Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thân Trọng Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thân Trọng Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2025

Các chị em

  Truyện ngắn James Joyce

 Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu

LỜI GIỚI THIỆU

Người có thiên tài không mắc sai lầm; những lỗi lầm của anh ta là có chủ ý và là cánh cổng của sự khám phá.” (“A man of genius makes no mistakes. His errors are volitional and are the portals of discovery” – J. Joyce, Ulysses, chương 9 “Scylla and Charybdis”)

James Augustine Aloysius (1882-1941) là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học ngườiLời giới thiệu: Ireland, được đánh giá là một trong những nhà văn có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Ông nổi tiếng nhất với tiểu thuyết bước ngoặt Ulysses (1922). Các tác phẩm chính khác của ông là tập truyện ngắn Người dân Dublin (Dubliners) (1914), các tiểu thuyết Chân dung người nghệ sĩ khi còn trẻ (A Portrait of the Artist as a Young Man) (1916) và Finnegans Wake (1939). Joyce còn là tác giả của các tập thơ Nhạc thính phòng (Chamber Music) (1907), Thơ một xu một bài (Pomes Pennyeach) (1927), Tuyển tập thơ (Collected Poems) (1936). Dù số lượng không nhiều nhưng thơ của James Joyce có sự ảnh hưởng rất lớn đến các nhà thơ Anh phái Hình tượng. Giới phê bình ngày nay đặt Joyce ở vị trí hàng đầu chủ nghĩa hiện đại Anglo-Saxon, cùng với T. S. Eliot, Virginia Woolf và Ezra Pound.

Joyce học ngôn ngữ và văn học Anh tại Dublin, nhưng rồi năm 1902 đến Paris học y khoa và sớm từ bỏ và quay trở lại Dublin. Năm 1904 ông gặp Nora Barmacle, sống chung và có ba con nhưng phải đến năm 1931 mới kết hôn. Ông từng đi dạy tiếng Anh, làm gia sư hay viết bài đăng báo để kiếm sống.

Với phong cách tự truyện, văn xuôi của Joyce in đậm thế giới Ireland, đặc biệt là Dublin, nơi ông sống từ nhỏ cho đến khi trưởng thành.

James Joyce được cộng đồng nói tiếng Anh tưởng niệm hàng năm vào ngày 16 tháng 6 là ngày diễn biến trong tiểu thuyết Ulysses.

Trong các tác phẩm của ông, cần nhắc đến tuyển tập 15 truyện ngắn xuất bản lần đầu năm 1914. Các truyện này được viết khi chủ nghĩa dân tộc Ireland cũng như quá trình tìm kiếm bản sắc dân tộc đang ở đỉnh cao.

Dù lúc ban đầu rất yêu thích sân khấu, Joyce chỉ xuất bản một vở kịch nhan đề Exiles vào năm 1918, đề cập mối quan hệ vợ chồng.

Về thơ, ông xuất bản cả thảy ba tập.

Theo Harry Levin, tác phẩm của Joyce xoay quanh hai chủ đề: nghệ sĩ và thành phố.

Thư viện Quốc gia Ireland hiện giữ bộ sưu tập lớn những tài liệu liên quan đến Joyce như bản thảo và sổ ghi chép, phần lớn được đưa lên mạng trực tuyến.

Danh tiếng của James Joyce chủ yếu chỉ dựa vào bốn tác phẩm: tuyển tập truyện ngắn Người dân Dublin (1914) và ba tiểu thuyết: Chân dung người nghệ sĩ khi còn trẻ (1916), Ulysses (1922) và Finnegans Wake (1939). Mỗi tác phẩm này thể hiện một sự phát triển so với tác phẩm trước, với lối viết của Joyce ngày càng mang tính thử nghiệm, mơ hồ và đầy thách thức.

Các chị em (The Sisters) là truyện ngắn đầu tiên trong tuyển tập Người dân Dublin của James Joyce. Lấy bối cảnh ở Ireland năm 1915, truyện kể câu chuyện về một cậu bé suy ngẫm về quãng thời gian ở bên người bạn và người cố vấn, Cha Flynn, trong khi phải đối mặt với cái chết của Linh mục.

Câu chuyện này mở đầu bằng hình ảnh một người Dublin nhìn qua cửa sổ và suy ngẫm về một tình huống khó xử. Một biểu tượng như vậy xuất hiện xuyên suốt truyện, và ở đây nó đặc biệt quan trọng vì nó thu hút sự chú ý đến quan điểm tường thuật. Hình ảnh mở ra của cửa sổ trong đoạn đầu tiên củng cố cảm giác quan sát yên tĩnh, tách biệt này, điều mà những người kể chuyện của những câu chuyện sau này áp dụng. Thông qua kỹ thuật tường thuật này, Joyce gợi ý rằng ngay cả trải nghiệm trực tiếp về mặt nào đó cũng mang tính mãn nhãn và một người có thể quan sát cuộc sống của chính mình từ bên ngoài.

Trong Các chị em, James Joyce khám phá các chủ đề về sự tê liệt, cái chết, tôn giáo và sự mất đi sự trong trắng.

Một cậu bé suy ngẫm về cái chết sắp xảy ra của người bạn là Cha Flynn. Biết rằng sau ba cơn đột quỵ, vị linh mục bị liệt chỉ còn rất ít thời gian, cậu bé có thói quen đi ngang qua nhà Cha Flynn, tìm kiếm ánh sáng của hai ngọn nến truyền thống đặt trên quan tài báo hiệu cái chết của ông.

Chén thánh là biểu tượng của thánh thể, nghi lễ trong thánh lễ Công giáo La Mã, trong đó linh mục biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô.

Trong phần còn lại của câu chuyện ở Người dân Dublin, những sự kiện kỳ ​​lạ và khó hiểu xảy ra mà vẫn chưa giải thích được. Cha Flynn bị đột quỵ và cuối cùng qua đời, nhưng tình trạng suy sụp của ông, biểu hiện bằng việc cười điên cuồng trong phòng xưng tội, cũng ám chỉ rằng ông không ổn định về mặt tinh thần. Người đọc không bao giờ biết chính xác điều gì đã xảy ra với cha. Tương tự như vậy, Cha Flynn và người kể chuyện trẻ tuổi có một mối quan hệ mà ông già Cotter cho là không lành mạnh, nhưng người kể chuyện lại miêu tả là tâm linh khi ông kể lại những cuộc thảo luận giữa ông và Cha Flynn về các nghi lễ của Giáo hội. Tuy nhiên, người kể chuyện cũng có những giấc mơ kỳ lạ về Cha Flynn và thừa nhận cảm thấy không thoải mái khi ở bên ông. Joyce trình bày vừa đủ thông tin để người đọc nghi ngờ Cha Flynn là một nhân vật độc ác, nhưng không bao giờ đủ để người đọc biết toàn bộ câu chuyện. Kỹ thuật như vậy được gợi ý trong đoạn đầu tiên của câu chuyện. Người kể chuyện nghĩ đến từ tê liệt khi nhìn vào cửa sổ của Cha Flynn và nói rằng từ này nghe có vẻ lạ, giống như từ gnomon, một thuật ngữ thường dùng để chỉ các dụng cụ, như bàn tay trên đồng hồ mặt trời, ám chỉ điều gì đó. Joyce làm chính xác điều đó: Anh ấy chỉ ra các chi tiết và gợi ý, nhưng không bao giờ hoàn thành câu đố.

Các chị em là câu chuyện mở đầu trong tuyển tập Người dân Dublin năm 1914 của James Joyce. Đây là truyện đầu tiên trong ba truyện trong tuyển tập (gồm 15 truyện) được kể dưới góc nhìn thứ nhất. Như trong hai truyện còn lại, An EncounterAraby, người kể chuyện không bao giờ tiết lộ tên của mình và hiếm khi tham gia vào các cuộc trò chuyện. Không giống như những câu chuyện khác trong tuyển tập, nó được kể ở ngôi thứ nhất, bởi một chàng trai trẻ nhớ lại tình bạn của mình khi còn là một cậu bé với một linh mục Công giáo. Như bản tóm tắt rất ngắn gọn này của câu chuyện sẽ gợi ý, có điều gì đó kỳ lạ trong câu chuyện được đặt tên là Các chị em, vì hai chị em thực sự không phải là trọng tâm của câu chuyện.

Văn học hiện đại, trong đó James Joyce là người tiêu biểu chính, thường được đánh dấu bằng những khoảng trống, dấu chấm lửng (…), những ẩn ý và bóng gió, những điều không nói ra nhưng được ngụ ý. Khi chọn sử dụng lời kể ở ngôi thứ nhất thay vì người kể chuyện ở ngôi thứ ba ít hạn chế hơn (hoặc 'toàn trí'), Joyce, trong Các chị em, ngay lập tức hạn chế lĩnh vực kiến ​​thức của người kể chuyện.

Và bằng cách biến người kể chuyện và nhân vật chính của mình thành một cậu bé, người đã được cha mẹ và các tổ chức như Giáo hội Công giáo che chắn (nhốt?) khỏi thực tế của thế giới người lớn, Joyce đã tăng cường sự thiếu hiểu biết hoặc ngây thơ này. Hầu như không có gì ngạc nhiên khi có rất nhiều điều nửa vời trong Các chị em, những điều mà người kể chuyện của Joyce – và chúng ta với tư cách là độc giả – được giao nhiệm vụ phân tích, hoàn thiện và hiểu (hoặc cố gắng hiểu).

Tiểu thuyết hiện đại thường ít quan tâm đến cốt truyện hơn là đến nhân vật, tâm trạng và ấn tượng. Ở đây cũng vậy, Các chị em có thể được phân tích như một ví dụ tiêu biểu của chủ nghĩa hiện đại: không có gì nhiều xảy ra trong diễn biến câu chuyện, và cốt truyện đủ dễ để tóm tắt – nếu 'cốt truyện' là từ hoàn toàn phù hợp ở đây.

Một cậu bé phản ứng trước tin linh mục Công giáo, Cha Flynn, người mà cậu dường như có quan hệ bạn bè nào đó, đã qua đời, được cho là do 'tê liệt', cho thấy nguyên nhân cái chết có thể là do đột quỵ. Cái chết của Flynn, và những đoạn hội thoại mà người kể chuyện tình cờ nghe được khi dì, chú của cậu bé và những người hàng xóm thảo luận về vị linh mục bằng những ngôn từ im lặng, khiến người kể chuyện đánh giá lại tình bạn của anh ta với vị linh mục Công giáo, tự hỏi 'tội lỗi' không xác định mà Flynn xuất hiện là gì đã phạm tội.

Câu chuyện là một bài học bậc thầy về chủ nghĩa biểu tượng tinh tế. Hãy lưu ý bao nhiêu lần những cái miệng được nhắc đến trong truyện ngắn này: người kể chuyện nhét vào miệng mình bằng stirabout (một từ tiếng Ireland có nghĩa là cháo) khi tình cờ nghe được ông già Cotter nói chuyện với dì và chú của mình về Cha Flynn. Về phần mình, Cotter nhổ nước bọt vào lò sưởi trong khi hút tẩu và gián tiếp nói xấu vị linh mục đã chết.

***

Chủ Nhật, 16 tháng 12, 2018

Bát mì bò

Truyện Lý Ngang – Li Ang – 李昂 (nhà văn Đài Loan – 1952)

Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu

(Theo bản tiếng Anh của Sylvia Li-chun Lin)

Nguồn: (http://www.ou.edu/clt/vol-2-1/fiction-li-ang.html)

image

Lý Ngang (Li Ang 李昂), tên thật là Thi Thục Đoan (Shi Shu-tuan, 施淑端), sinh năm 1952 tại Chương Hoá- Đài Loan, là con út của một gia đình khá giả. Năm mười sáu tuổi, khi còn đang học trung học, có lẽ theo gương các cô chị, cô xuất bản hai cuốn truyện đầu tay Mùa hoa (花季, Hoa quý) và Hôn lễ (婚礼). Được chọn đăng lại trong một tuyển tập vào năm sau, cuốn thứ nhất đã làm dậy sóng phê bình với nhiều tranh luận nảy lửa, chung quanh câu chuyện của một nữ sinh có óc tưởng tượng dồi dào, cho là mình bị một người bán hoa gần nhà hiếp dâm. Đề tài giật gân, văn phong mới lạ, nói về chuyện một cô bé đong đưa giữa mộng ảo và thực tại. Có nhiều nét của tự truyện, nhân vật và tác giả như bị ảnh hưởng bởi sách báo và phim ảnh phương Tây, cuộc sống khá xa lạ với xã hội Đài Loan bấy giờ.

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2018

Boris Pasternak, nhà thơ

Thân Trọng Sơn

Boris PasternakNhắc đến Boris Leonidovich Pasternak (Борис Леонидович Пастернак) là nhắc đến tiểu thuyết "Bác sĩ Zhivago", mà tác giả phải để ra hàng chục năm mới hoàn thành và không thể nào công bố bằng ngôn ngữ của mình, trên quê hương của mình. Thật vậy, khi tác phẩm ra đời (năm 1955), dưới áp lực những lời công kích, phê phán của giới văn học và chính trị, không một nhà xuất bản nào nhận bản thảo. Phải chờ đến một năm sau, tác phẩm mới được xuất bản tại nước Ý, bản tiếng Nga và bản dịch tiếng Ý! Ngay sau đó, cuốn truyện được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác, xuất bản tại nhiều quốc gia khác (tiếng Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch, Phần Lan...) Bản tiếng Anh đầu tiên do Max Hayward và Manya Harari dịch, xuất bản vào tháng 8 năm 1958, là bản dịch tiếng Anh duy nhất được biết trong suốt 50 năm và trong hai năm 1958, 1959 đứng đầu danh sách best-seller của báo The New York Times trong 26 tuần. Độc giả Việt Nam đã sớm đọc được từ năm 1974, với bản dịch của Nguyễn Hữu Hiệu, nhan đề "Vĩnh biệt tình em", do Tổ hợp Gió xuất bản tại Sài Gòn. Và sau đó là bản dịch của Lê Khánh Trường, in trong "Boris Pasternak, Con người và tác phẩm", Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1988. Mãi hai mươi tám năm sau khi tác giả qua đời, "Bác sĩ Zhivago" lần đầu tiên mới được in tại Liên Xô! (1988).

Thứ Bảy, 3 tháng 2, 2018

Người xa lạ trở về

Truyện Bắc Đảo

Thân Trọng Sơn dịch và giới thiệu


imageBắc Đảo, tên thật là Triệu Chấn Khai (赵振开), sinh năm 1949, quê quán Chiết Giang, nhưng lớn lên ở Bắc Kinh.

Năm 1966, khi Cách mạng văn hoá bùng nổ, Bắc Đảo 17 tuổi, đang học trung học. Lúc đó, thật ra ông cũng không thích không khí nhà trường với nhiều ràng buộc khắt khe, nên khi trường đóng cửa ông thấy thoải mái và, như nhiều thanh niên khác, ông tham gia hồng vệ binh. Ngoài việc tịch thu sách vở tại các gia đình, Bắc Đảo cũng đã từng tổ chức việc lấy sách ở các thư viện lúc này đều bị đóng cửa, những sách lịch sử, chính trị, triết học, liên quan đến cách mạng.

Năm 1969, ông được đưa về nông thôn hoạt động và ông tận mắt chứng kiến cảnh sống nghèo nàn, lạc hậu ở đây, hoàn toàn khác với những tuyên truyền đã từng nghe. Từ đó, nhiệt tình cách mạng giảm sút, nhận thức chính trị của ông thay đổi hẳn. Ông bắt đầu học hỏi, đọc nhiều và bắt đầu viết, kể cả trong thời gian ông đi làm công nhân xây dựng. Ông đọc bất cứ thứ gì có được, thi ca cổ điển, tác phẩm lãng mạn phương Tây, chủ yếu là bản dịch. Loại sách lấy được ở các thư viện chính là "sách bìa vàng ", xuất bản trước thời cách mạng văn hoá, phổ biến hạn chế trong số cán bộ cao cấp. Lúc này Bắc Đảo và các bạn thích thú khám phá văn học phương Tây với tiểu thuyết của Kafka, với "Buồn nôn" của Jean-Paul Sartre, với "Bắt trẻ đồng xanh" của Salinger. Cùng nhóm bạn, ông tổ chức sinh hoạt văn chương, gặp gỡ hai tuần một lần để thảo luận, trao đổi các bài viết.

Tháng 4 năm 1976, lúc này Bắc Đảo vẫn đang là công nhân, nhiều cuộc biểu tình lớn diễn ra tại quảng trường Thiên An Môn, thường được gọi là "tứ ngũ sự kiện"

(四五事件), biểu tình tưởng niệm Chu Ân Lai, mới qua đời ngày 8/1 trước đó, gắn với những hoạt động chống đối chế độ. Bên cạnh những vòng hoa do những người biểu tình mang đến có những bài thơ, và Bắc Đảo được biết đến với bài "Trả lời" (回答, Hồi đáp), xuất hiện trong dịp này.

Thứ Ba, 29 tháng 8, 2017

Cơn bão

Truyện Kate Chopin

Thân Trọng Sơn dịch từ nguyên bản tiếng Anh


Catherine O' Flaherty sinh năm 1850 tại Saint-Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hoá, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh. Theo học bậc tiểu học và trung học tại một trường công giáo với các nữ tu. Ở nhà, được nuôi dạy bởi mẹ, bà, và bà cố. Sự giao tiếp thường xuyên với những người phụ nữ ở chung quanh giúp cô bé sớm có nhận xét về vai trò của phái nữ trong gia đình và xã hội, định hình cho những ý tưởng và quan niệm cá nhân của nhà văn tương lai.

Kate Chopin (Kate là Catherine, Chopin là họ chồng) chịu nhiều đau thương mất mát ngay khi còn nhỏ. Cha chết vì tai nạn đường sắt khi mới lên năm (1855); bà cố, người đã dạy cho cô tiếng Pháp và văn hoá Pháp, qua đời năm 1863. Trong thời Nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865), cô lại mất thêm người anh (tham gia đội quân của Liên minh miền Nam- Confederate).

Kate Chopin kết hôn năm 1870 với Oscar Chopin, một thương gia chuyên buôn bán bông vải, và cũng là người gốc Pháp). Từ năm 1871 đến 1879, Kate Chopin sinh được năm trai và một gái, và số phận rủi ro vẫn không buông tha, Kate lại chịu tang chồng năm 1882, chỉ sau mười hai năm chung sống. Trở thành quả phụ năm 32 tuổi, Kate Chopin vừa nuôi con, vừa tiếp tục công việc của chồng, và không tái giá.

Đây là chân dung Kate Chopin giai đoạn này, như ghi nhận của nhà phê bình Barbara Ewell:

“Kate là một người khá nổi bật và quyến rũ. Không cao lắm, có khuynh hướng mập ra, thực sự xinh đẹp, mái tóc nâu dày, dợn sóng, sớm điểm bạc, đôi mắt nâu sáng trong. Bạn bè nhớ nhiều nhất là thói quen im lặng và sự nhanh trí kiểu Ái Nhĩ Lan, thêm điểm nhấn là biệt tài bắt chước. Một bà chủ nhà duyên dáng, dễ tính, thích cười, thích âm nhạc và khiêu vũ, đặc biệt là kiểu nói chuyện thông minh, bà có thể diễn đạt quan điểm cá nhân với sự thẳng thắn đáng ngạc nhiên”.

Sau khi chồng chết không lâu, Kate Chopin trở về sống tại St-Louis để con cái có điều kiện học hành tốt hơn. Năm 1885, đến lượt mẹ Kate Chopin qua đời.

Một bác sĩ sản khoa, cũng là bạn thân của gia đình, khuyến khích Kate viết văn, như là một liệu pháp chống buồn nản và cô đơn sau khi chồng và mẹ lần lượt đi xa. Nghe theo lời khuyên, Kate bắt đầu cầm bút và truyện ngắn đầu tiên của bà đã được đăng trên tờ St Louis Post Dispatch năm 1889, và một năm sau, bà hoàn thành cuốn tiểu thuyết At Fault.

Hơn mười năm tiếp sau đó, Kate Chopin vừa duy trì hoạt động xã hội, vừa không ngừng sáng tác, hoàn thành được trên dưới một trăm truyện ngắn. Truyện ngắn của Kate Chopin được công bố trên những tạp chí nổi tiếng như Vogue và Atlantic Monthly. Hai tuyển tập lần lượt ra mắt: Bayou Folk, 23 truyện (1894); A Night in Acadie, 21 truyện (1897). Giới phê bình có người cho là truyện chỉ có tính địa phương, chỉ phản ảnh những sinh hoạt tại vùng Louisiana và Missouri.

Đến năm 1899, bà cho xuất bản cuốn The Awakening (Tỉnh thức), thu hút nhiều nhận định đánh giá trái ngược nhau. Một vài nhà phê bình khen ngợi tính nghệ thuật của tác phẩm, nhưng cũng không ít người cho là “nhàm chán”, “tầm thường”, “không lành mạnh”, thậm chí “độc hại”.

Tất cả chỉ vì Kate Chopin là người phụ nữ “đi trước thời đại “, thông qua các nhân vật của mình, bà đã bày tỏ quan niệm (và phản ứng) về gia đình, hôn nhân, ly dị, ngoại tình, nữ quyền, chống lại lề thói cổ truyền (tradition) và quyền hành (authority). (Mà đâu chỉ trong tác phẩm, ngay trong sinh hoạt đời thường, Kate Chopin cũng tỏ ra “tiên phong” đấy chứ: thời còn sống tại New Orleans hay khi về một thị trấn nhỏ ở St-Louis, bà đã làm mọi người ngạc nhiên khi đi dạo một mình, hút thuốc, ăn mặc kiểu cách và cỡi ngựa hai chân hai bên).

Kate Chopin qua đời đột ngột năm 1904, do xuất huyết não.

Trong một thời gian dài, tác giả và tác phẩm bị lãng quên, ngoại trừ một số rất ít truyện được giới thiệu trong các tuyển tập xuất bản mấy năm sau khi tác giả qua đời.

Sự lãng quên (bất công và đau đớn) này kéo dài tới gần… 70 năm, mãi cho đến năm 1969, khi nhà phê bình người Na Uy, Per Seyersted viết cuốn chuyên luận về tiểu sử của Kate Chopin với nhận định:

“[Kate Chopin] là nhà văn nữ đầu tiên trên đất nước mình nhìn nhận đam mê như là một chủ đề chính thống của tiểu thuyết nghiêm túc, công khai. Chống lại lề thói cổ truyền và quyền hành, với một sự táo bạo mà ngày nay chúng ta khó khăn mới thấu hiểu, với sự thành thực cương quyết, không có chút gì kích động, bà đảm đương việc nói lên sự thật không che đậy về mặt khuất của đời sống người phụ nữ. Bà như là người tiên phong đề cập thẳng thắn những vấn đề dục tính, ly dị, và sự thôi thúc của giới nữ mong muốn tồn tại thực sự. Trong nhiều khía cạnh, bà là một nhà văn hiện đại, nổi bật về nhận thức những phức tạp của sự thật và tính đa dạng của tự do”.

Phong trào nữ quyền ở Mỹ phát triển ngày càng mạnh từ những năm 1960 tạo thuận lợi cho việc đánh giá về tài năng và cống hiến của Kate Chopin. Tác phẩm của bà được tái bản và giới thiệu trở lại.

Truyện ngắn Cơn bão (The Storm) giới thiệu dưới đây được viết năm 1898 nhưng tác giả không thể công bố ngay vì bà biết không nơi nào chịu in một truyện đề cập thẳng thắn và thẳng thừng về tình dục như truyện này. (Lần đầu tiên truyện xuất hiện trong The Complete Works of Kate Chopin, in năm 1969, tức là gần 70 năm sau khi ra đời!).

Ba nhân vật trong truyện, Calixta, Bobinôt và Alcée Laballière, cũng là nhân vật của truyện At the Cadian Ball, viết trước đó 6 năm, tuy nhiên hai truyện vẫn có thể được đọc độc lập. Những tên riêng nghe có vẻ rất Pháp, cũng như các nhân vật trong tiểu thuyết The Awakening: Edna Pontellier, Léonce Pontellier, Robert Lebrun, Adèle Batignole, Alcée Arobin… Những tên này nên đọc theo âm Pháp, đặc biệt là những tên có các âm tiết on, un, in, đọc với âm mũi (nasal sound), khác với tiếng Anh. Đọc tên tác giả Chopin cũng vậy.

Không những chỉ đặt tên Pháp, Kate Chopin còn chèn tiếng Pháp vào trong câu văn rất nhiều chỗ (Ma foi, Dieu sait, Je vous réponds, Bonté...). Biện pháp này, ở những đoạn hội thoại, phù hợp với hoàn cảnh câu chuyện, không ảnh hưởng mấy đến việc đọc hiểu.

Thông thạo tiếng Pháp, thấm nhuần văn hoá Pháp, lúc sáng tác, Kate Chopin chịu nhiều ảnh hưởng của nhà văn Maupassant. Ở bậc thầy của thể loại truyện ngắn này, Kate Chopin nhận ra văn chương không phải chỉ là hư cấu, mà là chính cuộc sống, với những con người đang sống quanh ta. Nhà văn quan sát và ghi lại, trực tiếp và đơn giản, những gì mình nhìn thấy. Cũng như nhà văn Pháp, Kate Chopin thường viết lại, như kiểu ghi âm, những lời đối đáp của nhân vật với câu chữ, ngữ điệu nguyên thô, để người đọc tưởng mình đang nghe trực tiếp.

Một đặc trưng khác của Maupassant – mà Kate Chopin học tập – là cách kết cấu truyện ngắn, câu chuyện diễn tiến theo tâm lý nhân vật, tình tiết đan xen, và bỗng xoay sang một kết cuộc bất ngờ, tạo ngạc nhiên thú vị cho người đọc. Thủ pháp này biểu lộ rõ với truyện The Story of an hour (Câu chuyện một giờ), một trong những truyện ngắn hay nhất của Kate Chopin.

Có tin chồng của Louise bị tai nạn chết. Biết nàng bị bệnh tim nên người thân và bạn bè tìm cách báo tin khéo léo, tránh xúc động đột ngột. Ban đầu, nàng cũng đau đớn, vật vã khóc than, rồi rút về ngồi một mình trong phòng riêng. Nơi đây, khi bình tâm nhìn khung cảnh bên ngoài, dường như nỗi đau dần nguôi ngoai. Nàng quan sát những cảnh trí quen thuộc, mây bay, trời trong, cây xanh, mưa nhẹ hạt, nàng lắng nghe những âm thanh quen thuộc, tiếng rao hàng, tiếng nhạc, tiếng chim hót... Thế là một cảm giác lạ lùng, hân hoan, phấn khởi xâm nhập tâm hồn nàng. Nàng buột miệng nói: Tự do, tự do... và thanh thản nghĩ về tháng ngày dài phía trước. Nàng sẽ được tự do sống với sở thích và ước muốn của riêng mình.

Đến đây “câu chuyện một giờ” tưởng chừng kết thúc được rồi. Nhưng...

Ngay lúc này anh chồng bước vào: anh vẫn còn sống, vì trễ tàu! Khi nhìn thấy chồng trở về, Louise lăn ra chết. Bác sĩ kết luận nàng chết vì bệnh tim, vì quá vui mừng.

Câu chuyện kết thúc quá bất ngờ, để cho người đọc tiếp tục suy nghĩ: có phải thực sự Louise quá vui mừng mà chết không. Và từ đó mà bàn thêm những điều tác giả không nói, tình yêu giữa hai vợ chồng chẳng hạn...

Hiện nay, Kate Chopin được xem là một khuôn mặt lớn trong nền văn học Mỹ. Tác phẩm của bà đã được dịch ra hàng chục thứ tiếng, kể cả tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung, tiếng Mã Lai, tiếng Á Rập... và tiếng Việt.

Thứ Năm, 29 tháng 1, 2015

PAULO COELHO, nhà văn có tác phẩm được đọc nhiều nhất thế giới

Thân Trng Sơn

clip_image002Sinh năm 1947 tại Rio de Janeiro, Brazil, 40 tuổi mới viết và xuất bản cuốn sách đầu tiên, Paulo Coelho được xem là nhà văn (còn sống) được đọc nhiều nhất thế giới: tuy số lượng tác phẩm đến nay chỉ trên 20 cuốn, nhưng đã phát hành đến 86 triệu bản tại 150 quốc gia, trong đó có nhiều cuốn luôn ở trong danh sách best-seller.

Tuổi thơ của Paulo Coelho được đánh dấu bởi những thái độ và hành động phản kháng: chống đối những ép buộc, gò bó của gia đình; chống đối kỷ luật nghiêm ngặt, hà khắc của trường dòng, nơi ông theo học. Bố ông là kỹ sư, rất mong con sẽ nối nghiệp mình, nhưng ngay khi mới mười lăm tuổi, ông đã bày tỏ ước nguyện muốn trở thành nhà văn. Mẹ ông rất ngạc nhiên (và không hài lòng) về điều này. “ Ba con là k sư. Ông là người chung l phi, biết lý lun, luôn có mt cách nhìn thc tế v thế gii. Con có hiu nhà văn thc s là người thế nào không?” Sau khi tìm hiểu, ông tự giải đáp:

+ Nhà văn là người lúc nào cũng mang kính và không bao gi chi đầu. Mt na thi gian, nhà văn t ra tc gin v mi chuyn, mt na khác thì tht vng. Ông ta dành ra phn ln cuc đời mình nơi các quán rượu, tranh lun vi các nhà văn khác, cũng tóc tai ri bù và mang kính. Ông ta luôn nói nhng điu sâu sc. Ông luôn có nhng ý tưởng l lùng cho ct truyn ca tác phm sp ti ca mình và ghét b tác phm ông va xut bn.

+ Nhà văn có nhim v là không bao gi được thế h ca mình hiu được, t cho là mình đã sinh ra vào mt thi đại tm thường, và tin rng được người khác hiu có nghĩa là đánh mt đi cơ hi được xem như là thiên tài. Nhà văn đọc li và sa li mi câu mình viết rt nhiu ln. Vn t vng ca mt người trung bình bao gm 3.000 t, mt nhà văn thc th không bao gi dùng đến t nào trong s đó, bi vì trong t đin còn có ti 189.000 t khác, và nhà văn không phi là người trung bình.

+ Nhà văn mun nói điu gì thì ch nhng nhà văn khác mi hiu được. Tuy vy ông ta vn ghét tt c nhng nhà văn khác vì h lúc nào cũng dùng mánh khóe để giành ly nhng khong trng do văn hc s t nhiu thế k để li. Và như thế, nhà văn và nhng người đồng hng vi mình luôn cnh tranh để giành gii thưởng cun sách phc tp nht và người thng gii là người biết viết sao cho khó đọc nht.

+ Khi được hi đang đọc gì, nhà văn luôn nhc đến mt cun sách mà chưa ai tng nghe nói đến.( )