Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tuyết Lộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Tuyết Lộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2025

Những chuyến đi xa

Nguyễn Tuyết  Lộc

Du lịch đó đây là một trong những sở thích của tôi, mỗi khi thấy trí não bắt đầu trì trệ, cơ thể rã rời. Đi theo tours không cần lo chỗ ăn ở, tham quan, nhưng giờ giấc phải tuân thủ, muốn ngủ thêm chút buổi sáng, cũng phải mắt nhắm mắt mở dậy cho kịp đoàn; đi một mình, tha hồ nghỉ ngơi, dừng lại bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào mình muốn, tôi có nhiều thời gian hơn để chiêm nghiệm những điều kỳ thú của cuộc sống ngoài đất nước mình, đôi khi trùng hợp những sự kiện lịch sử xứ người, như đọc được từng trang sách mới vô cùng hấp dẫn, nhưng xem chừng không người hướng dẫn, lắm lúc gặp tình huống dở khóc dở cười, tự nhiên thấy mình ngây ngô như ở quê lần đầu lên tỉnh.

Thứ Sáu, 11 tháng 12, 2020

Thơ Nguyễn Tuyết Lộc

MƯA

 

Nếu em cần một bờ vai để tựa

Hy vọng rằng bờ vai đó vai anh

 

Mưa

Mưa! Mưa xối xả. Mây vần vũ tối đen. Em đã chờ từ lâu những cơn mưa như thế. Được khóc trong mưa, được gào thét dưới mưa. Nước mưa hoà cùng nước mắt, tuôn tràn thành sông, thành lũ, cuốn hết mọi thứ công thức giả tạo, nguyên tắc gò bó, phạm trù định sẵn, rác rưởi phù du.

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Thơ Nguyễn Tuyết Lộc

1.
Đêm Caribbean
Em ở đây
Giữa dòng người xa lạ
Đủ mọi ngôn ngữ
Đủ mọi màu da
Người ta đi
Người ta chạy
Người ta vừa đi vừa chạy
Với ánh mắt không hồn
Em bỗng trở thành kẻ mộng du
Cũng vừa chạy vừa đi
Để bắt kịp thời gian
Để sống cùng tốc độ
Chỉ cách nhau hai giờ bay
Mà sao muôn trùng khác biệt
Em bơ vơ – bơ vơ

Mới hôm qua trăng vằng vặc mười lăm
Lăn tăn trên sóng bạc
Em nức nở nhớ anh
Bỗng hôm nay biển động
Mưa xối xả điên cuồng
Gió rú gào giận dữ
Trong vòng vây sấm sét
Em hoảng loạn – hoảng loạn

Em thích nằm đây
Cuộn mình trong bóng tối
Cần hơi ấm từ bờ ngực rộng anh
Cần vòng tay dịu dàng ve vuốt
Cần môi hôn
Cả sợi râu mới nhú làm em nhột nhạt
Cùng tiếng thì thầm rất sex bên tai…
Và tin nhắn – Ôi những tin nhắn
Như giọt serum chuyền sức sống
Vỗ về em trong suốt những giấc mơ
Em cần anh – cần anh

Hãy ôm em
Hãy siết chặt em
Đừng để em một mình
Không anh
Em chỉ là một đứa trẻ cô đơn
Bị bỏ quên trên sân ga cuộc đời
Please hold me
Hold me, MY LOVE!

2.
Ngày Mặt Trời không hát

Chúa đã bỏ loài người
Phật đã bỏ loài người
…”
(Nhạc Trịnh Công Sơn)

Qua rồi bình minh đỏ tươi
Những đoá hướng dương quay cuồng vô vọng
Lạnh lùng ánh sáng trăng
Triệu triệu vì sao
Cùng đại dương gầm gừ phẫn nộ
Anh ơi
Ngày Mặt Trời không hát

Trái đất biến thành hoang mạc
Núi oằn mình
Cuồn cuộn dung nham
Cuộc chạy đua vào không gian
Như điệu nhảy Moonwalking không còn
Người Sói bị diệt vong
Tình yêu giữa Thần Thái Dương và người đẹp Hằng Nga
Vì Chúa can ngăn
Hẹn sống cùng nhau ngay sau cái chết
Nhưng rồi
Hành tinh trong hệ Mặt Trời chỉ còn là ký ức
Anh ơi
Ngày Mặt Trời không hát

Sinh linh hấp hối
Tuyệt vọng thét gào
Đâu rồi Đấng Tối cao
Hằng ban ơn ban phước
Phật lim dim đôi mắt
Còn hành tinh khác không?
Chúa im lặng quay đầu
Có Thiên đàng thật chăng?
Người thân cùng người lạ
Mặt người và mặt nạ
Rơi rụng… rụng rơi

Anh ơ… ơ… ơi!
Tiếng em gọi tên anh
Vào cuối ngày tận thế
Lạc giữa biển U Minh
Dọc hai bờ Hư Ảo

Vĩnh biệt anh
Mặt trời không còn hát!

3.
Hẹn hò

Những vòng hoa chất đầy gò đất
Những dòng chữ tiếc thương

Anh
Trong đám đông xô bồ, nhốn nháo
Vẫn điềm nhiên

Anh
Người duy nhất biết rõ
Em ngủ một giấc dài
Như mỗi ngày em ngủ
Trong tay anh bình yên

Biết người yêu của mình
Sẽ chu du khắp các hành tinh
Như đã lập trình
Qua vô số vì sao
Đêm đêm cùng em trò chuyện
Khi đối diện
Quả cầu lửa rực hồng
Tiếng cười em ròn rã
Vang vọng giữa thinh không

Tới ngày được phục sinh cùng Chúa
Buổi hẹn hò
Lại váy xống fashion
Miệng hát thánh ca
Mắt môi rạng rỡ
Amen!
Anh lại ru em ngủ
Y như đêm nào
Và âu yếm đánh thức em
Như thể hôm nao




Tình yêu ta bền hơn sự sống
Vượt qua cái chết
Không đếm nổi trùng trùng kiếp kiếp
Chuyện thường tình:
Sinh tử – Tử sinh!
Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Trong giấc mơ tôi (kỳ 3)

Nguyễn Tuyết Lộc

*THỜI CỦA BIẾN CỐ

Ai cũng biết từ năm 1954 đến 1960 dưới chính quyền Ngô Đình Diệm, Huế nói riêng cũng như cả miền Nam nói chung tưởng chừng như hưởng một nền hòa bình yên ả. Và ai cũng phải công nhận ông Diệm thành công rõ rệt trong những năm đầu. Để được như thế, thật ra ông không có một ngày được ngủ yên. Ông quyết lật đổ vua Bảo Đại – nói cách khác với sự góp ý và OK của người Mỹ, gạt bỏ mọi thành phần chống đối, trấn áp các phe đối lập, từ nhóm Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo cho đến các đảng Đại Việt, Quốc Dân đảng, xây dựng một bộ máy chính quyền có tổ chức chặt chẽ, lại có thêm ông em là Ngô Đình Nhu làm cố vấn, lập đảng Cần Lao để phục vụ chế độ. Nhiều trường đại học khác được thành lập ở các thành phố lớn, dân chúng nhìn chung đã tạm yên ổn làm ăn. Nhưng càng về sau, chính sách của ông ngày càng áp bức, không tin dùng ngay cả những người có công đưa ông về nước, chỗ nào cũng có mật vụ, nạn tham nhũng làm lũng đoạn cả guồng máy nhà nước dân sự cũng như quân sự. Nhất là chính sách kỳ thị tôn giáo rõ rệt. Ngày lễ Noel trường học được nghỉ, trong lúc ngày lễ Phật Đản bị huỷ bỏ trong học đường cũng như trong chính quyền và quân đội… Tôi nghe người ta nói mỗi người – ngay cả những bậc thông minh, kỳ tài – đều có một “điểm mù”. Có khi đây chính là “điểm mù” của toàn bộ thành viên họ Ngô Đình chăng?

Sự chống đối chính quyền gia đình trị họ Ngô cứ âm ỉ, ngày càng mạnh mẽ và căng thẳng hơn. Đặc biệt trong giai đoạn này là vụ tự tử của nhà cách mạng, nhà văn nổi tiếng Nhất Linh - Nguyễn Tường Tam để lại nhiều bùi ngùi thương tiếc. Những thiện cảm mà quần chúng dành cho ông Ngô Đình Diệm trong những năm đầu ông vể nước giờ đã tiêu tan. Không thể chịu nổi tình trạng này, một số đơn vị quân đội đã nổi dậy chống đối.

Chủ Nhật, 7 tháng 1, 2018

Trong giấc mơ tôi (kỳ 2)

Nguyễn Tuyết Lộc

*SANG MÙA BIỂN ĐỘNG

Khi Ba tôi chuyển công tác từ Huế ra Lệ Thuỷ - Quảng Bình anh Hai khoảng 5, 6 tuổi, thường theo Mẹ đến chùa lễ Phật, chơi đùa múa hát với chú điệu Thích Trí Quang, Hoà thượng Thích Trí Quang bây giờ. Chú điệu Thích Trí Quang lớn hơn anh Hai hai tuổi theo tuổi khai sinh, còn theo tuổi âm lịch thì chú điệu tuổi Giáp Tí hơn anh Hai tuổi Ất Sửu chỉ một năm. Hoá ra đúng như người ta vẫn nói “trái đất tròn”, ai ngờ hai người “bạn” thân một thời thơ dại – Hoà thượng Thích Trí Quang và giáo sư Nguyễn Văn Hai, anh tôi – còn duyên kỳ ngộ về sau ở đất Huế đô lúc mỗi người đã có vị trí, thanh vọng riêng trong xã hội, hẳn có những ngần ngại tôi không dám hỏi.

Ông nội chúng tôi là thầu khoán xây dựng nên giàu có. Sau khi đỗ bằng Tiểu học Yếu lược, anh Hai được Ba Mẹ tôi cho vào Huế ở với ông nội tại Ô Hồ, khu vực sau lưng chùa Diệu Đế - Gia Hội - tiếp tục học lớp nhì nhất niên (Cours Moyen Première Année), nhì nhị niên (Cours Moyen Deuxième Année) và lớp nhất (Cours Supérieur) ở Khải Định.

Vì anh Hai là cháu đích tôn nên ông nội rất cưng chiều. Sáng anh đi bộ từ Ô Hồ đến Khải Định, chiều từ Khải Định về Ô Hồ, ăn trưa trong trường, ngày nghỉ thì rong chơi với bè bạn. Khi ông nội mất, do đau buồn anh không tập trung học hành và chỉ thi đậu bằng Tiểu học, viết tắt là CEPCI (Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise) mà lại rớt vào năm thứ nhất Cao đẳng Tiểu học. Ba Mẹ tôi phải đưa anh về Lệ Thuỷ, nhờ bạn là thầy Trần Tiếu Dư kèm cho anh học lại lớp nhất, nhờ vậy cuối năm anh thi đỗ vào Khải Định với thứ hạng rất cao, được cấp học bổng toàn phần vào nội trú. Từ đó anh hăng say học tập, không lêu lổng bạn bè nữa. Anh đọc đủ loại sách báo từ tiểu thuyết, thơ, kịch, cho đến khảo luận, lịch sử bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Có thứ anh nhịn tiêu dùng tiền Ba Mẹ tôi cho thêm hàng tháng để mua, có thứ do trao đổi với bạn bè hoặc đi mượn ở thư viện L'Accueil, hay chuyền tay nhau mà có. Hầu như học sinh nội trú đều lâm một bệnh chung là đọc sách. Càng đọc càng thấy say. Cả một chân trời mới mở ra trước mắt. Đọc sách, nghiên cứu, sưu tập tư liệu là công việc theo anh Hai tôi trọn một đời, có thể nói đó là hobby lớn nhất của anh.

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

Trong giấc mơ tôi (kỳ 1)

Nguyễn Tuyết Lộc

*LOUISVILLE – HỘI NGỘ SAU 22 NĂM

1997.

Đây là lần đầu tiên tôi đi Mỹ thăm anh Hai tôi sau 22 năm xa cách kể từ 75.

Vào thời điểm này, không dễ dàng gì lấy được visa vào nước Mỹ. Thời Việt Nam đã “đổi mới” nhưng những ngăn trở, nghi ngại ở cả hai phía đối địch cũ chưa thể xóa nhòa. Những người vượt biên trước đây được nhà nước “xóa án phản bội Tổ quốc”, thậm chí họ được tiếp đón nồng hậu khi trở về thăm quê nhà với danh xưng rất đẹp: Việt Kiều Yêu Nước. Còn họ xác định thế nào là Việt kiều yêu hay không yêu nước thì thú thật tới giờ tôi vẫn chưa rõ. Bởi sau khi bộ đội cụ Hồ chiếm được miền Nam một thời gian ngắn ngủi thì hàng chục ngàn quân, dân, những người làm cho chế độ cũ phải vào tù, gọi là đi “học tập cải tạo”, với hàng loạt trại cải tạo tại rừng thiêng núi hiểm trên toàn quốc. Chính phủ Mỹ mất 8 năm trời điều đình với chính quyền Hà Nội để họ được trả tự do cùng gia đình sang định cư tại Mỹ, ưu tiên theo diện ODP (Orderly Departure Program) hay còn gọi là “Chương trình ra đi có trật tự”, với tư cách là những người tị nạn chính trị chứ không phải vì lý do nhân đạo. Mà thật, vì hầu hết ra đi do sợ chế độ khắt khe của Cộng sản, hoặc bế tắc kinh tế, mối lo cho tương lai học hành nghề nghiệp của con cái, hoặc do cha mẹ đi cải tạo trong tù, nhà trường không cho hoặc gây khó dễ việc học hành của con em họ. Mặt khác, họ cũng lao động hết sức mình nơi quê người để kiếm tiền gửi cho thân nhân ở quê nhà, đỡ một phần đất nước phải gánh vác.

Anh chị Hai đón tôi ở phi trường Kentucky, không có màn ôm nhau khóc hu hu, không mừng mừng tủi tủi, một phần tính anh Hai tôi nghiêm khắc, phần khác tôi vẫn còn rụt rè do hai anh em cách nhau hơn 20 tuổi, nhưng nhìn cách anh chuẩn bị đón em út rất chu đáo cũng biết là anh thương em lắm. Anh Hai cho biết anh Thạch cũng đang trên đường từ Paris bay qua New York rồi từ New York về thành phố này. Chiều mai anh Thạch sẽ đến, ba anh em sẽ được ở chung một nhà như hồi tôi còn nhỏ. Thích quá. Cuộc hội ngộ này chỉ có trong giấc mơ.

Trên đường về anh Hai lái xe “ngon lành” lắm, viu viu như thanh niên lái vậy. Tôi nhìn anh, nhìn chị. 22 năm! Bỗng dưng mắt tôi hoe hoe đỏ, mũi tôi phập phồng, có cái gì đó chặn nghẹn cổ tôi. Tôi muốn khóc òa lên nhưng không dám khóc. Tôi thương anh tôi quá.

Đây rồi xe dừng trước số nhà 8409 - Calm Lane - Louisville, địa chỉ mà tôi thường thấy trên những bức thư anh Hai tôi viết gửi về cho tôi với nét chữ thân thương. Anh chị dẫn tôi đi một vòng quanh nhà rồi bảo tôi lên phòng nghỉ ngơi.

Phòng anh chị ở basement, ba phòng ngủ tầng trên thì hai phòng dành cho tôi và anh Thạch. Anh Hai đã tự tay thay drap giường sạch sẽ tươm tất. Chuyến bay thật xa, mệt, tôi chỉ trông chui vào phòng để ngủ một giấc thẳng cẳng cho sướng cái đời.

Trời se lạnh. Đêm Louisville thật yên tĩnh.

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Chuyện chú tôi – “Morin” Nguyễn Văn Yến

Hồi ức Nguyễn Tuyết Lộc


Sau một năm đi “lính kiểng”, anh Nguyễn Văn Thạch tôi nghe lời anh Hai về tiếp tục việc học. Chuyện anh đi lính kiểng thật buồn cười. Khi đi thi thành chung, anh mới mười sáu tuổi, sau đó để đạt được giấc mơ nhập ngũ của tuổi teen, anh khai thành mười tám tuổi. Bấy giờ cậu Nguyễn Ngọc Lễ – em nuôi của Ba Mẹ, sau này là trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ (quân đội Việt Nam Cộng Hòa) – đỡ đầu và khuyên anh vào ngành truyền tin, tránh ra chiến trường đánh đấm với một địch thủ mà chắc anh chẳng hiểu rõ mô tê và chẳng thù oán chi...

Ngày nào cũng như ngày đó, anh Thạch ngồi trước máy tập đánh chữ morse tích tích tích tè tè tè… Anh bắt đầu phàn nàn tưởng đi lính được làm hảo hán trên sa trường, ai ngờ…, nên khi anh Hai bảo về học tiếp, anh bèn từ giã máy truyền tin ngay không tiếc nuối. Giấc mộng chiến đấu hào hùng phảng phất hơi hướm của nhân vật Dũng trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt Đôi bạn của Nhất Linh của thế hệ anh chấm dứt từ đó. Vì trễ một năm nên anh Hai – đang dạy ở Lycée Khải Định – cấp tốc dạy “dồn lớp” cho anh Thạch.

Anh Thạch học chương trình đệ tam, đệ nhị trong một năm và thi đậu tú tài bán phần; học xong lớp đệ nhất, đỗ ngay tú tài toàn phần; anh thi tiếp bourse Bảo Đại và du học Pháp. Như vậy chỉ trong hai năm, anh Thạch học chương trình mà một học sinh bình thường phải học mất ba năm. Anh Hai thương em, cái gì cũng muốn dồn hết vào đầu em. Anh Thạch học môn toán đã căng thẳng mà anh Hai tính vốn rất nóng, nên không khí học và dạy của hai anh em lại càng căng hơn nữa. Anh Thạch rất có ý chí học tập. Một bài toán anh giải đi giải lại cho đến khi nào đạt thời gian nhanh nhất và tìm ra nhiều cách giải khác nhau. Anh Hai bảo đọc đề toán xong là phải giải liền không được nghĩ ngợi nhiều tốn thời gian. Sau này anh Thạch đỗ tiến sĩ Vật Lý ở Đại học Grenoble – Pháp, ngoài công sức của bản thân thì kết quả học tập của anh Thạch là nhờ ở công phu dạy dỗ và tình thương, lòng tận tuỵ của anh Hai với em.

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Sóng Ngầm (II)

Đồng Hới - Một phần tuổi thơ tôi

Hồi ức

Nguyễn Tuyết Lộc

Nỗi kinh hoàng của những năm cuối cuộc chiến tranh Việt Pháp trong thời thơ ấu như một đoạn phim quay chậm luôn ám ảnh tâm trí tôi.

Bên kia dòng Nhật Lệ hiền hòa chảy qua thành phố Đồng Hới là cồn cát trắng Bảo Ninh trải dài của làng chài, mái tranh lúp xúp. Chỉ cần một đêm có cơn bão thổi qua là ngày mai không còn thấy bóng dáng nhà cửa mô nữa. Dân chài lấy cây, lấy lá giúp nhau dựng chòi mới ở tạm. Nhà cất lên, sập xuống, bay tơi tả, rồi lại cất lên, rồi lại sập trong mùa mưa bão là chuyện thường như cơm bữa của dân chài. Mấy chiếc nôốc tròn to đan bằng tre nứa và những chiếc thuyền nhỏ đánh cá nằm rải rác ngổn ngang trên bãi cát đầy rong rêu. Phía bên kia cồn cát, biển xanh bát ngát với những hàng thông mọc lên từng cụm, qua một chuyến đò ngang là có thể ngâm mình trong nước biển vào những ngày gió Lào nắng gắt. Đây là bãi tắm đồng thời là cửa biển Nhật Lệ, nơi hai con sông Đại Giang (Long Đại) và Kiến Giang gặp nhau ở Trung Quán rồi cùng chảy ra biển.

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Sóng ngầm (1)

Hồi ức

Nguyễn Tuyết Lộc

Đất nước lại chia đôi. Cuộc trưng cầu dân ý ở miền Nam 1955 truất phế Quốc trưởng Bảo Đại. Mỹ đưa Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng, và sau đó trở thành vị Tổng thống đầu tiên của miền Nam, thủ đô là Sài Gòn.

Tâm trạng của người di tản 54 đã đi vào thơ nhạc. Thi sĩ Huyền Chi sáng tác bài thơ Thuyền viễn xứ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc:

…Chiều nay gửi tới quê xưa/ Biết là bao thương nhớ cho vừa/ Trời cao chìm rơi xuống đời/ Biết là bao sầu trên xứ người…”.

Nhạc sĩ Lam Phương viết ca khúc Chuyến đò vĩ tuyến và nhiều bài nữa.

Đêm nay trăng sáng quá anh ơi/ Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu?” (Chuyến đò vĩ tuyến).

23 Âm Hồn, cạnh Tòa Án Thượng Thẩm Thành Nội, Huế, ngôi nhà tranh nền đất sét anh Hai tôi thuê nằm trong khuôn viên lớn của gia đình họ Lương. Các thành viên gia đình này thuộc cả hai chiến tuyến, vậy mà anh em rất thương yêu đùm bọc nhau. Nguồn cung cấp chính của gia đình họ Lương trông vào tiền cho thuê nhà. Anh cả là Lương Xiêm trung úy biệt động Việt Nam Cộng Hòa, các anh chị còn lại theo Việt Minh thoát ly về sống khép kín, khắc khổ không giao du bạn bè. Anh Lương Toàn, Lương Bông còn trẻ tiếp tục học trung học, hai chị lớn tuổi lo việc bếp núc nhà cửa. Tôi vẫn thường qua học toán với anh Lương Bông và học hát, học đàn mandoline với chị Lương Kỳ, những bản nhạc tiền chiến như Thiên thai, Bến xuân, Em đến thăm anh một chiều mưa, Giọt mưa thu… được chị Kỳ nâng niu đóng thành tập cẩn thận.

Huế y như một ốc đảo yên bình, một món quà an ủi có lẽ không có trong dự định của các nhà thiết kế chính trị hai phe dành cho thế hệ bất hạnh chúng tôi.

Hằng ngày ai đi qua cầu Tràng Tiền cũng nghe vang vọng tiếng ca trong trẻo của cặp vợ chồng Ngọc Cẩm - Nguyễn Hữu Thiết.

“Trong đêm trăng tiếng chày khua/ Ta hát vang trong đêm trường mênh mang/ Ai đang say chày buông rơi nghe tiếng vơi tiếng đầy/ Ai đang đi trên đường đê nghe hát vang muôn câu hò đê mê/ Vô đây em dù trời khuya anh nhớ đưa em về” (Gạo trắng trăng thanh – Hoàng Thi Thơ).

Hay:

“Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát/ Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác/ Chiếu hồn quê bao khúc ca yêu đời/ Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát/ Ước mong sao lúa hai mùa thơm ngát/ Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời… Này anh em ơi/ Giã cho thật đều, giã cho thật nhanh/ Giã cho khéo kẻo trăng phai rồi/ Khoan hò khoan

Tiếng chày khua vang mãi trong đêm dài (Khúc ca ngày mùa – Lam Phương)

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

Thơ Nguyễn Tuyết Lộc

 

KÝ ỨC XANH

 

 

Từng bước cô đơn

Bên bờ sông Seine

Liêu xiêu bóng đổ

Gió lạnh từ đồi núi xa xăm

Bay qua rừng giẻ, sồi, bạch dương tràn về thành phố

Paris xanh – đang chuyển vàng – Thu

Ký ức nằm bên anh trên thảm cỏ non

Mặt trời ấm áp hôn đôi mắt hờ khép…

Xa hẵn rồi

Hè ơi, tạm biệt!

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

Những chuyến đi xa

Nguyễn Tuyết Lộc
Nguy_n Tuy_t L_cDu lịch đó đây là một trong những sở thích của tôi, mỗi khi thấy trí não bắt đầu trì trệ, cơ thể rã rời. Đi theo tours không cần lo chỗ ăn ở, tham quan, nhưng giờ giấc phải tuân thủ, muốn ngủ thêm chút buổi sáng, cũng phải mắt nhắm mắt mở dậy cho kịp đoàn; đi một mình, tha hồ nghỉ ngơi, dừng lại bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào mình muốn, tôi có nhiều thời gian hơn để chiêm nghiệm những điều kỳ thú của cuộc sống ngoài đất nước mình, đôi khi trùng hợp những sự kiện lịch sử xứ người, như đọc được từng trang sách mới vô cùng hấp dẫn, nhưng xem chừng không người hướng dẫn, lắm lúc gặp tình huống dở khóc dở cười, tự nhiên thấy mình ngây ngô như dưới quê lần đầu lên tỉnh.
1997. Đây là lần đầu tiên tôi đi Mỹ thăm anh Hai tôi sau 22 năm xa cách kể từ 75.
Vào thời điểm này, không dễ dàng gì lấy được visa vào nước Mỹ. Thời Việt Nam đã “đổi mới” nhưng những ngăn trở, nghi ngại ở cả hai phía đối phương cũ chưa thể xóa nhòa. Những người vượt biên trước đây được xóa án, thậm chí được tiếp đón nồng hậu khi trở về thăm quê nhà với danh xưng rất đẹp: Việt kiều yêu nước. Mà họ yêu nước yêu dân thật sự đấy chứ. Thứ nhất, hầu hết ra đi vì bế tắc kinh tế và mối lo cho tương lai học hành nghề nghiệp của con cái chứ không hẳn vì chính trị chính em gì. Thứ hai, họ cũng lao động hết sức mình nơi quê người để kiếm tiền gửi cho thân nhân, đỡ một phần đất nước phải gánh vác.
Những năm 80 - 90, khi đưa tiễn thân nhân sang Mỹ theo diện HO hay ODP đoàn tụ gia đình người ta khóc lóc thảm thiết, đôi khi ngất xỉu. Họ nghĩ rằng sẽ không bao giờ còn thấy được người thân. Người ngoài, người trong, cách nhau chỉ một lằn vạch đỏ 5cm mà như xa muôn trùng, như ở hai thế giới khác nhau.
*Cái căng thẳng nhất với tôi khi đi nước ngoài là múi giờ. Khi tiễn tôi ra phi trường Kentucky lúc 7 giờ sáng, chuyến bay sẽ dừng lại ở Louisiana, đổi máy bay rồi đi Boston, anh Hai tôi, vừa dặn đi dặn lại kỹ càng, vừa viết vào tờ giấy lớn, chữ lớn khiến tôi có cảm tưởng mình vẫn còn bé lắm với anh tôi.
Từ Kentucky 7 giờ, bay một tiếng đến Louisiana đúng 8 giờ. Nhưng tôi phải chỉnh đồng hồ thêm hai tiếng là 10 giờ, cho hợp giờ địa phương. Như vậy, di chuyển một tiếng mà như phải trải qua ba tiếng. Máy bay vừa đáp xuống, lấy hành lý xong, tôi thấy nhiều người kéo vali chạy. Mọi người tránh đường cho họ chạy. Tôi ngơ ngác, rồi hoảng hốt cũng kéo vali đâm đầu chạy. Chạy trối chết. Trong đầu tôi bấy giờ chỉ sợ mỗi một thứ là: khủng bố. Trên truyền hình, hằng ngày đầy dẫy tin khủng bố ám ảnh tôi.
Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Tưởng nhớ Bửu Chỉ: Bửu Chỉ – hoàng tử bé cô đơn của tôi

Nguyễn Tuyết Lộc

Khi nói đến Bửu Chỉ tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Từ khi Chỉ còn là một cậu bé hay khi Chỉ đã trưởng thành qua bao sự cố đời riêng và thăng trầm lịch sử, hay tập trung vào những năm cuối đời? Quan hệ của Chỉ và tôi là một mối thâm tình, lâu dài, xuyên suốt. Tuy có những đoạn đời vắng nhau, nhưng thông tin về Chỉ thì không thiếu.
Bửu Chỉ là em trai út của chị dâu tôi, Công Tằng Tôn Nữ Hà Lãnh, cũng là em ruột của Hồng Vân, Hồng Thủy, bạn trang lứa với tôi. Suốt thời gian từ mẫu giáo đến trung học Chỉ đều ở lại nhà tôi để ăn trưa, nghỉ ngơi, đợi tối mới cùng các chị về lại nhà riêng ở tận mãi Vỹ Dạ.
Mỗi chặng đường của Chỉ đều có một ý nghĩa và những thú vị riêng, nhưng tôi vẫn thích nhắc đến tuổi thơ của Chỉ, nhắc đến một cậu bé nhỏ nhắn, mái tóc đen rậm, và đôi mắt không mấy lớn mà vẫn căng hết sức muốn thu cả thế giới vào. Tuổi thơ Chỉ song hành cùng tuổi thơ tôi, đó là thời gian thơ mộng nhất, đẹp nhất của tôi ở Huế.
Thứ Ba, 1 tháng 9, 2015

Lọ lem thời @

Truyện

Nguyễn Tuyết Lộc

Trong thời đại mà mọi thứ đều toàn cầu hóa như hiện nay, thì tình yêu không biên giới là chuyện bình thường. Ngàn năm trước, thời nô lệ phương Bắc, biết bao phụ nữ Việt bị buộc phải lấy chồng Tàu. Trăm năm Tây đô hộ, phụ nữ mình có người lấy chồng Tây, đến thời Nhật, Mỹ, Hàn cùng đồng minh vào đất nước ta, biết bao phụ nữ Việt lại kết hôn với Nhật, Mỹ, Hàn, rồi sau này cả Liên Xô, Đài Loan. Có người còn cập kè với các hảo hán Châu Phi, Trung Đông… Mỗi người một số phận, hên xui khó lường. Tuy vậy, nhìn chung phụ nữ Việt Nam đã theo sát trào lưu thế giới. Có lẽ chỗ khác biệt là ngày xưa làm vợ Tây có sự xuống giá dưới mắt đồng bào qua các danh xưng me Tây, me Mỹ, và xưa hơn nữa là ý mỉa mai Tiếc cho cây quế giữa rừng. Ngày nay việc lấy chồng Mỹ, Pháp hay Hàn Quốc, Đài Loan có âm hưởng lên đời, đổi đời. Nếu may mắn được lên đời thì đi xe hơi ở nhà lầu, chồng cưng chồng chiều, còn đổi đời thì khó đoán trước có khi không lên voi mà còn bị ngược đãi xuống chó, bị đánh đập hành hạ đến mức từ cõi dương sang cõi âm. Đó là chưa kể đâu đó ở các nhà chứa công khai ở nước ngoài (hoặc lén lút ở Việt Nam!) có các bạn gái Việt trần truồng bị nhốt trong cũi sắt, tủ kiếng để bọn đàn ông có tiền tha hồ chọn lựa, không khác gì thời buôn nô lệ. Giá như đó là tin đồn thất thiệt thì hay biết mấy…

Riêng những phụ nữ tôi được tiếp xúc chuyện trò sau đây, quả là những “Cô Bé Lọ Lem” thời đại “A Còng”, mà số phận của họ lạ lùng, vô lường, may mắn đến khó tin!

1.- Nhà tôi cách chái tranh em ở đi sâu vào ngõ hẻm bốn, năm trăm mét.

Em không có thân hình nảy lửa, sexy. Em gầy guộc, cao ngồng, ngực lép kẹp. Khuôn mặt chẳng có gì gợi cảm, hấp dẫn hơn: mắt ti hí, miệng rộng, môi mỏng. Tên em là Chanh, khoảng hai lăm tuổi. Gia đình Chanh nghèo. Thật nghèo. Cha mất sớm, mẹ lấy chồng khác.

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Thơ Nguyễn Tuyết Lộc

 

Có hiện tượng một thời ở đất Huế, không ít nữ sinh đã bắt đầu sáng tác thơ văn rất sớm. Ở độ tuổi trung học đệ nhị cấp? (cấp 3) - Không, ngay ở những lớp đệ nhất cấp (cấp 2)! Không tính đến mùa tiền chiến và các đàn chị lớp trước thì Nhã Ca có vị trí đặc biệt, tiêu biểu cho những cây bút nữ Cố Đô khẳng định được tên tuổi ngay khi còn ngồi ở ghế nhà trường. Về độ tuổi, sau thế hệ Nhã Ca là lứa Nguyễn Tuyết Lộc, lùi lại là Hương Kim Long, rồi đến lớp Tôn Nữ Thu Thủy và Trần Thùy Mai.

Cùng với Nguyễn Đông Nhật và Nguyễn Thanh Văn, Nguyễn Tuyết Lộc đã xuất hiện trong tập thơ KÝ ỨC XANH (NXB Hội nhà văn - 2014).

Với chùm thơ sau đây hy vọng bạn đọc có những phút giao lưu thú vị với một giọng thơ lớn tuổi đời mà vẫn thừa trẻ trung, yêu kiều, đang tiếp tục lung linh cùng cuộc chơi tự do mà không kém phần khắc nghiệt mang tên THI CA.

Nguyễn Thanh Văn

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

Bạn tôi

Nguyễn Tuyết Lộc

1975: năm đất nước chấm dứt chiến tranh, người thì vui mừng gặp lại thân nhân, đón chào hòa bình, người đau khổ vì đi cải tạo dài ngày, người thì lo lắng không biết số phận của mình sẽ thế nào, nhất là trong giới viên chức từng làm việc cho chế độ miền Nam trước 75. Ngoài số phải đi học tập cải tạo, số ở lại với ám ảnh được lưu dung hay không được lưu dung, âm hưởng không khác gì “to be or not to be” của Shakespeare.

Số phận trớ trêu có khi cười ra nước mắt, nhưng tôi nhớ nhất là những bạn thân cùng trường Quốc học, cùng lớp đệ nhất C. C1 (Pháp văn) có Trần Công Tín, C2 (Anh văn) có Lê Khắc Cầm mà tôi nhắc trong bài viết này, mỗi người rẽ một con đường khác nhau, và còn nhiều bạn bè cũ khác mang những cái tên thỉnh thoảng gợi lên bồi hồi trong ký ức tôi như Thân Trọng Sơn, Vĩnh Thái… mà trong chỉ một bài viết không thể nhắc hết được.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2015

Dì tôi

Truyện Nguyễn Tuyết Lộc

1Nguyễn Tuyết Lộc là tên thật của tác giả.

Trước 1975, chị dạy tại trường Trung học Phan Chu Trinh và Cao đẳng Sư phạm Đà Nẵng. Cộng tác với các báo Văn hóa Ngày nay, Phổ thông, Văn nghệ Tiền phong,…

Sau 1975, chị tiếp tục dạy học, và còn dịch thuật, viết báo.

Hiện chị sống và làm việc ở Singapore và Sài Gòn.

Tác phẩm mới nhất: Ký ức xanh (thơ, in chung với Nguyễn Đông Nhật và Nguyễn Thanh Văn, NXB Hội Nhà Văn).

Dì tôi nhũ danh là Nguyệt Cầm, con gái thứ ba trong gia đình có năm người con của ông bà ngoại tôi. Mẹ tôi là chị đầu, rồi lần lượt đến cậu Hoà, dì Nguyệt Cầm, áp út là dì Hoa (chồng theo Việt Minh bị Tây xử bắn), cuối cùng là cậu Nguyện chủ tiệm may lớn, thường may lễ phục cho các vị chức sắc cao cấp của chính quyền Sài Gòn thời đó. Tất cả đã qua đời, trừ cậu Nguyện tôi đã trên chín mươi tuổi, hiện còn sống ở Sài Gòn.

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015

2 Lê Lợi – Địa chỉ khó quên!

Nguyễn Tuyết Lộc
Những tháng ngày đẹp nhất và có ý nghĩa nhất với tôi, không phải thời thơ ấu chỉ nghe và thấy cảnh chết chóc lúc cuộc chiến Việt - Pháp đangcao trào khi theo ba là bác sĩ chuyển nhiệm sở từ Huế ra Đồng Hới - Quảng Bình. Cũng không hẳn một thời tuổi dại chỉ biết nô đùa vui chơi ở 23 Âm Hồn cạnh Tòa Thượng Thẩm - Thành Nội Huế. Cũng không phải thời gian sống trong ngôi biệt thự xinh xắn 6 & 8 Lê Đình Dương sát bờ hữu ngạn sông Hương cùng ba mẹ kính yêu cưng chiều con gái như công chúa út. Chính ở đây, trong căn hộ hơn một trăm mét vuông, rất ấm cúng, đầy tình thương yêu của gia đình anh chị tôi – tiến sĩ vật lý Nguyễn Văn Thạch và tiến sĩ hóa Đào Ngọc Bích – thuộc cư xá Giáo sư Đại học, số 2 Lê Lợi sát cầu Ga,tôi nhận được phúc lợi lớn nhất của đời mình là việc được tiếp xúc, học hỏi một thế hệ trí thức tài năng, nhiệt huyết, vào một độ tuổi còn rất trẻ.