Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Tấn Hải. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phan Tấn Hải. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 4 tháng 5, 2026

Lebanon: Thơ, họa dưới trời mưa bom

 Phan Tấn Hải

Lebanon sẽ trở thành một kiểu tro bụi như Gaza sau khi không quân Israel tung ra nhiều đợt dội bom ngay giữa thủ đô Beirut nhiều tuần lễ qua, bất kể Hoa Kỳ và Iran đang ngưng bắn và đàm phán? Có nên hy vọng vào cuộc đàm phán ngập ngừng đương hữu giữa Israel và Lebanon hay không, sau nhiều thập niên họ vẫn nhìn nhau qua họng súng? Chúng ta không thể biết đất nước xinh đẹp này tương lai có thể bị xóa sổ hay không, trong khi Lebanon trải qua gần một thế kỷ trở thành một chiến trường khi nhiều nền văn minh hội ngộ, và cũng là nơi đã khai sinh ra nhiều nhà thơ và họa sĩ tuyệt vời.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt

Đọc thơ: Vẫn sống cùng ngụ ngôn

 Phan Tấn Hải

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn sống cũng ngụ ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.

Nỗi buồn đó ghi trong bài thơ Tiếc thương nơi trang 71, do Trần Đình Sơn Cước viết từ Chicago năm 2021, để tưởng nhớ K. (độc giả không thể đoán là ai, dĩ nhiên, chỉ trừ tác giả và vài người ở Huế) với dòng chữ ghi chú “Xuân Mậu Thân 1968” hẳn là ám chỉ người tên K. chết trong trận này, trích bốn dòng cuối bài thơ:

Đạn bom chôn một mối tình

Vùi trong đất mẹ tuổi bình minh xuân...

Vườn xưa hoa nở mưa dầm

Hải đường nắng ải đỏ bầm cố nhân.

(VSCNN, trang 71)

Thế hệ trẻ lớn lên trong thời quê nhà thống nhất sẽ không hiểu đầy đủ về thơ của hai thi sĩ gốc Huế này, vì bối cảnh trưởng thành khác hẳn nhau. Nỗi buồn của văn nghệ sĩ gốc Huế trước 1975 là một thứ văn hóa ẩn sâu trong da thịt xương tủy. Nó kết tinh tự nhiên từ nền văn hóa cố đô Huế, nơi tụ hội các học giả xuất sắc nhất thời phong kiến hòa lẫn vào nghi lễ triều đình, nơi thói quen hoàng tộc được giữ gìn kỹ càng ngay cả trong dân gian hai bờ Sông Hương, ở cả nơi chợ, hè phố... Chính vì là cố đô, nên khi sức mạnh văn hóa chuyển vào Sài Gòn, thủ đô mới của Miền Nam, sự tan rã (hay chuyển đổi) của nền văn hóa đầy chất quý tộc dần dần mang sức sống mới, pha một nét giang hồ Sài Gòn hơn, để thành một nỗi buồn u hiển đầy năng động, điển hình như truyện và thơ Nhã Ca, thơ và tranh Đinh Cường, nhạc và thơ Trịnh Công Sơn (lời nhạc cũng đầy chất thơ), và nhiều người khác.

Các văn nghệ sĩ trẻ hơn từ Huế, trong đó có hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước cũng ghi lại theo cách riêng, rất kín đáo, trên trang giấy với nỗi buồn trí thức và với nỗi đau tận cùng của một dân tộc trong cơn binh lửa. Họ đã dùng ngòi bút để phần nào ghi lại một thời kỳ mà cái chết và sự ly tán hiện hữu trong từng hơi thở. Nhưng họ viết rất kín đáo, sẽ không có nhiều độc giả nhận ra hai nhà thơ ám chỉ tới những người đàn anh và bạn hữu ở Huế đã ly tán thế nào.

Trong bài Tựa (dài 10 trang, từ trang 9 tới 19) do nhà thơ Ý Nhi viết nơi đầu tập thơ, có một đoạn nói về nỗi buồn này, trích:

Trong một trao đổi qua thư điện tử ngày 8/7/2025, Trần Đình Sơn Cước viết cho tôi: ‘Vẫn sống cùng ngụ ngôn’ phủ đầy kỷ niệm một thế hệ các anh văn nghệ sĩ mà chúng tôi yêu mến và cảm phục. Họ để lại dấu ấn sâu đậm trong chúng tôi nói riêng, và thế hệ chúng tôi nói chung. Họ là Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường... Vẫn sống cùng ngụ ngôn là tâm ý tôi muốn nhắc nhớ về họ, lấy cảm xúc từ tập thơ nhan đề Ngụ ngôn người đãng trí của Ngô Kha...” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 14)

Nhà thơ Ý Nhi nhận ra rằng trong thơ Trần Đình Sơn Cước có thể nhìn như một tập lưu ảnh (chữ trong ngoặc đơn là các tựa đề bài thơ), viết trong bài Tựa, trích:

Bên cạnh Đinh Cường, Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Ngọc Biên... là Diễm Châu (Cổ vật), là Lê Khắc Cầm (Lời nguyện), là Nguyễn Ngọc Lan (Chứng ngôn), là Chân Tín (Sám hối), là Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng niệm), là Bùi Chánh Thời (Hóa thân), là Mai Thái Lĩnh (Lời của thác), là Nguyễn Thanh Văn (Chén đắng), là Đoàn Thanh Liêm (Yên nghỉ) rồi ĐT, Hà Thủy, Ngữ An, rồi Vũ Hùng, K, Palh... Và rồi, sau tất cả, giữa bao nhiêu khuôn mặt, ta nhận ra khuôn mặt hằn vết ưu tư của người gìn giữ tập lưu ảnh: nhà thơ Trần Đình Sơn Cước. Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè.” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 17)

Trong tên của các nhân vật ghi trên, bản thân người điểm sách hân hạnh có giao tình với họa sĩ Đinh Cường và luật sư Đoàn Thanh Liêm. Trong khi chúng ta có thể nhìn họa sĩ Đinh Cường (1939-2016) như người giấu được nỗi đau phân ly để tập trung vào sáng tác thuần túy với nét đẹp của tranh và thơ, luật sư Đoàn Thanh Liêm (1934–2018) lại là một mẫu người quân tử thời ly loạn, tuy tốt nghiệp trường Sĩ Quan Thủ Đức khóa 13, làm việc với cương vị Luật sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và nổi tiếng về các chương trình biện hộ miễn phí cho người nghèo oan ức, nhưng nhiều lần từ chối di tản năm 1975 để ở lại cùng với dân tộc.

Tháng 2 năm 1990, LS Đoàn Thanh Liêm đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm trong đó kêu gọi nhà nước  hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo... Nhà văn Phạm Phú Minh kể lại trên Đài VOA rằng, sau khi rời nhà tù Cộng sản năm 1988, về cư trú ở Sài Gòn, thỉnh thoáng lại gặp LS Đoàn Thanh Liêm, và trong bầu không khí Đông Âu sụp đổ đầu năm 1990 được LS Liêm đưa cho bản  văn tựa đề Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản... Hiển nhiên, trong thời nhà nước CSVN siết bàn tay sắt hậu 1975, bản văn đòi nhân quyền của LS Đoàn Thanh Liêm chính là một bài thơ viết bằng sinh mạng của chính mình để rồi bị lãnh án 12 năm tù, và rồi bị trục xuất sang Mỹ năm 1996. Các năm sau đó, tôi vẫn thường nhìn thấy LS Đoàn Thanh Liêm đi lững thững mỗi buổi trưa trên đường Moran, thị trấn Westminster, và Luật sư Liêm vẫn thường ghé thăm tòa soạn Việt Báo để hỏi tôi (một nhà báo khá khù khờ) về chuyện quê nhà.

Trần Đình Sơn Cước có bài thơ tựa đề Yên nghỉ để tưởng niệm LS Đoàn Thanh Liêm, so sánh cuộc đời của vị luật sư nhân quyền này hệt như một tách “nhạc Jazz” làm say lòng người, dài bốn câu:

"A morning cup of Jazz"

Điệu Blues hóa chén trà lưu vong

Chén trà tiễn một lương tâm

Mùi hương theo gió thổi nhằm tim ta...

(VSCNN, trang 70)

Một khuôn mặt cực kỳ thơ mộng hiện ra nhiều lần trong tập thơ Vẫn sống cùng ngụ ngôn là họa sĩ Đinh Cường, một người cố gắng tách rời các khuynh hướng chính trị của thời đại và bạn hữu để tập trung vào nghệ thuật. Đinh Cường có các phụ bản tranh ở trang 43, trang 116, trang 130, và có hai bài thơ trong phần Phụ Lục trong đó nhắc tới suy nghĩ, kỷ niệm của họ Đinh với Trần Đình Sơn Cước, Trần Kiêm Trinh Tiên, Hoàng Ngọc Biên và Lữ Quỳnh.

Điểm ghi nhận, thi tập cũng được giúp từ bàn tay của một người con Đinh Cường là Đinh Trường Giang – người trình bày bìa, có các phụ bản tranh ở trang 21, trang 24 (Chân Dung Họa Sĩ Đinh Cường).

Trong bài thơ tựa đề Kỷ Niệm, dài 3 trang, Trần Đình Sơn Cước đề tặng Đinh Cường, trong đó hai khổ thơ đầu ở trang 53 ghi những dòng chữ có thể hiểu như là nói về thành phố Huế với cây cầu gãy, với cổ thành đổ nát, có thể hiểu là từ trận Mậu Thân 1968, trích:

Khi tôi lớn lên

Các anh như bầy chim di

Trốn xa thành phố

Bỏ lại giòng sông những sáng sương mù

Cây cầu gãy và cổ thành đổ nát

Hàng long não với gió chiều nhả nhạc

Bông Sầu Đông tím lặng

Chờ ai

  

Khi tôi lớn lên

Các anh như huyền thoại

Xao xuyến lòng các cô gái đôi mươi

Những chàng trai ôm giấc mộng đổi dời

Mơ các anh

Như mơ thần tượng

(VSCNN, trang 53)

Trong phần Phụ Lục còn có hai bài thơ của Trần Hoàng Phố, và một bản dịch bài Một thời sang tiếng Anh do dịch giả Hoàng Thạch Thiết thực hiện.

Nơi trang bìa sau là trích lời Tựa của nhà thơ Ý Nhi, trích:

Trong giòng chảy chậm rãi, thâm trầm, đượm buồn, thơ Trần Kiêm Trinh Tiên phải chăng là hành trình đi tìm "Những lời ca thơ/ Đẹp như nước mắt", là niềm mơ ước được viết Bài tâm khúc nhiều nốt lặng lên bầu trời khuya mênh mông kia..." (Tựa, Ý Nhi)

Cũng như:

"....Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè. Những câu hỏi day dứt, xót xa từng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ anh.” (Tựa, Ý Nhi)

Tập thơ có nhiều phụ bản của các họa sĩ: Bửu Chỉ, Đinh Cường, Hải Bằng, Hoàng Ngọc Biên, Lữ Kiều, Đinh Trường Giang. Trong đó, có một phụ bản của Bửu Chỉ nơi trang 102 làm tôi khựng lại nhiều lần để nhìn. Tấm tranh này của Bửu Chỉ với nhan đề Nội chiến có hình một quả trứng gà màu trắng đã vỡ nửa trên, hiện ra hai người gầy gò như các cọng tăm với các chân còn đứng trong nửa quả trứng chưa vỡ ra hết đang cung tay đánh nhau. Phía trên cao trông như là hai vầng trăng, một màu trắng và một màu đỏ. Phải chăng đó là lịch sử quê nhà? Và bây giờ, chưa nguôi nỗi đau?

 

Phụ bản Nội chiến của Bửu Chỉ, trang 102.

Hình ảnh rất buồn đó được gợi nhớ, qua bài thơ hai đoạn sau đây của Trần Kiêm Trinh Tiên sáng tác năm 2019, với tựa đề in chữ hoa:

BỨC TRANH CHIỀU 30-4

Bao thuốc lá ai đánh rơi

Điếu thuốc kéo ra lưng chừng

Nằm lại bên thềm nắng

Chiều Ba Mươi Tháng Tư

 

Bức tranh ba chiều

Màu xám tối tràn xuống bậc thềm

Màu vàng nắng ải

Tuổi trẻ ai đánh rơi trên ngọn cây cụt đầu

Hạnh phúc ai để lại đằng sau

Người tình nhỏ vừa ra đi đúng Ngọ

Mảnh pháo năm im trong tim

Kỷ vật sau cùng, chiến tranh gửi lại

Chiều Ba Mươi Tháng Tư.

(VSCNN, trang 39)

Tương tự, trong bài thơ dài ba trang tựa đề Cổ vật sáng tác năm 2020 để tưởng nhớ Hoàng Ngọc Biên (1938-2019), nhà thơ Trần Đình Sơn Cước viết ở hai đoạn cuối, trích:

Chiều 30 ấy úa vàng

Bao thuốc rớt lại

vỡ tan

một thời...

 

Hình như

có giọt lệ rơi

Mộng xưa

đọng mãi tim người lưu vong

Một thời lãng mạn bão giông

Hóa thành tĩnh vật

trơ cùng tháng năm...

(VSCNN, trang 58)

Trong bầu trời quê nhà đầy giông bão như thế, hình ảnh các bà mẹ hiện lên gày gò, tội nghiệp. Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ dài 6 đoạn viết năm 2012, tựa đề Chiều Sausalito tiễn mẹ, ghi lại, trích ba đoạn thơ cuối bài là:

Nhớ xưa mẹ ôm đàn con vượt biển

Đất nước bạc tình mẹ tìm cửa tử

Ba nằm lại nơi trại tù Bắc Việt

Phút lâm chung mơ viên kẹo cầm tay

 

"Tháng Tư" về mẹ nếm đủ đắng cay

Thân gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở

Ngăn nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ

Bước chân liều qua sóng dữ trùng dương...

 

Biển chiều nay lại tiễn mẹ lên đường

Bao giận thương tan cùng nắng gió

Nhìn bụi tro bập bềnh trên sóng vỗ

Chúng con cúi đầu tiễn mẹ đi xa.

(VSCNN, trang 82)

Thăm cha trong tù là một hình ảnh thường thấy trong thời sau 1975. Nhưng trước đó gần 20 năm thì... Nhà thơ Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ sáng tác vào tháng 4/2018 tựa đề Mẹ tôi, chỉ dài 8 dòng, viết như sau, với ghi chú rằng mẹ từng đi tù theo Đạo Luật 10/59 (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhiều người Việt Minh về thành bị giam vì nghi ngờ), như sau:

Năm xưa nhớ mẹ đi tù

Bầy con thơ dại lù mù tuổi thơ

Trưa hè chị dắt thăm nuôi

Mo cơm bới với cục đường mẹ ơi!

 

Ôm tôi. Nước mắt mẹ trào

Mẹ nhai cơm khống. Cục đường cho con

Mẹ tôi. Nay đã không còn

Cục đường lòng mẹ. Ngọt hoài lòng con.

(VSCNN, trang 83)

Và lòng mẹ lúc nào cũng thương con. Trong bài thơ Biển đau, ghi rằng để tưởng nhớ hai em T & T, Trần Đình Sơn Cước viết:

Thả bông hồng trôi vào biển khơi

Xác em nơi mô hồn em đâu

Lòng mẹ quặn đau trời bão gió

Sóng biển chiều nay phủ oán sầu

(VSCNN, trang 87)

Trong bài thơ dài 2 trang, tựa đề Sám hối, viết năm 2015, để tưởng nhớ Linh mục Chân Tín, Trần Đình Sơn Cước viết, trích:

Vết thương Quốc, Cộng

Vết thương thắng, bại

Vết thương trong, ngoài

Vết thương từ trái tim ngăn ngại

(VSCNN, trang 91)

Để rồi bài thơ tựa đề Lụi tàn để tưởng nhớ nhà thơ Trần Vàng Sao, Trần Đình Sơn Cước đã viết, trích:

Thế hệ chúng tôi

Thế hệ chiến tranh

Hận thù, tàn phá

Những đứa con tài hoa của Huế

(VSCNN, trang 96)

Thế đó. Các văn nghệ sĩ thờ kỳ đó, dù ra đời và trưởng thành ở Huế, hay Sài Gòn, hay Cần Thơ... đều có những sự đứt gãy, không chỉ ở văn hóa, lịch sử mà có khi ở cả sinh mạng. Có những người thoát chết và rồi im lặng trọn phần đời còn lại. Có những người lên tiếng, nhưng đời họ chỉ còn là các bản tình ca dang dở: họ là các mảnh vỡ của gương soi, dù có dán lại được bằng bất kỳ loại keo, hay hồ nào thì cũng vẫn hằn lên các vết nứt.

Thơ của Trần Đình Sơn Cước và Trần Kiêm Trinh Tiên có nét trầm mặc, cùng mang phong cách kín đáo, ưu tư và trí thức kiểu Huế. Thơ của họ là chữ đượm các nỗi buồn lặng lẽ. Ngay cả khi họ viết xuống giấy thành thơ, các nỗi buồn cũng là những phảng phất mơ hồ, không dễ được hiểu minh bạch, nếu độc giả không có đủ kiến thức về một thời nội chiến, nơi bất kỳ chiếc cầu gãy nào cũng là những trận mưa nước mắt cho các bà mẹ của cả hai miền. Tập thơ in tại Hoa Kỳ vào tháng 3/2026, không ghi địa chỉ liên lạc.

 

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Noor Hindi: Thơ cho một đất nước đã mất

 Phan Tấn Hải

Các sinh viên Đại học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả – hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2026

Đọc Bùi Vĩnh Phúc: Chữ nghĩa & Không gian văn chương

 Phan Tấn Hải

Thêm một cuốn sách phát hành giữa một thời bom đạn bay khắp trời. Bất kể rằng, dòng chữ không ngăn cản được đường đạn bay. Hiển nhiên, bởi vì tác giả Bùi Vĩnh Phúc đang rời khỏi thế giới vật lý của địa cầu, để bước vào một thế giới nơi mà anh gọi là một không gian văn chương rất riêng trong tác phẩm mới, nơi đó là thơ, là văn, là nhạc, là phê bình, là cảm nhận, là những giấc mơ bay bổng từ chiếc đàn dương cầm với các phím là chữ và nghĩa. Như thế đó, tuyển tập các bài viết của Bùi Vĩnh Phúc ấn hành với nhan đề Chữ nghĩa & Không gian văn chương (CN&KGVC) nơi do chính anh tuyển chọn, trích lại các bài viết anh ưa thích nhất.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Thế giới thơ mộng Đinh Cường: “Đi vào cõi tạo hình II”

 Phan Tấn Hải

Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập Đi vào cõi tạo hình II của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường.

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2025

Nga cướp tài sản văn hóa, xóa căn cước Ukraine

 Phan Tấn Hải

Muốn đồng hóa một dân tộc, trước tiên là phải tước đoạt căn cước riêng của dân tộc đó, và biến kho tàng văn hóa của dân tộc đó trở thành tài sản riêng của mình. Đó là chuyện Nga đã và đang làm ở Ukraine. Chúng ta nên hỏi rằng tại sao các triều đình Trung Hoa trong hơn một ngàn năm đô hộ Việt Nam vẫn không thể đồng hóa dân Việt Nam? Nếu tiếng Việt bị xóa sổ sau khi Mã Viện tận diệt quân Hai Bà Trưng và dựng cột đồng, có thể bây giờ chúng ta đang sinh ra, lớn lên và giao tiếp trong bầu không khí của ngôn ngữ Quan Thoại, hay Quảng Đông. Trong bài này, chúng ta sẽ xem cách người Nga tước đoạt căn cước văn hóa Ukraine, đặc biệt là các tài sản mỹ thuật, trong khi truy diệt các tài năng nghệ thuật nơi họ xâm chiếm. Bài này sẽ tổng hợp nhiều tài liệu UNESCO, PEN Ukraine và các báo như United 24 Media, Intent Press...

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2025

Đọc Tuyển tập Trịnh Y Thư: Theo Dấu Thư Hương 2

 Phan Tấn Hải

Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác.

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

Palestine: Những dòng thơ không bao giờ chết

 Phan Tấn Hải

 

Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót.

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2025

Đọc tập truyện Hạt U Minh của Trần Kiêm Trinh Tiên

 Phan Tấn Hải

 

Tập truyện ngắn vừa phát hành của nhà văn Trần Kiêm Trinh Tiên có một nhan đề rất là buồn, Hạt U Minh. Nhiều truyện trong tập này như dường viết về các lằn ranh bị vượt qua. Thí dụ, lằn ranh tình yêu (hay như dường là tình yêu) giữa một ni cô và một chàng trai trong trường Dòng. Hay thí dụ, mối tình giữa một thiếu nữ Huế và chàng trai Mỹ, và chàng chết khi bùng nổ các trận đánh trong Tết Mậu Thân ở Huế. Hay như truyện cuối trong tập, khởi đầu là các hình ảnh liên hệ tới Kinh Thánh Ki Tô Giáo, giữa truyện là ký ức một thiếu nữ về một truyện Thiền... Cuộc đời, vâng cuộc đời, thực sự là không có lằn ranh, dù là màu da hay tôn giáo. Tác giả có vẻ như muốn nêu chủ đề từ những chuyện đời thường.

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2025

Nghe tiếng chim bên rừng Miến Điện

 Phan Tấn Hải

Bạn có thể xem bài này như truyện ngắn. Có thể gọi là nhiều truyện ngắn trong một truyện ngắn, hay là ghép từ nhiều mẩu truyện. Bạn cũng có thể đọc như tùy bút, hay bản tin, hay là vân vân, nghĩa là bất cứ những gì có chữ, có thể đọc lên, có thể nghe được như âm thanh. Đó là những gì tự nhiên hiện lên trong trí nhớ của tôi, những gì tôi bất chợt nghe bên tai khi ngồi bên sông, ven biển, góc rừng, hay khi nửa đêm nhìn ra hàng hiên.

Thứ Hai, 1 tháng 9, 2025

Đọc Ngô Thế Vinh sau thời đốt sách

 Phan Tấn Hải

Tôi luôn luôn nhớ tới những trận đốt sách ở Miền Nam Việt Nam sau năm 1975, mỗi khi nhớ tới các công trình nghiên cứu của Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh... Họ không phải là những người chữa lửa. Thực sự, họ cũng là nạn nhân của một thời hậu chiến, khi các tác phẩm của họ cũng bị chính quyền mới thu vét để đốt. Họ là những người nhặt lại từ các trang giấy bị thiêu rụi để thu thập, tái hiện và lưu giữ các tác phẩm văn học Miền Nam trước 1975.

Chủ Nhật, 15 tháng 6, 2025

Gaza: Vẽ tranh giữa trời hư vỡ

 Phan Tấn Hải

Có cách nào để sớm có hòa bình cho Gaza, một trong vài vùng đất đau thương nhất thế giới hiện nay? Chúng ta không có câu trả lời. Liên Hợp Quốc cũng bế tắc. Chúng ta, những người sống trong thế kỷ 21, cũng không thể quy trách một ai, vì như dường định mệnh đã sắp sẵn cho cuộc tàn sát từ nửa đầu thế kỷ 20, hay là từ hai ngàn năm trước. Chúng ta hoàn toàn không hiểu, tại sao khu vực được xem là đất thánh của ba tôn giáo lớn nhất thế giới – Do Thái Giáo, Ky tô giáo, và Hồi giáo – lại rơi vào một cuộc chiến bi thảm và dai dẳng như thế? Tuy nhiên, đất trời muôn đời vẫn im lặng. Một cách nào đó, các nghệ sĩ ở Gaza lên tiếng cho dân tộc của họ. Họ đã vẽ, dù không còn đầy đủ màu sơn. Khi giấy và các tấm canvas biến mất, họ lấy các bao bột mì làm nền để vẽ tranh.

Thứ Tư, 23 tháng 4, 2025

Cuốn sách sau 50 năm: Cuốn Lên Bức Mành

 Phan Tấn Hải

Nhà văn Phạm Quốc Bảo trong tuần qua vừa ấn hành tuyển tập Cuốn Lên Bức Mành. Một tác phẩm ghi lại những suy nghĩ của một người đang giữa lứa tuổi 80s từ hải ngoại về những gì còn lưu giữ sau một đời làm báo và viết truyện. Từng trang chữ của ông là cô đọng những cảm xúc của một người không tự cho mình sống một ngày nào mà không nghĩ tới quê nhà.

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2025

Khi nghệ thuật bị rào thuế quan

 Phan Tấn Hải

Nhiều người Việt các tiểu bang khác, khi tới thăm Quận Cam, bước vào Phước Lộc Thọ, sẽ kinh ngạc khi thấy hàng loạt áo dài sản xuất từ Việt Nam được may khéo, kiểu dáng tân kỳ, bán chỉ có 10 USD một áo. Rẻ kinh khủng, nhưng đồng bào mình ở quê nhà sống nhờ như thế. Rồi tới những món hàng nghệ thuật như đồ gốm sứ, vòng tay, tràng hạt, nón lá, đồ chơi trẻ em... đều bán rất rẻ. Chúng ta thắc mắc tại sao lại rẻ như thế. Hẳn nhiên, khi vào Phố Tàu Los Angeles, bạn cũng sẽ có những kinh ngạc tương tự với áo xường xám và các món tương tự từ nhiều thị trấn Hoa Lục.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2025

Vì một thế giới bao dung, bình an

 Phan Tấn Hải

Tháng đầu tiên của năm 2025 đang trôi qua. Nhiều câu hỏi đang hiện ra trên các trang báo. Thế giới có thể sẽ bình an hơn? Dân tộc Palestine có thể sẽ được phép cho lập quốc? Ukraine có thể đã tới gần ngày ngưng bắn? Biển Đông sẽ ngưng sóng gió? Cuộc chiến Đài Loan sẽ thoát được? Nam Hàn và Bắc Hàn sẽ làm hòa với nhau? Chúng ta không mong đợi phép lạ sẽ hiện ra cho thế giới này, chỉ mong đợi năm 2025 sẽ đỡ bất an hơn. Nếu không chấp nhận những dị biệt của nhau, để cởi mở với những tư tưởng đa nguyên hơn, thế giới này sẽ cứ mãi bất an.

Thứ Hai, 9 tháng 12, 2024

Nhà thơ Rohingya chạy ngàn dặm ra khỏi xứ Phật

Phan Tấn Hải

 

Nói như thế là hơi cường điệu, nhằm nêu lên điểm bi hài. Không phải chạy ra khỏi xứ Phật, nhưng là chạy trốn khỏi bạo lực của chính phủ quân phiệt Miến Điện, khi sắc dân thiểu số Rohingya năm 2017 bị tấn công, đốt làng, xua ra khỏi biên giới vì chính phủ Miến Điện gọi họ là người Hồi giáo Bangladesh. Cũng không xa tới ngàn dặm, chỉ 600 dặm là Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc đã dựng lều trại cho tạm cư hàng trăm ngàn người Rohingya chạy vào Bangladesh.

Thứ Sáu, 27 tháng 9, 2024

Trịnh Y Thư: Những mối tình trong “Đường về thủy phủ”

Phan Tấn Hải

Hiếm có một tiểu thuyết như Đường về thủy phủ của Trịnh Y Thư. Không phải là một cuốn tiểu thuyết lịch sử, nhưng lại làm người đọc phải bâng khuâng nghĩ về những chặng đường đã trải qua của dân tộc. Không phải là một tiểu thuyết diễm tình, nhưng lòng độc giả sẽ chùng xuống khi khép trang sách lại và ngậm ngùi cho những mối tình tan vỡ. Bạn có thể đọc xong, tuần sau đọc lại, vẫn còn thấy có những gì như cần đọc nữa. Chữ của Trịnh Y Thư như dường không cũ tí nào, vì nó luôn luôn gợi tới những gì sâu thẳm trong tim mỗi người, những ước mơ về một mối tình rất mực kỳ ngộ, rất mực dị thường.