Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Liễu Trương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Liễu Trương. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Truyện Kiệt tác giấu kín của Honoré de Balzac (1799-1850) (1)

 Liễu Trương dịch và giới thiệu

Trong văn học Pháp, ít có tác giả được đồng hóa với tác phẩm của mình như Balzac. Nhắc đến tên ông, người ta nghĩ ngay đến tác phẩm đồ sộ của ông: La Comédie humaine (Trò đời), gồm nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như: Eugénie Grandet, Le père Goriot, Les Illusions perdues, Le lys dans la vallée, v.v.

Balzac ví tác phẩm của ông như một ngôi thánh đường mà ông đã dần dần kiến trúc. Qua các cuốn tiểu thuyết, Balzac chủ yếu vẽ lên xã hội thời của ông và những hiện thực kinh tế thời đó. Trong bộ truyện La Comédie humaine có ba truyện ngắn đặc biệt viết về nghệ thuật và có một tầm quan trọng đáng kể. Cả ba văn bản đều nói lên quan niệm của Balzac về nghệ thuật: Le Chef-d'oeuvre inconnu về hội họa, GambarraMassimilla Doni về âm nhạc.

Trong truyện Le Chef-d'oeuvre inconnu (Kiệt tác giấu kín) sau đây, sự đam mê sáng tạo của Frenhofer đã đẩy thiên tài của nhân vật này đến cái giới hạn tột cùng và làm cho thiên tài bị tiêu diệt. Suốt đời, Frenhofer đã hao tổn nhiều công sức để đi tìm cái Đẹp và ông muốn thực hiện cái không thể có được. Về nghệ thuật, sự quá lạm đưa đến bất lực.

Đọc truyện Kiệt tác giấu kín người ta không khỏi ngạc nhiên trước kiến thức sâu sắc của nhà văn Balzac về hội họa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là dấu hiệu ảnh hưởng của nhà văn Đức Hoffmann. Nhưng ảnh hưởng của Hoffmann không quan trọng bằng những tài liệu mà Balzac đã gom góp để viết truyện này. Ông đã học hỏi với ai về những vấn đề sáng tạo nghệ thuật và về kỹ thuật hội họa? Hẳn ông có đọc sách về mỹ học của Diderot, những bài phê bình nghệ thuật của Théophile Gautier, nhưng theo nhiều nhà nghiên cứu như F. Fosca, Albert Béguin, Marc Eigeldinger, Max Milner, v.v. thì mỹ học của danh họa Delacroix đã ảnh hưởng mạnh đến truyện Kiệt tác giấu kín. Truyện này đã gây tiếng vang trong giới nghệ sĩ, đáng chú ý nhất là truyện báo hiệu quan niệm về mỹ học của Baudelaire, và biểu hiện định mệnh của Cézanne, danh họa này đã tự hóa mình với nhân vật Frenhofer.

 

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Mai Thảo và hành trình đi tìm thời gian đã mất

 Liễu Trương

Mai Thảo, như chúng ta đều biết, là một trong những nhà văn trụ cột của văn học miền Nam. Di cư vào Nam năm 1954, cùng với nhóm Sáng Tạo Mai Thảo chủ trương đoạn tuyệt với quá khứ, lên đường xây dựng một nền văn học mới. Hoài bão lớn lao nhưng chưa rõ ràng, hãy còn “viễn mơ”. Tuy nhiên Mai Thảo bắt đầu thực hiện ý chí đổi mới  cho riêng mình, qua các tác phẩm.

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

Phá Tam Giang, nơi hẹn với tử thần

 Liễu Trương

Thi ca miền Nam thời 54-75 đã hình thành trong một bối cảnh lịch sử mới, với một tâm thức mới, và đã trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Có cả một khoảng cách lớn lao giữa Thơ Mới thời tiền chiến và thơ miền Nam, nhân sinh quan, cách nhìn thế giới, cách nhìn tương lai của hai thời kỳ hoàn toàn khác hẳn nhau. Về tình yêu chẳng hạn, tình yêu trong Thơ Mới là thứ tình yêu ngây thơ, lãng mạn, vô tư, tình yêu trong thơ miền Nam là thứ tình yêu rắn rỏi, biết rõ thân phận mình và tự biết mình ngắn hạn trước lịch sử, trước cái chết. Cho nên thi ca miền Nam một mặt rời bỏ cái quá khứ quá yên bình, thiếu trưởng thành, mặt khác phản kháng chiến tranh gieo bao hiểm họa, đau thương. Đó là về nội dung, về hình thức thi ca miền Nam tuy còn duy trì phần nào các thể thơ truyền thống, nhưng đã hiển nhiên nghiêng về thơ tự do và thơ văn xuôi.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

Thơ Tô Thùy Yên

CHIỀU TRÊN PHÁ TAM GIANG

Bản dịch tiếng Pháp của Liễu Trương

 

1.

 

Chiếc trực thăng bay là mặt nước

Như cơn mộng nhanh.

Phá Tam Giang, phá Tam Giang,

Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát,

Cát hôn mê, nước miệt mài trôi.

Ngó xuống cảm thương người lỡ bước,

Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi.

Phá Tam Giang, phá Tam Giang,

Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ.

Chiều dòn tan, nắng động nứt ran ran.

Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ,

Thơm cả thiết tha đời.

Rào rào trận gió nhám mặt mũi.

Rào rào trận buồn ngây chân tay.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2025

Trần Mộng Tú, một dòng thơ tuôn chảy ngoài quê hương

 Liễu Trương

 

Nhà thơ Trần Mộng Tú

Thơ Trần Mộng Tú là một hiện tượng trên thi đàn hải ngoại, hiện tượng là vì dòng thơ này trải dài suốt 50 năm của nền văn học hải ngoại, không hề ngưng nghỉ; một dòng thơ khi thì thổ lộ tâm tình của một người nữ giàu tình cảm, khi thì hướng về ngoại giới để vui buồn theo mệnh nước nổi trôi.

Ngôn ngữ thơ của Trần Mộng Tú không uyên bác, không cầu kỳ, kiểu cách. Lời thơ của Trần Mộng Tú giản dị, hồn nhiên như thỏ thẻ tâm tình bên tai người đọc, kể lể buồn vui của cuộc đời.

Điều gì đã khiến một người nữ sáng tạo một dòng thơ qua những thử thách cũng như những cái đẹp của cuộc đời trong hơn nửa thế kỷ?

Câu hỏi này đưa chúng ta ngược dòng thời gian, trở về thời thơ ấu của tác giả. Những bài học thuộc lòng trong lớp cho cô bé Trần Mộng Tú cảm thấy cái đẹp của thơ văn, và sự say mê khởi đầu từ đó, rồi càng lớn những bài thơ học thuộc lòng càng nhiều hơn. Xảy ra một sự kiện giúp cô bé đi xa vào thế giới văn chương: Khi đất nước vừa chia đôi, gia đình Trần Mộng Tú di cư vào Nam; trong khi còn ở tạm dưới những căn lều dành cho người di cư, thì hành lý của gia đình bị thất lạc, thay vào đó là một bao tải đầy sách, không rõ của ai. Người sung sướng nhất là cô bé Trần Mộng Tú 11 tuổi, tình cờ được hưởng cả một kho tàng sách. Và cứ thế nỗi say mê văn chương lớn dần với tuổi đời, cho đến một ngày kia cô gái bắt đầu làm thơ. Nguồn sáng tạo đã thành hình.

Sống trong thời chiến, con người dễ gặp nguy cơ, hoạn nạn. Đó là trường hợp của Trần Mộng Tú. Đang tuổi thanh xuân, lòng mơ ước một tương lai tươi đẹp, thì chiến tranh tràn đến, cướp mạng sống của người yêu, người chồng, chấm dứt một cuộc hôn nhân ba tháng. Trần Mộng Tú đau xót, chỉ biết tìm đến chữ nghĩa để than khóc, để nói lên tình yêu và nỗi thương tiếc chồng:

Không bao giờ em quên

đường ba trăm cây số

em đi nhận xác anh

với trái tim thống khổ

 

Không bao giờ em quên

chiếc quan tài màu vàng

lá cờ ba sọc đỏ

anh nằm im lìm đó

chẳng một lời sau cùng.

(Huyệt m)

Em tặng anh hoa hồng

Chôn trong lòng huyệt mới

Em tặng anh áo cưới

Phủ trên nấm mồ xanh

 (Quà tặng trong chiến tranh, 7/1969)

Trần Mộng Tú cho khắc trên mộ chồng, nơi nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi – thời còn nghĩa trang này – bốn câu thơ như sau:

Áo cưới chàng may còn mùi vải

rượu hồng thiếp uống còn cay môi

xa nhau một phút ngàn thu vắng

nỗi buồn này biết làm sao nguôi

Trần Mộng Tú không nhớ đã làm những bài thơ đầu tiên vào lúc nào, nhưng chắc chắn những bài thơ đến với độc giả khởi đầu từ năm 1969, năm xảy ra sự mất mát lớn trong đời.

Kể từ đó, nguồn sáng tạo của Trần Mộng Tú ngày càng dồi dào hơn, phong phú hơn, để ngày nay trở thành một dòng thơ tuôn chảy không ngừng.

I Ba chủ đề trong thơ Trần Mộng Tú

Có thể nói, chiến tranh là điểm xuất phát nguồn thơ của một tâm hồn vốn đã say mê văn chương, và nguồn thơ đó được hình thành, mở rộng quanh ba chủ đề: mất mát, cô đơn trên xứ người và tình yêu muôn thuở.

Những mất mát lớn trong đời

Mất mát tình yêu, hôn nhân, nhưng dư âm của chia ly và nỗi nhớ nhung vẫn còn đó:

Tôi xa người nắng buồn trên vai

Môi tôi mùi thuốc còn thơm hơi

Người xa tôi một dòng sông trắng

Dãy núi bên kia có ngậm ngùi

Tôi xa người như xa quê hương

Những dấu thân yêu mất cuối đường

Người nhặt hộ tôi hoa dĩ vãng

Lau giùm dòng lệ ở vết thương

 

Người xa tôi gió cũng lặng thinh

Tôi rung nỗi nhớ ở quanh mình

Người như suối chảy qua rừng vắng

Cả một dòng sông đứng lại chờ.

(Cả một dòng sông đứng lại chờ)

Bên cạnh mất mát riêng tư, có một mất mát vô cùng lớn lao: mất mát quê hương:

Khi tôi đi một mặt trời vừa rụng

Một kinh thành vừa sụp đổ sau lưng

Một quê hương vừa thở nhịp cuối cùng

Một dân tộc vừa ly khai dân tộc

(Bài thơ viết ở Pendleton, California, 21/4/1975)

Hãy tưởng tượng ra em

ở nơi không định tới

em tủi như chim khuyên

khóc trong lồng son mới

(Hãy tưởng tượng ra em, tháng 7/1975)

Tình hoài hương làm nặng lòng kẻ ra đi:

Mỗi độ xuân về tôi nhớ lắm

những ngày xuân cũ trên quê hương

nhớ người tình cũ, ngôi chùa cũ

hoa mẫu đơn nở đỏ bên tường
(Mẫu đơn)

Quê hương xa

thật là xa

dòng sông

ngọn núi

chỉ là chiêm bao.

(Gió Đông)

Đốm nhang cháy đỏ như quầng mắt

khói có bay về tận cố hương

vườn người, tôi chiết cành xuân thắm

nhớ quê vết cắt trượt xuống hồn.

(Chiết cành)

Trong ký ức của kẻ ra đi, tháng Tư được khắc sâu như một dấu hiệu của mất mát, của chia ly:

Em nằm im lặng nghe đêm thở

Tháng Tư mở đôi mắt trong đêm

Anh ạ, em nghe tháng Tư khóc

Tháng Tư nhỏ những giọt lệ đen

(Đêm Tháng Tư)

Anh ạ, tháng Tư sương mỏng lắm

Sao em nhìn mãi chẳng thấy quê

Hay sương thành lệ tra vào mắt

Mờ khuất trong em mọi no về.

(Vết thương)

Cô đơn trên xứ người

Ngay lúc mới đặt chân đến xứ người đã có những ngỡ ngàng buốt lạnh, khiến tâm hồn cảm thấy lạc lõng:

Khi tôi đến… Ôi! một tôi đổi khác

Áo khăn người nghe lạ tủi trên thân

Chăn chiếu người đắp mãi vẫn lạnh căm

Ly nước ngọt trên môi nghe muối mặn

(Bài thơ viết ở Pendleton, California, 21/4/1975)

Và lạc lõng giữa những người khác chủng tộc:

Hãy tưởng tượng ra em

ở một căn nhà lạ

mình em một ngôn ngữ

mình em một màu da

mình em một màu mắt

mình em một lệ nhoà.

(Hãy tưởng tượng ra em, tháng 7/1975)

Khi cuộc sống đã ổn định trên xứ người, gia đình đầm ấm, vẫn có một nỗi cô đơn ray rứt tâm hồn, không chia sẻ được với ai:

Chúng tôi ở Bellevue

hai người một căn nhà hạnh phúc

hai người cùng chung một đất nước

chỉ có một tôi hay buồn

chỉ có một tôi ôm nỗi nhớ quê hương.

(Cuối năm tự truyện)

đêm đêm

khi ngọn đèn đã tắt

chàng ngủ say cùng những

vị á thánh và những anh hùng

nàng thức dậy

ôm trái tim cô đơn

của người tạm trú

(Cũng có hôm như thế)

Em cô đơn

như một thân cây

còn sót lại sau đám cháy rừng

chung quanh em

những tàn tro lạnh ngắt

(Cháy rừng)

Tình yêu muôn thuở

Trong ngôn ngữ tình yêu của Trần Mộng Tú chỉ có người nữ lên tiếng với người yêu. Nhìn từ phía người nữ thì tình yêu muôn mặt, muôn màu, đủ cung bậc.

Trước hết, tình yêu không bao giờ chết, một trong những bài thơ có tính biểu tượng mang tựa đề: Xuân thơm như mật, nói về người nữ bị chôn vùi dưới tuyết, được người yêu đến gạt tuyết và đưa ra ngoài để cùng nhau hưởng một mùa xuân thần tiên.

Tình yêu không có định nghĩa, hãy cứ yêu, không cần tìm hiểu.

Tình yêu được ví với một chùm nho nguyên vẹn:

Có người nói với em tình yêu giống như một chùm nho

mỗi lần yêu là mỗi lần mất đi một trái…

 

Khi anh đến

anh có mang cho em

một chùm nho mới

một chùm nho chưa mất một trái nào.

(Chùm nho tình yêu)

Tình yêu đắm đuối:

Anh ôm em

bằng nguyên cả vòng tay

cho em nếm

mùa xuân trên môi

nhìn cánh chim bay

trong mắt

ngực anh loang mùi rượu

hoàng hoa

cho em thở hơi xuân chất ngất

(Khu vườn mùa xuân)

Tình yêu vội vàng vì thời gian quá ngắn ngủi:

Hãy yêu nhau ngay bây giờ

đừng đợi ngày mai

vuốt tóc trắng rồi ước gì ta trẻ lại…

Yêu đi anh!

nụ hôn em còn nồng

ly rượu còn đầy

mặt trời còn đó…

(Rượu còn đầy, mặt trời còn đó)

Tình yêu không đem lại thỏa mãn:

Đêm qua trở gối nghe mưa

Tình như chăn hẹp không vừa ấm tôi

Co hoài vẫn hụt một nơi

Tôi kéo vuông chiếu buông rơi đóa sầu

(Mưa Seattle)

Tình yêu mong manh:

Ôi tình yêu như giọt sương buổi sáng

làm sao em giữ được đến buổi chiều

(Thời gian và tình yêu)

Tình yêu đem đến mãn nguyện:

Hồn em giờ rất lạ

Một chiếc bình đầy anh

(Hồn em giờ rất lạ)

Tình yêu không có tuổi:

Anh sẽ đến buổi chiều hay buổi sáng

Ngày hôm nay hay ở thế kỷ sau

Em vẫn đợi vì tình yêu không tuổi

Người yêu ơi! Anh đến tự hướng nào.

(Thời gian và tình yêu)

Tình yêu trong thơ Trần Mộng Tú như những nốt nhạc có đủ cung bậc trong một tấu khúc.

II Những nét đẹp trong thơ Trần Mộng Tú

Thông thường một nhà thơ hướng sự sáng tạo cái đẹp theo mỹ cảm của mình. Trong trường hợp Trần Mộng Tú, mỹ cảm tạo nên hai hình ảnh: hình ảnh một thế giới được thi vị hóa và hình ảnh bất biến của một dòng sông.

Trần Mộng Tú dùng một phương pháp tu từ gọi là nhân cách hóa để thi vị hóa thế giới quanh mình. Theo đó, thiên nhiên, thảo mộc, bốn mùa, đồ vật, v.v. trở nên gần gũi, thân mật với con người:

Cũng có lúc tôi hôn lên vách núi

Đứng lặng yên nghe tiếng núi thầm thì

(Trời cuối năm ở Issaquah)

Biển căng ngực và núi rền tiếng thở

(Sợi tóc)

 

Núi cúi đầu khoanh tay

ngắm đóa sen vừa nở

(Cõi ngoài)

Những chiếc lá cháy xém

cúi nhìn dĩ vãng

(Cháy rừng)

hoa tỷ muội cười

ròn rã trên vai em

mặt trời hồng hôn lên

cả hai bên má

(Khu vườn mùa xuân)

Tuyết đứng ngoài hàng rào

ngó qua khung cửa sổ

có tiếng khúc khích cười

của những thanh củi nhỏ

(Mùa Đông)

Nắng trẻ hơn tuổi em nhiều

chạy đuổi nhau qua triền dốc

Những con ong kêu vang vang

mùa hè cười trong mái tóc

(Mùa Hạ)

Mùa thu đang gõ cửa

Mở đi anh… cánh rừng.

(Thu khúc)

Những đôi giầy ngước mắt nhìn chờ đợi

Thầm thì bảo nhau chắc đến phiên mình

(Chuyện của đôi giầy)

Hình ảnh thứ hai do mỹ cảm của tác giả tạo nên là hình ảnh một dòng sông. Đôi khi tác giả dùng lối ẩn dụ để gợi lên hình ảnh này:

Em hý hoáy làm thơ trên xa lộ

Dòng sông xe ngừng chảy giữa buổi chiều

Em hý hoáy làm thơ trên xa lộ

Dòng sông xe đọng lại giữa hoàng hôn

(Thơ trên xa lộ)

Đọc thơ Trần Mộng Tú ta thường thấy lấp lánh một dòng sông:

Khi tôi đi cả dòng sông đứng lặng

Những vai cầu khuỵu xuống buổi tiễn đưa

(Bài thơ viết ở Pendleton, California, 21/4/1975)

Con sông chẩy cả một thuyền quá khứ

Trong mắt em ngơ ngác đám lục bình

(Ngọn nến muộn màng)

Em ngước mặt uống ngụm trăng thơm ngát

Dòng sông đêm bên dưới vỗ chân quen

Anh cúi xuống uống giọt sương trong mắt

Đất rùng mình chim đập cánh bay lên

(Sông đêm)

Tháng sáu mở ra một nhánh sông

Con trăng mùa Hạ chìm dưới đáy

Em thả xuống nước cọng cỏ xanh

Dòng sông trăm năm chỉ là mộng…

 

Tháng sáu duỗi mình vào mùa Hạ

Gió thổi hoa lau bay mang mang

Anh theo dòng sông trôi với tình

Em đứng giữa bờ trăng ngơ ngác

(Trăng và tháng Sáu)

Người như suối chảy qua rừng vắng

Cả một dòng sông đứng lại chờ.

(Cả một dòng sông đứng lại chờ)

Tôi ở nơi này cách Việt Nam gần mười ngàn dặm

sao đứng trước cửa nhà vẫn thấy quê hương

thấy trăm con sông nhỏ

sông Nhuệ, sông Cầu, sông Thương, sông Đáy

sông Cửu Long, sông Hậu, sông Tiền

những con sông dài, ngắn, nông, sâu

những con sông xanh biếc

nước đã đổi sang mầu

nước ô nhiễm như lòng người ô nhiễm

(Cuối năm tự truyện)

Ngần ấy con sông cũng đủ nói lên mỹ cảm của nhà thơ Trần Mộng Tú. Nhưng sao lại là dòng sông và tại sao hình ảnh đó lại dai dẳng đến thế và trở nên một ám ảnh?

Nếu giải thích theo phân tâm học thì đây là việc làm của vô thức. Freud cho biết con người không có chủ quyền mà chính vô thức điều khiển tất cả. Vô thức hướng tâm hồn của nhà thơ về hình ảnh một con sông. Vậy hình ảnh con sông ngự trị trong thơ Trần Mộng Tú hẳn phải có nhiều ý nghĩa.

Gaston Bachelard (1884-1962), nhà triết học Pháp về khoa học, đã từng nghiên cứu tương quan giữa trí tưởng tượng vật chất của con người với những yếu tố trong thiên nhiên như: nước, lửa, đất, không khí, để phân loại các trí tưởng tượng. Thơ Trần Mộng Tú nói về dòng sông tức nói về nước, và theo Bachelard, nước biểu hiện cho người nữ: vậy thơ Trần Mộng Tú là tiếng nói của người nữ và là một tiếng nói đầy nữ tính.

Nước trong thơ Trần Mộng Tú, ngoài nước của dòng sông, còn có nước mưa, mưa nhiều trong cảm xúc của nhà thơ, và nước mắt vì người nữ này rất giàu nước mắt.

Một ý nghĩa khác của dòng sông: dòng sông có giá trị biểu tượng cho thời gian, nước sông trôi đi như thời gian trôi qua. Trong thơ Trần Mộng Tú có nhiều khắc khoải về thời gian, về tuổi già.

Cuối cùng, chúng ta có thể cùng Trần Mộng Tú ca ngợi cái đẹp của thơ qua ống kính vạn hoa:

Chỉ có thơ là ống kính vạn hoa

ta lắc soi từ thời thơ dại

cho đến tuổi già

vẫn vạn hoa còn đó

trong cái không mầu chứa cả muôn mầu

trong vô ngôn vẽ ra ngàn cảnh giới

(Nỗi không)

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2025

Lê Thị Thấm Vân đi về Xứ Nắng

 Liễu Trương

 

Có những độc giả vốn có sẵn một quan niệm về cái đẹp trong văn chương, nên dễ dàng giữ khoảng cách với những tác phẩm của Lê Thị Thấm Vân, vì tác giả này là một cây bút nữ viết về tình dục rất bạo, khiến người đọc đôi lúc phải cau mày. Thật ra, ở miền Nam trước 1975, cũng đã có những nhà văn nữ đề cập đến vấn đề tình dục như Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, v.v., nhưng họ viết một cách chừng mực, khéo léo, không đi đến cái độ quá bạo như Lê Thị Thấm Vân.

Thứ Bảy, 6 tháng 9, 2025

Nguyễn Mộng Giác viết giữa trời biển mênh mông

Liễu Trương

Vào thời miền Nam (1954-1975), Nguyễn Mộng Giác là một nhà văn trẻ được độc giả biết đến qua những truyện đăng trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức, và đã góp mặt trên văn đàn miền Nam với những tác phẩm như: Nỗi băn khoăn của Kim Dung (tiểu luận, 1972), Bão rớt (tập truyện, 1973), Tiếng chim vườn cũ (truyện dài, 1973), Qua cầu gió bay (truyện dài, 1974), và Đường một chiều (truyện dài) được Giải thưởng của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam 1974.
Ở hải ngoại văn nghiệp của Nguyễn Mộng Giác tiếp tục với những tác phẩm được lần lượt xuất bản như: Ngựa nản chân bon (1984), Những đợt sóng ngầm (1984), Bão nổi (1985), Xuôi dòng (1987), Bèo giạt (1988). Nổi tiếng nhất là hai bộ trường thiên tiểu thuyết: Mùa biển động (1986) và Sông Côn mùa lũ (1991). Tác phẩm Sông Côn mùa lũ được sáng tác khi tác giả còn ở quê nhà, nhưng lại được xuất bản sau Mùa biển động ở hải ngoại.

Thứ Sáu, 20 tháng 6, 2025

KHU RỪNG LAU của Doãn Quốc Sỹ cuộc hành trình đi tìm tự do

 Liễu Trương

Doãn Quốc Sỹ là một trong những nhà văn hàng đầu của văn học miền Nam. Ông sinh năm 1923, tại tỉnh Hà Đông. Ngay từ thời trẻ ở miền Bắc, ông đã có ý chí tranh đấu cho nền độc lập nước nhà. Và ý chí đó được nuôi dưỡng bằng văn hóa dân tộc, bằng những hoạt động kháng chiến mà tuổi trẻ của ông lúc bấy giờ chưa thấy rõ đâu là con đường của chính nghĩa, nên bị lầm đường, chỉ sau một thời gian mới đổi hướng. Doãn Quốc Sỹ hồi cư năm 1951. Sau này, trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Ngu Í ở Sài Gòn, Doãn Quốc Sỹ nói: Từ chỗ kháng chiến ác liệt nhất, Liên khu Việt Bắc, kháng chiến, tôi kháng chiến hết mình. Tôi từng là một “anh hùng lao động” của cơ quan tôi. Nhưng đến khi giã từ “Thiên đường đỏ”, thì cũng giã từ quyết liệt, dứt khoát.[1]

Chủ Nhật, 30 tháng 3, 2025

George Orwell: Biến việc viết về chính trị thành một nghệ thuật hoàn toàn

 Liễu Trương

George Orwell, 1943. | Via Wikimedia commons, montage Slate.fr.

George Orwell là nhà báo, nhà phê bình văn học và là nhà văn. Ông là nhân chứng của thời đại ông, trong những thập niên 1930-1940.  Sau Đệ Nhị thế chiến, tiểu thuyết chính trị viễn tưởng 1984 của George Orwell vừa ra mắt độc giả tức thì trở nên một best-seller trên thế giới. Tác phẩm này tạo nên khái niệm Big Brother và làm thức tỉnh những người đang trong cơn mê của một hệ tư tưởng cực quyền.

George Orwell là ai và ông quan niệm vấn đề viết như thế nào?

Thứ Ba, 12 tháng 11, 2024

Một truyện kỳ ảo của Jorge Luis Borges

Jorge Luis Borges

Liễu Trương dịch

Jorge Luis Borges (1899-1986) là một nhà thơ, nhà văn Argentina và là một học giả uyên bác. Những tác phẩm của ông, đặc biệt những biên khảo và truyện ngắn kỳ ảo đã đi vào văn học của thế kỷ 20. Trong các truyện của Borges, ranh giới giữa hư cấu  và hiện thực lắm khi lu mờ.

Năm 1955, Borges giữ chức Giám đốc Thư viện Quốc gia, đồng thời ông là giáo sư Đại học Văn khoa ở Buenos Aires. Borges bị một chứng bệnh di truyền khiến ông dần dần mù mắt và mù hẳn năm 1955.

Giới phê bình văn học chỉ khám phá Borges năm 1950, và đầu những năm 1960 ông được thế giới nhìn nhận là một nhà văn lớn. Borges nhận được nhiều giải thưởng:

Năm 1961: Giải Quốc tế của các Nhà Xuất bản, nhận chung với Samuel Beckett, và Giải Cervantes.

Năm 1979: Giải Ngôn ngữ Pháp của Hàn Lâm Viện Pháp.

Năm 1980: Giải Balzan và Giải Toàn Cầu Cino–Del-Duca.

Sau đây là một truyện kỳ ảo với chủ đề kẻ song trùng được Jorge Luis Borges sáng tác vài năm trước khi ông mất.

Liễu Trương dịch từ bản Pháp ngữ của Jean-Pierre Bernès,

© Maria Kodama Borges, 1993, và Nxb Gallimard, 1993.

Trích từ cuốn Le Double của Nhóm Catherine Couvreur, Alain Fine, Annick Le Guen, Nxb Presses Universitaires de France, 1995.

 

Thứ Sáu, 11 tháng 10, 2024

Kẻ song trùng trong truyện kỳ ảo

Liễu Trương

Kẻ song trùng là một chủ đề độc đáo, phong phú trong văn chương kỳ ảo. Nhưng trước tiên kỳ ảo là gì? Nhiều nhà nghiên cứu ở Pháp đã đưa ra một định nghĩa. Pierre-Georges Castex, trong cuốn Le conte fantastique en France (Truyện kỳ ảo ở Pháp) cho rằng “Đặc điểm của kỳ ảo là một sự xâm nhập hung tợn của điều huyền bí trong khung cảnh của đời sống hiện thực” (tr. 8). Đối với Louis Vax, tác giả cuốn L’art et la Littérature fantastique (Nghệ thuật và Văn chương kỳ ảo), thì “Truyện kỳ ảo… thích cho chúng ta thấy những con người như chúng ta, ở trong cái thế giới hiện thực, thình lình bị đặt trước cái không thể giải thích được” (tr. 5). Còn Roger Caillois định nghĩa kỳ ảo trong cuốn Au cœur du fantastique (Tận trong kỳ ảo) như sau: “Mọi kỳ ảo là sự cắt đứt cái thứ tự được nhìn nhận, là sự đột nhập của cái không thể chấp nhận giữa sự hợp lý hằng ngày không thể biến chất.”

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2024

Dựa lưng nỗi chết – tiểu thuyết của Phan Nhật Nam

Liễu Trương

Trong những năm 1960, ở miền Nam, giữa lúc chiến tranh lan tràn khắp nơi, thình lình xuất hiện bút ký Dấu binh lửa của một tác giả chưa từng nghe nói đến: Phan Nhật Nam. Dấu binh lửa là trải nghiệm của một người lính trẻ đi vào binh nghiệp không vì “đến tuổi đi lính” mà vì lý tưởng, người lính trẻ muốn đem đời mình hiến dâng cho Đất Nước.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2024

Bài thơ “Thế hệ chiến tranh” của Trần Hoài Thư dịch sang Pháp ngữ

Liễu Trương

Ngày  27 tháng 5 năm 2024, nhà văn, nhà thơ Trần Hoài Thư đã vĩnh viễn ra đi trong sự tiếc thương của cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đặc biệt những người tha thiết với văn học miền Nam (1954-1975).

Trần Hoài Thư không chỉ là nhà văn, nhà thơ, mà còn là người trong bao nhiêu năm đã tận lực sưu tầm, gìn giữ vô số tác phẩm của miền Nam.

Chúng tôi xin dịch sang Pháp ngữ sau đây bài thơ Thế hệ chiến tranh của Trần Hoài Thư như một nén hương ghi ơn Người đã có công bảo tồn di sản văn học miền Nam.

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2024

Phỏng vấn TS.LiễuTrương:

“Tôi phải vinh danh quê hương tôi bằng con đường văn học”

Văn Việt thực hiện

Trong dịp giải Văn Việt lần thứ 9, Chủ tịch Hội đồng đã trân trọng trao giải thưởng cho Tiến sĩ Liễu Trương vì những đóng góp của bà cho chuyên mục Nghiên cứu - Phê bình Văn học. Để bạn đọc có thêm hiểu biết về vị Tiến sĩ có phần kín tiếng này, Văn Việt đã đề nghị có một cuộc trao đổi ngắn với bà và may mắn được bà nhận lời.

TS. Liễu Trương - Ảnh: Nhân vật cung cấp

Văn Việt: Trước hết, xin cảm ơn bà đã vui lòng dành thời gian cho cuộc phỏng vấn của chúng tôi.

Được biết, mươi năm trở lại đây, bà đã công bố một số công trình nghiên cứu, một số công trình dịch thuật như Tiếp cận văn học Pháp, Phân tâm học và phê bình văn học, Một cuộc đi chơi đồng quê (Tuyển truyện ngắn của G. D. Maupassant), Kẻ ngoại cuộc (A. Camus), Lưu đày và Vương quốc (A. Camus) ở Việt Nam. Tuy nhiên, với số đông người đọc, Liễu Trương vẫn còn là một cái tên chưa thật sự gần gũi.

Vây, để làm quen, xin bà cho biết ít nhiều về chặng đường dài từ cô giáo dạy Pháp văn ở trường Bùi Thị Xuân (Đà Lạt) đến Tiến sĩ Văn học so sánh của Đại học Sorbonne, Paris.

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2024

Nụ cười của nàng Joconde

Liễu Trương

image

 

Phần đông du khách từ phương xa đến Paris thường tìm đến Viện Bảo tàng Louvre, để xem cho được họa phẩm Nàng Joconde mà danh họa Leonardo da Vinci đã vẽ và sơn dầu trên gỗ vào khoảng những năm 1503-1507. Người mẫu là một phụ nữ ở thành Florence, nước Ý, tên Mona Lisa, còn được gọi là La Gioconda, Pháp gọi: La Joconde. Nụ cười của người mẫu này xưa nay đã thu hút vô số người đến xem.