Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Khắc Khoan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Khắc Khoan. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2018

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 8): Vũ Khắc Khoan

240px-Vu_Khac_KhoanSinh 27 tháng 2 năm 1917 tại Hà Nội, mất 12 tháng 9 năm 1986 tại Minnesota, Hoa Kỳ

Ông sinh tại Hà Nội, theo học trường Bưởi, nhập học trường Y khoa nhưng rồi đổi sang Cao đẳng Canh nông. Ông tốt nghiệp kỹ sư canh nông sau chuyển sang văn học và lịch sử, dạy học ở trường trung học Chu Văn An.

Sau năm 1954 ông di cư vào Nam. Ông đóng góp cho các báo Tự do, Quan điểm rồi chủ nhiệm nguyệt san Vấn đề. Ông là giám đốc kịch nghệ ở Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ ở Sài Gòn.

Ông tỵ nạn sang Mỹ năm 1975, định cư ở Minnesota nơi ông dạy Pháp văn ở đại học Minnesota rồi mất tại đó. Trong thời gian tại Mỹ ông thành lập Hội Phật giáo Việt Nam ở Minnesota.

Tác phẩm

· Thần tháp Rùa (1957)

· Ngộ nhận

· Nhập Thiên thai

· Những người không chịu chết (1972) - kịch nói

· Người đẹp trong tranh

· Trương Chi - truyện ngắn

· Ga xép - kịch nói

· Hậu trường - kịch nói

· Lộng ngôn - kịch nói

· Thằng Cuội ngồi gốc cây đa - kịch nói (1948)

· Thành Cát Tư Hãn - kịch nói (1961)

· Giao thừa - kịch nói (1949)

· Giấc mơ Hương Cảng - tùy bút (1971)

· Đoản văn xa nước (1995)

· Tìm hiểu sân khấu chèo - khảo cứu

· Đọc kinh (1990)

Nguồn: Wikipedia

ĐỌC KINH

Như lai vô sở thuyết

I

1984.

Tuyết rơi từ vào khuya, mặt trời vừa mọc, tuyết đã ngập trắng vườn sau. Tôi đẩy thêm một khúc củi vào lò. Nhìn lửa bốc ngọn, nhớ lại mấy vần thơ cũ đã quên mất cả nguyên văn:

Chàng như mây mùa thu

Thiếp như khói trong lò.

Cao thấp tuy có khác

Một thả cũng tuyệt mù

Đọc lại bài thơ. Rất nhỏ, từng chữ, từng vần. Rất nhỏ, đủ để một mình mình nghe. Cho đến khi lời thơ tan rã, ý thơ nhạt nhòa, cho đến khi trong tôi, về bài thơ, rớt lại chỉ còn một chút buâng khuâng không tên thì tôi lặng thinh đi vào cái buâng khuâng đó. Quanh một chữ Tuyệt mù. Nghĩ đến một cánh chim thoáng trên mặt nước. Bóng chim, nước không lưu giữ. Chim đâu để lại đường bay? Khói mây tan tác. Âm thanh, màu sắc cũng vậy. Cũng vậy, thiếp và chàng. Tất cả, một thả cũng tuyệt mù. Kể cả chữ và lời. Kinh và Kệ.

*

Tôi hiểu tại sao những người lớn của nhân loại từ cổ thảy đều chỉ muốn nín thinh. Khổng Khưu, Lão Đam và Thích Ca Mâu Ni. Trời không nói, ta đâu muốn nói? Ta đâu có thuyết lời nào? Cái ta muốn nói, cái đó, đâu có thể nói được? Cái đó, bất khả thuyết, bất khả tư nghì. Bất khả đạo.

Nói ra là bị kẹt

Nhưng rồi Khổng Khưu vẫn nói, cả đời. Lão Đam thì nói đến 5.000 chữ Đạo đức kinh và Thích Ca Mâu Ni trong suốt 49 năm hoằng pháp, nguyên lời Đại Bát Nhã, đã nói ròng rã tới 22 năm.

Không nói cũng không xong.

*

Nói ra là bị kẹt

Không nói cũng không xong

Hai câu đầu một bài kệ của một thiền sư Việt Nam sống giữa thế kỷ thứ 17, thiền sư Chân Nguyên. Hai câu kệ, một thế đứng chênh vênh giữa hai ngả hữu vô. Nói hay không nói? Chung cuộc, bài kệ đành phải chấm dứt bằng một nét chấm phá lửng lơ:

Vì anh đưa một nét

Đầu núi ánh dương hồng

Tôi duỗi thẳng chân, ngước mắt nhìn nắng sớm xuyên qua miếng băng bám nơi khung cửa, ánh nắng lung linh màu sắc cầu vồng. Tự hỏi nắng sớm đích thực màu gì? Xanh hay đỏ, tím hay vàng, hay là do tất cả màu sắc gặp gỡ mà thành? Nhưng có cuộc gặp gỡ nào kéo dài mãi mãi? Ánh dương đầu núi đâu giữ mãi màu hồng? Cái thế chênh vênh giữa hữu và vô đâu có thể đời đời tồn tại? Cái khó là nhập vào cái thế đó, không thỏa hiệp, mà vươn lên, và vượt qua. Từ cái phức tạp tìm về cái đơn thuần, tìm về cho tới cái khuôn mặt của chính mình khi mình chưa sinh, chưa thành. Ánh dương hồng khi chưa nhô lên khỏi đầu núi. Cái xôn xao nhú lên trong đêm sắp tàn. Cái đó.

Ngoài vườn tuyết rơi trắng và lạnh trong im sựng của trời và đất. Trong lò củi nổ ròn tan, ngọn lửa thấp cao ấm màu hổ phách. Ngoài kia, vắng lặng. Trong tôi… vẫn chưa vắng lặng. Trong tôi, tôi vẫn thấy rằng…chưa ổn. Đẩy thêm củi vào lò. Củi gỗ cây phong phơi nỏ từ vào thu, lửa như bốc ngọn từ lòng gỗ. Mộc trung sinh hỏa. Mộc tận hỏa hoàn diệt. Lửa sinh trong lòng gỗ. Gỗ hết lửa không còn. Lửa không còn, nghĩa là… sao? Lửa sẽ biến thái tuy vẫn tồn tại hay cũng như khói và mây, lửa sẽ trở về, sẽ đi vào lòng cái đó, tuyệt mù?

*

Cái đó, cái mà cho đến hôm nay, chưa một vị thiện-trí-thức, chưa một vị bồ-tát nào mô tả được hình tướng, xác định được thể chất, cái đó có thể giản dị như mưa và nắng hiện hữu rất tự nhiên – mặt trời lại mọc lúc đêm tàn – nhưng cũng lại có thể vô cùng phức tạp, ẩn hiện vô lường, với vô lượng danh hiệu, mỗi danh hiệu là một khía cạnh đặc thù, Chân Tâm, Diệu Tâm, Minh Tâm, Bồ Đề Tâm, Giác Tánh, Chân Như, Phật Tánh, Pháp Giới Tánh, Không Tánh, Như Lai Tạng Tánh, Bát Nhã… cái tột không, cái diệu sắc, cái bất- khả-tư-nghì, cái rốt ráo cuối cùng… riêng với tôi, từ bỏ nước ra đi, những nửa khuya tỉnh giấc, cái đó -chính nó- đôi khi vẫn thấp thoáng trong tôi, hóa trang thành những lời tra vấn trớ trêu, nhưng tại sao ray rứt, lãng đãng quanh tôi, tưởng như dễ dàng nắm bắt, bỗng lại xa vời, nhòa dần, biến hẳn, tuyệt mù. Trong đêm đen mạt pháp, còn lại chỉ là những vết tích mờ mờ ghi lại trong kinh và kệ. Những vết tích như những dấu chỉ đường. Vô lượng nẻo đường, vô lượng phương tiện, tùy theo căn cơ của từng chúng sinh trong vô lượng chúng sinh, tùy theo từng cõi pháp trong hằng-hà-sa-số cõi pháp. Nhưng cứu cánh chỉ là một. Cái đó.

Dõi theo cái đó “có cõi lấy ánh sáng của Phật làm phương tiện nói pháp, có cõi lấy Bồ Tát làm phương tiện nói pháp, có cõi lấy bóng mát cây Bồ Đề làm phương tiện nói pháp, có cõi lấy hư không để nói pháp, có cõi lấy lời và chữ để mà nói pháp…”

Tôi đặt cuốn Duy Ma Cật xuống bên lò sưởi, nhồi thuốc vào tẩu, hít hơi thuốc đầu trong ngày. Hơi thuốc thơm tỏa ấm gian phòng. Bất giác tôi nghĩ đến một mùi hương lạ. Một mùi hương như một phương tiện nói pháp. Mùi hương cõi nước Chúng Hương. Trở lại cuốn kinh: “Qua khỏi 42 số cát sông Hằng cõi Phật, có nước tên là Chúng Hương, đức Phật thị hiện nơi đó là Phật Hương Tích. Mùi hương nước đó so với mùi hương cõi trời, cõi người và các cõi Phật ở 10 phương, nó thơm hơn hết. Đức Phật Hương Tích lấy mùi làm phương tiện để nói pháp. Chúng sinh cõi nước Chúng Hương nghe mùi hương mà ngộ đạo.”

Tôi hít dài một hơi thuốc. Đầy phổi. Hơi thuốc nghe như có pha trộn nhiều mùi hương cũ tôi tưởng đã phai, đã tuyệt mù. Mùi úa hoa ngọc lan, mùi ấm hoa hồng, mùi ngái hoa cau, mùi đạm hoa sói, hoa ngâu, mùi đắng hoa sấu nắng hè tháng sáu, mùi nồng hương đêm dạ lý. Và mùi ngát của nhang.

*

Ráng chiều miền đồi Bắc Việt đổ rộng một nền gạch Bát Tràng. Gốc cau, gốc đại, ngọn cỏ kẽ tường, cánh hoa bèo tím ngát bờ ao, tất cả lóe lên trong nắng muộn, tan vào mùi ngát của khói nhang. Nắng nhạt rồi tắt ngấm. Đất lẫn với trời. Tự bàng bạc sương khói dâng lên, một cõi pháp thành hình, chúng sinh mộc mạc hiền lành chỉ có một phật hiệu để làm phật sự. Vọng ra tự đó – mái chùa cong vát chữ đao, cổng tam quan thềm đá nhẵn lì – không phải là những ngôn từ hiểm trở Lăng-Già, Bát-Nhã, Pháp-Hoa hay Viên-Giác, mà chỉ phật hiệu đó, mà chỉ A-Di-Đà-Phật, Nam-Mô-A-Di-Đà-Phật. Có thế thôi, mỗi chiều ngày xưa Việt Nam. Có thế thôi, nhưng mỗi chiều, bình thản vẫn trở về trên vầng trán hai sương một nắng những bà mẹ Việt Nam. Nén nhang đốt lên, khói nhang vẫn vươn cao và thẳng tắp. Như mây mùa thu, vẫn tuyệt mù. Như đã thuộc nằm lòng con đường trở về nơi đó, nơi mà kinh và kệ từ xưa vẫn hằng hướng tới. Nơi đó, tắt lời. Cõi đó rốt ráo vô ngôn, vắng lặng, lấy hư không mà làm phật sự. Một đóa sen giơ cao, một nụ cười đáp lại. Trong yên lặng. Cõi đó, chân kinh?

*

Cõi đó, chân kinh. Tới được đó, đã có người. Trong số, người ta thường nhắc đến tên vị tổ thứ 28 dòng Thiền Tây Trúc là Bồ Đề Đạt Ma. Nhưng tại sao khi dời triền núi Hi Mã Lạp Sơn khi cập bến Quảng Châu, trong hành trang Người vẫn còn một bộ Lăng Già? Tôi nghĩ rằng vào lúc đó, có thể trong tận cùng tâm thức, đôi khi Người vẫn còn thấy gợn lên 108 lời tra vấn Đại Huệ và chỉ sau 9 năm diện bích nơi thâm sơn Thiếu Thất khi tuyên bố rằng kinh Lăng Già sau 500 năm, sẽ trở thành môn học danh tướng, chỉ tự đó, Người mới dứt khoát với kinh và kệ, Người mới thực sự bước vào cõi đó, chân kinh.

*

Lăng Già là tên một ngọn núi nằm giữa biển Nam, nơi vua Dạ Xoa thỉnh Đức Phật lên thuyết pháp. Núi đó cao vòi vọi nhìn xuống biển sâu, đá dựng thẳng như tường, trơn như mỡ, không có lối đi lên. Phải có phép thần thông, hoặc được Đức Phật sử dụng nội lực vô lượng giúp cho mới có thể tới được. Lời Phật nói pháp truyền xa, rộng và sâu, vọng ra tới vô lượng số cõi Phật, được ghi lại bằng Phạn tự gọi là kinh Lăng Già. Kinh này sau được thiền sư Câu Na Bát Đà La dịch ra chữ Hán và đến thế kỷ thứ 20 thì chuyển sang Việt ngữ. Tự lời tiên tri của Bồ Đề Đạt Ma khoảng tiền bán thế kỷ thứ 6 đến nay, nhiều lần 500 năm đã qua, tôi giật mình tự hỏi cái mà đức Thế Tôn muốn dạy tại đỉnh Lăng Già – cái đó – qua ba chặng đường chuyển ngữ từ Phạn qua Hán đến Việt, không biết có còn rớt lại chút nào trong những trang kinh tôi đọc đêm qua. Hay còn lại chỉ là ngôn từ, chỉ là danh tướng?

*

Nghe tin Bồ Đề Đạt Ma cập bến Quảng Châu, Lương Võ Đế vội thỉnh Người đến kinh đô. Vua hỏi:

- Trẫm chép kinh, xây chùa, độ tăng, đúc chuông, tạc tượng. Có công đức gì không?

Người vắn tắt:

- Không.

Vua lặng thinh một lát. Lại hỏi:

- Đối diện trẫm là ai vậy?

Người rằng:

- Không biết.

Cuộc đối thoại ngắn ngủi: hai lần khẳng định và hai lần phủ định. Có, không. Nhà vua cố chấp. Bồ Đề Đạt Ma động lòng đại bi, mở ra một đường phương tiện. Không. Không công đức. Không có Bồ Đề Đạt Ma. Không có Trẫm. Không có gì hết. Ngay cả cái không tôi vừa đề cập. Hãy hiểu rằng rốt ráo, không cũng lại là không.

Nối nghiệp Lương Võ Đế. Thái tử Chiêu Minh tiến thêm một bước vào sâu vết cũ. Giữa kinh đô, Chiêu Minh dựng một tòa lầu bằng đá gọi là Phân-Kinh-Thạch-Đài, để sưu tầm, tập trung, nghiên cứu, kiểm kê, giải thích, sắp xếp, tàng trữ kinh và kệ. Phật giáo nghiễm nhiên được coi như quốc giáo. Số người xuất gia trong nước tăng lên gấp bội. Kinh sách xếp trên kệ đá Phân kinh càng lúc càng nhiều. Mọi người đua nhau đi tìm kinh lạ. Những bậc trí thức hễ gặp nhau là lập tức thảo luận về thiền. Bán già, Kiết già, Kim cương tọa, Ma tọa, Kiết tường tọa, Tam muội ấn, là những danh từ cửa miệng mọi người. Không những Lăng Già mà hầu như tất cả kinh và kệ lần lần trở thành những môn học danh tướng. Nghĩa kinh phai nhạt. Ý kinh tuyệt mù. Còn lại, chỉ là một mớ ngôn ngữ tạm gọi là kinh và kệ giữa kinh đô, với ngày và tháng qua đi, một vài tảng đá xếp đống tạm gọi là Phân kinh thạch đài. Miệng Phật nín thinh. Đêm mạt pháp bắt đầu.

*

Bất giác mấy câu Duy Ma trở lại trong tôi. Có cõi lấy mộng lấy huyễn... Tôi mở cuốn kinh đọc tiếp, vừa đủ cho một mình nghe rõ. Từng chữ, từng câu. Có cõi lấy mộng, lấy huyễn, lấy vang, lấy bóng, lấy ảnh trong gương, lấy trăng dưới nước, lấy ánh nắng dợn ngoài trời để mà nói pháp. Tôi nhắc lại, như điệp khúc một bản tình ca, tôi nhắc lại ánh nắng dợn ngoài trời. Như một lời niệm Phật. Tôi tưởng đến nắng một chiều thuở đó, nắng dợn trên đá Phân kinh và nắng và đá -tại sao không- bỗng nhiên nói pháp. Với một người. Nguyễn Du.

*

Khoảng đầu thế kỷ 19, nhân một chuyến đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du có dịp đến thăm Phân kinh thạch đài. Bấy giờ – trên 1.000 năm đã qua – đá đài Phân kinh đã mòn. Rêu leo xanh mái, mưa cũ đọng chân tường, cỏ dại lấp lối đi, hoang vu hun hút hành lang vắng lặng. Trời ngả vào chiều. Nắng quái lung linh vách đá. Đâu rồi những vết kinh xưa. Lăng Già, Viên Giác, Bát Nhã, Kim Cương, Kim Cương… Ngã độc Kim Cương thiên biến linh.

Tôi nghe như vầy: một hôm tại nước Xá Vệ, Phật và 1.250 vị Đại tỳ kheo đều ở tịnh xá Kỳ Hoàn, trong vườn của thái tử Kỳ Đà và ông trưởng giả Cấp Cô Độc. Sắp đến giờ ngọ trai, Phật và chúng Tăng đều đắp y, mang bình bát vào thành Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực. Khất thực xong, Phật và chúng tăng đồng về tịnh xá để thọ trai. Sau khi họ trai xong, Phật xếp y, cất bình bát và rửa chân, rồi trải tọa cụ, ngồi yên tịnh. Khi đó, ở trong đại chúng, ông trưởng lão Tu Bồ Đề đứng dậy, vén tay áo bên hữu, gối bên hữu quỳ xuống, chắp tay cung kính và bạch Phật rằng: - Hy hữu thay, đức Thế Tôn! Ngài thường nhớ nghĩ và bảo hộ các vị Bồ Tát. Ngài rất hay khéo dạy bảo các vị Bồ Tát. Bạch Thế Tôn, nếu có người phát tâm Bồ Đề muốn cầu quả Phật, thì:

Làm sao hàng phục vọng tâm?

Làm sao an trụ chân tâm?

Hàng phục vọng tâm, an trụ chân tâm, hai niềm thắc mắc không riêng của ông Tu Bồ Đề, mà của toàn thể đại chúng thuở đó, cuả chúng ta hôm nay, của Nguyễn Du, riêng Nguyễn Du một mình.

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

1.000 lần, hai niềm thắc mắc đó đặt ra. Và biết bao nhiêu lần nữa khi cuốn kinh gấp lại? Đôi khi, từ những ngôn từ tường-đồng-vách- sắt dựng lên trong kinh nghe cũng có vọng ra bên ngoài, lọt vào tâm thức Nguyễn Du một chút gì -như vậy, như vậy- tạm gọi là nghĩa của kinh. Nhưng nghĩa đó chắc đâu đã là ý của người nói kinh? Ý của đức Thế Tôn năm xưa đâu phải chỉ là như vậy, như vậy?

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

Lần thứ 1.000 lẻ một, không có kinh. Chỉ có nắng chiều và đá tảng. Nắng dợn lên đá phân kinh. Và đá và nắng bỗng nhiên hội duyên nói pháp.

*

Thuở đó nơi đây sầm uất lạ thường. Mái lầu cong cánh hoa sen, tiền đình hậu tạ, muôn hồng ngàn tía cỏ lạ hoa thơm, hồ nhân tạo đặt tên là biển Nam Hải, hòn dã sơn mệnh danh là núi Tu Di. Bên trong, phòng ốc nguy nga lộng lẫy ngăn nắp từng khu, mỗi khu một tên, khu Lăng Già, khu Viên Giác, khu Pháp Hoa, khu Bát Nhã, kinh sách không thiếu một bộ, sử liệu ghi từng chi tiết từ đản sinh đức Thế Tôn đến ngày Người nhập Niết Bàn, từ ngày Người truyền y bát cho ông Ma Ha Ca Diếp, từng hành vi, từng lời kệ của từng vị tổ, hành trạng kéo dài tới ngày Bồ Đề Đạt Ma cập bến Quảng Châu.

Thuở đó, xa rồi. Chấm dứt. Giờ đây nắng tắt, đá mòn. Giờ đây chỉ còn một chút chập chờn.

Trong đêm nghe như đã bắt đầu, lời kinh âm u như vọng như chân, nghĩa kinh ẩn ẩn hiện hiện, ánh lửa chài le lói bên sông lạ, ý kinh tuyệt mù trong mộng và huyễn, là bọt nước mặt hồ trong cơn mưa ngâu, sương chiều đọng lại, giọt sương mai tan đi. Vừa kịp thấy đó, chớp mắt không còn, mới nghe vang lên đã chìm vào sâu lặng, hay rồi lại lãng đãng, nhạt nhòe, biết mà nói lên thì bất… khả thuyết. Thấy-nghe-hay-biết chỉ là chập chờn cánh con bướm trắng trên luống cải xanh. Hay chỉ là một niệm khởi lên chập chờn sương khói, Nguyễn Du đã lọt vào một khoảng mù khơi tịch tịnh?

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Bài Phân kinh thạch đài giữa lòng đá vắng lặng không là một thú nhận nỗi bất lực của riêng Nguyễn Du trước những trang Kim Cương.

Bài ký Phân kinh là một thú nhận nỗi bất lực của ngôn từ và văn tự con người khi muốn nắm bắt cái chập chờn “áo chỉ” của cõi vô ngôn đó, bất khả tư nghì.

*

Tôi gắng nhớ lại bài thơ, lõm bõm. Dừng lại ở hai câu:

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Khá lâu. Buâng khuâng nghĩ đến niềm khắc khoải của người xưa tầm đạo. Làm sao hàng phục vọng tâm? Làm sao an trụ chân tâm?

Kim Cương đọc đến ngàn lần

Mà trong mờ ảo như gần như xa

Như gần như xa nhưng vẫn ở đó, câu trả lời vẫn ở đó, tự thuở đó, nơi vườn Kỳ Thọ. Và bây giờ, vượt khỏi ngôn từ và văn tự, giữa Kim Lăng, vọng ra từ kẽ đá phân kinh, mờ mờ ảo ảo, như gần như xa, có mà không, không nhưng có, như mộng như ảo, như bọt nổi trên mặt nước, như chớp biển ngoài khơi, như bóng hình lãng đãng trong gương, như giọt sương đêm đọng lại, như giọt sương mai tan đi trên đầu ngọn cỏ, câu trả lời vẫn ở đó, câu trả lời đến thẳng với Nguyễn Du, trong hoang vu Phân kinh thạch đài.

Này Tu Bồ Đề. Hãy nghe lời đá, lời đá nói rằng:

Nhứt thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ, diệc, như điển

Ưng tác như thị quán

Tất cả, cái gì gọi lên cũng chỉ là tạm gọi. Ngay cả hai chữ Kim Cương. Như Lai nói Kim Cương tức không phải Kim Cương, thế mới gọi là Kim Cương.

*

Phật nói Kinh Kim Cương tại 4 nơi, 16 hội, trong khoảng 22 năm ròng. Lời Phật ghi lại dài tới 600 cuốn, chính danh là "Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh". Tóm tắt thành một cuốn gọi tắt là kinh Kim Cương. Cuốn này cô đọng lại còn 260 chữ mệnh danh là "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh" thường gọi là Tâm Kinh. 260 chữ Tâm Kinh dẫn đến câu thần chú – Yết đế yết đế Ba la yết đế Ba la tăng yết đế Bồ Đề tát bà ha – Và câu thần chú dẫn thẳng vào cõi vô ngôn. Cửa kinh Kim Cương khép kín. Không ai nói pháp Kim Cương. Không ai nghe pháp Kim Cương. Vọng tâm? Chân tâm? Đừng đặt vấn đề. Không có vọng, không có chân. Trong suốt ba đời, không có cả Tâm. Đã tới cõi đó, Ba La Mật Đa. Cõi đó, chân kinh. Cõi đó, im sựng. Như đá, tạm gọi là đá. Phật đâu có thuyết lời nào?

II

Tịnh Liên lão ông với Khoan tôi vốn là chỗ thâm giao, lại là móng vuốt trong chốn thiền môn, mê đọc kinh như lứa tuổi hai mươi mê đọc thư tình, gần đây vì thương cho sự hoang rậm của lòng người xa nước, nên đã dốc lòng đem tất cả cái sở đắc của mình mà viết lời sơ giải mấy bộ Đại Thừa. Viết đến đâu hoằng bá đến đó và đều đều gởi đến Khoan tôi, với lời răn nhủ rằng: Này ông Vũ Khắc Khoan ơi, ông phải bớt đàn đúm với bọn lãng tử để dành thì giờ mà tu tỉnh đọc kinh. Rằng:

- Này Vũ Khắc Khoan, ý ông thế nào? Giả sử có người đem 7 món báu chứa đầy cả đại thiên thế giới mà bố thí thì người đó có nhiều công đức hay không?

Tôi rằng:

- Thì nhiều.

Ông chỉ đợi có thế, tiếp ngay:

- Ấy thế mà còn thua một người chỉ thọ trì 4 câu kệ hay nhẩm thầm một đoạn kinh. Biết không?

Biết rồi… nhưng khốn một nỗi, Khoan tôi căn cơ thô lậu, tâm thức lại hay lưu luyến tiếng tơ tiếng trúc, cho nên chân tuy đĩnh đạc bước thẳng mà vẫn thấy tạt ngang vào nơi ca lâu tửu quán, giọng cất lên muốn bàn câu đạo lý vô tình vẫn họa cùng một điệu với tiếng cười hô hố của đám lãng tử sông hồ. Cũng do vậy mà bao nhiêu kinh sách bạn vàng gởi đến, thảy đều được trịnh trọng xếp lên giá sách, giữ gìn cẩn thận. Thế thôi. Nhưng ngại đọc. Thảng hoặc có miễn cưỡng mở ra thì cũng loáng thoáng mấy trang, cho đến khi khựng lại trước những danh từ dựng lên chất ngất.

Trước mặt, sau lưng, bên tả bên hữu, trên đầu. Như một hàng rào nhọn hoắt. Như một tấm lưới trùng trùng. Tôi choáng váng tìm định nghĩa. Tôi đặt vấn đề. Rút cuộc, cuốn kinh từ giá sách được mở ra trên bàn đọc, lại trở về nguyên vị chỗ cũ, trên giá sách. Miệng Phật lại nín thinh. Khoan tôi lại lầm lũi trở về cái thế giới chữ nghĩa cũ kỹ ngày xưa.

*

Bỗng một hôm tôi bắt gặp chính tôi ngẩn ngơ trước giá sách, đang lần dở mấy trang Lăng Nghiêm. Những trang đầu, những trang kể chuyện ông A Nan ngộ nạn. Chuyện như vầy:

Cách đây khoảng 2.500 năm, có người em họ đức Thế Tôn là ông A Nan, một sáng trước giờ thuyết pháp của đức Thế Tôn, mang bình bát và tâm bình đẳng đi vào từng thôn từng xóm, đến từng nhà để khất thực. Ông gặp một nữ tín đồ ngoại đạo tên là Ma Đăng Già. Người nữ này thấy ông bèn dùng huyễn thuật là thần chú của Ta Tỳ Ca La Tiên Phạm Thiên, hãm ông trong phòng rồi lấy lời dịu ngọt để dụ dỗ ông. A Nan ngộ nạn chấp tay niệm Phật, hướng về đức Thế Tôn cầu cứu. Lúc bấy giờ, Phật động tâm, không kịp thuyết pháp, lập tức trở về Tịnh xá, ngồi vào thế kiết già. Từ nơi đảnh của Phật vụt phóng ra hào quang trăm báu. Trong hào quang xuất hiện sen báu ngàn cánh. Trên hoa sen có đức Hoá Phật ngồi. Trên đảnh đức Hoá Phật lại phóng ra 10 đạo hào quang trăm báu.

Trong mỗi đạo hào quang đều có thị hiện vô số thần Kim Cương đứng khắp hư không. Lời thần chú Lăng Nghiêm lập tức vang lên. Đức Thế Tôn phái ông Văn Thù đem thần chú đó đi cứu nạn A Nan.

A Nan thoát nạn về đến chỗ Phật, cúi đầu kính lạy.

*

Tôi dở tiếp. Lời ông A Nan buồn tủi, ăn năn:

- Bạch đức Thế Tôn, con từ hồi nào đến giờ có lòng ỷ lại. Con thường tự nhủ rằng con là em Phật, được Phật thương yêu, chắc chắn Phật sẽ ban cho thần thông trí huệ đạo quả Bồ Đề nên chỉ lo học rộng nghe nhiều chẳng cần tu niệm. Không ngờ ai tu nấy chứng, mặc dầu con là em Phật, nếu không tu thì cũng bị đọa như ai, chẳng hàng phục được ngoại đạo mà còn bị cái nạn Ma Đăng Già… Cúi xin đức Thế Tôn mở cho con đường phương tiện.

Lời Phật ân cần giảng giải, trong khi quở trách vẫn thương hại vỗ về. Rằng hỡi A Nan, ông tuy là người được tiếng học rộng nghe nhiều nhưng thật tình ông không hiểu chi cả. Và rằng người đời khen ông là bậc đa văn nhưng nếu ông chỉ chứa chất cái học suông và nghe suông đó mà không tu thì dầu ông có nhớ hết nghĩa lý nhiệm màu của 12 bộ kinh, 10 phương chư Phật, nhiều như số cát sông Hằng, cái nhớ đó cũng chẳng lợi chi cho ông cả. Và rồi ra, ông lại sẽ lâm vào những tai nạn khác, tương tự như cái nạn Ma Đăng Già mà thôi.

Lời ông Văn Thù là lời một vị trưởng tràng. Chính ông đã được đức Thế Tôn giao cho phép màu thần chú đi cứu A Nan, lời ông răn dạy nghe có nghiêm nghị, hơn cả lời Phật. Ông rằng: A Nan, tôi đã vâng oai thần của Phật đem thần chú Lăng Nghiêm đến cứu nạn cho ông. Ông vẫn là người được tiếng thấy xa, nghe rộng, hay nhiều, biết lắm. Nhưng ông lười nhác. Ông không có tu. Ông chạy theo cái vọng phân biệt, nên ông dễ bị đọa lạc theo tà. Này ông A Nan, toàn thể cái thấy-nghe-hay-biết của ông đều là hư huyễn. Nếu ông biết đem cái thấy-nghe-hay-biết đó xoay trở lại chính cái chân tánh của mình thì cái trí quang của ông lại hiện ra sáng láng, chân tâm của ông trở lại tịch tịnh, ông sẽ thấy ba cõi sum-la vạn-tượng đều như hoa đốm giữa hư không, tất cả các pháp hiện tiền như việc chiêm bao. Nàng Ma Đăng Già sẽ cũng chỉ là một chúng sinh trong cõi mộng, nàng làm gì nổi ông?

Cuốn Lăng Nghiêm gấp lại, hình ảnh A Nan dấy lên từ lời kinh vẫn còn thấp thoáng trong tôi. Tôi nghĩ đến câu chuyện Ma Đăng Già. Tôi thương ông A Nan bị quở. Tôi không nghĩ sâu vào căn cơ nghiệp dĩ A Nan, tôi chỉ buâng khuâng quanh tâm trạng người em con chú con bác đó của đức Thế Tôn phát tâm xuất gia chỉ vì một nguyên nhân rất giản dị, rất “người”. Đức Thế Tôn rằng:

- Trong giáo pháp của ta, ông ngưỡng mộ cái gì mà phát tâm xuất gia?

Ông A Nan rất hồn nhiên:

- Vì thấy Phật có 32 tướng tốt đẹp lạ thường nên con sinh lòng hâm mộ mà phát tâm xuất gia.

Đêm hôm đó, quá nửa khuya tôi vẫn còn thức. Tôi nghe từng đợt gió ngoài trời vật cành du xuống mái hiên, cuốn Lăng Nghiêm tuy gấp kín nhưng đã từ giá sách tôi vào phòng ngủ, đặt cạnh đầu giường.

Vài ngày sau, tôi gặp lại ông A Nan cầm bát đi xin sữa cho đức Thế Tôn đang mắc bệnh. Tôi dõi theo mấy lời đối thoại giữa ông A Nan và ông Duy Ma Cật.

- Ê A Nan! Làm gì mà mang bát đứng đây sớm thế?

- Đức Thế Tôn hơi có bệnh phải dùng sữa bò, nên tôi đến đây xin sữa.

-Thôi, thôi A Nan. Đừng để cho hàng ngoại đạo nghe thấy những lời phỉ báng đó. Họ sẽ cười vào mặt chúng ta. Họ sẽ rêu rao khắp nơi chốn rằng thế mà cũng đòi làm thầy, bệnh của mình không cứu nổi, lại còn chữa bệnh cho thiên hạ! Ông A Nan ơi, ông nên biết rằng thân Như Lai là thân kim cương, mọi ác đã dứt, toàn thể là lành, còn có bệnh gì, còn phiền não gì? Hãy im lặng mà đi khỏi nơi đây, A Nan!

Ông Duy Ma Cật nói như vậy, ông A Nan còn biết trả lời làm sao? Ông vừa thẹn vừa tủi nhưng vẫn đứng chờ xin sữa. Tất nhiên ông thừa hiểu rằng thị hiện ở cõi Ta Bà đủ 5 món trược đức Thế Tôn phải ứng ra việc bệnh để độ thoát chúng sinh. Nhưng… nói… để làm gì?

Tôi dõi theo hút A Nan. Tôi thấy ông sững sờ giữa pháp hội Am La.

- Bạch đức Thế Tôn, sao nơi đây bỗng nhiên rộng rãi trang nghiêm, bỗng nhiên rực ánh vàng ròng, bỗng nhiên thơm ngát, con chưa từng thấy?

- Bạch đức Thế Tôn, thế ra có thể lấy mùi hương để nói pháp sao?

Pháp hội Am La chấm dứt, tôi vẫn nhìn theo vết chân A Nan đi vào vô lượng ảo hóa của vô lượng cõi pháp, từ pháp hội A Di Đà đến pháp hội Vô Lượng Nghĩa, pháp hội Dược Sư, pháp hội Pháp Hoa…Tôi biết ông đã có mặt giữa phút lâm chung của ông trưởng giả Cấp Cô Độc để nói pháp. Ông trưởng giả này nghe pháp và đã an nhiên nhắm mắt đi vào cõi trời Đâu xuất. Dấu tích cuối cùng A Nan để lại là cuộc đối thoại ngắn ngủi giữa ông và ông Ma Ha Ca Diếp, vị tổ thứ nhất dòng Thiền Thiên Trúc. Ông rằng:

- Ngoài việc truyền y bát, đức Thế Tôn có truyền riêng cho ông pháp gì nữa không?

Tổ Ca Diếp nhìn A Nan trong giây lát, bỗng quát lên:

- A Nan!

- Dạ.

- Cây phướn trước cổng chùa đổ kìa!

A Nan giật mình, tỏ ngộ thiên cơ, được tổ Ca Diếp truyền y bát và ấn chứng cho vào vị tổ thứ nhì. Hành trạng A Nan, với tôi, thế là chấm dứt. Nhưng tôi vẫn ngẩn ngơ. Cuốn Duy Ma Cật, Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, Pháp Hoa, Dược Sư... lần lượt rời giá sách đi vào đời sống giữa khuya của tôi. Và một đêm, gió tắt, tôi quyết định đi vào pháp hội Lăng Nghiêm một mình.

*

Phật dạy tánh của nguyên sơ vốn tịch tịnh, như một niệm khởi lên, lời kinh đan kết như nhện giăng tơ, biển tâm dạt dào nổi gió, mây thức ùn ùn kéo đến như khói sóng cửa thần phù, nghĩa kinh lập tức bày ra chân vọng. Đi vào pháp hội Lăng Nghiêm, tôi nghe choáng váng như bất thần bị vây trong một thế trận mê hồn 10 phương lạ hoắc, 2 cửa tử sinh lạc hướng, lạc hướng cả 7 nẻo đuổi bắt cái Tâm. Trong thân, ngoài thân, ngay trong con mắt, hay ngay chính giữa? Tâm do chỗ hòa hiệp mà thành, do suy nghĩ phân biệt mà ra, do tự nhiên mà có, do nhân duyên mà sinh?

Tâm là gì? Tâm do đâu mà hiện hữu? Tâm ở đâu? Nhạn đã bay qua. Tả, hữu, ngược, xuôi: vắng lặng. Một ánh trăng suông, và bát ngát, một niềm mang mang tịch tịnh.

- Lạy Tổ, con không tìm thấy Tâm.

Tôi gấp lại cuốn Lăng Nghiêm. Nghĩ rằng vậy thì không có gì cả và nhớ đến một lời của lão ông Tịnh Liên:

"Tôi tự biết mình phiền não chất ngất, vô minh dày đặc và đối với ngưỡng cửa những cơn tam muội nhỏ nhoi vẫn lảng vảng đứng xa hàng ngàn dặm. Chỉ được cái hạnh ngộ không biết do một chút căn lành nào lay lắt rớt lại từ kiếp nào, nên thích đọc kinh, đôi khi say mê đọc kinh, và thường hay mơ màng hàng giờ trên những trang kinh xưa…"

Bất giác thấy mình cũng buâng khuâng mơ màng, như lão ông Tịnh Liên.

III

Cuối thu 1985.

Nhìn ra đầu ngõ bắt gặp ánh nắng vàng rực lá cây phong, giật mình nghĩ rằng thế là mùa thu đã qua, đang tàn, rằng tuyết lại sắp tới. Mấy trang viết bỏ dở từ cuối mùa tuyết năm ngoái, bút khởi đi từ "mây mùa thu" và "khói trong lò" ngưng lại nửa vời nơi pháp hội Lăng Nghiêm. Từ đó nhẫn nay, trong tôi dấy lên nhiều vọng tưởng và cũng đã nhiều vọng tưởng bay đi, đã tuyệt mù. Đã tuyệt mù những cõi pháp năm xưa, nghi nghi hoặc hoặc. Nietzsche, Dostoievski, Sartre, Singer lần lượt rút về giá sách. Đầu giường chỉ còn lại kinh và kệ. Nhưng đêm đêm trước những pháp hội mở ra, Khoan tôi vẫn mang tâm trạng một người ngoại cuộc. Thường vẫn lặng thinh, để mặc cho dòng vọng tưởng theo lời kinh dấy lên lôi cuốn, ngây ngây dại dại rõi theo cái trùng trùng đan kết những hình tướng dâng lên muôn hình vạn dạng biến hóa. Đôi khi lời kinh dẫn tôi trở về ngày cũ. Bất giác tôi gặp lại…cái tâm hồn ấu thơ thuở nhỏ, trốn học, “phiêu lưu” dọc 36 phố phường Hà Nội, mỗi hẻm nhỏ là một thế giới riêng tư, mỗi lùm cây là một cõi trời đặc biệt. Những giây phút đó, lâng lâng lời kinh dời hẳn nghĩa kinh, lời kinh kể chuyện cổ tích, rủ tôi đi vào một cơn mộng du hoang vu thăm thẳm, tròng mắt ruổi bắt bạt ngàn thấp thoáng muôn hồng ngàn tía màu sắc cầu vồng loang loáng bong bóng giọt mưa Ngâu, từ những đám mây trời Bắc Việt rơi xuống, từ một nền gạch Bát Tràng dấy lên – ôi, cái ướt át lành lạnh gấu quần thấm nước và chiếc lá bàng đỏ kệch lắt lay đầu ngõ heo hút gió tây – màu sắc chân-kim mây trời Tha-Hoá-Tự-Tại, màu sắc xích-châu mây trời Hoa-Lạc, mây trời Đâu-Xuất màu sương tuyết, mây trời Da-Ma màu lưu ly, mây trời Đao-Lợi màu mã não, mây trời Tứ-Chiều-Vương trong suốt pha lê.

Và tự đó, từ những hình và sắc mây trời vần vụ, bay lên, những mùi hương lạ, những mùi hương đi không chỗ tới, đến không chỗ bắt đầu. Và một mùi hương đặc biệt, mùi hương như một phương tiện nói pháp, mùi hương cõi đó, nước Chúng Hương. Và bất giác tôi như bị hút vào một khoảng không bát ngát 42 số cát sông Hằng cõi Phật. Và những con đường, những dòng sông, những cánh buồm, những cánh chim bay, vô lượng cõi pháp nơi thị hiện vi trần số chư Phật. Từ mênh mông cực đại đến thăm thẳm cực vi, cực đại tùy niệm biến thành cực vi, cực vi biến thành cực đại, a tăng kỳ kiếp tùy niệm thu lại thành một sát na, một sát na tùy niệm trở thành a tăng kỳ kiếp, lời kinh loang ra như một chất men, tôi choáng váng giữa một mê cung dạt dào vọng tưởng, lẫn lộn cả cực đại, cực vi, hiện tại, tương lai và quá khứ.

Đâu là mê, nẻo nào là ngộ?

*

Cứ như vậy, đêm đêm, Pháp hội mở ra – Lăng Nghiêm hay Pháp Hoa, Hoa Nghiêm hoặc Viên Giác, Lăng Già – lời pháp với tôi không nói vọng nói chân, không bàn mê hay ngộ, không nói Thiên đường và Địa ngục, không nói cả Niết bàn. Lời pháp chỉ rủ rỉ kể chuyện ngày xưa, hát nhỏ ca dao, lời pháp ấm như lời bà ngoại ru cháu nhỏ. Tôi thấy cuốn Lăng Già nặng trĩu trên tay, 108 thắc mắc Đại Huệ quay cuồng trong tôi, để trở thành 18 vị La Hán Thiếu Lâm Tự và cho đến khi 18 vị La Hán biến dạng, phương trượng chùa Thiếu Thất bước ra, nội lực phồng tay áo cà sa, vết chân in hằn trên thềm đá tảng, cho đến khi 18 vị La Hán lùi bước trước 108 tên lãng tử sông hồ Lương Sơn Bạc, thì lời pháp mờ dần, lời pháp mất hút, tuyệt mù.

*

Lời ru cháu lẫn vào tiếng gà gáy lẻ ngoài vườn. Bà lim dim cặp mắt, cháu ngủ đã từ lâu. Cả bà lẫn cháu và lời ru, cả 3 nhập một. Tôi lặng lẽ dìu tôi đi vào một cõi, mới dấy lên. Cõi đó, lạ lạ, quen quen. Cõi đó hằng đêm. Cõi đó, riêng tôi. Một mình.

IV

1986.

Lâng lâng trong mù sương nơi ngưỡng cửa pháp hội. Một mình.

Minnesota, tháng 7 – 1986.

Nguồn: So sánh ba văn bản:

Đọc kinh, An Tiêm, Paris, 1989

Đọc Kinh, An Tiêm, Paris, Hoa Kỳ, 1990

Vũ Khắc Khoan, Đoản văn xa nước, An Tiêm, Paris, Hoa Kỳ, 1995

Nguồn bản điện tử:
http://thuykhue.free.fr/stt/v/VKK-DocKinh.html

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2014

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (38): Mơ Hương Cảng

Vũ Khắc Khoan

Để ghi nhớ một chuyến đi, Nguyễn đặt tên con gái là Hương Cảng.

Gọi lên, Hương Cảng gợi đến sóng gió đại dương, boong tàu bềnh bồng và chất men tứ chiếng của những nơi chung đụng tạm bợ nhiều giống người và rất nhiều tâm sự. Hương Cảng lại bằng da, bằng thịt, gọi lên một chiều bức gió, giữa hai tợp rượu ở một xó đất liền, gọi lên để thấy nó sừng sững trước mặt, ngả nghiêng xô lại như bến cập tàu, để rồi ngậm ngùi thấy mình biến thành một con tàu cắm neo ở bến, – Hương Cảng – đặt tên cho con, mà chỉ cần gợi đến trong muôn một cái băn khoăn của mình, chỉ để ý đến sức gợi cảm của một chữ, bất chấp cả ý nghĩa một cái tên, bất chấp cả đến tên thằng con trai sinh trước vốn thuộc bộ Sơn… Nguyễn thật đã đạt tới cái mực tượng trưng của nghệ thuật đặt tên vậy.

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (37): Trương Chi

Vũ Khắc Khoan

Thật ra thì anh Trương Chi không xấu. Cũng không đẹp. Anh Trương Chi cũng như mọi người. Ấy thế mà anh lại mang tiếng là xấu giai… Ông có biết tại làm sao không?

Câu chuyện cũng khá dài. Nếu ông không ngại thức đêm thì Khoan tôi xin kể. Vả lại cũng sắp giao thừa, chắc ông cũng chẳng có việc gì cần kíp… Nếu ở Hà Nội thì chắc ông phải về nhà, nhưng ở đây, ở Hải cảng, thì tốt hơn hết là ông nên ở lại với tôi đêm nay. Ra đường vào giờ này, người ta hay hỏi giấy má.

Vào giờ này, ở Hà Nội, chắc các ông vui lắm nhỉ. Ồ, non mười năm trời xa cách phố phường Hà Nội… Các ông ăn Tết tập đoàn? Lạ nhỉ! Thế ông ở lại chứ? Thế thì tốt quá. Tôi ngại thức đêm một mình, ông ạ, nhất là những thứ đêm loại đêm trừ tịch. Vậy ông đợi tôi một chút.

Thứ Bảy, 4 tháng 10, 2014

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (36): Thành Cát Tư Hãn (3)

VŨ KHẮC KHOAN

THÀNH CÁT TƯ HÃN

HỒI THỨ BA

Hai ngày sau. Vẫn trong lều Thành – Cát – Tư – Hãn. Màn mở lên vào lúc chiều tà. Tên quân hầu hai tay bưng một cái bát đi vào phía rèm châu. Vừa lúc đó…

TIẾNG LÍNH CANH

Cấp báo!

Tên quân hầu giật mình dừng lại.

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (35): Thành Cát Tư Hãn (2)

VŨ KHẮC KHOAN

THÀNH CÁT TƯ HÃN

HỒI THỨ HAI

Ngày hôm sau. Trong lều Thành – Cát – Tư – Hãn. Đồ đạc vẫn nguyên như cũ, thanh kiếm của Cổ – Giã -Trường vẫn đặt trên bàn.

Màn mở lên, gian lều lặng lẽ âm u. Bóng hai người lính canh thấp thoáng ngoài cửa. Một vài tia nắng buồn thiu rớt nơi ngai loáng màu vàng thếp. Ông già Tây – Hạ im lìm một góc, lẫn vào bóng chiều xuống dần. Một lát sau, tấm rèn châu bên phải lay động, tên quân hầu gión gién đi ra.

1. ÔNG GIÀ – QUÂN HẦU – SƠN – CA

ÔNG GIÀ

Này chú… không biết đã sang giờ Dậu chưa? Đại – Hãn đòi lão tới đây từ đầu giờ Thân mà đến mãi bây giờ lão vẫn chưa được gặp.

Tên quân hầu dừng lại nhìn ông già một lát rồi lặng lẽ quay đi. Vừa lúc đó bóng một người xuất hiện giữa cửa lều, đồng thời hai ngọn giáo dựng lên chéo ngang chắn lối.

TIẾNG NGƯỜI LÍNH CANH

Sơn – Ca đợi lệnh.

TÊN QUÂN HẦU

Dõng dạc.

Cho vào!

Hai ngọn giáo mở lối: Sơn – Ca bước vào. Đó là một chàng trai nhỏ tuổi, thân hình gầy guộc, bước đi lềnh khềnh như chiếc nai tơ, trán cao mà móp như chứa nhiều ý nghĩ dị kỳ, mắt nhìn sâu thẳm vào cuộc đời, khóe mắt lúc uất ức, lúc chán chường, cũng lại có khi lóe lên ranh mãnh, miệng cố nhếch mép, tiếng cười tuy muốn hồn nhiên nhưng môi tím lại, nét cười héo hắt mỉa mai. Sơn – Ca không đẹp nhưng không thường. Sơn – Ca tiến vào giữa lều rồi…

SƠN – CA

Chỉ chiếc ngai.

Đâu?

TÊN QUÂN HẦU

Đại – Hãn truyền đợi.

SƠN – CA

Bây giờ là đầu giờ Dậu rồi.

TÊN QUÂN HẦU

Chỉ ông già.

Ông già kia đến trước nhà ngươi mà còn phải đợi đấy.

Đoạn tên quân hầu nghiêm chỉnh đi ra.

ÔNG GIÀ

2. ÔNG GIÀ – SƠN CA

Sơn – Ca…

Lúc bấy giờ Sơn – Ca mới nhận ra ông già.

SƠN – CA

Ồ… lão trượng.

ÔNG GIÀ

Lão cảm ơn nhà ngươi đã cứu lão bữa qua.

SƠN – CA

Thành – Cát – Tư – Hãn không có đây?

ÔNG GIÀ

Lão cũng không biết. Lão đợi đã từ đầu giờ Thân mà vẫn chưa được gặp mặt. (Lẩm bẩm một mình) Không biết tại sao lại gọi hai người một lúc. (Một lát) Sơn – Ca, nhà ngươi định thế nào bây giờ?

SƠN – CA

Định gì, thưa lão trượng?

ÔNG GIÀ

Nhà ngươi có biết tại sao nhà ngươi bị bắt không?

SƠN – CA

Việc gì vậy, lão trượng?

ÔNG GIÀ

Việc quan trọng. Việc sống còn của cả dân tộc.

SƠN – CA

Cười.

Ờ…

ÔNG GIÀ

Tại sao nhà ngươi lại cười?

SƠN – CA

Xin lão trượng thứ lỗi. Văn sinh vốn mắc cái tật hay cười. Nhất là khi được nghe những danh từ quan trọng…

ÔNG GIÀ

Sơn – Ca! Giờ phút này nghiêm trọng…

SƠN – CA

Vậy xin lão trượng nói ngay cho biết, văn sinh đang nóng lòng chờ đợi.

ÔNG GIÀ

Nhà ngươi nên cảm tạ Trời Đất. Nhà ngươi sắp được vinh dự hy sinh…

SƠN – CA

Hy sinh! Hy sinh là một danh từ quan trọng. Thưa lão trượng, hy sinh là cái gì và… cho cái gì?

ÔNG GIÀ

Hy sinh cuộc sống ti tiểu của mình cho một cái gì cao siêu, trường cửu.

SƠN – CA

Thưa lão trượng, cuộc sống không những là ti tiểu, cuộc sống lại còn vô nghĩa nữa, nhất là cuộc sống của kẻ hậu sinh này. Nhưng liệu còn có cái gì cao siêu, vĩ đại và trường cửu ở cuộc đời này…

ÔNG GIÀ

Lịch sử. Quá khứ của cả một khối dân tộc.

SƠN – CA

Lịch sử! Lại một danh từ quan trọng. Thưa lão trượng, theo thiển ý thì… lịch sử là vật sở hữu riêng của những người già. Còn kẻ hậu sinh này, tuổi chưa chớm hai mươi đã làm gì có quá khứ, mà dám lạm bàn đến chuyện lịch sử?

ÔNG GIÀ

Lịch sử là của tất cả mọi người. Ai cũng có quyền làm lịch sử. Lịch sử là của những bậc anh hùng…

SƠN – CA

Của những bậc danh nhân, của những nàng liệt nữ tiết trinh rạng rỡ ngàn thu, đồng ý! Nhưng nhất định không phải của vãn sinh. Vãn sinh vốn không ưa làm danh nhân, tính lại càng ghét anh hùng… (Chợt Sơn – Ca nheo mắt nhìn ông già.) Lão trượng có biết tại sao hôm qua vãn sinh lại xin tha cho lão trượng không? Lão trượng thử đoán xem.

ÔNG GIÀ

Ta nghe. Nhà ngươi cứ nói.

SƠN – CA

Chính bởi vãn sinh biết chắc lão trượng đang mong đợi được chết. Vì… đàng nào chả chết có phải không, lão trượng? Vậy thì mượn một lưỡi đao Mông – Cổ mà chết, đối với lão trượng tuổi hạc đã cao vời, tính kỹ cũng không thiệt mấy… Mà chắc chắn lại chiếm được chỗ ngồi thoải mái trong lịch sử…

ÔNG GIÀ

Nhà ngươi không được ngạo mạn!

SƠN – CA

Sự thật mất lòng. Lão trượng không muốn nghe nữa sao?

Yên lặng.

Cũng vì thế mà vãn sinh đã xin tha cho lão trượng. Vãn sinh chỉ sợ lịch sử lại phải ghi thêm tên tuổi một vị anh hùng, một vị lão anh hùng. (Một lát) Thương thay cho quân Mông – Cổ, tự nhiên lặn lội đến đây, đâm đâm chém chém, để chỉ làm giàu cho lịch sử thiên hạ!

ÔNG GIÀ

Nhà ngươi đã phỉ báng tất cả. Vậy cứ sống như nhà ngươi mới là đáng sống hay sao?

SƠN – CA

Không có cuộc sống nào đáng sống cả. Lỡ sống thì đành chấp nhận cuộc sống. Nhưng phải tìm lấy một cách sống riêng biệt cho mình. Sống anh hùng, sống liệt nữ, cũng là những cách sống. Kẻ hậu sinh này, đâu có ý phỉ báng gì ai?

ÔNG GIÀ

Thế còn cách sống riêng biệt của nhà ngươi thì sao?

SƠN – CA

Tìm mọi cơ hội để chứng tỏ là mình sống, rằng mình làm chủ được cuộc sống của mình. Vãn sinh không có tài bắt chước. Vãn sinh không muốn làm một thứ tượng đất đúc khuôn, dầu là khuôn vàng.

ÔNG GIÀ

Ta chỉ thương hại Cổ – Giã – Trường thật là vô phúc mới có một đứa em như nhà ngươi!

SƠN – CA

À, Cổ – Giã – Trường… người anh gương mẫu của ta! Đó cũng là một thứ khuôn vàng thước ngọc. Đó là một vị anh hùng!

ÔNG GIÀ

Nhà ngươi không được phép nhạo bàng! Cổ – Giã – Trường không còn là anh của nhà ngươi nữa.

SƠN – CA

Thưa lão trượng, vãn sinh đâu có ý tham lam giữ riêng Cổ – Giã – Trường làm của gia bảo? Xin long trọng trao vị anh hùng đó cho lịch sử.

Yên lặng.

ÔNG GIÀ

Bây giờ thì ta cho nhà ngươi biết rõ đầu đuôi câu chuyện. Câu chuyện có liên lạc mật thiết với số phận Cổ – Giã – Trường, số phận của dân tộc Tây – Hạ, số phận của ta, của nhà ngươi.

SƠN – CA

Xin lão trượng hãy để số phận của kẻ hậu sinh này ra ngoài câu chuyện.

ÔNG GIÀ

Không thể được. Dù muốn hay không, nhà ngươi cũng phải dự vào câu chuyện. (Hạ thấp giọng) Thái – tử Tây – Hạ đã đầu hàng Mông – Cổ. Cổ – Giã – Trường đã đâm chết Thái – tử.

Ông già chờ đợi một phản ứng nơi Sơn – Ca. Người trẻ tuổi vẫn bình thản.

SƠN – CA

Vậy có liên can gì đến vãn sinh?

ÔNG GIÀ

Ngập ngừng.

Giả thử như… giả thử nhà ngươi biết nơi sào huyệt của Cổ – Giã – Trường…

SƠN – CA

Lão trượng dài lời vô ích. Tại sao lại còn phải giả thử?

ÔNG GIÀ

Vậy ra…

SƠN – CA

Đúng!

Yên lặng.

ÔNG GIÀ

Sơn – Ca… ta xin nhà ngươi một điều. Thay mặt cho toàn dân, ta viện ra tất cả cái gì mà nhà ngươi còn coi là thiêng liêng ở cuộc đời này…

SƠN – CA

Chẳng hạn?

ÔNG GIÀ

Anh hồn của thân phụ nhà ngươi, bạn cũ của ta…

SƠN – CA

Hãy để cho người chết yên nghỉ.

ÔNG GIÀ

Tổ Quốc…

SƠN – CA

Vua Tây – Hạ, Thái – tử Tây – Hạ?

ÔNG GIÀ

Tình bạn…

SƠN – CA

Ta không có bạn…

ÔNG GIÀ

Tình yêu!

SƠN – CA

Lão trượng biết gì mà nói đến tình yêu? Lão trượng già rồi. (Một lát.) Lão trượng muốn gì?

Trong bóng đêm bắt đầu xuống, một ngọn bạch lạp lập lòe: Dương – Bân xuất hiện, đứng sững ở giữa cửa lều. Nhưng cả Sơn – Ca và ông già đều không trông thấy Dương – Bân.

ÔNG GIÀ

Ta chỉ xin nhà ngươi đừng tiết lộ nơi sao huyệt Cổ – Giã – Trường.

SƠN – CA

Lão trượng không biết đây là một cơ hội may mắn cho ta? Lão trượng đừng nói nữa, việc này là việc riêng của ta.

4. DƯƠNG BÂN – ÔNG GIÀ – SƠN CA

DƯƠNG – BÂN

Tiến vào.

Đó cũng là công việc của ta nữa.

ÔNG GIÀ

Đại tướng Dương – Bân! Trời hại dân Tây – Hạ rồi!

Dương – Bân đặt ngọn bạch lạp xuống bàn, quay lại nhìn hai người.

DƯƠNG – BÂN

Chỉ Sơn – Ca.

Nhà ngươi là Sơn – Ca, em ruột của Cổ – Giã – Trường?

SƠN – CA

Ta là Sơn – Ca. Thế là đủ.

DƯƠNG – BÂN

Ta không muốn phí thì giờ vô ích. Vậy hãy nghe ta hỏi: nhà ngươi biết rõ nơi sào huyệt Cổ – Giã – Trường?

SƠN – CA

Nếu ta trả lời là không biết?

DƯƠNG – BÂN

Đừng láo! Ta vừa nghe chính miệng nhà ngươi nói ra. Chối cãi làm gì, vô ích!

SƠN – CA

Cười.

Vậy thì phải hỏi làm gì nữa? Ta biết.

ÔNG GIÀ

Giọng run lên vì cảm xúc.

Sơn – Ca, nhà ngươi không có quyền tiết lộ…

SƠN – CA

Lão trượng cho là ta không có quyền!

DƯƠNG – BÂN

Nhà ngươi phải nói.

SƠN – CA

Còn nhà ngươi thì lại bắt ta nói. Một đàng thì nào quốc gia, dân tộc, nào là tổ quốc, hy sinh, nào là… quá khứ, lịch sử. Còn một đàng thì gươm sắc, giáo dài! Thật là trên đe dưới búa…

ÔNG GIÀ

Người Tây – Hạ sẽ đời đời nguyền rủa nhà ngươi.

DƯƠNG – BÂN

Ta sẽ lấy đầu nhà ngươi.

SƠN – CA

Ghê quá nhỉ! Ta biết làm sao để vừa lòng cả hai người bây giờ?

ÔNG GIÀ

Nhà ngươi phải chọn.

SƠN – CA

Tất nhiên. Nhưng ta không đầu hàng. (Với Dương – Bân) Ta thấy ở đây có một người thừa. Nói chuyện tay ba tuy vui nhưng không đi đến đâu cả.

ÔNG GIÀ

Ta tiếc rằng không được chết ngay hôm nay.

DƯƠNG – BÂN

Bây giờ mới là đúng lúc, có phải không Sơn – Ca?

SƠN – CA

Ta không có ý kiến.

DƯƠNG – BÂN

Đại – Hãn cho ta toàn quyền hành động.

ÔNG GIÀ

Vậy nhà ngươi còn đợi gì nữa?

Dương – Bân cầm dùi đánh mạnh một tiếng vào chiếc kiểng, ông già bình tĩnh quay lại phía Sơn – Ca.

Nhà ngươi đã mãn nguyện chưa?

SƠN – CA

Chưa. Vì mới xong keo đầu.

5. DƯƠNG BÂN – ÔNG GIÀ – SƠN CA – tên QUÂN HẦU

Tên quân hầu vào. Dương – Bân rút kiếm ném xuống đất, rồi chỉ ông già Tây – Hạ.

TÊN QUÂN HẦU

Tuân lệnh.

ÔNG GIÀ

Với Sơn – Ca.

Ta mong rằng cái chết của ta sẽ cảnh tỉnh nhà ngươi.

SƠN – CA

Một cái chết rất anh hùng. Cầu được ước thấy. Lão trượng thật là tốt số. Xin kính biệt lão trượng.

Tên quân hầu tiến về phía ông già. Ông già đường hoàng đi ra. Một lát sau, ở đằng xa vẳng vào tiếng một hồi trống dồn dập… chấm dứt bằng một tiếng trống cái khô khan.

6. SƠN CA – DƯƠNG BÂN

SƠN – CA

Lịch sử dân tộc Tây – Hạ ghi thêm một cái chết cứu quốc. Ta cảm ơn nhà ngươi.

Tên quân hầu vào, dâng kiếm. Dương – Bân cầm lấy kiếm. Tên quân hầu ra.

DƯƠNG – BÂN

Bây giờ thì chỉ còn có ta và nhà ngươi. Nhà ngươi nghĩ sao?

SƠN – CA

Ta nghĩ rằng cái bộ mặt của nhà ngươi không đáng thương một chút nào cả!

DƯƠNG – BÂN

Vuốt nhẹ lưỡi kiếm.

Nhưng kiếm của ta sắc. Chúng ta nên nói chuyện hòa nhã thì hơn.

SƠN – CA

Nói chuyện? Nói chuyện với nhà ngươi? Hãy gọi đích thân Thành – Cát – Tư – Hãn ra đây.

DƯƠNG – BÂN

Điềm tĩnh đi lại trước tấm rèm châu.

Muôn tâu Đại – Hãn!

7. SƠN CA – DƯƠNG BÂN – thêm TCTH

Tấm rèm vén lên: Thành – Cát – Tư – Hãn đứng đó đã tự bao giờ. Rồi Đại – Hãn bước ra, ngồi lên ngai.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Với Dương – Bân.

Lệnh tuần tiễu?

DƯƠNG – BÂN

Cũng như đêm qua, đúng canh một thì năm đại đội sẽ lên đường.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ai chỉ huy?

DƯƠNG – BÂN

Thúc – Bột – Đào!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Còn năm nghìn tên dân Tây – Hạ?

DƯƠNG – BÂN

Thưa, vẫn còn giam dưới trại, đợi lệnh Đại – Hãn.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Được! (Một lát) Đại tướng có thể rút lui.

Dương – Bân ra. Trong yên lặng, Thành – Cát – Tư – Hãn và Sơn – Ca chăm chú nhìn nhau. Một lát sau.

Chắc bây giờ thì nhà ngươi hiểu rõ tại sao lại được gặp tên già Tây – Hạ.

SƠN – CA

Vẫn chăm chú nhìn Thành – Cát – Tư – Hãn.

Thế ra nhà ngươi là… Thành – Cát – Tư – Hãn!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhưng rất khoan hồng đối với những kẻ phục tòng.

SƠN – CA

Ta không phải là người phục tòng. Nhà ngươi cũng thừa biết như vậy. Vậy thì đừng dọa, hãy nói chuyện đúng đắn.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta không bao giờ dọa hão.

SƠN – CA

Nói tóm lại, ta biết một điều bí mật. Nhà ngươi cũng muốn biết điều đó.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đúng.

SƠN – CA

Đó là một điều bí mật quan trọng.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhưng không phải là vô giá. Nhà ngươi muốn mặc cả ư? Ta thuận trả một giá rất đắt.

SƠN – CA

Cười nhạt.

Bao nhiêu?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Kiếp sống của nhà ngươi.

SƠN – CA

Chưa đủ. (Một lát.) Lúc nãy đã có người đặt giá bằng một mớ danh từ khá quyến rũ. Chẳng hạn như tổ quốc, dân tộc… Ta không mà cả. Ta đã khước từ. Hơn nữa ta đã đầy người đó vào cái chết để khỏi bị ràng buộc, để có thể ung dung nói chuyện với nhà ngươi. Nhưng đến bây giờ thì … lại khác.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi không nói?

SƠN – CA

Cũng chưa chắc.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Sơn – Ca, ta đã nghe rõ đầu đuôi câu chuyện. Nhà ngươi không giống những người ta đã gặp. Nhà ngươi còn trẻ. Nhà ngươi muốn gì? Ta cho phép nhà ngươi suy nghĩ.

Cầm dùi đánh lên một tiếng kiểng. Tên quân hầu vào.

Rượu.

Tên quân hầu ra.

Tuyết nơi đây rơi suốt ngày đêm. Thỉnh thoảng cũng nên uống một chút cho ấm bụng.

Tên quân hầu vào dâng lên một bình rượu. Đại – Hãn rót rượu rồi đưa cho Sơn – Ca một bát.

Uống đi. Nhà ngươi không giống ai cả.

Hai người nâng bát.

Rượu miền Trung – nguyên! Thổ dân miền đó cưỡi ngựa tuy thua người Mông – Cổ, nhưng biết cách nấu rượu. Men ấm và nồng như hơi thở mỹ nhân!

Nhìn Sơn – ca, gật gù.

Nhà ngươi bao nhiêu tuổi?

SƠN – CA

Ta chưa đến hai mươi tuổi. Nhưng ta già hơn người Mông – Cổ. Các ngươi không có quá khứ.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta không hiểu nhà ngươi nói gì… Nhưng cũng không sao. Nhà ngươi đã yêu ai bao giờ chưa?

SƠN – CA

Yêu là yêu nhau. Hiện thời ta chỉ nghĩ đến ta.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đúng! (Một lát) Giống ta.

SƠN – CA

Ta hiểu!

Hai người lại nâng bát.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Chưa ai nói với ta những điều như vậy. Tự nhiên, ta thấy thanh thản trong lòng. Ta không biết ta đang nghĩ gì…

SƠN – CA

Một người đàn bà. Một ánh lửa bếp rung rinh. Một dải mây trắng vắt vẻo ngang đèo. Một thoáng gió lọt kẽ lều. Một đàn cứu trắng nõn. Một cánh đồng cỏ mọc mượt xanh. Một tiếng sáo mục đồng.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhìn lơ đãng vào quãng không.

Cách đây đã lâu, hồi ta còn nhỏ… ta thường vẫn hát một bài… một bài ca mục đồng…

Rất bất ngờ, Đại – Hãn cất tiếng hát. Ý nhạc hồn nhiên của bài mục đồng không hợp với một giọng già nua. Tiếng hát ngượng nghịu, ngập ngừng rồi im bặt. Sơn – Ca ngặt nghẽo cười. Đại – Hãn quắc mắt nhìn Sơn – Ca rồi cũng cất tiếng cười vang. Vừa lúc đó…

8. SƠN CA – TCTH – thêm DƯƠNG BÂN

TIẾNG LÍNH CANH

Đại tướng Dương – Bân!

Tiếng hô làm Thành – Cát – Tư – Hãn và Sơn – Ca sực tỉnh: phút cảm thông chấm dứt.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Cho vào.

Dương – Bân vội vã đi vào, dáng điệu hốt hoảng.

DƯƠNG – BÂN

Muôn tâu Đại – Hãn…

Rồi im bật nhìn Sơn – Ca.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đại – tướng cứ nói.

Dương – Bân tiến lên sát ngai rồi ghé đầu thì thầm. Người ta vừa kịp nhận thấy Đại – Hãn biến sắc thì bát rượu nơi tay Đại – Hãn đã bị giáng vỡ tan tành trên mặt đất.

Thúc – Bột – Đào… Thúc – Bột – Đào…

DƯƠNG – BÂN

Muôn tâu Đại – Hãn, Thúc – Bột – Đào…

Yên lặng nặng chĩu không khí gian lều. Một lát sau…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta không hiểu. Ta vẫn chưa hiểu. Đại tướng nhắc lại ta nghe. Đại tướng cứ nói to lên.

DƯƠNG – BÂN

Muôn tâu Đại – Hãn, năm đại đội sửa soạn lên đường tuần tiễu. Nhưng đến giờ khởi hành thì thần mới được tin viên tướng chỉ huy…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thúc – Bột – Đào!

DƯƠNG – BÂN

Thúc – Bột – Đào đã một mình dời trại tự giữa giờ Dậu.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhưng vì cớ gì? Ta đãi hắn không hậu ư? Hắn đi đâu?

DƯƠNG – BÂN

Hắn chắc chưa kịp đi xa…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Bây giờ đã quá canh một!

DƯƠNG – BÂN

Canh một vừa qua. Nếu Đại – Hãn cho phép, thần sẽ xin đích thân…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Cùng với một đại đội. Liệu có đủ không, đại tướng!

DƯƠNG – BÂN

Nếu chỉ để diệt một tên phản bội thì quá thừa.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Bắt sống!

DƯƠNG – BÂN

Như vậy thì một đại đội là vừa.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Năm đại đội tuần tiễu cũng lập tức phải lên đường. Đại tướng hãy tìm một người khác thay thế Thúc – Bột – Đào. Tuần tiễu suốt đêm nay!

DƯƠNG – BÂN

Tuân lệnh.

Dương – Bân ra. Rồi tiếng người, tiếng ngựa vang dội: đoàn quân lên đường. Thành – Cát – Tư – Hãn vẫn trầm ngâm trên ngai. Một lúc sau, giọng Đại – Hãn đều đều cất lên. Đại – Hãn nói một mình, như quên hẳn Sơn – Ca từ lúc nãy vẫn đứng yên một góc.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thúc – Bột – Đào, tên kiện tướng Mông – Cổ! Nhưng tại sao? (Một lát.) Con ta còn nuôi ý phản, ta trách sao được người ngoài? Tan rã đã bắt đầu rồi chăng? Sau này vắng ta… ai sẽ thay ta? Truật – Xích… Chậm quá rồi! (Một lát.) Ta phải sống. Ta phải sống mãi mãi… À… còn nhà ngươi…

SƠN – CA

Ta vẫn đứng đây.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Như nhớ ra.

Cổ – Giã – Trường. Ta quên bẵng mất câu chuyện giữa ta và nhà ngươi.

SƠN – CA

Nhà ngươi hát.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta hát… à… phải!… Một bài ca mục đồng.

SƠN – CA

Một dáng đàn bà nồng nàn như một chất men.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Hết rồi. Xa rồi. Bây giờ là nhà ngươi, Sơn – Ca. Bây giờ là Cổ – Giã – Trường.

SƠN – CA

Và Thúc – Bột – Đào.

Giữa lúc đó…

TIẾNG LÍNH CANH

Đại tướng Dương – Bân.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Cho vào! (Với Sơn – Ca) Nhà ngươi nói đúng. Còn Thúc – Bột – Đào!

Dương – Bân vào, cúi đầu thi lễ. Đại – Hãn quay lại phía Dương – Bân.

Thế nào đại tướng? Thúc – Bột – Đào?

DƯƠNG – BÂN

Muôn tâu Đại – Hãn, Thúc – Bột – Đào đang đợi lệnh.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Dương – Bân giỏi thay. Thật không hổ danh đại tướng Mông – Cổ! Nhưng sao lại nhanh thế?

DƯƠNG – BÂN

Thần vừa ra khỏi trại thì đã gặp hắn. Hắn tự ý quay về.

Đại – Hãn nhắm mắt suy nghĩ rồi cầm dùi đánh lên một tiếng kiểng.

TÊN QUÂN HẦU

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thúc – Bột – Đào!

Một lúc sau, Thúc – Bột – Đào lừng lững tiến vào, đứng thẳng trước ngai Thành – Cát – Tư – Hãn. Đó là một viên kiện tướng Mông – Cổ tuổi trạc bốn mươi.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Với Dương – Bân.

Ta cho đại tướng lui.

Dương – Bân đi ra. Yên lặng một lát.

Thế nào… Thúc – Bột – Đào, sao còn quay trở lại? Không đủ can đảm ư?

Rồi Đại – Hãn như nói một mình.

Ta đãi quân sĩ không bạc. Huống hồ nhà ngươi còn là một kiện tướng Mông – Cổ. Nhà ngươi lại đã theo ta từ lâu. (Nghiêm giọng) Nhà ngươi đã bỏ hàng ngũ chạy trốn. Để làm gì? Để âm mưu gì? Nhà ngươi đã phản bội ta. Nhà ngươi đã phản bội toàn thể dân tộc Mông – Cổ.

THÚC – BỘT – ĐÀO

Đừng to tiếng. Nhà ngươi đâu phải là dân tộc Mông – Cổ?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi nói sao? Ta… không phải… ! Vậy ai đã đưa dân tộc đến chỗ chót vời?

THÚC – BỘT – ĐÀO

Nhưng nhà ngươi có chắc đó là ý muốn của toàn dân Mông – Cổ? Hay đó chỉ là ý muốn riêng của nhà ngươi? Nhà ngươi đưa dân tộc đến chỗ chót vời. Chỗ nào?

Tự cuộc đổ máu nọ cho đến cuộc đổ máu kia. Tự bãi chiến trường này sang bãi chiến trường khác. Để làm gì? Để chiếm dần từng chiếc ngai vàng trên cõi Đất Liền. Kim, Tống, Ba – Ta, Hồi – Hồi,… và bây giờ thì Tây – Hạ. Nhà ngươi đang ngồi trên một vũng máu, máu của dân tộc Mông – Cổ. Nhà ngươi mới là kẻ phản bội dân tộc.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Vì thế mà nhà ngươi bỏ ta?

THÚC – BỘT – ĐÀO

Giọng chợt đượm vẻ chán chường.

Cũng không phải. Ta bỏ đi thật ra chỉ để tìm một bãi cỏ ven một dòng sông. Ta muốn nằm dài nốt quãng đời thừa trên bãi cỏ để ngắm dòng sông chảy. Ta mệt mỏi… Ta ngấy… ta ngấy tất cả…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Cười gằn.

Một bãi cỏ… một dòng sông. Ta thật không ngờ! Ra đấy là tất cả cái mong muốn của nhà ngươi, một đại tướng Mông – Cổ!

THÚC – BỘT – ĐÀO

Nhưng ta cũng lại thấy là vô ích. Cái gì cũng vô ích!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Và nhà ngươi quay lại… Nhà ngươi còn đợi gì nữa mà không quỳ xuống ăn năn xin lỗi?

THÚC – BỘT – ĐÀO

Ta sẽ chết. Ta biết. Ta quay lại chỉ để hỏi nhà ngươi một lời.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi muốn hỏi gì?

THÚC – BỘT – ĐÀO

Có lúc nào, nhà ngươi thấy mệt mỏi, nhà ngươi muốn nằm dài yên lặng…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nghĩ đến một người đàn bà…

THÚC – BỘT – ĐÀO

Một người đàn bà Mông – Cổ ấm nồng như men rượu.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhìn một đàn cừu trắng nõn…

THÚC – BỘT – ĐÀO

Một khoảng trời xanh trong vắt…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Và một bài ca mục đồng…

Và Đại – Hãn cất tiếng hát. Bài ca mục đồng lại vang lên trong gian lều. Lần này giọng ca tuy vẫn vụng về nhưng đã thôi ngượng nghịu, giọng ca đượm vẻ mỉa mai. Thúc – Bột – Đào sững sờ, giương mắt nhìn Đại – Hãn. Chợt tiếng hát ngừng bặt. Tiếng cười chế giễu cất lên. Một lúc sau…

Đấy nhà ngươi xem, ta cũng như nhà ngươi. Có lúc ta cũng nghĩ đến những trò trẻ con đó. Nhưng bây giờ thì…

THÚC – BỘT – ĐÀO

Bây giờ thì mắt nhà ngươi chỉ còn nhìn thấy màu đỏ của máu, màu thép xanh lè của đao và kiếm…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Chưa đủ. Ta còn muốn nghe tiếng rên rỉ của muôn loài… tiếng khóc thét của đứa trẻ sơ sinh mồm ngậm vú mà thân đã lìa cổ, tiếng nức nở của người vợ trẻ trước thủ cấp của chồng, tiếng kiếm cùn cọ rỉ vào một đống chất xương tươi. (Đổi giọng) Thúc – Bột – Đào! Ta mưu việc lớn. Nhà ngươi chỉ là cái rơm, cái rác, hiểu sao được ta?

THÚC – BỘT – ĐÀO

Ta tiếc rằng không có một thanh kiếm trong tay.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi không đáng cầm kiếm…

Đại – Hãn chợt bặt tiếng vì Sơn – Ca đã vừa với tay cầm gọn thanh kiếm Cổ – Giã – Trường vẫn đặt trên bàn.

Sơn – Ca! Đó không phải là đồ chơi con nít!

SƠN – CA

Nhà ngươi nói đúng. Cái này là đồ chơi của người lớn các người. (Với Thúc – Bột – Đào) Tướng quân vừa mới phàn nàn không có một thanh kiếm trong tay…

Thúc – Bột – Đào đỡ lấy thanh kiếm.

Bây giờ thì ta xin đóng vai khán giả để xem lũ người lớn các ngươi đùa nhau…

Thành – Cát – Tư – Hãn với lấy chiếc dùi nhưng lại đặt xuống bàn.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Điềm tĩnh.

Ta có thể gọi quân canh. Nhưng ta muốn thử xem nhà ngươi có đủ can đảm…

THÚC – BỘT – ĐÀO

Tiến nhanh lại trước mặt Đại – Hãn.

Nhà ngươi có gọi cũng không kịp nữa. Màu đỏ của máu. Màu thép sáng ngời. Cầu được ước thấy, nhà ngươi đã mãn nguyện chưa?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta thèm một chút rượu.

THÚC – BỘT – ĐÀO

Ta cho phép. Uống đi cho đủ can đảm. Uống đi. Đó là bình rượu cuối cùng của nhà ngươi.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Cầm bình rượu đưa lên miệng.

Men ấm và nồng như hơi thở của một mỹ nhân.

SƠN – CA

Nhà ngươi không thể nói được điều gì thú vị hơn ư? Điều đó nhà ngươi nói rồi!

THÚC – BỘT – ĐÀO

Mỹ nhân… Nhà ngươi ráng đợi kiếp sau. Hãy trông đây!

Thanh kiếm loang loáng vung lên, phạt xuống. Có tiếng hét lớn. Bình rượu nơi tay Đại – Hãn vút ra. Thúc – Bột – Đào loạng choạng lùi lại, thanh kiếm văng sang bên cạnh, rơi xuống đất. Trong yên lặng, Đại – Hãn cất tiếng, giọng bình tĩnh như không có gì xảy ra.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thế nào, Sơn – Ca?

Sơn – Ca cúi xuống nhặt thanh kiếm, rồi đem lại đặt trên bàn trước mặt Đại – Hãn.

SƠN – CA

Bây giờ đến lượt nhà ngươi…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Cầm dùi chỉ vào Thúc –Bột – Đào.

Ta sẽ xuống lệnh lấy đầu nhà ngươi…

THÚC – BỘT – ĐÀO

Ta đã chọn cái chết. Nhà ngươi tất nhiều lời!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta lấy đầu nhà ngươi, không phải vì tội mưu phản, không phải vì tội đào ngũ, cũng không phải vì tội mưu sát. Nhà ngươi chỉ có một tội đáng chết. Tội gì, nhà ngươi có biết không?

SƠN – CA

Thân làm đại tướng mà cầm thanh kiếm không vững.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Tên con nít Tây – Hạ cũng khá thông minh…

Dứt lời, tiếng kiểng vang lên. Tên quân hầu bước vào.

Thúc – Bột – Đào! Nhà ngươi có điều gì muốn nói nữa không?

THÚC – BỘT – ĐÀO

Nhà ngươi sẽ chết…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Sau nhà ngươi!

THÚC – BỘT – ĐÀO

Nhà ngươi sẽ chết ở đây, ở ngay kinh đô Tây – Hạ. Ta chắc như vậy. Vì đó là ý muốn của toàn dân Mông – Cổ, của toàn thể bàn dân thiên hạ. Nhà ngươi làm bộ bình tĩnh, nhưng ta biết nhà ngươi đang mất ăn mất ngủ, nhà ngươi đương lo ngày lo đêm. Nhà ngươi đương bị hình bóng của một người ám ảnh.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ai vậy?

THÚC – BỘT – ĐÀO

Cổ – Giã – Trường?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Hét lớn.

Trảm!

QUÂN HẦU

Tuân lệnh!

Tên quân hầu tiến lại. Thúc – Bột – Đào gạt tên quân hầu ra một bên rồi đường hoàng đi ra. Trong yên lặng, một lát sau, tiếng trống hành quyết vang lên. Dứt tiếng trống, Thành – Cát – Tư – Hãn từ từ đứng dậy, đi đi lại lại trong lều…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Dừng lại trước mặt Sơn – Ca.

Sơn – Ca, thường thường ta không dài lời…

SƠN – CA

Nhà ngươi muốn biết huyệt sào Cổ – Giã – Trường?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đúng.

SƠN – CA

Nếu ta không nói?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi còn trẻ. Nhà ngươi nên nghĩ kỹ. Ta có những viên kim cương to nhất miền Ấn – Độ – hà. Ta có những người con gái mắt như chất nhung tấm thảm Ba – Tư…

SƠN – CA

Nhưng nếu ta không nói?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi chưa biết chết là gì. Nhà ngươi chưa biết lúc gươm kề cổ, lúc mắt ngước nhìn trời, một lần cuối cùng, một lần cuối cùng… để rồi nhắm mắt lại mãi mãi.

SƠN – CA

Giọng chân thành.

Ta biết nhà ngươi thành thực với ta. Ta cảm tạ. Nhưng… giả thử ở địa vị ta, nhà ngươi sẽ xử sự ra sao?

Đại – Hãn nhìn Sơn – Ca. Rồi như không giấu được cảm tình, Đại – Hãn đặt tay lên cai người trẻ tuổi. Một lát sau, khi bàn tay Đại – Hãn dời khỏi vai Sơn – Ca thì Đại – Hãn quay mặt đi, giọng người ngập ngừng.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi đáng tuổi con ta. (Chợt quay lại, nghiêm giọng.) Ta hỏi lại nhà ngươi. Nếu nhà ngươi là ta, nhà ngươi sẽ xử sự ra sao?

SƠN – CA

Không có sự lựa chọn nào dễ dàng cả.

Dứt lời, Sơn – Ca tiến nhanh lại phía bàn, cầm chiếc dùi, thẳng tay đánh vào mặt kiểng rồi rồi vứt chiếc dùi xuống bàn.

Nếu ta là ngươi… thì đấy! Ta đã dứt khoát từ lâu rồi!

Thành – Cát – Tư – Hãn chưa kịp phản ứng thì…

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Vậy thì Sơn – Ca, hãy mở to mắt mà nhìn một lần cuối cùng. Màu, sắc, nét, hình… Lần cuối cùng trong đời nhà ngươi! (Với tên quân hầu.) Khoét mắt!

SƠN – CA

Điềm tĩnh.

Nhà ngươi làm ta thất vọng. Có thế thôi ư?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đừng lo. Còn nữa. Còn nhiều nữa.

Sơn – Ca và tên quân hầu đi ra. Rồi một hồi trống nổi lên, Thành – Cát – Tư – Hãn nắm chặt tay ngai, vì át cả tiếng trống có tiếng thét thất thanh rít lên giữa đêm đen dày đặc. Trống dứt.

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Sơn – Ca đợi lệnh!

Thành – Cát – Tư – Hãn phác một cử chỉ. Sơn – Ca chập choạng bước vào, đôi mắt chỉ còn là hai lỗ thủng đỏ lòm. Tuy chàng đường hoàng tiến bước, nhưng người ta nhận thấy từng cố gắng in hằn lên nét mặt héo hắt, mồ hôi giỏ giọt của chàng. Chàng đứng sững giữa lều.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đã đủ chưa, Sơn – Ca?

SƠN – CA

Phá lên cười.

Nhà ngươi chùn tay rồi sao?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Quân bay!

TÊN QUÂN HẦU

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Năm ngàn tên dân Tây – Hạ…

TÊN QUÂN HẦU

Muôn tâu Đại – Hãn, năm ngàn tên dân Tây – Hạ vẫn còn chờ lệnh.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Sơn – Ca, hãy nghe ta nói. Nhà ngươi không nhìn thấy nữa. Nhưng nhà ngươi vẫn còn nghe được. Nhà ngươi lại còn nghe rõ hơn trước nữa. Vậy thì hãy nghe ta truyền lệnh. Quân bay! Truyền chém đầu năm tên dân Tây – Hạ, bất cứ tên nào, nam, phụ, lão, ấu… tên nào cũng được. Đánh trống lên! Mỗi hồi, rụng một cái đầu… Nhà ngươi nghe rõ chưa, Sơn – Ca?… Mỗi hồi trống một cái đầu. Truyền nổi trống cho tròn!

TÊN QUÂN HẦU

Dạ!

Tên quân hầu ra. Một lát sau, trong yên lặng của đêm khuya, có tiếng người thất thanh, gọi nhau ơi ới, tiếng van lạy, tiếng khóc, tiếng trẻ con kêu, tiếng nức nở, rên rỉ. Và trầm hẳn xuống là một nhịp trống đều đều, tròn trặn, dồn dập, dồn dập. Và trầm nữa, xuống hẳn một âm giai, là một tiếng trống cái khô khan: tiếng trống cái ngắn ngủi kết liễu dịp trống dài.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Một!

Nhịp trống lại nổi… rồi lại tắt.

Hai!

Nhịp trống lại vang lên, rồi lại tắt.

Ba!

Nhịp trống lại nổi rồi lại tắt.

Bốn!

Nhịp trống lại đều đặn nổi lên để rồi lại tắt.

Sơn – Ca! Nhà ngươi nghe rõ chứ! Năm cái đầu đã rụng.

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Xin chờ lệnh!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Với Sơn – Ca.

Thế nào Sơn – Ca? Nhà ngươi có cần nghe thêm vài hồi trống nữa không? Nhà ngươi không trả lời. Như vậy có nghĩa là ưng thuận. Quân bay! Năm hồi trống nữa. Cấp tốc!

Tên quân hầu ra. Trống vội vàng nổi lên để rồi lại tắt: năm lần. Tên quân hầu vào. Yên lặng.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Năm cái đầu nữa.

SƠN – CA

Chợt ngửng mặt, giọng không đều.

Hãy yên!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Hà! Nhà ngươi muốn nói?

SƠN – CA

Thành – Cát – Tư – Hãn! Tại sao nhà ngươi không giết ngay ta! Đó là những người vô tội.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Không có lựa chọn nào dễ dàng cả. Đó là những người Tây – Hạ. (Một lát) Nhà ngươi không nói? Nhà ngươi nhất định không nói? Kiếp sống của nhà ngươi, kiếp sống của năm ngàn người dân Tây – Hạ vô tội đổi lấy tên một địa điểm, nhà ngươi còn muốn gì nữa? Nhà ngươi muốn gì?

SƠN – CA

Ta chỉ muốn giữ một lời hứa. Với chính ta.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nhà ngươi điên rồi. Ta muốn xem nhà ngươi điên đến mức nào! Quân bay!

TÊN QUÂN HẦU

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thành – Cát – Tư – Hãn nói nhỏ với tên quân hầu.

Xin tuân lệnh!

Tên quân hầu đi ra.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta tiếc rằng đã khoét mắt nhà ngươi. Nếu không, nhà ngươi sẽ được chứng kiến cái cảnh khốn nạn của con người trước khi chết.

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Muôn tâu Đại – Hãn…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đâu? Cho vào!

Một người đàn bà Tây – Hạ còn trẻ, tay ôm chặt đứa bé, ngập ngừng ở ngưỡng cửa lều.

Vào đây!

Người đàn bà vào, ngồi sụp dưới chân Đại – Hãn.

Nhà ngươi là người Tây – Hạ?

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Muôn tâu Đại – Hãn, thần thiếp là người Tây – Hạ. Thần thiếp vô tội. Chồng của thần thiếp đã chết rồi. Chỉ còn hai mẹ con thần thiếp…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Dịu giọng.

Nàng bao nhiêu tuổi?

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Thiếp hai mươi tuổi.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Sơn – Ca! Nghe rõ chưa? Hai mươi tuổi! Tuổi của nhà ngươi. Còn đứa bé này?

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Nó mới được sáu tháng. Nó còn bú!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Mẹ hai mươi tuổi, con thì còn bú. Đáng thương thay.

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Muôn tâu Đại – Hãn, Đại – Hãn mở lượng hải hà…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta muốn lắm. Nhưng… nàng sẽ chết, và con nàng cũng sẽ chết.

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Trời ơi!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Chỉ Sơn – Ca.

Vì tên nhỏ này muốn thế!

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Sơn – Ca?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nàng cũng biết Sơn – Ca? Nàng có biết đó là em ruột Cổ – Giã – Trường không?

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Thần thiếp biết.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Vậy chắc nàng biết nơi sào huyệt của Cổ – Giã – Trường. Ta muốn biết điều đó.

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Muôn tâu Đại – Hãn, Cổ – Giã – Trường đi lại như người nhà trời, ai mà biết được!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Sơn – Ca biết. Nhưng lại không chịu nói. Ta phải khoét mắt hắn mà hắn vẫn gan lì không nói. Nói hắn chịu nói ta sẽ tha cho tất cả, nàng, con nàng và tất cả những người dân vô tội ngoài kia. Đấy, nàng xem… có phải lỗi tại ta đâu?

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Có thật không, Đại – Hãn? Đại – Hãn sẽ tha cho tất cả?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta chỉ có một lời. Nàng không tin ta ư?

Người đàn bà đi lại gần Sơn – Ca.

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Nhà ngươi nghe thấy gì không?

SƠN – CA

Ta vẫn nghe.

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Vậy nhà ngươi còn đợi gì nữa? Nhà ngươi còn đợi gì mà không nói? Cổ – Giã – Trường ở đâu, nhà ngươi phải nói!

Yên lặng.

Kìa, nói lên! có nghe thấy tiếng kêu la than khóc ngoài kia không, Sơn – Ca? Họ không phải là người dân Tây – Hạ sao?

Yên lặng.

Nước đã mất rồi. Vua cũng mất rồi. Một mình Cổ – Giã – Trường làm sao thắng nổi được hàng triệu quân Mông – Cổ? Nhà ngươi không có quyền hy sinh hàng ngàn người vô tội ngoài kia để đổi lấy một chút hy vọng hão huyền.

SƠN – CA

Nàng không hiểu ta. Ta không hy vọng…

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Vậy nhà ngươi còn đợi gì nữa? Nói lên, Sơn – Ca!

SƠN – CA

Ta không thể nói được.

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Trời hại ta rồi! Ta nào có tội tình gì? Chết? Cả con ta cũng phải chết ư? Chồng ta đã chết. Chàng đã cầm gương chống cự đến phút cuối cùng. Hàng vạn, hàng triệu người cũng đã chết rồi. Chưa đủ sao, hở trời? Mà tại sao lại phải chết? Tại sao lại ta? Tại sao lại con ta? Nó nào đã biết gì đâu… Con ta phải sống. Con ta có quyền sống! Sơn – Ca…

Người thiếu phụ rũ xuống.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thế nào Sơn – Ca?

SƠN – CA

Trống không nổi nữa ư?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Quân bay!

TÊN QUÂN HẤU

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Truyền tiếp tục nổi trống, nổi liên tiếp. Không phải là năm cái đầu, mà mười cái, một trăm cái…

NGƯỜI ĐÀN BÀ

Ôm lấy chân Đại – Hãn.

Đại – Hãn…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đạp người thiếu phụ.

Cả tên này nữa. Cấp tốc!

Tên quân hầu dìu người thiếu phụ đi ra. Đại – Hãn vùng dậy, ánh bạch lạp nhảy múa trong gian lều. Nhịp trống lại nổi lên dồn dập, liên tiếp, liên tiếp. Tiếng trống cái giờ đây đã lẫn vào tiếng trống con. Cuộc hành hình biến thành một cuộc tàn sát. Người ta như nghe thấy những chiếc đầu lâu lìa cổ lăn trên mặt đất, liên tiếp, liên tiếp. Toàn thân Sơn – Ca như rung lên cũng nhịp trống. Trong khi ấy, Đại – Hãn lồng lên như một con thú dữ.

Giết! Giết nữa! Giết cho hết! Mỗi nhịp trống là một cái đầu. Đã nghe rõ chưa, Sơn – Ca? Nhà ngươi không nói? Tại sao lại không nói? Ta sẽ giết hết… Và sau cùng sẽ đến lượt nhà ngươi. Ta sẽ tìm cho riêng nhà ngươi một cái chết lạ lùng, đặc biệt. Nhà ngươi sẽ được vui vầy họp bạn với lũ quỷ không đầu ngoài kia. Giết… Ta sẽ giết hết. Ta đương ngồi trên một vũng máu. Thúc – Bột – Đào nói đúng. Nhưng ta không khát máu. Ta chỉ giết những người dám trái với ý muốn của ta. Ngay Thúc – Bột – Đào. Ngay chính con ta. Ta không tin ai cả. Ta… phải… trường sinh bất tử…

Bất giác, Thành – Cát – Tư – Hãn cất tiếng cười, sặc sụa cười. Tiếng cười hòa cùng nhịp trống dồn dập ngoài lều. Chợt tiếng cười im bặt. Một vài tiếng cười lỡ nhịp ngượng ngùng trong im lặng khác thường.

Hết rồi sao? Sao lại ngừng trống? Ai ra lệnh?

Giữa lúc đó…

TIẾNG NGƯỜI LÍNH CANH

Công – chúa Tây – Hạ xin vào ra mắt.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giang – Minh? Sao lại Giang – Minh? Cho vào!

Giang – Minh lặng lẽ tiến vào.

GIANG – MINH

Như một nhành liễu trước gió.

Thần thiếp cam chịu tội chết. Chính thần thiếp đã ngăn tiếng trống.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nàng muốn cứu sống đám người Tây – Hạ ngoài kia?

Nàng không còn là người Tây – Hạ nữa, nàng đã nghe rõ chưa?

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Hãn, thiếp đã gởi thân nương nhờ Đại – Hãn, thiếp đâu còn quê hương xứ sở? Nhưng thần thiếp biết là vô ích. Đại – Hãn có hạ lệnh nổi trống suốt đêm nay cũng là vô ích.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Vô ích? Thì tất nhiên là vô ích. Ta có đếm xỉa gì đến lũ người vô hại ngoài kia! Ta chỉ muốn biết một điều. Ta sẽ tha cho tất cả, nếu ta biết được nơi sào huyệt Cổ – Giã – Trường. (Với Sơn – Ca) Tính mạng của năm ngàn người dân vô tội đang ở trong tay nhà ngươi. Mà nhà ngươi thì lại ở trong tay ta. Nhà ngươi nhất định không nói?

SƠN – CA

Nói gì? Ca tụng sắc đẹp của Giang – Minh, người mỹ nữ Tây – Hạ? Ta tiếc rằng không còn mắt để chiêm ngưỡng cái sắc đẹp mê hồn đó! Nhà ngươi còn muốn gì hơn nữa, Thành – Cát – Tư – Hãn? Nhưng nhà ngươi phải cẩn thận, con trai Tây – Hạ đang ghen với nhà ngươi đó! Kể cả… Cổ – Giã – Trường…

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Hãn, thần thiếp có chuyện muốn tâu riêng cùng Đại – Hãn…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Chuyện chi, Giang – Minh?

Giang – Minh nói nhỏ với Đại – Hãn. Đại – Hãn nghĩ ngợi một lúc rồi cầm dùi đánh lên một tiếng kiểng.

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Dẫn cho tên nhỏ này xuống trại giam. Sơn – Ca! Ta gởi tạm nhà ngươi cái đầu.

SƠN – CA

Nhà ngươi yên tâm! Ta sẽ giữ gìn cẩn thận.

Quân hầu dẫn Sơn – Ca ra.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta nghe nàng!

GIANG – MINH

Đại – Hãn vừa nói sẽ tha cho tất cả đám người ngoài kia…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nếu ta biết được sào huyệt Cổ – Giã – Trường! Ta sẽ cho quân bủa vây nơi đó. Ta sẽ bắt sống Cổ – Giã – Trường.

GIANG – MINH

Kể ra bắt sống được Cổ thì cũng là lợi, nhưng không phải là… dễ. Liệu họ Cổ có chịu ngồi yên để Đại – Hãn bắt sống hay không?

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nếu vậy, ta phải bó tay hay sao?

GIANG – MINH

Thần thiếp có cách. Vì vậy nên mới mạo muội đến ngăn tiếng trống.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Cách gì, nàng nói ta nghe!

GIANG – MINH

Số là… thần thiếp có biết một người. Người đó có thể dụ hàng họ Cổ. Đại – Hãn sẽ không tốn một tên quân, không hao một mũi tên mà sẽ nắm được Cổ – Giã – Trường…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thật ư, Giang – Minh? Nếu thật thì công của nàng không phải là nhỏ.

GIANG – MINH

Đại – Hãn nói đến công, thần thiếp thật muôn phần hổ thẹn. Việc này thành hay hỏng, chỉ còn tùy thuộc vào nơi lượng khoan hồng của Đại – Hãn…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Sao vậy?

GIANG – MINH

Cái người dụ được họ Cổ chỉ xin Đại – Hãn một điều.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Điều gì?

GIANG – MINH

Cái điều mà chính Đại – Hãn đã hứa. Đại – Hãn tha tội chết cho đám dân vô tội ngoài kia.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta hứa rồi.

GIANG – MINH

Vậy xin Đại – Hãn xuống lệnh!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Xuống lệnh… ngay bây giờ? Nhưng…

GIANG – MINH

Người đó sẽ làm vừa lòng Đại – Hãn.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta sẽ trọng thưởng. Ta sẽ trọng dụng. Nhưng… ai mà giỏi nha vậy?

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Han, đó chỉ là một tên dân Tây – Hạ, ngồi một chỗ mà thiên hạ sự không một việc gì mà không biết…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nheo mắt nhìn Giang – Minh.

Vậy mà Tây – Hạ vẫn còn thua ư?

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Hãn, đó là vận nước tuần hoàn. Biết là một chuyện, nhưng… làm lại là một chuyện khác.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thế thì người đó có biết gì về ta không?

GIANG – MINH

Chắc là có. Vì người đó có nói đến một việc…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Việc gì?

GIANG – MINH

Việc quân sư Lý – Tử lên đường.

Yên lặng.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đổi giọng.

Người đó hiện nay ở đâu?

GIANG – MINH

Người đó hiện đang ở trong tay thần thiếp.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nàng nói đùa sao?

GIANG – MINH

Lúc này thì ai còn dám nói đùa? Xin Đại – Hãn xuống lệnh!

Đại – Hãn cất dùi đánh lên một tiếng kiểng.

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Truyền lệnh tha tất cả đám tử tù Tây – Hạ, trừ… Sơn – Ca (Với Giang – Minh) Sơn – Ca là em ruột Cổ – Giã – Trường. Ta muốn giữ Sơn – Ca lại ít lâu.

GIANG – MINH

Sơn – Ca chỉ là một tên rồ.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta có cảm tình với hắn. (Với tên quân hầu) Truyền giam Sơn – Ca lại một chỗ.

GIANG – MINH

Tiến lên một bước.

Hãy khoan! (Với Thành – Cát – Tư – Hãn) Muôn tâu Đại – Hãn, thần thiếp xin nói thêm một lời.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nàng cứ nói!

GIANG – MINH

Với tên quân hầu.

Nhà ngươi hãy nói với họ rằng… phải sửa soạn, phải bảo nhau kịp thời sửa soạn. Đêm nay là đêm thứ nhất. Đến đúng đêm thứ ba thì Cổ – Giã – Trường sẽ trở về.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Tại sao vậy?

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Hãn, để cho toàn dân Tây – Hạ vui mừng, vì ba đêm nữa, thiên hạ sẽ thái bình (Với tên quân hầu) Cấp tốc!

Tên quân hầu ra. Một lát sau có tiếng reo hò đàng xa đưa lại, xa dần. Khi yên lặng trở lại…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta đã giữ lời hứa. Người đó đâu? Nàng có cần, ta cho đi gọi.

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Hãn, không cần. Người đó đang đứng trước mặt Đại – Hãn.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giật mình.

Giang – Minh?

GIANG – MINH

Chính thần thiếp.

Yên lặng.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Tại sao nàng lại không nói ngay? Tại sao nàng lại bắt ta tha cho đám dân Tây – Hạ?

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Hãn, vì họ vô tội.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Chống lại ta mà lại là vô tội?

GIANG – MINH

Vô tội vì vô… hại. Cổ – Giã – Trường mới đáng kể.

Tha họ là để gây đức cho Đại – Hãn. Như vậy Cổ – Giã – Trường sẽ vững lòng trở về.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Thôi được. Bây giờ ta đợi nàng. Nàng dùng cách gì để dụ Cổ – Giã – Trường?

GIANG – MINH

Đại – Hãn hãy truyền lệnh đốt lửa luôn hai đêm. Đêm thứ ba, Cổ – Giã – Trường sẽ thân hành ra mắt Đại – Hãn.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Có thế thôi ư?

GIANG – MINH

Muôn tâu Đại – Hãn, đó là một ám hiệu.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Gật gù nhìn Giang – Minh.

Giữa nàng và Cổ – Giã – Trường. Một ám hiệu… Vậy ra là mỹ nhân kế?

Dứt lời Đại – Hãn từ từ bước lên ngai rồi với lấy thanh kiếm của Cổ – Giã – Trường vẫn còn để trên bàn, ném mạnh xuống đất.

Giang – Minh! Nàng có biết thanh kiếm này của ai không?

GIANG – MINH

Nhặt thanh kiếm, điềm nhiên để lại trên bàn.

Thanh kiếm của Cổ – Giã – Trường. Thần thiếp đã biết từ lâu.

Rồi như không giấu nổi cảm xúc, Giang – Minh quỳ gục dưới ngai. Đôi vai người thiếu phụ rung lên.

Tự nãy đến giờ, thần thiếp bối rối nói quanh cũng vì tâm thần bấn loạn. Cha thiếp đã tuẫn tiết. Anh thiếp nay cũng lại bất đắc kỳ tử. Đại – Hãn hãy trả thù cho thần thiếp!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Vùng dậy đỡ Giang – Minh, giọng hân hoan.

Thế ra giữa họ Cổ và nàng…

GIANG – MINH

Chỉ còn một mối tử thù không đội trời chung.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Ta sẽ trả thù cho Giang – Minh. Ta hứa như vậy. Ta sẽ rửa hận cho Đông – cung Thái – tử Tây – Hạ.

Đánh một tiếng kiểng.

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Bây giờ là canh mấy?

QUÂN HẦU

Muôn tâu Đại – Hãn, bây giờ đã bắt đầu sang canh hai.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Truyền lệnh sửa soạn đốt lên một ngọn lửa thật to ở ngoài cửa trại. Suốt đêm nay. Suốt hai đêm liền. Cấp tốc!

TÊN QUÂN HẦU

Tuân lệnh.

Tên quân hầu đi ra.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giang – Minh… Giang – Minh là một kỳ – nữ. Bao nhiêu binh hùng tướng mạnh của ta đều thua nàng cả…

GIANG – MINH

Thần thiếp chỉ là một người đàn bà.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Một người đàn bà đẹp.

GIANG – MINH

Giọng ngùi ngùi.

Thần thiếp trộm nghĩ phận hèn như hạt cát sông Hằng.

Nhan sắc của thiếp rồi sẽ tàn tạ theo bốn mùa luân chuyển. Nhưng tồn tại mãi mãi với mai hậu, vẫn là những chiến công oanh liệt của Đại – Hãn, vẫn là đại danh Thành – Cát – Tư – Hãn. Thần thiếp chỉ mong sớm tối nương nhờ nơi bóng Thái – sơn để được thơm lây. Đại – Hãn hiều cho lòng thiếp.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giọng thoảng buồn.

Ta hiều, ta hiểu mà! (Một lát) Lý – Tử hẹn ta sẽ về mà… (Chợt như nhớ ra.) Giang – Minh, nàng biết việc Lý – Tử lên đường?

GIANG – MINH

Thần thiếp có bổn phận phải biết tất cả.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Để làm gì? (Nửa đùa nửa thật) Nàng định âm mưu gì chăng?

GIANG – MINH

Thần thiếp chỉ muốn tận tụy phụng thờ Đại – Hãn.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Nàng còn nhiều điều giấu ta…

Giang – Minh tiến nhanh lại phía bàn, cầm lấy thanh kiếm của Cổ – Giã – Trường, rồi quỳ xuống dưới chân Đại – Hãn, hai tay dâng kiếm.

GIANG – MINH

Nếu Đại – Hãn không tin lòng thiếp, thì Đại – Hãn còn chờ gì nữa? Thần thiếp chỉ xin được chết cùng với anh thần thiếp, chết chung một lưỡi kiếm oan nghiệt này.

Đại – Hãn đỡ lấy thanh kiếm rồi cúi người xuống nhìn người thiếu phụ đang ôm lấy chân mình. Một lát sau, giọng Đại – Hãn cất lên êm dịu khác thường.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giang – Minh, tình yêu… nàng có biết tình yêu là gì không?

GIANG – MINH

Thần thiếp là người chiến bại…

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đỡ Giang – Minh dậy.

Nàng không còn là người chiến bại nữa. Đối với ta, nàng chỉ là Giang – Minh.

Giữa lúc đó, ở tận đàng xa, một ngọn lửa hồng vụt bốc thẳng lên vòm trời đem thẳm.

GIANG – MINH

Lửa đã đốt. Muôn tâu Đại – Hãn, lửa đã đốt.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Đêm nay là đêm thứ nhất!

Rồi, Đại – Hãn đi lại trước bàn, cầm dùi, ngần ngừ, rồi đánh lên một tiếng kiểng.

TÊN QUÂN HẦU

Vào.

Dạ!

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giọng thấm mệt.

Đêm nay ta muốn yên nghỉ. Ta không tiếp ai. Và… ngày mai ta muốn gặp một vài vị đạo sĩ.

TÊN QUÂN HẦU

Tuân lệnh!

Tên quân hầu đi ra. Đại – Hãn từ từ lại phía rèm châu.

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Dừng lại. Một mình.

Ngày mai… Ngày mai… Mãi mãi… (Quay lại nhìn Giang – Minh đang mân mê cùng ngọn lửa bốc rực ngoài trời.) Giang – Minh!

Người thiếu phụ giật mình ngoảnh lại, một nét buồn thoáng hiện nơi đôi mắt. Đại – Hãn nâng tấm rèm châu rồi đi vào. Giang – Minh tiến lại phía bàn cầm lấy thanh kiếm của Cổ – Giã – Trường. Mặt nàng dịu xuống hẳn, tay nàng vuốt nhẹ đốc kiếm nơi ghi ba chữ Cổ – Giã – Trường, giọng nàng cất lên trìu mến lạ thường.

Cổ – Giã – Trường… Đêm nay mới là đêm thứ nhất. Còn đêm mai. Còn dằng dặc những hai đêm trường…

Bỗng…

TIẾNG THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giang – Minh!

Tiếng gọi làm người thiếu phụ cau mày, tay nắm chặt đốc kiếm, nhìn về phía tấm rèm châu.

GIANG – MINH

Một mình.

Quân khốn nạn!

TIẾNG THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN

Giang – Minh! Ta đợi nàng!

GIANG – MINH

Đặt thanh kiếm xuống bàn.

Thiếp đây!

Nàng dằn bước, đi về phía rèm châu. Trong khi đó…

MÀN HẠ

(còn tiếp)

THÀNH – CÁT – TƯ – HÃN KỊCH CỦA VŨ – KHẮC – KHOAN GỒM BA HỒI MỘT MÀN GIÁO ĐẦU VÀ MỘT MÀN VĨ THANH DO QUAN – ĐIỂM XUẤT BẢN NGOÀI NHỮNG BẢN THƯỜNG CÒN IN THÊM 210 BẢN ĐẶC BIỆT 200 BẢN TRƯỚC ĐÓ TỪ Q.Đ.1. ĐẾN Q.Đ. 200 VÀ 10 BẢN TRƯỚC SỐ TỪ K.I ĐẾN K.X. NHỮNG BẢN NÀY ĐỀU MANG CHỮ KÝ VÀ DẤU SON CỦA TÁC GIẢ.

Bản điện tử của Văn Việt 2014

Chủ Nhật, 28 tháng 9, 2014

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (33): Thần Tháp Rùa

Vũ Khắc Khoan

Năm loạn đầu hậu bán thế kỷ hai mươi dương lịch, có người trẻ tuổi họ Đỗ bán ruộng bỏ vùng quê lên Kẻ Chợ trọ học.

Đỗ vốn thuộc lớp trung nông, thường sống bằng lợi tức ít mẫu hương hỏa cha mẹ mất sớm để lại.

Vì quen nếp sống thanh đạm, gia dĩ lại sống một mình nên ít lo sinh kế, hằng ngày thường hay đọc sách, da dẻ trắng trẻo xanh xao, mình gầy vóc hạc. Lại luôn luôn mục kích sự tàn bạo của đám phú nông mà tâm sự ủ ê lộ ra ở đôi mày hay nhíu, miệng có cười, cũng héo hắt không vui. Tính vốn ít nói, trong vốn giao du lại cố tình giữ trọn cái nghĩa nước nhạt của người nước Lỗ, cho nên lắm khi cả ngày không lên tiếng một câu, hàng tháng biếng bước chân ra khỏi cổng. Họa hoằn thao thao bất tuyệt, là lúc đối diện một người hiểu biết. Những lúc đó, Đỗ thường ngửa mặt lên trời mà than thời thế hoặc tác sắc đập bàn luận đàm quốc sự đến bỏ cả cơm. Tuổi đã lớn Đỗ vẫn sống một mình, không nghĩ tới việc vợ con. Con gái trong vùng có trêu ghẹo tỏ tình thì đỏ mặt ngoảnh đi. Người trong họ đôi khi gợi việc trăm năm mối lái, thì xốc áo, nghiêm nét mặt mà không tiếp chuyện.