Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nam Dao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nam Dao. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2023

Đỉnh ảo, một đời thơ

Bút ký Nam Dao

(Trích từ Những Con Người - Bút Ký 1 - Thi Văn xuất bản tại Hoa Kỳ, 2017)

Nguyễn Bắc Sơn, nhà thơ của Mai này đụng độ mà không chết, dẫn tôi đi tìm Bùi Giáng. Không về ghé sông Mao phá phách chơi, chẳng chia nốt nỗi sầu cùng gái điếm, và bụng dạ nào để nghĩ đến đốt tiền mua một thoáng ngày vui. Đó là Sài Gòn đầu thập niên 1980.

Thứ Bảy, 24 tháng 6, 2023

Nhớ Phái

Nam Dao

Nằm bệnh, không sức làm gì khác hơn là lục lọi cái viết lách của mình, và tình cờ tìm được Nhớ Phái đã đăng trên báo Đất Việt, Canada, năm 1988. Nay nhuận chỉnh lại, xin viếng người họa sĩ tài hoa này sau khi ông rời cõi tạm hơn ba thập niên, nhắc những người còn sống chớ quên văn hóa nghệ thuật ở đâu cũng có cội nguồn...

image

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2023

49 ngày Dương Nghiễm Mậu

Bút ký Nam Dao

(Trích từ Những Con Người - Bút Ký 1- Thi Văn xuất bản tại Hoa Kỳ, 2017)

     duong-nghiem-mau-anh-cua-tran-cao-linh-

Nhà văn Dương Nghiễm Mậu do nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh chụp. Ảnh Internet

 

1.

Lạnh chưa?

Rồi

Thế thì tốt!

Du nhắm mắt, cười mỉm trước vô tận. Bấc đèn dầu sắp lụi chập chờn hiu hắt. Mưa rả rích. Cả một cuộc đời bỗng thoắt biến thoắt hiện. Đầy ngẫu nhiên. Cứ tạm gọi là số mệnh. Hay nghiệp, đã mang lấy nghiệp vào thân.

Tự Truyện Nguyễn Du, Nghiễm cười, bắt đầu như thế.

Hay gần như thế!

2.

Chúng tôi bước lên lầu 2 một cái quán bia vắng người khu nhà thờ Ba Chuông. Ông chủ quán đon đả, quen mặt Nghiễm, chưa gọi đã mang bia ra.

Anh đến đây thường?

Không, đôi ba tháng một lần, khi có bạn và cần chỗ vắng vẻ dễ chuyện trò. Nghiễm cười, bạn thì cực hiếm, thời này!

Thời này? Hẳn là vậy. Khi niềm tin rã nát, tương lai nào cũng mang hình dạng ảo vọng, lếch thếch quần chằng áo đụp, bôi mặt phường chèo xưng ta là đấng quân vương, giữa ngã tư đường chỉ trỏ xe chạy ngược xuôi kiểu một Bùi Giáng giả điên?

Nghiễm nhếch môi, tôi hẹn uống với nhau sau khi nhận hai tập Bể Dâu bạn gửi tặng, nay xin mời. Nâng ly, Nghiễm tiếp, uống rồi tôi hỏi bạn vài câu, mặc dầu thế là tôi phá lệ, chẳng bao giờ bàn về văn chương người khác.

3.

Nghiễm cũng lật ngược lịch sử truyền tụng để đặt lại những vấn đề về con người, xã hội, thể chế chính trị...

Trong tác phẩm Nhan Sắc, anh không cho Từ Hải chết đứng, trốn được và tiếp tục làm một kẻ nổi loạn chống lại bạo quyền. Anh để Kinh Kha cầm dao trủy thủ, nhưng không giết Tần Thủy Hoàng, vì nó chết thì lại có một bạo chúa khác, và chẳng có gì thật sự đổi thay.

Anh đứng trước hai con đường, một đến vùng cứ tạm gọi là tự do, còn đường kia là đến vùng giải phóng. Một bên giam hãm đày đọa. Một bên là cái chết. Nghiễm thở ra: “...Giờ đâu phải là thời của Kinh Kha... Nhiều đất Tần bất trắc, nhiều Tần Thủy Hoàng, nhiều sông Dịch phải vượt qua...”. Bây giờ lựa chọn con đường nào? Nghiễm cứng cỏi: “Tôi từ chối chọn lựa cả hai con đường ấy. Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn? ...”.

Nhưng con đường nào? Vào thập niên 60 thế kỷ trước, những người trí thức có ý thức trách nhiệm chắc hẳn có đi tìm, nhưng kết quả thì hầu như tất cả đều bị trói buộc vào những sợi nhợ kiểu một bên là tiền đồn thế giới tự do, bên kia là đỉnh cao của nhân loại. Có kẻ nhơn nhơn phát ngôn ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô và Trung Quốc. Có kẻ há mồm gào thét hô hào Bắc tiến, lấy máu tô cho ngọn cờ tự do dân chủ...

Chiến tranh vây bủa dân tộc mình như một lời nguyền truyền kiếp, và anh Nghiễm ơi, có thực sự là anh được lựa chọn gì không?

4.

Khề khà.

Tôi hiểu cái thảm kịch của Nguyễn Trãi trong Đất Trời của bạn. “Xét như nước Đại Việt ta/ Thực là một nước văn hiến/ Cõi bờ sông núi đã riêng/ Phong tục Bắc - Nam cũng khác”. Tuyên ngôn độc lập đã có từ 4 thế kỷ trước, đâu có cần đợi đến ngày 2/09 năm 1945.

Nhưng rồi tổ chức thể chế thế nào, xã hội ra sao? Trãi trăn trở, và mặc dầu trước tác Quốc Âm thi tập bằng chữ Nôm, người cũng đành buộc phải theo vết Hồ Quí Ly, du nhập hệ Tống nho phong kiến, kiểu quân quân thần thần phụ phụ tử tử, tức vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con. Thắng giặc Minh trên mặt quân sự, nhưng thiếu một ý thức hệ khu biệt, Trãi đành phải du nhập văn hóa chính trị xã hội của giặc.

Và thế, kết cục là thua.

Tiếp tục khề khà, thế còn Gió Lửa? Gió Lửa viết trong bối cảnh Trịnh - Nguyễn phân tranh, Tây Sơn khởi nghiệp và cuộc xâm lăng của nhà Thanh. Nhưng điểm chính là thuật lại cuộc nhỡ tàu canh tân cách đây hơn 200 năm trong khi Nhật Bản đã kịp vươn mình thoát khỏi cái ách văn hoá Khổng-Mạnh Trung Quốc, du nhập kỹ thuật Tây phương, kiến tạo ra một mô hình chính trị xã hội bắt kịp đà tiến bộ của nhân loại.

Tại sao Đại Việt lại trì trệ bỏ vuột thời cơ và đắm chìm trong chém giết? Xin đọc Lời Nguyền của Chế Mân trong đoạn chót *.

Thứ nhất, ý thức của người Đại Việt về việc chung không nhiều, thường quan tâm đến chuyện bòn rút của riêng, chỉ biết một hiện tại phù hư mà không biết lựa lọc quá khứ rút ra những bài học lịch sử, vì thế chẳng thể tìm ra được một tương lai xứng tầm.

Thứ nhì, sự đắm đuối vào vực sâu quyền lực và danh lợi. Trong bất cứ triều đại nào, chỉ một, hai đời là Vua, Quan hoá ra rắn rít, thành đĩ bợm đi đánh lừa dân gian, và rồi đi với ma mặc áo giấy, dân gian cũng đĩ bợm, chia rẽ, hằn thù, phản phúc, chém giết lẫn nhau... Đã thế, thảm kịch nội chiến được tô vẽ bằng những mỹ từ như tiền đồn cái này, đỉnh cao cái nọ, và tuy chỉ láu vặt nhưng bọn nắm thế quyền lại hợm hĩnh hô ta là một dân tộc anh hùng, anh hùng đông đến mức cứ ra ngõ là gặp. Nhưng chúng không hiểu một dân tộc hạnh phúc tiến bộ cần hiền triết hơn cần anh hùng. Nhiều anh hùng nên máu đổ, tiếp tục nghèo, tiếp tục u mê, say máu... vì thế tương lai có khả năng cứ lại là những đổ nát khó hàn gắn được.

Thứ ba, là lớp sĩ phu. Bọn này phần đông dùng chữ nghĩa kiếm lợi, phò chính thống, đánh đĩ lương tâm qua những mỹ từ lung lạc lòng người. Chúng mang cái bệnh chỉ nhìn thấy chóp mũi, nhưng đại ngôn đao to búa lớn, mặc dầu rỗng ruột và chất hèn ngấm vào sống lưng khiến chúng không bao giờ đứng thẳng được... Đám sĩ phu chính trực có, nhưng thời nào cũng hiếm, không thay đổi được thế cuộc, xưa thì cuối cùng về ở ẩn, dạy học, nhẫn nhục chịu cái thế bó chân bó tay....

5.

Nghiễm thở dài, thốt, thời nay thì cũng vậy thôi!

Chúng tôi trầm ngâm chiêu một ngụm bia nuốt xuống nỗi buồn chỉ chực trào ra. Quán không còn khách nào khác. Tiếng xe cũng ngơi dần. Ông chủ quán ngáp dài, bảo hai vị cứ tự nhiên, khi đi thì rung chuông để quán mở cửa cho khách về.

Bây giờ mình hỏi bạn về Bể Dâu nhé!

Quyển I, viết về Cải Cách Ruộng Đất, rồi Cải Tạo Công Thương Nghiệp và Nhân Văn Giai Phẩm là cần, và hay, rất cảm động. Nhưng quyển II, mình có vài thắc mắc. Tại sao bạn khởi đi từ 1973 với mặt trận Quảng Trị?

Vì tôi muốn nhấn mạnh đến tính cách nội chiến, một điều mà tôi bị ám ảnh ngay trong cuốn Gió Lửa. Tuy nội chiến chỉ là một khía cạnh, nhưng tôi lại cho đó là khía cạnh quan trọng nhất khi chúng ta nhìn vào tương lai của đất nước sau này.

Dẫu có đề cập nhưng tôi không nhấn mạnh đến lính Mỹ. Chính sách thay màu da trên xác chết của Nixon-Kissinger khiến giai đoạn cuối của chiến tranh ủy nhiệm mang nặng màu sắc một cuộc nội chiến. Hận thù lại chồng chất, và điều gọi là hòa hợp hòa giải dân tộc sau chiến tranh chỉ thuần là đầu môi chót lưỡi. Trước hết, phải hóa giải hận thù, nhưng chẳng dễ!

Khởi đi từ 1973 là vì tôi không muốn nhắc đến cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế. Câu chuyện kinh hoàng này đã có Giải Khăn Sô cho Huế của Nhã Ca rồi, nhắc lại thì chỉ khoét cho thêm sâu những cái chết lẽ ra không cần!

Trong Bể Dâu II, tôi viết về thân phận hai người lính, một Nam một Bắc, vốn là anh em ruột thịt song sinh, hòa bình rồi mà nào tìm được thấy nhau đâu. Sự chia cắt này không phải đến từ bất cứ ý thức “chính trị” nào.

Người từ miền Nam vượt biển, đi tìm tự do trong cái thập tử nhất sinh của kẻ lên thuyền máy liều mạng vượt đại dương bất chấp những con sóng dữ . Người từ miền Bắc cụt chân, đẻ con thì con là quái thai vì chất độc da cam, phát điên, và trở thành thi sĩ như nghiệp định.

Buồn, nhưng sinh ly tử biệt là... bất khả tư nghì! Ngoài ra, sự tàn khốc của chiến tranh thì đã có Đại Lộ Kinh Hoàng của Phan Nhật Nam. Và tính hài hước của lính sinh Bắc tử Nam anh hùng thì phải kể Hòn Đất của nhà văn ăn lương đảng là ông Anh Đức, khơi khơi cho 1 tiểu đội du kích đánh tan nát cả một trung đoàn lính Mỹ - Ngụy!

Kể anh nghe, năm 2007 anh Nguyễn Mộng Giác đọc rồi bảo phải hai mươi năm nữa Bể Dâu mới trở về quê hương được! Tức là phải đợi đế năm 2027, nhưng lúc ấy chắc mộ tôi xanh cỏ rồi!

Nghiễm cười buồn, nốc một ngụm bia, nhìn lên con thạch sùng chạy trên kèo quán, không đáp.

6.

Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm

Nghiễm in dưới cái tên Lênh Đênh Qua Cửa Thần Phù một tập 3 truyện ngắn và vừa, có truyện dưới dạng du ký, một dạng tôi rất đắc ý. Tôi đã viết Trăng Nguyên Sơ và Ghềnh V dưới dạng này, một dạng cho phép tha hồ nghêu ngao, tâm tình, và tha hồ hư cấu, ẩn dụ. Nhưng đó là truyện đã viết.

Giọng bí mật, Nghiễm bảo, mình đang viết Nguyễn Du tự truyện. Anh hỏi, bạn có biết những giây phút cuối cùng Du hành xử ra sao. Thưa anh biết. Hỏi lại, anh biết Du cũng từng dấy quân phù Lê đánh lại nhà Tây Sơn chứ. Ờ, chàng kiếm sĩ Toàn Nhật trong Gió Lửa bắt huyện quan Tây Sơn mang đến nhà Du và thúc, Du chém nó đi. Đến cắt tiết gà cũng ghê tay, Du chẳng dám, lắc đầu. Nhật bảo Du, đệ là một nghệ sĩ, sinh ra cho cái đẹp, chớ can vào những chuyện tranh chấp vấy máu, làm bẩn tâm hồn mình!

Nghiễm trầm ngâm, Du là con Quận Công Nguyễn Nghiễm, em quan Chánh dường Nguyễn Khản lo toan chính quyền trong phủ Chúa Trịnh, hẳn thừa biết mình mang ân huệ triều đình vua Lê-chúa Trịnh, không thể phủi tay theo về nhà Tây Sơn như những danh gia như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Huy Tự... mặc dầu cũng hiểu là vận nhà Lê đã đến lúc cáo chung. Dùng dằng cho đến khi Nguyễn Ánh triệt hạ được nhà Tây Sơn, Du xuất (ra) thì không cam lòng, nhưng xử (ẩn) thì Ánh cho người đến tận làng “vời” ra. Làm thế nào đây hả Trời? Rồi thì cũng gặp thời thế thế thời phải thế, đành vào Phú Xuân, rồi nhận đi sứ sang Tàu xin cầu phong, nhưng thường là “không ý kiến” khiến Ánh có lần nạt: Ta gây dựng cho, sao ngươi cứ ngậm tăm im thin thít là làm sao?

Nhưng Du có lựa chọn nào? “Ai buộc chúng ta phải chấp nhận con đường có sẵn? ...”. Nghiễm từng hỏi.

Ai? Ai? Đời bắt vậy, và ta đành nhượng bộ? Thành thợ sơn mài hai năm sau 1975, làm tới 1990 thì hết việc, Nghiễm vui vẻ về nhà nấu cơm rửa bát phục vụ vợ con, vẫn cứ tự tại, hồn nhiên như chẳng có chuyện gì quan trọng hơn thế.

Chẳng biết chính quyền “cách mạng” có o ép Nghiễm làm gì không, nhưng nếu có thì cũng như không, và chẳng đi sứ xin cầu phong, chắc chắn Nghiễm tránh được cái thế của Du phải phủ định Lê-Trịnh là cái chế độ từng cưu mang mình! Phải chăng chính khác biệt này khiến Nghiễm cảm được cái thảm kịch của Du, nên viết Nguyễn Du Tự Truyện như một sự đồng cảm, một chia sẻ tâm tư trước những dâu bể tang thương dẫu rằng họ sống cách nhau gần hai thế kỷ.

Chỉ mới được đọc một đoạn, tôi quả tình không biết Nguyễn Du Tự Truyện như thế nào. Nhưng xin một lời với chị Trang, nay là bà quả phụ của nhà văn Dương Nghiễm Mậu, là nếu có bản thảo thì xin chị chớ thất lạc hầu để lại thêm chút vốn liếng cho văn học và cho những đời sau.

Phút cuối, Du bảo người nhà sờ chân và hỏi: Lạnh chưa? Dạ, rồi! Thế thì tốt! Cái lạnh đi từ chân, lên bụng, ngực, và cuối cùng là đầu. Tốt, từ nay không còn vấn vương gì! Thôi suy tư, nghi hoặc. Và nhất là chẳng cần chọn lựa gì nữa!

Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

Ba trăm năm sau ai khóc Tố Như? Hai trăm năm, nay hẳn đã có Nghiễm.

Còn một trăm năm nữa cho đủ số ba trăm, sẽ là ai?

7.

Khuya không còn taxi, xe ôm nên Nghiễm bảo đợi sáng rồi hẵng về. Trời tờ mờ thì tôi lên đường, phải cuốc bộ từ nhà thờ Ba Chuông về nơi tôi cư trú ở gần chợ Trương Minh Giảng. Tôi nói anh khỏi đưa, cả đêm không ngủ, chắc ai cũng mệt. Đi, anh đứng nhìn theo, vẫy.

Vừa bước, tôi vừa ngẫm nghĩ. Du hẳn phải tự tin vô cùng khi ra cái hạn ba trăm năm. Tài mọn, chúng tôi cầu chỉ 30 năm cũng khó. Nhưng Nghiễm thì quá cái hạn này rồi. Chẳng hạn Nhan Sắc in năm 1966. Năm nay là năm 2011 mà tôi còn nhớ, tức là đã chẵn 45 năm.

Mới đây, khi tái bản 4 cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn của Nghiễm ở Sài Gòn, Vũ Hạnh và lũ văn nô ồn ào lăng nhăng chống đối. Ấy thế thì đối với người đời văn chương anh lại càng đáng nhớ! Ôi, có những nghịch lý thật đáng yêu như thế đó!

8.

Tết năm Ngọ, chúng tôi ăn tất niên với nhau. Nhà hàng nào cũng đông như kiến. Không tìm ra chỗ, anh rủ đến cái câu lạc bộ nằm cạnh nơi sản xuất sơn mài mà anh đã làm ngày trước.

Anh đi trước, dáng thanh thanh, bước thăn thoắt. Nga và Trang theo sau, bị bỏ tuốt đàng sau. Tôi chạy theo, anh Nghiễm ơi, đi đâu mà vội mà vàng, các bà hụt hơi theo anh không kịp. Anh cười, điềm nhiên, à một tiếng rồi đứng lại chờ.

Ấy thế mà đã gần ba năm rồi. Anh vốn mạnh khoẻ, sáng nào cũng đi bộ hàng giờ, và nhất là anh chẳng bao giờ lộ vẻ bi quan, lúc nào cũng tươi cười, hồn nhiên, lịch lãm. Đùng một cái, anh đột ngột ra đi. Như một vì sao sa. Dấu vết là ánh lửa xẹt ngang trời trong một chớp mắt.

Hôm nay, 49 ngày từ khi anh bỏ đi xa. Cũng là ngày anh thoát kiếp và sẽ tái sinh, theo truyền thuyết.

Anh Nghiễm, cụ Nguyễn Công Trứ thì xin chớ làm người, làm cây thông đứng giữa trời mà reo. Còn anh? Anh định làm gì? Anh có reo với trời cao không? Anh định nói thêm gì nữa?

Tôi thì nghĩ, từ tro than, anh sẽ bay lên thật cao, như một đốm lửa tìm cách soi những con đường mới, những con đường do chính anh chọn lựa.

Kính viếng

---

*Chế Mân vua Champa lấy Huyền Trân Công Chúa, quà cưới hai Châu Ô, Châu Rí cắt đất dâng cho Vua nhà Trần. Mân chết, theo tục lệ Chàm thì phải hỏa thiêu Huyền Trân chết theo, nhưng Vua Trần phái Khắc Chung vào cướp Huyền Trân đưa về. Hai anh chị này thông dâm, về đến Thăng Long sau 2 tháng trăng mật trên biển.

19-09-2016

N.D

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2023

Phùng Cung, thơ và người

Bút ký Nam Dao

(Trích từ Những Con Người - Bút Ký 1- Thi Văn xuất bản tại Hoa Kỳ, 2017)

                                                      Kính viếng Phùng Cung và Phùng Hà Phủ

PHUNG CUNG.JPG

Chân dung Phùng Cung (ảnh của Nguyễn Đình Toán)

Năm 14 tuổi, tôi đọc Con Ngựa già của Chúa Trịnh. Đọc lén vì bản thảo nằm trong một cái tủ cha tôi khóa kỹ, thỉnh thoảng mở ra rồi thận trọng nhét vào một cái hồ sơ trên có đề chữ mật. Chữ này đầy mãnh lực, hấp dẫn đến đỗi quên ăn quên chơi ngay ở tuổi tôi đang lớn. Tôi đánh được chìa, mở tủ lấy hồ sơ, leo lên trần nhà. Ghé vào những khoảng sáng hắt qua kèo cột, tôi say sưa đọc, mồ hôi nhễ nhại trong cái hừng hực nóng của mùa hè Sài Gòn đổ lửa.

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

Xổ bụi (kỳ 2)

Bút ký Nam Dao

(Trích từ Những Con Người - Bút Ký 1 - Thi Văn xuất bản tại Hoa Kỳ, 2017)

NAM DAO

Chân dung Nam Dao

- Chị ạ, quyền lực dọa dẫm bằng cắt cái miếng ăn, cấm không được lấy người mình yêu, bắt phê, tự phê, kiểm thảo tư tưởng, rồi chiêu dụ, lấy người nọ đánh kẻ kia… Hóa ra, ở đằng sau, có thể nào vẫn hai thế lực “đàng trong” và “đàng ngoài” húc nhau, Nhân Văn - Giai Phẩm chỉ là con muỗi tế thần? Thành thử, khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ biết mới sống…

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2023

Xổ bụi (kỳ 1)

Bút ký Nam Dao

(Trích từ Những Con Người - Bút Ký 1- Thi Văn xuất bản tại Hoa Kỳ, 2017)

NAM DAO

Chân dung Nam Dao

Tôi sinh ra dưới một ngôi sao trái nết nên đời có đôi phần vất vả. Nhưng chị Liên, bà chị kết nghĩa của tôi, còn vất vả ít là gấp năm gấp bảy lần. Trái nết nên khó dạy, riết thành trắc nết lêu lổng, mẹ tôi gửi tôi nhà “hai bác” năm tôi mười hai tuổi. Thuở đó, cha tôi đi làm xa, mẹ tôi một mình than khổ ơi là khổ, nhà không có đàn ông! Phần tôi, thật là thú vị. Trên “hai bác” có mấy đứa loai choai cùng tuổi. Rồi mỗi nơi một chốc, mẹ hỏi ở đâu, tôi đáp con ở trên nhà hai bác, bác hỏi đi đâu, tôi thưa con về dưới nhà cha mẹ con. Cứ như thế, cuộc lêu lổng dẫu danh bất chính nhưng ngôn lại thuận.

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2023

Những con voi không đẻ được

Bút ký Nam Dao

                                                                                                     Tưởng nhớ Văn Cao

 

(Trích từ Những Con Người - Bút Ký 1- Thi Văn xuất bản tại Hoa Kỳ, 2017)

Bài này đăng trên báo Ðất Việt năm 1986, khi anh đang nằm bệnh, đã tưởng khó qua. Anh lành bệnh, và in tập thơ Lá (NXB Tác phẩm mới, 1988), viết “Voi đã đẻ, gửi đứa con để anh nuôi”.

Rồi năm 1995, anh cũng đã về với cát bụi. Và cát bụi mệt nhoài, trong hoàn cảnh những người làm văn hóa của thế hệ anh.

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2023

Bác Nguyễn

Nam Dao

LTS: “Những bài trong Bút ký 1 này viết ra là để trả nợ. Những Nguyễn Tuân, Văn Cao, Trần Dần, Phùng Cung. Những Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng. Rồi Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Dương Nghiễm Mậu… Và ở hải ngoại, Nguyển Xuân Hoàng, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác...

Từ tình cờ, nhân duyên trên những nẻo đường luân lạc, tôi được gặp họ, những nhà thơ nhà văn, và từ họ tôi cảm được chẳng chỉ sự truân chuyên của nghiệp viết mà còn nhận ra cái trách nhiệm của những con chữ có nghĩa, và nhất là những con chữ mang khả năng chuyên chở tương lai.

[...]

Hồn họ ở đâu bây giờ? Xin trả lời: ở trong nếp văn hoá mà họ đã động não xây dựng, với chân, thiện, mỹ, và bằng mồ hôi nước mắt của những cuộc đời sóng to gió cả”.

Là những lời nhà văn Nam Dao gởi gắm trong tập Bút ký 1 này. Chúng tôi xin lần lượt giới thiệu cùng các bạn – Văn Việt

Chủ Nhật, 14 tháng 3, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 306): Bể dâu – Nam Dao (25)

NGOẠI TRUYỆN:

Sau dâu bể

Thật ra truyện Bể Dâu đã chấm dứt khi Dân thành cánh chim bay. Nhưng không phải vậy vì có những chuyện bất ngờ sau khi Dân đi. Vắng một bệnh nhân, bề ngoài mọi sinh hoạt bề mặt tiếp tục bình thường. Bà sơ tóc bạc thanh mảnh như một cành liễu ban đầu không nói gì, chỉ ngóng cửa, vẻ chờ đợi. Trưa trưa, bà vẫn ngồi cạnh những chiếc lồng chim trống, nhìn ra biển, mắt lim dim dưới nắng. Thỉnh thoảng, bà mỉm cười một mình. Cho đến một buổi bà nhắm mắt lại, ai gọi thế nào thì gọi, bà không bao giờ mở ra nữa. Bà cũng đi, trời vẫn xanh và mây vẫn bềnh bồng, để lại một hộp bánh bít-qui bằng thiếc trong có giấy tờ, thư từ. Tôi mở ra, và trời ơi, đọc những lá thư con bà là Nhân từ Úc, là Lương từ Pháp gửi về, tôi biết bà chính là Huyền, người mẹ của Dân, lưu lạc từ ngày Dân còn tấm bé. Bấy giờ tôi hiểu có lẽ bà bảo bà là mẹ Dân, nhưng như một phản ứng vô điều kiện, Dân khi đó chỉ kêu ‘‘Không không, Mẹ tôi ở trên Trời!’’.

Thứ Ba, 9 tháng 3, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 305): Bể dâu – Nam Dao (24)

Giải sông Thạch Hãn uốn quanh Cổ thành lấp loáng ánh thép một lưỡi dao quắm trong chiều tàn buổi đầu thu rờn rợn gió. Hôm ấy là ngày 16 tháng 9, kỷ niệm đâu gần 20 năm sau trận đại hồng thủy mang tên mặt trận Quảng Trị với những Đại lộ Kinh Hoàng, Ngã ba Máu, Đồi Bom, Cứ điểm Gọi Hồn. Thành xưa, nay không còn gì. Người xưa, những ai mất những ai còn? Túm lại chút trí nhớ, người ta xây lại Cổng thành, kè hào, trồng dừa và kẻ bảng ghi hai chữ tưởng niệm ở góc Đông Nam, đặt trên nền đất 81 tảng đá tạc văn bia mô tả 81 ngày thịt rơi máu đổ. Góc Đông Bắc, người ta phục chế thành với một tỉ lệ nhỏ hơn, trồng một rừng mai gợi lại biểu tượng non Mai sông Hãn. Góc Tây Nam, là khu trưng bày hàng trăm hiện vật của trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc chiến. Tham chiến, miền Bắc có sư đoàn 304, 308, 312, 320, 324, 325...Miền Nam, Lữ đoàn Dù 1 và 2, Sư đoàn Thủy quân Lục chiến, Sư đoàn 1 bộ binh, 3 liên đoàn Biệt Động quân, lữ đoàn 1 thiết giáp...Thị xã Quảng Trị diện tích tổng cộng 3.2 km vuông với Thành cổ mỗi cạnh dài 100 m đã chịu trong 81 ngày đêm 328 nghìn tấn bom, 9552 nghìn đạn pháo 105 ly, 55 nghìn đạn pháo 155 ly, 8164 đạn pháo 175 ly, 615 nghìn đạn pháo bắn từ hải hạm Mỹ, 2240 lần oanh tạc của không quân Mỹ với sức công phá tương đương 7 lần hai quả bom nguyên tử thả trên đất Nhật cuối Thế Chiến 2. Đấy là phe ‘‘địch’’. Còn ‘‘ta’’? Tổn thất vẫn là một bí mật. Nhưng chắc chắn không chỉ hò hét mà loại được 249 xe, 230 khẩu pháo, 205 máy bay các loại, 26400 quân trong đó có trên dưới 10,000 phơi xác trên chiến trường!

Họ rời cổng Thành, men về phía trái, một đi trước chống nạng khập khiễng, một theo sau, lưng thồ một thồ đầy hoa, mắt đăm đăm nhìn về phía chân trời. Thình lình, anh đi trước ngừng bước đợi kẻ đồng hành.

- Thống kê không cho biết thiệt hại về phần ta. Và nhất là số thương binh tàn phế như tôi đây. Bị B-52, nghe nói vừa chết vừa bị thương đến cả trăm nghìn. Rồi cả hai bên, bên ‘’ta’’ bên ‘’địch’’, số vợ góa con côi là bao nhiêu? Chẳng ai biết, lờ đi như nạn nhân không hề có mặt trong sự bất hạnh của cái chiến công oanh liệt thần thánh được ca ngợi trong căn nhà lưu niệm trên kia. Nói cho cùng, súng đạn ‘’ta’’ là súng đạn Liên Xô, Trung Quốc. Súng đạn ‘’địch’’ là súng đạn Mỹ. Chỉ người chết là Việt Nam!

Thở dài, người đồng hành đăm chiêu, giọng chua xót:

- ‘’Ta’’ với lại chẳng ‘’địch’’, rõ quẩn! Cái cuộc đánh nhau lấn đất cắm cờ hồi ở Quảng Trị không thay đổi gì nội dung bản dự thảo cuối cùng ký kết dưới cái tên Hiệp Định Paris tháng giêng năm 73. Thế mà sau Quảng Trị, B-52 quần thảo toàn bộ miền Bắc, kết thúc bằng trận ném bom Hà Nội vào dịp Giáng Sinh năm 72. Nhất chiến công thành vạn cốt khô. Nhưng khốn nạn thay, chiến công nào? Thay đổi được gì mà trả giá bằng ấy xương máu?

Anh thì thào như nói một mình:

- Bức tường Bá Linh giờ nay sụp rồi! Chính thế là duy vật biện chứng đấy. O ép niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và ý thức hệ Mác-Lê như một tôn giáo cuối cùng dẫn đến sự phá sản không tránh được của cả một chế độ xã hội. Bây giờ lại phải chờ một bước ngoặt mới của lịch sử. Phải đợi cho thời gian gạn sạch những vùng ô nhiễm hận thù, soi sáng trí tuệ và đánh động lương tâm!

Một lũ trẻ ở đâu xồ ra. Chúng chỉ trỏ hai người, cười rú lên rồi la inh ỏi, ‘‘ông già điên’’!. Người chống nạng đưa tay lên vuốt tóc. Đúng là mình già, tóc nay chớm bạc, lòa xoà rơi xuống ngang vai. Điên, cũng đúng, mình mới ra nhà thương. Bọn trẻ con đến gần hai người, khúc khích cười, mắt tròn lên nhìn cái hộp các tông trong tay ông ta. Một đứa bạo dạn nói, nè ông, ông đọc thơ như bữa qua giữa chợ đi ông. Người chống nạng buồn buồn bảo, quên hết rồi, không nhớ nổi. Bọn trẻ ré lên, lạ chi rứa, mới bữa qua quên sao được hè! Ông ta hứa cho qua chuyện, chút nữa, sẽ đọc. Nói xong, hai người xuống dốc, người lành dắt người què. Đám trẻ ồn ào theo sau. Tới ven sông, hai người lẳng lặng ngồi. Người lành mở thồ hoa. Hoa có đủ loại, vét mua khắp chợ thị xã. Này lan, huệ, cúc, hồng, thậm chí cả những loài hoa dại người ta kết thành bó. Người chống nạng mở một xếp báo, xé thành mảnh nhỏ rồi gấp những chiếc thuyền giấy. Bọn trẻ đòi, ông ta lẳng lặng đưa. Cả đám lụi cụi gấp, bẻ, và không hiểu sao tất cả đều im lặng. Trên cao, chỉ còn gió, gió vi vút, và ánh nắng yếu ớt đang lụi dần. Ngước nhìn lên bờ thành, người chống nạng thình lình khóc rưng rức. Bọn trẻ ngơ ngác, đứa khóc theo, đứa nắm lấy áo ông, đứa mím môi nhìn lên trời.

Đặt những bông hoa lên thuyền giấy, cả bọn đến mé nước. Mặt sông Thạch Hãn lăn tăn sóng. Bên kia là làng Nhan Biều ủ dột, khói bếp đâu đó lững lờ vươn lên trời bắt đầu im gió. Người chống nạng nghẹn ngào:

- Buồn ơi là buồn! Làm sao quên những mảnh gạch vỡ trong Cổ thành năm xưa đây. Chẳng có đến một hòn nguyên vẹn...

Người lành bảo đám trẻ:

- Ta thả thuyền đi các cháu!

Trên sông, những chiếc thuyền giấy chở hoa sang bờ. Chúng dập dềnh theo những gợn sóng, có cái chao vòng, nhưng rồi lại theo con nước ròng quay về một hướng. Người chống nạng cất tiếng, giọng tha thiết, se sẽ ngâm:

Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Dâng tuổi hai mươi cho sóng nước

Vỗ yên bờ mãi mãi nghìn năm

Trên mặt ông ta, nước mắt đầm đìa. Bọn trẻ thình lình cùng nhau lập lại, như reo,

Vỗ yên bờ mãi mãi nghìn năm.

Giòng sông mang tên mồ hôi của đá bỗng chồng chềnh, nước sủi bọt, bọt vỡ, tiếng đánh động linh hồn những kẻ nằm dưới đáy sông. Một đàn chim trắng bay ngang, cánh chim bắt những ánh nắng cuối cùng trong ngày, sáng lên màu của lửa, đảo một vòng rồi tít tắp bay xa. Người lành đến cạnh ôm xiết lấy vai người chống nạng. Người chống nạng thụp xuống, tay ghì hộp các tông vào lòng. Lát sau, ông ta mở nắp. Đàn châu chấu ma lách tách nhẩy ra, con lủi vào cỏ, con đập cánh vù bay đi. Bọn trẻ con sửng sốt nhưng im lặng. Người chống nạng dịu dàng:

- Đã đến lúc phải cho tất cả giải ngũ rồi! Đời sống chỉ đáng sống trong hòa bình. Chiến tranh là chuyện ngu xuẫn nhất khiến con người còn xuống thấp hơn cả những loài thú man rợ...

Đó là câu chuyện kẻ cứu mình bằng thơ một hôm ghé bờ sông ven Cổ thành Quảng Trị. Truyền thuyết đàn châu chấu ma tìm được tự do và bốn câu thơ kia không biết thế nào được truyền tụng trong dân gian. Rồi hàng năm, cứ vào ngày tưởng niệm anh hùng liệt sĩ cả Bắc lẫn Nam trong trận đánh khốc liệt nhất trong toàn bộ cuộc chiến tranh, các mẹ, các chị thả hoa trên những chiếc thuyền giấy trôi qua bờ Thạch Hãn, nước sông là do đá rịn mồ hôi, nhớ những kẻ dưới đáy sông để nhắc nhở những người đang sống trên bờ đã có một thời dâu bể.

*

Phan thượng Dân ở bệnh viện Qui Nhơn với tôi tất cả đâu khoảng năm năm. Thời gian cuối, anh hí hoáy viết, tâm hồn an bình dần, mặt mũi đôi khi thoáng thấy chút niềm vui. Anh không cho xem anh viết gì, và tôi, tôi tôn trọng tư riêng, chẳng dám hỏi. Thuở ấy trời vào Xuân. Én bay về từng đàn, chao lượn, cánh như dát bạc dưới nắng vàng tươi. Anh ngày ngày ngồi ngắm, rồi một hôm thủ thỉ, cắt cánh hay bỏ lồng, chim mất chức năng bay bổng thì nó thành gì? Mấy ngày sau, anh trầm ngâm, bay là chức năng của chim, nhưng cái gì là chức năng của con người? Tôi buột miệng, ăn ở, làm việc, mưu cầu hạnh phúc. Anh lắc đầu, muốn thế thì phải tự do. Tôi ngạc nhiên, trong đầu nổi lên hai chữ tất yếu trong những bài giảng ở cấp 3 nghe tù mù khó hiểu đến nỗi hỏi là các thầy các cô thời đó hoặc lảng đi hoặc gắt lên. Lập lại một cách máy móc, tôi lên giọng như hỏi, tự do là tất yếu? Dân lại lắc đầu. Tôi hỏi, thế nó là cái gì?

Dân thủ thỉ, nếu anh chỉ một mình trên thế giới này, tự do không có nghĩa gì hết, một mình anh muốn gì cứ làm. Giả thử không chỉ một mà bây giờ có hai người. Điều anh làm không đụng chạm đến người kia, kẻ cùng chia xẻ một môi trường, anh vẫn có thể cứ làm. Nhưng nếu ngược lại, anh không thể cứ làm như anh một mình một cõi. Tự do có nội dung khi nó là phạm trù xã hội, và phải chăng nó là qui ước kết hợp những ý thức cá nhân với nhau để tạo ra một không gian xã hội đồng thuận. Nhưng cái nền cho mỗi người vẫn là ý thức cá thể, Điều này cấu thành từ tư duy, tức là suy nghĩ độc lập. Không tự mình nghĩ, những điều vừa kể vô nghĩa. Tư duy là chức năng quí báu nhất, cần phải phục hồi. Đối với con người, nó như cánh của loài chim bay. Có tư duy, mới có khả năng chính mình chọn lựa tương lai cho mình. Chọn lựa thực sự, ắt phải trong điều kiện tự do, chính như vậy tự do mới có ý nghĩa tất yếu. Và chỉ thế, chúng ta mới có thể làm người với nhau. Không làm người, không thể là người được.

Đêm hôm ấy, anh rón rén đi bẻ gẫy tất cả cửa những cái lồng chim trong sân nhà thương. Sáng tờ mờ, anh lẳng lặng ra đi, để lại cho tôi một bài trường ca mang tính sử thi anh từng đọc cho tôi nghe những đoạn rời. Bài thơ lạ. Nó không giống bất cứ gì tôi đã đọc trong quá khứ. Khác từ âm điệu, kết cấu. Nhất là những chữ rời ghép với nhau đôi khi bằng những khoảng trống. Anh có lần nói với tôi, giọng bí mật, chính những khoảng trống ấy là không gian để người đọc toàn quyền tự do cảm nhận và dự tưởng. Có vậy, mới là Thơ. Băn khoăn, thỉnh thoảng tôi lại xin anh đọc lại. Cho đến hôm tôi bảo tôi hiểu, nhưng anh khoát tay, nói chính anh, anh không hiểu hết, không biết hết. Anh chỉ tay lên trời xanh, cười:

- Trên ấy, ông Trời hiểu hết biết hết. Vì thế, ông ấy không còn sáng tạo gì được! Ông ấy chưa hề làm thơ, bác sĩ ạ!

Tôi ngửng lên. Cao vót, một cánh chim trắng liệng tròn. Cái có thể hiểu rất giới hạn. Nhưng tôi hiểu chim sinh ra để bay. Tôi hiểu, tư duy với chúng ta hệt như chim vẫy cánh. Và làm Thơ, những nhà Thơ mong phục hồi cái chức năng ấy cho chính mình và cho tất cả mọi người.

Những hôm trời nắng, tôi ra ngắm những lồng chim cửa đã mở. Cuối chân mây, những cánh chim bay, thật cao và thật xa, vào tương lai.

Thứ Bảy, 6 tháng 3, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 304): Bể dâu – Nam Dao (23)

Cha xứ Hưng Nguyên tên là Nguyễn Trường Văn, sau năm 54, đổi tên thành Tín khi quyết định ở lại không đi Nam, nhắc mình giữ đức tin vào Chúa để phục vụ giáo dân. Cha có những nét thân quen lạ lùng. Cha nói, tôi mới biết cha là chú tôi. Tôi không phải họ Phan, mà là họ Nguyễn, tên cha đẻ ra tôi là Nguyễn Trường Võ. Họ Phan là họ cha mượn một người đồng chí thời Quốc Dân Đảng bị chết trôi sông. Phan Thượng Chính thật ra là Nguyễn Trường Võ, người Giáp Đoài. Chú tôi lôi ra cho tôi xem gia phả. Ông cố tổ tôi là Nguyễn Trọng Thức, đã từng sang Pháp, sau cộng tác với Tây Sơn trong thời Gió Lửa. Đến đầu triều Gia Long, con ông là Nguyễn Quốc Thư cùng mẹ là Đặng Thị Mai về tá túc xứ đạo Bùi Chu, đẻ ra Nguyễn Trường Tộ. Cụ Tộ cũng bôn ba đây đó, dâng Tế Cấp Bát Điều lên triều đình Tự Đức, không được dùng, đau đến đứt ruột mà chết. Cụ sinh ra ông tôi, Nguyễn Trường Cửu, tục gọi là Đồ Cửu. Ông tôi nối chí cố tổ, tiếp tục biên soạn cuốn Tề Nhân Thế Luận, nhưng lực bất tòng tâm. Ông sinh được ba người con trai, cha tôi là con cả. Ngoài chú tôi, tôi còn một ông chú khác hiện là Linh mục tại Rô-ma. Chú tôi chép miệng, gia tộc mình là vậy, may còn có tôi nối dòng. Hai chữ nối dòng làm tôi điếng người. Tôi vội thưa, còn anh Nhân, Phan Thượng Nhân. Chú bảo chú biết rồi, đưa cho tôi một cái phong bì, thư cha tôi gửi cho tôi.

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 303): Bể dâu – Nam Dao (22)

Chính ủy dạo này thật lạ, hỏi han chuyện nhà chuyện cửa. Tôi thành khẩn:

- Thưa đồng chí, tôi không nhớ được gì! Cha đi công tác ở đâu tôi không biết. Còn mẹ, mẹ tôi chết khi tôi còn bé. Tôi chỉ còn bà ngoại, già lắm rồi! Khi tôi lên đường đi B, bà dặn, sống khôn thì chớ chết, thác thiêng mà lúc bà đi về hầu các cụ thì mày cũng chỉ có cháo lá đa thôi con ạ!

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 302): Bể dâu – Nam Dao (21)

XỔ LỒNG

Cửa sập lại, và như thế chút nắng ngoài kia chỉ còn hắt qua những chiếc chấn song sắt han rỉ. Người đàn bà bước đến, lông mày xếch lên, môi trề ra. Tại sao anh lại đánh ông ấy? Câu nói vừa dứt, ánh nắng chao nghiêng. Hắn giụi mắt, nhướng lên nhìn, ngô nghê, hỏi tại sao đánh, mà đánh ai mới được cơ chứ! Người đàn bà lúc lắc cái đầu to quá khổ. Tay giơ chiếc nạng gỗ lên ngang tầm mắt, bà ta gằn, xem đây, còn dính cả máu, không phải anh thì ai quật vào đầu ông ấy. Ới giời ơi là giời, ông ấy có sao không? Sao chứ lại không sao! Chết rồi à? Chết thì chưa, nhưng chỉ tí nữa là toi. Lạy Giời, thật là may. Ai may, người đàn bà sẵng giọng, anh hay tôi, hay ông ấy? Chắc không phải tôi đâu, bà ta mỉa mai, giọng chua như mẻ. Hắn cúi gằm mặt, hai tay đấm thùm thụp vào ngực.

Thứ Ba, 23 tháng 2, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 301): Bể dâu – Nam Dao (20)

Hai tuần sau khi cặp vào đất liền, thuyền nhân được đưa đến Galang. Vào trại tập hợp đám người lưu vong chờ xét duyệt xin đi định cư ở một nước thứ ba, Nhân ngạc nhiên, không ngờ số người ở đây lên đến hơn chục ngàn. Họ đi từ khắp nơi. Miền Trung, thì Phan Rang, Phan Thiết... Miền Nam, Gò Công, Bình Dương, Bà Rịa... Có người đã ở trại ba, bốn năm, nhưng chưa nước thứ ba nào phỏng vấn. Có kẻ chỉ đợi dăm ba tháng là đi. Trại có hai nhà thờ, một là của người Việt, một của người Campuchia. Ngoài ra, trại cũng xây được một ngôi chùa. Và thờ Phật thì không phân biệt chủng tộc, chỉ cưu mang ‘‘Nạn nhân Cộng Sản’’, nói cách nói của nhà sư chủ trì người gốc Bình Ðịnh. Trại bầu một ban Trị Sự lo vấn đề xã hội, việc liên lạc với chính quyền sở tại, với các cơ quan từ thiện. Ban Trị Sự tổ chức hai lớp học cho trẻ em, một phòng sinh hoạt để giúp đỡ chuyện giấy tờ, một lớp tiếng Anh cấp tốc. Vấn đề xã hội khá phức tạp. Thuyền nhân phần đông chỉ ăn, ngủ và đợi phỏng vấn nên đám thanh niên độc thân đã bắt đầu hút sách, cờ bạc, rượu chè và lập băng lập đảng. Sống trong dãy nhà dài thuồn thuỗn, mái lợp tôn nóng đến chảy mỡ, họ thường tụ tập, ẩu đả và quấy phá mọi người. Thằng Hai ra nhập băng đảng Miền Nam thành đồng trong khi em nó, thằng Ba, vào băng cựu chiến binh Cộng Hoà. Hai băng xung đột liên miên, bên nào cũng trưng cờ chính nghĩa. Ban Trị Sự gần như bó tay, phải nhờ cảnh sát địa phương can thiệp.

Thứ Ba, 9 tháng 2, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 300): Bể dâu – Nam Dao (19)

Chia thành từng đám nhỏ, người xuống đủ thì ‘‘taxi’’ - một chiếc ghe đuôi tôm - mới chống ra giữa rạch Bến Nghé, nhắm hướng sông Sài Gòn lướt đi không gây ra tiếng động. Chỉ có gia đình ông chú của Dũng và gia đình Nhân. Họ ngậm tăm, lẳng lặng nhìn nhau, ánh mắt không giấu được lo âu. ‘‘Tài xế’’ thì thào:

- Ðến chỗ an toàn mới nổ máy. Bà con cô bác yên tâm, tui làm ‘‘taxi’’ hai năm rồi, chưa bị bắt lần nào!

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 299): Bể dâu – Nam Dao (18)

Chiếc xe Jeep mang phù hiệu công an xịch lại đỗ đầu ngõ. Hai người nhảy xuống, một mặc thường phục, người kia vận quân phục mũ cát-két trên đầu. Họ gõ cửa, Huyền ra mở, reo:

- Dũng hả?

Thời gian vô gia cư, Dũng thỉnh thoảng về trú ở đây, có khi ở cả tuần. Thấy người đi kèm, Huyền thót bụng, lùi một bước. Trước thái độ Huyền, Dũng trấn an:

- Thưa bác, bạn cháu xưa đã đến nhà đây tìm địa chỉ cháu, bác đừng ngại.

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2021

Văn Hải ngoại (kỳ 298): Bể dâu – Nam Dao (17)

Bước vào con đường quen thuộc dọc bến Vân Ðồn, Dũng thấy chân nặng chình chịch. Nỗi lo âu khiến chàng gần như tê liệt. Con đường vẫn thế, nhà cửa xơ xác hơn đôi chút và cái xe của ông già mì Quảng vẫn ở ngã ba rẽ vào hẻm nhà chàng. Nhìn xuống rạch, thuyền cắm san sát, loáng thoáng bóng người. Dưới nắng, mùi kinh rạch bốc lên, gió thốc vào mũi đến lợm giọng. Trên lộ, nay chỉ có xe đạp. Như những con thoi, xe ngược xuôi, lấn nhau cướp đường. Thỉnh thoảng mới thấy một chiếc Honđa, vừa phóng vừa bấm còi inh ỏi.

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2021

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 297): Bể dâu – Nam Dao (16)

Cửa vừa mở, Huyền reo lên, gọi tên Nhân rồi ồm chầm lấy con. Nhìn mẹ, Nhân rưng rưng nước mắt. Huyền gầy gò, tóc đã bạc, khắc khổ tạc vào khuôn mặt cương nghị những nét đẽo của một định mệnh khắc nghiệt lạ lùng. Ðưa tay lên lau nước mắt, Huyền lại mím môi, phản xạ vô điều kiện của một đời sóng gió. Nhìn quanh, Nhân không thấy U già. Cũng không Dao Ánh. Chỉ bé Quỳnh từ bếp bước lên nhà trên.