Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Trọng Khải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Trọng Khải. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 19 tháng 9, 2021

Phát triển toàn diện nông thôn Việt Nam vì một miền quê đáng sống

TS Vũ Trọng Khải

Phát triển nông thôn toàn diện là một tiến trình không có điểm kết thúc với những mục tiêu được định trước bằng các chỉ tiêu kinh tế - xã hội. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên hiện đại và hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nông thôn toàn diện trở thành nội dung căn bản nhất, quyết định sự thành bại của sự nghiệp chấn hưng đất nước ta.

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

Phòng chống dịch COVID-19: Phải đảm bảo sinh mạng và sinh kế của người dân bằng tự do lưu thông hàng hóa có điều kiện

Lê Thân - Vũ Trọng Khải

Nguyên tắc tối thiểu và căn bản của văn bản pháp luật là chỉ quy định những hành vi, hoạt động bị cấm đối với mọi cá nhân và tổ chức, tuyệt đối không được quy định những hành vi và hoạt động được phép. Những hành vi và hoạt động bị pháp luật cấm vì nó gây hại cho xã hội, người dân và các tổ chức. Mặt khác, những hành vi và hoạt động bị pháp luật cấm là rất ít, thì việc cấm mới khả thi. Còn những hành vi và hoạt động không bị cấm là vô số, có lợi cho quốc kế, dân sinh. Do đó, mọi người dân và tổ chức đương nhiên được làm những gì mà pháp luật không cấm, để mưu cầu lợi ích cho mình.

Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

Quốc hội khoá 15 và sự đổi mới quản lý nhà nước: Đôi điều lạm bàn

Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp và xây dựng nông thôn

Trước hết, phải nói rằng, tôi chỉ luận bàn vấn đề này trong khuôn khổ Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn đang còn là một tổ chức chính trị duy nhất lãnh đạo toàn diện, trực tiếp, tuyệt đối, đối với mọi hoạt động kinh tế - xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường của đất nước. Do vậy cần xây dựng một hệ tư duy mới để thực hiện công cuộc đổi mới này. Việc làm này là chưa có tiền lệ, nên sẽ gây ra sự tranh cãi và hoài nghi tính khả thi của nó.

Thứ Sáu, 7 tháng 6, 2019

Đại hội 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đổi mới toàn diện để Việt Nam có thể trở thành một nước phát triển vào năm 2030

Vũ Trọng Khải

Có nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nói, đại ý: Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Điều đó có nghĩa là vạn vật luôn luôn thay đổi theo những qui luật tất yếu khách quan mà ý chí chủ quan của con người cần phải thuận theo; còn đi ngược lại qui luật thì con người sẽ lãnh đủ mọi hậu quả khôn lường. Theo chủ quan, con người luôn nghĩ rằng hoạt động của mình là tạo ra những thay đổi vì mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trong thực tế, sự thay đổi luôn diễn ra theo cả hai chiều hướng: tiêu cực và tích cực. Chỉ những hoạt động phù hợp với qui luật khách quan mới tạo ra thay đổi tích cực, được coi là đổi mới. Hơn thế nữa, trong tiến trình phát triển, con người luôn luôn phải đối mặt, xử lý, giải quyết những vấn đề do chính sự đổi mới tạo ra, để vươn lên tầm cao hơn. Nếu không, sự đổi mới của ngày hôm qua lại trở thành sự lạc hậu, cản trở sự đổi mới của ngày hôm nay. Như Albert Einstein đã dạy: Người ta không thể giải quyết được những vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra những vấn đề đó.

Thứ Sáu, 13 tháng 7, 2018

PGS.TS Vũ Trọng Khải: Đất đai phải được mua bán theo nguyên tắc thị trường

Loạt bài “Văn Giang hậu thu hồi đất” đăng tải trên Báo NNVN trong tuần này đã tạo được sự chú ý, quan tâm đặc biệt của dư luận, nhất là các chuyên gia về nông nghiệp, nông thôn...

Báo NNVN đã có buổi trao đổi với PGS.TS Vũ Trọng Khải, chuyên gia độc lập về kinh tế nông nghiệp, quanh vấn đề này.

Thứ Tư, 6 tháng 9, 2017

Vài ký ức không thể nào quên về mẹ tôi[i]

(Nhân lễ Vu Lan 2017)

Vũ Trọng Khải

- Khải ơi! Về mặc áo ấm vào con!

Đã hơn 70 tuổi mà đôi lúc bên tai tôi vẫn còn văng vẳng tiếng gọi của mẹ tôi lúc tôi 7 - 9 tuổi. Hồi đó, tôi và mẹ tôi, chị gái tôi (chị Khanh) sống ở vùng ATK (an toàn khu) thuộc xã Hợp Thành, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (Việt Bắc) trong khoảng những năm 1951 - 1954. Mùa đông, trời rất rét. Nhưng vào đầu buổi chiều, trời ấm lại, nghỉ học, tôi cùng mấy đứa bạn hàng xóm tụ tập chơi cù (con quay) hay đánh khăng ở sân nhà ông bà Vân. Hai đứa con ông bà Vân là thằng Trăn (Phúc), thằng Chuột (Hải) thường hay chơi với tôi (đôi lần có cả Bòi Xì tức Hoàng Nguyên Hồng nữa). Chiều mùa đông, khoảng 16 - 17 giờ, bầu trời bắt đầu xám xịt, hơi lạnh tỏa khắp không gian. Nhưng bọn trẻ chúng tôi mải chơi, không cảm thấy lạnh, vẫn mặc phong phanh một áo sơ mi và cái quần đùi.

Chủ Nhật, 6 tháng 8, 2017

Cho cậu kiện, tôi xử

(Kỷ niệm 50 năm nhận công tác tại Bộ Nông nghiệp (5/8/1967-5/8/2017)

Vũ Trọng Khải

Ấy là câu nói của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Văn Lộc với tôi hồi cuối năm 1969, năm Kỷ Dậu, khi tôi mới 24 tuổi đời, 2 tuổi nghề.

Chuyện là thế này:

Năm 1968 là tròn 10 năm tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc. Bộ Chính trị giao cho Ban Nông nghiệp TW Đảng tổ chức tổng kết 10 năm hợp tác hóa nông nghiệp. Ban Nông nghiệp lại giao cho Bộ Nông nghiệp việc tổng kết về chính sách của nhà nước khuyến khích phát triển nông nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể của nông dân (không bao gồm các nông, lâm trường quốc doanh do Bộ Nông trường Quốc doanh quản lý). Ông Nguyễn Văn Lộc lại giao việc này cho Thủ trưởng trực tiếp của tôi là ông Nguyễn Văn Minh, phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, kiêm trưởng Phòng Chính sách – Giá cả, thuộc Vụ Kế hoạch. Tôi là cán bộ nghiên cứu của phòng này từ khi tốt nghiệp đại học (tháng 8 năm 1967). Ông Minh vốn là thiếu tá quân đội chính ủy lữ đoàn, chuyển ngành về Bộ Nông nghiệp. Ông vốn là một nông dân “nguyên chất”, tuy không được đào tạo bài bản, nhưng do tâm huyết với nông dân, nông nghiệp, vốn lại thông minh, nên thường có những ý tưởng mới, sắc xảo, độc đáo. Hạn chế của ông là không tư duy hệ thống, viết và nói không rõ ràng nên thường gây hiểu lầm. Mọi người bảo ông lẩm cẩm.

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2016

Bài học cho con của Bộ trưởng Tư pháp tại vị 181 ngày

Luật sư Vũ Trọng Khánh (1912–1996) là Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Kể chuyện với VietNamNet, người con trai út của ông nhớ lại: "Chưa bao giờ tôi thấy ông phàn nàn về công việc, lương bổng, nhà cửa, đãi ngộ. Tôi vẫn tự hỏi: “Sao ông giữ mình cẩn thận quá vậy?”.
Cuộc trò chuyện với PGS.TS Vũ Trọng Khải, con trai út của Luật sư Vũ Trọng Khánh, cho thấy rõ hơn về con người chi có 181 ngày tại vị trên cương vị Bộ trưởng, và cả cuộc đời hoạt động gắn bó với thành phố cảng Hải Phòng. Mặc dù hiện nay không có một đường phố nào mang tên ông nhưng trong tâm trí của đồng nghiệp, của họ hàng, của người dân Hải Phòng sống cùng thời thì ông vẫn còn mãi. clip_image002
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1945
Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

Phát triển nông nghiệp Việt Nam trước những thách thức của hội nhập kinh tế quốc tế

Vũ Trọng Khải

Trước hết, phải khẳng định là, nền nông nghiệp Việt Nam hiện nay, không chỉ lạc hậu về mọi mặt, mà điều nguy hiểm hơn cả sự lạc hậu là, nó đang đầu độc cả dân tộc một cách hợp pháp bằng các loại nông sản không an toàn. Nếu không khắc phục được tình trạng này, nền nông nghiệp Việt Nam chẳng những không tận dụng được cơ hội do hội nhập quốc tế mang lại, mà còn bị những thách thức của tiến trình hội nhập quốc tế nhấn chìm. Khi đó, sự tổn thất cho nông nghiệp, nông dân nói riêng và cho cả nền kinh tế và người dân Việt Nam nói chung, là hết sức to lớn.

Mặt khác, phải khẳng định rằng, hội nhập kinh tế quốc tế là một tiến trình tất yếu, khách quan để tồn tại và phát triển. Không chấp nhận hội nhập kinh tế quốc tế chỉ là cách như “đà điểu vùi đầu vào cát” để tránh nguy hiểm, rủi ro, cầu may để tồn tại.

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ VỀ CUỐN “PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY – NHỮNG TRĂN TRỞ VÀ SUY NGẪM” CỦA VŨ TRỌNG KHẢI

Nguyễn Tử Siêm, GS TS Nông nghiệp
Cố vấn trưởng quốc tế, Bộ Ngoại giao, Thương mại và Phát triển Canada


Cuốn sách này bàn về một chủ đề rất đỗi quen thuộc với tất cả chúng ta, những người xa hay gần đều có gốc rễ từ nông dân và chịu tác động ít nhiều qua các bước thăng trầm của nền nông nghiệp. Tác giả PGS TS Vũ Trọng Khải lại thuộc lớp người trải nghiệm những va đập giữa lý luận và thực tiễn, giữa chiến lược, chính sách và số phận nông dân suốt nửa thế kỷ qua, có cách nhìn nhiều chiều và sắc sảo, phản biện quyết liệt và nồng ấm tình cảm, cuốn người đọc cùng trăn trở trước những “Vấn đề dân cày[1] mà Qua Ninh và Vân Đình (Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp) đặt ra từ 77 năm về trước mà cho đến nay vẫn còn bức xúc.
Nhiều đề bài là các câu hỏi: “Sao lại đánh thuế xuất khẩu gạo?”, “Sao lại vẫn còn đánh thuế xuất khẩu gạo?”, “Sao lại đổi rừng tự nhiên lấy vườn cao su?”, “Vì sao một chủ trương đúng (QĐ 80/TTg) lại không được cuộc sống chấp nhận?”, “Làm gì để tăng giá trị hạt gạo và thu nhập của người trồng lúa gạo ở Việt Nam hiện nay?”, “Có hay không tội danh “lập quĩ trái phép” trong vụ án Nông trường Sông Hậu?”, …
Tất cả lại bắt nguồn từ câu hỏi bức xúc nhất: Lối tư duy phi logic, bao giờ hết?
Cuốn sách này khó có thể định loại là chuyên khảo, là giáo trình, là tùy bút, là tạp văn hay hồi ký? Dù là gì nó cũng có giá trị biên niên, ghi lại hiện trạng và những bước chuyển đáng nhớ trong các chủ trương nông nghiệp và xã hội nông thôn nước ta mà các thị dân trẻ sau này khó mà tìm lại. Các học viên có thể tìm thấy những nội dung rất cơ bản về kinh tế nông nghiệp hay xã hội học nông thôn trình bày giản dị mà sâu sắc từ một người thầy từng trải. Người nông dân hay doanh nhân bị oan sai có thể tìm thấy những chứng lý tự bảo vệ mình trong các bài viết dậm chất “thầy cãi” về quyền sử dụng đất hay tự chủ kinh doanh với lối tư duy logic mà tác giả kế thừa từ truyền thống gia đình Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Chính phủ Cụ Hồ. Người luật sư có thể tìm thấy cách lập luận độc đáo, nhà hoạch định chính sách có thể “rút kinh nghiệm sâu sắc”. Ông viết: “Không chia ra ba loại tổ chức khoa học để nhà nước quyết định có tài trợ kinh phí nghiên cứu hay không, như NĐ 115 CP ngày 5/9/2005 của Chính phủ. Cần lưu ý là luật pháp chỉ phân biệt đối xử đối với hành vi, không được phân biệt đối xử với các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện các hành vi đó”; cái “lưu ý” này thật là đáng giá.
Như tác giả tự nhận, ông là “chuyên gia bất đắc dĩ về phát triển nông thôn”, hoàn cảnh buộc phải tự học, mà đã tự học thì phải đào bới tận cùng, chứ không dễ chấp nhận những giáo điều. Tưởng đâu “nông dân” đã thành khái niệm kinh điển rồi, mà nghe tác giả bàn tiếp vẫn không thể bỏ qua: “Xét về mặt pháp lý, người nông dân có toàn quyền tự chủ trong kinh doanh, nhưng xét về mặt kinh tế, họ phải là những người sản xuất gia công theo đơn hàng của các doanh nghiệp. Nếu không, người nông dân không thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh quyết liệt ở qui mô quốc gia cũng như qui mô toàn cầu”. Với khẳng định này, ông bảo vệ cái lý tồn tại (raison d’être) của những người mà cả đời ông gắn bó; những ai bị ám ảnh quan hệ “bóc lột-bị bóc lột” hay “chủ-tớ” chắc cũng khỏi phải phân vân. “Nông dân phải là người được hưởng lợi trước tiên từ những thành quả của quá trình phát triển”. Thế nhưng, cái lợi được hưởng đâu phải tự nhiên mà với điều kiện “chỉ những nông dân sản xuất hàng hóa mới cần và có thể giữ “chữ tín”trong các hợp đồng liên kết với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ở cả “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất”. Cái tư lợi của nông dân xưa cũng phải gỡ bỏ để hài hòa với cả cộng đồng bởi “Không được hy sinh lợi ích của bất kỳ nhóm dân cư nào trong quá trình phát triển nông thôn”. Nghĩ như vậy mới sòng phẳng, vừa thấu tình vừa đạt lý, chính là cái gốc của phát triển bền vững.
Từ tư duy biện chứng thì thực tế “xé rào” được nhìn nhận công bằng hơn: nó cởi trói (do ta tự buộc chứ ai?) cho sự tiến triển bình thường; nhưng chưa đủ, để phát triển tiếp phải có động lực tiếp, mới hơn, mạnh hơn thế, mà tác giả gọi là các chính sách “thúc đẩy”, nó khác hoàn toàn với các chính sách “cởi trói”. Với vai trò thúc đẩy sự phát triển, đạt chất lượng mới cao hơn, nó phải được hoạch định có căn cứ khoa học và thực tiễn, đòi hỏi nhà hoạch định chính sách không chỉ có lương tâm và lòng dũng cảm, mà điều quan trọng hơn là phải có trí tuệ. Bàn về những vấn đề chính tri-kinh tế, khi cần, tác giả cũng dẫn Tư bản luận của K. Marx nhưng không gây cảm giác sáo mòn, mà thấy thật xác đáng.
Giữa những trang viết, những con số có phần khô khan, bỗng vang lên những cái tên nghe thân thương mà nhói lòng. Ấy là Nông trường sông Hậu, là Trần Ngoc Hoằng – người sĩ quan quân Giải phóng “người chiến sĩ ấy, ai đã gặp anh không thể nào quên[2] và Ba Sương[3] – người con gái ông. Hai cha con người nông dân đất phèn rũ bùn đứng dậy sáng lòa[4] trở thành những anh hùng được cả trong nước vả ngoài nước ngưỡng mộ rồi lại bị dập xuống đến mức tội đồ vì “lập quĩ trái phép”. Chuyện đời mà cứ như tiểu thuyết, khi Ba Sương bị tuyên án, cả trăm nông dân xin đi ở tù thay nữ Giám đốc của họ. Đọc bài “Có hay không co tội danh “lập quĩ trái phép” trong vụ án Nông trường Sông Hậu?”, những người làm vụ án này chắc phải tự vấn lương tâm vì sự phá nát một mô hình kinh doanh nông nghiệp có qui mô lớn và đa dạng, tiêu biểu và mai sau chắc con cháu chúng ta sẽ lục tìm lại hàng ngàn trang viết thời đó để đưa vào văn học nghệ thuật như một bài học về sự ấu trĩ một thời.
Cuốn sách là một tập hợp các bài viết đa dạng, bởi vậy khó đem các chuẩn mực ra để bình xét như một công trình khoa học hệ thống và hoàn chỉnh. Lúc nhàn rỗi ta có thể nhẩn nha đọc chơi để thấy muôn mặt đời thường với những câu chuyện một thời ấu trĩ, được kể lại tự nhiên mà đậm chất suy tư trí tuệ và thấm đẫm nhân văn. Tuy tác giả dẫn vào cánh đồng bất tận, vào khu rừng mê cung của các biến động về chính sách và xã hội nông thôn,… nhưng đi cùng ông khá yên tâm, không sợ lạc lối, thể nào cũng tìm được đường ra hay ít ra cũng gợi ý phải nghĩ tiếp hướng nào, nếu ai muốn khám phá với cái tâm trong sáng.
Nhớ có lần 20 năm trước cùng ông đi khảo sát nông nghiệp Trentino, một tỉnh tự trị ở Bắc nước Ý. Những dãy núi Dolomites thuộc Alps hùng vĩ với đỉnh Marmolada (3.343 m) tuyết phủ sao mà giống Phanxipan mây mù đến thế. Tổng Paganella có 5 xã mà chỉ 4.730 người. Trentino rộng 6.000 km2 với nửa triệu dân mà sản xuất tới một nửa sản lượng táo của Ý và đặc biệt nổi tiếng thế giới với mật ong, nho tím và rượu vang chất lượng cao.
Đoàn toàn cấp lãnh đạo cả, lần đầu sang cứ thích ở thành phố thơ mộng Trento mà thưởng ngoạn. Ông thì lại như đắm mình trong không gian dân dã của vùng núi phát triển mà hoang sơ. Chúng tôi cùng lứa, cùng ngành, cũng thích chơi bời lắm nhưng trong đầu vẫn cứ day dứt. Thông trồng cả trăm năm mới khai thác mà họ không mua đứt bán đoạn, sữa được chở bằng xe bán tải giao cho hợp tác xã, ghi sổ rồi sẽ hưởng lợi tận sản phẩm cuối cùng từ miếng phomát bán trên máy bay. Khi ở ta nhiều hợp tác xã “chết chưa chôn được” thì bên này hợp tác xã, liên minh hợp tác xã có cả trăm năm rồi. Khách du lịch không ở khách sạn sang trọng mà lại trú tại nhà dân (cái từ “homestay” nghe thấy lạ!).
Còn ta, phải làm gì, làm sao, bao giờ Sa Pa ta được thế?
Ngẫm ra cái nghề cả nghĩ lúc nào cũng có việc để làm. Bây giờ đọc những bài này tôi càng tin rằng dù sách đã in thì ông vẫn tiếp tục trăn trở, tiếp tục suy ngẫm tìm lối ra. /.
Tháng 1/2015
N. T. S.
Nguồn: Rút từ cuốn sách Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam hiện nay – những trăn trở và suy ngẫm. Bản gốc do tác giả Vũ Trọng Khải gửi.

[1] Qua Ninh và Vân Đình. Vấn đề dân cày. Nhà sách Đức Cường, 1938.
[2] Lời ca khúc của Hoàng Vân.
[3] Trần Thị Ngọc Sương, anh hùng lao động, “Người phụ nữ tiêu biểu châu Á”.
[4] Ý thơ của Nguyễn Đình Thi.


Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

“Văn hóa Tấm-Cám”

Vũ Trọng Khải

Dân tộc nào cũng có những truyện cổ tích. Truyện cổ tích được hình thành, biến đổi theo chiều dài lịch sử hàng ngàn năm của mỗi dân tộc, rồi mới được "định hình". Khi "định hình", truyện cổ tích đã kết tinh được những giá trị phổ quát mang tính triết học, mỹ học và tâm linh mà dân tộc đó tôn thờ, trở thành một bộ phận cấu thành nền văn hoá của dân tộc đó.

Nhớ lại hồi học tiểu học, lớp 3 hay 4, sách giáo khoa tập đọc cho học sinh có truyện cổ tích "Tấm-Cám". Học sinh phải tập đọc và còn được thầy, cô giáo đọc hay kể lại nhiều lần với những phân tích "đắt giá", cố làm cho học sinh "hiểu sâu sắc" hơn những "giá trị" của truyện Tấm, Cám như : truyện Tấm, Cám phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái "thiện" và cái "ác", giữa "chính" và "tà"; kết cục luôn có hậu là "cái thiện" thắng "cái ác", "cái chính" thắng "cái tà" bằng những âm mưu lừa gạt và hành vi độc ác, giống như cách hành xử của “cái ác”, nhưng không bị lên án! Mỗi khi đọc hay kể đến những lần cô Tấm bị mẹ, con cô Cám bày mưu lừa gạt, hãm hại, máu căm thù trong tôi lại sôi lên sùng sục. Ngược lại, khi đọc, hay nghe đến những đoạn “cô Tấm thảo hiền” lừa và trả thù được mẹ, con cô Cám, cũng bằng những thủ đoạn, mưu mô và hành vi độc ác tương tự như mẹ con cô Cám, thì lòng tôi lại hả hê, thích thù vô cùng! Đến đoạn kết, cô Tấm lừa được cô Cám nghe theo lời mình, tắm gội bằng nước sôi để trắng da nên bị chết; cô Tấm băm xác cô Cám để làm mắm, gửi về “biếu” mẹ cô Cám, thì sự độc ác của câu chuyện đạt đến tột đỉnh, nhưng bọn trẻ và có lẽ cả người lớn, lại vui mừng, sung sướng cũng đến tột đỉnh!??

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014

Tôi đã từng là “vật cá độ”

Vũ Trọng Khải

Tôi là con út trong một gia đình có 4 anh, chị em. Chị gái trên tôi lớn hơn tôi tới 7 tuổi. Trên chị gái tôi là 2 người anh trai. Như vậy là ba mẹ tôi đã “có nếp, có tẻ”, nên lẽ ra tôi đã không có mặt trên đời. Rồi ba mẹ tôi lại muốn có 1 bé gái nữa, cho đủ 2 trai, 2 gái. Không ngờ người con út của ba mẹ tôi lại là cái thằng tôi.

Vì thế, tuy đã 4-5 tuổi (vào khoảng năm 1949-1950), ba mẹ tôi vẫn cho tôi mặc đồ bé gái, với mái tóc dài, quăn lượn sóng, bóng mượt và khuôn mặt bầu bĩnh. Cứ đến chợ phiên ở làng (thuộc vùng tự do, tôi không nhớ rõ tên) mấy anh tù thường phạm được phép ra chợ chơi và mua ít đồ, lại bế tôi theo. Họ đố mọi người “bé này trai hay gái?”. Kẻ bảo tôi là bé gái, thua cuộc, phải mời mọi người thắng cuộc, bảo tôi là bé trai, 01 bát (tô) phở. Và dĩ nhiên, mấy anh tù thường phạm này với tư cách là “nhà cái”, luôn thắng cuộc, nên được ăn phở miễn phí!

Ấy là cái thời Bộ Tư pháp quản lý trại giam tù nhân. Lúc đó, ba tôi là Giám đốc Tư pháp khu 10 (gồm các tỉnh Phúc Yên, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang), nên là cấp trên phụ trách mấy vị quản lý trại giam. Vì thế mấy anh tù thường phạm, không gây nguy hiểm cho xã hội, mới đóng được vai “nhà cái” trong cuộc cá độ “bé gái hay trai”.

Khi đã thành án, tù nhân trong nhà tù do ngành tư pháp quản lý chỉ mất quyền công dân, không mất quyền con người. Họ được cải tạo để sớm hoàn lương, chứ không phải “tôi luyện” để trở nên hung ác, tàn bạo hơn sau khi ra tù. Các công an viên không thể đến trại giam để dùng nhục hình, bức cung, buộc họ nhận thêm tội này hay tội khác với lời hứa suông “sẽ được giảm án”.

Mặt khác, do trại giam thuộc quyền quản lý của ngành tư pháp, nên công an viên muốn bắt người, buộc phải làm đúng thủ tục pháp lý theo luật tố tụng hình sự. Nếu tùy tiện bắt giam người, trại giam sẽ không nhận kẻ bị công an viên bắt. Trong thời gian tạm giam, công an viên đến nhà tù để xét hỏi, lập hồ sơ truy tố, không thể mớm cung hay dùng nhục hình buộc tội nghi phạm nhận tội theo ý mình, để lập thành tích “phá án nhanh”. Hết hạn tù theo bản án đã tuyên của tòa, hay hết thời hạn tạm giam theo luật định, trại giam đương nhiên trả tự do cho tù nhân, không cần có quyết định của bất kỳ ai.

Nhưng Bộ Tư pháp đã bị giải thể năm 1960, người ta giao cho Bộ Công an quản lý trại giam. Từ đó đã xảy ra nhiều vụ án oan sai, nhiều vụ ép cung, dùng nhục hình đối với kẻ bị nghi phạm tội, để lập “thành tích phá án nhanh” hoặc buộc phạm nhân đã thành án phải nhận thêm tội này hay tội khác…, nhiều người dân bị chết trong đồn công an… Tình trạng này đã được các phương tiện thông tin đại chúng loan truyền rộng rãi trong thời gian qua, gây bức xúc, bất bình, phẫn nộ trong xã hội. Thế mà, người ta vẫn cứ hô hào cải cách tư pháp để xây dựng “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”.

Thật ra, có những điều rất đơn giản, hiển nhiên đã được thực thi rộng rãi trên thế giới, và ở Việt Nam từ trước năm 1960, không liên quan gì đến ý thức hệ, đến chủ nghĩa Mác-Lênin, đã góp phần không nhỏ trong việc ngăn ngừa sự lạm quyền của những người thi hành công vụ trong việc bắt người, điều tra xét hỏi, và xử án, thi hành án… Những quy định ngăn chặn lạm quyền này dựa trên cơ sở quản trị học, chứ chưa phải dựa trên lý thuyết tạm quyền phân lập.

1. Kế toán viên không thể kiêm nhiệm thủ quỹ, thủ kho. Ai cũng biết trong một tổ chức, nhất là tổ chức có nhiều chủ thể sở hữu, kế toán viên không được kiêm nhiệm thủ kho, thủ quỹ. Quản trị học đã chỉ ra rằng, kế toán viên là người làm thủ tục “xuất, nhập” tiền và vật tư, nếu kiêm nhiệm thủ quỹ, thủ kho, dễ dẫn đến việc tham ô, xuất nhập tiền, vật tư sai quy định của pháp luật và tổ chức đó.

Điều này ai cũng biết. Tương tự, trong tư pháp, nếu công an viên là người làm thủ tục và thực thi việc bắt giam, điều tra, xét hỏi kẻ bị họ nghi là có tội (hành vi này tương tự như kế toán viên làm thủ tục “xuất, nhập” tiền và vật tư), lại trực tiếp quản lý trại giam cả trong giai đoạn chưa thành án và giai đoạn sau thành án (tương tự như thủ kho, thủ quỹ), thì việc oan sai và dùng nhục hình trong điều tra xét hỏi và cả trong giai đoạn thi hành án (sau khi bản án do toàn án tuyên có hiệu lực) là dễ xảy ra như ta đã thấy.

Vì vậy, trại giam phải luôn do ngành tư pháp quản lý. Người quản lý trại giam thuộc bộ hay sở tư pháp đương nhiên sẽ phải quản lý cả kẻ bị nghi có tội và phạm nhân theo theo luật và quy chế của trại giam. Công an viên điều tra, xét hỏi kẻ bị nghi có tội đến xét hỏi ở trại giam dưới sự giám sát, thực thi quy chế quản lý của người quản lý trại giam thuộc ngành tư pháp. Họ không bao giờ để cho công an viên điều tra dùng nhục hình ép cung kẻ bị nghi có tội. Sau khi thành án, người quản lý trại giam không bao giờ lại ép tù nhân phải nhận thêm tội này hay tội khác. Tội của họ chỉ duy nhất có trong bản án có hiệu lực pháp lý do tòa án tuyên.

Tôi còn nhớ năm 1976, tòa của Hà Nội xử ông Tạ Đình Đề. Bà Phùng Lê Trân chủ tọa phiên tòa đã hỏi ông Đề (đại ý): Sao trong tù anh đã khai nhận tội, nay lại phản cung, bác lại tất cả lời khai trước đây đã ghi trong hồ sơ vụ án. Ông Đề đã điềm tĩnh trả lời dõng dạc: Thử hỏi, nếu tôi không nhận hết tội theo ý điều tra viên thì liệu có phiên tòa hôm nay không? Mà theo luật, lời khai trước tòa có giá trị pháp lý cao hơn lời khai trong trại giam. Việc dùng nhục hình bức cung đã xảy ra phổ biến từ khi trại giam do Bộ Công an quản lý.

Hiện nay, có người đề xuất giao lại trại giam cho Bộ Tư pháp quản lý, nhưng không được chấp nhận với lý do là Bộ Tư pháp không có đủ bộ máy nhân sự để quản lý trại giam (?). Thử hỏi, thời kháng chiến chống Pháp, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới được hình thành, tại sao Bộ Tư pháp đã quản lý trại giam tốt như vậy, cải tạo tù nhân, chứ không biến họ thành kẻ căm thù đời, trả thù đời. Ở các nước phát triển, nhà tù còn do tư nhân đầu tư xây dựng và quản lý. Chính phủ hay tòa án đã thuê các nhà tù tư nhân giam giữ, cải tạo tù nhân, làm giảm gánh nặng cho ngân sách và bộ máy nhà nước. Bây giờ, điều đó người ta gọi bằng mỹ từ “xã hội hóa”, thay vì “tư nhân hóa” các hoạt động của xã hội dân sự dưới sự quản lý của nhà nước pháp quyền.

2. Tòa án được thiết lập theo vùng.

Để tránh sự can thiệp của cơ quan hành pháp (chính quyền các cấp huyện, tỉnh), người ta thành lập tòa án 3 cấp theo vùng, không theo đơn vị hành chính. Tùy theo qui mô dân số và yếu tố địa lí, giao thông, các tòa án sơ thẩm liên huyện, phúc thẩm liên tỉnh được thiết lập. Và bên cạnh mỗi tòa án là viện công tố chứ không phải là viện kiểm sát vừa đóng vai trò công tố (buộc tội) vừa đóng vai trò kiểm tra hoạt động tư pháp theo kiểu “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

3. Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, nhưng không theo nhiệm kì Quốc hội hay Chủ tịch nước. Chế độ thẩm phán suốt đời đảm bảo tính độc lập xét xử của họ. Họ chỉ bị bãi nhiệm khi không còn đủ sức khỏe hay phạm tội do một tòa án riêng xét xử.

4. Việc bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao năng lực của thẩm phán do ngành tư pháp đảm nhiệm, nhất là bồi dưỡng theo phương pháp tình huống (case study), phân tích đánh giá các án lệ… Trong thời gian làm Giám đốc Tư pháp khu 10, ba tôi đã rất tích cực và thành công trong việc bồi dưỡng nâng cao năng lực của thẩm phán các tòa án trong khu 10. Rất tiếc là sau cuộc tranh luận với ông Quang Đạm trên báo Sự thật về vai trò độc lập của tư pháp, ba tôi đã không còn giữ chức Giám đốc Tư pháp khu 10 nữa.

5. Để thật sự chống dùng nhục hình ép cung, việc xét hỏi, lập hồ sơ vụ án của điều tra viên phải được thực hiện khi có luật sư; biên bản lấy cung phải có chữ kí của luật sư sẽ mới có giá trị pháp lý. Ước muốn này có “xa xỉ” quá không?!

Tất cả các qui định trên đây thật đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và đã thực hiện ở nước ta từ trước năm 1960. Nhưng không hiểu vì sao, những nhà cải cách tư pháp hiện nay vẫn chưa “ngộ”. Những điều này còn chưa được chấp nhận trong cải cách tư pháp, sửa đổi luật tố tụng hình sự, thì quyền được im lặng của người bị nghi có tội khó có thể được Bộ Công an và Quốc hội chấp thuận. Bao giờ nguyên tắc “sót còn hơn sai”, “suy đoán vô tội” sẽ được tôn trọng, từ khâu khởi tố, bắt tạm giam, điều tra xét hỏi, xử án, tuyên án, giam giữ phạm nhân???

Bao giờ có sự tranh luận bình đẳng giữa công tố viên buộc tội và luật sư bào chữa gỡ tội? Và bao giờ kết quả tranh luận này là cơ sở quan trọng nhất để tòa án tuyên án??? Bao giờ cho đến ngày xưa, cái thời tôi bị làm “vật cá độ” ấy?? Khó lắm thay. Tại cái nước mình nó thế.

11/2014

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

Vài ký ức về ba tôi

(Viết trong những ngày Vu Lan Báo Hiếu tháng 07 năm Giáp Ngọ)

Vũ Trọng Khải

VTKCó lẽ, hầu như mọi người đều có cảm giác hối tiếc, ân hận sau cái chết của cha, mẹ mình. Tại sao lúc cha, mẹ còn sống, mình đã không làm điều này hay điều kia để chăm sóc báo hiếu cha, mẹ mình. Giá mình đã làm điều này thì cha, mẹ mình sẽ vui hơn, hay có thể sống thêm được ít năm tháng nữa cùng con, cháu…! Nhưng lịch sử làm gì có chữ “nếu” hay “giá như”. Thế là, mỗi người chúng ta tiếp tục sống sau khi cha, mẹ qua đời trong niềm hối hận sâu sắc, cho đến khi mình chết và “nhường” lại niềm hối hận ấy cho con cái mình. Phải chăng điều này là muôn thuở? Là như ông bà ta đã dạy “nước mắt chảy xuôi”, “một mẹ nuôi được trăm con, nhưng trăm con không nuôi được một mẹ”…? Để bù lại, người ta lại tìm cách gặp lại cha, mẹ mình bằng cách “gọi hồn”. Người ta thường hỏi hồn cha, mẹ mình rằng cha, mẹ có điều gì buồn lòng vì con, cháu không? Chúng con có thể làm gì bây giờ để cha, mẹ được vui vẻ hạnh phúc hơn ở thế giới bên kia? Hầu như mọi người đều nhận được câu trả lời rằng: Cha, mẹ không có gì buồn phiền về con, cháu và cũng không cần con, cháu phải làm gì cho cha mẹ, ngoài việc cúng giỗ gia tiên, cửu huyền thất tổ cho tử tế!

Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

Câu chuyện thứ chín: Tôi làm nghiên cứu sinh Phó Tiến sĩ Kinh tế Nông nghiệp

Vũ Trọng Khải

Năm 1975, nước nhà thống nhất. Tôi đã công tác ở phòng Chính sách – Giá cả, Vụ Kế hoạch được 8 năm, đủ điều kiện để dự thi làm nghiên cứu sinh ngoài nước. Lúc đó, Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp do Giáo sư Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng đã ra quyết định đúng đắn và quan trọng là phải thi để chọn người giỏi làm nghiên cứu sinh ngoài nước, không phải cử đi học như trước đây. Nếu thi hành triệt để quyết định này thì nhiều đảng viên thuộc thành phần cơ bản “made in connon” (công nhân, nông dân) sẽ không được đi học. Vì thế, một quy định bổ sung là “cử – thi – cử”. Cơ quan quản lý cử cán bộ đi thi. Bộ Đại học tổ chức thi và báo danh người trúng tuyển (đủ điểm) về cho cơ quan của thí sinh. Cơ quan quản lý cán bộ sẽ nhờ cơ quan công an thẩm tra lý lịch thí sinh trúng tuyển, nếu không có vấn đề gì mới ra quyết định cử người trúng tuyển đi làm nghiên cứu sinh. Cuối cùng, Bộ Đại học sẽ phân bổ những thí sinh đã trúng tuyển và được các cơ quan ra quyết định cử nghiên cứu sinh, đến các cơ sở đào tạo của các nước tiếp nhận, cấp học bổng cho Việt Nam, chủ yếu là Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Thứ Ba, 26 tháng 8, 2014

Câu chuyện thứ tám: Cho cậu kiện, tôi xử

Vũ Trọng Khải

Ấy là câu nói của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nguyễn Văn Lộc với tôi hồi cuối năm 1969, năm Kỷ Dậu, khi tôi mới 24 tuổi đời, 2 tuổi nghề.

Chuyện là thế này:

Năm 1968 là tròn 10 năm tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Bắc. Bộ Chính trị giao cho Ban Nông nghiệp Trung ương Đảng tổ chức tổng kết 10 năm hợp tác hóa nông nghiệp. Ban Nông nghiệp lại giao cho Bộ Nông nghiệp việc tổng kết về chính sách của nhà nước khuyến khích phát triển nông nghiệp trong khu vực kinh tế tập thể của nông dân (không bao gồm các nông, lâm trường quốc doanh do Bộ Nông trường Quốc doanh quản lý). Ông Nguyễn Văn Lộc lại giao việc này cho Thủ trưởng trực tiếp của tôi là ông Nguyễn Văn Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, kiêm Trưởng Phòng Chính sách – Giá cả, thuộc Vụ Kế hoạch.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2014

Câu chuyện thứ bảy: Nuôi rẽ

Vũ Trọng Khải

Thời kháng chiến chống Pháp, gia đình tôi tản cư (sơ tán) ra vùng tự do, nơi ở lâu nhất từ năm 1951 cho đến hòa bình lập lại (cuối năm 1954) là thôn Bình Phú, xã Hợp Thành, huyện Đơn Dương, Tỉnh Tuyên Quang, thuộc khu ATK (An Toàn Khu). Ba tôi đi công tác thường xuyên vắng nhà, hai anh lớn đi học xa. Chỉ có hai chị em tôi sống với mẹ. Trong các năm 1952, 1953, 1954, mẹ tôi bị ốm, không có sữa uống. Ba tôi mua mấy con dê sữa để hai chị em tôi chăn dắt và vắt sữa cho mẹ tôi uống hàng ngày. Có lần, ông mang về một con dê sữa giống Ấn Độ, to bằng con bê, lông vàng, khoang trắng, tai to và cúp xuống. Ông bảo con dê này quý vì cho nhiều sữa hơn mấy con dê cỏ, giống địa phương. Dê cỏ chỉ nhỏ bằng con chó, lông màu đen, đôi khi có khoang trắng, tai nhỏ và vểnh, như ta vẫn thấy ở dê núi Ninh Bình ngày nay. Hàng ngày, sau giờ học, tôi chăn dê ở trên núi gần nhà, phải canh chừng không cho lũ dê vào phá nương (rẫy) của đồng bào.