Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hồ Quang. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Hồ Quang. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 19 tháng 6, 2025

Bí mật của hải trình

  (Về tiểu thuyết Thuyền của Nguyễn Đức Tùng, Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2025)

Lê Hồ Quang

 

Thuyền có nhịp điệu ngôn từ khá đặc biệt: chậm rãi và bình thản. Nhịp điệu ấy hé lộ những câu chuyện khác, ẩn sau câu chuyện đang kể, một dòng chảy rộng lớn, không ngừng luân chuyển, đẩy con thuyền sự kiện trôi dạt không cùng trong hải lưu mênh mang của hồi ức, suy tưởng, chiêm nghiệm về lịch sử dân tộc, nhân loại và đời sống cá nhân, về những giá trị như sự thật, tự do, tình yêu, nỗi đau, sự cứu rỗi… Phải đọc chậm, vì dẫu có muốn, không thể cản được cái mạch/ nhịp đã được hình thành ngay từ lúc câu đầu tiên xuất hiện, nghĩa là khi con thuyền của câu chuyện xuất bến, bắt đầu hải trình, và nhịp điệu ấy được duy trì cho đến tận dòng kết thúc.

Chủ Nhật, 1 tháng 6, 2025

Điều gì khiến mẹ tin

 (Về tập Bài ca sau mưa của Đặng Văn Hùng, Nxb Đà Nẵng, 2025)

Lê Hồ Quang

Ấn tượng trước hết của tôi về Bài ca sau mưa là sự nhỏ nhắn, khiêm nhường của nó. Tập thơ chỉ có 49 trang, không kể mục lục, với khổ in 10,5 x18 cm, có thể cầm gọn trong tay. Số lượng bài cũng ít và thường rất ngắn, có khi chỉ vài dòng. Nhưng chúng khơi mở những cảm giác đặc biệt nhẹ nhõm và dịu dàng.

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2025

Thơ Phan Đan – Khoảng trắng giữa trang Apocalypse

 Lê Hồ Quang

Trong văn bản mở đầu tập Thơ Phan Đan [1]tản mạn về thơ, Phan Đan viết:

Mỗi ca khúc là một giấc mơ hữu hạn được cắt gọt và đóng khung trong âm vực giọng người và trong những xúc cảm người. Những giấc mơ hữu hạn làm tán loạn đời sống liên tục của chúng ta và làm hoài thai những giấc mơ khác, có lẽ còn hữu hạn hơn.

Nhưng không có những tập hợp hữu hạn ấy, chúng ta biết làm gì trước THỜI GIAN, dòng chảy tuyệt mù tăm tích này?”

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2025

"Bi kịch nhỏ" của Lê Minh Khuê, câu hỏi về cái ác

 Lê Hồ Quang

1. Bi kịch nhỏ (in trong tập truyện ngắn cùng tên vào năm 1993 [1]) thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và lối viết của Lê Minh Khuê giai đoạn hậu chiến và Đổi mới. Lần đầu đọc truyện ngắn này, tôi đã viết: “Từ góc nhìn của người cháu, một nữ phóng viên, về người bác ruột của mình, vốn là một cán bộ cấp cao trong bộ máy chính quyền nay đã nghỉ hưu, tác phẩm đặt ra nhiều vấn đề, chẳng hạn sự duy ý chí trong quản lí xã hội, sự trả thù cá nhân tàn độc nấp sau những chiêu bài chính trị, sự trớ trêu của đời sống hay là sự trả thù tàn khốc của số phận,... Trên thực tế, đấy không chỉ là bi kịch của cá nhân mà còn là bi kịch của xã hội và lịch sử. Con người đối mặt với số phận kì thực là đối mặt với tội ác và sự tàn độc của chính mình”[2]. Tuy nhiên, sau nhiều năm, tôi nhận ra Bi kịch nhỏ không chỉ nói về luật nhân quả hay nỗi cảm thương về sự trớ trêu của số phận, dù đây rõ ràng là những yếu tố tác động mạnh đến nhận thức và xúc cảm của độc giả. Hơn thế, Bi kịch nhỏ đã trình bày hiện thực đời sống ấy như một trạng thái hiện sinh có tính phổ quát, ở đó, cái ác, hoặc nói cách khác –  sự dữ, bạo lực, nỗi đau khổ –  chi phối tất thảy. Xuyên qua hiện thực khắc nghiệt được tái hiện, Bi kịch nhỏ đặt ra những câu hỏi khá trực diện về cái ác và qua đó, thúc đẩy những suy nghĩ “nhiều hơn và khác đi” về nan đề này.

Thứ Năm, 29 tháng 8, 2024

Nhịp điệu của sức bền

(Về tập phê bình, tiểu luận Nhịp điệu vẽ lối đi của Mai Văn Phấn, Nxb. Hội Nhà văn, 2024)

Lê Hồ Quang

1. Trong nhiều tác phẩm và bài viết trao đổi, Mai Văn Phấn thường nhắc đến quan niệm viết (và sáng tạo nghệ thuật nói chung) như một hành động kiến tạo không gian khác –  khác với người khác và khác với chính mình, xem đấy như kim chỉ nam cho quá trình tìm tòi của ông. Đấy là một ý tưởng dễ được chia sẻ (và dễ biến thành các tuyên ngôn to tát) nhưng rất khó để hiện thực hoá, bởi nó buộc người viết phải ý thức đầy đủ về bản chất sáng tạo, biết liên tục đổi mới, hoặc nói cách khác, biết phủ định và tự phủ định. Càng ngày, khi càng đi xa và đạt nhiều thành tựu hơn, Mai Văn Phấn càng thấy rõ áp lực của việc phải khác trong thực hành sáng tạo. Nhưng đồng thời, việc viết trong áp lực (chủ yếu xuất phát từ đòi hỏi của ông với chính bản thân) đã hình thành ở tác giả này một tinh thần và thái độ thực tế mà ta có thể nói đơn giản như sau: muốn viết khác thì phải đọc sâu, đọc rộng. Có lẽ vì vậy, sau nhiều tác phẩm thơ liên tiếp xuất bản trong và ngoài nước, Mai Văn Phấn chọn nhịp bước chậm lại và rẽ sang phê bình với tập Không gian khác (2016) và mới đây nhất, là Nhịp điệu vẽ lối đi (2024).

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2023

Thơ Nguyễn Đức Tùng – “Nơi câu chuyện bắt đầu bằng ngôn ngữ khác”

Lê Hồ Quang


Tháng 3 này, tại Hà Nội, Nguyễn Đức Tùng đã ra mắt cùng lúc hai tác phẩm: tùy bút Thư gửi con trai và tập thơ Buổi sáng.

Hẳn anh đã nhận được sự chào đón nồng hậu của nhiều bạn bè văn nghệ và người đọc.

Thay cho lời chúc mừng, Văn Việt trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài viết của nhà phê bình Lê Hồ Quang: Thơ Nguyễn Đức Tùng – “Nơi câu chuyện bắt đầu bằng ngôn ngữ khác”.

Văn Việt


334908816_2219473591572452_1094011166426802536_n

 

Nếu phải khái quát về thơ của Nguyễn Đức Tùng, tôi sẽ mượn chính thơ ông để diễn tả – đấy là “nơi câu chuyện bắt đầu bằng ngôn ngữ khác”. Tính truyện là một đặc điểm thi pháp nổi bật của thơ Nguyễn Đức Tùng. Bằng thơ và qua thơ, tác giả nhẩn nha kể cho chúng ta nghe những câu chuyện của đời người, những câu chuyện kết đọng trải nghiệm, xa xôi và xưa cũ nhưng sáng nét lạ lùng. Ký ức của cá nhân, của cộng đồng đã được đánh thức bởi những câu chữ chừng như không thể đơn giản, gọn gàng hơn trong Làng quê, Chiến tranh, Ký ức những năm 80, Đêm ngủ trên nền nhà cũ, Hai vầng trăng, Em, Lịch sử làng tôi… Đừng tìm kiếm những cảm giác êm đềm, ngọt ngào theo kiểu thi vị hóa khi đọc những bài viết về tuổi thơ, về mẹ hay quê hương của tác giả này. Đấy là một ký ức không nguyên vẹn, đầy đổ vỡ và luôn găm lại cảm giác đau đớn. Chỉ có điều, cùng thời gian, nó ngưng lại trong cái nhìn phân tích tỉnh táo và lặng lẽ:

Chiến tranh

Người đưa thư

Dựng xe đạp trước nhà

Uống với dì tôi một tách trà

Rồi lặng lẽ cáo lui

Không biết dì tôi không biết chữ

Trong phong bì là giấy báo tử

Câu chuyện được kể theo trật tự tuyến tính mạch lạc. Từ ngữ ngắn gọn và đơn giản, không hề gây khó độc giả. Bài thơ dường như thuần sự kiện, những sự kiện được lược thuật từ góc nhìn của đứa cháu, người chứng kiến và kể chuyện, với sự giản ước tối đa ngôn ngữ biểu cảm. Cái còn lại là một tình huống của đời sống và số phận.

Thơ đã đi qua rất nhiều chặng đường lịch sử. Từ những trữ tình rậm lời của thơ tiền hiện đại đến sự tối tăm và hóc hiểm ngôn ngữ của thơ hiện đại, qua mê cung của thơ hậu hiện đại với bề bộn những “giải thiêng”, “giải đại tự sự”, “giải trung tâm”…, đến lúc nào đó, người ta bỗng cần đến thơ như những câu chuyện bình dị của đời sống con người. Những câu chuyện của Thơ, như Nguyễn Đức Tùng đã làm trong tác phẩm của mình.

Trong thơ Nguyễn Đức Tùng, ký ức là một cõi riêng và dường như bất khả xâm phạm. Đó dường như chỉ là ký ức của cá nhân, khó lòng chia sẻ, được “ghi chép” lại bằng thứ ngôn ngữ tương thích lạ lùng với chính nó. Nhưng cũng bởi vì quá cá nhân và riêng tư nên nó vô tình làm hiển lộ một vùng ký ức khác, hết sức rộng lớn, âm u và dai dẳng, dòng bi ký của lịch sử dân tộc mà con người thuộc về, và có thể hơn thế, của cả lịch sử nhân loại. Sự chồng lấn ấy cho phép quá khứ hiện hữu cùng hiện tại, cùng với hiện tại, nó xác định sự tồn tại có lý do của con người dù anh ta không ngừng phản tư về điều đó. Ký ức được tự do lựa chọn những miền nhớ và biểu hiện theo cách riêng, có khi như một âm thanh, một hình ảnh sống động vụt hiện, có khi như một cảnh tượng vô cùng mơ hồ, lạ lùng, một tiếng nói thì thào vụn vặt kéo dài:

- Trời tối rồi

Những đứa trẻ bỏ cuộc chơi ra về

Khi nghe mẹ gọi

Một đứa còn ngồi lại

Đếm những hòn bi ăn được

Trước căn nhà vắng lạnh của mình

(Tuổi thơ)

- Khi anh trở về

Người vợ đã chết

Vết máu khô trên ngực

Trong bụi tre cú rúc liên hồi

(Làng quê)

- Một tai nạn khủng khiếp

Chỉ một người sống sót

Kể lại bí mật

(Buổi chiều)

- Khi trong đêm

Một người về gõ cửa

Thấy mùa hè đi qua trên một lưỡi dao…

Không ai biết cuộc chiến tranh của chúng ta

Vừa bắt đầu trên một xứ sở khác

(Ngày của em)

Trong cõi nhớ này, các chiều kích không/ thời gian vừa tiếp nối vừa song hành, vừa tuần tự vừa bất định. Chúng có thể kéo dài miên man đồng thời cũng liên tục thay đổi, tựa như những phiến phong cảnh không ngừng đổi thay khi ta nhìn qua ô cửa toa tàu trên đường xa vạn dặm. Đó là hành trình tâm tưởng, nó không bị (và không thể) găm cứng bởi bất kỳ cái mốc hạn định nào. Nó liên tục vận động, chảy trôi, không ngừng va đập trong những xúc cảm trái ngược, trong nỗi hoài nhớ và cảm giác bất an thường trực (đó là lý do khiến bài thơ đôi khi hơi loãng ý và dài dòng). Tựu trung, đó là ký ức của một cá nhân chưa bao giờ (trong ý thức và có lẽ, trong cả vô thức) lìa xa cội rễ đã sinh thành ra nó – một bối cảnh đầy máu và nước mắt của lịch sử dân tộc và từ trên những vách đá chất ngất đau thương, thù hận, biết nở ra những đọt mầm của hy vọng.

Nếu tính chủ quan được xem như một đặc thù thể loại của thơ trữ tình (theo quan niệm truyền thống và phổ biến) thì ở thơ Nguyễn Đức Tùng, tính khách quan mới là đặc trưng nổi bật. Tính khách quan được thể hiện từ phương diện ngôn ngữ đến cách tái hiện hình tượng, tình huống, sự kiện… Đọc thơ ông, độc giả dễ có cảm giác dường như tác giả tập trung đến việc kể/ tả/ phân tích hơn là việc giãi bày xúc cảm hoặc thổ lộ cái tôi. Sự việc được đẩy lên bề mặt của văn bản với tất cả những đặc điểm, tính chất khách quan, tự nhiên nhất. Tác giả dường như chỉ làm mỗi một việc là trình bày sự việc ra trước độc giả như nó là, không tô vẽ, không thêm bớt. Và ông thực hiện điều này rất đỗi tự nhiên. Hãy lấy một ví dụ, bài Trên đường:

Lái xe trên đường

Đêm tối mù, mưa rơi

Xe đánh ầm một tiếng, giật nẩy lên

Khựng lại, quay nghiêng

Rồi vọt tiếp, đang vội

Chắc chắn tôi đã cán chết người

Nhưng không ai biết. Đêm tối đường

Trơn mưa rơi mù mịt

Tôi định chạy luôn. Nhưng

Nỗi sợ hãi dâng lên. Một điều gì

Chặn ngang ngực. Tôi quay xe lại

Đậu bên kia đường. Bật đèn

Nhấp nháy. Tôi thận trọng run rẩy băng qua đường

Kẻ bị tôi đụng phải

Đang chậm chạp đứng dậy

Nhưng đó không phải là một người.

Bằng thủ pháp hãm chậm, nhà thơ đã kéo giãn khoảnh khắc “Xe đánh ầm một tiếng, giật nẩy lên”, khiến nó trở nên như vô tận. Nhân vật kể chuyện (và cả độc giả) như mê mụ đi trong sương mù cảm giác, đến tận dòng kết mới choàng tỉnh: “Nhưng đó không phải là một người”. Nhìn bề mặt, bài thơ dường như thuần túy thuật truyện, nhiều chi tiết sắc lạnh, “rất Tây” (xin đặc biệt lưu ý cách diễn đạt ở câu cuối). Nhưng sự thật đấy là một diễn trình giải phẫu tâm lý rất nhanh, rất nhà nghề, dứt khoát và rành mạch, thể hiện ngay trong hình thức ngắt nhịp giật cục đầy bất thường của hàng loạt câu thơ. Chỉ một khoảnh khắc mà như vô tận. Và trong khoảnh khắc ấy, con người phải đối mặt với bản chất cố hữu: nỗi sợ hãi, đớn hèn, thói vô trách nhiệm, sự bất lương, tráo trở. Tuy nhiên, cuối cùng, trong tình huống giả định ấy, lương tri con người đã chiến thắng: “Tôi quay xe lại”. Và đã được đáp đền. Nhưng đấy vẫn là một kết thúc để ngỏ. Bởi nếu đó là một người? Cơn ác mộng chưa kết thúc.

Tất nhiên, ấn tượng về sự khách quan “như thực” này chỉ có thể được tạo ra bởi một nhãn quan và kỹ thuật viết độc đáo (mà tôi sẽ nói cụ thể hơn ở phần sau) chứ không đơn thuần là sự sao chép hiện thực. Tính trữ tình trong bài thơ được thể hiện thông qua bức tranh đời sống được mô tả và cùng điều đó, nhà thơ đồng thời trao quyền diễn giải rộng rãi cho người đọc. Ở đây, ta thấy một tư tưởng: chỉ khi đời sống hiện diện như nó là, người ta mới có thể cảm nhận và thấu suốt – một cách trọn vẹn, ngay lập tức – về sức mạnh, vẻ đẹp cũng như giá trị của nó.

Nhưng có phải chỉ đến Nguyễn Đức Tùng mới xuất hiện lối viết này? Không phải. Ngay từ thời Thơ mới, lối trữ tình bằng hình thức kể chuyện đã khá phổ biến trong thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp, TTKH… Thời thơ kháng chiến, ta cũng rất quen với những Núi Đôi (Vũ Cao), Màu tím hoa sim (Hữu Loan), Cuộc chia ly màu đỏ (Nguyễn Mỹ), Hơi ấm ổ rơm (Nguyễn Duy)… Không thể nói những bài thơ này thiếu sự kể, tả sinh động, chân xác. Vấn đề là, ở đây nhu cầu tả thực luôn bị át đi bởi nhu cầu trữ tình, và trữ tình một cách “thiết tha”, “nồng nàn”. Trong thơ Việt Nam đương đại, cũng không thiếu những cây bút trữ tình bằng hình thức tự sự. Lê Văn Ngăn, Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn, Inrasara… có nhiều bài thơ viết theo lối này. Nhưng dường như ngay khi tả thực, thậm chí cực thực, nhiều bài thơ của họ vẫn nhằm hướng đến một cái đích tượng trưng nào đó. Nguyễn Đức Tùng khác hơn: ông muốn sự vật hiện diện trong thơ như là chính nó. Và ông tin sự vật có thể hiện diện như là chính nó. Ông muốn xé toạc tận lõi cái vỏ ẩn dụ trong thói quen tư duy thơ để sự vật trần trần trực sự, không cần bất kỳ một “phụ chú” giãi bày xúc cảm nào. Đây là hướng tìm tòi khá tập trung và ngày càng rõ nét của tác giả này. Trong một liên hệ tự nhiên, tôi nghĩ tới phong cách thơ của một tác giả Mỹ hiện đại mà Nguyễn Đức Tùng đã từng viết rất hay về ông, nhà thơ William Carlos Williams với những bài “thơ đề trên cửa”.

Tuy nhiên, chính khi đi đến tận cùng cái thực, như một nghịch lí, thơ Nguyễn Đức Tùng lại có khả năng gợi ra nhiều chiều suy tưởng, tưởng tượng. Thường được cấu tứ dựa trên một tình huống đời sống cụ thể, bài thơ của ông sẵn sàng phiêu lưu tới những chiều kích liên tưởng mênh mông, không thể kiểm soát. Dẫn ta đi không phải mạch suy lí mạch lạc mà là hình ảnh và cảm giác bất định. Kết thúc bài thơ thường là một hình ảnh lơ lửng, vừa thực vừa hư ảo, hiện lên vào đúng lúc ấy trong tâm trí, theo áp lực vô thức, đánh thức một cảm giác mơ hồ nhưng hữu lí, hoàn toàn bất ngờ so với dự kiến (có thể có) ban đầu.

Sau đây là một ví dụ.

Đêm ngủ trong chùa

Đôi khi con biết mẹ nằm trong đất

Lặng im như hòn đá

Đôi khi con biết không phải thế

Đôi khi con biết mẹ về

Trong chiếc chiếu hoa

Đêm nay ngủ lại trong chùa

Thức suốt đêm đập muỗi

Không con nào chết

Chúng lọt hết qua kẽ tay

Trừ một con

Bay về lúc nửa đêm

Kịp lặng lẽ đẻ trứng xuống

Bể nước đầy cơn mưa cũ

Bài thơ là sự pha trộn giữa kí ức và thực tại. Mơ và thực. Nỗi đau và sự thức tỉnh. Thủ pháp trùng điệp, sự tiết chế tối đa tính từ biểu cảm, cùng những khoảng trắng gián cách văn bản ở phần trên tạo áp lực dồn nén cảm xúc ở đoạn cuối. Sự dồn nén càng trở nên đặc biệt khi chỉ trong hai dòng kết xuất hiện cùng lúc ba tính từ (“lặng lẽ”, “đầy”, “”). Nó làm dậy lên cảm giác mơ hồ, bất an, khắc khoải. Hình ảnh kết thúc bài thơ tô đậm thêm cảm giác hư ảo bởi chính sự tả (cực) thực của nó.

Chúng ta sẽ yêu nhau như thế này chăng? cũng bắt đầu từ một khung cảnh rất cụ thể, từ không gian, thời gian (Ngoài hiên, sau giàn bông giấy, trăng lên); đến hành động con người (Họ ngồi bên nhau suốt buổi chiều; Một người đứng dậy thắp đèn, một người/ Sửa soạn bữa ăn); đến các sự vật (Hai cái muỗng, hai đôi đũa/ Hai ly nước, hai tách trà sữa). Cảnh tượng được mô tả tỉ mỉ, lớp lang như trong một cảnh phim quay chậm, theo những diễn biến hành động của “họ” (tôi lược bỏ một số chi tiết để dễ hình dung hơn tính diễn tiến của câu chuyện): Họ ngồi bên nhau suốt buổi chiều/ Một người đi trước, ra cửa/ Một người theo sau/ Đi chậm rãi/ Ra sân gạch, qua ảng nước/ Họ theo nhau ra tới đường/ Người đi sau/ Vội vươn tay ra/ Người kia/ Vừa chạm tay vào cánh cổng/ Bỗng tuột tay/ Và ngã xuốngTập trung vào các chi tiết nhỏ, với giọng điệu trữ tình trung tính, gần như vô âm sắc, tạo nên khoảng gián cách có chủ ý với đối tượng, tác giả đã làm ngưng đọng bầu khí quyển của hơn 50 năm trước, với hiện thực đời sống dường như chỉ thu gọn trong không gian riêng tư của “ông bà ngoại của tôi”. Được ngưng giữ trong bầu không - thời gian có tính vĩnh viễn, tình yêu con người, biểu lộ qua những cử chỉ quan tâm ân cần, dường như cũng đã trở thành vĩnh viễn.

Khá gần gũi với Bừng ngộ của A. Rimbaud trong cách tái hiện, đan cài cùng lúc nhiều lớp không gian và thời gian của quá khứ và hiện tại, thực tế và ảo tượng, song kết cấu Chúng ta sẽ yêu nhau như thế này chăng? không đứt đoạn quá đột ngột. Sự thực thì nó vẫn tôn trọng trật tự tuyến tính bề mặt trên văn bản. Tuy nhiên, kĩ thuật gián cách và thủ pháp mô tả theo kiểu điện ảnh cũng đồng thời gợi nên những nhận thức, cảm giác trái ngược, đồng thời có tác dụng gợi ra cái mênh mông hư ảo của tình yêu và cuộc đời.

Chọn phương thức trữ tình theo lối tự sự, nhà thơ cũng chọn lựa một giọng điệu riêng, đặc biệt thích hợp để kể những câu chuyện của mình - nhẹ nhõm, từ tốn, bình thản, không cao giọng. Ta hãy đọc Thời gian của một ngày:

Bạn nghĩ một đời bắt đầu từ lúc sinh ra

Đến khi chết. Một ngày bắt đầu từ sáng

Đến khi bạn lên giường, tắt đèn, nằm dưới cơn mưa

Bạn nhớ lại: buổi học đầu tiên, kỳ thi cuối cùng

Nụ hôn ở giữa, cuộc chiến tranh

Những cãi vã, nạn cháy rừng, đứa bé chết trôi mùa lũ

Cuộc khủng bố. Nhưng một ngày không kéo dài cách ấy

Nếu bạn muốn sống nhiều cuộc đời trong một

Không phải chấn thương, khúc quanh, mà chính buổi sáng

Bình yên, ly cà phê quán cóc, thư viết tay, trò chuyện mỗi ngày bên bàn ăn, ngọn đèn bếp ấm, đơn điệu của tình yêu, nhiệm vụ lặp lại

Của tình bạn, tiếng tích tắc đồng hồ, lặp lại, mơ hồ nhớ, hay khắc sâu trong ký ức

Sẽ kéo dài ra cuộc đời bất tận

Như khi người khách lạ, vừa đi vội vã vừa kéo lê va li trên đường

Hoàng hôn xuống, trong rừng, bạn lái xe, trời sắp mưa, bạn phân vân nửa muốn dừng

Nửa muốn không. Và bạn đã dừng lại, và một ngày như thế sẽ dài ra

Ngoài việc tước bỏ tối đa những lời giãi bày cảm xúc trực tiếp của cái tôi hoặc mô tả sự việc theo những diễn biến (như là) khách quan, tác giả thường tập trung vào việc khắc họa tình huống câu chuyện. Các tình huống thường được tạo nên bởi sự bất ngờ của chi tiết đóng vai trò lẫy chốt. Chi tiết này thường nằm ở dòng/ câu cuối, đem lại một nhận thức trái ngược, thậm chí đối lập hoàn toàn với thông báo ta nhận được từ toàn bộ những dòng thơ trước đó. Do vậy, nó tạo nên một kết thúc kịch tính:

Sau chiến tranh

Mỗi khi trời trở gió

Anh thường đau

Ở bắp chân

Không còn ở đó

Câu thơ “bắp chân không còn ở đó” đã được cắt rời để tạo nên sự bùng nổ vào phút chót, lật nhào cái trật tự (tưởng như) bình thường, êm thấm, xuôi chiều trước đó. Đáng chú ý nhất trong bài thơ chính là cái quãng ngắt bất thường ấy. Nó diễn tả thấu triệt nỗi mất mát của con người ngay từ cảm giác về cái trống rỗng hiện diện trong khoảng cách của dòng thơ. Đây thực ra là một kiểu cấu tứ “tân cổ điển”. Kết thúc của bài thơ không trùng với sự kết thúc, khép kín trọn vẹn về nghĩa. Ở những bài thơ dài hơn (về số lượng chữ), chẳng hạn Trong ký ức của chủ tịch xã, Em không muốn về quê, Em… câu kết thúc cũng đóng vai trò như vậy: nó phong kín một cảm giác đau đớn, không thể hóa giải, không thể tan chảy, một nỗi cuồng nộ ẩn sau vẻ bình thản câm lặng.

Rượu vang đỏ thắm là một ví dụ khác:

Khi cuộc cãi vã xảy ra

Cô ném vào mặt anh

Nửa cái bánh pizza

Rồi bước xuống cầu thang

Nửa chừng

Dừng lại

Rất lâu

Vì bỏ quên trên lầu

Cái nút mở chai

Chi tiết cô gái “nửa chừng/ dừng lại/ rất lâu” trên bậc cầu thang sau cơn giận giữ có thể khiến người đọc tò mò. Vì cô hối hận chăng? Vì bối rối và muốn làm lành chăng?... Nhưng hóa ra, lý do đích thực lại là bởi “vì bỏ quên trên lầu/ Cái nút mở chai”. Một nghịch lý hài hước nhẹ nhàng. Ẩn sau đó là một nụ cười. Dẫu vậy, Rượu vang đỏ thắm có lẽ không chỉ là một bài thơ hướng đến mục đích triết lý. Sắc đỏ ấy, bước chân ngập ngừng ấy còn gợi ra một vẻ đẹp dung dị ẩn trong những ấm lạnh đời thường. Kiểu kết thúc ẩn chứa ý vị giễu cợt (đôi khi pha chút mỉa mai) còn hiện diện trong nhiều bài thơ khác: Đi dạo với một nhà văn dưới ánh trăng, Trí thức, Bức tượng…

Dù viết về những đề tài mang tính sử thi như chiến tranh, lịch sử hay về đời sống thế sự, tư cách người quan sát ở ngòi bút này rất rõ. Quan sát để không bỏ qua những chi tiết dù nhỏ nhặt nhưng nhiều khi lại là yếu tố cốt tử tạo nên bản chất đời sống. Quan sát để ghi nhớ, để chứng thực, không phải với tư cách kẻ đứng ngoài vô can mà với tư cách kẻ trong cuộc tỉnh táo, vừa biết nhập cuộc vừa biết đứng tách ra, để nhận thức thực tại một cách rạch ròi, sòng phẳng. Có một sự cứng rắn và kiên quyết, đôi khi mỉa mai ngầm ẩn sau vẻ ngoài lịch lãm, ôn hòa của Nguyễn Đức Tùng. Ông không từ chối mô tả hiện thực lịch sử cụ thể với tất cả sự gai góc, dễ gây xung đột của nó: Chùa trên núi, Sau chuyến nghỉ hè ở New York, Nhịp đập, Ngọn lửa, Những kẻ tra tấn, Trong kí ức của chủ tịch xã, Bây giờ thì bạn đã biết tới, Trong khi chờ Godot, Thăm Trung Hoa, Mùa thu năm 1977, Con mèo, Một điều gì đang xảy ra… Hãy đọc Trong kí ức của chủ tịch xã. Từ điểm nhìn (như là) thuần túy khách quan của nhân vật trữ tình, lịch sử một đất nước đầy bạo lực, chia rẽ, chết chóc đã được tái hiện. Quan sát điểm nhìn này, ta sẽ thấy con người thực chất chỉ là nạn nhân của lịch sử. Nhưng không chỉ thế. Vừa là nạn nhân, họ đồng thời là đao phủ.

Sự mô tả cụ thể và chân xác đối tượng, lột bỏ triệt để những xống áo trữ tình, là yếu tố cốt lõi tạo nên tính khách quan ở những bức tranh đời sống trong thơ Nguyễn Đức Tùng. Những tình huống, chi tiết, hình ảnh được cấu trúc thành một chỉnh thể mà sự liên kết chặt chẽ giữa chúng khiến người ta khó nghĩ tới một hình thức tồn tại khác. Rời ra, chúng chỉ còn là những mảnh vụn vô nghĩa.

Năng lực quan sát tinh nhạy và khả năng khái quát hóa mạnh mẽ từ những điều giản đơn, bình thường, ấy thực sự là sức mạnh của ngòi bút này. Vẫn là cái nhìn quan sát sắc sảo ấy, khi nhà thơ viết/ kể về tình yêu trong Những con rệp:

Ngày thứ hai của tuần trăng mật

Chúng ta ngủ trong một khách sạn rẻ tiền

Những con rệp cắn anh suốt đêm

Bây giờ đây anh nhớ chúng khôn xiết

Khi mỗi lần đi ngang mộ em

Ta có thể nói về nhiều thứ gây ấn tượng ở bài thơ, chẳng hạn, tính tối giản của chi tiết, sự rút ngắn đột ngột trong khoảng cách thời gian, sự tương phản giữa những không gian mô tả… Chúng rất dễ dẫn đến diễn ngôn triết lý quen thuộc về khoảng cách vô tận giữa quá khứ và hiện tại, cuộc sống và cái chết, tình yêu và nỗi đau chia lìa… Nhưng tôi chú ý hơn đến sự đồng nhất khá bất thường giữa bộ ba hình ảnh những con rệp/ khách sạn rẻ tiền/ em (người vợ, đã mất). Hãy thử liên hệ với hình ảnh em trong thơ của Huy Cận, Hàn Mặc Tử… hoặc em trong những câu thơ Nguyên Sa – áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc/ áo nàng xanh anh mến lá sân trường để thấy sự khác biệt. (Dĩ nhiên, cũng có lúc Nguyên Sa có sử dụng hình ảnh suồng sã hơn, chẳng hạn: Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm/ Như con mèo ngái ngủ trên tay anh, nhưng ngay cả khi đó thì cái phẩm tính lãng mạn vẫn tràn trề). Vấn đề không dừng lại ở hình ảnh mà nằm trong quan niệm về tính thơ. Với Nguyễn Đức Tùng, cuộc đời là thế: vừa trần trụi thô bạo vừa ân tình, ân nghĩa, vừa đẹp đẽ cao quý vừa vặt vãnh tủn mủn, vừa nghiêm trang vừa hài hước, vừa có lý vừa phi lý… (ngoài bài Những con rệp nói trên, còn có thể kể đến Thơ tình như một ví dụ tiêu biểu khác). Do đó, tính thơ có thể đến ngay từ trong cái đời thường, cái hài hước, cái thông tục và cái hiện tại. Hoàn toàn không phải một ý niệm tiên nghiệm, khô cứng, nó luôn được mở rộng, được làm mới từ những trải nghiệm sáng tạo khác biệt. Như vậy, sự bất ngờ của tình huống hay sự suồng sã trong các chi tiết kể, tả nói trên, xét đến cùng, là thủ pháp nhằm tạo nên tính thơ theo kiểu Nguyễn Đức Tùng.

Khi ôn tồn âu yếm, lúc châm biếm mỉa mai, khi nhẹ nhõm duyên dáng, lúc đau đớn nghẹn ngào, khi tỉnh táo rành rẽ, lúc phân vân, ngơ ngẩn..., cái phức tạp trong sắc thái giọng điệu cũng tạo nên độ sâu, sức thu hút bí ẩn sau vẻ sáng rõ bề mặt của thơ Nguyễn Đức Tùng. Nhưng ngay cả khi nói đến rất nhiều đau đớn trầm uất, giọng thơ ông chưa bao giờ ngả màu bi lụy, ngược lại, luôn can đảm và đầy sức nặng. Thơ ông nặng trĩu gánh nặng quá khứ nhưng luôn mang tinh thần hướng về hiện tại. Ấy là thơ của một người dường như đã sống trải qua mấy kiếp đời nhưng vẫn giữ vẹn nguyên linh hồn của một đứa trẻ “thức dậy trong anh”. Quê nhà, tình yêu và nỗi đau của ông, cội rễ linh hồn ông, chỉ riêng thuộc về ông, đã được đóng gói nguyên trạng tính từ thời khắc (bị) rời bỏ.

Những câu chuyện thơ của Nguyễn Đức Tùng đẹp một cách mới lạ, độc đáo song vẫn có một cái gì đó rất gần gũi. Nói cách khác, chúng hiện đại một cách cổ điển. Dĩ nhiên, ảnh hưởng của thơ phương Tây ở thơ ông là không thể phủ nhận. Sắc thái “Tây hóa” thể hiện trước hết trong tinh thần tôn trọng tính khách quan của sự vật và cái nhìn giải phẫu đời sống cặn kẽ và giàu lý tính. Đây mới là điều tạo nên cái lạ (và mới, hiểu theo nghĩa là một giá trị) trong tinh thần, tư tưởng thơ của Nguyễn Đức Tùng chứ không phải ở cách sử dụng các vật liệu phương xa như hoa forsythia, trạm xe điện, bill điện thoại, bánh pizza… (Nếu tính về chất liệu thì sự thực là chất liệu truyền thống, do sức mạnh của hồi ức, lại có phần lấn át với số lượng những chiếu hoa, bể nước, bụi tre, thang thuốc bắc, bến đò, đồng tiền kẽm, cuốn Kiều, ngôi chùa…). Dĩ nhiên, cũng cần kể tới những cấu trúc ngôn ngữ khá lạ tai, thậm chí gây cảm giác giống thơ dịch, in đậm dấu ấn kiểu tư duy và diễn đạt của một người từng sống lâu ở nước ngoài. Song, nhìn một cách bao quát, yếu tố quen và lạ, truyền thống và hiện đại, phương Đông và phương Tây dường như vẫn tìm được một sự “hòa giải” và hòa hợp khá tự nhiên trong thơ Nguyễn Đức Tùng. Bên cạnh thơ tự do, thơ văn xuôi, Nguyễn Đức Tùng còn sáng tác theo nhiều thể khác, chẳng hạn lục bát, tứ tuyệt, ngũ ngôn, thất ngôn, trường ca, haiku… Bên cạnh xu hướng nới rộng, kéo dãn dòng thơ, câu thơ theo hướng văn xuôi hóa, ông còn tìm tòi theo hướng ngược lại - cô đúc chữ tới mức cực hạn trên một số văn bản. Điều này cho thấy tinh thần dụng bút khá thoải mái của tác giả. Dường như ông không bị (và nhất định không chịu để bị) chết cứng ở một hình thức/ lối viết (xin nhắc thêm, ngoài sáng tác thơ, Nguyễn Đức Tùng còn là một nhà phê bình sắc sảo và là một tác giả tùy bút tinh tế, tài hoa). Tuy nhiên, riêng ở thơ, tôi nghĩ thơ tự do, thơ văn xuôi mới là mảng bộc lộ sắc nét nhất tinh thần Nguyễn Đức Tùng.

Thơ đến từ đâu? Thơ cần thiết cho ai?... là câu hỏi mà Nguyễn Đức Tùng từng đặt ra cho nhiều người trong những cuốn sách đã xuất bản trước đó. Từ góc nhìn của mình, tôi nhận ra Thơ, với ông, hẳn đã đến từ những câu chuyện của ký ức, rộng lớn và bí ẩn, đôi khi tăm tối bởi những nỗi đau và vết thương rách xé, song luôn được rọi sáng bởi lương tri và tình yêu đối với đời sống và con người, và bởi vậy, nó làm nên căn cốt và sức mạnh tinh thần của hiện tại. Do đó, thơ cần thiết trước hết là cho chính ông – một nghệ sỹ, một trí thức. Nhưng đồng thời, khi đó, thơ cũng trở nên xiết bao cần thiết cho người đọc, những người muốn tìm thơ để làm đầy hơn cảm giác sống và để biết rằng, thơ đôi khi rất giản dị, như chính những câu chuyện của đời sống con người.

Vinh, 20/8/2022

L.H.Q

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2022

Thơ mạng – trường hợp Lê Vĩnh Tài

Lê Hồ Quang

hãy chạm vào phím, bài thơ sẽ tự mở khoá

Thơ tìm thấy một từ và nó sẽ thở

                       (Làm thơ - Lê Vĩnh Tài)

1. Thơ mạng (internet poetry) là loại hình thơ gắn với nền tảng, không gian công nghệ số, đặc thù của nó là sự lai ghép, nói đúng hơn, là sự cộng sinh giữa hai thành tố – thơ và internet. Cuộc hôn phối với công nghệ số và các phương tiện kĩ thuật hiện đại khiến ranh giới ổn định về mặt thể loại của thơ trữ tình truyền thống bị phá vỡ. Không gian công nghệ và môi trường số đòi hỏi một tâm thế và tư duy sáng tạo, tiếp nhận mới, khác (tạm gọi là tâm thế và tư duy mở, động), so với truyền thống (xuất bản/ in trên giấy, có tính đóng, tĩnh). Do đó, với thơ mạng, quan niệm về tác giả, độc giả, nguyên tắc giao tiếp và giá trị tác phẩm…, đương nhiên sẽ giãn nở, thay đổi, thậm chí được tái định nghĩa.

Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

Từ hình ảnh tới biểu tượng

Lê Hồ Quang

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Hàn Mặc Tử

Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá, nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà? [1]

Thứ Sáu, 17 tháng 9, 2021

Trần Dần làm chữ “Trên quả đất mùa”

Lê Hồ Quang

Ngay từ 20 tuổi, khi đặt bút viết Bản tuyên ngôn tượng trưng (1946), Trần Dần đã nói tới nỗi “chán ngắt cái thi ca nông hẹp” [1], và “thói xấu của phần đông người đọc thơ là tìm nghĩa, trước khi tìm cảm giác” [2]. Ông kêu gọi đổi mới thơ bằng ngôn ngữ tượng trưng, “tân kì”, “mang bao ý nghĩa âm u và khác lạ” [3].

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

Người đàn bà ngồi đan – Ý Nhi

Lê Hồ Quang

NGƯỜI ĐÀN BÀ NGỒI ĐAN

Ý Nhi

Giữa chiều lạnh

Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

Vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã

Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời

Vội vã như thể đó là lần sau chót.

 

Không thở dài

không mỉm cười

Chị đang giữ kín đau thương

Hay là hạnh phúc

Lòng chị đang tràn đầy niềm tin

Hay là ngờ vực.

 

Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên

Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt

Hay sau buổi chia ly

Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu

Trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng.

 

Giữa chiều lạnh

Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ

Dưới chân chị

Cuộn len như quả cầu xanh

Đang lăn những vòng chậm rãi. [*]

(1-1984)

Thứ Bảy, 3 tháng 7, 2021

Người về – gương mặt nhìn từ phía khác

Lê Hồ Quang

NGƯỜI VỀ

Hoàng Hưng

Người về từ cõi ấy
Vợ khóc một đêm con lạ một ngày
Người về từ cõi ấy
Bước vào cửa người quen tái mặt
Người về từ cõi ấy
Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy
Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui
Hai năm còn mộng toát mồ hôi
Ba năm còn nhớ một con thạch thùng
Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối
Một hôm có kẻ nhìn trân trối
Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi
Giật mình
             một cái vỗ vai.
[1]

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

“Làm thế nào để đọc một bài thơ” của /theo kiểu Lê Vĩnh Tài…

Lê Hồ Quang

Cách đọc một bài thơ – đó có phải là điều đang làm bạn bối rối? Nếu vậy, bạn sẽ không đơn độc khi đọc bài (thơ) này. Bởi Làm thế nào để đọc một bài thơ… đích thực là bài hướng dẫn sự/ cách đọc thơ. Một sự chỉ dẫn cặn kẽ, lớp lang và đầy thấu hiểu, cảm thông với nỗi bối rối/ rối bời của bạn.

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2021

Viết như một cách chữa thương

(Về Căn nhà giữa những đám mây, Nxb Phụ nữ Việt Nam, 2020, tiểu thuyết của Vũ Thành Sơn)

Lê Hồ Quang

image

 

Căn nhà giữa những đám mây mở đầu bằng việc nhân vật tôi về thăm mẹ ốm nặng. Việc gặp lại người thân và khung cảnh quen thuộc đã khơi dậy trong anh ta vô số hồi ức, kỉ niệm và mối liên hệ về gia đình, bè bạn, tuổi thơ ấu... Nhưng đó chỉ là khởi điểm. Tựa hương vị chiếc bánh madeleine nổi tiếng, chuyến trở về đồng thời đánh thức nỗi ưu tư về thời gian, cái chết, nỗi bất hạnh; sự lỏng lẻo trong các mối quan hệ người; sự phi lí, ngẫu nhiên và bất khả tri của thực tại mà nhân vật đang nếm trải. Với 15 chương, Căn nhà giữa những đám mây (vốn có tên ban đầu gợi hơn là Nhà tôi ở cuối chân trời) là hành trình người kể chuyện không ngừng lục lọi những mảnh vụn kỉ niệm trong kí ức rối rắm, nhằm tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi muôn thuở: Tôi là ai? Ừ, rốt cục thì tôi là ai chứ? Đâu là cái có thể giúp định danh/ xác định về tôi? Là tôi trong quá khứ hay tôi trong hiện tại, hoặc nữa, trong một chiều kích không - thời gian nào đó khác, mới đích thực là chính tôi? Hồi ức và tưởng tượng, mộng và thực, quá khứ và hiện tại, tôi và phi-tôi, tất cả đan cài, xoắn bện vào nhau tạo thành một thế giới trùng phức. Một thế giới ám ảnh bất lực, đổ vỡ, bất an. Ở đó, con người bị đẩy vào dòng xoáy thời gian, bị sinh ra, bị lớn lên và cứ thế, bị cuốn đi mãi, tới đích cuối đợi sẵn – cái chết và hư vô.

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

Trong im lặng diệu kỳ

(Về tập Lịch mùa của Pháp Hoan, 2016, AJAR Press/ Fish Eyes Series)

Lê Hồ Quang

clip_image001

Cảm nhận trong im lặng diệu kỳ” là một ý trong bài Tĩnh tọa của Pháp Hoan và cũng chính là tứ xuyên suốt Lịch mùa – tập thơ đầu tay của tác giả này. Trong tập thơ, “im lặng” trước hết là một trạng thái chủ thể:

Đóng mọi giác quan lại

trong căn phòng bóng tối

đêm xanh hơi thở

sâu lắng, rung động tiếng chuông ngân

Một dòng sông chảy trên một dòng sông

một ý tưởng tràn trên một ý tưởng

… Đóng mọi giác quan lại

Và cảm nhận trong im lặng diệu kỳ

Những chu kỳ của diệt và sinh

Luân chuyển trong mê đồ của thực tại

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

Phan Nhiên Hạo và Chế tạo thơ ca

Lê Hồ Quang

Image result for Phan Nhiên Hạo và Chế tạo thơ ca

Cái tên tập thơ rất khiêu khích: Chế tạo thơ ca [*]. Thơ có thể “chế tạo” được ư? Phan Nhiên Hạo đã chế tạo thơ như thế nào? Đâu là những “kỹ thuật” mà tác giả đã dùng để chế tạo thơ mình? Liệu có thể xem những sản phẩm được chế tạo thuần kỹ thuật là thơ không?

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

Một trò chơi nhiều rủi ro (Về tập "Ba cái lẻ tẻ" – thơ Vũ Thành Sơn)

Lê Hồ Quang

image

Rất khó để thâu tóm Ba cái lẻ tẻ vào một mô hình cấu trúc mạch lạc, như lối đọc duy lý thường hướng tới. Một câu thơ của Vũ Thành Sơn lý giải hộ tôi điều này: “nhưng trí tưởng tượng luôn là một trò chơi nhiều rủi ro”. Nếu hình dung viết như một hành trình của trí tưởng tượng, thì đọc, nhìn từ phía ngược lại, cũng tương tự. Sự tiếp nhận, từ trong bản chất, đã mang sẵn khả thể tự do. Rủi ro trong tiếp nhận, do đó, có thể hiểu theo nghĩa sự đọc tự do tạo nghĩa và hoàn toàn có khả năng tạo nên những diễn giải đa chiều khó kiểm soát, bao gồm cả sự “đọc sai”. Nhưng nhìn từ phía khác, sự đọc - tưởng tượng cũng hứa hẹn những cuộc “phiêu lưu chữ” bất ngờ với những vẻ đẹp đến ngoài dự báo. Tạm thời xếp bỏ lối đọc mô hình hóa, chấp nhận quy ước đọc như một trò chơi tưởng tượng, có lẽ, cũng là một lối đi phù hợp với tinh thần Ba cái lẻ tẻ.

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019

Thơ Vũ Lập Nhật

Lê Hồ Quang

Đọc thơ, tôi thường bắt đầu từ đơn vị bài. So với câu, khổ, tập, ở đơn vị bài, thơ cho thấy tính chỉnh thể trọn vẹn hơn cả. Có thể hình dung đơn vị bài như vị trí bàn đạp để ta lùi lại, soi ngắm kỹ càng hơn các chi tiết, và để tiến tới, trong mục tiêu quan sát tổng thể. Đọc thơ Vũ Lập Nhật, tôi chọn bắt đầu với Bầy cá nhỏ bơi qua sự im lặng. Bài thơ có những đặc điểm đáng chú ý, kích thích hứng thú tiếp nhận, lý giải, và có lẽ, dễ tiếp cận hơn cả trong số những sáng tác đã công bố của tác giả, dẫu vẫn bảo lưu một tinh thần thơ khá khác biệt.

Nhưng trước tiên, hãy đọc nó:

Khi sự im lặng của tôi sinh sôi thành bụi cây dại trong bể nước lọc
             những con cá đã không còn uống nước
không còn những người ăn các vỏ ốc sót lại
             trên những bậc thang dẫn đến tổ trứng
những buổi sáng dài chờ đợi đàn chim đậu trên nước
             tìm ăn những bọt khí của bầy cá không còn ở đó nữa

Khi sự im lặng của tôi hút hết dưỡng khí để trưởng thành
bầy cá nhỏ vẫn lặng lẽ bơi qua sự im lặng đã từng chứa những bầy cá nhỏ khác
sự im lặng của tôi có những cánh tay dài sọc
như nét gạch ngang trong bức tranh đứa trẻ vẽ tượng trưng cho biển
_ ___ __  ___    ____  _   _ ___   __
____  __   ____   _ _  _  _____ __
__  ___     __   ____   ___    ___  _  _
rồi chúng thành đường thẳng duy nhất
mà bất cứ con cá nào bơi qua cũng biến mất

Khi sự im lặng của tôi hấp hối
chúng mới hiểu rằng
từ lâu mình đã bị gọi sai tên.

Gọi sai tên, hiểu theo nghĩa bóng, là sự một định danh, định vị sai/ không chính xác. Điều này vốn không mới. Nhưng ở đây, hình tượng ẩn dụ này (sự im lặng bị gọi sai tên) đã được mô tả trong một cấu trúc tương đối lạ. Ngoài điểm nhìn từ bên trong của đối tượng (cái nhìn của sự im lặng về bản thân nó), còn có điểm nhìn từ bên ngoài, của “tôi” về “sự im lặng của tôi”. Bài thơ được chia thành ba đoạn ngắn, bắt đầu bằng mệnh đề “khi sự im lặng của tôi”:

- Khi sự im lặng của tôi sinh sôi...

- Khi sự im lặng của tôi hút hết dưỡng khí để trưởng thành...

- Khi sự im lặng của tôi hấp hối...

Cái nhìn này tạo nên sự chia tách giữa tôi và “sự im lặng của tôi”, biến “sự im lặng của tôi” (một phương diện tồn tại bên trong “tôi”, thuộc sở hữu của “tôi”), thành một thực thể hiện hữu bên ngoài “tôi”, đối lập với “tôi”. Kỹ thuật này, thật ra, cũng không mới, nhất là trong thơ lãng mạn. Có điều, khi khách thể hóa nội tâm, đối tượng được nói tới trước đây thường là tâm hồn của tôi, tấm lòng của tôi, tình yêu của tôi, niềm thương nỗi nhớ của tôi... Chuyển sự quan tâm từ các đối tượng nói trên sang “sự im lặng” có lẽ không đơn thuần chỉ là sự mở rộng phạm vi đối tượng mô tả. Nó thể hiện một sự thay đổi trong quan niệm thẩm mỹ và cách tiếp cận đối tượng. Thay vì  việc thổ lộ, giãi bày xúc cảm, người viết sẽ chú ý hơn đến việc trình bày quan sát, suy nghĩ. Như thế, sự im lặng, từ thân phận của kẻ bên lề, ngoại vi, “ngoài vùng phủ sóng”, đã chuyển vào vùng trung tâm của sự mô tả, lý giải. Tìm kiếm ý nghĩa hiện hữu của “sự im lặng của tôi”, thực chất là để tìm kiếm ý nghĩa hiện hữu của chính tôi. Vấn đề là, khi cố gắng định danh “sự im lặng của tôi”, chính “tôi” cũng đã thấy tên gọi đó hàm chứa điều bất ổn. Có cái gì đó khập khiễng, không ăn khớp giữa “sự im lặng của của tôi” với chính nó, nhất là khi sự im lặng đã được mô tả như  một diễn trình vận động và thay đổi liên tục (có khi không kém ồn ã), từ “sinh sôi”, “trưởng thành” đến “hấp hối”. Giữa cái tên/ thuật ngữ được dùng để định danh sự vật và chính bản thân sự vật chỉ là một mối quan hệ có tính ngẫu nhiên, đầy tính võ đoán. Dĩ nhiên, vấn đề được nói ở đây không phải chuyện ngôn ngữ. Bản thân thực thể hiện hữu là “tôi” với cái tên/ tính chất/ đặc điểm mà người ta gán vào/ áp đặt/ đóng khung cho tôi, chúng có phải là tôi? Hoặc, ta có thể đặt lại câu hỏi theo cách khác: liệu tôi (như những gì người khác/ và cả chính tôi nghĩ về tôi) có phải là tôi?  (Ở đây, có thể thấy bóng dáng của chủ nghĩa hiện sinh: tôi là tôi khi hiện hữu. Tôi làm ra tôi và bởi vậy, tôi là quá trình hiện sinh, là cái đang là, chứ không phải là cái đã hoàn tất, một khối sự vật bất động ù lì, có thể mặc định trong một vài từ ngữ). Vậy nên, bài thơ có lẽ không chỉ hướng ta nghĩ về sự im lặng. Nó còn khiến ta nghĩ về đời sống của mỗi cá nhân, ở đó, mâu thuẫn giữa nỗ lực định danh và nỗ lực phá bỏ, phủ nhận nó để tìm kiếm bản thể đích thực, dường như là một mâu thuẫn không có hồi kết.

Trong đoạn mở đầu bài thơ, cụm từ “không còn” được lặp lại đến ba lần: “không còn uống nước”, “không còn những người ăn các vỏ ốc”, “bầy cá không còn ở đó nữa”. Hãy chú ý sự nối kết nhập nhằng giữa những hình ảnh, câu chữ. Ta có thể hiểu chủ thể hành động (đã vắng mặt, “không còn ở đó nữa”) là  “bầy cá” hoặc (lần lượt là) “những người” hoặc “đàn chim”. Hoặc cả ba đối tượng này đều đã vắng mặt trong cùng thời điểm nói tới. Sự phá vỡ logic cú pháp này đương nhiên gây nhiễu đọc. Bù lại, nó tạo nên một ảo giác kỳ lạ, như thể chúng ta đang đứng trong không - thời gian lập thể, với sự giao kết, hiện hữu đồng thời của vô số hình ảnh, sự vật, hành động, sự kiện, thời điểm… mà trong không - thời gian thông thường, chỉ có thể xuất hiện theo trật tự thứ bậc hoặc trước sau. Ở đây, “”, “người”, “vỏ ốc”, “bậc thang”, “bọt khí”, “chim”… dính nhập trong một chuỗi thời gian (và ngôn từ) khó lòng phân định rạch ròi, tạo nên cảm giác về chuỗi vận động liên tục, không ngưng nghỉ, không có điểm mở đầu, không có điểm kết thúc. Tất cả song song đồng hiện. Chúng (được khẳng định là) vắng mặt nhưng lại (cùng lúc) có mặt:

Khi sự im lặng của tôi sinh sôi thành bụi cây dại trong bể nước lọc

            những con cá đã không còn uống nước

không còn những người ăn các vỏ ốc sót lại

            trên những bậc thang dẫn đến tổ trứng

những buổi sáng dài chờ đợi đàn chim đậu trên nước

            tìm ăn những bọt khí của bầy cá không còn ở đó nữa

Cụm từ “không còn” chính là để kết nối với với những cái “đã từng”.  Đấy cũng là nơi đã từng (rất ồn ào) nhưng nay (chỉ còn sự im lặng). Sau tất cả, dường như chỉ còn lại im lặng. Nhưng bất chấp sự sinh sôi hay hấp hối của “sự im lặng của tôi”, những con cá nhỏ vẫn bơi. Sự bơi miệt mài (như bản năng vô thức) của chúng là minh chứng cho sự phi lý của đời sống:

bầy cá nhỏ vẫn lặng lẽ bơi qua sự im lặng đã từng chứa những bầy cá nhỏ khác

sự im lặng của tôi có những cánh tay dài sọc

như nét gạch ngang trong bức tranh đứa trẻ vẽ tượng trưng cho biển

_ ___ __  ___    ____  _   _ ___   __

____  __   ____   _ _  _  _____ __

__  ___     __   ____   ___    ___  _  _

rồi chúng thành đường thẳng duy nhất

mà bất cứ con cá nào bơi qua cũng biến mất

Như vậy là, nếu lấy “sự im lặng của tôi” làm trung tâm để khai triển sự đọc, sẽ thấy cấu trúc của bài thơ tương đối mạch lạc. Ta cũng sẽ thấy triết lý về quy luật của sự tồn tại đã được phát biểu dường như khá tường minh. Song nếu đọc kỹ lại, dường như câu đố vẫn còn nguyên ở đó. Ấy là do sự lựa chọn hình tượng trung tâm – Sự im lặng của tôi. Là hình tượng để “nhận diện” sự hiện hữu của sự im lặng và ngược lại, đến lượt chúng, những bầy cá cũng bị sự im lặng nhấn chìm trong bản chất sâu thẳm và vô cùng của nó. Như vậy, “sự im lặng của tôi” phải chăng cũng là một ẩn dụ khác về không/ thời gian vô hạn định, đủ sức nuốt chửng, nhấn chìm tất thảy? Vậy là, chủ đề bài thơ, tưởng chừng đã nắm chắc trong tay, bỗng buột ra, lơ lửng và chìm lặng trong “đường thẳng duy nhất” của sự im lặng.

Nhiều bài thơ của Vũ Lập Nhật thường nói đến từ “nếu”. Bài thơ là một giả định, một ướm thử về một khả năng khác của sự tồn tại. Do đó, thơ Vũ Lập Nhật đặt ra trước người đọc quá nhiều những khả năng khác thường, nhiều khi quá xa so với hiện thực. Và như thế, nó buộc con người, khi đứng trước những khả năng đó, phải đối mặt và nhận ra sự không phải là “tôi” mà là sự ngẫu nhiên, phi lí mới là chủ nhân đích thực của đời sống. Nhận thức về những khả thể song song hiện hữu cùng với phương án con người đã lựa chọn (nghĩa là sự lựa chọn ấy không phải duy nhất, cũng hoàn toàn không phải tối ưu), anh ta khó lòng sống yên ổn. Đấy là khi bi kịch lựa chọn bắt đầu:

Nếu tôi không trên đường đến đó, chắc là tôi đã bị lạc hướng

Nếu tôi không bị lạc hướng, chắc là trong vô thức tôi không muốn đến

Nếu không phải trong vô thức tôi không muốn đến, thì chắc là tôi muốn đến nhưng ý thức không cho phép

Nếu như thật sự tôi không muốn đến và ý thức cho phép, vậy đôi chân đang cứ bước đi này mang một ý nghĩa gì...?

(Mưa/ Chắp ghép)

Thường xuất hiện trong thơ Vũ Lập Nhật là những câu hỏi về sự hiện hữu của “tôi”, chẳng hạn trong Tôi không phải là tôi, Mưa/ Chắp ghép... Đấy ít khi là câu hỏi mang tính thổ lộ cảm xúc mà mang tính suy nghĩ. Chúng chỉ nhằm trình hiện một trạng thái hiện tồn trong đời sống tư duy. Chúng bình thản, luôn cố gắng rành rẽ, mặc dù điều được nói tới – sự hiện hữu có tính bản chất của con người – thực chất là một vấn đề tư biện, càng cố gắng bạch hóa, đích đến càng vô định, mơ hồ:

tôi không phải là tôi

tôi là mũi của tôi

đôi lúc nước

đọng lại và

tôi khó thở

đôi lúc tôi không biết tại sao mình nằm ở đó / trên khuôn mặt này

(Tôi không phải là tôi)

Cái tôi này không ưu tư, nó suy tư. Thực chất, khi nhận ra “tôi không phải là tôi”, tôi không trùng khít với những gì người ta áp vào tôi, nhằm định danh/ tính/ vị tôi, đấy cũng là một phản ứng lý tính mạnh mẽ  tỉnh táo của tôi, nhằm đến gần hơn với bản chất/bản thể mà tôi muốn là.

Thơ Vũ Lập Nhật có sự chi phối mạnh mẽ của một trí tưởng tượng khác thường. Chúng là sự đan dệt của vô số liên tưởng phóng túng, bất ngờ để tạo nên đời sống thơ kiểu mới. Ở đó, những sự thực nghịch dị, lạ thường nhất có thể được mô tả như một điều thường nhật, trong đó, “tôi” quan sát, mô tả, lựa chọn những khả năng và tái hiện lại tất cả chúng bằng thứ ngôn ngữ tương đối sáng tỏ và mạch lạc. Phần lớn nội dung bề mặt các bài thơ đều trình bày theo trật tự kể - tả tuyến tính, chỉ có điều đó là một trật tự tuyến tính trong một con mắt khác, trong một thế giới khác. Bởi vậy, nếu nhìn theo trật tự của thế giới mà ta đang sống, ta sẽ chỉ thấy sự phi lý, khó lòng chấp nhận (Bằng cách nào tôi luôn có đủ nắng, Tái tạo, Nơi ở của sự không tồn tại...) Nhưng ít nhất, điều này cũng nhắc ta nghĩ về những khả năng tồn tại khác của thế giới và của chính chúng ta. Và từ đó, rất có thể ta nhận ra việc nỗ lực tìm kiếm, lý giải về những khả thể tồn tại của tôi/ không phải tôi; thơ/ không phải thơ, sự vật/ không phải sự vật… không chỉ là việc của những kẻ mơ mộng, rỗi hơi, vô công rồi nghề. Ta nhận ra có kẻ đó ở trong ta, trước và sau những giằng xé, bất an lựa chọn và ngay cả khi tưởng chừng đã yên tâm đi đến cùng khả năng lựa chọn. Thơ Vũ Lập Nhật, như thế, bỗng gần ta thêm một chút.

Trong bối cảnh mà một mặt, thơ bị công kênh lên quá cao, bị đặt trên vai quá nhiều những sứ mạng và trọng trách kinh người, mặt khác, mất hết vị trí, bị chế giễu, cười cợt, Vũ Lập Nhật cố gắng nhìn về thơ một cách khách quan. Vũ Lập Nhật thấy rõ sự cần thiết của nó đối với đời sống cá nhân mình, sẵn sàng vì nó mà “biến mất”, nhưng cũng đủ tỉnh táo để không ảo tưởng về “sức mạnh” hay “sứ mệnh” của nó:

một bài thơ nằm ở giữa tôi
một bài thơ nằm ở trên tôi
một bài thơ nằm ở dưới tôi
định hình chiều cao tôi bằng chúng
   định lượng cơ thể tôi bằng chúng
   định tính tâm hồn tôi bằng chúng
   trong căn phòng này, ta tranh giành sự tồn tại
  tôi lớn thì thơ nhỏ
  tôi nhỏ thì thơ lớn
  nên tôi chọn biến mất
  để thơ thành chủ nhân không gian này
  lấp đầy trống rỗng bằng hiện hữu thi tính
  The Poem is Present

(Khoảng cách giữa  những bài thơ)

  Thơ Vũ Lập Nhật được kiến tạo theo theo một lối tư duy bề sâu, với sự kết nối, đan dệt của nhiều lớp ý tưởng, tưởng tượng. Ở đó, cái tôi vừa là kẻ kiến tạo nên thế giới ý tưởng, tưởng tượng, vừa là kẻ đắm chìm trong thế giới của chúng, bị chúng lôi kéo, dẫn dụ, chi phối. Điều này tạo nên một sắc thái thẩm mỹ khá đặc biệt nhưng không phải không hàm chứa nguy cơ. Hướng tới những chủ đề khái quát, triết lý, đôi khi siêu hình, sử dụng lối viết trung tính, khách quan (dĩ nhiên là sự “trung tính” “khách quan” của thơ), giảm thiểu tối đa sự bày tỏ xúc cảm trực tiếp, sử dụng một lối liên tưởng nhanh, bạo, không lệ thuộc vào những chi tiết, hình ảnh kết nối bề mặt, thơ Vũ Lập Nhật sẽ là một món “không ngon chút nào” với phần lớn độc giả.

Nhưng có lẽ đấy là điều đã được lựa chọn. Trong bài thơ Chúc ngon miệng, có thể hình dung như một sự đối thoại với người đọc, ta nhận ra một thông điệp khá tự tin của người viết trẻ này:

Hàn Mặc Tử rất ngon
Trăng rất ngon
Trăng của Hàn Mặc Tử không ngon chút nào
Chúc ngon miệng!


Edgar Allan Poe rất ngon
Con quạ rất ngon
Con quạ của Edgar Allan Poe không ngon chút nào
Chúc ngon miệng!


Murakami Haruki rất ngon
Con mèo rất ngon
Con mèo của Murakami Haruki không ngon chút nào
Chúc ngon miệng!


Franz Kafka rất ngon
Con bọ rất ngon
Con bọ của Franz Kafka không ngon chút nào
Chúc ngon miệng!


Bức tường rất ngon
Thơ rất ngon
Thơ của bức tường không ngon chút nào
Chúc ngon miệng!

                                       Vinh, 24/3/2019

Thứ Hai, 17 tháng 6, 2019

Một nét đẹp cần khai thác thêm khi dạy học thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám

Lê Hồ Quang

1. Nói về thơ Huy Cận, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta có tuổi nào hay buồn hơn tuổi hai mươi. Còn có tuổi nào hay vẩn vơ hơn. Tôi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm” [7;128]. Nhận xét ấy thực chính xác, nó chỉ rõ điểm cốt yếu của tiếng thơ Huy Cận - ấy là tiếng thơ của một con người “trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”[1]. Ta cũng có thể diễn đạt sự “trẻ lắm” ấy theo cách khác, đó là tươi mới trong xúc cảm và hiện đại trong thi pháp. Sự xác lập vị trí nhanh chóng và vững bền của Huy Cận trong phong trào Thơ Mới chắc chắn xuất phát từ chính sự trẻ trung, hiện đại này. Nhưng theo quan sát cá nhân tôi, ở trường phổ thông, khi nói đến thơ Huy Cận ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, cụ thể là trong tậpLửa thiêng, người ta thường quan tâm chú ý và đề cao phần “già” (nỗi sầu nhân thế - vũ trụ, vẻ đẹp cổ điển, tính chất tượng trưng, phổ quát…) hơn là phần “trẻ” (sự mới mẻ, hiện đại, thanh tân)[2]. Điều này càng được nhấn mạnh khi trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, Huy Cận được dạy học cùng (và thường được đặt trong mối liên hệ so sánh, đối chiếu) với Xuân Diệu, người bạn thơ thân thiết của ông, cũng là một tác gia hàng đầu thời Thơ Mới. Đành rằng, việc định danh thơ Huy Cận thời Lửa thiêng bằng các định ngữ như “hàm súc, giàu suy tưởng, triết lý”, “cái tôi cô đơn trước thiên nhiên”, “vẻ đẹp cổ điển”, “họa điệu giữa hồn người và tạo vật”, “lòng yêu nước thầm kín thiết tha”, “sầu nhân thế” [3] là hoàn toàn đúng (và những đặc điểm này thể hiện rất rõ qua Tràng giang, bài thơ được chọn dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành). Nhưng thơ Huy Cận thời kỳ này không chỉ có vậy. Nhiều bài trongLửa thiêng rất tươi mới và giàu xúc cảm cá thể, chỉ có điều chưa đến được với rộng rãi bạn đọc. Điều này khiến nhiều độc giả trẻ trong nhà trường thường có ấn tượng không đầy đủ, nếu không nói là khá phiến diện về thơ Huy Cận. Do đó, họ chủ yếu đọc/ nghĩ về ông như một tác giả thơ tuy giàu triết lý, có vẻ đẹp cổ điển và tao nhã nhưng khá xa cách với tuổi trẻ.