĐCSTQ để thừa nhận dân chủ qua sức mạnh, các triển vọng về chuyển đổi dân chủ vẫn không chắc xảy ra ở Trung Quốc, thậm chí xa vời. Quỹ đạo chính trị, mà chế độ hiện tại ở trên đó, không báo trước điềm tốt cho dân chủ ở Trung Quốc. Một số người đã suy đoán rằng những cố gắng sớm của Tập Cận Bình để củng cố quyền lực cá nhân của riêng ông bên trong đảng có ý định để đặt nền móng cho một kịch bản thừa nhận dân chủ khả dĩ. Việc ĐCSTQ siết chặt sự kìm kẹp độc đoán lên quyền lực và triển khai nhiều chiến thuật đàn áp hơn trong các năm gần đây, tuy vậy, gợi ý rằng những hy vọng đó đã đặt nhầm chỗ, và rằng Tập và ĐCSTQ không đang chuẩn bị cho một hệ thống chính trị tự do hơn.26 Nước đi của Tập để xóa bỏ giới hạn nhiệm kỳ chủ tịch nước trong 2018 xác nhận quỹ đạo hiện nay của ĐCSTQ rời xa khỏi dân chủ hóa.

Hãy gạt suy đoán về các ý định của Tập sang một bên, tuy vậy, có các lý do cấu trúc vì sao một nền dân chủ-qua-kịch bản sức mạnh là hết sức không chắc xảy ra ở Trung Quốc. Thứ nhất, các tín hiệu báo điềm xấu tiềm tàng rằng chế độ ĐCSTQ đang bắt đầu suy giảm hay đã vượt qua đỉnh cao quyền lực của nó vẫn quá không rõ ở Trung Quốc. Như chúng tôi đã tranh luận trong lý thuyết của chúng tôi, các tín hiệu rõ nhất về sự giữ quyền lực của một đảng cầm quyền, dù nó đang lên hay đang giảm, là tín hiệu bầu cử. Hãy nhớ lại rằng trong trường hợp mẫu mực của chúng ta về dân chủ qua sức mạnh, Đài Loan, các cuộc bầu cử đã cung cấp các vòng phản hồi cho chế độ QDĐ để đo tính được lòng dân của nó giữa các cử tri. Sự nắm quyền lực của QDĐ đã chẳng bao giờ bị nghi ngờ, đặc biệt vì quân luật đã cấm sự hình thành các đảng đối lập, mặc dù đảng cầm quyền đã phải tính toán đến sự ủng hộ cử tri teo đi của nó trong các năm 1970 và các năm 1980. Các cuộc bầu cử đã báo hiệu rõ ràng cho đảng cầm quyền đương nhiệm về sức mạnh của nó đang giảm.27

Tại Trung Quốc, các tín hiệu bầu cử giỏi nhất là không đáng tin cậy và tồi nhất là không tồn tại. Các cuộc bầu cử làng và thị trấn cung cấp ít sự rõ ràng bởi vì tham nhũng, hối lộ, thói côn đồ, và sự đe dọa cử tri làm méo mó thông tin đáng tin cậy cho ĐCSTQ về sự nổi tiếng và sự ủng hộ của nó. Khi thiếu các các tín hiệu rõ ràng, đảng cầm quyền có thể ít tự tin hơn về các triển vọng dân chủ của nó, một vấn đề rõ ràng trong tất cả các chế độ độc đoán thiếu các cuộc bầu cử đa đảng.

Thứ hai, ĐCSTQ đã tỏ ra rất khéo léo trong việc né tránh sự đổ lỗi chính trị khỏi ban lãnh đạo trung ương. Giữa sự lên trong chính trị gây tranh cãi sau 1989, đảng khu biệt hiệu quả sự bất đồng chính kiến. Ngoài việc triển khai bộ máy an ninh để dập tắt bất kể cuộc nổi dậy tiềm năng nào, đảng cầm quyền ở Bắc Kinh đã chuyển hướng sự đổ lỗi chính trị cho các cán bộ địa phương. Bất chấp chiến dịch chống tham nhũng của Tập, đã phát hiện ra sự thối nát rộng rãi bên trong đảng và giữa các quan chức chính phủ, hầu hết công dân tiếp tục tin cậy và ủng hộ chế độ trung ương, trong khi thiếu sự tin cậy vào các quan chức địa phương.28

Thứ ba, ĐCSTQ có sức chịu đựng cao đối với bất kể áp lực địa-chính trị để dân chủ hóa nào. Như chúng tôi kể lại chi tiết trong cuốn sách này, các nước trong cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển đã đối mặt với các mức độ áp lực khác nhau từ Hoa Kỳ để thừa nhận dân chủ. Trung Quốc, tuy vậy, đã chẳng bao giờ là một đồng minh của Hoa Kỳ, và vì thế nó trơ trơ với các tác động liên kết xuyên quốc gia mà thúc đẩy dân chủ hóa trực tiếp và gián tiếp.29 Quả thực, nó ngày càng xem mình là một đối thủ của các nền dân chủ giàu có của thế giới. Các nhà nước khác, quan trọng nhất kể cả Hoa Kỳ, cũng ngày càng xem Trung Quốc như một đối thủ. “Tác động kéo” dân chủ mà đã khuyến khích cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển để thừa nhận dân chủ lại vắng mặt ở Trung Quốc đương thời. Nếu có thể, sự cạnh tranh địa-chính trị giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã tạo ra môt “tác động đẩy” hay xua đẩy, mở rộng khoảng cách giữa các triển vọng dân chủ và khả năng mau phục hồi xã hội chủ nghĩa độc đoán

Cuối cùng, các triển vọng của nền dân chủ là không rất quyến rũ cho ĐCSTQ. Sự trượt lùi dân chủ khắp thế giới đã ngày càng trở nên phổ biến trong các năm gần đây, khi các nhà lãnh đạo được bàu chuyển sang các lời kêu gọi dân túy và chính trị phân cực để giành quyền lực chính trị. Các nền dân chủ ngày càng có vẻ bất ổn định bởi vì chúng là bất ổn định trong nhiều phần của thế giới, kể cả giữa các nền dân chủ trẻ hơn, được chuyển đổi gần đây hơn nơi “suy thoái dân chủ” toàn cầu là cấp bách nhất.30 Hơn nữa, nhiều người ở Trung Quốc tin chế độ ĐCSTQ là dân chủ rồi, chỉ ra các cố gắng của chính phủ để tạo ra nhiều cơ chế tham vấn hơn, sự thực hiện luật trị (rule of law-nhà nước pháp quyền), và sự ủng hộ công chúng cho chế độ. ĐCSTQ không phải là một nền dân chủ tự do hay thậm chí nền dân chủ bầu cử, nhưng nó tự cho là dân khác theo cách gồm sự tham gia và sự đáp ứng chính trị nào đó.31

Sự khẳng định rằng nền dân chủ tự do là một kiến trúc Tây phương và do đó không phù hợp cho xã hội Trung quốc một cách không ngạc nhiên đã có được sức kéo giữa các nhà lãnh đạo và các công dân Trung quốc, cũng như những người nước ngoài cổ vũ cho ĐCSTQ. Theo dữ liệu khảo sát gần đây của Dickson, hầu hết người Trung quốc tin Trung Quốc là “dân chủ rồi” và rằng sự chuyển đổi sang nền dân chủ bầu cử tự do là cả không cần thiết và không đáng mong muốn.32 Jie Chen cho rằng tầng lớp trung lưu của Trung Quốc không ủng hộ nền dân chủ nhưng ủng hộ chế độ ĐCSTQ.33 Các nhà lãnh đạo Trung quốc thậm chí bênh vực một “Mô hình Trung Quốc” thay thế, như Daniel Bell diễn đạt, mà có tiềm năng hấp dẫn với Trung Quốc hơn nền dân chủ.34 Các khuyến khích cho dân chủ hóa không, sự hấp dẫn của nền dân chủ cũng chẳng đủ để ép ĐCSTQ chọn nền dân chủ, cho dù chế độ đang ở vị thế lý tưởng để thừa nhận dân chủ qua sức mạnh, và để tiếp tục phát đạt trong một nền dân chủ Trung quốc mới.

Việt Nam

Giống Trung Quốc, Việt Nam đã không dân chủ hóa qua sự yếu kém khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt. Không có sự sụp đổ cộng sản nào. Thay vào đó, trong hơn ba thập niên qua, Việt Nam đã gia nhập hàng ngũ của châu Á kiến tạo-phát triển như một thành viên của cụm xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển của khu vực. Nó đã đạt điều này qua một bộ các cải cách kinh tế định hướng-thị trường và hướng-ngoại ấn tượng, không phải không giống những gì chúng ta đã thấy ở Trung Quốc. Các di sản và các thực hành xã hội chủ nghĩa chắc chắn vẫn dai dẳng, lại như ở Trung Quốc, trong sự nổi bật tiếp tục của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế quốc gia và trong vai trò độc-đảng tiên phong do Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đóng. Bất chấp các di sản xã hội chủ nghĩa, về mặt so sánh và lịch sử rộng hơn, sự biến đổi kinh tế của Việt Nam kể từ sự kết thúc Chiến tranh Lạnh đã thật đáng kinh ngạc.

Trong hầu hết các khía cạnh, phân tích tiếp sau sẽ vẽ Việt Nam như một phiên bản hơi yếu hơn của trường hợp xã hội chủ nghĩa kiến tạo-phát triển mà chúng tôi đã khám phá ở Trung Quốc, và như thế một ứng viên yếu hơn cho dân chủ qua sức mạnh. Chế độ ĐCSVN là đủ mạnh để dân chủ hóa qua sức mạnh, trong khi đối mặt chỉ với các tín hiệu yếu ớt và mờ rằng các cải cách dân chủ là cần thiết và chỉ có các áp lực yếu để làm vậy. Tuy vậy, Việt Nam là khác một cách có ý nghĩa với Trung Quốc, và không chỉ yếu hơn Trung Quốc một cách vừa phải, trong ít nhất hai cách chính.

Sự khác biệt chủ chốt đầu tiên nằm trong các định chế chính trị của Việt Nam: một sự khác biệt nổi bật nhất khi Trung Quốc ngày càng trở nên cá nhân hóa dưới Tập Cận Bình. Nói đơn giản nhất, Việt Nam có một cơ cấu quyền lực ly tâm đáng ngạc nhiên cho một chế độ xã hội chủ nghĩa độc-đảng bền bỉ. Các tỉnh có thẩm quyền thực; quốc hội đưa ra các quyết định thực, sau khi tổ chức các cuộc tranh luận thực được truyền hình trực tiếp; các nhà chỉ trích ĐCSVN có các cơ hội thực để khiến cho tiếng nói của họ được lắng nghe cả online và trong các cuộc biểu tình đường phố; và quyền lực chính trị thực được chia sẻ giữa các nhà lãnh đạo ĐCSVN mà kỳ vọng để được thay thế hoàn toàn theo một cách được chính quy hóa, có thể dự đoán được.

Tất cả điều này đã không khác ghê gớm với Trung Quốc trước 2013, giữa chế độ Đặng và chế độ Tập. Có lẽ sự thay đổi quan trọng nhất trong thời đại Tập đã là sự quay lại của Trung Quốc với một cấu trúc quyền lực hướng tâm hơn, với Tập như trung tâm cá nhân không bị thách thức. Các tỉnh, các định chế quốc hội, những người biểu tình, và những người kế vị tiềm năng tới ban lãnh đạo đảng của Trung Quốc tất cả đều có ít dư địa để thao tác dưới Tập hơn trước đó. Trong tất cả các lĩnh vực này có phạm vi lớn đáng kể ở Việt Nam hơn ở Trung Quốc. Liệu điều này có nghĩa các định chế độc đoán của Việt Nam bây giờ đang trở nên “mạnh hơn” hay “yếu hơn” các định chế của Trung Quốc là có thể bàn cãi. Cái không thể bàn cãi, tuy vậy, là các định chế độc đoán của hai láng giềng xã hội chủ nghĩa đang ngày càng trở nên khác biệt với nhau.

Cái cũng không thể bàn cãi là sự khác biệt chủ chốt thứ hai: vị trí địa chính trị của Việt Nam trên thế giới. Trong khi sự ganh đua địa-chính trị sâu thêm của Trung Quốc với Hoa Kỳ làm cho dân chủ hóa ở Trung Quốc ít có khả năng hơn, sự thực rằng Việt Nam xem Trung Quốc như một mối đe dọa lớn hơn và kình địch hơn Hoa Kỳ làm cho dân chủ hóa ở Việt Nam có nhiều khả năng hơn. Khi xem xét loại tín hiệu nào chắc có khả năng nhất làm thay đổi quỹ đạo chế độ của Việt Nam trong các năm tới, các tín hiệu địa-chính trị dường như là quan trọng nhất. Tuy vậy, vì các tín hiệu địa-chính trị không là các tín hiệu rõ nhất cũng chẳng mạnh nhất cho một chế độ đang suy giảm trong lý thuyết của chúng tôi, các triển vọng ngay lập tức cho Việt Nam để dân chủ hóa qua sức mạnh vẫn khá thấp.

Các sức Mạnh Kinh tế

Trong Chiến tranh Lạnh, Việt Nam đã liên minh chặt chẽ với Liên Xô, không giống Trung Quốc đã đi con đường riêng của nó sau sự chia rẽ Xô-Trung 1959. Việc này đã có các hệ lụy sâu sắc cho kinh tế chính trị của Việt Nam, kể cả phương thức của nó ra khỏi chủ nghĩa xã hội nhà nước và bước vào chủ nghĩa xã hội kiến tạo-phát triển. Trong khi Trung Quốc pha trộn chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa dân tộc kỹ trị (technonationalism) tự cung tự cấp trong thời kỳ Mao, Việt Nam đã hết sức phụ thuộc vào viện trợ sau khi đánh đuổi những người Pháp khỏi miền bắc trong năm 1954 và đẩy những người Mỹ khỏi miền nam của nó vào năm 1975.

Hơi nghịch lý, sự phụ thuộc bên ngoài sâu này dưới chủ nghĩa xã hội thời Chiến tranh Lạnh khiến cho Việt Nam dễ hơn để quốc tế hóa và mở nền kinh tế của nó với thế giới tư bản chủ nghĩa khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Việc nó bắt đầu “gia nhập” châu Á kiến tạo-phát triển trong cuối các năm 1980 có thể đã muộn hơn sự gia nhập của Trung Quốc một chút; nhưng một khi nó bắt đầu, nó đã ít do dự hơn. Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng đã điều chỉnh thoải mái hơn Trung Quốc với các quy tắc của sự can dự kinh tế khu vực ở châu Á kiến tạo-phát triển, mặc dù đạt các mức phát triển tổng hợp thấp hơn của láng giềng phương bắc khổng lồ của nó rất nhiều.

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của Việt Nam cũng khác với nền kinh tế Trung quốc bởi vì cách mạng xã hội chủ nghĩa của nó đã khác. Sự lệch quan trọng nhất khỏi kinh nghiệm Trung quốc đơn giản là độ sâu và quy mô của sự biến đổi xã hội trong cách mạng Việt Nam. Mặc dù Việt Nam đã tiến hành một cách mạng xã hội chắc chắn như Trung Quốc đã thực hiện, ĐCSVN cầm quyền đã chiến thắng qua một chiến lược mặt trận-thống nhất đòi hỏi sự thỏa hiệp đáng kể với các lực lượng không-cộng sản.35 Nó như thế đã bị cản trở hơn ĐCSTQ trong khả năng của nó để cách mạng hóa các quan hệ tài sản, loại bỏ các thị trường khỏi dòng chính của đời sống kinh tế, và đòi hỏi sự trung thành ý thức hệ như Mao đã đòi hỏi khi ông tuyên bố thành lập CHNDTH. Điều này đặc biệt đúng ở miền nam, nơi sự cai trị ĐCSVN đã muộn và mong manh hơn. Các quan hệ thị trường đã bắt đầu thịnh hành phần lớn trong nông thôn Việt Nam ngay từ 1979. Nhưng trong khi thị trường hóa nông thôn vào cuối các năm 1970 là một sự thay đổi lớn về hướng sau cái chết của Mao và sự trỗi dậy chính trị của Đặng, thì ở Việt Nam điều này báo hiệu sự thất bại của ĐCSVN để biến đổi và xã hội hóa khu vực nông thôn trước tiên.36

Sự thức đẩy mạnh của ĐCSVN cho chủ nghĩa xã hội trong các năm 1970 có thể đã không biến đổi hiệu quả nền kinh tế chính trị của Việt Nam, nhưng nó chắc chắn đã phá vỡ nền kinh tế một cách tồi tệ. Việc vọng lại những nỗi kinh hoàng của Đại Nhảy Vọt ở Trung Quốc, hệ thống nông nghiệp của Việt Nam đã oằn dưới các áp lực của tập thể hóa cưỡng bức, tạo ra tình trạng hầu như nạn đói ở thành phố và nông thôn như nhau vào cuối các năm 1970.37 Để làm cho mọi chuyện tồi đi một cách đáng kể, Việt Nam thấy mình có chiến tranh với cả Cambodia, mà ĐCSVN xâm lấn để lật đổ Khmer Đỏ diệt chủng trong năm 1978, lẫn với Trung Quốc, mà sau đó đã xâm lấn Việt Nam để trả đũa vì việc lật đổ Khmer Đỏ đồng minh của ĐCSTQ. Đã không có bất cứ triển vọng nào cho nền kinh tế xã hội chủ nghĩa non nớt của Việt Nam để có được vị trí vững chắc và tiến bộ đáng kể dưới các điều kiện thù định như vậy, cả từ bên trong và từ bên ngoài.

Chủ nghĩa xã hội như thế đã tỏ ra là một chuyện hời hợt ở Việt Nam hơn ở Trung Quốc trước khi cả hai nước đi theo “chủ nghĩa xã hội thị trường.” Sự đi theo này giống một cơ chế sinh tồn hơn là một sự thay đổi ý thức hệ trong trường hợp Việt Nam. Mặc dù hội nghị toàn thể (TW) 1979 của ĐCSVN “thừa nhận vai trò hữu ích của khu vực-tư nhân, và trao sự tự chủ lớn hơn cho các chính quyền địa phương,” Tường Vũ cho rằng, “Các nhà lãnh đạo đảng coi các biện pháp này là một sự rút lui tạm thời nhưng không phải là các chính sách lâu dài bởi vì chúng rõ ràng mâu thuẫn với tầm nhìn Marxist về chủ nghĩa xã hội.”38

Tuy nhiên sự rút lui chẳng bao lâu sẽ tỏ ra là lâu dài. Những sự thay đổi địa-chính trị đã xảy ra khắp Việt Nam. Với sự lên nắm quyền của Mikhail Gorbachev ở Liên Xô, tay sai sẽ bắt chước ông chủ. Tại Liên Xô, perestroika đã là khẩu hiệu kinh tế kể từ 1986, vào cuối năm đó, ĐCSVN chính thức công bố chiến lược đổi mới riêng của nó. Tập hợp cải cách tự do hóa và quốc tế hóa kinh tế bao gồm trong đổi mới có nghĩa là Việt Nam nhanh chóng (trong một cú) “gia nhập” châu Á kiến tạo-phát triển.39 Cái chết của nhà lãnh đạo ĐCSVN Lê Duẩn trong 1986 sau khi ông đã lãnh đạo đảng trong hơn hai mươi lăm năm cũng đóng góp cho đà của các cải cách kinh tế dứt khoát, cấp tiến dưới ban lãnh đạo mới của Nguyễn Văn Linh, một người miền nam với các chứng chỉ cách mạng hoàn hảo cần thiết cho việc hợp pháp hóa sự chuyển hướng mới dứt khoát của ĐCSVN khỏi tính chính thống xã hội chủ nghĩa.

Đổi mới đã chẳng bao giờ có nghĩa là dân chủ hóa, hệt như Bốn Hiện đại hóa của Trung Quốc đã chẳng bao giờ có nghĩa là cải cách chính trị. Để đưa ra một sự tương tự Soviet, đổi mới đã nặng về perestroika và nhẹ về glasnost. Mặc dù Nguyễn Văn Linh đôi khi được gọi là “Gorbachev của Việt Nam,” chính xác hơn để gọi ông là Đặng Tiểu Bình của Việt Nam.* Những lời tán tỉnh ngắn với tự do hóa chính trị trong 1988, và đặc biệt quyền tự do báo chí lớn hơn để giúp ĐCSVN xử lý tham nhũng, đã bị đảo ngược nhanh chóng khi các chế độ cộng sản đổ nhào ở Đông Âu và ĐCSTQ thấy mình bị sốc trong 1989.40 Giống đảng cộng sản cầm quyền của Trung Quốc, ĐCSVN của Việt Nam đã kiên định tránh dân chủ hóa qua sự yếu kém.

May thay cho Việt Nam và ĐCSVN, những cải cách đầy kịch tính nhắm tới quốc tế hóa nền kinh tế đến vào một thời khắc đặc biệt thuận lợi, đúng khi Hiệp ước Plaza 1985 đang tháo một cơn lũ đầu tư Nhật bản vào Đông Nam Á. Không có một cơ sở khoa học hay công nghiệp mà có thể thậm chí sánh được với cơ sở của Trung Quốc sau-Mao, Việt Nam tuy nhiên đã có một dân cư được giáo dục tương đối rộng, như người ta kỳ vọng căn cứ vào quá khứ xã hội chủ nghĩa gần đây của nó. Các kết quả đã thật đáng chú ý từ một góc độ toàn cầu, mặc dù bình thường nơi liên quan đến châu Á kiến tạo-phát triển. Tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm cho Việt Nam vọt lên trên 5 phần trăm vào năm 1988 và đã không rớt xuống dưới sự tăng nhanh hàng năm ấn tượng đó trong ba thập niên tiếp sau, ngay cả trong khủng hoảng tài chính Á châu cuối các năm 1990 và suy thoái toàn cầu cuối các năm 2000.

Rất theo tinh thần của châu Á kiến tạo-phát triển, việc theo đuổi sự phát triển nhanh và nâng cao chỗ của Việt Nam trong trật tự tôn ty khu vực đã trở thành “mối quan tâm chi phối của ban lãnh đạo chính trị Việt Nam” vào năm 2000, khi “đà tới sự tham gia khu vực và toàn cầu sâu rộng trở nên không thể cưỡng lại được.”41 Sự tăng trưởng lên đỉnh gần 10 phần trăm một năm trong giữa-các năm 1990, theo sau việc Mỹ gỡ bỏ những sự trừng phạt chống lại Việt Nam trong 1994, và đã tăng trưởng trung bình một cách điển hình khoảng 6–7 phần trăm suốt vài thập niên qua. Theo những con số của Ngân hàng Thế giới, trong 2020 nền kinh tế Việt Nam đã lớn hơn bốn mươi lần nó đã là trong 1990.

Điểm quan trọng không phải là Việt Nam bây giờ giàu, hay thậm chí thu nhập trung bình thoải mái. Vì Việt Nam đã gia nhập châu Á kiến tạo-phát triển từ một tình trạng kinh tế đặc biệt khó khăn, ngay cả ba thập niên kiên định tăng trưởng nhanh đã là không đủ để khắc phục các di sản hủy diệt của các cuộc chiến tranh tàn bạo và sự quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa tồi. Cho các mục đích giải thích của chúng tôi, điểm quan trọng là ĐCSVN có một thành tích kinh tế cực kỳ mạnh, trên và vượt xa hơn tính chính danh cách mạng nó đã có được từ việc giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi sự chiếm đóng của Pháp và Mỹ.


* Việc các tác giả không đả động gì đến Trường Chinh người có vai trò quyết định về đổi mới và đề cao Nguyễn Văn Linh chứng tỏ hiểu biết của họ về Việt Nam đôi khi cũng sơ sài, có lẽ do họ chủ yếu dựa vào các tài liệu tiếng Anh nói về Việt Nam.
Thứ Năm, 12 tháng 12, 2024

Từ Phát triển đến Dân chủ - Sự Biến đổi của châu Á Hiện đại (kỳ 8)

Tác giả: Dan Slater Joseph Wong

Việt dịch: Nguyễn Quang A

Nhà Xuất bản Princeton University Press, 2022

Mao và sự Phát triển Xã hội chủ nghĩa

Mao đã là một nhà cách mạng yêu nước. Ông đã lãnh đạo ĐCSTQ trong các cuộc chiến tranh trên hai mặt trận: một cuộc chiến bên trong chống lại QDĐ dân tộc chủ nghĩa của Tưởng Giới Thạch và một cuộc chiến chống-đế quốc với Nhật Bản. Bất chấp những bất lợi, quân đội nông dân của Mao đã là kẻ chiến thắng trong cả hai cuộc chiến. Ông đã huy động giai cấp nông dân to lớn của Trung Quốc với một lời hứa và một tầm nhìn về một Trung Quốc thống nhất và mạnh, một nước sẽ không còn là nạn nhân của sự xâm lược nước ngoài hay của những cố gắng bên trong để chia đất nước qua nội chiến. Vào ngày 1 tháng Mười 1949, sau khi đã đánh bại QDĐ chạy rút lui và sau thất bại của Nhật Bản trong Chiến Tranh Thế giới II, Mao đã tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH).

Thiếu một bộ máy quan liêu kinh tế và bất kể kinh nghiệm nào về sự quản trị thực sự, ĐCSTQ đã không có một kế hoạch toàn diện cho sự phát triển của Trung Quốc.4 Từ đầu, Mao và đảng cầm quyền đã tìm kiếm—và đã giành được—tính chính danh chính trị qua những chứng chỉ dân tộc chủ nghĩa của đảng và ý thức hệ Maoist. Tầm nhìn cộng sản của Mao gồm ba nguyên tắc. Thứ nhất, hiện đại hóa của Trung Quốc sẽ xảy ra qua sự phát triển xã hội chủ nghĩa. Trung Quốc ban đầu sẽ hoàn thiện một hình thức nông nghiệp của chủ nghĩa Marx-Lenin, tiếp sau là sự phát triển công nghiệp sở hữu-nhà nước và do nhà nước-lãnh đạo. Nền kinh tế Trung quốc phải là một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa kế hoạch hóa hoàn toàn.

Thứ hai, sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ là một sự trỗi dậy tự-lực. Đánh tráo một chuyện kể nạn nhân hóa thâm căn cố đế—trích dẫn những sự chiếm đóng nước ngoài và đế quốc từ những người Anh đến Nhật bản, hay “trăm năm bị làm nhục”—Mao cho rằng Trung Quốc phải hướng nội để phát triển chính mình. ĐCSTQ đã kêu gọi chủ nghĩa dân tộc Leninist chống nước ngoài, chống-đế quốc. Trung Quốc của Mao đã thấy không cần buôn bán với phần còn lại của thế giới. Nó đã không cần đến công nghệ nước ngoài, nó đóng cửa đối với vốn, đầu tư, và ảnh hưởng toàn cầu. Những sự nghi ngờ của Trung Quốc về các nước ngoài đã ăn sâu đến mức ngay sau cuộc đàn áp 4 tháng Sáu, gần nửa thế kỷ sau, một niềm tin then chốt giữa các nhà lãnh đạo ĐCSTQ rằng phong trào sinh viên ủng hộ dân chủ 1989 là kết quả của sự can thiệp nước ngoài, được các cường quốc nước ngoài xúi giục quyết tâm làm xói mòn chế độ cộng sản. ĐCSTQ luôn luôn khăng khăng rằng các lợi ích nước ngoài tận tụy làm xói mòn sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Nguyên tắc thứ ba và quan trọng nhất của tầm nhìn xã hội chủ nghĩa của Mao là sự phát triển của Trung Quốc sẽ khai thác năng lượng của quần chúng qua sự lôi cuốn ý thức hệ. Bằng việc huy động quần chúng—và ở đây Mao nghĩ đến giai cấp nông dân Trung quốc—nền kinh tế Trung quốc sẽ phát triển nhờ công việc tập thể siêng năng và sự thuần khiết ý thức hệ và bằng việc dựa vào một hồ chứa sâu của tinh thần dân tộc chủ nghĩa và cách mạng giữa tất cả các công dân Trung quốc. Mao đã lợi dụng tính chính danh cách mạng của ông, hơn là tính chính danh thành tích. ĐCSTQ, rốt cuộc, là một đảng cách mạng đã đánh bại các kẻ thù tư sản của nó, QDĐ, trong nội chiến Trung quốc, và đã thắng cuộc chiến tranh chống lại đế quốc Nhật. Việc huy động quần chúng qua sự trung thành ý thức hệ hơn các kết quả kinh tế đã là quan trọng cho sự bám chặt quyền lực chính trị của Mao. Ông hiểu chính trị là một cuộc đấu tranh giữa các đồng minh ý thức hệ của ông và các kẻ thù giai cấp.

Mao đã khởi động kế hoạch phát triển 5-năm đầu tiên của CHNDTH trong 1952. Được nhớ lại như “tiểu nhảy vọt,” kế hoạch đã có ý định để đặt nền tảng của một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, kế hoạch hóa. Cải cách ruộng đất được thực hiện sớm. Các địa chủ đã bị hành hạ, và nhiều người đã bị hành quyết, bởi vì họ bị cho là các kẻ thù giai cấp. Kế hoạch 5-năm lần thứ nhất đã cải cách khu vực nông nghiệp và đời sống nông nghiệp tổng quát hơn. Các hộ gia đình canh tác được tổ chức thành các tổ hỗ trợ nhau và sau đó thành các hợp tác xã nông nghiệp. Các hoạt động làm đất và trồng trọt được tập thể hóa trong giữa-các năm 1950, tiêu diệt các tàn dư của sở hữu đất và hộ gia đình nông dân độc lập. Sự trung thành nông dân được chuyển cho tập thể và bí thư đảng địa phương, và cuối cùng cho Mao.

Kế hoạch 5-năm lần thứ nhất đã chứng tỏ là thủy triều cao của chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc. Được sự thành lập gần đây của CHNDTH và sự lãnh đạo có sức thuyết phục của Mao tiếp sinh lực, tiểu nhảy vọt đã là một thử nghiệm thành công trong sự phát triển xã hội chủ nghĩa ban đầu. Từ một quan điểm phát triển kinh tế, năng suất nông nghiệp đã tăng, mặc dù lợi lộc đã tương đối khiêm tốn và phần lớn là kết quả của sự làm việc siêng năng và sự cố gắng, hơn là các phương tiện sản xuất hiệu quả hơn. Các nông dân đã vẫn nghèo, nhưng ít nghèo hơn trước. Về mặt chính trị, kinh nghiệm xã hội chủ nghĩa ban đầu của Trung Quốc đã thành công trong việc kích thích và huy động giai cấp nông dân ủng hộ Mao và chế độ ĐCSTQ. Nó đã giành được tính chính danh chế độ.5

Được thành công ban đầu của kế hoạch 5-năm lần thứ nhất làm cho phấn chấn, Mao khởi động Phong trào Trăm Hoa đua nở trong 1956, trong đó ông mời các trí thức, các nhà tư tưởng, và các quan chức đảng để đánh giá và thậm chí chỉ trích ý thức hệ Maoist và chương trình xã hội chủ nghĩa của chế độ. “Hãy để trăm hoa đua nở và trăm trường phái tư tưởng tranh luận,” Mao khẳng định. Tự tin lúc đó—và như hóa ra, quá tự tin—Mao đã mong đợi sự ca ngợi và sự xác nhận, và sự phê phán ban đầu từ các trí thức đã hững hờ. Tuy vậy, khi phong trào lấy được đà và các sự chỉ trích trở nên bạo dạn, ngày càng nhiều tiếng nói gây tranh cãi đã xuất hiện, nghi ngờ cách tiếp cận huy động quần chúng của Mao cho phát triển. Các lời chỉ trích chỉ ra làm sao, trong kế hoạch 5-năm lần thứ nhất, sự tăng thêm năng suất ngắn hạn nhờ sự làm việc siêng năng đã không hiệu quả và không bền vững. Chúng đã làm nổi bật mệnh lệnh của cải cách chính trị và đảng, và tệ sùng bái cá nhân xuất hiện quanh Mao đã không tốt cho ĐCSTQ cũng chẳng tốt cho đất nước.

Bị làn sóng ngầm chỉ trích làm cho ngạc nhiên, Mao đã chửi rủa chống lại những người phỉ báng ông và đã đàn áp thẳng tay. Dán nhãn những người phê bình như các kẻ thù giai cấp và bọn tư sản phản-cách mạng, ông đã phát động Chiến dịch chống-Hữu trong tháng Sáu 1957, nhổ đi những người có quan điểm đụng độ với Mao và ý thức hệ Maoist. Vào lúc kết thúc chiến dịch, vài năm sau trong 1959, vài triệu người bất đồng chính kiến đã bị “cải tạo” ở vùng nông thôn, bị tống xuống các làng để học từ các nông dân có đạo đức. Hơn hàng trăm ngàn người trong số những người chỉ trích Mao đã bị bộ máy an ninh của chế độ điều tra và xử lý, đã bị bỏ tù hay biến mất.

Các năm đầu của CHNDTH đã tiết lộ một số nét đặc trưng then chốt của bản năng chính trị của ĐCSTQ ban đầu và của Mao. Về mặt chính trị, quyền lực đã không bị tranh cãi và vững chắc trong sự kìm kẹp cá nhân của Mao hơn là được thể chế hóa trong đảng. Như nhà độc tài có sức thuyết phục của Trung Quốc, ông đã là một nhà lãnh đạo mạnh, còn đảng cầm quyền đã yếu về mặt tổ chức và thể chế. Về mặt kinh tế, hiện đại hóa và sự phát triển đã bám chặt vào tư tưởng Maoist và một sự cam kết vững vàng với các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa hơn là chủ nghĩa thực dụng kinh tế và các định chế thị trường. Sự tinh khiết ý thức hệ bên trong đảng và, thật quan trọng, sự trung thành ý thức hệ giữa quần chúng đã là trung tâm đối với quyền lực chính trị. Không giống các chế độ kiến tạo-phát triển khác được khảo sát trong cuốn sách này, triều đại chính trị của Mao đã không phụ thuộc vào thành tích kinh tế và phát triển như nguồn của tính chính danh bình dân cho chế độ. Đúng hơn, sự huy động quần chúng từ dưới lên tạo ra tính chính danh chính trị.

Nỗi ám ảnh của Mao đến lòng trung thành ý thức hệ đã ảnh hưởng đến sự tiến hóa ban đầu của đảng-nhà nước cầm quyền. Đặc biệt, Mao đã tránh quan liêu hóa và chuyên nghiệp hóa ĐCSTQ. Ông coi một bộ máy quan liêu kiến tạo-phát triển như sự thái quá tư sản. Ông đã nghi ngờ sâu sắc cái gọi là các chuyên gia. Đối với Mao, là “hồng” đã quan trọng hơn là “chuyên” rất nhiều. Không ngạc nhiên trong một chế độ hết sức cá nhân như vậy, ông đã hoang tưởng về những người có thể làm xói mòn quyền lực chính trị của ông bên trong ĐCSTQ. Ông trừng trị những người ông sợ là những kẻ phỉ báng ý thức hệ, và ông không ngừng lo lắng về những kẻ phản bội tiềm năng bên trong đảng nói chung, và bên trong giới thân cận của ông một cách cụ thể.6

Các bản năng chính trị của Mao đã định hình pha tiếp theo của sự phát triển ban đầu của Trung Quốc. Trong 1958 ĐCSTQ khởi động một kế hoạch phát triển kinh tế hết sức tham vọng, Đại Nhảy Vọt. Dựa vào các thành tựu của kế hoạch đầu tiên, tiểu nhảy vọt, Đại Nhảy Vọt đã tăng tốc và làm sâu sắc chiến dịch tập thể hóa nông thôn bằng việc biến đổi các hợp tác xã sản xuất thành các công xã nở rộ. Các hộ gia đình trong các công xã đã sống và làm việc với nhau, chia sẻ trong sự cung cấp và sản xuất mọi thứ từ canh tác đến dạy học ở trường đến các dịch vụ xã hội khác. Đất, các động vật cho nông nghiệp, và thiết bị canh tác đã thuộc về các công xã, không phải các hộ gia đình.

Đảng cầm quyền áp đặt sự kiểm soát giá và thực thi các hạn mức sản xuất nghiêm ngặt hơn, xóa bỏ bất kể khuyến khích vật chất nào cho năng suất tăng lên. Các nông dân làm việc để kiếm điểm thay cho lương, và họ làm việc để thỏa mãn các mục tiêu sản xuất nhà nước. Các sự chỉ trích hệ thống công xã đã mô tả các nông dân như “các tôi tớ” của kế hoạch nhà nước, công xã, và bí thư đảng. Mao, mặt khác, đã tin các đội làm việc công xã khai thác năng lượng của quần chúng và sẽ tăng tốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc.7

Ông đã sai một cách thê thảm. Trung Quốc đã trải qua nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử loài người trong hai năm sau khi bắt đầu Đại Nhảy Vọt. Từ một quan điểm kinh tế và phát triển con người, chiến dịch Đại Nhảy Vọt đã là một tai họa hoàn toàn. Mùa thu hoạch nghèo nàn đã tạo ra sự thiếu hụt lương thực to lớn, dẫn tới nạn đói tràn lan. Các ước lượng học thuật gợi ý rằng đến 45 triệu người đã chết giữa 1958 và 1962 trong Đại Nhảy Vọt. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo công xã sốt sắng đã báo cáo quá sản lượng nông nghiệp, ngay cả khi dân làng đang chết đói, một phần vì sợ không thỏa mãn kế hoạch nhà nước và một phần để chứng minh sự trung thành của họ với Mao và chế độ. Đại Nhảy Vọt đã minh họa bằng thí dụ tính phi lý của sự cứng nhắc ý thức hệ làm tổn hại chính sách phát triển thực dụng.8 Trung Quốc của Mao đã không là một phần của châu Á kiến tạo-phát triển.

Những bước sai lầm của Mao đã không hạn chế ở mặt trận trong nước, mà đã mở rộng ra đối ngoại. Bắt đầu trong cuối các năm 1950, Mao đã chỉ trích đồng minh địa-chính trị chính của Trung Quốc, Liên Xô, và lãnh tụ của nó, Thủ tướng Nikita Khrushchev. Mao đã phật ý với việc Khrushchev lên án chủ nghĩa Stalin. Ngược với quan điểm của các nhà lãnh đạo ĐCSTQ khác, ông đã chỉ trích chính sách đối ngoại của Liên Xô để can dự với khối Tây phương của châu Âu, mà Mao coi như kinh tởm, xét lại, và như chủ nghĩa xã hội bị lạc lối. Những lời châm chọc coi thường của ông nhắm vào Liên Xô, mà đã không có suy nghĩ về chính sách ĐCSTQ, đã làm sôi những căng thẳng âm ỉ rồi giữa hai cường quốc về các chiến lược địa-chính trị của chúng cho việc quốc tế hóa chủ nghĩa cộng sản trong thế giới đang phát triển. Trong 1960 Liên Xô ngừng dòng viện trợ kinh tế và sự trợ giúp kỹ thuật đến Trung Quốc, củng cố sự chia rẽ Trung-Soviet. Sự rút viện trợ Soviet đã làm trầm trọng các vấn đề kinh tế của Trung Quốc ở trong nước do Đại Nhảy Vọt tai họa gây ra. Về mặt địa-chính trị, CHNDTH cũng đã mất đồng minh cộng sản chính và nhà bảo trợ Chiến tranh Lạnh của nó, để Trung Quốc bị cô lập.

Cái Chết của chủ nghĩa Mao

Vào cuối các năm 1950 và đầu các năm 1960, Mao đã thấy mình ngày càng bị gạt sang bên lề bên trong ban lãnh đạo đảng và chính phủ. Các nhà lãnh đạo cấp cao của ĐCSTQ đã tách mình ra khỏi chương trình Đại Nhảy Vọt và khỏi bản thân nhà Cầm lái Vĩ đại. Các đối thủ bên trong ĐCSTQ đã xem Mao như một kẻ mị dân và một cái của nợ chính trị. Nhiều nhà lãnh đạo đảng bực bội với tệ sùng bái cá nhân tăng lên và sự cá nhân hóa chính trị của ông, cả hai đã làm xói mòn tính toàn vẹn tổ chức và sức mạnh chính trị của đảng cầm quyền. Một số người bên trong ĐCSTQ đã thử chuyển địa vị nổi bật chính trị ra khỏi Mao. Trong Hội nghị Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) 1959, chẳng hạn, quan chức cao nhất thứ hai của ĐCSTQ, Lưu Thiếu Kỳ, đã thay Mao làm chủ tịch CHNDTH. Các ranh giới bè phái được vạch ra.

Mao thất vọng, nhưng chắc chắn không bị sa thải. Cố nắm lấy quyền lực cá nhân ông đã có, ông trừng trị không ngừng và tàn nhẫn các đối thủ của mình, và tại hội nghị trung ương 1962, ông khởi động Chiến dịch Giáo dục xã hội chủ nghĩa để tiếp sức sống cho ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Ngay sau Đại Nhảy Vọt tai họa, Mao đã sợ ĐCSTQ bị quan liêu hóa quá đáng, bị các nhà lập kế hoạch kỹ trị chi phối hơn là các nhà ý thức hệ thuần túy. Chiến dịch Giáo dục xã hội chủ nghĩa dự định châm ngòi nhiệt tình cách mạng từ dưới lên, đã kích thích quần chúng trong đầu đến giữa-các năm 1950. Qua giáo dục xã hội chủ nghĩa, Mao lại nhấn mạnh tầm quan trọng của việc là “hồng,” mà ông ý nói sự thuần khiết về ý thức hệ, hơn là “chuyên,” mà ông xem là tư sản và phản-cách mạng. Đối mặt với sự phản đối giữa các đồng chí của ông trong đảng, Mao liên minh với quân đội và một cách cụ thể các nhà lãnh đạo bè phái bên trong ban lãnh đạo PLA (Quân Giải phóng) trung thành với ông.

Vào đầu các năm 1960, Mao đã dựng sân khấu cho cái trở thành Cách mạng Văn hóa.9 Theo cách toàn trị, ông quay sang quần chúng để thực hiện Cách mạng Văn hóa bắt đầu trong 1966. Ông đã dùng tệ sùng bái cá nhân cách mạng của ông để huy động các sinh viên đại học, kêu gọi chủ nghĩa lý tưởng và nhiệt tình ý thức hệ của họ. Phong trào sinh viên được tổ chức thành các đội Hồng Vệ binh, đại diện hàng triệu người trẻ tận tụy theo Mao và tư tưởng Maoist. Mao đã chỉ thị cho các Hồng Vệ binh để “đập tan” “bốn cái cũ”: văn hóa cũ, các ý tưởng cũ, các thói quen cũ, và các phong tục cũ, mà ông coi là các tàn dư của truyền thống tư sản, hoàn toàn đối lập với tính hiện đại xã hội chủ nghĩa. Cách mạng Văn hóa được các Hồng Vệ binh thực hiện từ dưới, mặc dù ông thầy ở trên đỉnh giật dây con rối chính là Mao.

Các Hồng Vệ binh đã tiến hành tàn phá hung dữ xã hội Trung quốc. Chúng đã phá các đền chùa, phá hủy các tòa nhà, lật đổ các di tích, và đốt sách. Chúng đột nhập và san bằng nhà của những người được cho là không đủ hồng, và dán nhãn họ như những kẻ phản-cách mạng. Các Hồng Vệ binh tiến vào các trường và các đại học của chúng, réo tên và thậm chí đánh các giáo viên và các giáo sư của chúng, lên án họ dạy các bài học truyền thống và tư sản. Mao đã khuyến khích chúng tấn công các quan chức đảng địa phương không chứng tỏ lòng trung thành của họ với Mao và tư tưởng Maoist đúng đắn về ý thức hệ. Một số Hồng Vệ binh đã tố giác các thành viên gia đình của chính chúng cho các nhà chức trách.

Học giả về Trung Quốc Lucian Pye mô tả sự hỗn loạn của Cách mạng Văn hóa do các Hồng Vệ binh gây ra “đã đưa Trung Quốc đến bờ vực vô chính phủ” như thế nào. Ông tiếp tục để nói rằng “các cuộc tấn công chống lại nhà chức trách được kết hợp với các cuộc tấn công chống lại bất cứ ai có chút khác biệt nhỏ nhất với quan điểm của các Hồng vệ Binh về hành vi đúng đắn.”10 Bạo lực và sự hỗn loạn tràn lan. Không sẵn có hồ sơ chính thức nào về số những người chết do Cách mạng Văn hóa; tuy vậy, dựa vào nghiên cứu kho lưu trữ, các học giả ước lượng rằng vài trăm ngàn người đã chết, với số người chết chắc cao đến cả triệu.

Trong khi Cách mạng Văn hóa được Mao xúi giục đã gây thiệt hại to lớn cho xã hội và nền kinh tế Trung quốc, cũng thế Mao đã gây ra cho ĐCSTQ. Khi Cách mạng Văn hóa tăng cường trên đường phố, các cuộc đấu đá bè phái bên trong ban lãnh đạo đảng nóng lên. Bởi vì uy tín và thế đứng của ông bên trong ĐCSTQ đang giảm đi, Mao quay sang Cách mạng Văn hóa để huy động cơ sở quyền lực bè phái của ông trong đảng cầm quyền và tấn công các kẻ thù của ông. Chính trị elite trở thành chính trị đường phố.

Với PLA ở phía ông, Mao đã truy đuổi hai đối thủ chính của ông trong ĐCSTQ: Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình. Lưu bị tước chức vụ chính phủ của ông trong 1966, cùng với chức phó chủ tịch ĐCSTQ. Đồng minh PLA của Mao, Nguyên soái Lâm Bưu, đã thay thế Lưu trong chức vụ cao thứ hai của đảng. Lưu cũng bị đuổi khỏi đảng và bị bôi nhọ, và ông đã chết vài năm sau trong 1968, bị sỉ nhục. Mao cũng đã nhắm vào Đặng, mặc dù ông một thời đã là đồng minh thân cận của Mao và đã thực hiện Chiến dịch chống-Hữu 1957. Mao thanh trừng Đặng khỏi đảng và tống ông xuống nông thôn để cải tạo ý thức hệ, nơi ông đã ở đó cho đến giữa-các năm 1970.

Cách mạng Văn hóa chính thức kết thúc trong cuối 1968, mặc dù sự hỗn loạn và thối rữa bên trong đảng cầm quyền tiếp tục mưng mủ trong xã hội Trung quốc cho đến cái chết của Mao trong 1976 và sự bắt các đồng-chủ mưu Cách mạng Văn hóa của ông, Bè lũ Bốn tên. Được nhắc đến như “mười năm bị mất,” Cách mạng Văn hóa, và chế độ độc tài của Mao nói chung, đã để lại Trung Quốc và ĐCSTQ trong hỗn loạn. Đảng đã có ít sức mạnh tổ chức, bất chấp đã nắm quyền trong gần ba thập niên. Chính trị cá nhân, hơn là các định chế hình thức, đã xác định các kết cục chính trị. Sự chia rẽ bè phái và sự thù hận cá nhân đã định hình chính trị nội bộ đảng hơn là các sự khác biệt chính sách có ý nghĩa. Quyền lực chính trị được trao cho các cá nhân ngược với cho các quy tắc thể chế.

ĐCSTQ cũng đã thiếu tính chính danh phát triển. Thay cho việc tạo ra tính chính danh thành tích qua sự phát triển kinh tế, như trong các nền kinh tế Á châu kiến tạo-phát triển khác, đảng cầm quyền dưới Mao đã dựa vào tính chính danh ý thức hệ và sự đáng tin cách mạng của nó. Các công dân đã mất niềm tin vào chế độ và trách móc ĐCSTQ vì sự tàn phá do Cách mạng Văn hóa gây ra và vì các tai họa kiến tạo-phát triển của cuối các năm 1950 và các năm 1960. Nền kinh tế vào lúc kết thúc triều đại Mao, bị cô lập về mặt quốc tế và không hiệu quả, hầu như đình trệ. Thu nhập trên đầu người ở Trung Quốc đã hầu như không tăng chỉ từ US$90 trong 1960 lên chỉ hơn $150 trong 1978, sau gần hai thập niên phát triển xã hội chủ nghĩa. Trong khi đó, các láng giềng Á châu “tư sản” của nó đã phóng lên phía trước.

Sự Cất cánh Kinh tế của Trung Quốc

Lãnh tụ tạm thời của ĐCSTQ Hoa Quốc Phong đã phục hồi Đặng Tiểu Bình không lâu sau cái chết của Mao. Đặng nhanh chóng huy động các đồng minh của ông bên trong đảng quanh một tầm nhìn cải cách cho sự phát triển của Trung Quốc. Ông đã đề xuất một “cách mạng thứ hai,” một sự đoạn tuyệt căn bản với Mao và một con đường mới cho đảng cầm quyền.11 Về mặt chính trị ông đã khôn khéo né Hoa và hợp nhất một phái cải cách hùng mạnh giữa các lão thành ĐCSTQ, củng cố địa vị của ông như “lãnh tụ tối cao” của Trung Quốc vào năm 1978.

Đã là rõ với Đặng rằng đảng cầm quyền cần xóa bỏ nhiều chương trình và chính sách được thiết lập trong thời đại Mao. Căn bản hơn, Trung Quốc phải từ bỏ sự cam kết ý thức hệ cứng nhắc của Mao với sự phát triển xã hội chủ nghĩa và biến đổi chương trình hiện đại hóa của ĐCSTQ để ưu tiên sự phát triển xã hội và kinh tế. Các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa tiếp tục hướng dẫn sự phát triển của Trung Quốc—rốt cuộc, ĐCSTQ cai trị đất nước—nhưng chủ nghĩa thực dụng kinh tế thay cho sự thuần khiết ý thức hệ sẽ thúc đẩy chương trình nghị sự cải cách của đảng cầm quyền. Sự hấp dẫn ý thức hệ và sự huy động quần chúng đã giành được quyền lực cho ĐCSTQ trong năm 1949, Đặng lập luận, nhưng chủ nghĩa lý tưởng xã hội chủ nghĩa và sự cứng nhắc ý thức hệ sẽ không giữ đảng trong quyền lực trừ khi các công dân được lợi từ sự phát triển.

Chế độ Đặng dự định để đạt ba mục tiêu. Thứ nhất, ĐCSTQ ưu tiên sự phát triển kinh tế. Vào cuối các năm 1970, các nhà cải cách trong đảng được cảnh báo rằng nhiều láng giềng của Trung Quốc, kể cả Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc, đã vượt Trung Quốc về mặt tăng trưởng kinh tế. Đặng thừa nhận rằng Đại Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa đã đẩy lùi đất nước hàng thập niên. Trung Quốc đã tụt lại phía sau. Đặng đã theo một cách tiếp cận thực dụng tới sự tăng trưởng kinh tế. Thật quan trọng, ông dễ tiếp thu các chính sách kinh tế tự do, hợp-thị trường hơn. Phản ánh cách tiếp cận thực dụng của ông, Đặng nhận xét một cách nổi tiếng rằng “mèo trắng hay mèo đen không quan trọng; miễn là nó bắt được chuột, nó là con mèo tốt.” Ông đã hình dung một vai trò mới cho đảng cầm quyền. Thay vì là trọng tài của sự đúng đắn ý thức hệ, như ĐCSTQ đã là dưới Mao, Đặng hình dung đảng cầm quyền và bộ máy nhà nước trở nên kỹ trị và chuyên nghiệp hơn, có nhân viên là các chuyên gia và các nhà lập kế hoạch kinh tế.

Mục tiêu thứ hai của Đặng là để xây dựng lại bộ máy đảng. Các công dân Trung quốc không ngạc nhiên đã hoài nghi về ĐCSTQ cầm quyền sau Cách mạng Văn hóa. Sau gần ba mươi năm nắm quyền, đảng cầm quyền đã mang lại nhiều sự tàn phá hơn sự phát triển. Trong khi đó, sự chia rẽ bè phái và đấu đá chính trị trong đảng đã gây ra thiệt hại đáng kể cho khả năng của ĐCSTQ để quản trị. Đặng bắt đầu sắp xếp tổ chức đảng cho gọn gàng. Ông tạo ra một liên minh cải cách mạnh mẽ bằng việc cất nhắc các quan chức có đầu óc cải cách như Triệu Tử Dương, Hồ Diệu Bang, và Trần Vân lên các vị trí cấp cao trong chính phủ và đảng. Ông đã gạt những người còn lại trong số những kẻ trung thành với Mao sang bên lề. Đặng cũng thể chế hóa một phong cách phi tập trung, tập thể hơn của việc ra quyết định chính trị, trong một cố gắng để xóa bỏ tệ sùng bái cá nhân đã chi phối chính trị đảng dưới Mao.12

Thứ ba, các nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc đã ưu tiên sự ổn định hóa xã hội Trung quốc. Sự ổn định là cốt yếu cho khả năng của các chế độ độc đoán. Đối với ĐCSTQ, mệnh lệnh tạo ra sự ổn định đã là tối cao cho hiện đại hóa của Trung Quốc, nhất là vì sự náo động của nội chiến cách mạng trước 1949 và các tai họa kiến tạo-phát triển xảy ra sau đó. Một cách để đạt được sự ổn định dưới chủ nghĩa độc đoán là để cai trị với bàn tay sắt, và ĐCSTQ đã giữ lại các năng lực đàn áp của nó, nhất là qua việc đảng kiểm soát quân đội và bộ máy an ninh nội địa của nhà nước.

Tuy vậy, Đặng cũng nhận ra tầm quan trọng của tính chính danh thành tích kinh tế như một nguồn quyền lực chính trị cho chế độ và một thành phần cốt yếu của sự ổn định chính trị và kinh tế bên trong xã hội. Do đó, chế độ cộng sản sau-1978 ở Trung Quốc đặt tính chính danh thành tích—và cụ thể tính chính danh thành tích kinh tế—vào trung tâm kế hoạch phát triển của nó. Giống với các chế độ độc đoán khác ở châu Á kiến tạo-phát triển được khảo sát suốt cuốn sách này, Đặng đã tìm cách ổn định hóa xã hội Trung quốc và bản thân chế độ bằng việc mang lại sự phát triển kinh tế. Ông đã đưa Trung Quốc vào nhóm nước Á châu kiến tạo-phát triển.

Chiến dịch Bốn Hiện đại hóa là trung tâm của tầm nhìn cải cách của Đặng. Nó đã ưu tiên hiện đại hóa khu vực nông nghiệp, những ngành công nghiệp của nó, những năng lực về khoa học và công nghệ của Trung Quốc, và quốc phòng và an ninh quốc gia của nó. Rất quan trọng, những mục tiêu bốn hiện đại hóa đã liên kết với nhau: sự phát triển nông nghiệp và công nghiệp đã phụ thuộc vào việc Trung Quốc áp dụng những công nghệ hiện đại, mà đến lượt tăng cường các năng lực của đất nước trong quốc phòng. Để tăng tốc hiện đại hóa của nó trong tất cả các lĩnh vực này, Trung Quốc bắt đầu thận trọng mở các cánh cửa của nó ra nền kinh tế quốc tế và tích hợp những chính kinh tế hợp-thị trường. Chiến dịch Bốn Hiện đại hóa theo nhiều cách đã là một sự khiển trách trực tiếp chính trị thời đại-Mao.

Dưới Đặng, ĐCSTQ đã áp dụng một cách tiếp cận coi trọng-thị trường hơn tới sự tăng trưởng kinh tế. Trong khi nhà nước tiếp tục đặt ra các kế hoạch và các mục tiêu, chính phủ cũng đưa các khuyến khích và các cơ chế thị trường vào nền kinh tế. ĐCSTQ đã không vứt bỏ hoàn toàn việc lập kế hoạch xã hội chủ nghĩa, mà đúng hơn đã cho phép các cơ chế thị trường để hoạt động dọc theo khu vực nhà nước. Theo thời gian, tuy vậy, chính phủ ngày càng rút lui khỏi các đỉnh cao chỉ huy của nền kinh tế.

Đặng cũng đã áp dụng một chính sách kinh tế quốc tế mở cửa hơn. Ông đã đảo ngược lập trường hướng nội của Mao và đưa nền kinh tế Trung quốc tới các dòng chảy thương mại, đầu tư, và vốn quốc tế, cũng như áp dụng các công nghệ mới và nước ngoài. Mặc dù chế độ đã vẫn nghi ngờ vốn quốc tế và ảnh hưởng nước ngoài, nó nhận ra Trung Quốc không thể phát triển nhanh nếu nó vẫn đóng cửa với phần còn lại của thế giới.

Đặng đã khởi động kế hoạch cải cách tham vọng của ông tại hội nghị toàn thể ban chấp hành trung ương ĐCSTQ trong tháng Mười Hai 1978. Pha đầu tiên nhấn mạnh cải cách nông nghiệp và xóa bỏ hệ thống công xã. Mặc dù đất về mặt kỹ thuật đã vẫn do nhà nước sở hữu, sự kiểm soát đất về cơ bản được trả lại cho các hộ gia đình riêng lẻ để quản lý. “Hệ thống trách nhiệm nông thôn (khoán hộ)” đã có nghĩa là các hộ gia đình, hơn là tập thể hay công xã, chịu trách nhiệm về sản xuất nông nghiệp của chúng. Chính phủ tiếp tục giao các chỉ tiêu sản xuất, tuy nhiên giá thu mua đã tăng sau 1978. Hệ thống trách nhiệm nông thôn đã cho phép nông dân bán sản phẩm thừa của họ (vượt sản xuất hay chỉ tiêu thu mua) trên thị trường mở, mà đã khuyến khích sự đa dạng hóa cây trồng và sự đầu tư vào các công nghệ trồng trọt hiệu quả. Trong 1983, chỉ 5 năm sau sự bắt đầu thời kỳ cải cách, gần như tất cả hộ gia đình nông dân đã tham gia hệ thống trách nhiệm nông thôn. Năng suất tăng lên, như thu nhập của nông dân, trong đầu các năm cải cách.

ĐCSTQ đã cải cách các khu vực công nghiệp theo cùng cách trong đầu các năm 1980. Chính phủ đã cho phép một hệ thống dựa vào-thị trường song hành dọc theo kế hoạch do nhà nước-xác định. Các nhà quản lý công ty đảm nhận nhiều trách nhiệm hơn về sản xuất và định giá. Như trong hệ thống trách nhiệm nông thôn, hàng thặng dư có thể được bán với giá thị trường không bị kiểm soát, tạo ra sự cạnh tranh giữa các hãng. Sự cám dỗ lợi nhuận và thu nhập “ngoài kế hoạch” đã khuyến khích các hãng đầu tư vào các năng lực sản xuất hiệu quả và áp dụng các công nghệ đổi mới để có được lợi thế cạnh tranh.

Sự đưa các cơ chế thị trường vào đã giải phóng sự hoạt động kinh doanh nhộn nhịp, dẫn đến sự tạo ra các công ty mới. Mặc dù khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục chi phối phong cảnh công nghiệp của Trung Quốc, năng suất công nghiệp giữa các hãng không-nhà nước đã tăng nhanh. Giữa 1979 và 1990, khu vực doanh nghiệp không-sở hữu nhà nước đã tăng phần của nó trong tổng sản lượng công nghiệp từ 21,5 phần trăm lên 44 phần trăm. Các doanh nghiệp hương trấn ở vùng nông thôn đã tăng hơn gấp đôi sản lượng công nghiệp của chúng, từ dưới 9 phần trăm lên 20,5 phần trăm trong cùng thời kỳ. Vào năm 1984, hàng hóa và dịch vụ của các hãng không-nhà nước chiếm khoảng một nửa tiêu dùng bán lẻ ở Trung Quốc.

Sự rời triệt để nhất khỏi tầm nhìn của Mao về sự phát triển xã hội chủ nghĩa trong kế hoạch cải cách của Đặng đã là sự đảo ngược chính sách đóng-cửa của Trung Quốc. Các cải cách của Đặng đã mở cửa Trung Quốc cho nền kinh tế quốc tế trong một cố gắng để biến đổi mô hình tăng trưởng hướng nội của nó thành một mô hình công nghiệp hóa định hướng-xuất khẩu.13 Giống với các nhà nước kiến tạo-phát triển Đông Á khác trong giai đoạn công nghiệp hóa sớm nhất của chúng, Trung Quốc đã lập các đặc khu kinh tế trong các thành phố chủ chốt dọc duyên hải để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và phát triển một cơ sở xuất khẩu cho các hãng Trung quốc. Các đặc khu kinh tế đã làm tăng dòng FDI chảy vào từ hầu như zero trong 1978 lên gần US$1,5 tỉ vào năm 1984. Luồng FDI đã dẫn đến sự tạo ra các liên doanh trong các ngành chiến lược. Nó cũng mang lại các cơ hội cho các công ty và các nhà máy hoạt động ở Trung Quốc để bán các sản phẩm của chúng trên các thị trường toàn cầu.

Không ngạc nhiên, thương mại quốc tế đã tăng nhanh sau 1978, tăng từ khoảng US$20 tỉ lên hơn $100 tỉ trong 1988. Các hàng xuất khẩu Trung quốc, một cách cụ thể, đã tăng 5 lần, từ chỉ US$10 tỉ lên gần $53 tỉ trong thập niên đó. Từng bước một, Trung Quốc đã muộn màng “gia nhập” châu Á kiến tạo-phát triển bằng việc mở các cửa của nó cho thương mại và đầu tư quốc tế.14

Tuy nhiên là quan trọng để nhấn mạnh rằng những cải cách 1978 của Đặng đã không tương đương với thị trường hóa toàn bộ nền kinh tế Trung quốc. Kế hoạch sản xuất và thu mua của chính phủ đã vẫn là lõi kinh tế của Trung Quốc. ĐCSTQ đã không từ bỏ hoàn toàn sự kiểm soát của nó về định giá, nó cũng đã chẳng từ bỏ sức mạnh điều tiết của nó để thực thi các hạn ngạch sản xuất. Đúng hơn, các cải cách của Đặng đã đưa các cơ chế thị trường vào dọc theo nền kinh tế kế hoạch.

Nhà nước đã không co lại. Chẳng hạn, khu vực doanh nghiệp sở hữu nhà nước tiếp tục to lớn. Các ngân hàng chính phủ tương tự đã giữ lại một bàn tay rất mạnh trong kiểm soát và chỉ dẫn luồng tín dụng và đầu tư trong nước. Tính di động lao động cũng như khả năng của các hãng để thuê và sa thải nhân viên tiếp tục bị ràng buộc bởi các quy định nhà nước. Chính phủ đã đưa vào các khuyến khích như định giá thị trường, nhưng chỉ cho sản xuất thặng dư (vượt kế hoạch). Trong các khía cạnh này, cải cách kinh tế trong cuối các năm 1970 đã là một cố gắng của các nhà cải cách Trung quốc để từ từ vượt quá (và bỏ) kế hoạch nhưng không thay thế nền kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa. Các nhà nước kiến tạo-phát triển tư bản chủ nghĩa không nao núng và không bối rối của Đông Bắc Á đã vẫn là một thế giới tách biệt xa.

Tuy nhiên, các cải cách của Đặng cũng là một sự rời triệt để khỏi sự phát triển xã hội chủ nghĩa thời Maoist. Năng suất và tiêu dùng đã tăng dưới thời Đặng. Các mức nghèo, đặc biệt ở nông thôn, đã giảm đột ngột, khi thu nhập hộ gia đình nông dân đã tăng sớm trong thời kỳ cải cách. Lạm phát đã dưới sự kiểm soát và giá cả vẫn ổn định. Ngày càng nhiều công nhân từ nông thôn tìm thấy việc làm trong các hãng và các nhà máy bỗng xuất hiện trong các thành phố và các làng. Trung Quốc cũng đã duy trì một cán cân thương mại dương. Nền kinh tế tăng trưởng gần 10 phần trăm trên năm từ 1978 trở đi, phù hợp với các nhà nước kiến tạo-phát triển năng động khác của châu Á. Tóm lại, thu lợi kinh tế ban đầu trên kế hoạch cải cách của Đặng đã đáng kích lệ.

Tăng tốc Cải cách

Các nhà lãnh đạo đảng cầm quyền chia sẻ một đồng thuận rộng rằng Trung Quốc cần từ bỏ nền kinh tế kế hoạch. Quỹ đạo cải cách kinh tế của Trung Quốc đã trên đường đôi, với kế hoạch xã hội chủ nghĩa đại diện một đường dọc theo một đường thứ hai, bổ sung, định hướng-thị trường. Các cải cách 1978, họ đồng ý, là bước thứ nhất đáng khích lệ, mặc dù đã có sự bất đồng giữa họ về pha cải cách tiếp theo. Tranh luận về làm thế nào, một mặt, để duy trì một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong đó nhà nước tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong khi, mặt khác, thực hiện các cải cách tôn trọng-thị trường. Sự bất đồng giữa các nhà lãnh đạo ĐCSTQ trong giữa-các năm 1980 không phải về hướng nền kinh tế đang hướng tới mà đúng hơn về tốc độ và quy mô của cải cách.15

Các nhà cải cách thận trọng trong ĐCSTQ, như lão thành đảng Trần Vân, đề xuất những biện pháp khắc khổ ngắn-hạn để kiềm chế lạm phát trườn lên từ từ bắt đầu trong giữa-các năm 1980.16 Ông cũng tìm cách để áp đặt lại một vai trò kế hoạch trực tiếp hơn cho chính phủ. Đối với phái của Trần, đường xã hội chủ nghĩa cần tiếp tục phát triển, cân xứng với thị trường, không phải co lại. Khu vực kế hoạch nhà nước, kể cả các doanh nghiệp sở hữu nhà nước, phải tiếp tục chi phối khu vực không-nhà nước. Các nhà cải cách đi-chậm này lo lắng rằng thị trường hóa và quốc tế hóa không giới hạn sẽ làm mất ổn định nền kinh tế Trung quốc.

Bên kia của cuộc tranh luận, Thủ tướng Triệu Tử Dương và tổng bí thư ĐCSTQ Hồ Diệu Bang thúc đẩy tăng tốc và mở rộng quy mô cải cách tự do hóa kinh tế. Họ đề xuất tiêm nhiều, không phải ít, cơ chế thị trường hơn vào nền kinh tế. Còn Trần và các đồng minh của ông trong đảng lập luận ủng hộ đường xã hội chủ nghĩa kế hoạch nhà nước tăng lên, các nhà cải cách như Triệu và Hồ chú ý để đóng băng kích thước của nền kinh tế kế hoạch trong khi tăng tốc sự phát triển của đường thị trường. Theo thời gian, các mảng được thị trường hóa của nền kinh tế sẽ làm còi cọc nền kinh tế kế hoạch.

Tầm nhìn của Triệu đã thắng thế. Trong tháng Mười 1984 đảng cầm quyền đưa pha thứ hai của chương trình cải cách vào, tăng gấp đôi chương trình nghị sự cải cách năng nổ của Triệu. Trong khi các hãng sở hữu nhà nước được yêu cầu đáp ứng các chỉ tiêu sản xuất, chúng đã có khả năng phản ứng với giá thị trường cho sản phẩm vượt kế hoạch. Các nhà quản lý có được nhiều quyền lực hơn trong cách họ vận hành công ty của họ như một kết quả. Sự can thiệp đảng đã giảm, khi vai trò của bí thư đảng bị giảm đi bên trong các công ty. Các doanh nghiệp nhà nước bước vào cơn sốt thị trường, đa dạng hóa và tăng cường các năng lực sản xuất của chúng để thỏa mãn các chỉ tiêu của chính phủ, thêm vào đó để tạo ra thu nhập thị trường bên ngoài kế hoạch. Chính phủ đã mở cửa cho các thử nghiệm về các sơ đồ sở hữu tài sản và quyền sở hữu doanh nghiệp thay thế, kể cả sự đưa vào các hệ thống sở hữu hợp tác xã, cho thuê, và cổ phần. Điều này đã không thể tưởng tượng nổi trong thời Mao.

ĐCSTQ đã mày mò với cách chính phủ thực hiện phần kế hoạch của nền kinh tế như thế nào để kích thích các điều kiện thị trường cho các hãng sở hữu nhà nước. Thay cho việc thống nhất với các kế hoạch sản xuất hàng năm, nhà nước đã thực hiện từ từ một hệ thống thầu cho các nhà sản xuất công nghiệp. Dưới sơ đồ này, thay cho các hạn ngạch sản xuất, các hãng ký các hợp đồng dài hạn nhiều năm với nhà nước. Trong khi các nhà quản lý hãng chịu rủi ro để thỏa mãn các nghĩa vụ hợp đồng của họ, họ cũng có được sự tự trị để quản lý công ty một cách chiến lược. Sơ đồ thầu đã tăng cường cạnh tranh giữa các hãng, mà đến lượt khuyến khích các doanh nghiệp để tăng các năng lực sản xuất và tính hiệu quả sản xuất của chúng.

Cải cách lao động đã đi cùng nhữngcải cách thị trường. Trước kia, lương bị kiểm soát và chính phủ kiềm chế tính di động của lao động. Sau 1984, tuy vậy, các hợp đồng, lương, và thưởng của công nhân ngày càng gắn với thu nhập và tính sinh lời của hãng. Sự thay đổi này cho phép các nhà quản lý doanh nghiệp đưa ra các quyết định thị trường duy lý khi nói đến việc định tiền lương và các hợp đồng lao động. Một thị trường lao động cạnh tranh hơn và ít cứng nhắc hơn đã có lợi cho các hãng, vì chúng ít bị ràng buộc hơn trong cách chúng quản lý người lao động.

Từ quan điểm của những người lao động, tuy vậy, cải cách lao động là một con dao hai lưỡi. Một mặt, các hợp đồng thay thế việc làm được bảo đảm cho lao động công nghiệp, là sự không chắc chắn hơn cho những người hưởng lương. Mặt khác, bởi vì các hợp đồng và tiền lương được thu nhập và tính sinh lời của doanh nghiệp quyết định, các công nhân được khuyến khích để tăng năng suất của họ với kỳ vọng về thu nhập cao hơn.

Hiện đại hóa thứ Năm của Trung Quốc đến Đâu

Trong một cố gắng để củng cố quyền lực của đảng cầm quyền, một trong những ưu tiên then chốt của Đặng sau các năm hỗn độn dưới Mao, ĐCSTQ đã tìm ra cách để tạo ra tính chính danh bình dân bằng việc mang lại thành tích kinh tế. Nền kinh tế Trung quốc đã tăng trưởng với tốc độ trung bình hàng năm 11,5 phần trăm giữa 1983 và 1988, còn nhanh hơn thời kỳ cải cách ban đầu bắt đầu trong 1978. Trong các năm 1980, sự phát triển công nghiệp đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Trong khi khu vực nông nghiệp đình trệ một chút, sự tăng trưởng công nghiệp đã vút lên cao. Sản lượng công nghiệp tăng từ 8 phần trăm hàng năm trong thời kỳ cải cách đầu tiên giữa 1978 và 1983 đã tăng lên gần 18 phần trăm hàng năm trong 5 năm từ 1983 đến 1988. Mặc dù Trung Quốc vẫn còn xa mới giàu, nhiều người Trung quốc đã trở nên giàu hơn. Họ thừa nhận vai trò của sự lãnh đạo của Đặng và của ĐCSTQ trong việc hướng dẫn sự phát triển đáng chú ý của Trung Quốc.

Chúng ta biết từ phần còn lại của châu Á kiến tạo-phát triển rằng sự phát triển xã hội và kinh tế dẫn đến những kỳ vọng mới giữa các công dân và những đòi hỏi mới với nhà nước. Sự phát triển, như chúng tôi đã lập luận trong cuốn sách này, tạo ra các công dân đòi hỏi khắt khe hơn. Sự phát triển, nghịch lý thay, sinh ra sự bất mãn của riêng nó. Trung Quốc cũng vậy. Các cải cách kinh tế bao quát đó không đi cùng với cải cách chính trị có tính biến đổi ngang thế có nghĩa rằng đã không có các van-xả áp lực chính trị nào cho các công dân để cất lên những lời than phiền của họ và không vũ đài nào cho các lời than phiền đó được giải quyết. Từ đầu thời kỳ cải cách, các tiếng nói phê phán đôi khi đã xuất hiện và công khai thách thức tính chính danh của đảng cầm quyền.

Trong 1978, nhà hoạt động chính trị Wei Jingsheng (魏京生Ngụy Kinh Sinh) vận động cho một “hiện đại hóa thứ năm” và đã huy động phong trào Tường Dân chủ, đòi cải cách dân chủ. Các nhà hoạt động đã muốn tham gia vào đời sống chính trị. Phong trào phản kháng đã có sự hấp dẫn dân chúng bởi vì nó nhận ra sự đau khổ của nhân dân dưới Mao và sự thất vọng của họ với Cách mạng Văn hóa và sự tàn phá bỏ lại sau nó. Phong trào Tường Dân chủ cũng đã quyến rũ các nhà phản kháng bởi vì lời hứa bắt đảng cầm quyền chịu trách nhiệm giải trình trong tương lai, để bảo đảm các thảm họa của các năm 1950 và 1960 không xảy ra lần nữa.

Không ngạc nhiên, chế độ ĐCSTQ đã nghiền nát phong trào cùng năm đó. Các cuộc phản kháng chính trị đã nổ ra đều đặn suốt phần đầu của các năm 1980, mặc dù chế độ đã dễ dàng xử lý những sự bùng nổ chính trị. Các cuộc phản kháng đã có khuynh hướng địa phương và xa Bắc Kinh, trụ sở của quyền lực chính trị. Sau khi vừa nổi lên từ sự hỗn loạn của chế độ Mao, đảng đã quá không được lòng dân, yếu về chính trị, đổ vỡ về tổ chức, và không có tính chính danh chính trị để thừa nhận cải cách chính trị. Quả thực, để thừa nhận lúc đó có thể đã báo hiệu cái chết sắp xảy ra của đảng, như diễn ra chẳng bao lâu khắp phần lớn thế giới cộng sản.

Áp lực Tăng lên, Chế độ Yếu đi

Các cuộc phản kháng chống-chế độ nổ ra vài năm muộn hơn trong 1986 ở Bắc Kinh, tuy vậy, đã gây ra một sự lo lắng sâu hơn bên trong đảng. Tháng Mười Hai đó, các sinh viên lại xuống đường để phản đối chế độ độc đoán. Fang Lizhi (Phương Lệ Chi-方励之), một giáo sư đại học ở Bắc Kinh và bản thân ông là một đảng viên ĐCSTQ, đã lãnh đạo phong trào. Ông chỉ trích các nhà lãnh đạo đảng vì hành vi vô đạo đức và tham nhũng của họ. Ông chỉ ra sự thiếu dân chủ của Trung Quốc vì sự thất bại và lời hứa không được thực hiện của đảng cầm quyền để hiện đại hóa quốc gia.

Fang chỉ trích cái gọi là các định chế đại diện của chế độ như đồ trang trí độc đoán, từ Hội nghị Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) nghị gật ở trên đỉnh đến các cuộc bầu cử làng cố định ở dưới đáy. Ông nghi ngờ mức độ mà đảng đã cải cách bản thân mình, và liệu luật trị (rule of law, nhà nước pháp quyền) và các định chế chính thức bên trong đảng có thay thế hiệu quả cho chính trị cá nhân của thời Mao hay không. Trong nhiều khía cạnh, Fang và những người theo ông đã chỉ trích đảng theo cách rất công khai.

Mặc dù đảng cầm quyền đã đối mặt với các phong trào phản kháng thường xuyên, các cuộc biểu tình sinh viên 1986 đặc biệt gây lo lắng cho chế độ vì các lý do đa dạng, nhất là bởi vì chúng thu hút sự chú ý toàn quốc. Chính phủ đã cố bịt miệng báo chí nhưng với ít thành công. Các sinh viên có được ngày càng nhiều đồng minh trong xã hội, kích động sự thất vọng với chế độ. Vào 1986, cải cách chính trị đã không còn là một mong muốn trừu tượng nữa—cái gì đó tầng lớp trí thức tranh luận giữa bản thân họ—mà đúng hơn là một chương trình nghị sự cải cách thật được nhiều người theo đuổi. Vào cuối tháng Mười Hai năm đó, các phong trào phản kháng chống-chế độ đã huy động tại các thành phố khắp Trung Quốc, lên đỉnh điểm vào 20 tháng Mười Hai, khi 30.000 sinh viên, cùng với hàng chục ngàn người địa phương biểu tình khác, đã diễu hành ở Thượng Hải đòi cải cách chính trị.

Các cuộc biểu tình 1986 phản ánh các thách thức tính chính danh sâu sắc đối mặt với chế độ.17 Bất chấp sự tăng trưởng kinh tế phi thường trong phần đầu thập niên, nền kinh tế bắt đầu cho thấy các dấu hiệu đáng lo ngại về các vấn đề cấu trúc. Sự đưa các cải cách thị trường vào, và cụ thể sự cạnh tranh thị trường, đã đóng góp cho sự không chắc chắn kinh tế khi các vụ phá sản công ty tăng lên cùng với thất nghiệp và thu nhập công nhân giảm sút. Sự tăng tiền lương trong khu vực công nghiệp đã đình trệ sau 1986. Đồng thời, khắp nền kinh tế dòng tăng lên của vốn và tín dụng công nghiệp mới—mà tăng hơn 25 phần trăm trên năm sau 1984—đã đẩy tỷ lệ lạm phát tiêu dùng lên. Lạm phát trong 1985 gần 12 phần trăm, một sự tăng nghiêm trọng từ lạm phát chỉ hơn 2 phần trăm trong các năm trước. Giá cả tiêu dùng cho thực phẩm đã tăng 23 phần trăm, làm cho các công nhân công nghiệp khó để sống qua ngày.

Sau nhiều năm tập trung vào phát triển công nghiệp, sự tăng trưởng trong nền kinh tế nông nghiệp, mà lúc đó vẫn tạo việc làm cho tuyệt đại đa số người lao động ở Trung Quốc, đã chậm lại đáng kể vào giữa-những năm 1980. Năng suất nông nghiệp đã không tăng, vì sự sao lãng của khu vực về mặt đầu tư và tích hợp những công nghệ mới góp phần cho cơ sở hạ tầng xuống cấp ở nông thôn. Sự lập kế hoạch tồi đã dẫn đến sự giảm lượng đất được tưới tiêu, có thể canh tác được. Làm cho tình hình tồi hơn, các đảm bảo thu mua của chính phủ đã co lại vì các hợp đồng sản xuất nhiều năm đã thay thế các hạn ngạch hàng năm. Giá nhà nước cho các sản phẩm nông nghiệp cũng đã giảm, vì chính phủ bị kẹt trong một ràng buộc tài khóa. Trong một số trường hợp được báo cáo, chính phủ đã trao cho các nông dân các IOU (giấy ghi nợ) thay cho sự trả tiền mặt. Vì thế, thu nhập nông thôn đã không tăng từ 1985 đến 1988, làm trầm trọng thêm các tác động của lạm phát. Cơn bùng nổ phát triển của Trung Quốc đã để các nông dân lại phía sau.

Bất chấp các cố gắng của nó để từ bỏ dần kế hoạch, nền kinh tế Trung quốc bắt đầu trải nghiệm những nỗi đau của cải cách kinh tế trong giữa-các năm 1980. Các cải cách tăng tốc được thực hiện trong 1984 đã đưa vào các cơ chế thị trường mới, nhưng mà không có việc hủy bỏ hay cải cách kế hoạch nhà nước. Như một kết quả, các cải cách tự do hóa của ĐCSTQ giữa-các năm 1980 đã là một sự chắp vá của các thỏa hiệp và, đôi khi, các chính sách mâu thuẫn nhau. Ví dụ, nền kinh tế bị tràn ngập trong tín dụng, mà là một cú kích thích khiến công nghiệp hóa tiến triển, nhưng cũng đẩy lạm phát lên. Trong một ví dụ khác, sự áp đặt kiểm soát giá cả mà không có năng lực tài khóa của chính phủ để điều chỉnh giá cả và thu nhập đã tác động xấu rồi đến các nông dân nghèo hơn và các công nhân tại các hãng sở hữu nhà nước.

Bởi vì được dự định để thay thế cả các tiếng nói tự do hơn và thận trọng hơn trong đảng, chương trình cải cách đã không giải quyết nhiều thách thức cơ cấu sâu hơn của thị trường hóa và sự thực hiện cái gọi là những cải cách khó khăn. Những cải cách giữa-các năm 1980 đã đá chiếc bình cải cách khó khăn vào tương lai. Không chỉ là sự thiếu ý chí chính trị để tiến hành cải cách kinh tế khó khăn, nhưng cũng thiếu năng lực hành chính trong nhà nước, đã cản trở cải cách. Việc thực hiện những cải cách khó đòi hỏi một nhà nước mạnh để hướng dẫn quá trình. Tuy nhiên, vẫn quay cuồng từ các thập niên thao túng và lạm dụng của Mao và các quán quân chống-quan liêu của ông, nhà nước đã thiếu năng lực để thực hiện.

Nhà nước vẫn yếu. Các cải cách thị trường hóa đòi hỏi sự phân tán quyền lực khỏi bộ máy nhà nước trung ương. Các chính quyền tỉnh và chính quyền địa phương đã có được nhiều thẩm quyền hơn và do đó đã phát triển các chiến lược địa phương của chúng cho sự tăng trưởng kinh tế. Các nhà chức trách tỉnh, thay vì nhà nước trung ương, đã tận dụng các quyền hạn điều tiết của chúng, chẳng hạn, để đặt ra các mục tiêu mua sắm và giá cả, chuyển đầu tư công nghiệp, ươm mầm các ngành công nghiệp và khu vực mới, phát triển các liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài, và thật quan trọng, thu thuế và các thu nhập khác cho kho bạc tỉnh, không phải kho bạc trung ương. Các chính quyền kiến tạo-phát triển tỉnh và địa phương đã thay thế nhà nước quốc gia kiến tạo-phát triển. Như một kết quả, phần thu nhập thuế của nhà nước trung ương đã giảm đột ngột sau 1978, giảm từ tương đương với 35 phần trăm của GDP xuống 20 phần trăm một thập niên sau.

Chính phủ trung ương phải dựa vào việc vay từ các nhà chức trách địa phương và tỉnh, dẫn đến tình hình thâm hụt ngày càng thảm khốc cho nhà nước trung ương. Đã không cho đến giữa-các năm 1990 khi chính phủ trung ương cải cách hệ thống thuế. Tuy vậy, cho đến lúc đó nhà nước đã yếu rõ rệt, mà không có năng lực hành chính hay tài khóa để chỉ huy quá trình cải cách của Trung Quốc qua những chấn động khó khăn nó đã nếm trải trong giữa-các năm 1980.18 Không giống ở Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc, đã không có triển vọng nào về một bộ máy quan liêu kiến tạo-phát triển mạnh ở Trung Quốc để ổn định hóa và vượt qua những bão tố của các cải cách chính trị và kinh tế khó khăn hơn.

Làm cho tình hình tồi tệ hơn, lạm phát tăng vọt và thu nhập đình trệ đã làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng xã hội-kinh tế. Ngược với cam kết của chế độ đối với một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, các lợi ích của sự tăng trưởng trong các năm 1980 đã không đến với đa số nhân dân. Các vấn đề kinh tế đã làm xói mòn sự đoàn kết xã hội. Các chiến dịch tiêu dùng bình dân như “có Tám cái Lớn” (sở hữu một TV màu, một tủ lạnh, một xe máy, và các hàng hóa tiêu dùng dễ thấy) đã nhấn mạnh những sự cách biệt xã hội trong các năm của Đặng, ngược lại hoàn toàn với sự khắc khổ chung của chủ nghĩa xã hội Maoist. Tham nhũng giữa các quan chức đảng và các doanh nhân đã vượt ra ngoài vòng kiểm soát, cụ thể tại các thành phố duyên hải và các đặc khu kinh tế, nơi sự móc ngoặc kinh doanh là đặc biệt rõ rệt. Việc tường thuật về tham nhũng ngày càng tràn lan đã khuếch đại sự chia rẽ giữa những kẻ-có và người không-có và làm xói mòn thêm tính chính danh mỏng manh của đảng.19

Nói cách khác, sự tăng trưởng kinh tế xuất sắc của Trung Quốc đã không có khả năng che giấu các xu hướng rắc rối trong nền kinh tế và xã hội và các cải cách khó khăn cần được thực hiện. Một mình sự tăng trưởng kinh tế tổng hợp đã không có khả năng làm dịu bớt và xoa dịu làn sóng triều dâng của những người biểu tình chống-chế độ. Khế ước kiến tạo-phát triển của chế độ—sự khăng khăng về sự ưng thuận chính trị giữa lời hứa phát triển kinh tế—đã bắt đầu sổ ra từng sợi vào giữa-các năm 1980, chỉ vài năm sau khi nó bắt đầu. Các trí thức, các sinh viên, các công nhân, và những người Trung quốc bình thường đã hướng sự thất vọng của họ tới ĐCSTQ. Áp lực chính trị lên chế độ đang tích tụ, thế mà không có bất kể van-xả áp lực nào trong hệ thống chính trị, tình hình dường như có khả năng bùng nổ.

Đà của các cuộc biểu tình tháng Mười Hai được chuyển sang tháng Giêng 1987 và cho thấy không dấu hiệu chậm lại nào. Chế độ đã hết chịu nổi và quyết định để chấm dứt sự nổi dậy. Phái cứng rắn đã kích động quanh một phản ứng độc đoán tàn nhẫn và đã dập tắt phong trào sinh viên. Đại học đã sa thải Giáo sư Fang Lizhi khỏi chức vụ của ông, và đảng đã khai trừ ông khỏi hàng ngũ của nó. Các nhà chức trách ĐCSTQ đã dọn sạch các sinh viên khỏi Quảng Trường Thiên An Môn và khỏi nơi khác khắp đất nước.

Sự đàn áp thẳng tay chống những người biểu tình trên đường phố đã không đủ. Các đảng viên cũng phải trả giá. Tháng đó, tổng bí thư đảng Hồ Diệu Bang bị buộc phải từ chức và sự lãnh đạo ĐCSTQ của ông. Danh tiếng của ông như một nhà cải cách tự do đã biến ông thành con dê tế thần cho những người cứng rắn của chế độ. Sự giáng chức công khai của Hồ cũng gửi đi một tín hiệu rõ ràng cho các nhà hoạt động ủng hộ dân chủ rằng ĐCSTQ sẽ không khoan dung bất cứ đòi hỏi cải cách chính trị nào. ĐCSTQ sau đó đã bổ nhiệm Triệu Tử Dương làm người đứng đầu đảng. Sự liên kết quá khứ của Triệu với Hồ, tuy vậy, đã khiến ông trở thành một người bị đánh dấu, và sẽ chỉ là vấn đề thời gian trước khi phái cứng rắn trong đảng cũng sẽ quay sang chống lại ông.

Năm tiếp, 1988, đã là năm rất khó khăn cho nền kinh tế Trung quốc. Tất cả các thách thức xuất hiện vài năm trước đã lên đỉnh điểm. Sản xuất ngũ cốc tiếp tục sụt do thời tiết và các vụ thu hoạch kém. Nhân dân đang đói. Thu nhập nông dân giảm sút vì giá nhà nước cho các sản phẩm chính đã giảm. Bất ổn lao động tăng lên, khi các công nhân đối mặt với mối đe dọa thất nghiệp và sự cắt giảm lương khắp các khu vực công nghiệp của Trung Quốc. Bất bình đẳng cũng tiếp tục tăng, và xã hội Trung quốc ngày càng bị phân tầng ngang các vùng, giữa các thành phố và nông thôn, và giữa các công nhân và tầng lớp chuyên nghiệp và trung lưu. Tỷ lệ lạm phát vút lên trên 20 phần trăm năm đó, mà, kết hợp với lương và thu nhập hộ gia đình nông thôn giảm sút, khiến đời sống khốn khổ cho hầu hết mọi người. Mùa hè đó, những người tiêu dùng tuyệt vọng tích trữ các mặt hàng thiết yếu, đẩy các áp lực lạm phát lên chi phí của các hàng thiết yếu. Về mặt quốc tế, các hàng xuất khẩu của Trung Quốc bị giảm, dẫn đến thâm hụt thương mại. Dòng FDI chảy vào cũng không đạt chỉ tiêu năm đó.

Có lẽ dễ bùng nổ nhất cho chế độ là khi một báo cáo tiết lộ rằng 150.000 đảng viên bị điều tra và bị trừng trị vì tham nhũng trong 1987, và rằng 25.000 trong số họ đã được ân xá. Nếu các thách thức xã hội, kinh tế, và chính trị năm đó là nguyên nhân trực tiếp của cái đến trong 1989—hộp mồi lửa châm ngòi các cuộc biểu tình Thiên An môn—thì những sự tiết lộ công khai về tham nhũng tràn lan của đảng đã là ngòi châm nó nổ tung.

Thảm sát Thiên An Môn

Các sinh viên biểu tình huy động trong đầu 1989 để đòi cải cách chính trị. Phong trào được kích động khi cựu lãnh đạo ĐCSTQ Hồ Diệu Bang qua đời vào 15 tháng Tư. Các nhà hoạt động dân chủ tôn vinh Hồ như một nhà cải cách tự do—một hình ảnh tiến bộ mà, thật mỉa mai, đảng đã tăng cường khi nó biến ông thành dê tế thần vì sự nổi dậy sinh viên 1987—và cái chết của ông đã huy động các sinh viên biểu tình khắp Trung Quốc. Đảng đã gián tiếp tạo ra một người tử vì dân chủ. Các sinh viên đã tập hợp ở Quảng Trường Thiên An Môn để tang Hồ và đòi chế độ bắt đầu cải cách chính trị.20

Suốt mùa xuân 1989, các sinh viên đã phản kháng ôn hòa trên quảng trường. Họ yêu cầu hỏi ý kiến các nhà lãnh đạo đảng cấp cao, dù cho chế độ phần lớn đã bỏ qua các yêu cầu của họ. Đôi khi các nhà lãnh đạo sinh viên đã gặp các quan chức ĐCSTQ, họ và các đòi hỏi của họ bị bác bỏ ngay tức khắc. Trong tháng Năm, các sinh viên bắt đầu tuyệt thực, tạo ra sự đồng cảm và sự ủng hộ hơn khắp đất nước. Tổng Bí thư Triệu Tử Dương đã ra quảng trường để mang một thông điệp đồng cảm cho các sinh viên. Ông đã cầu xin họ chấm dứt sự phản kháng của họ và đi về nhà. Các đồng chí của Triệu trong ĐCSTQ xem lời đề nghị của ông như một sự phản bội lại đảng và lập trường ngày càng cứng rắn của nó về cải cách chính trị. Mặc dù ông là một trong những nhà lãnh đạo của đảng đã táo bạo đặt Trung Quốc lên con đường phát triển của nó, ĐCSTQ đã tranh trừng ông và đặt ông dưới sự quản thúc tại gia vào cuối tháng Năm.

Sự suy vong của Hồ và Triệu đã tiết lộ không chỉ sự mau lẹ tàn bạo của ĐCSTQ mà cả việc đảng cầm quyền đã thiếu các định chế chính thức để quản lý và hòa giải các xung đột chính trị nội bộ đến thế nào. Bất chấp mục tiêu của Đặng để củng cố đảng cầm quyền ngay sau Cách mạng Văn hóa, ĐCSTQ đã tiếp tục cai trị và quản trị chủ yếu qua các cơ chế phi chính thức. Sự không chắc chắn, ngược với các thực hành chính thức được thường nhật hóa, cho biết các quan chức đảng đã thao túng và huy động sự ủng hộ như thế nào bên trong ĐCSTQ. Các cố gắng của Đặng để thể chế hóa một phong cách tập thể, xây dựng-đồng thuận hơn của việc ra quyết định đã tan vỡ khi đảng trải qua các cuộc khủng hoảng. Đáng chú ý, mặc dù nó đã nắm quyền trong gần bốn mươi năm, ĐCSTQ thiếu một quy trình chính thức cho sự kế vị lãnh đạo. Vào các năm 1980, bản thân Đặng đã không có bất cứ chức vụ lãnh đạo chính thức nào trong đảng hay chính phủ, mặc dù ông thực hiện một lượng to lớn quyền lực chính trị trong vai trò không chính thức của ông như lãnh tụ tối cao.

Sự thiếu tính kiên cường tổ chức của ĐCSTQ đã có hậu quả, vì đảng bị chia rẽ sâu sắc trong khủng hoảng 1989. Ranh giới giữa phái cải cách tự do và phái cứng rắn bắt đầu cứng lại trong 1987, khi đảng về mặt chính trị biến Hồ thành dê tế thần. Vào mùa xuân 1989, sự chia rẽ nội bộ đảng rõ rệt và không thể hòa giải đến mức khi ĐCSTQ đối mặt một thách thức chính trị tăng lên, nó đã quy trở lại cách cũ của nó để quản lý xung đột nội bộ bằng việc thanh trừng và trục xuất người của chính nó. Nó không có khả năng để thống nhất, và thay vào đó phơi bày công khai những rạn nứt của nó bằng việc công khai hy sinh các nhà lãnh đạo nổi tiếng bị thất sủng. Các ghi chép từ các cuộc họp nội bộ đảng sau sự đàn áp Thiên An môn cho thấy rằng các nhà lãnh đạo ĐCSTQ đổ lỗi sự không thống nhất bên trong ban lãnh đạo đảng cho “sự nổi loạn” 1989, và rằng sự chia rẽ sâu sắc bên trong phản ánh sự yếu của ĐCSTQ. Thậm chí bản thân ĐCSTQ thừa nhận nó đã không là một đảng cố kết.21

Vào giữa-tháng Năm, được ước lượng một triệu người biểu tình đã tập hợp trong và quanh Quảng Trường Thiên An Môn. Phong trào lan ra khắp cả nước, huy động các sinh viên, các công nhân, và các công dân Trung quốc bình thường ủng hộ các sinh viên. Những người biểu tình đã công khai và trâng tráo đòi Đặng từ chức và rút lui như lãnh tụ của Trung Quốc. Bên trong ĐCSTQ, những người cứng rắn được Thủ tướng Lí Bằng lãnh đạo đã tập hợp để dứt khoát chấm dứt các cuộc biểu tình Thiên An môn bằng vũ lực. Khoảng cách giữa hai phái đã lớn và không thể hòa giải đến mức “sự mâu thuẫn” và xung đột giữa họ đã là cuộc tranh đua “tất cả-hay-không gì cả”.22 Sự thỏa hiệp, vào thời điểm này, đã là không thể. Những người cứng rắn đã thắng cuộc chiến nội bộ đảng khi Đặng ủng hộ kế hoạch của Lí để đàn áp. Chế độ thiết quân luật vào 20 tháng Năm và binh lính PLA mau chóng bao vây quảng trường.

Bất chấp sự phô trương vũ lực có thể gây chết người của quân đội, binh lính ban đầu đã không thể giải tán những người biểu tình. Trong tuần tiếp hay khoảng thế, sự hỗn loạn và sự mất trật từ đổ xuống đường phố Bắc Kinh, báo hiệu sự bất ổn định hơn cho chế độ, cái gì đó ĐCSTQ vô cùng sợ. Vào đầu tháng Sáu, áp lực từ thế bế tắc giữa binh lính PLA và những người biểu tình đã không thể giữ được. Các quan chức nước ngoài theo dõi cảnh diễn ra ở Bắc Kinh đã lo chế độ ĐCSTQ có ít sự lựa chọn còn lại. Đảng cầm quyền đã đi đến cùng kết luận. Thật bi thảm, vào đêm 3 tháng Sáu và đến sáng 4 tháng Sáu, ĐCSTQ đã ra lệnh cho binh lính PLA tiến vào quảng trường và xả súng vào những sinh viên biểu tình, mang lại một cơn khủng hoảng bi thảm mà lịch sử sẽ được biết như vụ Thảm sát Thiên An Môn.

Chống lại Dân chủ

Chế độ ĐCSTQ không sụp đổ trong mùa hè 1989, nó cũng đã chẳng chịu theo các đòi hỏi của những người biểu tình Thiên An Môn để lãnh đạo Trung Quốc trong một chuyển đổi sang nền dân chủ. Một diễn giải các sự kiện 1989 là việc đảng cầm quyền kháng cự dân chủ đã là một sự hoạt động của tính kiên cường và sức mạnh chế độ. Diễn đạt theo cách khác, bất chấp ĐCSTQ bị sốc về mặt chính trị, nó đã không đủ yếu để bị lật đổ bởi những người biểu tình ủng hộ dân chủ, chế độ cầm quyền cũng đã chẳng mất lòng dân đến mức nó tự sụp đổ dưới trọng lượng của tính bất chính danh hay bị chia rẽ đến mức sụp đổ qua làn sóng đào ngũ nội bộ.

Khẳng định rằng ĐCSTQ đã không đủ yếu để chuyển đổi dân chủ cho biết quan điểm chi phối hay hiểu biết thông thường xung quanh các triển vọng dân chủ ở Trung Quốc: rằng cải cách dân chủ sẽ xảy ra khi chế độ yếu đến mức nó không thể sống sót. Nền dân chủ, trong kịch bản này, nổi lên từ đống tro tàn của chế độ ĐCSTQ đã sụp đổ. Sự sụp đổ-với-triển vọng dân chủ đã vẫn là quan điểm chi phối giữa các nhà quan sát Trung Quốc ở Trung Quốc và phần còn lại của thế giới kể từ đó.

Theo logic này, một số người cho rằng bởi vì chế độ ĐCSTQ đã không sụp đổ trong mùa hè 1989, và cho thấy thậm chí ít dấu hiệu hơn về sự đang yếu đi và suy sụp khi đất nước trở nên giàu hơn, phát triển hơn, và hùng mạnh hơn, cho nên việc kỳ vọng dân chủ đến Trung Quốc là trò chơi của một kẻ ngu ngốc. Chế độ thậm chí còn ít có khả năng sụp đổ ngày nay bởi vì nó mạnh hơn. Những người biện hộ cho chế độ độc đoán cho rằng Trung Quốc và ĐCSTQ không cần dân chủ hóa, vì “mô hình Trung quốc” kiên cường cung cấp một con đường thay thế, và một số người có thể cho là con đường ưu việt, tới tính hiện đại. Dân chủ, họ khăng khăng, không phải là một đặc tính xác định sự hiện đại hóa chính trị của một nước.23 Trong khi đó, những người có hy vọng dân chủ săn tìm những sự rạn nứt trong quyền lực của đảng cầm quyền và các dấu hiệu về chế độ sắp sụp đổ.24 Theo cả hai cách, Trung Quốc sẽ dân chủ hóa chỉ khi đảng cầm quyền là yếu.

Trong lý thuyết của chúng tôi, mà rút ra các bài học cho Trung Quốc từ Đông Á hơn là từ Đông Âu, Trung Quốc chắc có khả năng hơn để dân chủ hóa khi—và một phần bởi vì—đảng cầm quyền là mạnh. Hiển nhiên, chế độ độc đoán của Trung Quốc đã không sụp đổ trong tháng Sáu 1989, những người biểu tình Thiên An Môn cũng đã chẳng lật đổ chính phủ. Nhưng sụp đổ không phải là cách duy nhất mà nền dân chủ nảy sinh; những sự nhượng bộ độc đoán cũng là có thể. Và chúng tôi cho rằng vào 1989, ĐCSTQ đã không đủ mạnh để thừa nhận dân chủ với sự tự tin, và điều này giúp giải thích vì sao chế độ chọn để né tránh một con đường dân chủ khi đó.

Đảng, trong khi đó đủ mạnh để đàn áp dữ dội những người biểu tình Thiên An Môn trong 1989, đã yếu về mặt tổ chức, đã không thể chế hóa các cơ chế để dàn hòa chính trị đảng và giảm nhẹ xung đột nội bộ. Hơn nữa, nhà nước quan liêu đã thiếu năng lực tài khóa và hành chính để thực hiện các cải cách xã hội, kinh tế, và hành chính khó khăn. ĐCSTQ đã thiếu các sức mạnh có trước đó và như thế thiếu sự tự tin để thừa nhận dân chủ. Nó đã trông không giống các chế độ kiến tạo-phát triển độc đoán ở Đài Loan, Hàn Quốc, và Nhật Bản, mà đã chọn thừa nhận dân chủ qua sức mạnh.

ĐCSTQ đã không được lòng dân lúc đó, thiếu sự tự tin chiến thắng mà khuyến khích các chế độ mạnh để thừa nhận cải cách chính trị. Sự thực rằng các sự kiện mùa xuân và mùa hè 1989 đã xảy ra không lâu sau khi Trung Quốc và đảng cầm quyền nổi lên từ sự tàn phá của Cách mạng Văn hóa và các hậu quả tai hại của Đại Nhảy Vọt có nghĩa là chế độ ĐCSTQ ở trong các giai đoạn đầu của việc xây dựng sự đáng tin và tính chính danh chính trị của nó. ĐCSTQ trong 1989 vẫn chưa có một “quá khứ có thể sử dụng được” mạnh, một hồ sơ thành tích phát triển mà nó có thể dựa vào để hướng dẫn sự phát triển của Trung Quốc một cách ổn định; có lẽ, sự gần của các năm thời Mao đã chất gánh nặng lên vai đảng với một “quá khứ không thể sử dụng được.” ĐCSTQ một cách dễ hiểu đã sợ sự hỗn loạn và sự xâu xé, và đã thiếu sự tự tin ổn định rằng đất nước và đảng có thể quản lý khủng hoảng chính trị hỗn độn của nó mà không sẵn sàng nhờ vả đến một bộ đầy đủ của những sự kiểm soát đàn áp.

So với QDĐ và các đảng bao quát thống trị khác ở Đông Á kiến tạo-phát triển, ĐCSTQ đã thiếu năng lực tổ chức và sự hấp dẫn chính trị.25 Mặc dù các chế độ QDĐ Đài loan và DJP Hàn quốc đã đối mặt với các áp lực dân chúng từ dưới, đặc biệt ở Hàn Quốc, chẳng trong kịch bản nào đối lập đã gây mất ổn định như các làn sóng biểu tình nổ ra kế tiếp nhau ở Trung Quốc suốt các năm 1980. Thật đáng nhớ lại rằng ở Nhật Bản sau chiến tranh và ở Đài Loan và Hàn Quốc trong cuối các năm 1980, chuyển đổi dân chủ đã xảy ra trong các giai đoạn tăng trưởng kinh tế và ổn định, hơn là khủng hoảng. Nửa sau của các năm 1980 đã là bất cứ thứ gì trừ ổn định ở Trung Quốc.

Lý thuyết của chúng tôi về dân chủ qua sức mạnh kỳ vọng rằng các đảng cầm quyền mạnh hơn chắc có khả năng nhất để thừa nhận dân chủ và thúc đẩy một sự chuyển đổi ổn định khi chúng vượt quá đỉnh điểm quyền lực của chúng chỉ một chút. QDĐ ở Đài Loan đã là mạnh nhất trong các trường hợp xác nhận được khảo sát trong cuốn sách này cho đến giờ, trong khi DJP của Hàn Quốc đã yếu nhất. Nhưng trong cả hai trường hợp, cùng với các chính trị gia bảo thủ ở Nhật Bản, các chế độ đương nhiệm tuy nhiên đã đủ mạnh để thừa nhận dân chủ với sự tự tin. ĐCSTQ trong 1989, tuy vậy, đã là yếu nhất trong số chúng.

Nhìn về phía trước, chúng ta cũng có thể kết luận rằng ĐCSTQ trong 1989 đã vẫn chưa ở đâu gần với cái sẽ trở thành đỉnh điểm quyền lực của nó trong thời kỳ cải cách. Đảng đã chẳng là một quyền lực chính trị đang tàn đi, một chế độ độc đoán lao nhanh qua cái chúng tôi gọi là vùng buồn vui lẫn lộn. Đúng hơn, ĐCSTQ trong 1989 đã là một đảng đang lên, và một đảng cần tạo một khoảng cách xa hơn giữa thành tích kiến tạo-phát triển của nó và sự tàn phá của thập niên trước, để tích tụ nhiều sức mạnh tổ chức và thể chế hơn, tiếp tục lãnh đạo sự phát triển của Trung Quốc và tạo ra một quá khứ có thể sử dụng được có sức thuyết phục hơn, và đặt đảng cầm quyền vào một vị thế nơi dân chủ qua sức mạnh thậm chí là một lựa chọn hợp lý. Khi ĐCSTQ sẽ trở nên mạnh hơn nhiều sau 1989, chúng ta có thể nghĩ về phần kết Thiên An Môn bi thảm không như một sự kết thúc của đường cho cuộc đấu tranh dân chủ hóa của Trung Quốc, mà như một phần mở đầu cho giai đoạn phát triển chính trị và kinh tế tiếp của Trung Quốc.

7. Chủ nghĩa quân phiệt Kiến tạo-Phát triển

CÁC LỐI RA CÓ THỂ ĐẢO NGƯỢC

CÁC TRƯỜNG HỢP TRONG cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển được giới thiệu trong các chương 3–5 đã là bất thường về sức mạnh độc đoán lịch sử của chúng, mà đã cho phép chúng khởi xướng và thực hiện những con đường dân chủ hóa tương đối suôn sẻ. Tuy vậy, sự thực là ít chế độ độc đoán đã từng xây dựng các sức mạnh ấn tượng như vậy, về mặt hoặc các định chế của chúng hay các thành tích kinh tế của chúng, ngay cả trong châu Á kiến tạo-phát triển. Đấy là bài học trung tâm của chương 6, nơi Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thiếu “quá khứ có thể sử dụng được” cần thiết để ủng hộ sự thừa nhận dân chủ trong các cuộc biểu tình Quảng Trường Thiên An Môn 1989. Khi bây giờ chúng ta chuyển vào cụm quân phiệt chủ nghĩa kiến tạo-phát triển của chúng ta—Indonesia, Thái Lan, và Myanmar—chúng ta bắt gặp các trường hợp thêm với các sức mạnh thể chế và “quá khứ có thể sử dụng được” cấp trung hơn là hết sức ấn tượng.

Tuy nhiên, bất chấp các sự yếu kém độc đoán tương đối này, ba chế độ quân phiệt về mặt lịch sử của Đông Nam Á đã đều theo đuổi dân chủ qua sức mạnh, lúc này hay lúc khác, theo một cách giống với cái chúng ta đã thấy ở Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc. Tại Thái Lan trong các năm 1980, Indonesia trong cuối các năm 1990, và Myanmar trong đầu các năm 2010, các chế độ quân sự đã giảm sự đàn áp một cách đáng kể, đã mở không gian chính trị, và đã cho phép các cuộc bầu cử cạnh tranh như một cách chia sẻ quyền lực với các chính trị gia dân sự. Quá trình này có khuynh hướng diễn ra vào những thời khắc khi các quân đội tương đối tự tin rằng sự ổn định chính trị có thể được duy trì hay được cải thiện bằng việc tăng sự cạnh tranh bầu cử, không phải bằng việc dập tắt nó.

Liệu thử nghiệm có thể đảo ngược này thực sự lên đến tột độ trong sự biến đổi dân chủ và sự sống sót dài hạn của chế độ đương nhiệm chủ yếu phụ thuộc vào liệu sự tự tin ổn định của quân đội có được thỏa mãn hay không. Điều này, đến lượt, chủ yếu phụ thuộc vào các di sản thay đổi của sự phát triển thể chế dưới sự cai trị quân sự. Indonesia có được thành công dân chủ hơn cả Myanmar và Thái Lan kể từ sự chuyển giao thiên niên kỷ bởi vì sức mạnh được thừa kế của đảng và các định chế nhà nước được xây dựng dưới Trật tự Độc đoán Mới của Suharto trong thiên niên kỷ trước. Myanmar và Thái Lan, mặt khác, đã thiếu một cách kinh niên các đảng mạnh và bình dân để đại diện các elite cũ đồng tình với các lợi ích quân sự và đã bị các cuộc nổi dậy khu vực đe dọa sự ổn định quốc gia bao vây dai dẳng hơn. Chúng như thế đã trải qua những lối ra gập ghềnh hơn, chưa hoàn thành hơn, và cuối cùng dễ bị đảo ngược hơn khỏi sự cai trị quân sự so với Indonesia.

Từ một góc nhìn, ba trường hợp quân phiệt chủ nghĩa kiến tạo-phát triển của chúng ta đơn giản là các phiên bản yếu hơn của cái chúng ta đã gặp trong ba trường hợp trong cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển. Tuy nhiên mục đích và kết quả của phân tích cụm của chúng tôi nằm trong việc soi sáng các trường hợp trong các cụm khác nhau cũng là những kiểu khác nhau của các nền kinh tế chính trị và các chế độ độc đoán. Các trường hợp quân phiệt chủ nghĩa kiến tạo-phát triển về mặt chất lượng là khác với các trường hợp nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển theo ít nhất bốn cách quan trọng. Điều này đòi hỏi một loại chuyện kể khác với loại được đưa ra trong các trường hợp dân chủ-qua-sức mạnh mẫu mực nhất của chúng ta.

Thứ nhất, trong chương này, phân tích của chúng tôi tập trung vào sự tự tin ổn định hơn sự tự tin chiến thắng. Không giống các đảng cầm quyền, các quân đội cầm quyền không cần thắng các cuộc bầu cử để bảo vệ các đặc ân và các đặc quyền của chúng. Ngay cả khi chúng không rất tự tin rằng việc đưa các cuộc bầu cử dân chủ vào sẽ mang lại thắng lợi cho các đảng ủng hộ-quân đội nhất, các nhà lãnh đạo quân sự tuy nhiên có thể ủng hộ dân chủ hóa nếu họ tự tin rằng sự ổn định sẽ không bị tổn thương trong sự chuyển đổi chính trị. Sự ổn định gồm sự phát triển kinh tế tiếp tục, các cơ hội tham nhũng không bị gián đoạn, quyền miễn trừ được bảo đảm khỏi bị truy tố vì các sự vi phạm các quyền con người quá khứ, xung đột có thể quản lý được với các đối thủ của quân đội, và hòa bình tương đối với các vùng nổi loạn về mặt lịch sử. Trong cả ba trường hợp quân phiệt chủ nghĩa, các thử nghiệm dân chủ phòng ngừa ban đầu ít nhất đã dựa nhiều vào sự tự tin của quân đội trong các lĩnh vực này hơn là vào những kỳ vọng về các kết quả tích cực trong các cuộc bầu cử dân chủ toàn quốc. Sự tự tin chiến thắng vẫn quan trọng, nhưng sự tự tin ổn định là tối cao khi nói đến thế giới quân phiệt chủ nghĩa kiến tạo-phát triển.1

Thứ hai, hơn trong bất kể cụm nào khác, sự tự tin ổn định này tập trung vào tính có thể quản lý được của các cuộc nổi dậy khu vực và ly khai trên ngoại vi lãnh thổ. Trong tất cả ba trường hợp quân phiệt chủ nghĩa, các mối đe dọa vũ trang và được tổ chức đối với trung tâm chính trị hoặc đã vắng mặt (như ở Thái Lan) hay đã bị đánh bại (ở Indonesia và Myanmar) trong quá trình ban đầu của sự củng cố độc đoán. Không thể nói cùng thế cho các mối đe dọa đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, đang cháy âm ỉ trong ngoại vi quốc gia. Hãy nhớ lại rằng một lý do chính cho sự tự tin ổn định ở Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc là mối đe dọa cộng sản đã chủ yếu là bên ngoài hơn là bên trong. Mặc dù mối đe dọa nội bộ đã không vắng mặt ở Indonesia, Thái Lan, và Myanmar, nó đã trở nên có thể quản lý được trong tất cả ba trường hợp trong tiến trình Chiến tranh Lạnh. Mối đe dọa cộng sản teo đi đã là một nguồn chính của sự tự tin ổn định khắp cụm quân phiệt chủ nghĩa. Các mối đe dọa ly khai nói chung hiện ra lớn hơn nhiều và gây ra một mối đe dọa nhất quán đối với sự củng cố dân chủ mà đã vắng bóng trong cụm nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển.

Thứ ba, dân chủ hóa qua sức mạnh cũng đã dẫn đến những kết cục khác về chất lượng trong cụm quân phiệt chủ nghĩa với các kết cục trong cụm nhà nước chủ nghĩa. Trong khi dân chủ hóa đã thấy các nhà lãnh đạo dân sự chuyển từ sức mạnh đến sức mạnh ở Nhật Bản, Đài Loan, và thậm chí ở Hàn Quốc nửa-quân phiệt hóa, các thử nghiệm dân chủ đã mở ra một thời đại của cái chúng tôi gọi là sự sống chung dân sự-quân sự ở Indonesia, Myanmar, và Thái Lan. Với dân chủ hóa vào những thời khắc sức mạnh tương đối, các nhà lãnh đạo quân sự có thể đóng một vai trò dẫn dắt trong việc thiết kế các quy tắc trò chơi dân chủ, kể cả sự bảo tồn các đặc quyền quân sự đáng kể bên cạnh các ban lãnh đạo dân sự mới được bàu một cách dân chủ.2

Chúng tôi nhắc đến những dàn xếp này như sự sống chung bởi vì dân chủ hóa không có nghĩa là lớp véc ni phi quân sự hóa cũng chẳng là một vai trò người giám thị cho quân đội; thay vào đó, nó có nghĩa nhiều hơn về một mối quan hệ ngang hàng giữa các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự như những người tương đối ngang hàng, với mỗi bên có được phạm vị hoạt động chính trị khá lớn của riêng nó. Sự thực rằng các nhà lãnh đạo quân sự có thể vẫn đứng bên cạnh các nhà dân sự được bàu một cách dân chủ trong sự chỉ định các ghế quốc hội, ít nhất trong những ngày đầu của các thử nghiệm dân chủ trong tất cả ba trường hợp, đã đóng góp cho sự tự tin ổn định rất cơ bản cho dân chủ qua sức mạnh. Như chúng ta đã thấy trong chương 3, thời đại dân chủ-Taisho trong các năm 1920 ở Nhật Bản đã giống sự sống chung như vậy, chứng minh những dàn xếp sống chung dân chủ như vậy rốt cuộc là mong manh và, như chúng ta đã thấy ở Nhật Bản trong các năm 1930, có thể đảo ngược đến thế nào.

Thứ tư, dân chủ hóa đã có nghĩa là kết cục khác nhau đáng kể cho kinh tế chính trị của cụm quân phiệt chủ nghĩa. Mặc dù tham nhũng đã và vẫn là một vấn đề trong cả ba trường hợp nhà nước chủ nghĩa kiến tạo-phát triển, nó không phải là động lực cốt lõi làm cho các nền kinh tế của chúng hoạt động. Nhật Bản, Đài Loan, và Hàn Quốc tất cả đều là các nước nghèo-tài nguyên nơi chủ nghĩa dân tộc-kỹ trị và sự chế tác hết sức hiệu quả đã lót “các con đường từ ngoại vi” tương tự của chúng3 Ngược lại, Indonesia, Myanmar, và Thái Lan đều là các nước giàu-tài nguyên, hết sức phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) để chuyển từ địa vị thu nhập-thấp tới địa vị thu nhập-trung bình trong các thập niên gần đây.

Kết quả cuối cùng là các cơ hội tham nhũng tràn lan cho các sĩ quan quân đội, cả khi họ nắm quyền và khi họ đã đứng cạnh các nhà lãnh đạo dân chủ dân sự trong những dàn xếp sống chung. Vì thế, tính liên tục được kỳ vọng về các cơ hội cho tham nhũng lớn đã củng cố các thử nghiệm dân chủ phòng ngừa trong cụm quân phiệt chủ nghĩa. Các quân đội trong cụm Á châu kiến tạo-phát triển này như thế là cái Barrington Moore, lặp lại Karl Marx và Friedrich Engels, một thời đã lập luận rằng giai cấp tư sản cuối cùng phải bảo vệ sự giàu có của nó—trao đổi quyền để cai trị lấy quyền để kiếm tiền.4