Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Tấn Hải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Tấn Hải. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

Can Xue (Tàn Tuyết) của Trung Quốc sẽ được Nobel Văn học 2026?

 Phan Tấn Hải

Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa

 Phan Tấn Hải

Nhà văn Cung Tích Biền

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ – chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa Sài Gòn, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Khi các nhà thơ ra giữa phố đọc thơ

Phan Tấn Hải

Đọc thơ, theo truyền thống và thói quen, thường là lặng lẽ, đơn độc. Bạn pha xong tách trà hay cà phê, ngồi đơn độc nơi bàn giấy, mở ra trang giấy để đọc bài thơ ghi vội, được ghi nháp để rồi đọc tới, đọc lui và sửa chữa chút đỉnh. Đôi khi mở ra một thi tập của một tác giả bạn mới nhận qua bưu điện, bạn cẩn trọng đọc kỹ, suy nghĩ, tham khảo và khởi tâm muốn viết một bài giới thiệu tập thơ này. Đọc thơ như dường là chuyện riêng, đơn độc. Tuy nhiên, đọc thơ trước đám đông lại là chuyện khác.

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Ngô Thì Nhậm: Viết trong thời ly tán

 Phan Tấn Hải

Ngày thứ Bảy 8.8 vừa qua, tại Coffee Factory (Quận Cam, California, Hoa Kỳ) đã ra mắt tiểu thuyết Thuyền  của Nguyễn Đức Tùng. Tại buổi ra mắt sách này, nhà văn Phan Tấn Hải trong nhóm nhà văn được mời nói chuyện, đã phát biểu sơ lược, tóm tắt từ bài viết dưới đây.

Văn Việt

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

Giữa sáng tạo và trộm bản quyền

 Phan Tấn Hải

Làm thơ, viết truyện, soạn kịch, soạn nhạc, hay vẽ... chúng ta sáng tác, có thể hoàn toàn không mượn từ người xưa? Hiển nhiên là chúng ta đã học từ rất nhiều vị thầy, từ ca dao, từ truyện cổ tích, từ các vị thầy nơi trường lớp, từ vô lượng các sách chúng ta đã đọc. Tuy nhiên, tới mức nào thì một bài thơ, hay lời một ca khúc có thể  bị xem là vi phạm tác quyền dể bị thưa kiện, đường biên hẳn rất là mong manh. Đặc biệt là khi sáng tạo từ những ký ức chúng ta không thể nhớ tới cội nguồn.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2026

Bóng tròn: Khi chạy theo banh là hạnh phúc

 Phan Tấn Hải

Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Iran: Thơ của Langeroodi, người bị giám sát

 Phan Tấn Hải

Nhà thơ Shams Langeroodi (Hình: YouTube).

Iran là nơi của bom và thơ. Iran là nơi của phép màu tới trễ. Iran là nơi của một dân tộc bị giám sát thường trực. Nhà thơ Shams Langeroodi, 76 tuổi, vẫn ở thủ đô Tehran trong những tháng gần đây. Nhiều người quan sát thi ca Iran vẫn theo dõi các chuyển biến từ thủ đô Iran, hy vọng nhà thơ sẽ vẫn còn sống sót sau các cuộc đàn áp biểu tình và sau những trận bom của Hoa Kỳ và Israel dội xuống. Nhà thơ Shams Langeroodi đã trải qua rất nhiều chuyển biến đau đớn của dân tộc Iran, và ngòi bút thi ca của ông là một trong những trang thơ đẹp nhất của đất nước đau khổ này.

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2026

Nhà thơ Simonova nổi tiếng ở Nhật với 600 bài thơ haiku viết từ Ukraine

 Phan Tấn Hải biên dịch

Nhà thơ Vladislava Simonova (Hình: YouTube NHK)

Nhà thơ nữ Vladislava Simonova, 27 tuổi, nổi tiếng với thể thơ haiku và được vinh danh tại Nhật Bản nhưng gần như vô danh ngay trên chính quê hương Ukraine của cô. Bản tin AFP ghi lời nhà thơ Simonova rằng trong nhiều năm, cô đã nghiên cứu các bậc thầy Nhật Bản – Basho, Buson, Issa – và sáng tác hơn 600 bài thơ haiku.

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2026

Buổi chiều thơ, nhạc, phê bình: mừng Bùi Vĩnh Phúc ra mắt sách

 Phan Tấn Hải

Đó là một buổi chiều thơ mộng, khi nhiều bạn văn tụ hội lại để mừng một tác phẩm mới ấn hành. Họ đã nghe nhạc, nghe phê bình về phê bình, và nói chuyện về các bài viết trong sách mới của Bùi Vĩnh Phúc. Họ đã thay nhau nhận định về thơ, về tùy bút, về triết học, về mọi lĩnh vực văn chương để mừng một tác phẩm tập họp các bài được viết từ nhiều thập niên mới ấn hành. Hôm Thứ Bảy 16 tháng 5/2026 là một ngày của hàn lâm và thơ mộng, khi nhà phê bình văn học Bùi Vĩnh Phúc ra mắt tác phẩm mới của anh – "Bùi Vĩnh Phúc: Chữ Nghĩa & Không Gian Văn Chương" – tại Coffee Factory 15582 Brookhurst St., Westminster, California.

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

Lebanon: Thơ, họa dưới trời mưa bom

 Phan Tấn Hải

Lebanon sẽ trở thành một kiểu tro bụi như Gaza sau khi không quân Israel tung ra nhiều đợt dội bom ngay giữa thủ đô Beirut nhiều tuần lễ qua, bất kể Hoa Kỳ và Iran đang ngưng bắn và đàm phán? Có nên hy vọng vào cuộc đàm phán ngập ngừng đương hữu giữa Israel và Lebanon hay không, sau nhiều thập niên họ vẫn nhìn nhau qua họng súng? Chúng ta không thể biết đất nước xinh đẹp này tương lai có thể bị xóa sổ hay không, trong khi Lebanon trải qua gần một thế kỷ trở thành một chiến trường khi nhiều nền văn minh hội ngộ, và cũng là nơi đã khai sinh ra nhiều nhà thơ và họa sĩ tuyệt vời.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt

Đọc thơ: Vẫn sống cùng ngụ ngôn

 Phan Tấn Hải

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn sống cũng ngụ ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.

Nỗi buồn đó ghi trong bài thơ Tiếc thương nơi trang 71, do Trần Đình Sơn Cước viết từ Chicago năm 2021, để tưởng nhớ K. (độc giả không thể đoán là ai, dĩ nhiên, chỉ trừ tác giả và vài người ở Huế) với dòng chữ ghi chú “Xuân Mậu Thân 1968” hẳn là ám chỉ người tên K. chết trong trận này, trích bốn dòng cuối bài thơ:

Đạn bom chôn một mối tình

Vùi trong đất mẹ tuổi bình minh xuân...

Vườn xưa hoa nở mưa dầm

Hải đường nắng ải đỏ bầm cố nhân.

(VSCNN, trang 71)

Thế hệ trẻ lớn lên trong thời quê nhà thống nhất sẽ không hiểu đầy đủ về thơ của hai thi sĩ gốc Huế này, vì bối cảnh trưởng thành khác hẳn nhau. Nỗi buồn của văn nghệ sĩ gốc Huế trước 1975 là một thứ văn hóa ẩn sâu trong da thịt xương tủy. Nó kết tinh tự nhiên từ nền văn hóa cố đô Huế, nơi tụ hội các học giả xuất sắc nhất thời phong kiến hòa lẫn vào nghi lễ triều đình, nơi thói quen hoàng tộc được giữ gìn kỹ càng ngay cả trong dân gian hai bờ Sông Hương, ở cả nơi chợ, hè phố... Chính vì là cố đô, nên khi sức mạnh văn hóa chuyển vào Sài Gòn, thủ đô mới của Miền Nam, sự tan rã (hay chuyển đổi) của nền văn hóa đầy chất quý tộc dần dần mang sức sống mới, pha một nét giang hồ Sài Gòn hơn, để thành một nỗi buồn u hiển đầy năng động, điển hình như truyện và thơ Nhã Ca, thơ và tranh Đinh Cường, nhạc và thơ Trịnh Công Sơn (lời nhạc cũng đầy chất thơ), và nhiều người khác.

Các văn nghệ sĩ trẻ hơn từ Huế, trong đó có hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước cũng ghi lại theo cách riêng, rất kín đáo, trên trang giấy với nỗi buồn trí thức và với nỗi đau tận cùng của một dân tộc trong cơn binh lửa. Họ đã dùng ngòi bút để phần nào ghi lại một thời kỳ mà cái chết và sự ly tán hiện hữu trong từng hơi thở. Nhưng họ viết rất kín đáo, sẽ không có nhiều độc giả nhận ra hai nhà thơ ám chỉ tới những người đàn anh và bạn hữu ở Huế đã ly tán thế nào.

Trong bài Tựa (dài 10 trang, từ trang 9 tới 19) do nhà thơ Ý Nhi viết nơi đầu tập thơ, có một đoạn nói về nỗi buồn này, trích:

“Trong một trao đổi qua thư điện tử ngày 8/7/2025, Trần Đình Sơn Cước viết cho tôi: ‘Vẫn sống cùng ngụ ngôn’ phủ đầy kỷ niệm một thế hệ các anh văn nghệ sĩ mà chúng tôi yêu mến và cảm phục. Họ để lại dấu ấn sâu đậm trong chúng tôi nói riêng, và thế hệ chúng tôi nói chung. Họ là Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường... Vẫn sống cùng ngụ ngôn là tâm ý tôi muốn nhắc nhớ về họ, lấy cảm xúc từ tập thơ nhan đề Ngụ ngôn người đãng trí của Ngô Kha...” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 14)

Nhà thơ Ý Nhi nhận ra rằng trong thơ Trần Đình Sơn Cước có thể nhìn như một tập lưu ảnh (chữ trong ngoặc đơn là các tựa đề bài thơ), viết trong bài Tựa, trích:

“Bên cạnh Đinh Cường, Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Ngọc Biên... là Diễm Châu (Cổ vật), là Lê Khắc Cầm (Lời nguyện), là Nguyễn Ngọc Lan (Chứng ngôn), là Chân Tín (Sám hối), là Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng niệm), là Bùi Chánh Thời (Hóa thân), là Mai Thái Lĩnh (Lời của thác), là Nguyễn Thanh Văn (Chén đắng), là Đoàn Thanh Liêm (Yên nghỉ) rồi ĐT, Hà Thủy, Ngữ An, rồi Vũ Hùng, K, Palh... Và rồi, sau tất cả, giữa bao nhiêu khuôn mặt, ta nhận ra khuôn mặt hằn vết ưu tư của người gìn giữ tập lưu ảnh: nhà thơ Trần Đình Sơn Cước. Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè.” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 17)

Trong tên của các nhân vật ghi trên, bản thân người điểm sách hân hạnh có giao tình với họa sĩ Đinh Cường và luật sư Đoàn Thanh Liêm. Trong khi chúng ta có thể nhìn họa sĩ Đinh Cường (1939-2016) như người giấu được nỗi đau phân ly để tập trung vào sáng tác thuần túy với nét đẹp của tranh và thơ, luật sư Đoàn Thanh Liêm (1934–2018) lại là một mẫu người quân tử thời ly loạn, tuy tốt nghiệp trường Sĩ Quan Thủ Đức khóa 13, làm việc với cương vị Luật sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và nổi tiếng về các chương trình biện hộ miễn phí cho người nghèo oan ức, nhưng nhiều lần từ chối di tản năm 1975 để ở lại cùng với dân tộc.

Tháng 2 năm 1990, LS Đoàn Thanh Liêm đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm trong đó kêu gọi nhà nước  hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo... Nhà văn Phạm Phú Minh kể lại trên Đài VOA rằng, sau khi rời nhà tù Cộng sản năm 1988, về cư trú ở Sài Gòn, thỉnh thoáng lại gặp LS Đoàn Thanh Liêm, và trong bầu không khí Đông Âu sụp đổ đầu năm 1990 được LS Liêm đưa cho bản  văn tựa đề Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản... Hiển nhiên, trong thời nhà nước CSVN siết bàn tay sắt hậu 1975, bản văn đòi nhân quyền của LS Đoàn Thanh Liêm chính là một bài thơ viết bằng sinh mạng của chính mình để rồi bị lãnh án 12 năm tù, và rồi bị trục xuất sang Mỹ năm 1996. Các năm sau đó, tôi vẫn thường nhìn thấy LS Đoàn Thanh Liêm đi lững thững mỗi buổi trưa trên đường Moran, thị trấn Westminster, và Luật sư Liêm vẫn thường ghé thăm tòa soạn Việt Báo để hỏi tôi (một nhà báo khá khù khờ) về chuyện quê nhà.

Trần Đình Sơn Cước có bài thơ tựa đề Yên nghỉ để tưởng niệm LS Đoàn Thanh Liêm, so sánh cuộc đời của vị luật sư nhân quyền này hệt như một tách “nhạc Jazz” làm say lòng người, dài bốn câu:

"A morning cup of Jazz"

Điệu Blues hóa chén trà lưu vong

Chén trà tiễn một lương tâm

Mùi hương theo gió thổi nhằm tim ta...

(VSCNN, trang 70)

Một khuôn mặt cực kỳ thơ mộng hiện ra nhiều lần trong tập thơ Vẫn sống cùng ngụ ngôn là họa sĩ Đinh Cường, một người cố gắng tách rời các khuynh hướng chính trị của thời đại và bạn hữu để tập trung vào nghệ thuật. Đinh Cường có các phụ bản tranh ở trang 43, trang 116, trang 130, và có hai bài thơ trong phần Phụ Lục trong đó nhắc tới suy nghĩ, kỷ niệm của họ Đinh với Trần Đình Sơn Cước, Trần Kiêm Trinh Tiên, Hoàng Ngọc Biên và Lữ Quỳnh.

Điểm ghi nhận, thi tập cũng được giúp từ bàn tay của một người con Đinh Cường là Đinh Trường Giang – người trình bày bìa, có các phụ bản tranh ở trang 21, trang 24 (Chân Dung Họa Sĩ Đinh Cường).

Trong bài thơ tựa đề Kỷ Niệm, dài 3 trang, Trần Đình Sơn Cước đề tặng Đinh Cường, trong đó hai khổ thơ đầu ở trang 53 ghi những dòng chữ có thể hiểu như là nói về thành phố Huế với cây cầu gãy, với cổ thành đổ nát, có thể hiểu là từ trận Mậu Thân 1968, trích:

Khi tôi lớn lên

Các anh như bầy chim di

Trốn xa thành phố

Bỏ lại giòng sông những sáng sương mù

Cây cầu gãy và cổ thành đổ nát

Hàng long não với gió chiều nhả nhạc

Bông Sầu Đông tím lặng

Chờ ai

  

Khi tôi lớn lên

Các anh như huyền thoại

Xao xuyến lòng các cô gái đôi mươi

Những chàng trai ôm giấc mộng đổi dời

Mơ các anh

Như mơ thần tượng

(VSCNN, trang 53)

Trong phần Phụ Lục còn có hai bài thơ của Trần Hoàng Phố, và một bản dịch bài Một thời sang tiếng Anh do dịch giả Hoàng Thạch Thiết thực hiện.

Nơi trang bìa sau là trích lời Tựa của nhà thơ Ý Nhi, trích:

“Trong giòng chảy chậm rãi, thâm trầm, đượm buồn, thơ Trần Kiêm Trinh Tiên phải chăng là hành trình đi tìm "Những lời ca thơ/ Đẹp như nước mắt", là niềm mơ ước được viết Bài tâm khúc nhiều nốt lặng lên bầu trời khuya mênh mông kia..." (Tựa, Ý Nhi)

Cũng như:

"....Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè. Những câu hỏi day dứt, xót xa từng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ anh.” (Tựa, Ý Nhi)

Tập thơ có nhiều phụ bản của các họa sĩ: Bửu Chỉ, Đinh Cường, Hải Bằng, Hoàng Ngọc Biên, Lữ Kiều, Đinh Trường Giang. Trong đó, có một phụ bản của Bửu Chỉ nơi trang 102 làm tôi khựng lại nhiều lần để nhìn. Tấm tranh này của Bửu Chỉ với nhan đề Nội chiến có hình một quả trứng gà màu trắng đã vỡ nửa trên, hiện ra hai người gầy gò như các cọng tăm với các chân còn đứng trong nửa quả trứng chưa vỡ ra hết đang cung tay đánh nhau. Phía trên cao trông như là hai vầng trăng, một màu trắng và một màu đỏ. Phải chăng đó là lịch sử quê nhà? Và bây giờ, chưa nguôi nỗi đau?

 

Phụ bản Nội chiến của Bửu Chỉ, trang 102.

Hình ảnh rất buồn đó được gợi nhớ, qua bài thơ hai đoạn sau đây của Trần Kiêm Trinh Tiên sáng tác năm 2019, với tựa đề in chữ hoa:

BỨC TRANH CHIỀU 30-4

Bao thuốc lá ai đánh rơi

Điếu thuốc kéo ra lưng chừng

Nằm lại bên thềm nắng

Chiều Ba Mươi Tháng Tư

 

Bức tranh ba chiều

Màu xám tối tràn xuống bậc thềm

Màu vàng nắng ải

Tuổi trẻ ai đánh rơi trên ngọn cây cụt đầu

Hạnh phúc ai để lại đằng sau

Người tình nhỏ vừa ra đi đúng Ngọ

Mảnh pháo năm im trong tim

Kỷ vật sau cùng, chiến tranh gửi lại

Chiều Ba Mươi Tháng Tư.

(VSCNN, trang 39)

Tương tự, trong bài thơ dài ba trang tựa đề Cổ vật sáng tác năm 2020 để tưởng nhớ Hoàng Ngọc Biên (1938-2019), nhà thơ Trần Đình Sơn Cước viết ở hai đoạn cuối, trích:

Chiều 30 ấy úa vàng

Bao thuốc rớt lại

vỡ tan

một thời...

 

Hình như

có giọt lệ rơi

Mộng xưa

đọng mãi tim người lưu vong

Một thời lãng mạn bão giông

Hóa thành tĩnh vật

trơ cùng tháng năm...

(VSCNN, trang 58)

Trong bầu trời quê nhà đầy giông bão như thế, hình ảnh các bà mẹ hiện lên gày gò, tội nghiệp. Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ dài 6 đoạn viết năm 2012, tựa đề Chiều Sausalito tiễn mẹ, ghi lại, trích ba đoạn thơ cuối bài là:

Nhớ xưa mẹ ôm đàn con vượt biển

Đất nước bạc tình mẹ tìm cửa tử

Ba nằm lại nơi trại tù Bắc Việt

Phút lâm chung mơ viên kẹo cầm tay

 

"Tháng Tư" về mẹ nếm đủ đắng cay

Thân gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở

Ngăn nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ

Bước chân liều qua sóng dữ trùng dương...

 

Biển chiều nay lại tiễn mẹ lên đường

Bao giận thương tan cùng nắng gió

Nhìn bụi tro bập bềnh trên sóng vỗ

Chúng con cúi đầu tiễn mẹ đi xa.

(VSCNN, trang 82)

Thăm cha trong tù là một hình ảnh thường thấy trong thời sau 1975. Nhưng trước đó gần 20 năm thì... Nhà thơ Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ sáng tác vào tháng 4/2018 tựa đề Mẹ tôi, chỉ dài 8 dòng, viết như sau, với ghi chú rằng mẹ từng đi tù theo Đạo Luật 10/59 (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhiều người Việt Minh về thành bị giam vì nghi ngờ), như sau:

Năm xưa nhớ mẹ đi tù

Bầy con thơ dại lù mù tuổi thơ

Trưa hè chị dắt thăm nuôi

Mo cơm bới với cục đường mẹ ơi!

 

Ôm tôi. Nước mắt mẹ trào

Mẹ nhai cơm khống. Cục đường cho con

Mẹ tôi. Nay đã không còn

Cục đường lòng mẹ. Ngọt hoài lòng con.

(VSCNN, trang 83)

Và lòng mẹ lúc nào cũng thương con. Trong bài thơ Biển đau, ghi rằng để tưởng nhớ hai em T & T, Trần Đình Sơn Cước viết:

Thả bông hồng trôi vào biển khơi

Xác em nơi mô hồn em đâu

Lòng mẹ quặn đau trời bão gió

Sóng biển chiều nay phủ oán sầu

(VSCNN, trang 87)

Trong bài thơ dài 2 trang, tựa đề Sám hối, viết năm 2015, để tưởng nhớ Linh mục Chân Tín, Trần Đình Sơn Cước viết, trích:

Vết thương Quốc, Cộng

Vết thương thắng, bại

Vết thương trong, ngoài

Vết thương từ trái tim ngăn ngại

(VSCNN, trang 91)

Để rồi bài thơ tựa đề Lụi tàn để tưởng nhớ nhà thơ Trần Vàng Sao, Trần Đình Sơn Cước đã viết, trích:

Thế hệ chúng tôi

Thế hệ chiến tranh

Hận thù, tàn phá

Những đứa con tài hoa của Huế

(VSCNN, trang 96)

Thế đó. Các văn nghệ sĩ thờ kỳ đó, dù ra đời và trưởng thành ở Huế, hay Sài Gòn, hay Cần Thơ... đều có những sự đứt gãy, không chỉ ở văn hóa, lịch sử mà có khi ở cả sinh mạng. Có những người thoát chết và rồi im lặng trọn phần đời còn lại. Có những người lên tiếng, nhưng đời họ chỉ còn là các bản tình ca dang dở: họ là các mảnh vỡ của gương soi, dù có dán lại được bằng bất kỳ loại keo, hay hồ nào thì cũng vẫn hằn lên các vết nứt.

Thơ của Trần Đình Sơn Cước và Trần Kiêm Trinh Tiên có nét trầm mặc, cùng mang phong cách kín đáo, ưu tư và trí thức kiểu Huế. Thơ của họ là chữ đượm các nỗi buồn lặng lẽ. Ngay cả khi họ viết xuống giấy thành thơ, các nỗi buồn cũng là những phảng phất mơ hồ, không dễ được hiểu minh bạch, nếu độc giả không có đủ kiến thức về một thời nội chiến, nơi bất kỳ chiếc cầu gãy nào cũng là những trận mưa nước mắt cho các bà mẹ của cả hai miền. Tập thơ in tại Hoa Kỳ vào tháng 3/2026, không ghi địa chỉ liên lạc.

 

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Noor Hindi: Thơ cho một đất nước đã mất

 Phan Tấn Hải

Các sinh viên Đại học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả – hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2026

Đọc Bùi Vĩnh Phúc: Chữ nghĩa & Không gian văn chương

 Phan Tấn Hải

Thêm một cuốn sách phát hành giữa một thời bom đạn bay khắp trời. Bất kể rằng, dòng chữ không ngăn cản được đường đạn bay. Hiển nhiên, bởi vì tác giả Bùi Vĩnh Phúc đang rời khỏi thế giới vật lý của địa cầu, để bước vào một thế giới nơi mà anh gọi là một không gian văn chương rất riêng trong tác phẩm mới, nơi đó là thơ, là văn, là nhạc, là phê bình, là cảm nhận, là những giấc mơ bay bổng từ chiếc đàn dương cầm với các phím là chữ và nghĩa. Như thế đó, tuyển tập các bài viết của Bùi Vĩnh Phúc ấn hành với nhan đề Chữ nghĩa & Không gian văn chương (CN&KGVC) nơi do chính anh tuyển chọn, trích lại các bài viết anh ưa thích nhất.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Thế giới thơ mộng Đinh Cường: “Đi vào cõi tạo hình II”

 Phan Tấn Hải

Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập Đi vào cõi tạo hình II của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

Nga cướp tài sản văn hóa, xóa căn cước Ukraine

 Phan Tấn Hải

Muốn đồng hóa một dân tộc, trước tiên là phải tước đoạt căn cước riêng của dân tộc đó, và biến kho tàng văn hóa của dân tộc đó trở thành tài sản riêng của mình. Đó là chuyện Nga đã và đang làm ở Ukraine. Chúng ta nên hỏi rằng tại sao các triều đình Trung Hoa trong hơn một ngàn năm đô hộ Việt Nam vẫn không thể đồng hóa dân Việt Nam? Nếu tiếng Việt bị xóa sổ sau khi Mã Viện tận diệt quân Hai Bà Trưng và dựng cột đồng, có thể bây giờ chúng ta đang sinh ra, lớn lên và giao tiếp trong bầu không khí của ngôn ngữ Quan Thoại, hay Quảng Đông. Trong bài này, chúng ta sẽ xem cách người Nga tước đoạt căn cước văn hóa Ukraine, đặc biệt là các tài sản mỹ thuật, trong khi truy diệt các tài năng nghệ thuật nơi họ xâm chiếm. Bài này sẽ tổng hợp nhiều tài liệu UNESCO, PEN Ukraine và các báo như United 24 Media, Intent Press...