Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý Nhi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ý Nhi. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 3 tháng 6, 2026

Nghe Bài hát trong giấc mơ của Tuấn Khanh

 Ý Nhi

Tối muộn, sau tất cả những tin tức bộn bề, từ chiến sự đến hội nghị thượng đỉnh, từ động đất, mưa lũ đến giá dầu, từ liên hoan phim Cannes đến các phe nhóm chính trị… tôi gần như đi lạc vào Bài hát trong giấc mơ của Tuấn Khanh (tôi nói “gần như” vì tôi tin rằng mỗi lần ta “đi lạc” trong đời, luôn có một sự dẫn dắt từ đâu đó).

Tôi nghe đến cái tên Tuấn Khanh lần đầu tiên cách nay đã mấy mươi năm, khi tôi còn đi làm. Hồi ấy, nhà báo trẻ viết bài về thực trạng của âm nhạc Việt Nam đương thời. Gần như ngay lập tức, Hôi Âm nhạc thành phố, hội Âm nhạc trung ương lên tiếng phản bác, các nhạc sĩ tên tuổi “trấn áp” nhà báo trẻ, gán cho anh anh những lỗi, những tội rất nặng. Hồi đó tôi đã nghĩ làm sao mà mấy ông to đùng ấy lại đi ăn hiếp một nhà báo còn rất trẻ khi anh ta nói lên sự thật? Tôi cũng nghe nói sự kiện đó là một bước ngoặc trong cuộc đời Tuấn Khanh.

Từ bấy đến nay, dù biết Tuấn Khanh có nhiều hoạt động trong vai trò một nhạc sĩ, dù đôi lần nhìn thấy anh trong Ban giám khảo các cuộc thi âm nhạc, dù có nghe tên anh gắn với các ban nhạc trẻ đình đám, các ca khúc trữ tình được yêu thích nhưng tôi quan tâm nhiều hơn đến các bài viết của anh (mà tôi biết chỉ là một phần rất nhỏ trong cái kho lưu trữ giàu có, phong phú ấy)[1].

Nhưng vậy, cũng đủ để tôi hiểu những lời nhà báo Mạnh Kim viết về Tuấn Khanh: “Một cách chính xác, anh là nghệ sĩ-viết. Khanh viết đẹp. Khanh viết bằng cảm xúc, nhiều khi hơi đậm nhưng không cây bút nào viết “ra nước mắt” và thẩm thấu ruột gan bằng anh[2].

Vậy mà, mãi gần đây tôi mới giáp mặt Tuấn Khanh, trong vài dịp cà-phê đông người.

Tôi chưa khi nào trò chuyện, trao đổi với anh, ngoại trừ một lần Tuấn Khanh nhắn tin cho tôi đề nghị một cuộc phỏng vấn nhưng rồi việc không thành.

Âu cũng là một cách gặp gỡ.

** *

Tuấn Khanh hát bài Bài hát trong giấc mơ

Bài hát trong giấc mơ là một gặp gỡ khác.

Có một chiếc guitar trong tay nhưng chỉ sau vài nốt dạo đầu, nhạc sĩ đã dừng lại, ôm cây đàn và hát… chay. Có thể đúng lúc này, cách nào đó, anh cảm thấy anh cần cất tiếng nói của mình một cách trực tiếp, duy nhất, không cần và không muốn có sự phù trợ nào.

Đêm qua tôi mơ thấy một bài ca mới/ Bài ca không vui bài ca ngậm ngùi/ Bài ca tối đen như thân phận người/ Bài ca âm vang trong con tim tôi/ Tiếng hát bay lên cất lời tự do/ Tiếng hát băng qua bao đêm tối ngục tù/ Mơ tới tương lai xô ngã đi hận thù/ Bài ca âm vang/ Xuyên qua tim nhau/ Giọt máu đỏ tươi/ hát lời Việt Nam… Đêm qua tôi mơ thấy một bài ca mới/ Bài ca quê hương ngày không bình thường/ Ngày không máu xương mà vẫn thật buồn… Bài ca âm vang trong con tim tôi/ Lấp lánh khát khao làm người tự do/ Chia sớt oan khiên chia sớt những muộn phiền/ Nắm lấy tay nhau không cam sống phận hèn… Thức giấc trong đêm nhớ một bài ca/ Thức giấc trong đêm thấy buồn làm sao… Bài ca trong giấc mơ khát khao tuyệt vời/ Bài ca trong giấc mơ hát không thành lời.

Đã có biết bao những ca khúc nói về giấc mơ, nào là  Những giấc mơ dài, Câu chuyện về những giấc mơ, nào là Những giấc mơ qua rồi, Giấc mơ có thật, nào là Vỗ về giấc mơ, Khi giấc mơ về, nào là Giấc mơ thần tiên, Tìm lại giấc mơ, Trong giấc mơ

Và Tuấn Khanh thuở nào đó cũng từng có Bay trên những giấc mơNhững giấc mơ dịu dàng với Đêm qua ngủ quên giữa trời/ Ta bay vào trong thế giới/ Bay trên hàng trăm giấc mộng/ Âm vang đời đang bão lên/ Đêm qua ngủ quên giữa trời/ Chung quanh cỏ xanh giăng lối… Những giấc mơ xưa ôi sao thật đẹp thiết tha/ Phố vắng chân ai đi qua vội vàng thoáng xa…

Là Tuấn Khanh nhưng là một Tuấn Khanh khác – Tuấn Khanh của một thời mơ mộng, của những ban nhạc trẻ của những sân khấu trường Đại học của đám đông cuồng nhiệt.

Giờ này, anh ngồi đó một mình, nói với anh với chị, với tôi về một bài hát hiện ra trong giấc mơ chứa chất nỗi đau, nỗi buồn, nỗi đợi chờ.

Không. Nó gần hơn với một lời kêu gọi tuyệt vọng.

***

Tôi đã tìm được (không phải đi lạc) Gánh xiếc to trên quê hương nhỏHãy gấp trang báo hãy tắt TV – tìm được một cõi âm nhạc “ra nước mắt và thấm thấu ruột gan”.

Thôi thì, hãy “Chờ một ngày thức dậy bước vào thế giới mới” như dòng chữ được viết trên Tuấn Khanh’s Blog.

SG 28/5/2026

[1] Có thể vào https://hung-viet.org/author/post/8926/1/tuan-khanh?r=Lw&o=0 để đọc hàng trăm bài viết của Tuấn Khanh từ 2012 đến nay.

[2] Văn Việt 22/6/2016.

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Thương tiếc anh Tương Lai: CHẤM NGÒI BÚT VÀO NỖI ĐAU

 Ý Nhi

Anh Tương Lai, người cộng tác thân thiết, người đã đóng góp gần 100 bài báo trên trang mạng Văn Việt, vừa rời bỏ chúng ta.

Tưởng nhớ anh, xin đăng bài sau đây của nhà thơ Ý Nhi, vốn là Lời Bạt cho tuyển tập gồm ba cuốn của anh với nhan đề Những gợn sóng trên dòng hồi ức, cả thảy ba tập với gần 2000 trang. Sách anh viết chỉ để tặng bạn bè, chứ dĩ nhiên không thể xuất bản một cách chính thức.

Anh đã CHẤM NGÒI BÚT VÀO NỖI ĐAU để hoàn thành bộ sách của một kẻ sĩ. Bao giờ Nhân Dân ta không còn rên xiết để sau anh không ai phải tiếp tục chấm ngòi bút vào nỗi đau dân tộc mà viết lên những trang quặn lòng người?

Xin vĩnh biệt anh.

Văn Việt

 

Tôi được nghe về Giáo sư Tương Lai khá lâu, trước khi được đọc ông, trước khi có trong tay hai cuốn sách: Mênh mông thế sự để gió cuốn đi Chân lý là cụ thể.

Vốn sợ lý luận, tôi để dành Chân lý là cụ thể cho một dịp khác và chọn đọc Mênh mông thế sự để gió cuốn đi.

Và, cũng vì sợ lý luận, tôi chọn đọc trước những bài viết có cái title tương đối “mềm mại” như: Đừng xáo nước đục đau lòng cò con, Ấm trà mẹ pha vào một đêm trăng hay Trên đồi cao giữa mây trời lộng gió…

Nhưng, gần như ngay lập tức, tôi hiểu rằng mình đã có chút nhầm lẫn. Chẳng có chi đơn giản, chẳng có chi “mềm mại” trong mỗi đoạn văn.

Từ một câu ca dao quen thuộc, từng được trích dẫn, từng được phân tích, giảng nghĩa nhiều lần (Con cò mà đi ăn đêm/ Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao/ Ông ơi ông vớt tôi nao/ Tôi có lòng nào xin hãy xáo măng/ Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con), bài viết của ông lại mở ra trước người đọc những chiêm nghiệm, những liên tưởng mới, những biện giải mới, đa dạng và sâu sắc.

Chắc chẳng mấy ai nghĩ rằng, từ câu ca dao quen thuộc ấy tác giả có thể đưa dẫn người đọc đến với thơ Vương Bột, với Alexandre Dumas, với Mẹ Theresa, Albert Camus và cả với Steve Jobs. Và, trước những danh nhân ấy là lời dạy của người mẹ về một cách thế sống mà ông suốt đời ghi nhớ, tự dặn lòng: “phải cố là giọt nước trong” giữa “biển cả mênh mông của cuộc đời”.

Ấm trà mẹ pha vào một đêm trăng là câu chuyện cảm động về ngày giỗ cha tại một làng quê trong chiến tranh.

Đêm ấy, người mẹ chỉ có thể pha một ấm trà, thắp một nén hương để tưởng nhớ người chồng đã khuất. Và rồi, mùi hương thanh khiết đêm ấy lại dẫn người đọc về với mùi trầm hương trong ngôi chùa Quốc Ân, với vị sư già có ánh mắt hiền từ “truyền vào lòng tôi dòng suối trong vắt của tri thức tuổi thơ đủ sức cảm nhận về điều lành mà tôi hiểu là cái thiện”. Rồi đắm mình vào câu chữ của Nguyễn Tuân với Những chiếc ấm đất, với Vang bóng một thời… với thơ Thiền của Kiều Tri Huyễn, để sau cùng lại trở về với Mẹ: “Qua mẹ tôi, tôi nhận ra đất nước, quê hương, dân tộc, những cay đắng những ngọt bùi, những giày vò đau đớn, những thăng hoa hạnh phúc đan chen trộn lẫn mà tôi nào đã thấu hiểu”.

Trên đồi cao giữa mây trời lộng gió không phải là một chuyến du ngoạn mà là cuộc trở về với những tháng năm xưa cũ, nhân việc đi viếng mộ người anh rể, Trung tướng Cao Văn Khánh, trên nghĩa trang Bất Bạt.

Từng dòng, từng dòng thấm đẫm xót xa, thương nhớ, tự hào về cuộc đời giản dị mà hào sảng, lặng lẽ mà cao cả của anh chị mình, về sự lựa chọn cuối cùng của bà Nguyễn Thị Ngọc Toản, khi đưa chồng về nơi “đồi cao mây trời lộng gió” này chứ không phải nghĩa trang Mai Dịch vốn được coi như một ngôi đền thiêng…

Sau này, khi đọc ông nhiều hơn, tôi nhận ra Tương Lai không bao giờ dừng lại ở bề mặt của vấn đề. Bất cứ cứ liệu nào, một câu thơ, một miền quê, một nỗi nhớ, một sự kiện dù nhỏ dù lớn… đều được ông mở rộng ra, đào sâu xuống để có thể tìm tới căn nguyên, khả dĩ tìm ra một giải pháp. Đây là cách làm việc của một nhà khoa học, của một người luôn ước ao đạt đến điều thật, điều đúng.

Bởi vậy, đọc ông không dễ, bắt kịp những liên tưởng, suy nghiệm của ông quả thực là một thách thức.

Có thể nói, liên tưởng, suy nghiệm, biện giải là một đặc thù trong các bài viết của Tương Lai.

***

Nhưng, liên tưởng, suy nghiệm, biện giải chỉ có thể được thực hiện khi người viết có một hiện thực sống dày dặn, phong phú, một chặng đường đời đủ dài với tất cả những cung bậc của kiếp người và một kiến văn sâu sắc, một trí tuệ sáng suốt, một bản lĩnh.

Và, trên tất cả, một tấm lòng yêu thương, hướng thiện.

Tương Lai có đầy đủ những điều kiện ấy.

Sinh ra trong một gia đình quan lại của chế độ cũ, có nền tảng đạo đức, có nền tảng học vấn, Tương Lai cùng các anh chị mình hăng hái tham gia cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc.

Trên chặng đường dài gắn bó với chế độ mới, ông cũng như mọi thành viên khác trong gia đình trí thức đông đảo, tài giỏi ấy đã gặp không biết bao nhiêu thách thức để có thể giữ mình sống trong, sống thiện lành, để không mất đi phẩm giá làm người.

Vốn là một nhà nghiên cứu xã hội học, Tương Lai từng giữ những chức vụ quan trọng, từng có những công trình khoa học giá trị, từng làm việc ở những tổ chức đặc biệt, gắn bó trực tiếp với các vị lãnh đạo cao cấp của đất nước.

Nhưng, thay vì an phận thụ hưởng những gì mình có thể có, Tương Lai đã lựa chọn một con đường gai góc, thậm chí, hiểm nguy – con đường xóa bỏ những vật cản, đập bỏ những bức tường trong quá trình nhận thức của con người.

Đó là lựa chọn của một người không nỡ, không thể nhắm mắt làm ngơ trước bất công, trước những bước đi sai lạc, trước những oan khuất.

Bởi vậy, nhiều bài viết của ông mang tinh thần phản biện xã hội mạnh mẽ.

Không có thứ vũ khí nào trong tay. Viết, là lựa chọn duy nhất, là cách chiến đấu của ông vậy. Bày tỏ quan điểm của mình qua bài viết cũng là cách tìm bạn, tìm người đồng tâm hiệp ý của ông.

Ông không đơn độc.

Xin hãy “gặp gỡ” những người bạn thủy chung của ông: Hoàng Tụy, Việt Phương, Nguyên Ngọc, Lê Đăng Doanh, Hạ Đình Nguyên, Nguyễn Quang A, Minh Đường, Hồ Ngọc Đại, Huỳnh Tấn Mẫm, Hồ Ngọc Nhuận, Trịnh Công Sơn, Cao Huy Thuần, Trần Đức Nguyên, Chu Hảo, Phan Đình Diệu, Phạm Chi Lan…

Vâng, hãy cho tôi biết bạn của anh là ai.

Bấy nhiêu dữ liệu hẳn là đã đủ để làm nền tảng cho những liên tưởng, những suy nghiệm, biện giải trong từng bài viết của Tương Lai.

***

Tôi vừa nhận được bản thảo mới nhất của ông: Những gợn sóng trên dòng hồi ức và một video ngắn.

Video ghi lại hình ảnh một số trí thức họp mặt, thống nhất gửi kiến nghị về việc thay đổi hiến pháp cũ, dự thảo hiến pháp mới.

Thú thực, xem video, tôi có phần bùi ngùi. Bùi ngùi vì việc lớn không thành, bùi ngùi vì nay GS Tương Lai đã ở ngưỡng tuổi chín mươi, ông không còn có thể đi đầu trong những cuộc biểu tình, hô vang những khẩu hiệu chống Trung Quốc, không còn có thể cất giọng nói sang sảng của mình trong một cuộc họp, như đã từng.

Nhưng, ông không rời xa vũ khí của mình, không ngừng viết, không ngừng “chấm ngòi bút vào nỗi đau”.

Như mọi lần, cách tổ chức bản thảo của Tương Lai bao gồm những bài chính luận và những bức chân dung người thân, bè bạn mà ông quý trọng yêu thương. Bên cạnh những bài viết về giáo dục, về nghề báo, về nền đạo lý dân tộc, về tương lai nền nông nghiệp Việt Nam là những bức chân dung tuyệt đẹp của người mẹ, của anh chị, của Võ Văn Kiệt, Việt Phương, Hạ Đình Nguyên, Huỳnh Kim Báu, Nguyễn Trọng Vĩnh… Bên cạnh giọng văn sắc sảo, chuẩn xác, đôi khi riết róng là một tiếng nói nhẹ nhàng, tha thiết, ấm áp.

Trong các bài nghiên cứu của tập bản thảo này, tôi đặc biệt chú ý đến hai công trình nghiên cứu về nông thôn Việt Nam. Đó là Báo cáo sơ bộ về khảo sát xã hội học tại Thái Bình cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 1997Để hướng tới cuộc sống tốt đẹp của nông dân và nông thôn.

Bài thứ nhất là bản báo cáo của một nhà khoa học nghiên cứu xã hội học nghiêm cẩn. Nó đáng trân trọng, không chỉ vì giá trị khoa học mà còn vì, thời điểm ra đời của nó, khi ngành khoa học này còn non trẻ và chịu rất nhiều rào cản. Bài thứ hai là một công trình nghiên cứu vô cùng sâu sắc, có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Tôi chưa biết ai khác đã viết được một chuyên luận về nông dân và nông thôn Việt Nam chuẩn xác và tràn đầy cảm xúc như ông.

Dường như, không có lãnh vực nào trong cuộc sống này lại xa lạ với ông, không có lực cản nào đủ sức ngăn ông đi theo “ánh lửa từ trái tim mình”.

Ông muốn có, cần có một cuộc sống hữu ích, hữu ích trong mỗi ngày sống.

Ở trang viết nào đó, ông đã trích dẫn B. Brecht: “Cái đáng sợ không phải là chết mà là sống rỗng tuếch”. Và ở một trang khác, là A. Camus: “Cái tôi mong muốn là sống và chết cho điều tôi yêu.

Tôi nghĩ, cách nào đó, ông là một người Tự do, một người Hạnh phúc, theo định nghĩa của một bậc chân tu mà tôi từng đọc được: “Tự do là ung dung trong ràng buộc. Hạnh phúc là tự tại giữa đau thương.

Tôi tin “gợn sóng dội lại chặng đường mải miết đi” của ông rồi sẽ không ngừng dội lại, không chỉ trong tâm tưởng những ai hôm nay yêu quý, trân kính ông mà còn ở những ai rồi sẽ biết yêu quý, trân kính ông mai sau.

 

 Ngày 10.7.2024.

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

Về tập Tư liệu thảo luận 1955 về tập thơ “Việt Bắc”(*) của Lại Nguyên Ân

  Ý Nhi

Bài viết Vài ý nghĩ sau khi đọc tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu của Hà Xuân Trường đăng trên báo Nhân dân ngày 21/1/1955 đã khởi đầu cho cuộc tranh luận kéo dài, sôi nổi và gay gắt về giá trị của tập thơ Việt Bắc.

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Thơ Ý Nhi

 NGƯỜI LÍNH

(Bản dịch tiếng Anh và tiếng Pháp của Bùi Hoằng Vị)            

 

Trên con đường từ mặt trận đến mặt trận

người lính đi qua một thành phố lớn

 

Cái thành phố khổng lồ

rối ren

náo động

bỗng hiện ra tĩnh lặng trước đời anh

cây bên đường im phắc một màu xanh

toa xe điện như trôi

giữa lòng phố hẹp

không có tiếng động cơ

xe lao đi vun vút

và bao người bước lặng dưới nhà cao

họ khóc cười chia biệt đón chờ nhau

anh cảm biết mọi điều qua ánh mắt

nhưng những lời chuyện trò

anh không nghe thấy được

anh không nghe tiếng khóc tiếng cười kia

Thứ Hai, 11 tháng 8, 2025

Bác Dụng

 Ý Nhi

1.

Ngày từ ngày nhỏ tôi đã nghe ba tôi kể về bác Khương Hữu Dụng.

Chuyện bác Dụng được nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu đặt cho bút hiệu Thế Nhu, chuyện bác gái mất sớm, bác Dụng một mình nuôi 6 con thơ, chuyện bác Dụng bị chính quyền Pháp cách chức, không cho dạy học vì làm thơ yêu nước, chuyện bác Dụng dựng Quán Lưng đèo ở Đèo Le (Quế Sơn, Quảng Nam) kiếm kế sinh nhai (sau bác Dụng, chú Nguyễn Đình đổi tên thành Quán Nghèo). Quán nằm trên đỉnh đèo, nơi có dòng suối trong mát chảy len qua những tảng đá lớn. Ngày nay quán vẫn còn, có tên là quán Nước Mát, nổi tiếng với món cháo gà. Người ta bảo gà được luộc bằng nước suối ở đó có vị ngọt rất đặc biệt. Du khách sau khi ăn còn mua gà đem về Đà Nẵng làm quà.

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2025

Ông Thông đầu trần đi dưới trời mưa

 Ý Nhi


Một buổi sáng sau tết Ất Sửu (1985), trời mưa phùn, gió lạnh. Tôi đưa con nhỏ đi khám bệnh. Hai mẹ con choàng áo mưa, chở nhau trên chiếc xe đạp mi ni, thong thả dọc theo phố Huế, lên phía Bờ Hồ. Khi ngang qua rạp Đại Nam, cháu bỗng đập tay vào vai tôi: Mẹ, mẹ, ông Thông kìa. Theo hướng tay của cháu, tôi thấy Hoàng Trung Thông để đầu trần, áo xống phong phanh, mắt nhìn tận đâu đâu, bước đi nghiêng ngả trên hè phố, lạc lõng giữa dòng người xuôi ngược.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2024

Hoa tứ quý

Truyện ngắn Ý Nhi

 

Hoa tứ quý

 

Cơn mưa bất chợt vào buổi chiều của mùa khô khiến ông phải vội vã dạt vào bên đường, trú dưới một vòm cổng lợp ngói nâu khá rộng rãi.

Khi quay người tránh những hạt mưa tạt vào mặt, ông nhìn thấy một khu vườn được phủ mờ, không rõ hình dáng.

Thi thoảng, trong ánh chớp trước tiếng rền của cơn dông, ông thoáng nhìn thấy vài bóng cây, vài mảng tường, vài khoảnh đất… sau một màn xám nhạt.

Thứ Tư, 30 tháng 10, 2024

Niềm hạnh phúc được trả bằng rất nhiều đau khổ

Trang The Hy - tranhVăn Việt: Nhà văn Trang Thế Hy tên thật là Võ Trọng Cảnh, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1924, quê quán ở Hữu Định, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Sau ngày đất nước thống nhất, ông về sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh hơn 15 năm, về hưu năm 1992, rồi ẩn cư tại quê hương Bến Tre.

Nhà văn Trang Thế Hy còn có các bút danh khác: Phạm Võ, Văn Phụng Mỹ, Triều Phong, Vũ Ái Văn, Minh Phẩm. Ông là một trong những nhà văn đương đại hàng đầu của văn chương Nam Bộ nửa sau thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.

Tác phẩm đã xuất bản:

Truyện ngắn:

- Nắng đẹp miền quê ngoại (1964)

- Mưa ấm (1981)

- Người yêu và mùa thu (1981)

- Vết thương thứ mười ba (1989)

- Tiếng khóc và tiếng hát (1993)

- Nợ nước mắt và những truyện ngắn khác (2000)

Thơ:

- Đắng và ngọt (tập thơ, 2009)

(theo tư liệu của Hội Nhà văn TPHCM)

Nhân dịp nhà văn Trang Thế Hy tròn 100 tuổi, Văn Việt xin đăng lại bài viết sau đây của nhà thơ Ý Nhi: Niềm hạnh phúc được trả bằng rất nhiều đau khổ.

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2024

Chiều

 Truyện ngắn Ý Nhi

 

Chỉ định ghé vào tiệm sách mua mấy chiếc bao thư và một lọ hồ dán mà ông lại lang thang giữa các quầy sách gần hai giờ đồng hồ để rồi cuối cùng, cầm trên tay cuốn tiểu thuyết Đốn hạ của Thomas Bernhard, khi lướt qua quầy sách văn học, chợt nhớ đã đọc ở đâu đó bài viết giới thiệu tác giả và tác phẩm này.

Thứ Bảy, 28 tháng 9, 2024

Tưởng nhớ nhà thơ Chim Trắng

13 năm trước, vào ngày 28/9/2011, nhà thơ Chim Trắng đã ra đi, sau thời gian chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo.

Sự ra đi của ông là một mất mát cho nền thi ca Việt Nam đương đại. Nhưng, điều ông để lại không chỉ là Thơ, hơn thế, ông đã để lại trong tâm khảm chúng ta hình ảnh một con người trung chính, nhân hậu, sống đến giây phút cuối cùng vì sự lựa chọn của mình.

Sau khi ông ra đi, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình văn học đã viết về Chim Trắng với biết bao kỷ niệm, biết bao ân tình, biết bao nhớ tiếc, quý trọng.[1]

Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, trong bài viết của mình, đã đưa ra một nhận xét chân xác, đầy thuyết phục về ông:…Chim Trắng là người trực tính, yêu ghét rõ ràng. Ông là một nhân cách lớn cả trong văn chương lẫn trong đời sống. Người như vậy, ắt phải có kẻ thù. Nhưng người yêu mến ông và cảm phục ông nhiều hơn gấp ngàn lần.[2]

Nhà thơ Trần Hữu Dũng đã ghi lại lời dặn dò con cháu của Chim Trắng vào phút lâm chung:

- Không quàn xác ở nhà tang lễ Lê Quý Đôn

- Không nhận phúng điếu

- Không đọc điếu văn, làm tang lễ rườm rà

- Không giao cơ quan, đoàn thể đứng ra làm mà con cháu phải đích thân lo tổ chức tang lễ.[3]

Tang lễ của ông đã được gia đình tổ chức tại căn nhà của ông ở Bình Dương và chỉ có những người bạn thân thiết được đến tiễn biệt người bạn, người anh của mình.

Tưởng nhớ ông, Văn Việt giới thiệu bài viết của nhà thơ Ý Nhi về lần gặp gỡ sau cùng với nhà thơ và một số bài thơ của ông được rút từ tập thơ Lời chào ngọn gió.

Văn Việt

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2024

Tế Hanh: “Đời tôi thực hay mộng / Đời tôi buồn hay vui”

Ý Nhi

clip_image002

1.

Trong các nhà thơ đương đại của Việt Nam, Tế Hanh có dáng vẻ của một thi sĩ hơn cả, không phải chỉ bởi “đôi mắt nồng nàn lạ” (Hoài Thanh - Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam) mà còn là, hay chính là, bởi vẻ buồn ngơ ngác của ông, không phải chỉ trên vẻ mặt mà cả trong cách hành xử, ứng đối của ông với mọi người, mọi sự.

Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2024

Ở QS. lúc 2 giờ

Ý Nhi                                                                                                             Truyện ngắn

Đời người không đo bằng bao nhiêu hơi thở mà bằng những nơi chốn và khoảnh khắc làm ta nín thở

(Dẫn theo Nguyễn Tường Bách/Đường xa nắng mới)

Thoạt tiên, chỉ là những tiếng ho khúc khắc, bị nén lại. Rồi những tràng ho kéo dài, tràng nọ nối tràng kia.

Có ai đó trong số hành khách đang ngủ vùi, giật mình làu bàu, ồn quá, gì mà ồn quá vậy. Ngay sau đó là giọng một phụ nữ, coi chừng Covid đấy. Hai tiếng Covid tựa như tiếng còi báo động, đánh thức tất thảy hành khách giữa đêm khuya.

Người ta lập tức nhận ra đó là tiếng ho của bác tài.

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2024

M.

Ý Nhi                                                                                                            Truyện ngắn


Chân dung Ý Nhi

Trên tấm bảng hiệu của quán, chỉ có một chữ M, viết theo lối chữ in, màu nâu sẫm, trên nền vàng nhạt.

Nhiều lần đi ngang qua quán, anh luẩn quẩn tự hỏi, M là tên chủ quán (Mai, Minh, Miên…), là một địa danh nhiều kỷ niệm (MC, MA, MN…) hay đơn giản, là chữ đầu tiên của Music, dấu hiệu của một quán cà phê ca nhạc hay chỉ là, để bày tỏ tình yêu đối với âm nhạc của chủ quán.