Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Phượng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Phượng. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Tiếp xúc và giải mã thơ đương đại – trường hợp bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca của Thanh Thảo

 Nguyễn Phượng

  1.  

Bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca của Thanh Thảo được viết theo phong cách thơ tượng trưng có pha màu sắc siêu thực, do đó, trước khi tiếp cận bài thơ, thiết tưởng chúng ta cũng nên nắm vài nét khái lược về thơ hiện đại nói chung và thơ viết theo phong cách tượng trưng, siêu thực nói riêng.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Tiếp xúc và giải mã thơ đương đại như thế nào? Trường hợp Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Phượng

Nguyễn Đình Thi là một khuôn mặt quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện/đương đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền lịch sử văn học đất nước, từ những cuộc tranh đấu giành chủ quyền, đến hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Nguyễn Đình Thi hiển nhiên được coi là một nghệ sĩ tài hoa và tài năng qua nhiều bộ môn sáng tác: nhạc, thơ, tùy bút, bút ký, lý luận, truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch. Ðồng thời ông cũng đảm nhiệm nhiều trọng trách văn nghệ: Ủy viên chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948, Tổng Thư ký Hội Văn Nghệ từ 1956 rồi Hội Nhà văn hơn ba mươi năm (1958-1989), làm Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp các hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam.

Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh niên Cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa Cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc dân Ðại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I.

Nguyễn Đình Thi là Thủ khoa thi Tú tài toàn Đông dương năm 1941.

Từ 1942, khi còn rất trẻ ông đã viết hàng loạt sách triết học. Có thể liệt kê: Triết học nhập môn, Siêu hình học, Triết học Aristote, Descartes, Kant, Nietzsche, Darwin, Einstein ...

Đó có thể là lý do, trong tư duy thơ Nguyễn Đình Thi có những “nề nếp và nền nét riêng” khiến ông như tách hẳn thành tiểu phái và độc hành.

Thời kỳ sau độc lập và đầu kháng chiến ông sáng tác nhạc, nổi tiếng nhất là bài Diệt Phát xít, Người Hà Nội, về mặt trận Hà Nội đầu 1947. Thời chống Pháp, ông tham dự hầu hết các chiến dịch lớn, Tây Bắc 1948, Biên giới 1949, Trung du 1951, Hòa Bình 1952. Ở mặt trận Ðiện Biên 1954, ông làm chính trị viên phó Tiểu đoàn, đánh lên đồi A1, sau đó làm công tác tù binh.

Có thể thấy cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Đình Thi cháy sáng trên nhiều lĩnh vực và thể loại sáng tác. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Nguyễn Đình Thi vẫn là thơ với vai trò người đi tiên phong cho một loại hình thơ hiện đại thoát khỏi từ trường của thơ mới mà ngày nay nhiều người đã định danh là thơ tự do không vần.

I. Bối cảnh xuất hiện thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi

Dù thế nào, cách mạng tháng 8/1945 trên thực tế đã chấm dứt phong trào Thơ Mới và tạo điều kiện cho một cách tân trong thi ca.

Một phong trào cách tân trong thi ca đương nhiên cần một sự thay đổi lớn từ gốc rễ về thời đại, xã hội và môi trường nghệ thuật cùng sự tiếp sức của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.

Nguyễn Đình Thi dù khoảng cách tuổi tác không lớn với các thi sĩ thơ Mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… nhưng dường như ông không dính líu gì với cuộc cách mạng trong thi ca trước 1945 có tên thơ Mới và ông cùng với thế hệ mình có đủ những điều thuận lợi cũng như thử thách để tiến hành một cuộc chạy tiếp sức trong thi ca Việt Nam khởi hành từ thơ Mới.

Chính Nguyễn Đình Thi cũng đã nói lên điều đó: “Nhịp sống chúng ta, từ sau cách mạng, đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ra ào ạt. Chúng ta không còn sống khoan thai như một thời nào trước. Nhịp điệu cũ, theo tôi, không còn đủ cho thơ của chúng ta. Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhưng lúc nào cũng là một sức đang lên như thổi”.

Thực tế kháng chiến, những cảm hứng của một thời đại mới, tư thế phát ngôn nghệ thuật mới đã khiến Nguyễn Đình Thi nỗ lực viết mới và viết khác.

Sự xuất hiện của những bài thơ không vần như Không nói, Sáng mát trong như sáng năm xưa, Đường núi, Đêm mít-tinh…của Nguyễn Đình Thi, bên cạnh Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Ðèo Cả của Hữu Loan, Ngoại ô Mùa đông 46 của Văn Cao… có thể xem như một dấu hiệu khá đặc biệt của một sự lên đường mới của thơ Việt.

Tuy nhiên, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi cũng gần như ngay lập tức bị cản trở được đánh dấu bằng Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (từ 25 đến 28 tháng 9 năm 1949) trong đó có cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi, với sự lên tiếng khá sôi nổi và gay gắt của nhiều tên tuổi lớn của phong trào thơ Mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, cùng đương kim lãnh đạo văn nghệ kháng chiến: Tố Hữu. Tư liệu về cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi hiện còn lại là bài tường thuật đăng trên tạp chí Văn nghệ số kép 17-18, cũng gọi là số tranh luận (tháng 11&12/1949). Một buổi chiều tranh luận (thời gian dành cho tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi: chiều 28/9/1949) được đăng tải trên 14 trang tạp chí (khoảng 5 ngàn chữ) cho thấy tường thuật khá kỹ lưỡng.

II. Những đề xuất mỹ học và thi pháp mới qua thơ tự do không vần

Trước khi nói về những đóng góp về mỹ học và thi pháp của thơ tự do không vần xin nói vắn tắt những điểm quan trọng về mỹ học và thi pháp của thơ luật vần. Như đã biết, các yếu tố cơ bản tác động sâu sắc vào thể loại cụ thể với thơ bao gồm: một là cái Tôi, hai là cấu trúc, ba là thi ảnh, bốn là nhịp điệu, nhạc điệu và cú pháp và năm là ngôn ngữ. Theo đó, trong thơ truyền thống và thơ theo luật Đường thi cái Tôi thường bị phi ngã hóa, nó tuân thủ luật ”thuật nhi bất tác” hạn chế sáng tạo cá nhân do đó, thơ truyền thống ít để lại các dấu ấn cá tính. Cũng vậy, cấu trúc thơ truyền thống đặc biệt là thơ luật Đường do sự khống chế của luật thơ nghiêm ngặt thường theo mô hình song hành, đối ngẫu. Các yếu tố còn lại như thi ảnh thường mang tính ước lệ, tượng trưng, nhịp điệu thường cổ kính, mang tính ấn định, ngôn ngữ thường trang nhã, hoa lệ.

Với các đặc điểm trên, thơ truyền thống, thơ theo luật Đường và kể cả thơ Mới giai đoạn đầu thường mang tính khả đoán, khiến nó tự hạn chế thi tính của chính nó. Chẳng phải ngẫu nhiên, Lê Đạt lại nhận xét: “Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường đến đúng hẹn, trong một bài thơ hiện đại nghĩa thường đến trễ giờ”.

Như đã nói, thơ có vần khi bước vào nhịp sống hiện đại mà cụ thể ở đây là đời sống kháng chiến ở Việt Bắc bộc lộ những hạn chế của nó. Chính Nguyễn Đình Thi trong khi bị phê phán vì làm thơ tự do không vần đã nhận xét rất chính xác về thơ truyền thống theo luật vần.

Ông nói:

Có vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhưng không phải hết vần là hết thơ… Những bài thơ cũ, cùng một nhịp đều đều, tôi không chịu được”.

Đây là lý do chính khiến Nguyễn Đình Thi quyết định viết thơ theo cách thức mới.

II.1 Cái Tôi (le moi) trong thơ tự do không vần

Một hình thức thơ mới trước hết cần có một cái Tôi mới.

Cuộc kháng chiến gian khổ, cam go không ngăn cản thế hệ Nguyễn Đình Thi đề xuất một thế cách nhìn cuộc đời không theo những kinh nghiệm cũ. Với tinh thần phóng túng của những người sở hữu tự do, các nhà thơ sau 1945 muốn giải thể các lối viết trước đó bằng việc tạo ra những hình ảnh độc đáo, đôi khi khá xa lạ với hiện thực, sắp đặt những thực thể dường như không có bất cứ một mối liên hệ nào cạnh nhau tạo nên tính phi lí cao độ gây ngạc nhiên đối với công chúng. Tuy vậy, nếu đọc một cách chủ động và cởi mở cũng như suy ngẫm kĩ người ta sẽ thấy tính phi lí lui dần, nhường chỗ cho những gì có thể chấp nhận được. Và thực ra, những hành động sáng tạo có vẻ “ngược đời” ấy, suy cho cùng lại chứa đựng một nỗ lực đáng trọng bởi họ muốn phản ánh thực tại ở chiều sâu. Nghệ thuật mới chứa đựng niềm mong mỏi của con người hiện đại, khao khát được thâm nhập sâu vào nội giới của vật thể, do đó, nó tích cực khai thác các tiềm năng của vật liệu nhằm đề xuất một hướng tiếp cận mới, hữu hiệu hơn. Nhờ chủ trương này, chủ nghĩa siêu thực đã thúc đẩy những tiến bộ khá đáng kể trong văn học nói chung và cho thơ nói riêng.

Riêng đối với thơ, có thể thấy, thơ hiện đại dòng tự do không vần tạo nên sự khác biệt với thơ cổ điển và lãng mạn ở việc thể hiện vai trò của "cái tôi". Trong quan niệm thông thường, cái tôi (le moi) vẫn được coi như là yếu tố trung tâm, khơi nguồn sáng tạo. Nhưng đối với các nhà thơ tự do không vần, vị trí của "cái tôi" đã không còn như trước nữa: nó đã mất địa vị độc tôn, bị lu mờ và bội phân, thậm chí lũy thừa để trở thành cái tôi đa ngã (le moi multiple). Không dừng lại ở đó, kẻ sáng tạo trong thơ tự do không vần còn muốn đi xa hơn, coi cứu cánh của động tác thi ca nằm ở sự biểu lộ, phát giác cái tôi chưa biết (le moi inconnu).

Tóm lại, thi ca hiện đại, đặt lại vấn đề cái tôi, xây dựng một cái tôi mới với cấu trúc đa bội như có người đã gọi bằng thuật ngữ đa ngã (le moi multiple) và cả nỗ lực tìm kiếm và khám phá một cái tôi chưa biết (le moi inconnu) với khát vọng tạo lập mối quan hệ tương giao giữa con người nhất thời với con người muôn thuở nhằm kiếm tìm những kinh nghiệm mới trong quan sát và cảm nhận để diễn đạt những điều không thể hay rất khó diễn đạt của thế giới hiện đại.

Ở trường hợp Nguyễn Đình Thi, đó là cái tôi dấn thân phát huy năng lực trải nghiệm trực tiếp, mở rộng năng lực cảm giác để hướng tới diễn đạt một thời đại mới như nó là.

II.2 Cấu trúc thơ tự do không vần

Về cấu trúc, theo nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu, thơ tự do không vần rời bỏ hình thức thẳng (forme linéaire) chuyển sang hình thức nổi (typographique), hay hình thức âm thanh, đi vào cấu trúc không gian, không vần (non vers), đảo lộn ngữ pháp cổ điển: cắt chữ, phân câu theo một trật tự mới, sáng lập ra ngôn ngữ cách tân, dựa trên ngữ căn học. Phong cách này bắt nguồn từ quan niệm thẩm mỹ và triết lý gián đoạn, đối lập với quan niệm thẩm mỹ đối ngẫu, song song hay tuyến tính, liên tục hiện diện trong thơ truyền thống và cả thơ Mới trước đó.

Với Nguyễn Đình Thi ông nói giản dị:

"Tôi mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đạt tới độ cảm xúc mãnh liệt, nếu cần nói hơi dài, dùng những câu dài. Nếu hơi ngắn, nói ngắn. Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi tưởng nó cần phải khoẻ, gần gụi, xù xì, chất phác, chung đúc tự nhiên”.

Đây chính là quan niệm niệm sáng tạo gần với bản chất đích thực của thơ. Nó là một mong mỏi mỗi hành ngôn thơ thật sát với một hành ngôn đời thường nhưng phải mang trong nó một cảm xúc thật mãnh liệt.

Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm

Ngây ngất sương mây

Lối mòn không dấu chân

Gió nổi

Ta nghe ta hát một mình

Ôi cánh đồng

Chiều nay rung rinh lúa ngả

Giải lụa đào bay múa

Tiếng hát ai lênh đênh

Bờ tre xôn xao ánh lửa

Bếp hồng trang giấy trắng khuya

Mịt mùng súng vẳng

Một mảnh trăng

dốc ngả chập chùng

Bước chân bóng động nghiêng bờ núi

II.3 Thi ảnh thơ tự do không vần

Trong tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi quan niệm:

Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nẩy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hay trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hằng ngày, tâm hồn tự nẩy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa tóe lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng”.

Quan niệm đó được ông thể hiện đầy đủ và đặc sắc trong thơ viết giai đoạn đầu kháng chiến.

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

(Sáng mát trong như sáng năm xưa)

Hà Nội nát người trong gai sắt

Máu chảy hồng tươi bất khuất

(Hà Nội đêm nay)

Ôi nắng dội chan hòa

nao nao trời biếc

Nắng nhuộm hương đồng ruộng, hương rừng chiến khu

Tháp rùa lim dim nhìn nắng

(Sáng mát trong như sáng năm xưa)

Chính Nguyễn Đình Thi nói rõ: “Những hình ảnh tươi nguyên mà nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng. Vì nhà thơ nhìn bằng con mắt của người đầu tiên. Đó là những hình ảnh mới tinh, chưa có vết nhòa của thói quen, không bị dập khuôn vào những ý niệm trừu tượng định trước. Mượn câu nói của một nhà văn Pháp, nhà thơ bao giờ cũng là ngôi thứ nhất. Nhưng những hình ảnh mới lạ ấy đều ở trong đời thực, chúng ta đều thấy, hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta tự bao giờ. Câu thơ đột ngột làm cho ta nhận thấy những cái gần gụi nhất với chúng ta. Trước kia, ta vẫn gặp mà không biết nhìn”.

Đúng vậy.

II.4 Nhịp điệu thơ tự do không vần

Ezra Pound cho rằng nhịp điệu cần nương theo chuỗi nhạc tiết (sequence of the musical phrase), không phải những âm tiết, thể hiện cảm xúc và trí tuệ phức tạp trong khoảnh khắc[1], tuy nhiên, T.E. Hulme lại khẳng định thơ gần với điêu khắc hơn âm nhạc, thị giác hơn thính giác, tức không cho âm thanh là yếu tố căn bản của thơ[2].

Những trao đổi trên trong thơ phương Tây diễn ra khoảng giữa thế kỷ XX và, trong hoàn cảnh kháng chiến, chắc khó mà đến được với Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên, những nỗ lực cách tân thơ của ông thì rất gần với những nỗ lực trong thơ phương Tây thế kỷ XX.

Đỗ Lai Thúy khi nói về nhịp điệu trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng nhấn mạnh một đóng góp mới mẻ của riêng ông: nhịp điệu của hình ảnh. Nhịp điệu của hình ảnh, theo Nguyễn Đình Thi, không phải là nhịp điệu sinh học (hơi thở ngắn dài), cũng không phải là vần điệu (lên bổng xuống trầm), cũng không phải là nhịp điệu cú pháp, mà là thứ nhịp điệu chỉ nghe được bằng mắt. “Đó là nhịp điệu hình ảnh của những cảm xúc, hình ảnh, liên tiếp hòa hợp, mà những tiếng và chữ gọi ra những ngân vang dài, ngay giữa khoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động”.

Hãy đọc:

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

Ôi nắng dội chan hoà

Nao nao trời biếc

Gió đượm hương đồng rộng

Hương rừng chiến khu

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng

Những cánh chim non

Trông vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người

Hung hăng một buổi

Tháng Tám về rồi đây

Hôm nay nghìn năm gió thổi

Trời muôn xưa

Đàn con hè phố

Môi hớn hở

Ngày hẹn đến rồi

Các anh ngậm cười bãi núi ven sông

Hà Nội

Ơi núi rừng.

Cũng có thể nói, về phương diện nhịp điệu, thơ tự do không vần chủ trương tạo nhịp điệu mới với lý do nhằm diễn đạt trạng thái mới của thời đại. Dĩ nhiên nó từ chối sao chép lại nhịp điệu cũ vì cho rằng đó chỉ là lặp lại những âm vang của trạng thái cũ và, nhịp điệu mới còn có nghĩa là chuyên chở được những ý tưởng mới.

II.5 Ngôn ngữ thơ tự do không vần

Trong thơ tự do không vần, ngôn ngữ được nới lỏng do các nguyên tắc vần cuối dòng bị phá bỏ, các nguyên tắc tạo nhịp và nhấn theo luật dường như cũng bị giải thể. Thơ viết theo điệu ngâm truyền thống cũng từ đó mà nhường chỗ cho thơ điệu nói.

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi quả thật rất giản dị, ngôn từ được cất lên tự nhiên và hồn nhiên. Có thể thấy ông dường như chỉ dùng những từ thuần Việt. Hành ngôn thơ của Nguyễn Đình Thi gần một hành ngôn đời thường. Về đặc điểm này, Đỗ Lai Thúy đã nhận xét chính xác: “Tính chất trực tiếp này do nhà thơ hoàn toàn dựa vào thực tại, không tìm kiếm thi liệu ở sách vở. Nó ứ đầy chất sống, nó là sự sống, là cuộc đời”.

III. Những ảnh hưởng của thơ tự do không vần với các thế hệ tiếp nối

Cũng chính ở đặc điểm đã nói ở II.5, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi dễ lan tỏa và tạo sức ảnh hưởng lớn đối với các văn nghệ sỹ miền núi trong các thế hệ tiếp nối do chỗ, các thế hệ văn nghệ sỹ ở các miền đất này trong quá trình sáng tạo của mình không có xu hướng xích gần tới các khuynh hướng nặng tính hàn lâm, kinh điển hoặc sính các mã nghệ thuật thời thượng và tân kỳ.

Có thể thấy điều đó qua một số gương mặt thơ xuất hiện từ sau 1975 ở Tuyên Quang qua các hình thức lập tứ phóng khoáng, tìm kiếm những hình ảnh chân mộc, nỗ lực kiến tạo những hành ngôn thơ gần với những hành ngôn ngày thường rời xa những ràng buộc về vần, luật.

Chẳng hạn với Gia Dũng:

Đêm nay ta đi, Trường Sơn lộng gió

Trời vắng trăng sao nhưng trong tim rực lửa

– Đi ta làm ngọn sóng giữa trùng dương

Quật xuống đầu thù bằng sức mạnh Trường Sơn!

Ở Mai Liễu với Ta mãi còn đi, còn đến Tân Trào:

Tôi muốn hôn lên tảng đá cạnh lều

Từ vô tri đã hoá thành huyền thoại

Ngấm vào thớ đá, chân rêu:

Đây chỗ Bác ngồi viết lời kêu gọi

Toàn dân đứng dậy cướp chính quyền.

Nơi Bác đọc công văn và tiếp các nhà cách mạng

Nơi nhận nắm xôi, gói thuốc của đồng bào

Nơi Người tựa lưng khi vừa lui cơn sốt

Cây rừng tròn bóng ô xanh…

Ở Nguyễn Đức Hạnh với Bài ca xứ sở:

Không phải nắng cuối mùa sao đã nhạt

Tuyên Quang lặng lẽ một miền đồi

Em mười tám tóc buông ngày trễ nải

Ta về thanh thản chút buồn riêng…

Ở Tạ Bá Hương:

Tôi như hạt thóc mẹ gieo ngoài đồng

Cứ hồn nhiên cứ âm thầm

Tự thân tách vỏ đội mầm lớn lên.

Và khá đặc biệt ở Đoàn Thị Ký

Một nền trời

Độ bút

Một trái tim

Trái tim đập ngoài chuẩn mức

[…]

Cung hồng thắm

Nảy nòi

Trả trắng

Một ngày chơi.

(Độ giấy)

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Đặng Tiến: Nguyễn Đình Thi và tiếng chim từ quy. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003.

2. Đỗ Lai Thúy: Nguyễn Đình Thi – cánh én bay qua mùa xuân. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003.

3. Hoài Anh: Nguyễn Đình Thi – Vai trò nhà văn tiên phong trong văn học cách mạng. 2010. https://trieuxuan.vn/nguyen-dinh-thi-nha-van-di-tien-phong-trong-van-hoc-cach-mang

4. Hulme, T. E. A Lecture on Modern Poetry, 1908. In lại trong Michael Roberts: T. E. Hulme. London: Faber and Faber, 1938.

5. Lê Đạt: Thơ Lê Đạt (1929 - 2008). https://tienphong.vn/tho-le-dat-1929-2008-post120815.tpo

6. Pound, Ezra. A Retrospect. Trong Pavannes and Divisions. New York : Knopf, 1918. In lại trong Literary Essays of Ezra Pound, T. S. Eliot ed., New Directions Publishing, 1968.

7. Nguyễn Đình Thi: My ý nghĩ v thơ. Viết từ năm 1949, đăng lại trên Tạp chí Tác Phẩm Mới, số đặc biệt về thơ, số 3-1992.

PHỤ LỤC:

Các bài thơ không vần của Nguyễn Đình Thi viết ở Việt Bắc thời kỳ đầu kháng chiến

Không nói

Dừng chân trong mưa bay

Ướt đầm mái tóc

Em em nhìn đi đâu

Môi em đôi mắt

Còn ốm đây (*)

Nhìn em nữa

Phút giây

Chiều mờ gió hút

Bắt tay

Đồng chí

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy

Sáng mát trong như sáng năm xưa…

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

Ôi nắng dội chan hoà

Nao nao trời biếc

Gió đượm hương đồng rộng

Hương rừng chiến khu

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng

Những cánh chim non

Trông vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người

Hung hăng một buổi

Tháng Tám về rồi đây

Hôm nay nghìn năm gió thổi

Trời muôn xưa

Đàn con hè phố

Môi hớn hở

Ngày hẹn đến rồi

Các anh ngậm cười bãi núi ven sông

Hà Nội

Ơi núi rừng

Đường núi

Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm

Ngây ngất sương mây

Lối mòn không dấu chân

Gió nổi

Ta nghe ta hát một mình

Ôi cánh đồng

Chiều nay rung rinh lúa ngả

Giải lụa đào bay múa

Tiếng hát ai lênh đênh

Bờ tre xôn xao ánh lửa

Bếp hồng trang giấy trắng khuya

Mịt mùng súng vẳng

Một mảnh trăng

dốc ngả chập chùng

Bước chân bóng động nghiêng bờ núi

Đêm mít-tinh

Muôn ngàn đêm hẹn nhau họp đêm nay

Yên lặng nép ngồi

Tia vàng vút bay

Tung lên hoa lửa

Lên lên mãi

Một vầng sao ngời muôn vầng sao

Bụi ngọc ngập trời

Rơi rơi trên đầu trên cổ

Trên ngón tay

Triệu triệu sao

Rừng Việt Bắc

Trời sao đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những xóm đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

Ngàn sao phơi phới đang bay

Dạt dào mắt không thấy nữa

Dưới kia Hà Nội nhìn lên

Phố phường nín thở

Những lề đường mòn cũ

Lành lạnh mưa phùn

Hà Nội

Một mình buồn xé ruột

Ngày ngày thức dậy

Quay mặt đi đâu ngày hôm nay

Gió mùa đông trong lá chưa đi

Còn đến bao giờ bao giờ

Đêm nay trời sao trắng bạch

Cháy trùm đất nước

Đêm loè sáng

Đi lên đi lên

Ta lớn ta khoẻ

Súng ta rợp đồng

Ngàn sao chào múa

Trời nắng bỏng

Bao nhiêu tường chói loá

Những lùm cây cháy cả lên

Rừng Phan Lương dữ dội reo hò

Đỏ đỏ trôi đường phố

Hà Nội phố hè ngực đập thình thình

Tiếng hát reo cười cuốn trào nước mắt

Sao ơi núi rừng ơi nức nở.


[1] "As regarding rhythm: to compose in the sequence of the musical phrase, not in sequence of a metronome." (Về nhịp điệu: hãy sáng tác theo chuỗi nhạc tiết, chứ không phải theo chuỗi âm của một máy gõ nhịp.). Literary Essays of Ezra Pound, tr. 5.

[2] “This new verse resembles sculpture rather than music; it appeals to the eye rather than to the ear. It has to mould images, a kind of spiritual clay, into definite shapes.” (Câu thơ mới này giống như tác phẩm điêu khắc hơn là âm nhạc; nó hướng đến thị giác hơn là thính giác. Nó phải nhào nặn những hình ảnh, một loại đất sét tinh thần, thành những hình dạng nhất định.). In lại trong A Lecture on Modern Poetry, tr. 269-270.

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2025

Tiểu thuyết 'Tắt đèn' bị… thu hồi

 Nguyễn Phượng

Cuốn Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh đã có ĐƠN KIẾN NGHỊ thu hồi của một người rất yêu sự thật và công lý gửi các cơ quan chức năng.

Đọc ĐƠN KIẾN NGHỊ... tôi rất lo lắng cho số phận của cuốn sách và đặc biệt là với nhà văn Bảo Ninh.

Chuyến này anh lôi thôi to rồi. Viết văn mà để dính tới pháp luật là không phải chuyện đùa đâu...

Sự việc nghiêm trọng hôm nay làm tôi nhớ lại chuyện nhà văn Ngô Tất Tố sau khi xuất bản cuốn Tắt đèn, à mà cả chuyện nhà văn Lỗ Tấn viết A.Q chính truyện bên Trung Quốc nữa cách đây gần một thế kỷ.

Chuyện Lỗ Tấn lôi thôi với cuốn A.Q chính truyện để kể sau. Hôm nay xin hầu mọi người chuyện Ngô Tất Tố suýt lôi thôi vì viết cuốn Tắt đèn nổi tiếng.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2025

SỰ SÁM HỐI với LINH MỤC và VỚI CÔNG CHÚNG...

 Nguyễn Phượng

Bài này viết cách đây đã gần chục năm khi cuốn hồi ký của Thương Tín phát hành gây ồn ào những dư luận trái chiều.

Nay nghe tin anh vừa qua đời, là người từng xem và yêu thích nhiều bộ phim mà anh là diễn viên chính, bèn post lên tạm coi như một lời vĩnh biệt.

                                                                                                                                  N. P

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2025

Nhớ Bắc Yên và vài mẩu chuyện về nguyên mẫu truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài

 Nguyễn Phượng

"Viết văn là một quá trình tự đấu tranh để nói ra SỰ THẬT cho dù sự thật đó có thể đập vỡ thần tượng trong lòng người đọc" – Tô Hoài. Tuy nhiên, nói như Cao Hành Kiện, không có gì lột tả sự thật sâu sắc bằng sự hư cấu.

Nhưng mà người nước mình đọc văn chương, xem phim ảnh lạ lắm. Cứ soi mói theo kiểu duy thực một cách thô thiển rồi sừng sộ với tác giả.

Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài đều từng bị sừng sộ cả.

Thứ Sáu, 11 tháng 7, 2025

Bản chất của người

 Nguyễn Phượng

Thực sự thì mình vẫn cứ băn khoăn về nhan đề đó của cuốn tiểu thuyết.

Trong nguyên bản tiếng Hàn, Han Kang đặt nhan đề cho cuốn sách của mình là 소년이 온다 [sonyeon-i onda] - CẬU BÉ ĐANG ĐẾN, Déborah Smith chuyển ngữ sang tiếng Anh là Human Acts có thể dịch là HÀNH VI CỦA NGƯỜI, dịch giả Việt Nam đẩy đi xa hơn, dịch là BẢN CHẤT CỦA NGƯỜI. Nếu dịch ngược trở lại tiếng Hàn thì nhan đề cuốn tiểu thuyết của Han Kang sẽ là 인간성 [inganseong] chứ không phải là 소년이 온다 [sonyeon-i onda]. Nhờ người môi giới viết thư hỏi Han Kang, cô nghĩ thế nào về cách đặt nhan đề đó trong tiếng Việt, cô ấy cười bảo ôi em không tự tin đến thế đâu!

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2024

Tranh của Mai Duy Minh

Nguyễn Phượng

image

Mai Duy Minh

 

Sắp đến ngày kỉ niệm chiến thắng Điện Biên lác đác đã thấy trên mạng người ta lại mang tranh người chiến sĩ phất cờ chiến thắng trên nóc hầm De Castries của Mai Duy Minh ra bình phẩm và sỉ vả anh.

Hôm qua vô tình đọc được những lời thóa mạ họa sĩ, bất ngờ hơn là cường độ thóa mạ còn mạnh hơn mấy năm trước.

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2023

Vì sao ‘Bắt nạt’ và Nguyễn Thế Hoàng Linh?*

Nguyễn Phượng

Tôi nhớ năm 1995 trên các phương tiện truyền thông Pháp đã nẩy ra cuộc tranh cãi dữ dội về cuốn tiểu thuyết vừa xuất bản của Céline.

Năm 1996, cuốn tiểu thuyết đó được đưa vào sgk.

Vì sao những người biên soạn sách giáo khoa (sgk) Pháp làm điều đó?

Điều họ muốn không phải là những lời ca tụng véo von từ phía các cô cậu học trò. Điều họ muốn là các cô cậu ấy bộc lộ chính kiến và khả năng tranh biện cho những chân lý từ xác tín cá nhân các cô, các cậu ấy.

Thứ Năm, 24 tháng 8, 2023

Phải khác – cốt lõi sáng tạo của Lê Huy Quang

Bùi Văn Kha

Nguyễn Phượng: Nhà thơ Lê Huy Quang vừa qua đời. Ông là một trong số không nhiều nhà thơ thầm lặng và tích cực cách tân thơ đương đại Việt Nam. Tôi cất trong máy tính bài viết này đã lâu. Nay xin phép tác giả post lên như mượn một nén hương để tưởng niệm.

369652414_2264548710410913_4846158866507242021_n

Nhà thơ Lê Huy Quang

Tôi đọc “Phải Khác” trong một chiều có mưa. Phân vân. Đa lẽ. Say mà không buồn, nhưng dịu dàng lãng mạn. Đó là anh Lê Huy Quang.

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2023

Pleiku & Kontum cùng điều đó đã đến...

Gửi bạn bè tôi trên đó...

Nguyễn Phượng

*

PLEIKU ĐANG ĐI TỚI HIỆN ĐẠI

Xuống máy bay mấy phút đã có hai cô giáo xinh đẹp, thông minh trường chuyên Hùng Vương tự lái xe ra đón. Thay vì chạy về khách sạn các cô quay ô tô theo hướng ngược lại, nhằm biên giới Campuchia thẳng tiến. Bảo là "Món này từ Hàn Quốc về, được giá đây". Rồi Phạm Tâm lại bảo "Tiếc thầy vô không trúng mùa dã quỳ nhưng thôi, ngắm cảnh khác cũng được". Pleiku giờ đây không còn đại ngàn tất nhiên chỉ còn là vương quốc của chè, hồ tiêu và café. Trước kia ngày mình đến vào những năm 1980 vậy và giờ vẫn vậy nhưng diện tích đã hẹp đi khá nhiều. Ấn tượng nhất là những gốc chè lớn bằng người ôm, café thì bạt ngàn. Lớ ngớ như mình lạc vào vườn café chắc thôi tìm đường về. Sau khi ngắm chè và café thì đến "đường Hàn Quốc" ngắm hai dãy thông với tuổi đời hơn trăm năm. Quả thật là nó rất đẹp tựa như hai hàng cây ngân hạnh nổi tiếng trên đảo Namiseom từng là cảnh nền cho bộ phim "Bản tình ca mùa đông". Trước đây, đi đâu thường vào mạng hỏi GS Google trước về nơi sẽ đến, để ít nhất có chút khái niệm. Lần này không vì mười mấy năm trước từng đến rồi và ngoài ra lần này cũng muốn có chút ấn tượng lạ.

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2023

Cách nhìn mới về con người của Nguyễn Minh Châu qua truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa

Nguyễn Phượng

Sáng tác của Nguyễn Minh Châu chặng sau 1975 nhiều tìm tòi, cách tân do đó đặc sắc nhưng không dễ hiểu.

Hiện vẫn tồn tại nhiều cách đánh giá và diễn giải khác nhau về hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa của ông trong đó có "Chiếc thuyền ngoài xa".

Có thể là hình ảnh về 1 người

Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Paul Valéry khi nghe người ta phê bình thơ mình đã phải ngạc nhiên thốt lên: “Thật chính tôi cũng không ngờ đã viết ra những cái hay như các ông vừa nói”.

Nguyễn Minh Châu trong chặng sáng tác từ sau 1975 cho tới khi qua đời 1989 đã không có được diễm phúc đó.

Cái nhãn hiệu “người mở đường tinh anh và tài năng của cao trào văn học đổi mới” là được Nguyên Ngọc vinh danh một cách xác đáng và được nhiều người thừa nhận là sau này.

Còn cho tới 1985, trừ một số ít người hoan hỉ với những tìm tòi mới mẻ của Nguyễn Minh Châu trong truyện ngắn, phần lớn các nhà nghiên cứu, phê bình đã tỏ ra băn khoăn, nghi ngờ thậm chí lo ngại cho hướng đi mới của ông.

Cuộc trao đổi “Về một số sáng tác của Nguyễn Minh Châu gần đây” (1985) minh chứng cho thái độ đó.

Riêng truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” cho mãi tới gần đây (2015) vẫn còn có người buông lời chê bai thậm tệ.

Tưởng đã sóng yên bể lặng, nào ngờ, lập thu 2019, làn sóng xét lại truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” lại nổi lên một lần nữa trên không gian mạng.

Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa”, tất nhiên, là một trong số những tác phẩm không dễ hiểu.

Đấu trường tranh cãi, như thường lệ, vẫn là khởi đầu và không thể kết thúc bởi tính cá biệt và sự khó hiểu từ các nhân vật của Nguyễn Minh Châu.

***

Nhân vật nào cũng sẽ trở nên khó hiểu và trở thành méo mó khi ta đọc nó bằng thái độ phán xét, đặc biệt là phán xét đạo đức.

Milan Kundera từng nói:

“Treo phán xét đạo đức lại không phải là sự vô đạo đức của tiểu thuyết, đấy chính là đạo đức của tiểu thuyết. Cái đạo đức chống lại thói quen bất trị của con người cứ muốn phán xét tức thì, lúc nào cũng phán xét, phán xét mọi người, phán xét trước và chẳng cần hiểu. Cái lối hăm hăm sùng đạo phán xét đó, trong cái nhìn hiền minh của tiểu thuyết, là sự ngu xuẩn đáng ghét nhất, cái ác độc hại nhất. Không phải nhà tiểu thuyết tuyệt đối phủ nhận tính hợp pháp của sự phán xét đạo đức, nhưng anh ta đưa nó ra bên ngoài tiểu thuyết”.

Và M. Kundera nói thêm:

“Việc sáng tạo ra trường tưởng tượng nơi sự phán xét được treo lại là một chiến công có tầm quan trọng mênh mông: chỉ ở đấy mới có thể bừng nở các nhân vật tiểu thuyết, tức là những cá thể được hình thành không phải tùy thuộc những chân lý có trước, như là những hình mẫu của cái thiện hay cái ác, hay như những đại diện của các quy luật khách quan chạm trán với nhau, mà như những sinh thể tự trị tồn tại trên chính đạo lý của riêng chúng, trên những quy luật của riêng chúng”.

Bởi vậy, để công bằng, chúng ta hãy quan sát nhân vật như nó vốn thế. Các phát ngôn và hành vi của nó, dù kinh khủng và vô lương nhất cũng nên được tìm hiểu kĩ.

1. Hắn

Hắn đánh vợ, sau này qua lời Đẩu ta mới biết, đã thành một chu kì đều đặn.

Nguồn cơn không phải do lỗi của người đàn bà vợ hắn mà lỗi là ở những áp lực trực tiếp của cuộc mưu sinh đè lên bản thân hắn.

Và hắn chỉ còn mỗi một cách là xả nỗi uất ức, chán chường, tuyệt vọng lên thân thể người phụ nữ ấy.

Hiểu nỗi cơ cực giày vò chồng, chị chấp nhận để hắn đánh. Chỉ đề nghị hắn muốn đánh thì tìm chỗ khuất không để các con nhìn thấy.

Đã là vợ chồng thì có nghĩa là chia sẻ cuộc sống, niềm vui, nỗi buồn, ngọt bùi và cay đắng. Tuy nhiên, là một người đọc, tôi chưa từng chứng kiến một sự chia sẻ đời sống vợ chồng nào trong văn chương lẫn cuộc đời mà oái ăm và kì dị như thế.

Thông thường, người ta vẫn nghĩ bản sắc của một cá nhân được bộc lộ qua ngôn ngữ và hành động của cá nhân đó.

Đương nhiên thế.

Tuy nhiên, không phải bao giờ ngôn ngữ và hành vi của nhân vật cũng dẫn ta đến đúng địa chỉ, nơi trú ngụ thực sự của một nhân cách.

Bởi thế, hãy để ý thật kĩ mọi ngôn ngữ và hành vi của hắn. Và ta thấy thực khó hiểu: trước khi đánh vợ hắn đe dọa con như một tên đao phủ: “Ngồi yên đấy. Tao chém chết cả mày đi bây giờ”. Còn khi đánh vợ thì hắn lại vừa đánh vừa rên rỉ như một nạn nhân: “Chúng mày chết hết đi. Chết hết đi cho ông nhờ!”. Như thể kẻ bị hành hạ đau đớn là hắn ta, người đánh, chứ không phải là người đàn bà, kẻ bị đánh. Điều đó có nghĩa gì nữa ngoài cái thông điệp: hành động đã vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính hắn?

Tôi không dám và cũng không bao giờ có ý định làm luật sư bào chữa cho nhân vật trong cái thời buổi người ta đang lên tiếng mạnh mẽ cho nữ quyền và chống bạo hành.

Nhưng tôi thật băn khoăn xung quanh các câu hỏi:

1. Điều gì đã khiến một kẻ ghét bạo lực, chiến tranh (có thể nói như thế) mà liều mình trốn quân dịch khiến thân phận trở nên khốn khổ, thảm hại nhưng đến lúc hòa bình thì lại sử dụng thường xuyên cái thứ mà chính thời tuổi trẻ anh ta từng ghê sợ và căm ghét?

2. Điều gì đã khiến một kẻ không thích cảm giác mạnh là uống rượu, cũng ít khi tham gia các trò giải trí thô tục của đám người làm nghề lao động chân tay bỗng lại trở thành một tên đàn ông vũ phu, chuyên đánh vợ?

3. Và hắn, tự trong bản chất có thực là một kẻ thích hành hạ người khác không?

Câu trả lời cho câu hỏi thứ 3 là không.

Các câu hỏi còn lại thì chỉ có thể khẳng định trước một điều: chắc chắn hắn cũng không muốn sinh ra để rồi trở thành một kẻ như thế.

Tôi cũng sẽ không khẳng định: tình thế phải làm trụ cột một gia đình đông con cùng con đường tuyệt vọng của nghề nghiệp không thể đổi, không thể chạy thoát khỏi nó như một định mệnh phải chịu trách nhiệm thay cho nhân vật.

Điều khiến tôi suy nghĩ: đó là bạo lực và cái Ác. Hóa ra, nó không đến từ phía bên kia chiến tuyến. Nó cũng không do một thế lực thù địch nào tuồn vào cuộc sống. Chua chát thay, nó sinh ra bởi tình trạng cùng quẫn và cùng cực của kiếp người. Nó sinh sôi bởi sự cằn cỗi, nghèo đói của chính cõi sống.

Với người đàn bà ấy, hắn ta không chỉ là một người chồng, một trụ cột gia đình mà còn là một ân nhân.

Đối với người đàn bà ấy, cũng như Từ đối với Hộ trong “Đời thừa” của Nam Cao, hắn ta không phải là kẻ khốn nạn mà là một kẻ khốn khổ.

Nhưng với người đọc thì có thể một vài câu hỏi nữa vẫn còn treo ở đó:

- Vậy hắn là ai? Thực chất hắn là người thế nào?

Đương nhiên ngoài đời thì hắn phải có một cái tên và đôi dòng tiểu sử. Nhưng trong cõi nghệ thuật, do thiết chế riêng của từng tác phẩm hoặc do những chi phối ngẫu nhiên của công việc sáng tạo, tác giả đôi khi quyết định để tình trạng vô danh tính của một số nhân vật nào đó.

Điều này thực ra cũng chẳng mấy quan trọng.

Nathalie Sarraute, một tiểu thuyết gia của khuynh hướng nouveau roman (tiểu thuyết mới) cho rằng tiểu thuyết cổ điển là một câu chuyện không tách khỏi nhân vật dựng nên nó. Còn với các nhà tiểu thuyết mới, nhân vật chỉ là những con bù nhìn bằng sáp (manequins de cire), được chế tạo sẵn theo những phương cách dễ dàng và có tính cách qui ước. Theo Nathalie Sarraute, nhân vật chỉ là cái “bì phu chi ngoại”, cái vỏ (envelope), là “tù nhân của những chiếc mặt nạ của chúng”. Nhân vật, theo bà, chỉ là “cái tương tự” (le ressemblant) chứ không hề là cái “có thực” (le réel).

Từ quan niệm trên, các nhà tiểu thuyết mới xây dựng nhân vật với những chi tiết lý lịch sơ sài, thậm chí không có lý lịch, không có cá tính, không tên tuổi.

Tuy nhiên, với người đọc Việt hiện thời thì hành vi này của nhà văn thường tạo nên vô số các suy đoán và diễn giải.

Sự suy đoán phần lớn chỉ dựa trên những sở cứ bấp bênh và do đó, không mấy ý nghĩa và cũng chẳng đáng tin cậy ngoài việc đáp ứng nhu cầu tò mò vụn vặt cố hữu.

Tôi cũng cho rằng, việc vô danh tính hóa nhân vật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu chỉ là một ngẫu nhiên, nếu là tất yếu thì là cái tất yếu do tình thế phải thế và điều đó không nằm trong chiến lược thay đổi thi pháp của ông.

Nhưng nếu để ý, chúng ta sẽ thấy, từ sau 1975, nỗ lực chính yếu của Nguyễn Minh Châu là nỗ lực đến gần hơn với con người - con người bình thường chứ không phải con người viết hoa, với nghề nghiệp, vâng, tôi muốn nhấn mạnh: với Nguyễn Minh Châu – nghề nghiệp là cái môi trường đặc thù nhào nặn nên tính cách đặc thù của nhân vật.

Ông cũng không dừng lại ở cái con người nhất phiến như trước mà luôn kiếm tìm, phát hiện và dường như ông đã nhận ra: phiền toái, khó hiểu, đa diện, đa bội mới đích thực là con người.

Nỗ lực nói trên của Nguyễn Minh Châu đã tạo ra những hình tượng nghệ thuật độc đáo.

Lão Khúng trong “Khách ở quê ra” và “Phiên chợ Giát” là một ví dụ. Theo quan sát cá nhân, Việt Nam là một đất nước nông dân nhưng ít có nhà văn của nông dân đích thực. Sau nhân vật Chí Phèo của Nam Cao mãi đến khi Khúng của Nguyễn Minh Châu xuất hiện, ta mới thấy lại người nông dân Việt trong tư cách một hình tượng nghệ thuật đặc sắc đánh dấu một cột mốc mới trên hành trình khám phá về người nông dân của nhà văn Việt.

Người đàn ông làng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” theo tôi cũng là một case thú vị thuộc khuynh hướng khám phá con người từ “dấu vết nghề nghiệp” (tên một truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu) nói trên.

Giả định rằng trong lịch sử nền sản xuất tiểu nông hàng nghìn năm trên đất nước này đã để lại những hệ lụy thế nào lên người nông dân thì chính ở đây, nền sản xuất tiểu ngư mấy trăm năm cũng sẽ để lại những hệ lụy tương tự với người tiểu ngư như thế, thậm chí những hệ lụy của nền sản xuất tiểu ngư, theo tôi, có phần khắc nghiệt và ghê gớm hơn.

Đó là cái cuộc sống “cứ lênh đênh khắp cả một vùng phá mênh mông. Cưới xin, sinh con đẻ cái, hoặc lúc nhắm mắt cũng chỉ trên một chiếc thuyền. Xóm giềng không có. Quê hương bản quán cả chục cây số trời nước chứ không cố kết vào một khoảnh đất nào”.

Cái cuộc sống của thằng đàn ông có vợ con xung quanh mà thực chất là đơn độc ấy…

Cái cuộc sống thực chất là đơn độc đi cùng cái nghề luôn luôn phải cầm cự, chống đỡ, kiếm tìm và đánh vật với nước, với sóng, với bão tố ấy là nguyên nhân tạo nên thứ phẩm tính riêng của một loại người cùng một loại nghề nghiệp đặc thù và tất yếu sinh ra cái hậu quả như Marxim Gorki từng nói: cái “bản năng sinh tồn bị thú vật hóa”. Nhìn ở góc độ khác, thứ nghề nghiệp thổ tả đó đối với những nước nghèo với điều kiện vật chất thô sơ cũng tất yếu tạo nên những CHẤN THƯƠNG NGHỀ NGHIỆP đối với kẻ làm nghề.

Quả nhiên, ta thấy dấu vết nghề nghiệp in dấu vào nhân hình của hắn:

“Tấm lưng rộng và cong như lưng một chiếc thuyền. Mái tóc tổ quạ. Khuôn ngực trần vạm vỡ cháy nắng có những đám lông đen như hắc ín, loăn xoăn từ rốn mọc ngược lên”. “Lão đi chân chữ bát, bước từng bước chắc chắn, hàng lông mày cháy nắng rủ xuống hai con mắt đầy vẻ độc dữ …”.

Hiển nhiên, đối với hắn cả trước kia và hiện tại, sống không bao giờ là một việc dễ dàng. Tuy nhiên, buộc phải cõng cả một gia đình trên lưng, hắn vẫn phải tiếp tục thực hiện những hành vi mà sự tồn tại đòi hỏi, hắn, nhiều khi cũng chẳng khác gì Sisyphus mãi vần tảng đá lên núi hay Atlas cõng bầu trời trên lưng mà không thể trút gánh nặng cho bất cứ ai.

Vết thương nghề nghiệp ngày một nặng thêm do tuổi tác và thời gian cũng đã được làm đầy thêm theo cách đó.

Nỗi uất ức và sự bất lực bởi nghề nghiệp mưu sinh đã được làm đầy thêm theo tháng ngày theo cách đó. Nhưng hiểu ra tính chất vô ích của sự phẫn uất và nỗi thống khổ mới là căn nguyên khiến cho con người ta trở nên hung hãn:

“Lão đàn ông lập tức trở nên hùng hổ, mặt đỏ gay, lão rút trong người ra một chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa, có vẻ như những điều phải nói với nhau họ đã nói hết, chẳng nói chẳng rằng lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”.

Hắn vừa quật thắt lưng vào lưng vợ, vừa thở hồng hộc vừa rên rỉ. Hãy tưởng tượng cái công việc tàn ác đó trở thành chu kì, đến lúc chính nó cũng trở thành một thứ công việc khổ sai, đày đọa lại hắn.

Hannah Arendt (1906- 1975), nữ triết gia người Đức gốc Do Thái đã dành 30 năm trời để nghiên cứu cái ác và bà cho rằng bản chất của cái ác không phức tạp như mọi người vẫn nghĩ. Trong tác phẩm nổi tiếng và gây tranh cãi “Eichmann ở Jerusalem” bà lấy trường hợp của tên đồ tể phát xít Adolf Eichmann như một ví dụ minh họa cho luận điểm về sự tầm thường của cái ác (the normality of crime). Theo bà, những tội ác của Adolf Eichmann không phải xuất phát từ bản tính phi nhân, độc ác của y mà tất cả là do sự thiếu suy nghĩ (thoughtlessness). Adolf Eichmann biện minh rằng y chỉ là một công chức làm theo lệnh cấp trên đồng thời mục đích chính mà y đặt ra cho bản thân chỉ là sự thăng tiến cùng những tham vọng quyền lực trong chính quyền của Hitler. Tuy nhiên không thể phủ nhận một điều đó là ngoài Adolf Eichmann ra còn có hàng triệu những Adolf Eichmann khác cùng đang dự vào một vở bi kịch ngập ngụa máu và thịt người. Trong tội ác tập thể con người không còn cảm thấy phải trực diện với trách nhiệm của cá nhân trước sự phán xét của đồng loại. Bên cạnh đó những gánh nặng lương tâm cũng được gạt bỏ vì anh ta tin rằng những gì mình đang làm là phục vụ người khác.

Hắn ở đây cũng thế “thói tàn nhẫn của dân đàn ông đánh cá trong vùng địa phương do phong tục để lại” cũng là một thứ tội ác tập thể để, hắn không cần bận tâm đến hành vi thô bạo, tàn nhẫn của mình.

Tuy nhiên, đọc phần cuối tác phẩm, đến đoạn tác giả miêu tả cảnh phá biển trước cơn bão lớn, có thể độc giả sẽ buộc phải nghĩ lại đôi chút về hắn:

“Gần sáng trời trở gió đột ngột, từng tảng mây đen xếp ngổn ngang trên mặt biển đen ngòm, và biển bắt đầu gào thét, sóng bạc đầu ngoài cửa lạch nổi cồn lên cao như những ngọn núi tuyết trắng.

Trong phá, các thứ tầu thuyền đều tìm vào bờ để trú, duy ở giữa phá chẳng hiểu vì sao vẫn còn thấy một chiếc thuyền vó bè đang đậu”.

Chủ nhân chiếc thuyền đó chắc không phải là một kẻ điên mà hẳn phải là một kẻ mạnh mẽ, gan góc, can trường, dám mạo hiểm thách thức cả bão tố hay ít ra cũng vì mưu sinh mà bất chấp bão tố.

Chủ nhân con thuyền đó là ai?

Chính là hắn.

2. Người đàn bà hàng chài ấy

Đây là hình ảnh người đàn bà hàng chài mà nhân vật Phùng nhìn thấy lần đầu:

“Người đàn bà trạc ngoài bốn mươi, một thân hình quen thuộc của đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Mụ rỗ mặt. Khuôn mặt mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ” cùng “tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng…”.

Và khi anh gặp lại ở công đường tòa án nơi phố huyện, người con gái Phùng nhìn thấy lần trước “mềm mại và nhanh như một con vượn đen tuyền trong bộ quần áo đen ướt rượt bó sát vào mình” đi theo chị ta thì giờ đã thay đổi trang phục với “chiếc áo cánh màu tím nhạt” cùng vẻ mảnh dẻ, duyên dáng của một thiếu nữ mới lớn khiến Phùng ngỡ ngàng nghĩ tới nhân vật nàng tiên cá trong một tác phẩm điện ảnh nào đó của tương lai trong khi chị ta thì vẫn thế:

“Người đàn bà vẫn mặc chiếc áo mầu bạc phếch vì nước mặn, một miếng vá bằng vải xanh bằng bàn tay trên vai, những nốt rỗ trên mặt có vẻ thưa ra”.

Cho đến khi kể chuyện đời mình với giọng bình thản:

“Từ nhỏ tuổi tôi đã là một đứa con gái xấu, lại rỗ mặt, sau một bận lên đậu mùa. Hồi bấy giờ nhà tôi còn khá giả, nhà tôi trước ở trong cái phố này. Cũng vì xấu, trong phố không ai lấy, tôi có mang với một anh con trai một nhà hàng chài giữa phá hay đến nhà tôi mua bả về đan lưới”.

Cách miêu tả nữ nhân vật chính từ phút đầu cho đến khi câu chuyện kết thúc của Nguyễn Minh Châu dường như là để, buộc độc giả phải suy nghĩ và cay đắng khi đi tìm những câu trả lời để lí giải cái nghịch lý của cuộc đời chứ không phải chỉ để xót thương, cảm thông hay để ca ngợi nhân vật theo quán tính đọc văn chương tuyên truyền, cho dù là tuyên truyền cho cả cái Đẹp, trong mấy chục năm qua.

Với tôi, càng đọc, người đàn bà này càng làm đầy lên những câu hỏi:

- Khi nào thì người ta không còn và không cần bận tâm đến cái vẻ ngoài lam lũ, nghèo khổ dù ở bất cứ đâu của mình?

- Khi nào thì người ta có thể thản nhiên kể về diện mạo xấu xí, thô kệch cùng những bí mật không dễ thổ lộ của đời mình với người lạ mà không việc gì phải xấu hổ, ngượng ngùng?

- Và vì sao người ta lại có thể cự tuyệt công lý, nhân quyền cùng sự giải thoát cho cá nhân mình để bằng lòng chọn những thứ đau đớn, tủi cực, phũ phàng gần như thường xuyên mà không cần phải so đo, tính toán?

Trước khi đi vào tìm hiểu những điều mang tính nghịch lý đó, ta hãy trở lại với cách miêu tả của Nguyễn Minh Châu về các nhân vật liên can mật thiết trong tác phẩm.

Trừ người đàn bà gần như thường xuyên được tô đậm vẻ lam lũ, thô kệch, xấu xí, các nhân vật trong gia đình hàng chài đều toát lên những dáng vẻ thật gần với tự nhiên hoang dã:

Lão chồng trụ cột gia đình thì “nom như một con gấu đang đi tìm nguồn nước uống, hai bàn chân chữ bát để lại những vết chân to và sâu trên bãi cát hoang vắng”. Thằng Phác cũng được tả theo bút pháp tương tự với “khuôn mặt xấu xí” và “giống lão ta như đúc”. Cặp mắt của nó “chả khác nào cặp mắt của một chú hổ con từ miền rừng vừa lạc về” lúc khác thì nó là một “chú chó sói con” nhanh nhẹn và khỏe đến không ngờ. Con chị cũng thế, khi nó bỏ thuyền bơi vào để ngăn chặn ý định của đứa em, trông nó “mềm mại và nhanh như một con vượn đen tuyền”.

Trong gia đình đó, ngôn ngữ trao đổi bình thường là thứ được tiết kiệm tối đa và thay vào đó là những tiếng chửi tục tằn, là những trận đòn theo chu kì, là bố có thể giang thẳng cánh tay tát cho con ngã nhào xuống cát hay là chị và em có thể vật lộn dữ dội trong im lặng để tước một cái dao găm.

Vậy đấy, trong hành xử, hắn, lão đàn ông ấy chẳng khác gì con thú đầu đàn, sẵn sàng và có thể cắn xé bất cứ con thú thành viên nào.

Còn thằng bé, nhìn từ góc nhìn hoang dã, các hành vi của nó chẳng khác gì hành vi của con thú non đang lớn đã bắt đầu dám chống lại con đầu đàn.

Đạo đức, vì thế, dường như vắng mặt.

Có vẻ như trong gia đình ấy, người ta sống với một khế ước khác, khác với cái khế ước xã hội mà mọi người vẫn tuân thủ để được an toàn.

Cũng vì thế, nếu chú ý tìm hiểu cách miêu tả của Nguyễn Minh Châu người ta sẽ phân vân cực độ bởi những câu hỏi:

Vậy thì, về thực chất nhà văn đang nhìn con người theo góc nhìn nào? Ông nhìn các nhân vật theo chiều hướng nó đang bị thú tính hóa hay đơn giản chỉ là muốn nhìn con người theo nguyên lý của đời sống tự nhiên?

Trả lời thấu đáo những câu hỏi trên là không dễ.

Bây giờ hãy trở lại với người phụ nữ ấy.

Chị ta xấu xí từ nhỏ và điều đó hiển nhiên là một hệ lụy.

Sống chung với cộng đồng trong một nền văn hóa thiên vị cái đẹp thì sự xấu xí về nhan sắc sẽ là một bất hạnh. Tuy nhiên, một khi người ta phải mang theo trên hành trình của đời mình cái món quà cay đắng không mong muốn ấy của số phận thì đồng thời người ta cũng sẽ học được cách chịu đựng cái vị đắng cay của nó.

Nó rèn cho người ta cái khả năng chịu đựng sự thật từ thơ ấu.

Tiếp đến là khả năng chịu đựng về tình trạng ế muộn.

Cho đến khi phải liều bước qua luật lệ và chịu đựng dư luận để lấy được chồng, để sinh con và để chịu đựng muôn vàn nỗi khó nhọc của mưu sinh cùng thói vũ phu của chồng.

Chịu đựng đã trở thành một phẩm tính của người đàn bà ấy.

Cho dù sức chịu đựng của con người là có giới hạn.

Nhưng con người ta, trong tồn tại cá thể của mình, đôi khi buộc phải rơi vào cái tình thế như Simone Weil, nữ triết gia thần nghiệm (1909-1943), từng nói: “We must prefer real hell to an imaginary paradise” [phải chọn địa ngục thực, thay vì một thiên đường dởm].

Đó là lí do vì sao chị ta im lặng khi bị đánh.

"Người đàn bà với một vẻ cam chịu đầy nhẫn nhục không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy".

Thái độ đó của người đàn bà hàng chài đã được một bạn đọc trẻ diễn giải đầy thuyết phục:

“Sự thực là người ta thường chỉ cảm thấy tổn thương sâu sắc bởi những thứ họ không lường đến còn một khi đã lường đến mọi chuyện tồi tệ như một lẽ thường hằng thì mọi chuyện sẽ khác. Im lặng và gan góc đối diện với nó là thái độ mà người ta đã chuẩn bị sẵn. Và một khi đã chuẩn bị sẵn thái độ để đón nhận và đi qua nó, mọi chuyện cũng sẽ không ghê gớm như ta tưởng”.

Hiểu như thế, ta sẽ dần dần hiểu ra vì sao, trước khi tự nguyện để cho chồng đánh, người đàn bà ấy bỗng có những hành vi thật khó đoán:

“Người đàn bà đứng lại, ngước mắt nhìn ra ngoài mặt phá nước chỗ chiếc thuyền đậu một thoáng, rồi đưa một cánh tay lên có lẽ định gãi hay sửa lại mái tóc nhưng rồi lại buông thõng xuống, đưa cặp mắt nhìn xuống chân”.

Một hành động khó hiểu. Như thể người đàn bà ấy cần hít một hơi thật sâu vào lồng ngực trước khi lặn xuống, như thể người đàn bà ấy tự thấy cần phải chỉnh trang tí chút trước khi trở nên tơi tả. Nó như một thứ nghi lễ bí ẩn nào đó đã được chuẩn bị trong sự im lặng của cõi lòng cũng giống như trước khi ta làm một công việc hệ trọng.

Hành động đó gây ngạc nhiên và cũng khó lí giải như khi chị chắp tay vái lạy con và chắp tay lạy hai cán bộ xin đừng bắt chị phải li dị chồng.

Sự cúi lạy người khác để xin người ta không làm cái điều mình biết rõ là tất yếu người ta phải làm không phải là một hành vi nhẫn nhục và ủy mị. Hành vi đó ở người đàn bà hàng chài không đơn nghĩa như vậy. Muốn làm được điều đó người đàn bà cao lớn, nhiều lần câm nín khi chịu đòn chồng còn một khả năng khác. Đó là cái khả năng chịu đựng hơn người và một sự lựa chọn khác hơn người, dù chị ít học, cả đời sống trong cực nhọc, lam lũ.

Hành vi đó của nữ nhân vật khiến ta suy nghĩ tới một ngả rẽ trong tư tưởng nghệ thuật của nhà văn: với Nguyễn Minh Châu, phải chăng, tinh thần phản kháng vốn được coi là vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến tranh mà ta từng gặp ở bà má Hậu Giang, chị Nguyễn Thị Út, chị Sứ, chị Trần Thị Lý, anh Nguyễn Văn Trỗi…thì khi hòa bình, vẻ đẹp ấy có thể sẽ phải nhường chỗ cho những đức tính có vẻ như trái ngược: sự chịu đựng trong tinh thần vị tha, bao dung và thấu hiểu như của người đàn bà hàng chài vô danh này.

Sự đề xuất giá trị mĩ học mới trong hình tượng nghệ thuật này đương nhiên là khó được chấp nhận khi quán tính văn hóa thời chiến vẫn còn len lỏi trong tư duy của người nghiên cứu văn chương cũng như các thế hệ người đọc.

Trong khi, để chịu đựng những tai ách, bất công cùng bao cơ cực của việc làm người cùng những nghịch lý ở đời, người ta cần nhiều sức mạnh cùng sự can trường hơn là sự phản kháng.

Và thử nghĩ xem: chúng ta chẳng đã bất công sao khi hành động chấp nhận chịu đựng những đớn đau thể xác lúc bước lên chịu đóng đinh trên cây Thập Giá của Đức Jesus vốn vẫn được coi là mang sứ mệnh Cứu Chuộc vĩ đại và được nhân loại ngưỡng mộ hơn hai nghìn năm nay, trong khi đó, hành vi chịu đựng mọi cơ cực của cuộc mưu sinh lẫn đòn chồng của người đàn bà ấy trong cuộc đời bé mọn và hữu hạn của chính mình, chỉ vì con cái thôi, lại bị coi là nhẫn nhục một cách đáng trách?

Nếu đặt câu hỏi như vậy, độc giả sẽ hiểu vì sao Nguyễn Minh Châu lại kết thúc truyện bằng hình ảnh vẫn là người đàn bà hàng chài lam lũ, thô kệch ấy nhưng đã trở nên hoàn toàn khác trong mắt người nghệ sĩ nhiếp ảnh:

"Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kỹ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô kệch tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng khuôn mặt rỗ đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông".

Thông điệp của tác giả qua nhân vật của mình là gì?

Chắc không phải là điều khó hiểu.

3. Đẩu, Phùng và những người tốt khác…

Đẩu, Phùng là hai nhân vật có danh xưng, địa vị và nghề nghiệp.

Tuy nhiên, theo sự vận động của mạch truyện hai nhân vật này, đặc biệt là nhân vật Phùng, nghệ sĩ nhiếp ảnh đồng thời là người giữ vai trò kể chuyện, đã dần dần nhường trung tâm quan sát cho các nhân vật vô danh trong tác phẩm.

Trong nhìn nhận của người đọc thông thường, họ đại diện cho lòng tốt, lẽ phải và công lý.

Nhưng trong bối cảnh của câu chuyện dường như lòng tốt, lẽ phải và công lý mà họ đem ra thi triển đã không còn ý nghĩa nữa.

Nghịch lý đó cho thấy tính chất vô tác dụng của công lý, lẽ phải và lòng tốt.

Chính xác hơn, nghịch lý đó cho thấy tính chất vô tác dụng của thứ văn hóa của một thời đã qua mà hai nhân vật Đẩu và Phùng là đại diện.

Phùng và Đẩu là những người tốt. Nhưng họ đã quen với việc khi gặp những chuyện phức tạp, khó khăn, xung đột, ngang trái, bất công thì hoặc là xắn tay làm Lục Vân Tiên, hoặc là a-lê-hấp, phăng-teo. Cái văn hóa một mất - một còn kiểu ấy đích thực là văn hóa của thời chiến, (Nguyên Ngọc gọi bằng tiếng Pháp là barricade culture - văn hóa chiến lũy) giản đơn và thô kệch. Từ thời hậu chiến trở đi, tức là vào thời bình, vấn đề không đơn giản như thế. Người ta sẽ chọn những cách giải quyết vấn đề theo kiểu khác, không cứng nhắc và sắt máu như thời chiến nữa. Và tất nhiên, những trái tim thông minh, mẫn cảm với đời sống sẽ chọn một thứ văn hóa khác cao, tinh tế hơn. Đó là văn hóa của thời bình. Nhưng văn hóa của thời bình là thế nào? Là chia sẻ và cộng tác (người ta gọi là culture coopérative) nhiều nhẫn nại, cay đắng và rất ít ngọt ngào. Đọc Chiếc thuyền ngoài xa ta sẽ thấy chưa có người phụ nữ nào trong văn chương cả trước và sau Nguyễn Minh Châu chia sẻ gánh nặng làm người và sự bế tắc trong mưu sinh với chồng bằng việc đề nghị anh ta cứ đánh mình mỗi khi cần phải xả tress. Nhưng chính điều ấy lại cho thấy chị ấy không những vị tha, bao dung, hiểu chồng, thương con mà khả năng chịu đựng tai ương, nghịch cảnh cũng như tính cách đều cao hơn, mạnh hơn ông chồng. Đó là lí do tại sao chị ta dám xưng "CHỊ" với những người mà có lẽ trong thâm tâm chị ấy thấy họ ít từng trải và ấu trĩ trước những vấn đề phức tạp của đời sống. Đó cũng là lí do vì sao người phụ nữ ấy từ chối cái đặc ân thực thi công lí thông thường người ta định tặng chị ấy để chọn cái nghịch cảnh mà nhiều người cho là vớ vẩn. Nhìn nhận một cách khách quan và bình tĩnh, người đọc có thể thấy nhân vật đó đã lựa chọn cái cách sống mà ở đó nó cần con người sống với một tầm cỡ cao hơn, sâu sắc và nhân bản hơn.

Sự đề xuất các giá trị mĩ học mới của văn học sau 1975 nếu khác so với trước đó chính là ở chỗ này.

Hà Nội 8.2019

N.P

Tài liệu tham khảo:

1. Milan Kundera - Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, nxb Đà Nẵng 1997.

2. Tzvetan Todorov - Thi pháp văn xuôi, Đặng Anh Đào – Lê Hồng Sâm dịch, nxb ĐHSP, 2004.

3. Tiểu thuyết mới và hiện thực - L. Goldmann, Lộc Phương Thủy dịch từ cuốn: L.Goldmann, Vì một xã hội học tiểu thuyết (Pour une sociologie du roman), Paris, Gallimard, 1992, trang 279-334.

4. Nguyễn Minh Châu- Toàn tập, tập III, nxb Văn học 2001.

Nguồn: FB Nguyễn Phượng