Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hoàng Anh Thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hoàng Anh Thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 2 tháng 7, 2025

Một cuộc trốn chạy

 Nguyễn Hoàng Anh Thư

 

Phố hôm nay ngập sâu sau một cơn mưa kéo dài từ tối hôm qua đến trưa nay, cô đang nhìn thấy điều ấy trên tivi. Cô hơi tiếc, giá như cô ra đó muộn hơn, dù sao thì đi trong mưa hay bơi trong mưa vẫn thích hơn là chạy trên chảo lửa nóng. Hà Nội tuần trước hơn 50 độ, hai chân cô sắp cháy.

Thứ Bảy, 21 tháng 6, 2025

Mọi thứ đang như con thuyền lênh đênh

 (Cảm nhận tiểu thuyết Thuyền của nhà văn Nguyễn Đức Tùng)

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Nếu hình dung Thuyền là một bức tranh thì tôi nghĩ là bức tranh này màu xanh là chủ đạo, màu xanh của đại dương vô tận với bao nhiêu nỗi đau của con người đã hoà tan vào đó.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

Hịch thơ sĩ

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Ta thường nghe: kẻ làm thơ có thể chết bởi rượu, tử bởi trăng; có thể chết bởi thói ngông nghênh bạt mạng; xưa Lý Bạch khinh đời cùng tiên kiếm ngao du, lặn xuống vớt trăng rồi tiêu diêu tiên cảnh, phút thăng thiên ấy, mấy người trong thiên hạ từng trải qua. Hay là thi nhân họ Hàn từng nuốt trăng mỗi đêm để nguyền rủa nỗi đau mà trời xanh chẳng thấu? Từ xưa, các bậc thơ sĩ bỏ mình vì rượu vì trăng đời nào chả có? Ví thử các bậc tiền nhân ấy cứ bắt chước bọn tiểu nhân, hay thói nữ nhi ẻo lả thì làm sao có những áng thơ bất hủ lưu lại thiên cổ đến bây giờ?

Chủ Nhật, 22 tháng 7, 2018

Thơ Hồ Minh Tâm

Thơ của Hồ Minh Tâm đọc thật khoái, đó là cảm nhận ban đầu khi tôi đọc thơ Hồ Minh Tâm, có cái cảm giác như rượu mạnh, một loại rượu được chưng cất hoàn hảo, ngọt nhưng cay, cảm nhận như mọi ngôn từ đều khởi nguồn từ cảm xúc, cách xử lý không hề có một sự khô cứng, gò ép. Hồ Minh Tâm không thuộc kiểu nhà thơ buộc mình phải viết ra gì đấy mà thơ buộc anh ấy phải viết ra. Nhưng một điều thú vị là trong thơ của anh lại có mạch liên kết, cấu trúc độc, nhiều lúc cũng cảm chừng như anh ấy trượt đà trên cảm xúc của mình, để những câu thơ rời ra, rơi thỏm vào những điều bất ngờ khác, đó cũng là một kỹ thuật mở rộng trường liên tưởng mà đôi khi người đọc thấy choáng ngợp, không thể nhận ra tức thời.

Hồ Minh Tâm không thuộc mẫu người sống vì thơ mà anh chơi với thơ như một điều thi vị trong cuộc đời, ít khi thấy một bài đẹp hoàn hảo trong thơ Hồ Minh Tâm, vẫn luôn thấy những sần sùi như ngôn ngữ trò chuyện tự nhiên, chính những cái lởm chởm đó đã khiến nhiều lúc làm người đọc bật cười, bản tính chân thực trong xúc cảm phải khởi phát từ bản thể tự nhiên mới có được, điều này đã phá đi sự xơ cứng gò ép của những kiểu loại thơ chúng ta vẫn thường thấy nhiều trong thơ Việt Nam hiện tại. Thơ anh chuyên nghiệp, điều mà ta dễ nhận ra trong thơ anh là giàu hình tượng, sự thông minh, hài hước luôn thường trực. Anh viết đa dạng nhiều đề tài, tình yêu cũng ngọt, ám ảnh và chua loét, thế sự đau đớn tàn nhẫn cũng được ngôn ngữ thơ của anh đặt dưới lăng kính của tình yêu thương và điều dịu xoa, về quê hương cha mẹ đó là một sự biết ơn cội nguồn – một sự biết ơn thấm đẫm thi vị ngọt ngào, nỗi đau và tình yêu máu thịt. Tôi luôn ấn tượng về sự độc đáo, bất ngờ, những xúc cảm mới mẻ hiện đại đã tạo ra một cái tôi rất nhân bản trong thơ của Hồ Minh Tâm.

Vài dòng cảm nhận một chùm thơ anh mới viết cũng đủ cảm nhận về một tay chơi thơ rất ngông, làm thơ cũng như uống rượu, nhưng mấy ai dùng lưỡi để cảm nhận được rượu ngon bao giờ, biết được mùi vị của rượu ngon đôi khi chúng ta phải có một sự rung cảm đặc biệt, điều ấy không phải ai cũng thưởng thức được.

Nguyễn Hoàng Anh Thư



cầu thang tôi – chuyện chỉ thế



nàng nằm nghiêng quyến rũ. trườn qua căng thẳng này lại chạm một cang thảng (cang thảng – không phải căng thẳng, tất nhiên nó ở mức cao hơn căng thẳng một đốt). chiến tranh biển đang leo thang, cuộc chiến giữa chồng & người yêu đang rình rập nàng. nàng không muốn lìa chồng con, không muốn tách bờ cõi, không muốn chết. hiệp sĩ xót thương cảnh ngộ nàng, nàng giơ tay lên mong cứu vớt, chồng nàng ganh tị, trừng mắt... người yêu nàng lo lắng, lấm lét, đe doạ xuất chiêu thủ tiêu… bất luận là chim trời, cá nước. nàng khóc mắt không còn muối, thương!

Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Nhà văn Việt có nhất thiết phải viết thứ văn gần gũi với người Việt?

Nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng, tác giả cuốn tiểu thuyết kỳ lạ Life Navigator 25: Người tình của cả thế gian, chia sẻ những suy nghĩ về cuốn tiểu thuyết mới nhất của anh, quan niệm của riêng anh về văn chương và thế giới.

Nguyễn Hoàng Anh Thư (NHAT): Anh là người dịch một số tác phẩm rất quen thuộc với bạn đọc, vậy khi viết anh có chịu ảnh hưởng của văn phong một tác phẩm dịch nào đó không? Anh từng nói: "Tiểu thuyết của tôi không thuộc về số đông", nhưng cái nhan đề anh đặt cho tiểu thuyết “Người tình của cả thế gian” lại có vẻ rất "câu khách", anh thử lý giải cho người đọc về điều này được không?

Trần Tiễn Cao Đăng (TTCĐ): Tôi dịch khá nhiều tác phẩm văn chương nước ngoài, và đọc văn chương nước ngoài nhiều hơn văn chương trong nước, cho nên văn tôi viết nghe có vẻ “Tây” là điều dễ hiểu. Điều này diễn ra tự nhiên – không phải tôi chủ ý viết như vậy. Trong cách tư duy, trong tâm trí, tôi luôn cảm thấy mình phần lớn không bị ràng buộc trong khuôn khổ dân tộc Việt, không “thuộc về” người Việt. Đồng thời với ý thức mình là người Việt, tôi luôn có cảm giác rõ rệt mình thuộc về một nơi khác. Ngôn ngữ của tôi phản ánh điều đó. Nhan đề Người tình của cả thế gian, cũng như bản thân câu chuyện, đến với tôi một cách tự nhiên. Sự thật là, trong khi viết cuốn sách và trong khi nghĩ đến nhan đề ấy, tôi không nghĩ đến chuyện người đọc là ai. Cuốn sách được viết ra do nhu cầu tự thân nó. Một khi nó đã tượng hình đầy đủ và có đó giữa thế gian rồi, người đọc “lý tưởng” của nó sẽ xuất hiện.

Chủ Nhật, 7 tháng 5, 2017

Thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư

1.     Hai sợi dây

 

Sự khác biệt hai sợi dây
Đứa trẻ ghiền bên máy tính
Và con chó bị xích
Khi cả hai cùng tìm cách phá vỡ đi

Con chó cần bàn tay gỡ những nút thắt
Nó sẽ tận hưởng làn gió tự do của khu vườn
Đứa trẻ cần sự phá vỡ bên trong
Có thể từ xa là một ngọn hải đăng
Đứa trẻ cần nhìn thấy nó
Hoặc con đường dài ngoằn ngoèo

Con chó bất lực vì không bàn tay giải thoát
Đứa trẻ bất lực vì không giải thoát đôi tay của mình.

Thứ Ba, 28 tháng 3, 2017

Chùm truyện cực ngắn

Nguyễn Hoàng Anh Thư

1. Mắt lưới

Cuối dòng sông Như Ý, vào những buổi chiều, những người thợ săn ảnh thường chực chờ để chụp được cảnh tung chài. Một buổi hoàng hôn ráng vàng thật đẹp. Lão ngư đang tung lên từng tán lưới tròn vành vạnh. Những mắt lưới xếp lớp lên nhau, đan vào nhau những ý nguyện của lão… Nước. Bầu trời. Từng thanh âm yên ả. Những mắc lưới như tán váy xòe của cô gái đang nhảy múa giữa khoảng xanh. Cả hành tinh lọt vào mắc lưới.

2. Thi sỹ

Có thể lần nguyệt thực tới anh sẽ đi, chàng nói. Đêm trăng bứt những rìa máu, sóng lạnh hoang vu. Trong khu vườn bên bờ biển, từng bông nguyệt quế nở, thắm tươi màu máu.

Đêm ấy, biển và mây hoang thai, mọc lên từng bờ đá. Sóng vỗ Quy Hoà, rì rào kéo dài mãi cơn đau.

3. Chữ Braille

Trong giờ học, vang lên những tiếng gõ lóc cóc, từng tiếng gõ đều, rất nhanh. Một lần, cô giáo thử đưa tay sờ lên mặt giấy, em thử đọc cho cô biết em đang viết gì, cô nói. Trò cầm quyển tập đứng dậy, dùng bốn đầu ngón tay mò mẫm. Im lặng vài phút, em đọc: "Bình Ngô Đại Cáo... khẳng định nền văn hiến nước Nam, anh hùng hào kiệt, giang sơn lãnh thổ, biển đảo Hoàng Sa Trường Sa...".
- Em dừng lại, cô có nhắc Hoàng Sa Trường Sa trong bài này đâu.
- Dạ thưa cô, đó là những gì em hình dung qua những dấu chấm nhỏ, chúng nhấp nhô giữa đại dương, từ chữ Braille, em có thể nhìn thấy được những điều xa hơn.

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2017

Nguyễn Hoàng Anh Thư Nhà văn: “Người nặn tò he” trong văn chương

Lê Vũ Trường Giang (tạp chí sông Hương) phỏng vấn Nguyễn Hoàng Anh Thư – Cho tiểu luận về năng lượng trẻ

1. Chị bén duyên với văn chương từ khi nào? Trong hoàn cảnh nào? Có sự thôi thúc nào chăng?

- Thật ra, gọi là “bén duyên” thì mình “bén” từ những năm học phổ thông, nhưng thời đó chỉ viết thơ, tản văn lưu lại trong sổ tay như một dạng ghi chép cá nhân, mình viết chỉ mình đọc. Năm 2013, mình mới bắt đầu chính thức sáng tác, mình viết miệt mài trong 3 năm liền, giống như một cuộc chơi càng viết càng đam mê, có lúc cảm chừng như mình không đủ thời gian còn lại để viết tất cả những gì mình muốn, song hành cả thơ và truyện ngắn

2. Quan niệm của chị về truyện ngắn?

- Truyện ngắn như là một lát cắt của đời sống, nhưng là “lát cắt” bén và sâu. Truyện ngắn đòi hỏi phải có ý tưởng mới lạ, khám phá. Nhiều người cho rằng, phải viết cái gì lớn mới thể hiện được cái tầm lớn, nên viết tiểu thuyết thì mới khẳng định được tầm của một nhà văn. Mình không nghĩ thế, thể loại không làm nên thành công của một tác phẩm. Với truyện ngắn, mình có thể thỏa mãn được sự sáng tạo trong lối dựng truyện, phá cách trong kết cấu, độc đáo trong việc thể hiện ý tưởng... Những nhà văn mà mình yêu thích đọc hầu hết họ chủ yếu viết truyện ngắn. Mình thích lối truyện ngắn có ngôn ngữ tinh lọc, ngôn ngữ nhẹ nhàng mà thấm, như thơ vậy. Những tình huống, lời thoại, chi tiết…đôi khi chỉ là những cú chạm rất nhẹ, cốt đủ lột tả được thần hồn của nhân vật. Những truyện ngắn có sức chưa lớn hơn khuôn khổ của nó, có sức nén càng lớn thì nó có thể mạnh rất nhiều lần so với tiểu thuyết.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016

Những Bài Thơ Mới Của Nguyễn Hoàng Anh Thư

Chúng tôi nhận được khoảng ba mươi bài thơ do một người bạn của Nguyễn Hoàng Anh Thư chuyển đến. Đây là những bài thơ mới viết của chị.

Nguyễn Hoàng Anh Thư hướng về sự chia sẻ và đối thoại trong thơ. Con người chỉ có thể sống sót và lớn lên trong quan hệ với người khác, chịu ảnh hưởng của xúc cảm của người khác và chiếu ngược trở lại ánh sáng của tâm hồn họ lên chúng. Trong một xã hội thiếu tự do, sự đồng cảm sẽ bị thương tổn nhiều nhất, sớm nhất, dẫn tới sự không khoan dung và lòng thù hận. Thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư chống lại điều ấy, bằng cách kêu gọi trước hết sự hiểu biết chính mình, đi ngược những nguồn cội của xúc cảm, tìm ra tiếng nói chung. Thơ trữ tình của chị không phải chỉ là sự bày tỏ mà còn là hướng tới việc giải thích và lời kêu gọi, niềm vui tựa vào hạnh phúc của kẻ khác. Mặt khác, với cái nhìn điềm tĩnh, phong cách châm biếm, thơ chị là sự phê phán xã hội, sự phân tích sáng tỏ các tình huống. Lòng thương cảm là kết quả cuối cùng của sự chia sẻ và phê phán này. Đôi khi thấp thoáng bút pháp hậu hiện đại, thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư vẫn đứng vững trên niềm tin về những mục đích mà thơ ca theo đuổi: cái đẹp, tự do, lòng nhân ái.

Sống và làm việc ở Huế, chị chú ý đến những chi tiết trong cuộc sống hàng ngày, sinh hoạt địa phương, nhưng cũng gợi ra những vấn đề rộng lớn của đất nước, sự hủy hoại văn hóa và môi trường, một thế hệ lạc phương hướng. Tuy không phải khi nào chị cũng có thể tránh được lối nói mòn cũ, Nguyễn Hoàng Anh Thư sở hữu một ngôn ngữ mới mẻ, tự nhiên, gần như không cần chuẩn bị, có thể chạm đến nhiều đề tài, hài hước trào lộng. Trong khi khai phá các thể nghiệm, thơ dung chứa khát vọng đương thời.

Văn Việt trân trọng giới thiệu.

Thứ Năm, 24 tháng 3, 2016

Trò chuyện với nhà thơ Nguyễn Hoàng Anh Thư:

Phần không tính cách tạo nên sự sáng tạo riêng của mỗi tác giả

Như Quỳnh de Prelle (từ Brussels):

Phần không tính cách trong các tác phẩm tạo nên cái Tôi của nhiều tác giả đương đại. Chị thấy sao từ cá nhân và những người bạn viết mà chị biết?

Tôi giải thích một chút về ý nghĩa của Phần không tính cách ở đây. Theo tôi, đó là cách đón nhận suy nghĩ, cảm xúc đến rất nhanh có khi vội vàng của tác giả. Cũng là cách nhìn thế giới trong một khoảnh khắc như là vô tận, hiện hữu và vụt biến ngay đi. Tác phẩm ra đời như thế, không dấu vết ngay cả khi lịch sử đang tồn tại trong đó. Người đọc được cảm nhận và sẻ chia lúc ấy, thậm chí không dấu ấn, không nhớ họ đọc gì nhưng tác phẩm nó đã tồn tại như cách nó ra đời. Người viết thể hiện cái Tôi một cách rõ ràng trong những đứa con tinh thần của mình bằng những khoảnh khắc rất hiện sinh. Câu chuyện ấy được kết thành như sự tồn tại vốn có của loài người và con người đang sống, hoặc đã chết.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2016

Điệp khúc trắng

Truyện

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Khi những giọt mưa đầu tiên gội thẫm những lá cao su non thì mùa cạo cũng chính thức bắt đầu. Những giọt cao su trắng giọt giọt. Hắn chẳng kịp nhìn chúng giọt nhanh dần lên rồi đến khi khô hẳn trong đêm khuya. Chỉ biết sớm mai, chúng đông đặc. Và đêm qua, chúng chẳng dán lại nỗi mệt mỏi của sự chờ đợi. Từng hàng dài xa tít tắp, thẳng tưng như từng hàng chữ của rừng, của từng bàn tay, của từng cái điều mong muốn êm ấm của con người.
Cây càng cao, thân càng khẳng, và càng ngày cây rút dần nhựa trắng như đổ nỗi đau - niềm vui vốn hạn hữu với đời.
Tháng chạp là mùa cao su rụng lá. Những cơn mưa lá cứ ào ào suốt đêm. Lá ở trên cao rơi xuống, phía bên dưới cứ rạt rào rạt rào nghe như tiếng sóng lá của đại ngàn. Mùa đông này kéo dài lê thê, chúng như đang đợi từng lớp lá mục dần để ướp cái mặt đất vốn lạnh giá khi màn sương chùng xuống. Ban ngày, chúng lùa gió xào xạc ngỡ như rất nhiều tiếng bước chân người đang lướt qua khu rừng. Ban đêm, chúng đứng lại và gặm. Màu đêm đen đặc, lũ mối không nhận ra màu nâu của lá, của đất, của lớp vỏ cây, mặc, chúng gặm nghe rào rạo cả một vùng. Âm thanh của đêm ở rừng cao su là như vậy đấy. Chỉ còn những ánh đèn loa lóa và hơi thở hì hục của những công nhân làm nghề cạo mủ. Họ bắt đầu từ giữa đêm và lướt qua chúng cho đến khi trời vừa sáng. Tiến chim cú non kêu. Tiếng rào rạo từ những mũi dao. Những thân cao su đang chảy trắng, những đôi mắt trắng, và những điệp khúc trắng đã theo họ vào giấc ngủ ngày hôm sau.

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

Một chút hoài niệm Tết

Nguyễn Hoàng Anh Thư
V_n-AnhThu 2- Ch_ hoa Hu_
Nồi bánh chưng đêm Ba Mươi
Cứ đến tháng Chạp, tiết trời se se lạnh tôi lại nhớ lắm cái cảm giác được ngồi nhìn cái bếp lửa hừng hực ấm áp với nồi bánh chưng. Hầu như năm nào nhà Ngoại tôi cũng đều nấu bánh trong đêm 30. Bếp lửa bắt đầu nhen lên từ hồi chiều, rồi đi qua giao thừa, gần đến sáng. Cô bé ngày xưa ấy thường ngong ngóng Tết đến thật nhanh, nhất là những ngày gần cuối sao mà chúng lại dài đến thế. Rồi niềm vui khi Dì, Cậu ở xa lần lượt về nhà sum vầy với Tết. Hầu như quanh năm, bé thường thấy ngày rất vắng vẻ, nên đối với bé - những ngày Tết thật là đông vui, rộn ràng. Bây giờ, đã mấy chục năm, nhiều khi tôi thầm nghĩ, cái cảm giác được ao ước đó đã nhạt đi rất nhiều, bởi cuộc sống quá hối hả và bận rộn, và cái cảm xúc trong trẻo đã không còn nguyên sơ trong đôi mắt trong veo của cô bé ngày nào. Và bao nhiêu hình ảnh ngày xưa vẫn mãi sống động trong cái cảm giác được về gần với Tết. Mệ Ngoại đang ngồi đổ bánh thuẩn, mùi thơm phưng phức, Dì đang đảo lại chảo mứt gừng, rồi Dì tất bật cắt những bẹ lá chuối tươi xanh, cả nhà lại ngồi gói bánh. Bé ngồi nhìn những chiếc bánh chưng vuông vức, những đòn bánh tét được buộc lạc thật đẹp, và nghĩ rằng, chẳng bao giờ mình sẽ gói được như vậy, và cho đến bây giờ, vẫn chưa thử gói lần nào, bởi nghĩ rằng nó rất khó, sẽ vụng về, sẽ vương vãi, sẽ bung ra, sẽ không còn đầy đặn vuông vức như thế. Những hoài niệm xưa như sợi lạt mềm, cứ xiết vào tôi đau buốt.

Người nặn tò he

Nguyễn Hoàng Anh Thư
Ng H Anh Th_Người ta vẫn gọi lão là Ông Tam Lợn, dù ông đã từ bỏ nghề mổ lợn mấy chục năm nay rồi.
Cái tháng này sắp gần Tết rồi mà trời vẫn còn lạnh. Cái lạnh sắt se không chừa cả cơn đau từ những khớp xương nhức buốt của người già. Lão năm nay đã được hơn 80, độ chừng như vậy trên cái mặt già nua nhúm nhó và đen xám xịt của lão. Bộ áo quần trên người lão cũng vậy, khéo khen thứ vải bố ngày xưa được dệt như cái câu “ ăn chắc mặc bền” của người dân xứ miền Trung đầy nắng gió. Bộ áo quần lão mặc có màu gì ấy nhỉ, màu xám tro ? màu lông chuột? màu vỏ cây già? Trộn ba thứ màu ấy lại với nhau mới áng chừng được cái màu quen thuộc từ bộ áo quần của lão. Có lẽ màu đất cũ và đất mới đã bệt cứng lại với nhau nên sợi vải mới bền đến vậy. Bộ áo quần đã theo lão từ thời nhà lão còn có của để ăn và theo lão đến mấy chục năm nhà lão đói deo đói dắt khi nhà lão mất hết, bị cướp sạch. Có lẽ là cả nhà lão đã nếm đủ vị đói của những năm 80, có năm cùng quá, lão làm luôn cả công việc mổ lợn thuê, vậy mà thời còn bé lão lại sợ nhìn khi người ta cắt cổ một con gà. Có năm, lão bỏ lại vợ con nheo nhóc lên rừng tìm ngải. Mấy năm sau lão trở về với gương mặt vàng bủng, lão dở người từ dạo ấy, và càng tệ hại hơn khi đứa con trai út của lão lâm bệnh mà chết. Vợ và đứa con gái đầu của lão bỏ vào miền Nam kiếm sống cũng bặt vô âm tín với lão, lần ấy lão nhớ là họ đã bỏ đi trong chuyến tìm ngải trầm kéo dài hơn 5 năm của lão. Từ sáng sớm đến tối mịt, lão đi lất khất bụi bờ xó chợ, lão hiền lành và tội nghiệp nên được người ta cho cái ăn, có khi lão được người ta cho cả tiền. Lão thường cất tiền cẩn thận và cái túi áo có cái kim băng to tướng. Lão điên, đúng là lão điên chỉ mới một nửa thôi, bởi cứ tháng gần Tết là lão lại lục đục chuẩn bị đi mua gạo dẻo để nhào nặn những con tò he để bán cho lũ trẻ con. Ngày xưa vẫn thế, chỉ trừ khi lão đi làm ăn xa không về, hay đang ở tận rừng sâu tìm ngải trầm mà lão không trở về kịp. Lão đã thật cố gắng tìm về quê nhà vào dịp gần Tết để nặn những con tò he xanh đỏ . Với lão, đó là sự thích thú, đó là thứ hương vị nhàn rỗi mà trong cuộc đời lão thưởng thức được.
Thứ Ba, 19 tháng 1, 2016

Thị

Truyện
Nguyễn Hoàng Anh Thư:
I
Cô bé ám ảnh chữ "Thị" từ thuở nhỏ. Những người có chữ "Thị" từng là cô giáo của bé từ những năm tháng ấu thơ. Cô bé nhớ cô Nguyễn Thị Thời người ở Quảng Bình dạy cô hai năm lớp Một thời bao cấp. Cô bé thường cười mỉm một mình khi tưởng tượng ra những gương mặt ngây ngô của đám bạn trong lớp tiểu học hơn mình một tuổi đang gạch gạch từng "cây sắn" trên trang giấy màu trắng đầy gân đen. Những trang vở mà cô tưởng tượng như người ta ép bã mía thật mỏng mà ra thành những tờ vở ấy vậy. Thời ấy, cô theo dì đến trường và học "ngoại sổ" cho hết những buổi chiều tuổi thơ. Cứ mỗi mùa mưa, cô thường nhớ da diết lắm cây trứng gà. Nhớ người cô thân yêu của bé thật hiền lành, cô ấy thích những trái màu vàng lủng lẳng nở bung trên cành như lòng đỏ trứng gà ấy, còn cô thì ghét cái mùi của chúng.
"Thị", nó cứ bám riết lấy khi cô thấy ai đó cứ ghi nhầm vào giữa tên mình. Và "thị" này bây giờ cứ bám riết cô khi hàng ngày cô thấy người đàn ông bụng ỏng, chân ngắn, lưng dài mặt dày tựa cái thớt gỗ mít ngày xưa bà ngoại dùng để băm rau cho heo. Cô nghe thấy người này gọi cô là thị trong ánh mắt trắng dã như cá giếc bị chết. Anh ta ít khi nhìn trực diện, hoặc nhìn là cứ trừng đôi mắt đỏ lừng để xiết chặt từng lời rao giảng đạo đức. Cô lại lắng nghe, và cô lại mỉm cười liên tưởng đến những "cây sắn" ngày xưa lũ bạn ngây ngô gạch gạch trong những ngày đầu học tiểu học.