Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hồng Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hồng Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Màu của cái chết trong trường ca Gió @ của Đoàn Huy Giao

 Nguyễn Hồng Anh

“Chim không biết bay là do dị tật của bầu trời

chứ đâu phải lỗi của ngôn từ”

 (Gió @ Đoàn Huy Giao)

Nhà thơ Đoàn Huy Giao (2025)

 

Tôi đọc thơ Đoàn Huy Giao khi còn chưa biết nhiều về ông; ngay cả Tam giác nghịch – trường ca nổi tiếng của ông đã công bố từ nhiều năm trước – tôi cũng chưa từng đọc. Vì thế, cuộc gặp của tôi với thơ ông không bắt đầu từ tiểu sử tác giả, mà bằng sự tò mò trước tựa đề của các tập trường ca phá cách cả về hình ảnh lẫn kết hợp từ: Bài thơ không của hoàng hôn, Có được ngọn núi kia là đủ, rồi Gió @. Riêng Gió @ còn lôi cuốn tôi vì lời đề từ:

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Cứu lấy vài tiếng thì thầm

(Đọc thơ Lê Thanh Trường)

 Nguyễn Hồng Anh

Thanh Trường

Tôi tình cờ đọc Lê Thanh Trường vào quãng thời gian mình gần như không còn đọc thơ. Với tôi, thơ luôn là một thế giới rợn ngợp những tâm tình cá vị – mà một người chưa gánh nổi niềm riêng của chính mình như tôi thường ngại bước chân vào. Nhưng “lỡ” đọc thơ Trường rồi, tôi cứ nấn ná, dừng lại, bài này gọi tiếp bài kia, dù giọng thơ từ tốn lắm, âm vực có khi trầm lắng như tiếng thì thầm, như thể vọng lại từ phía bên kia bức tường hay sau cánh cửa đóng kín.

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

Đọc Đinh Thanh Huyền: Khi phê bình là “ái tình của nghệ thuật”

Nguyễn Hồng Anh

Hôm nay tôi làm một việc hơi khác thường: Tôi viết, nhưng không viết về tác phẩm, mà về một nhà phê bình. Và bài viết này là một kiểu phê bình của phê bình: cách tôi đọc về giọng phê bình của Đinh Thanh Huyền, đọc lại chính hành vi đọc của chị – thứ tôi bị cuốn vào ngay lập tức (và đến giờ chưa thoát ra được) khi lần đầu gặp bài Game thủ, cũng là bài phê bình văn học đầu tiên của chị mà tôi biết đến.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Tự do của kẻ khác

 (Một thử nghiệm đọc Hóa thân của Kafka từ cách tiếp cận liên ngành giữa triết học hiện sinh và lý thuyết văn hóa)

Nguyễn Hồng Anh

 

Bìa tác phẩm Hóa thân, ấn bản đầu tiên của Kurt Wolff Verlag. Sách xuất bản vào tháng 12 năm 1915 nhưng bìa ghi 1916.

Trước khi hóa thân, Gregor sống trong tình trạng mà triết học hiện sinh gọi là “nguỵ tín” (bad faith). Anh tồn tại như một nhân viên mẫn cán, một người con có trách nhiệm, một cỗ máy lao động phục vụ gia đình hơn là một chủ thể tự do. Mọi dự phóng của anh đều hướng về người khác: kiếm tiền trả nợ cho cha mẹ, chăm lo cho em gái, duy trì vị trí trong công ty. Anh gần như không có một dự phóng nào dành cho bản thân. Nói theo Sartre, Gregor tồn tại chủ yếu như một “hữu thể cho người khác” (being-for-others) hơn là “hữu thể cho mình” (being-for-itself). Anh đã từ bỏ khả năng lựa chọn để đồng nhất bản thân với vai trò xã hội được giao. Vì vậy, dù mang hình hài con người, Gregor thực chất đã mất chủ thể tính và sống trong tình trạng vong thân. Đáng chú ý là trước khi hóa thân, Gregor chưa phải là “cái khác” (the Other); anh hoàn toàn hòa nhập vào trật tự xã hội. Nhưng chính sự hòa nhập tuyệt đối ấy lại khiến anh đánh mất tự do.

Sự hóa thân thành côn trùng mở ra một nghịch lý. Về mặt xã hội, Gregor bị tước bỏ mọi nghĩa vụ. Anh không còn phải đến công ty, hay chịu sự kiểm soát của cấp trên, hay phải gánh trách nhiệm kinh tế đối với gia đình. Đó dường như là một sự giải phóng. Tuy nhiên, tự do trong hiện sinh không đơn thuần là sự vắng mặt của những ràng buộc mà là quyền lựa chọn và khả năng dự phóng/ kiến tạo thế giới và chính mình. Sau khi hóa thân, Gregor bị cắt đứt khỏi tương lai; anh không còn mục tiêu nào để hướng tới, hay thực hiện các lựa chọn có ý nghĩa. Do đó, cái mà anh có được không phải là tự do đích thực.

Ở đây, lý thuyết của Stuart Hall giúp mở rộng cách hiểu về tình trạng của Gregor. Hall bác bỏ quan niệm bản chất luận về căn tính và cho rằng: “Căn tính được kiến tạo thông qua sự khác biệt chứ không phải bên ngoài sự khác biệt” (Stuart Hall, “Who Needs Identity?” trong cuốn Questions of Cultural Identity, 1996). Điều này có nghĩa rằng một chủ thể chỉ có thể được nhận diện trong mối quan hệ với cái mà nó không phải là; nói cách khác, căn tính luôn được hình thành thông qua việc xác lập những ranh giới giữa “chúng ta” và “họ”, giữa cái bình thường và cái bất thường. Trong Hóa thân, Gregor trở thành “cái khác” tuyệt đối. Nếu trước đây anh là người lao động hữu ích, là thành viên có giá trị của gia đình, thì giờ đây anh bị quy về hình ảnh của một con bọ ghê tởm. Điều quan trọng là sự thay đổi này chủ yếu diễn ra trong cái nhìn của những người xung quanh. Ý thức của Gregor vẫn là ý thức con người; anh vẫn yêu thương gia đình, vẫn cảm thấy xấu hổ, và nhớ về những dự định trước đây. Nhưng gia đình không còn nhìn nhận anh như một con người nữa. Từ góc nhìn của Hall, Gregor bị tái định nghĩa thông qua một hệ thống phân biệt nhị nguyên: người/bọ, hữu ích/vô dụng, bình thường/quái dị. Anh bị đẩy sang phía bên kia của ranh giới biểu tượng và trở thành kẻ bị loại trừ. Sự khác biệt không chỉ là một thuộc tính mà là một cơ chế quyền lực quyết định ai được công nhận như một chủ thể và ai không.

Điều này dẫn đến vấn đề “cái nhìn của người khác” trong triết học hiện sinh. Theo Sartre, sự hiện diện của tha nhân được trải nghiệm thông qua “cái nhìn” (the Look), một cơ chế khiến chủ thể ý thức về bản thân như một đối tượng trong thế giới của người khác. Ông viết: “Tôi bị đặt vào vị thế phải phán xét chính mình như một đối tượng, bởi tôi xuất hiện trước tha nhân với tư cách là một đối tượng” (Jean-Paul Sartre, “The Look”, trong cuốn Being and Nothingness, 1956). Khi bị người khác nhìn, tôi không còn chỉ là chủ thể đang nhận thức thế giới mà đồng thời trở thành một đối tượng bị đánh giá và định nghĩa. Trong Hóa thân, mỗi lần Gregor mở cửa phòng, anh đều đối diện với nguy cơ “bị nhìn” trong hình ảnh con bọ. Cánh cửa vì thế trở thành một biểu tượng giàu ý nghĩa. Khi đóng lại, nó bảo vệ phần nhân tính còn sót lại của Gregor; khi mở ra, anh lập tức bị quy giản thành một đối tượng ghê tởm trong mắt người khác. Gregor cần sự công nhận từ người khác để xác nhận tư cách chủ thể của mình, nhưng chính cái nhìn của người khác lại tước bỏ tư cách ấy. Đây là một nghịch lý hiện sinh không thể giải quyết. Anh không thể sống hoàn toàn biệt lập, nhưng cũng không thể xuất hiện trước tha nhân mà không bị phi nhân hóa.

Nếu Stuart Hall nhấn mạnh đến cơ chế kiến tạo sự khác biệt, thì Homi Bhabha lại đặc biệt quan tâm đến những không gian trung gian nơi các căn tính được thương lượng. Trong The Location of Culture (1994) , ông cho rằng “không gian thứ ba” (third space) là dạng thức không gian dung chứa các căn tính không tồn tại như những thể ổn định mà luôn ở trong tình trạng đàm phán và tái cấu trúc. Gregor lúc này không hoàn toàn là người cũng không hoàn toàn là côn trùng. Anh tồn tại trong một trạng thái lai ghép nơi không gian thứ ba đó: thân xác thuộc về loài vật nhưng ý thức vẫn là con người. Chính sự bất tương hợp giữa ý thức và thân xác tạo nên tính phi lý của tác phẩm. Gregor là một sinh thể nằm giữa các phạm trù, không thể được phân loại dứt khoát. Tuy nhiên, xã hội không chấp nhận những chủ thể ở trạng thái trung gian. Gia đình Gregor liên tục cố gắng đưa anh về một định nghĩa ổn định: hoặc là con người hữu ích như trước đây, hoặc là một con vật cần bị loại bỏ. Không có chỗ cho một tồn tại mơ hồ.

Trong bối cảnh đó, hành động Gregor cố giữ lại bức tranh người phụ nữ trên tường mang ý nghĩa đặc biệt. Đây là một trong số ít khoảnh khắc anh thực sự hành động như một chủ thể tự do. Khi gia đình muốn dọn sạch căn phòng để biến nó thành nơi ở thích hợp cho côn trùng, Gregor phản kháng bằng cách bám chặt lấy bức tranh. Đó không chỉ là hành động giữ một vật sở hữu mà là nỗ lực bảo vệ phần nhân tính còn sót lại của mình. Nếu hiểu theo Bhabha, đây là khoảnh khắc Gregor khẳng định vị thế của một chủ thể lai ghép, từ chối bị quy giản hoàn toàn vào hình ảnh con bọ. Tuy nhiên, sự phản kháng ấy nhanh chóng thất bại vì anh không còn khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ con người. Anh muốn nói nhưng chỉ phát ra những âm thanh của loài vật. Do đó, tự do của Gregor luôn bị giới hạn bởi sự bất lực trong việc được người khác thừa nhận.

Bi kịch lên đến đỉnh điểm ở cái chết của Gregor. Chỉ khi Gregor biến mất, xung đột giữa anh và thế giới mới chấm dứt. Nhưng nếu nhìn từ lý thuyết về cái khác, cái chết ấy còn cho thấy thất bại hoàn toàn của xã hội trong việc tiếp nhận sự khác biệt. Cái chết của anh là kết quả của quá trình bị đẩy ra ngoài cộng đồng, bị biến thành một phi-chủ-thể.

Như vậy, chủ đề tự do trong Hóa thân không thể được hiểu đơn thuần như vấn đề lựa chọn cá nhân. Kafka cho thấy tự do luôn gắn với sự công nhận của tha nhân và với vị thế văn hóa của chủ thể trong cộng đồng. Gregor không tự do khi còn là con người vì bị trói buộc trong các vai trò xã hội và sống trong nguỵ tín. Nhưng khi trở thành “cái khác”, anh cũng không thể tự do vì bị tước bỏ tư cách chủ thể và bị loại khỏi hệ thống ý nghĩa chung. Dưới ánh sáng của hiện sinh luận, đây là nghịch lý giữa tự do và nhân tính; dưới ánh sáng của lý thuyết văn hoá về cái khác, đây là nghịch lý giữa tự do và sự khác biệt. Kafka vì thế đã dự báo một vấn đề trung tâm của thế giới hiện đại: Con người chỉ có thể trở thành chính mình thông qua sự khác biệt, nhưng chính sự khác biệt ấy lại có thể khiến họ bị cộng đồng loại trừ. Gregor Samsa là hình ảnh cực đoan của nghịch lý đó.

5/6/2026

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

Những câu chuyện NHỎ trên bức tường LỚN

 Nguyễn Hồng Anh

Tám năm trước tôi đã có dịp nhìn thấy tận mắt "vấn đề Palestine" tại Israel (và viết thành bài dưới đây). Trong trái tim tôi vẫn còn đọng lại hình ảnh những thanh niên Palestine ngồi không bên vệ đường bụi mù trông theo từng chiếc xe chạy qua để mong được thuê làm một công việc nào đó.

Bên cạnh đó, còn là những nụ cười Palestine của những nhan sắc Trung Đông không đâu có được.

Những con người tôi đã gặp ấy, giờ họ có bình yên không?

Nếu tôi sinh ra ở một đất nước hoà bình, trong thời bình, đó là một ngẫu nhiên may mắn hay là số phận? Và nếu số phận ngẫu nhiên mà họ đang chịu – trong máu và bom và nước mắt – rơi vào tôi, hay bạn, thì ai sẽ, và cần, phải quan tâm?

Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Tranh luận với nhà phê bình Đinh Thanh Huyền về tiểu thuyết “Thuyền”

 Nguyễn Hồng Anh

Tôi (và một số người) có được biết nhà phê bình Đinh Thanh Huyền (sau đây xin gọi là “chị”) có một bài viết về “Thuyền” theo hướng “chê” (nói theo ngôn ngữ bình dân chúng tôi hay nói chuyện với nhau). Khác với những bài “chê” khác, dựa vào sự hiểu biết của tôi về chị, tôi tin đây sẽ là bài phê bình rất đáng đọc, cho tác giả, cho độc giả, cho tôi. Và thật hay là chiều nay chị đã công bố bài viết ấy trên fb cá nhân (https://www.facebook.com/thanh.huyen.409299/posts/2476475129463992). Sau khi đọc xong, tôi nghĩ sẽ viết ngay bài tranh luận với chị, vì những gì chị viết thật sự chạm đến vấn đề tôi đang nghiên cứu: Văn học di dân (VHDD). Do đó, phần tranh luận này, tôi sẽ tuân thủ nguyên tắc: Tranh luận về tác phẩm “Thuyền” ở góc độ thuần tuý thi pháp, không nói gì ngoài tác phẩm (không nói về chính trị, về xuất bản, về tác giả, v.v.), vì tôi muốn hướng đến khẳng định: Tự bản thân tác phẩm đã có đủ giá trị để đứng vững.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

Một tường thuật chi tiết về hội thảo “Văn học di dân: Ý niệm lưu đày và cứu rỗi – cùng những suy tư triết học và thần học”

 Nguyễn Hồng Anh

Dưới đây là bản tường thuật chi tiết trích từ tóm tắt tham luận của chúng tôi. Với hoạt động này, chúng tôi, gồm Học viện Công giáo và nhóm giảng viên/ nghiên cứu viên của các trường đại học và viện nghiên cứu, đã phần nào thực hiện được ước muốn về sự kết nối giữa khoa học - văn học - thần học/ đức tin, theo ý chỉ của Giáo hoàng Phanxico trong Tông thư viết về vai trò của văn chương trong đào tạo (cf. https://tgpsaigon.net/bai-viet/thu-cua-duc-giao-hoang-phanxico-ve-vai-tro-cua-van-chuong-trong-dao-tao-75307).

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2026

“Tôi có còn là tôi không, nếu tôi không nhớ mình là ai?”

(Đọc Hoàng đế xứ Gladness của Ocean Vuong)

Nguyễn Hồng Anh

(Ảnh trên Amazon)

Tôi dành ba ngày để đọc tác phẩm, và một tuần để trăn trở về nó. Tôi cứ định viết, rồi lại thôi, lại ngồi vào máy, gõ vài dòng, và xoá. Vì cảm giác không dễ chịu sau khi đọc xong tác phẩm: Ocean Vuong này có phải là Ocean Vuong mình đã biết qua Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian? – Hình như không. Nhưng để viết về điều đó, sẽ cần một bài dài gấp ba lần bài viết này. Còn với điều tôi viết ở đây, thật ra xuất phát từ một nỗi buồn cá nhân không ăn nhập với câu chuyện kể trong tác phẩm. Nhưng nhờ đeo mang nỗi buồn riêng, mà tôi tìm được cảm hứng viết ra những dòng suy tưởng về Hoàng đế xứ Gladness – một tác phẩm cũng nói rất nhiều về nỗi buồn. Mà nỗi buồn thì dễ đồng cảm và gợi hứng hơn niềm vui. Niềm vui thường cần lý do. Còn nỗi buồn? Có khi nó chỉ tồn tại ở đó.

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Hiện tượng mờ hoá trong tập truyện ngắn "Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình" của Raymond Carver

 Nguyễn Hồng Anh

Raymond Carver là nhà văn Mỹ nổi lên từ thập niên 1970, bước sang những năm 1980, tên tuổi và sức ảnh hưởng của ông đã lan tỏa trên khắp thế giới. Ông được tôn xưng là bậc thầy truyện ngắn của thế kỷ XX và là chủ soái của trường phái cực hạn. Phong cách viết của R. Carver mang dấu ấn đậm nét từ sự kế thừa hai nhà văn lớn thế giới mà ông xem như những bậc tiền bối của mình: Ernest Hemingway và Anton P. Chekhov. R. Carver đã học tập từ Chekhov quan niệm về lối viết: “Trong các truyện ngắn, nói không đủ thì tốt hơn là nói quá nhiều” (dẫn theo [6]), và học tập từ Hemingway cái gọi là “lý thuyết bỏ quên” (theory of omission): “Anh có thể bỏ đi bất kì điều gì nếu anh nhận ra anh đã bỏ quên nó và phần bị bỏ đi sẽ củng cố thêm câu chuyện và khiến người đọc có thể cảm nhận nhiều điều hơn là những gì họ hiểu” (dẫn theo [4]).

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

Trò chuyện với nhà văn Bùi Mai Hạnh về “Người xé mặt nạ”: Viết bằng máu thịt để cứu lấy mình

 Bảo Chân - Hồng Anh thực hiện

Người xé mặt nạ không đơn thuần là một cuốn hồi ký để kể lại cuộc đời tác giả, mà là một hành vi viết để tự cứu bản thân. Trong cuốn sách này, nhà văn Bùi Mai Hạnh kể chuyện bằng một giọng văn tỉnh táo, thẳng thừng, không khoan nhượng với chính mình khi phơi bày những nỗi đau riêng tư của người phụ nữ – không làm dịu, không thẩm mỹ hóa, không xin được thấu cảm. Viết như một hành trình “xé mặt nạ, sống là mình”, Người xé mặt nạ đặt ra những câu hỏi gai góc về quyền được nói, về trách nhiệm cá nhân, về chữa lành, và về cái giá phải trả khi sự thật được gọi đúng tên. Cuộc trò chuyện dưới đây không chỉ xoay quanh một cuốn sách, mà mở ra một đối thoại rộng hơn về viết, về sống, và về sự can đảm đi đến tận cùng nỗi đau để không còn phải câm lặng.

 

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2025

Thực hành diễn giải lịch sử của tác phẩm chiến tranh: So sánh “Nỗi buồn chiến tranh” và “Những thứ họ mang”

 Nguyễn Hồng Anh

Năm 1990, Thân phận của tình yêu (tên gọi ban đầu của Nỗi buồn chiến tranh) xuất bản tại Việt Nam. Cùng năm đó, ở bên kia bán cầu, The Things They Carried ra mắt công chúng Mỹ. Gần như đồng thời, cả hai tác phẩm cùng trở thành hiện tượng lớn trong dòng văn học viết về chiến tranh Việt Nam[1]. Nhanh chóng vượt lên trên các tác phẩm cùng thời và cùng đề tài để trở thành hiện tượng của văn học nước mình, cả hai tác phẩm cùng có điểm chung: đưa câu chuyện đi chệch khỏi dòng chảy truyền thống, tạo nên một hiện thực hoàn toàn mới về cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong các sáng tác văn học trước thập niên 1990 ở Mỹ và Việt Nam, tồn tại cái nghịch lí rất phổ biến: bên là nạn nhân của cuộc chiến (theo nghĩa kẻ bị xâm lược) thì âm hưởng chủ đạo trong văn học dòng chính lại là chủ nghĩa anh hùng, nếu có cái bi thì vẫn được chất tráng nâng đỡ; trong khi bên được cho là thủ phạm gây ra cuộc chiến thì giọng chính của nền văn học nước này lại tự khắc họa mình như là nạn nhân, chịu đựng chấn thương tinh thần không thể hàn gắn. Sự xuất hiện của Nỗi buồn chiến tranh The Things They Carried (tác phẩm dịch ra tiếng Việt với tên gọi Những thứ họ mang) đã mang lại bầu khí quyển khác. Bảo Ninh đã tạo nên một hiện thực tâm lí đầy chấn thương và nỗi buồn, phá vỡ lớp tự sự anh hùng ca thường thấy của bên phía được xem là những người chiến thắng. Trong khi đó, Tim O’Brien tuy vẫn khai thác khía cạnh bi thảm như phần đông các sáng tác của nhà văn Mỹ về chiến tranh Việt Nam, nhưng lại không nhấn mạnh vào tính chất nạn nhân của người lính mà tập trung vào chiêm nghiệm triết học về sự thực của chiến tranh, “về sự khác biệt giữa ‘truth’ và ‘reality’”[2] – tức tạo ra một siêu diễn ngôn (diễn ngôn giải thích diễn ngôn, trong đó chiến tranh được trình bày như một diễn ngôn) về đề tài này.

Thứ Ba, 2 tháng 12, 2025

Ocean Vuong trò chuyện cùng Viet Thanh Nguyen

 Diasporic Vietnamese Artists Network thực hiện, 14/11/2025

Nguyễn Hồng Anh ghi chép và chuyển ngữ

Viet Thanh Nguyen: Có thể bạn không đồng ý với tôi, nhưng tôi thường hình dung phong cách hay “persona” của bạn là tính dễ tổn thương tận gốc rễ [radical vulnerability], hay có thể bị diễn giải là điểm yếu. Nhưng trong thời đại này, khi sự đồng cảm có thể bị tấn công bởi tầng lớp nhất định ở Mỹ hay trên khắp thế giới, thì tính dễ tổn thương tận gốc rễ này có khi cũng là điểm mạnh. Bạn có đồng ý việc người ta nhìn nhận bạn như thế không?

Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2025

Nhân một cuốn sách CŨ vừa được xuất bản với phiên bản MỚI & Ý kiến của chúng tôi

 Nguyễn Hồng Anh

Cảnh chiến tranh ở Việt Nam trong một số tác phẩm Mỹ thường được hình tượng hoá một chiều thành cảnh tượng cưỡng hiếp, trong đó kẻ mạnh hơn mang uy quyền nam giới áp đặt lên kẻ yếu thế là nạn nhân nữ giới đáng thương. Theo tôi, khởi đầu của cách nhìn rập khuôn này là từ những tác phẩm viết vào thời kì đầu của chiến tranh Mỹ-Việt, một trong số đó là Người Mỹ trầm lặng (1955) của Graham Greene.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2025

Những con sâu ngủ trong ký ức (đọc Con rối hát ngoài rừng xa của Khải Đơn)

 Nguyễn Hồng Anh

Lúc cầm tập truyện ngắn Con rối hát ngoài rừng xa trên tay, tôi thoáng chút tò mò, vì đã biết đến tác giả Khải Đơn với tư cách nhà báo, nhà thơ từ lâu, nay chị lại thử sức với thể loại truyện ngắn, lại khai thác ở chủ đề không dễ đọc: môi trường sinh thái và kinh dị huyền ảo. Nhưng từ tò mò, tôi nhanh chóng chuyển sang ngạc nhiên. Ngay từ những trang đầu tiên, văn của Khải Đơn đã kéo tôi vào một thế giới tàn bạo và u uất, nơi không một ai được nguyên lành. Từ chuyện sống đau đớn đến chuyện chết bi thương. Và nơi mép rìa sống-chết ấy là tiếng rên rỉ của những linh hồn bị bỏ lại. Hoá ra môi trường hay kinh dị chỉ là một góc nhìn, một nền cảnh, để từ đó, người đọc có thể chiêm nghiệm nhiều vấn đề xã hội và lịch sử sâu xa. Có lẽ đây là một tiếng nói mà văn học Việt Nam đương đại đang chờ đợi: mạnh mẽ, không khoan nhượng về tư tưởng và mới mẻ, điêu luyện về bút pháp.

Chủ Nhật, 17 tháng 8, 2025

Bài thơ Ngày thường của Ý Nhi và bức tranh về “cộng đồng tưởng tượng” trong văn học Việt Nam hiện đại

 Nguyễn Hồng Anh

Hình tượng cộng đồng (nhỏ thì gia đình, thôn xã, lớn thì quốc gia) trong văn học Việt Nam hiện đại gắn chặt với lịch sử đất nước, đặc biệt từ hai cuộc chiến tranh lớn Việt - Pháp (1945-1954) và Việt - Mỹ (1954-1975) đến giai đoạn hậu chiến. Diễn ngôn về cộng đồng trong văn học, do đó, luôn gắn với cách mạng và dân tộc, biểu đạt cho chân lí, truyền thống, văn hoá. Tuy nhiên, dưới cái nhìn của Benedict Anderson (1936-2015) trong cuốn Những cộng đồng tưởng tượng: Suy nghĩ về nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc, không phải lúc nào “cộng đồng” và “dân tộc” cũng đi cùng với nhau một cách vô vị lợi, đặc biệt trong bối cảnh một nhà nước dân tộc trải qua các cuộc chiến tranh, cách mạng và hậu chiến. Công trình nghiên cứu của Anderson dẫn chúng tôi tới khái niệm “chủ nghĩa dân tộc nhà nước” (official nationalism), một mô hình theo kiểu “cộng đồng tưởng tượng” (imagined community), gợi ý cho chúng tôi lí giải về hình tượng cộng đồng chi phối trong văn học Việt Nam thuộc dòng chính một thời[1].

Thứ Tư, 23 tháng 7, 2025

Thông báo vinh danh Viet Thanh Nguyen năm 2025

 Nguyễn Hồng Anh

(Ảnh: Instagram kenyonreview)

Chúng tôi rất vinh dự thông báo rằng Giải thưởng Thành tựu Văn học Kenyon Review năm 2025 sẽ được trao cho Viet Thanh Nguyen. Giải thưởng nhằm tôn vinh sự nghiệp văn chương xuất sắc, ghi nhận các cá nhân có ảnh hưởng và vai trò quan trọng trong việc định hình diện mạo văn học Hoa Kỳ.