Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bertrand Russell. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bertrand Russell. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 20 tháng 7, 2022

Vì sao tôi không phải là người cộng sản?

Bertrand Russell

Nguyễn Đình Đăng dịch

Bertrand Russell (1872-1970) là triết gia, nhà logic học, toán học và phê bình xã hội người Anh, đoạt giải Nobel văn học năm 1950 vì các bài viết đề cao các lý tưởng nhân văn và tự do tư tưởng. Ông từng lên án chế độ toàn trị của Stalin cũng như lên án Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, và là người thẳng thừng ủng hộ giải trừ vũ khí hạt nhân. Năm 1966, cùng với Jean-Paul Sartre và một số người khác, ông đã lập Tòa án Tội ác Chiến tranh tại Stockholm để điều tra chính sách và sự can thiệp quân sự của Mỹ ở Việt Nam.

Đoạn dịch dưới đây là phần đầu bài viết năm 1956 của Bertrand Russell nhan đề "Vì sao tôi không phải là người cộng sản?" (Why I am not a communist?)

*

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 31)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Kết từ

Chúng ta đã đến đoạn cuối của câu chuyện trong cuốn sách này. Bạn đọc đến đây có thể hỏi mình đã thu hoạch được gì, và có lẽ ta nên nhắc nhở với nhau dăm điều. Trên mỗi một chủ đề ta bàn cãi có hàng hàng bộ sách, và ta chỉ có thể tóm lược được ít nhiều. Dẫu đọc kỹ một cuốn sách với những phạm vi và đối tượng rộng, điều biến độc giả thành một nhà chuyên môn là bất khả. Không thể chỉ đọc, dẫu nhiều lần, để kiện toàn hiểu biết về một vấn đề gì đó. Muốn thế, ngay với thông tin thu hoạch từ sách vở, ta phải tự mình suy tư về chúng. Đây là cũng là lý do bào chữa cho sách vở về Lịch sử Triết học vì mỗi một vấn đề ta đề cập có một lượng thông tin rất lớn do chuyên gia cung cấp. Với người đọc bình thường, và ngay cho học giả, rất quan trọng là ta ngồi xuống và tìm ra một tầm nhìn tổng hợp. Để làm việc này, ta cần một cái nhìn khái quát, đừng quá chi tiết kềnh càng, và nhất là chỉ qua trí tuệ chính ta để đảm bảo sự nhất quán. Tổng quan của cuốn sách này không có tính toàn thư (encyclopaedic) ở nghĩa đen. Vì cần thiết, tôi đã phải chọn lọc về cả tư duy lẫn con người. Và cao nhất, ta chỉ hy vọng có được một tường trình về những khuynh hướng chính trong Triết học. Ngoài ra, bối cảnh lịch sử đằng sau những khuynh hướng này thường quá xúc tích nhưng lại được trình bày khá giản lược. Cuốn sách này không có mục đích diễn giải lịch sử, chỉ mong lúc này lúc khác lưu ý người đọc hậu trường của triết học mà ta không bao giờ nên quên. Đồng thời, nó cũng nhấn mạnh tính liên tục của truyền thống văn hóa phương Tây từ thời cổ đại Hy Lạp đến ngày nay.

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 30)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học đương đại (tiếp theo)

Triết thuyết Hiện sinh của Jaspers cho phép, như với Kierkeegarrd, sự hiện diện của tôn giáo, nhưng khác với cách thế của M. Heidegger (1889- 1976). Ông là người đề xuất một hệ siêu hình khác khá có màu sắc. Rất đặc biệt với ngôn ngữ riêng, triết lý của vị này rất ư là mờ ảo. Một điểm đáng chú ý: ông cho rằng hư vô, hay sự không-có-gì, là một điều tích cực. Và cũng như những cách nhìn hiện sinh khác, ông làm những quan sát tâm lý nhằm mục đích chối bỏ Lôgíc[1].

Ở Pháp, phong trào Hiện sinh gắn kết với địa hạt văn chương. Người đại diện, J.P. Sartre (1905- 1980) không chỉ viết những tác phẩm quan trọng về Triết mà còn trước tác tiểu thuyết. Quan điểm của ông được giải trình qua những thôi thúc hành động, một phương diện cốt tử của cách thế hiện sinh. Phương tiện văn học qua những tiểu thuyết ông viết rất hiệu quả trong cách truyền thông đến đại chúng những nét ngặt nghèo của thân phận làm người. Với Sartre, tự do của con người được đẩy đến giới hạn cuối. Cá nhân luôn luôn chọn định mệnh của mình. Sự chọn lựa này không có ràng buộc gì của truyền thống hoặc của những sự kiện ở quá khứ đời một người. Bởi những quyết định thường xuyên này mà cá nhân cần sự dấn thân (commitment). Kẻ nào sợ sự thật này, người đó lẩn vào cách thế tìm lý tính cho thế giới xung quanh như thái độ ‘trùm chăn’. Chính như vậy mà các nhà khoa học, cũng hệt như những tín đồ tôn giáo, đều trốn tránh hiện thực. Nhưng theo Sartre, họ đều nhầm. Thế giới không như là khoa học sắp đặt, và với Thượng Đế, có lẽ Người đã chết từ khi Nietzche ồn ào báo tử. Người nào trong thế gian này sẵn sàng đối mặt với thế giới như nó-là đều ứng xử như những anh hùng của Nietzche. Và từ nguồn này, Sartre đã khẳng định cách thế vô thần. Cơ bản, Sartres chống lại quan điểm duy lý về sự cần thiết do Liebniz và Spinoza đề xướng rồi được trường phái Lý tưởng kế thừa. Trên nguyên tắc theo những triết gia này thì mọi sự có thể coi là bức thiết nếu chúng ta nới rộng tầm nhìn. Từ đó, học thuyết tự do dưới hình thái do Spinoza hay Hegel đề trình là khó tránh.

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 29)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học đương đại (tiếp theo)

Một khuôn mặt chính khác là A.N. Whitehead (1861-1947) mà chúng ta đã đề cập như một nhà Toán học chuyên ngành Lôgíc. Sau “Nguyên tắc Toán” ( Principia Mathematica) ông nghiêng về những vấn đề triết lý của khoa học đương đại rồi chuyển hẳn sang Siêu hình học. Từ 1924, ông nhậm chức danh Giáo sư Triết ở Harvard và bắt đầu một sự nghiệp mới. Những trước tác của ông trong những năm sau đó rất khó đọc. Dẫu nói khó chẳng phải là một phê phán, nhưng tôi (B. Russell) xin thú nhận rằng những tư biện siêu hình của Whitehead khá lạ lẫm cho tôi. Dù sao tôi cũng xin trình bày chúng một cách ngắn gọn.

Whitehead cho rằng để nhận thức được thế giới ta phải theo cách thế của Galileo và Descartes, phân định mọi thực thể thành phẩm chất thứ nhất và thứ nhì. Trên con đường này, chúng ta chỉ đi đến một hình ảnh méo mó của phạm trù duy lý. Thế giới

clip_image002

Dewey

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 28)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học đương đại (tiếp theo)

Ở Pháp, triết gia nhiều ảnh hưởng nhất cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là Henri Bergson (1859-1941), người đã bài bác khoa học, và theo truyền thống tư duy Rousseau trong phong trào Lãng Mạn. Giống như những người thực dụng, ông cổ võ cho hành động trên mọi sự. Về điểm này, ông mất kiên nhẫn trước những động thái suy tư quá thận trọng và không mang dấu vết đam mê trong tư duy triết lý và khoa học mà tiêu chuẩn hàng đầu là đạt đến chính xác. Quan niệm này phát xuất từ Descartes trong “Diễn ngôn về Phương pháp luận”. Khi cố gắng nắm bắt những xung động của kinh ngiệm để diễn tả chúng trong phạm vi ngôn ngữ, chúng ta hầu như chặn dòng chảy hiện thực (flux of reality) để cấu tạo lại chúng với hình thể mờ nhạt và tĩnh lặng. Đây lại là vấn đề Heraclitus và Parmenides đã từng đặt ra. Điều Bergson nhắm là nâng dòng chảy hiện thực này lên mức sinh động để chống lại những hình thức nhại lại cứng ngắc của lý tính.

Đến đây, Bergson khiến ta nhớ đến vấn đề của Bradley. Nhưng lời giải của ông cho chúng thật khác. Với Bradley, siêu hình học gắn kết với lý thuyết Lôgíc, đặc biệt là lý thuyết nhất quán về sự thật. Về phần Bergson, chính Lôgíc là chướng ngại phải vượt qua. Trong nghĩa này, Bradley duy lý trong khi Bergson thì ngược lại.

Khác với trường phái Lý Tưởng và học thuyết Duy vật nhất nguyên của thế kỷ 19, Bergson quay trở về cách nhìn thế giới theo thuyết nhị nguyên. Sự phân chia vũ trụ tuy vậy không còn theo đúng như lý thuyết nhị nguyên có trước. Một bên, là vật chất như với Descartes, nhưng bên kia không phải là phần trí tuệ của thế giới duy lý mà là một nguyên tắc sinh động (vital principle). Hai lực chính này tham gia vào cuộc đấu tranh thường trực trong đó phần xung động của sự sống cố gắng vượt qua những trở ngại do vật chất ù lì (inert material) gây ra. Trong quá trình này, sinh lực (life-force) được đúc nặn từ điều kiện vật chất nhưng, như một đặc thù thiết yếu, nó vẫn tự phát và tự do hoạt động. Bergson phản bác lý thuyết tiến hóa truyền thống vì những tương quan thuần duy lý không cho phép có gì thật sự mới có thể xuất hiện. Ông cho rằng tiến hóa là đưa đến những cái mới, và đích thực là sáng tạo, ở nghĩa đen. Nguyên lý này được ông trình bày trong trước tác “Tiến hóa Sáng tạo” (Creative Evolution). Quá trình sáng tạo này hệt như sáng tạo nghệ thuật. Giống một nghệ sĩ tác nghiệp vì thôi thúc sáng tạo, sinh lực tác động lên Thiên nhiên cùng một cách. Những vận hành tiến hóa đều xảy ra trong sự thôi thúc thường xuyên của sáng tạo nhằm khai sinh những đặc tính trước đó chưa hiện hữu.

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 27)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học đương đại

Tham khảo triết học 70 hay 80 năm trở lại đây, ta gặp một số khó khăn đặc biệt. Vì quá gần, khó có thể có một cái nhìn giữ được khoảng cách với những triển khai mới. Những tư tưởng gia trong quá khứ xa hơn thường trải qua trắc nghiệm của những phê phán từ thế hệ đến sau. Thời gian đãi lọc khiến sự chọn lọc dễ hơn, và thật hiếm hoi có những kẻ không có công trình mà giữ được tiếng vang lâu dài, mặc dầu không phải thiếu người đáng quan tâm mà bị quên lãng.

Với những triết gia đương đại, sự chọn lọc rất khó, và đến được một tầm nhìn cân bằng là chuyện rất bấp bênh. Nếu như có thể nhìn toàn bộ những khai triển của tư tưởng trong quá khứ với những triết gia xưa thì hiện nay những tư tưởng mới còn quá gần để ta có thể truy ra những con đường có triển vọng tương lai với độ tin cậy mong muốn. Nhưng điều này không sao mà khác đi được. Tương đối, ta thường khôn ngoan hơn sau khi đã có sự kiện để nắm bắt tiến bộ của triết học. Nhưng tưởng tượng rằng những thay đổi đương đại có thể suy diễn với chi tiết thì đúng là thứ ảo tưởng kiểu Hegel. Điều tốt nhất khả dĩ làm được là nhìn ra những khuynh hướng tổng quát liên hệ với những sự cố gần đây mà thôi.

Thứ Sáu, 13 tháng 1, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 26)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Từ triết thuyết Duy lợi (tiếp theo)

Ở Pháp, phong trào Bách Khoa Toàn Thư có người truyền thừa là Auguste Comte (1798-1857). Chia sẻ với nhóm triết gia Cực đoan về niềm tin khoa học và sự đối đầu với những tôn giáo, ông thiết lập bảng phân loại khoa học, bắt đầu là Toán học rồi lần lượt cứ thế đến khoa học xã hội nhân văn. Tương tự như những triết gia Anh, ông chống khuynh hướng Siêu hình, nhưng như họ, ông biết không nhiểu về trường phái Lý tưởng ở Đức. Ông nhấn mạnh rằng ta phải bắt đầu cuộc truy lùng sự thật bằng kinh nghiệm, tránh tìm hiểu mặt sau một vấn đề, và ông gọi cách nhìn của mình là Triết học Thực chứng (positive philosophy).

clip_image002 Auguste Comte

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 25)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Từ triết thuyết Duy lợi (tiếp theo)

clip_image002

Thomas Robert Malthus

Một vấn đề nổi cộm ở khúc quanh thế kỷ 18 là độ tăng trưởng dân số rất nhanh sau khi thuốc chủng ngừa bệnh khiến mức tử vong sụt xuống. Một nghiên cứu về dân số do T. Malthus (1766-1834), kinh tế gia, mục sư nhà thờ Aglican, và bạn của nhóm triết gia Cực đoan, hoàn thành. Trong “Luận đề về Dân số” (Essay on Population) năm 1797, Malthus chứng minh rằng độ tăng dân số sẽ cao hơn tăng trưởng của mức cung cấp thực phẩm. Dân số tăng theo cấp số nhân trong khi sản lượng thực phẩm chỉ tăng với cấp số cộng, và đến một giới hạn nào đó, cứ tiếp tục như vậy thì nạn đói trầm trọng sẽ xảy ra. Về giới hạn này, Malthus chấp nhận cách nhìn của Ki-tô giáo, cho rằng người ta phải tự ức chế dục vọng để bớt sinh sôi. Malthus rất thành công trong vụ việc này, và trong 4 năm chỉ hạ sinh có 3 người con.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 24)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Kể từ Triết thuyết Duy lợi

Chúng ta nay quay ngược lại một thế kỷ và đi sang một hướng khác. Triết học Lý tưởng và những phê phán được triển khai trong một thế giới mà điều kiện vật chất thay đổi một cách căn bản. Những thay đổi này đến từ cuộc cách mạng kỹ nghệ bắt đầu ở Anh quốc vào thế kỷ 18. Đầu tiên, máy móc được từ từ đưa vào sản xuất hàng hoá. Cải thiện hiệu năng không còn lờ mờ khi năng xuất trong sản xuất vải vóc tăng mạnh. Bước quan trọng là máy hơi nước được hoàn chỉnh, cho phép dùng năng lượng hầu như vô giới hạn cho hàng loạt máy móc trong công xưởng. Cách thức hữu hiệu để tạo hơi nước là dùng than đốt. Thế là những mỏ than được khai thác, và phần lớn trong những điều kiện ngặt nghèo khốn khổ. Về mặt đời sống con người, phải nói những ngày đầu của cuộc kỹ nghệ hóa là những ngày khủng khiếp.

Trong thế kỷ 18, phong trào rào đất ở Anh lên đến cực đỉnh. Thời gian trước đó, từng có nhiều khu đất công cộng bị tầng lớp quí tộc xâm lấn rào lại làm của riêng. Điều này khiến nông dân mất phương tiện sản xuất cơ cực hơn, và họ buộc phải lũ lượt di cư đi ra những thành phố để tìm phương tiện mưu sinh. Đây là lớp người đi vào làm lao động trong những hãng xưởng xuất hiện từ cuộc kỹ nghệ hóa nền kinh tế. Bị bóc lột vì lương thấp, họ sống trong những khu ổ chuột ở thành phố và ngoại ô, tạo ra vô vàn vấn nạn xã hội. Phát minh ra máy móc bị nhìn với con mắt nghi ngại của lớp nghệ nhân đang thành thừa thãi. Trước những tiến bộ kỹ thuật, giai cấp lao động chống lại vì sợ rằng lương bổng thấp xuống. Sự sợ hãi này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay; cụ thể là với máy móc được điểu khiển bằng phương tiện điện tử có khả năng tước công ăn việc làm của những thành viên trong công đoàn lao động. Tuy nhiên, cái nhìn có phần bi quan này sai. Mức sống và tiện nghi trong những quốc gia công nghiệp hóa tăng lên ở mọi mặt. Nhưng phải nói, sự khốn khó của những người vô sản trong thời kỳ đầu của cách mạng kỹ nghệ rất rõ ràng. Những gì kinh khủng nhất có thể do sự ngu tối vì đây là những điều kiện sinh nhai mới mẻ. Chủ nghĩa Tự do thời trước, dựa trên thủ công nghệ và nông nghiệp, không đủ uyển chuyển để đối mặt với cuộc công nghiệp hóa của xã hội. Cải cách xã hội đến khá chậm, nhưng rồi cũng có để thay đổi những điều bất hảo. Sau này, khi kỹ nghệ lan vào lục địa châu Âu, những khó khăn của giai cấp công nhân có bớt nhiều so với thời kỳ ban đầu ở Anh quốc, có lẽ vì người ta đã học được kinh nghiệm.

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

Minh triết phương Tây (kỳ 23)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Khai minh và Lãng mạn (tiếp theo)

Arthur Schopenhauer (1788-1860) là con của một thương gia người Danzig[1], rất ngưỡng mộ Voltaire và khâm phục Anh quốc. Khi thành phố Danzig bị người Phổ chiếm đóng, gia đình ông chuyển về Hamburg. Năm 1797, ông sang Paris, và chỉ sau hai năm ông gần như quên hết tiếng mẹ đẻ. Năm 1797, ông đến Anh và đi học trong 6 tháng, thời gian đủ để ông học Anh ngữ. Về Hamburg, ông giành một nửa thời gian làm kinh doanh, nhưng bỏ sau khi cha ông mất. Mẹ ông rời về Weimar, ở đó bà là chủ một Câu lạc bộ văn nghệ mà nhiều thi sĩ và văn gia tham dự. Và bà, bà trở thành một tiểu thuyết gia. Nhưng con bà, tính cách vốn khép kín, không mấy chia xẻ cách sống độc lập của mẹ. Vào tuổi 21, Schopenhauer thừa hưởng một gia tài nhỏ, sau đó hai mẹ con dần dần trở nên xa lạ.

clip_image002

Schopenhauer

Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 22)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Khai minh và Lãng mạn (tiếp theo)

Hegel (1770-1831) sinh ở Stuttgart và học ở Tubingen cùng thời với Schelling. Ông kèm dạy ở tư gia một thời gian, sau đi Jena với Schelling vào 1801, ở đấy ông hoàn thành tác phẩm “Hiện tượng học về Tinh thần” (Phenomenology of Mind) 5 năm sau. Trước khi quân Pháp chiến thắng, ông rời Jena và trong vài năm làm biên tập, sau đứng đầu một trường dạy văn phạm ở Nuremberg và viết “Khoa học Lôgíc: (Science of Logic). Năm 1816, Hegel thành Giáo sư ở Heidelberg và hoàn thành “Bách khoa Khoa học Triết học” (Encyclopedia of the Philosophic Sciences) và hai năm sau, ông được phong Giáo sư Triết học ở Berlin, vị trí ông giữ từ đó. Ông khâm phục nước Phổ, và triết lý của ông sau trở thành học thuyết chính thống của quốc gia này.

clip_image002 Hegel

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 21)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Khai minh và Lãng mạn (tiếp theo)

Immanuel Kant (1724-1804) sinh ở Konigsberg miền Đông nước Phổ và suốt đời chưa hề rời nơi sinh nhau cắt rốn. Ngay thuở thiếu thời, ông tỏ ra mộ đạo, tính cách ảnh hưởng lối sống cũng như những trước tác của ông về Đạo đức.

Kant học ở Đại Học Konigsberg, ban đầu theo Thần học nhưng sau học Triết mà ông thấy đúng là quan tâm của mình. Trong một khoảng thời gian, ông kiếm sống bằng cách giảng dạy cho đám hậu duệ của địa chủ, và đến 1755, ông được bổ nhiệm làm giảng viên Triết học tại Konigsberg. Năm 1770, ông được thụ phong chức danh Giáo sư về Lôgíc và Siêu hình học, vị trí ông giữ cho đến hết đời.

clip_image002 I.Kant

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 20)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Khai Minh và Lãng Mạn

Một nét đặc thù của trường phái Duy Nghiệm ở Anh là sự khoan hoà với những cách thế tư duy theo một truyền thống khác. Locke nhấn mạnh rằng tinh thần này phải được nới rộng không phân biệt, ngay cả với những người phe cánh Giáo Hoàng (papists)[1], và dẫu Hume có giễu cợt tôn giáo nói chung và Công giáo Roman nói riêng, ông chống lại những kẻ quá “hăng máu” đi tạo điều kiện gây đàn áp tôn giáo. Cách thế khoan hoà là một đặc điểm cũa thời Khai Minh. Trong thế kỷ 18, nó lan qua Pháp, rồi Đức. Phong trào Khai Minh - người Đức gọi là ‘Aufklarung’- không dính liền với một trường phái triết học đặc biệt nào. Nó là hậu quả của một cuộc đấu tranh giữa những tôn giáo, quá đẫm máu, và bất phân thắng lợi, trong hai thế kỷ 16 và 17 ở Âu Châu. Nguyên tắc khoan hòa tôn giáo, như ta đã nói, là quan điểm của Locke cũng như của Spinoza. Nhưng đồng thời, cách ứng xử này về mặt tôn giáo lại có những kết quả ngoạn mục trong địa hạt chính trị. Nó đi ngược lại với tất cả những thể loại thế quyền vô giới hạn. Quyền thiêng liêng của vua chúa không còn tương hợp với sự tự do chọn lựa tôn giáo. Ở Anh quốc, cuộc đấu tranh chính trị nổ ra vào cuối thế kỷ 17. Hiến pháp thảo ra thời ấy chưa phải là dân chủ, nhưng đã thoát khỏi những sự lạm dụng của lề luật phục vụ giai cấp quí tộc ở những nơi khác. Vì thế, không ai tiên đoán có nội loạn. Bên Pháp, tình thế khác hẳn. Sức mạnh của phong trào Khai Minh là cơ sở để sửa soạn cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789. Ở Đức, Khai Minh lại liên quan đến sự phục hồi của trí thức. Từ cuộc chiến 30 năm, Đức bị ảnh hưởng văn hóa Pháp thống trị. Chỉ từ khi Phổ[2] vươn lên dưới thời Frederik, Đức mới thoát khỏi ảnh hưởng Pháp, bắt đầu hồi sinh vào hậu bán thế kỷ thứ 18.

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 19)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

TRƯỜNG PHÁI DUY NGHIỆM (TIẾP THEO)

Những nứt vỡ trong Triết học Âu Châu, bắt đầu lộ diện sau Locke, từ trước đến nay đều là những kiến trúc trên mặt rộng. Luận cứ của chúng thường dựa trên những tiên nghiệm (a priori) rồi khai triển mà không chú trọng đến những chi tiết. Triết học Anh, mặt khác, theo sát phương pháp thực nghiệm trong khoa học, quan tâm đến cả những vấn đề nhỏ nhặt rải rác, và khi đạt đến những phát biểu tổng quát thì thường mang chúng ra đối chứng với những sự kiện quan sát trực tiếp. Như hệ quả, hệ thống dựa trên tiên nghiệm có thể nhất quán và xuyên suốt chặt chẽ, nhưng nó lại có khả năng sụp đổ khi những đề xuất nền tảng bị lung lay. Triết học Duy nghiệm, dựa trên quan sát, không hoàn toàn đổ vỡ nêu như có một mảng nào đó trong kiến trúc có sai lệch. Khác biệt có thể ví như kim tự tháp hình chóp. Kiến trúc Duy nghiệm là cái mà nền ở trên mặt đất trong khi kiến trúc dựa trên tiên nghiệm thì ngược lại, đỉnh lộn đầu xuống dưới.

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 18)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Trường phái Duy Nghiệm ở Anh

Trong làn sóng Cải Cách, một thế cách tư duy mới về triết học và chính trị nẩy nở ở Bắc Âu. Như phản ứng đối nghịch những cuộc chiến tôn giáo và sự quị lụy Rome, thế cách này xuất hiện ở Anh quốc và Hoà Lan. Nước Anh được miễn nhiễm những hậu quả ghê rợn của cuộc ly giáo ở lục địa. Thanh giáo dưới thời Cromwell có bất hòa với Giáo Hội, và Giáo dân Tin Lành và Công giáo có một thời bức hại lẫn nhau, nhưng họ không đến nỗi sắt máu. Vì thế, không có những hành động tàn ác ở mức độ lớn, và trên hết, không có can thiệp quân sự của ngoại bang. Nhưng Hoà Lan thì khác, phải can qua và chịu đựng tác hại của chiến tranh tôn giáo. Sau một cuộc chiến dai dẳng và đầy đắng cay chống lại Công giáo Tây Ban Nha, họ cuối cùng giành được môt chấp nhận tạm thời về sự độc lập năm 1609, và sau được chính thức hóa qua Hiệp ước Westphalia năm 1648.

Thế cách tư duy mới về những vấn đề xã hội và trí thức có tên là Chủ nghĩa Tự do (liberalism). Dưới cách gọi chung chung này, chúng ta có thể chắt lọc một số tính cách đặc thù. Đầu tiên, những người theo chủ nghĩa này phần đông là giáo dân Tin Lành, nhưng họ không bó gọn trong cách thức do Calvin đề ra. Họ tuân thủ khái niệm theo đó mỗi giáo dân đến với Thượng Đế theo cách của riêng mình, không để niềm tin mù quáng nào áp đặt. Chủ nghĩa tự do, nói chung là sản phẩm của giai cấp trung lưu đang khống chế buôn bán và kỹ nghệ, tất nhiên chống lại những truyền thống cho đến bấy giờ vẫn mang đặc quyền ưu tiên đến vua quan của nền quân chủ và tầng lớp quí tộc. Nhưng điểm chính vẫn là hành xử một cách khoan hòa nhân nhượng. Trong thế kỷ 17, khi phần lớn những quốc gia Âu Châu oằn mình với chiến tranh và cuồng tín thì nước Cộng hoà Hoà Lan là nơi nương náu của những nhà tư tưởng tự do và những kẻ bất tòng lề thói. Giáo hội Tin Lành chưa bao giờ có được quyền lực như Giáo hội Công giáo từng có thời Trung Cổ. Vì thế, quyền lực Nhà Nước trong những quốc gia theo Tin Lành ắt mạnh hơn.

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 17)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học thăng hoa (tiếp theo)

Vấn đề thực thể, như chúng ta thấy, dẫn đến nhiều giải pháp khác nhau. Nếu Spinoza quan niệm thực thể là nhất nguyên, Leibniz ở đối cực cho rằng có một lượng vô cùng lớn những thực thể. Hai lý thuyết này liên quan đến nhau tựa như quan điểm của Pamenide với những người theo thuyết nguyên tử thời cổ-Hy Lạp, nhưng chúng ta đừng đẩy quá xa nhận định này. Lý thuyết của Leibniz dựa trên nhận xét rằng nếu thực thể chỉ có một, thì nó không thể đàn hồi nở rộng bởi nếu vậy ắt sẽ có vô số thực thể. Từ đó, Leibniz suy ra có rất nhiều thực thể, chúng không đàn hồi, và vì vậy không là vật chất. Leibniz đặt tên chúng là đơn tử (monad), và tính chất cơ bản của chúng là linh hồn ở nghĩa rộng nhất của từ ngữ.

clip_image002

Gottfried Wilhelm Leibniz

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 16)

Bertrand Rusell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Trong hậu bán thế kỷ 16, nước Pháp bị giằng xé trong cuộc chiến tranh tôn giáo giữa Công giáo và những tín đồ Tin Lành (Huguenots). Cũng như ở Đức, lý do của cuộc chiến không chỉ vì tôn giáo mà còn kinh tế. Cả hai mặt này cho thấy dấu hiệu thay đổi trong những bước chuyển tiếp từ thời Trung Cổ sang thời hiện đại. Tôn giáo Cải Cách và Thanh giáo đi đôi với sự phát triển của ngoại thương. Ở Pháp, sự cách ly tôn giáo có một thời tuân theo chỉ dụ khoan dung ký ở Nante năm 1598. Khi chỉ dụ này bị bãi năm 1685, nhiều tín đồ Huguenots rời Pháp sang sinh sống ở bên Anh và Đức.

Vì Tin Lành không là một tôn giáo phổ quát nên cần được bảo vệ về mặt chính trị, và do đó người lãnh đạo quốc gia trở thành lãnh đạo Giáo hội. Không như Giáo hội Roman, những giáo sĩ Tin Lành dẫu cũng hẹp hòi khắc nghiệt nhưng không có đủ quyền lực để lộng hành. Cuối cùng, người ta thấy cuộc giáo tranh là phí phạm và không thể đi đến một kết cục thắng bại nào cho bên này hay bên kia. Chính vì nhận định như vậy mà rồi sự khoan dung tôn giáo phát triển.

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 15)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Khi phong trào Nhân Bản ở miền bắc dẫn tới những quan niệm mới trong Ki-tô giáo, phong trào ở Ý không quan tâm chi nhiều đến tôn giáo. Thời đó, cũng như bây giờ, Công giáo chiếm một phần của đời sống thường nhật và không luôn tác động lên ý thức con người. Trong một chừng mực, tôn giáo chỉ là phần nhỏ so với những điều khác. Ngoài ra, vì Rome là trung tâm quyền lực, Công giáo Roman không thể gây phiền hà cho tinh thần quốc gia người Ý. Đây chẳng qua là một hình thức lưu lại của niềm tin quốc gia đã hiện hữu từ thời hoàng kim xa xưa. Ảnh hưởng đáng kể này trong phương cách quản trị Giáo hội Roman còn tồn tại cho đến ngày nay.

Một trong những đóng góp của phong trào Nhân Bản ở Ý là đặt lại trọng tâm trên truyền thống Toán học của Pythagoras và Plato. Cơ cấu số học của thế giới lại được nhấn mạnh, thay thế tư tưởng của Aristotle đã một thời trùm phủ tư duy triết học. Đây là một trong những lý do quan trọng khiến khoa học lại được phát huy trong thế kỷ 16 và 17. Và điều này quá rõ với sự phục hưng của nền kiến trúc Ý. Ở mặt này, liên hệ thiết thân với truyền thống cổ điển được ghi nhận trong công trình của Vitruvius, kiến trúc sư Roman thời thế kỷ thứ 1. Điều cực quan trọng là tỉ lệ hài hòa giữa những phần khác biệt của một kiến trúc, theo đó người ta khai triển một lý thuyết Toán về cái Đẹp. Dựa trên nguồn Hy Lạp, Vitrivius cho rằng Đẹp là những tỉ lệ hài hoà của cơ cấu một vật thể. Quan niệm này rõ là phát xuất từ trường phái Pythagoras, một thế cách mà Lý thuyết Ý thể cũng chấp nhận. Với mắt trần, không thể định lượng được những tỉ lệ của những phần cấu tạo một công trình kiến trúc. Nhưng khi những tỉ lệ chính xác đó được tuân thủ trong một công trình, ai cũng nhận ra tính mỹ thuật của nó. Sự tồn tại của những tỉ lệ hài hòa đó, như lý tưởng, bảo kê cho tính toàn hảo.

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 15)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học Thăng Hoa (tiếp theo)

Phong trào Phục Hưng phát triển rộng ờ Ý trong thế kỷ 15, và sau một thời gian mới tràn vào phương bắc sau rặng Alps. Sức mạnh phong trào này ở đó có những đổi thay. Một điều nổi bật, cung cách mới được giới học thuật quan tâm. Vì vậy, không thể gọi là Phục Hưng ở đó, vì chưa có gì trước để nói về sự hồi sinh. Ở miền nam, truyền thống cũ còn có chút ý nghĩa dẫu đôi khi lờ mờ với cư dân nói chung. Trong khi đó, ở miền bắc, ảnh hưởng của Rome hoặc tạm thời, hoặc hoàn toàn không có gì. Phong trào Phục Hưng vì thế khoanh vùng trong giới học giả và không đánh động đám đông. Nhưng trong địa hạt nghệ thuật, phong trào Nhân Bản miền bắc lại có tác động sâu sắc, chia tay với quyền lực Trung Cổ một cách ngoạn mục và quyết liệt hơn là ở Ý. Cho dẫu nhiều học giả Nhân Bản không tán thành rạn nứt về tôn giáo gây ra do phong trào Cải Cách, nhưng nhiều người cũng ước đoán rằng điều này khó tránh trong làn sóng hồi phục của miền bắc.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Minh triết phương Tây (kỳ 14)

Bertrand Russell
Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học thăng hoa

Trong thế kỷ 14, tầm nhìn Trung Cổ bắt đầu chuyển hướng, lực lượng cách tân nổi lên thay đổi cách nhìn thế giới, hiện đại và tân tiến hơn. Về mặt xã hội, cấu trúc phong kiến của xã hội Trung Cổ trở nên bất ổn qua sự bùng phát của một giai cấp thương nhân tạo ra những liên kết với những nhà tư bản không tuân phục trật tự sẵn có. Về phương diện chính trị, giai cấp quí tộc mất khả năng hưu chiến, những chỗ cố thủ chắc chắn của họ bị những khí giới mới sáng tạo đe dọa. Nếu cuốc và xẻng của nông dân không thể phá đổ tường lũy những thành trì kiên cố thì thuốc súng có khả năng đánh sập chúng. Có 4 phong trào đánh dấu những giai đoạn chuyển tiếp từ sự tàn lụn của hệ thống Trung Cổ đến bước nhẩy vọt ngoạn mục của Âu Châu ở thế kỷ 17.

Trước tiên, là công cuộc Phục Hưng của Ý ở thế kỷ 15 và 16. Mặc dù Dante còn chìm sâu trong thế cách tư duy Trung Cổ, ông đã dùng ngôn ngữ thông tục khiến văn bản trở nên phổ biến cho những người không biết tiếng Latinh. Tuy thế, có những kẻ vẫn quay về lối mòn xưa cũ như Boccaccio và Petrach. Thứ hai, mặc dù quan tâm văn hoá của những người thời trước để dấu vết trong nghệ thuật và khoa học, những chỉ dấu nứt rạn với truyền thống, chủ yếu là truyền thống tăng lữ thời Trung Cổ, cũng đã xuất hiện. Trong khi sân khấu Trung Cổ thường đưa ra những vấn đề liên quan đến Thượng Đế, những tư tưởng gia thời Phục Hưng chú trọng đến những gì gắn bó với Con Người. Từ khởi điểm đó, nền văn hóa mới mang mầu sắc Nhân Bản, gây những ảnh hưởng sâu rộng và quan trọng. Trong khi những thay đổi thời Phục Hưng tác động lên mọi khía cạnh của đời sống, phong trào Nhân Bản là một trọng điểm của những triết gia và học giả. Ở Ý, Phục Hưng không gắn kết với sự hồi sinh của chủ nghĩa dân tộc. Đất nước Ý khi đó phân thành từng vùng nhỏ dưới sự quản lý của những Thành quốc, hoặc đơn giản là vô chính phủ. Ý nằm dưới sự chủ quản của triều đại Habsburg ở Áo và Tây Ban Nha, và chỉ thành một quốc gia độc lập vào giữa thế kỷ 19. Phong trào Phục Hưng tạo ảnh hưởng, chuyển hướng về phương bắc qua Đức, Pháp, và những quốc gia phía dưới. Tính cách Nhân Bản của những vùng này rộ nở độ chừng một thế kỷ sau những bước khởi đầu ở Ý.