Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu Phê Bình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu Phê Bình. Hiển thị tất cả bài đăng

Một cuốn sách đi qua giới tuyến (Góc nhìn Văn học sử)

 Nguyễn Xuân Vượng

Nhà văn Nguyễn Công Hoan (1903-1977) là một cây bút lão thành của văn học Việt Nam hiện đại, có sức sống bền bỉ trong nhiều thế hệ độc giả. Ông tham gia cách mạng, đảm nhiệm nhiều công việc trong kháng chiến chống Pháp. Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, năm 1957, Hội Nhà văn Việt Nam được thành lập và Nguyễn Công Hoan trở thành Chủ tịch đầu tiên của Hội. Vị trí ấy khiến người ta liên tưởng đến Nguyễn Tuân, người từng giữ cương vị Tổng Thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam từ Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất năm 1948. Hai nhà văn lớn, hai cá tính văn chương rất khác nhau, nhưng đều được đặt vào những vị trí tiêu biểu của đời sống văn nghệ trong những năm đầu của một thời đại mới.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2026

Tiếp xúc và giải mã thơ đương đại – trường hợp bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca của Thanh Thảo

 Nguyễn Phượng

  1.  

Bài thơ Đàn ghi-ta của Lorca của Thanh Thảo được viết theo phong cách thơ tượng trưng có pha màu sắc siêu thực, do đó, trước khi tiếp cận bài thơ, thiết tưởng chúng ta cũng nên nắm vài nét khái lược về thơ hiện đại nói chung và thơ viết theo phong cách tượng trưng, siêu thực nói riêng.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

Thân thể thay lời và nghịch lí tính dục trong tiểu thuyết Haruki Murakami

 Tino Cao

  1. Đt vn đ

Ngôn ngữ chiếm một vị trí đặc biệt trong tiểu thuyết Haruki Murakami. Nhân vật trò chuyện suốt đêm, viết thư, gọi điện thoại, trao đổi qua máy tính, thuật lại những giấc mơ và kể các bí mật từng được giữ kín nhiều năm. Khối lượng phát ngôn rất lớn, song lượng hiểu biết thực sự được chuyển giao lại hết sức giới hạn. Một người có thể kể chính xác điều từng xảy ra mà vẫn không truyền được cho người nghe cảm giác mình từng sống qua. Kinh nghiệm khi chuyển thành lời luôn mất đi một phần cấu trúc cảm xúc ban đầu. Người nghe tiếp nhận câu chuyện từ vị trí riêng, với kí ức, ham muốn và tổn thương riêng. Bởi vậy, lời nói trong Murakami vừa tạo liên hệ, vừa xác nhận sự biệt lập của mỗi ý thức.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2026

Trần Thùy Mai và những giấc mơ hoang tưởng

 Mai Văn Hoan

Trần Thùy Mai bắt đầu được các bạn trẻ yêu thích văn chương ở Huế biết đến khi chị đang học ở trường Đồng Khánh những năm trước giải phóng (1975). Nhưng lúc đó chị chỉ viết lai rai cho vui chưa thật có ý thức như bây giờ. Sau giải phóng chừng một hai năm, tôi may mắn gặp Trần Thùy Mai ở trại viết Vĩ Dạ do Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên tổ chức. Tôi còn nhớ mãi cái dáng thanh mảnh, nụ cười có núm đồng tiền và giọng nói thủ thỉ của Mai. Kết thúc trại, Mai đưa một quyển sổ, nhỏ nhẹ nói với tôi và Hoàng Vũ Thuật: “Hai anh viết cho Mai vài dòng kỷ niệm”. Mới đó mà đã mấy chục năm trôi qua, chẳng biết bây giờ quyển sổ ấy Mai còn giữ không.

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2026

Michel Foucault và hành trình tái tạo lại lịch sử tính dục

 Dương Thắng

Tính dục luôn là chủ đề luôn gây tò mò và tranh cãi trong xã hội. Trong nhiều thế kỷ, con người đã tìm cách hiểu và kiểm soát tính dục của mình thông qua việc nhờ cậy đến tôn giáo hoặc y học. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 19, tính dục mới trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học với sự ra đời của ngành tính dục học.

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2026

Đọc Cố quận của Lê Thị Huệ

 Ngu Yên

Không có cảm xúc thì không có thơ. Trong thi ca không có gì đắt giá hơn cảm xúc. Những thứ khác có thể làm nên bài thơ hay, bài thơ giá trị nhưng cảm xúc làm cho bài thơ sống. Vì vậy, xưa nay trong dòng văn học Việt chưa có ai dám xúc phạm đến cảm xúc, nhất là nhà thơ.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Những truyện ngắn chờ ta đã nhiều năm

 Bảo Chân

Mỗi lần ta đọc lại một cuốn sách, không phải cuốn sách thay đổi, mà là người đọc đã thay đổi”. J. L. Borgès

Tôi đọc truyện ngắn Monsieur Maugham, chúng ta đã chiến thắng tư bản của Thư Uyển đăng trên Tuổi Trẻ số báo in cuối cùng (30-06-2026) vào một chiều cuối tuần, Sài Gòn trời âm u và ẩm ướt sau trận mưa, một kiểu thời tiết khiến người ta dễ buồn buồn để muốn đọc một truyện gì đó. Một kiểu tâm trạng thật lạ. Khi đọc đến hết truyện tôi đã lẩm bẩm: Thư Uyển viết lên tay hẳn rồi! Lối văn viết hay quá. Kỹ thuật viết câu ngắn xen lẫn câu dài rất khéo, cách ngắt câu ấy tạo ra một nhịp điệu của mạch kể nhịp nhàng trong văn bản. Giọng điệu kể vừa hài hước lại vừa khiến tôi mủi lòng.

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2026

"Không của hoàng hôn": Bản tráng ca về khát vọng tồn sinh

Lê Thọ Bình

Đoàn Huy Giao là một “gã khổng lồ ẩn mình” của thi ca Việt. Gân guốc như chính cuộc đời một đạo diễn phim tài liệu và người sáng lập Bảo tàng Đồng Đình, thơ ông đẫm hơi đất, giàu suy tưởng. Trường ca “Không của hoàng hôn” là bản tráng ca về cuộc đời, tình yêu và khát vọng tồn sinh, cất lên tiếng nói chống lại sự tàn úa của ý thức.

Chủ Nhật, 12 tháng 7, 2026

Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân: mê cung chữ, mê cung phận người

 Lê Thị Hường

Tiểu thuyết Hồ Anh Thái không có yếu tố tự truyện. Nhưng đọc nhiều tác phẩm của ông cảm giác về cái tôi nhà văn luôn đậm rõ.

Trong tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân*, với cấu trúc “truyện trong truyện” đa tầng, Hồ Anh Thái đã xen vào một văn bản đặc biệt là cuốn nhật ký của một người lính Việt Nam được dịch và xuất bản tại Mỹ. Chung quanh cuốn nhật ký là những sự kiện lịch sử, kể cả cuộc bàn bạc giữa bà biên tập và người dịch về những cái tên đề xuất (từ “Người sinh viên nheo mắt trái”, “Chùm hoa sữa rơi xuống đầu tôi” đến “Một bông hoa rơi xuống đầu tôi: Nhật ký và thơ của một người lính Hà Nội trong chiến tranh Việt Nam”).

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Tiếp xúc và giải mã thơ đương đại như thế nào? Trường hợp Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Phượng

Nguyễn Đình Thi là một khuôn mặt quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện/đương đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền lịch sử văn học đất nước, từ những cuộc tranh đấu giành chủ quyền, đến hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Nguyễn Đình Thi hiển nhiên được coi là một nghệ sĩ tài hoa và tài năng qua nhiều bộ môn sáng tác: nhạc, thơ, tùy bút, bút ký, lý luận, truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch. Ðồng thời ông cũng đảm nhiệm nhiều trọng trách văn nghệ: Ủy viên chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948, Tổng Thư ký Hội Văn Nghệ từ 1956 rồi Hội Nhà văn hơn ba mươi năm (1958-1989), làm Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp các hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam.

Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh niên Cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa Cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc dân Ðại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I.

Nguyễn Đình Thi là Thủ khoa thi Tú tài toàn Đông dương năm 1941.

Từ 1942, khi còn rất trẻ ông đã viết hàng loạt sách triết học. Có thể liệt kê: Triết học nhập môn, Siêu hình học, Triết học Aristote, Descartes, Kant, Nietzsche, Darwin, Einstein ...

Đó có thể là lý do, trong tư duy thơ Nguyễn Đình Thi có những “nề nếp và nền nét riêng” khiến ông như tách hẳn thành tiểu phái và độc hành.

Thời kỳ sau độc lập và đầu kháng chiến ông sáng tác nhạc, nổi tiếng nhất là bài Diệt Phát xít, Người Hà Nội, về mặt trận Hà Nội đầu 1947. Thời chống Pháp, ông tham dự hầu hết các chiến dịch lớn, Tây Bắc 1948, Biên giới 1949, Trung du 1951, Hòa Bình 1952. Ở mặt trận Ðiện Biên 1954, ông làm chính trị viên phó Tiểu đoàn, đánh lên đồi A1, sau đó làm công tác tù binh.

Có thể thấy cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Đình Thi cháy sáng trên nhiều lĩnh vực và thể loại sáng tác. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Nguyễn Đình Thi vẫn là thơ với vai trò người đi tiên phong cho một loại hình thơ hiện đại thoát khỏi từ trường của thơ mới mà ngày nay nhiều người đã định danh là thơ tự do không vần.

I. Bối cảnh xuất hiện thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi

Dù thế nào, cách mạng tháng 8/1945 trên thực tế đã chấm dứt phong trào Thơ Mới và tạo điều kiện cho một cách tân trong thi ca.

Một phong trào cách tân trong thi ca đương nhiên cần một sự thay đổi lớn từ gốc rễ về thời đại, xã hội và môi trường nghệ thuật cùng sự tiếp sức của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.

Nguyễn Đình Thi dù khoảng cách tuổi tác không lớn với các thi sĩ thơ Mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… nhưng dường như ông không dính líu gì với cuộc cách mạng trong thi ca trước 1945 có tên thơ Mới và ông cùng với thế hệ mình có đủ những điều thuận lợi cũng như thử thách để tiến hành một cuộc chạy tiếp sức trong thi ca Việt Nam khởi hành từ thơ Mới.

Chính Nguyễn Đình Thi cũng đã nói lên điều đó: “Nhịp sống chúng ta, từ sau cách mạng, đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ra ào ạt. Chúng ta không còn sống khoan thai như một thời nào trước. Nhịp điệu cũ, theo tôi, không còn đủ cho thơ của chúng ta. Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhưng lúc nào cũng là một sức đang lên như thổi”.

Thực tế kháng chiến, những cảm hứng của một thời đại mới, tư thế phát ngôn nghệ thuật mới đã khiến Nguyễn Đình Thi nỗ lực viết mới và viết khác.

Sự xuất hiện của những bài thơ không vần như Không nói, Sáng mát trong như sáng năm xưa, Đường núi, Đêm mít-tinh…của Nguyễn Đình Thi, bên cạnh Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Ðèo Cả của Hữu Loan, Ngoại ô Mùa đông 46 của Văn Cao… có thể xem như một dấu hiệu khá đặc biệt của một sự lên đường mới của thơ Việt.

Tuy nhiên, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi cũng gần như ngay lập tức bị cản trở được đánh dấu bằng Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (từ 25 đến 28 tháng 9 năm 1949) trong đó có cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi, với sự lên tiếng khá sôi nổi và gay gắt của nhiều tên tuổi lớn của phong trào thơ Mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, cùng đương kim lãnh đạo văn nghệ kháng chiến: Tố Hữu. Tư liệu về cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi hiện còn lại là bài tường thuật đăng trên tạp chí Văn nghệ số kép 17-18, cũng gọi là số tranh luận (tháng 11&12/1949). Một buổi chiều tranh luận (thời gian dành cho tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi: chiều 28/9/1949) được đăng tải trên 14 trang tạp chí (khoảng 5 ngàn chữ) cho thấy tường thuật khá kỹ lưỡng.

II. Những đề xuất mỹ học và thi pháp mới qua thơ tự do không vần

Trước khi nói về những đóng góp về mỹ học và thi pháp của thơ tự do không vần xin nói vắn tắt những điểm quan trọng về mỹ học và thi pháp của thơ luật vần. Như đã biết, các yếu tố cơ bản tác động sâu sắc vào thể loại cụ thể với thơ bao gồm: một là cái Tôi, hai là cấu trúc, ba là thi ảnh, bốn là nhịp điệu, nhạc điệu và cú pháp và năm là ngôn ngữ. Theo đó, trong thơ truyền thống và thơ theo luật Đường thi cái Tôi thường bị phi ngã hóa, nó tuân thủ luật ”thuật nhi bất tác” hạn chế sáng tạo cá nhân do đó, thơ truyền thống ít để lại các dấu ấn cá tính. Cũng vậy, cấu trúc thơ truyền thống đặc biệt là thơ luật Đường do sự khống chế của luật thơ nghiêm ngặt thường theo mô hình song hành, đối ngẫu. Các yếu tố còn lại như thi ảnh thường mang tính ước lệ, tượng trưng, nhịp điệu thường cổ kính, mang tính ấn định, ngôn ngữ thường trang nhã, hoa lệ.

Với các đặc điểm trên, thơ truyền thống, thơ theo luật Đường và kể cả thơ Mới giai đoạn đầu thường mang tính khả đoán, khiến nó tự hạn chế thi tính của chính nó. Chẳng phải ngẫu nhiên, Lê Đạt lại nhận xét: “Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường đến đúng hẹn, trong một bài thơ hiện đại nghĩa thường đến trễ giờ”.

Như đã nói, thơ có vần khi bước vào nhịp sống hiện đại mà cụ thể ở đây là đời sống kháng chiến ở Việt Bắc bộc lộ những hạn chế của nó. Chính Nguyễn Đình Thi trong khi bị phê phán vì làm thơ tự do không vần đã nhận xét rất chính xác về thơ truyền thống theo luật vần.

Ông nói:

Có vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhưng không phải hết vần là hết thơ… Những bài thơ cũ, cùng một nhịp đều đều, tôi không chịu được”.

Đây là lý do chính khiến Nguyễn Đình Thi quyết định viết thơ theo cách thức mới.

II.1 Cái Tôi (le moi) trong thơ tự do không vần

Một hình thức thơ mới trước hết cần có một cái Tôi mới.

Cuộc kháng chiến gian khổ, cam go không ngăn cản thế hệ Nguyễn Đình Thi đề xuất một thế cách nhìn cuộc đời không theo những kinh nghiệm cũ. Với tinh thần phóng túng của những người sở hữu tự do, các nhà thơ sau 1945 muốn giải thể các lối viết trước đó bằng việc tạo ra những hình ảnh độc đáo, đôi khi khá xa lạ với hiện thực, sắp đặt những thực thể dường như không có bất cứ một mối liên hệ nào cạnh nhau tạo nên tính phi lí cao độ gây ngạc nhiên đối với công chúng. Tuy vậy, nếu đọc một cách chủ động và cởi mở cũng như suy ngẫm kĩ người ta sẽ thấy tính phi lí lui dần, nhường chỗ cho những gì có thể chấp nhận được. Và thực ra, những hành động sáng tạo có vẻ “ngược đời” ấy, suy cho cùng lại chứa đựng một nỗ lực đáng trọng bởi họ muốn phản ánh thực tại ở chiều sâu. Nghệ thuật mới chứa đựng niềm mong mỏi của con người hiện đại, khao khát được thâm nhập sâu vào nội giới của vật thể, do đó, nó tích cực khai thác các tiềm năng của vật liệu nhằm đề xuất một hướng tiếp cận mới, hữu hiệu hơn. Nhờ chủ trương này, chủ nghĩa siêu thực đã thúc đẩy những tiến bộ khá đáng kể trong văn học nói chung và cho thơ nói riêng.

Riêng đối với thơ, có thể thấy, thơ hiện đại dòng tự do không vần tạo nên sự khác biệt với thơ cổ điển và lãng mạn ở việc thể hiện vai trò của "cái tôi". Trong quan niệm thông thường, cái tôi (le moi) vẫn được coi như là yếu tố trung tâm, khơi nguồn sáng tạo. Nhưng đối với các nhà thơ tự do không vần, vị trí của "cái tôi" đã không còn như trước nữa: nó đã mất địa vị độc tôn, bị lu mờ và bội phân, thậm chí lũy thừa để trở thành cái tôi đa ngã (le moi multiple). Không dừng lại ở đó, kẻ sáng tạo trong thơ tự do không vần còn muốn đi xa hơn, coi cứu cánh của động tác thi ca nằm ở sự biểu lộ, phát giác cái tôi chưa biết (le moi inconnu).

Tóm lại, thi ca hiện đại, đặt lại vấn đề cái tôi, xây dựng một cái tôi mới với cấu trúc đa bội như có người đã gọi bằng thuật ngữ đa ngã (le moi multiple) và cả nỗ lực tìm kiếm và khám phá một cái tôi chưa biết (le moi inconnu) với khát vọng tạo lập mối quan hệ tương giao giữa con người nhất thời với con người muôn thuở nhằm kiếm tìm những kinh nghiệm mới trong quan sát và cảm nhận để diễn đạt những điều không thể hay rất khó diễn đạt của thế giới hiện đại.

Ở trường hợp Nguyễn Đình Thi, đó là cái tôi dấn thân phát huy năng lực trải nghiệm trực tiếp, mở rộng năng lực cảm giác để hướng tới diễn đạt một thời đại mới như nó là.

II.2 Cấu trúc thơ tự do không vần

Về cấu trúc, theo nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu, thơ tự do không vần rời bỏ hình thức thẳng (forme linéaire) chuyển sang hình thức nổi (typographique), hay hình thức âm thanh, đi vào cấu trúc không gian, không vần (non vers), đảo lộn ngữ pháp cổ điển: cắt chữ, phân câu theo một trật tự mới, sáng lập ra ngôn ngữ cách tân, dựa trên ngữ căn học. Phong cách này bắt nguồn từ quan niệm thẩm mỹ và triết lý gián đoạn, đối lập với quan niệm thẩm mỹ đối ngẫu, song song hay tuyến tính, liên tục hiện diện trong thơ truyền thống và cả thơ Mới trước đó.

Với Nguyễn Đình Thi ông nói giản dị:

"Tôi mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đạt tới độ cảm xúc mãnh liệt, nếu cần nói hơi dài, dùng những câu dài. Nếu hơi ngắn, nói ngắn. Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi tưởng nó cần phải khoẻ, gần gụi, xù xì, chất phác, chung đúc tự nhiên”.

Đây chính là quan niệm niệm sáng tạo gần với bản chất đích thực của thơ. Nó là một mong mỏi mỗi hành ngôn thơ thật sát với một hành ngôn đời thường nhưng phải mang trong nó một cảm xúc thật mãnh liệt.

Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm

Ngây ngất sương mây

Lối mòn không dấu chân

Gió nổi

Ta nghe ta hát một mình

Ôi cánh đồng

Chiều nay rung rinh lúa ngả

Giải lụa đào bay múa

Tiếng hát ai lênh đênh

Bờ tre xôn xao ánh lửa

Bếp hồng trang giấy trắng khuya

Mịt mùng súng vẳng

Một mảnh trăng

dốc ngả chập chùng

Bước chân bóng động nghiêng bờ núi

II.3 Thi ảnh thơ tự do không vần

Trong tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi quan niệm:

Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nẩy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hay trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hằng ngày, tâm hồn tự nẩy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa tóe lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng”.

Quan niệm đó được ông thể hiện đầy đủ và đặc sắc trong thơ viết giai đoạn đầu kháng chiến.

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

(Sáng mát trong như sáng năm xưa)

Hà Nội nát người trong gai sắt

Máu chảy hồng tươi bất khuất

(Hà Nội đêm nay)

Ôi nắng dội chan hòa

nao nao trời biếc

Nắng nhuộm hương đồng ruộng, hương rừng chiến khu

Tháp rùa lim dim nhìn nắng

(Sáng mát trong như sáng năm xưa)

Chính Nguyễn Đình Thi nói rõ: “Những hình ảnh tươi nguyên mà nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng. Vì nhà thơ nhìn bằng con mắt của người đầu tiên. Đó là những hình ảnh mới tinh, chưa có vết nhòa của thói quen, không bị dập khuôn vào những ý niệm trừu tượng định trước. Mượn câu nói của một nhà văn Pháp, nhà thơ bao giờ cũng là ngôi thứ nhất. Nhưng những hình ảnh mới lạ ấy đều ở trong đời thực, chúng ta đều thấy, hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta tự bao giờ. Câu thơ đột ngột làm cho ta nhận thấy những cái gần gụi nhất với chúng ta. Trước kia, ta vẫn gặp mà không biết nhìn”.

Đúng vậy.

II.4 Nhịp điệu thơ tự do không vần

Ezra Pound cho rằng nhịp điệu cần nương theo chuỗi nhạc tiết (sequence of the musical phrase), không phải những âm tiết, thể hiện cảm xúc và trí tuệ phức tạp trong khoảnh khắc[1], tuy nhiên, T.E. Hulme lại khẳng định thơ gần với điêu khắc hơn âm nhạc, thị giác hơn thính giác, tức không cho âm thanh là yếu tố căn bản của thơ[2].

Những trao đổi trên trong thơ phương Tây diễn ra khoảng giữa thế kỷ XX và, trong hoàn cảnh kháng chiến, chắc khó mà đến được với Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên, những nỗ lực cách tân thơ của ông thì rất gần với những nỗ lực trong thơ phương Tây thế kỷ XX.

Đỗ Lai Thúy khi nói về nhịp điệu trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng nhấn mạnh một đóng góp mới mẻ của riêng ông: nhịp điệu của hình ảnh. Nhịp điệu của hình ảnh, theo Nguyễn Đình Thi, không phải là nhịp điệu sinh học (hơi thở ngắn dài), cũng không phải là vần điệu (lên bổng xuống trầm), cũng không phải là nhịp điệu cú pháp, mà là thứ nhịp điệu chỉ nghe được bằng mắt. “Đó là nhịp điệu hình ảnh của những cảm xúc, hình ảnh, liên tiếp hòa hợp, mà những tiếng và chữ gọi ra những ngân vang dài, ngay giữa khoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động”.

Hãy đọc:

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

Ôi nắng dội chan hoà

Nao nao trời biếc

Gió đượm hương đồng rộng

Hương rừng chiến khu

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng

Những cánh chim non

Trông vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người

Hung hăng một buổi

Tháng Tám về rồi đây

Hôm nay nghìn năm gió thổi

Trời muôn xưa

Đàn con hè phố

Môi hớn hở

Ngày hẹn đến rồi

Các anh ngậm cười bãi núi ven sông

Hà Nội

Ơi núi rừng.

Cũng có thể nói, về phương diện nhịp điệu, thơ tự do không vần chủ trương tạo nhịp điệu mới với lý do nhằm diễn đạt trạng thái mới của thời đại. Dĩ nhiên nó từ chối sao chép lại nhịp điệu cũ vì cho rằng đó chỉ là lặp lại những âm vang của trạng thái cũ và, nhịp điệu mới còn có nghĩa là chuyên chở được những ý tưởng mới.

II.5 Ngôn ngữ thơ tự do không vần

Trong thơ tự do không vần, ngôn ngữ được nới lỏng do các nguyên tắc vần cuối dòng bị phá bỏ, các nguyên tắc tạo nhịp và nhấn theo luật dường như cũng bị giải thể. Thơ viết theo điệu ngâm truyền thống cũng từ đó mà nhường chỗ cho thơ điệu nói.

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi quả thật rất giản dị, ngôn từ được cất lên tự nhiên và hồn nhiên. Có thể thấy ông dường như chỉ dùng những từ thuần Việt. Hành ngôn thơ của Nguyễn Đình Thi gần một hành ngôn đời thường. Về đặc điểm này, Đỗ Lai Thúy đã nhận xét chính xác: “Tính chất trực tiếp này do nhà thơ hoàn toàn dựa vào thực tại, không tìm kiếm thi liệu ở sách vở. Nó ứ đầy chất sống, nó là sự sống, là cuộc đời”.

III. Những ảnh hưởng của thơ tự do không vần với các thế hệ tiếp nối

Cũng chính ở đặc điểm đã nói ở II.5, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi dễ lan tỏa và tạo sức ảnh hưởng lớn đối với các văn nghệ sỹ miền núi trong các thế hệ tiếp nối do chỗ, các thế hệ văn nghệ sỹ ở các miền đất này trong quá trình sáng tạo của mình không có xu hướng xích gần tới các khuynh hướng nặng tính hàn lâm, kinh điển hoặc sính các mã nghệ thuật thời thượng và tân kỳ.

Có thể thấy điều đó qua một số gương mặt thơ xuất hiện từ sau 1975 ở Tuyên Quang qua các hình thức lập tứ phóng khoáng, tìm kiếm những hình ảnh chân mộc, nỗ lực kiến tạo những hành ngôn thơ gần với những hành ngôn ngày thường rời xa những ràng buộc về vần, luật.

Chẳng hạn với Gia Dũng:

Đêm nay ta đi, Trường Sơn lộng gió

Trời vắng trăng sao nhưng trong tim rực lửa

– Đi ta làm ngọn sóng giữa trùng dương

Quật xuống đầu thù bằng sức mạnh Trường Sơn!

Ở Mai Liễu với Ta mãi còn đi, còn đến Tân Trào:

Tôi muốn hôn lên tảng đá cạnh lều

Từ vô tri đã hoá thành huyền thoại

Ngấm vào thớ đá, chân rêu:

Đây chỗ Bác ngồi viết lời kêu gọi

Toàn dân đứng dậy cướp chính quyền.

Nơi Bác đọc công văn và tiếp các nhà cách mạng

Nơi nhận nắm xôi, gói thuốc của đồng bào

Nơi Người tựa lưng khi vừa lui cơn sốt

Cây rừng tròn bóng ô xanh…

Ở Nguyễn Đức Hạnh với Bài ca xứ sở:

Không phải nắng cuối mùa sao đã nhạt

Tuyên Quang lặng lẽ một miền đồi

Em mười tám tóc buông ngày trễ nải

Ta về thanh thản chút buồn riêng…

Ở Tạ Bá Hương:

Tôi như hạt thóc mẹ gieo ngoài đồng

Cứ hồn nhiên cứ âm thầm

Tự thân tách vỏ đội mầm lớn lên.

Và khá đặc biệt ở Đoàn Thị Ký

Một nền trời

Độ bút

Một trái tim

Trái tim đập ngoài chuẩn mức

[…]

Cung hồng thắm

Nảy nòi

Trả trắng

Một ngày chơi.

(Độ giấy)

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Đặng Tiến: Nguyễn Đình Thi và tiếng chim từ quy. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003.

2. Đỗ Lai Thúy: Nguyễn Đình Thi – cánh én bay qua mùa xuân. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003.

3. Hoài Anh: Nguyễn Đình Thi – Vai trò nhà văn tiên phong trong văn học cách mạng. 2010. https://trieuxuan.vn/nguyen-dinh-thi-nha-van-di-tien-phong-trong-van-hoc-cach-mang

4. Hulme, T. E. A Lecture on Modern Poetry, 1908. In lại trong Michael Roberts: T. E. Hulme. London: Faber and Faber, 1938.

5. Lê Đạt: Thơ Lê Đạt (1929 - 2008). https://tienphong.vn/tho-le-dat-1929-2008-post120815.tpo

6. Pound, Ezra. A Retrospect. Trong Pavannes and Divisions. New York : Knopf, 1918. In lại trong Literary Essays of Ezra Pound, T. S. Eliot ed., New Directions Publishing, 1968.

7. Nguyễn Đình Thi: My ý nghĩ v thơ. Viết từ năm 1949, đăng lại trên Tạp chí Tác Phẩm Mới, số đặc biệt về thơ, số 3-1992.

PHỤ LỤC:

Các bài thơ không vần của Nguyễn Đình Thi viết ở Việt Bắc thời kỳ đầu kháng chiến

Không nói

Dừng chân trong mưa bay

Ướt đầm mái tóc

Em em nhìn đi đâu

Môi em đôi mắt

Còn ốm đây (*)

Nhìn em nữa

Phút giây

Chiều mờ gió hút

Bắt tay

Đồng chí

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy

Sáng mát trong như sáng năm xưa…

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

Ôi nắng dội chan hoà

Nao nao trời biếc

Gió đượm hương đồng rộng

Hương rừng chiến khu

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng

Những cánh chim non

Trông vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người

Hung hăng một buổi

Tháng Tám về rồi đây

Hôm nay nghìn năm gió thổi

Trời muôn xưa

Đàn con hè phố

Môi hớn hở

Ngày hẹn đến rồi

Các anh ngậm cười bãi núi ven sông

Hà Nội

Ơi núi rừng

Đường núi

Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm

Ngây ngất sương mây

Lối mòn không dấu chân

Gió nổi

Ta nghe ta hát một mình

Ôi cánh đồng

Chiều nay rung rinh lúa ngả

Giải lụa đào bay múa

Tiếng hát ai lênh đênh

Bờ tre xôn xao ánh lửa

Bếp hồng trang giấy trắng khuya

Mịt mùng súng vẳng

Một mảnh trăng

dốc ngả chập chùng

Bước chân bóng động nghiêng bờ núi

Đêm mít-tinh

Muôn ngàn đêm hẹn nhau họp đêm nay

Yên lặng nép ngồi

Tia vàng vút bay

Tung lên hoa lửa

Lên lên mãi

Một vầng sao ngời muôn vầng sao

Bụi ngọc ngập trời

Rơi rơi trên đầu trên cổ

Trên ngón tay

Triệu triệu sao

Rừng Việt Bắc

Trời sao đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những xóm đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

Ngàn sao phơi phới đang bay

Dạt dào mắt không thấy nữa

Dưới kia Hà Nội nhìn lên

Phố phường nín thở

Những lề đường mòn cũ

Lành lạnh mưa phùn

Hà Nội

Một mình buồn xé ruột

Ngày ngày thức dậy

Quay mặt đi đâu ngày hôm nay

Gió mùa đông trong lá chưa đi

Còn đến bao giờ bao giờ

Đêm nay trời sao trắng bạch

Cháy trùm đất nước

Đêm loè sáng

Đi lên đi lên

Ta lớn ta khoẻ

Súng ta rợp đồng

Ngàn sao chào múa

Trời nắng bỏng

Bao nhiêu tường chói loá

Những lùm cây cháy cả lên

Rừng Phan Lương dữ dội reo hò

Đỏ đỏ trôi đường phố

Hà Nội phố hè ngực đập thình thình

Tiếng hát reo cười cuốn trào nước mắt

Sao ơi núi rừng ơi nức nở.


[1] "As regarding rhythm: to compose in the sequence of the musical phrase, not in sequence of a metronome." (Về nhịp điệu: hãy sáng tác theo chuỗi nhạc tiết, chứ không phải theo chuỗi âm của một máy gõ nhịp.). Literary Essays of Ezra Pound, tr. 5.

[2] “This new verse resembles sculpture rather than music; it appeals to the eye rather than to the ear. It has to mould images, a kind of spiritual clay, into definite shapes.” (Câu thơ mới này giống như tác phẩm điêu khắc hơn là âm nhạc; nó hướng đến thị giác hơn là thính giác. Nó phải nhào nặn những hình ảnh, một loại đất sét tinh thần, thành những hình dạng nhất định.). In lại trong A Lecture on Modern Poetry, tr. 269-270.

Trần Đức Thảo là ai? Cuộc đời và sự nghiệp của một triết gia người Việt

Alexandre Féron, Qui est Tran Duc Thao? Vie et œuvre d’un philosophe vietnamien – Contretemps, CONTRE TEMPS tháng 2/2014
Hoàng Lan Anh
dịch

 

Phần 1: Cuộc đời học thuật dấn thân ở Pháp

 

Nhìn lại dự án trí tuệ đầy tham vọng và cuộc đời đầy biến động của triết gia Marxist người Việt Nam này: quá dấn thân dưới mắt các nhà triết học, quá triết học đối với các nhà hoạt động, và ông bị cuốn vào những mâu thuẫn của thế kỷ. (ND: Vì bài quá dài, chúng tôi tách làm hai phần để dễ đọc. Sau đây là phần 1 liên quan đến những hoạt động triết học ở Pháp).

Thơ của một người đạp xích lô ở Huế

 Mai Văn Hoan

Ở Huế, nói đến Nguyễn Văn Phương rất ít người biết nhưng Phương Xích Lô thì trong giới văn nghệ sĩ và những người hành nghề đạp xích lô hầu như ai cũng biết. Không chỉ ở Huế mà một số người làm thơ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt... cũng biết tiếng anh. Phương từng là “đệ tử” của Bùi Giáng. Lối sống bụi bặm, hoang dã, tự nhiên, thực ảo, say tỉnh và phong cách cuồng ca của anh ít nhiều chịu ảnh hưởng thi sĩ họ Bùi. Huế vắng bóng anh có phần yên tĩnh hơn nhưng cũng có vẻ như đơn điệu hơn bởi đã mất đi một giọng thơ đầy bản năng, đầy chất thi sĩ.

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Về mối quan hệ giữa Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ái Quốc và Lê Hồng Phong

 Nguyễn Ngọc Giao

Trong chính sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, người ta chỉ viết vắn tắt Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941) và Lê Hồng Phong (1902-1942) đã kết hôn năm 1934 ở Thượng Hải (một vài văn kiện lại viết 1935 ở Moskva). Ông Lê Hồng Phong (tên thật là Lê Huy Doãn, bí danh Litvinov, Hải An, rồi La Anh) được cử làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1935, về nước năm 1936, bị giam và chết trong tù). Nguyễn Thị Minh Khai (tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, bí danh là Duy, Phân Lan, Năm Bắc, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn) bị bắt năm 1940, kết án tử hình và xử bắn ngày 28.8.1941.