Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Xuân Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Xuân Sơn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 30 tháng 4, 2025

Thơ Hoàng Xuân Sơn

 SINH NIỆM

Tôi đốt tiểu tường khai tôi sống
Phục sinh ban mai
Đêm qua sân trước dại khờ
Um tùm lau cỏ
Sự phất phơ nào cũng tới hồi rệu rã
Tôi sống phất phơ
Ăn ngủ phất phơ
Yêu đương lẩm cẩm
Trong cái bị thịt ngày mỗi phì nộn
Chỉ có một thứ teo tóp
Dung dịch man khai
Tới kỳ đáo hạn

Thứ Tư, 6 tháng 11, 2024

Thơ Hoàng Xuân Sơn

B R O W N  P O E M S

___________________

                      Virgis carré d’artistes

 

Đ À S Ơ N

Hãy ấm áp bên nhau
Dù thời gian tước vỏ
Trong thân mộc hồn nâu
Dịu dàng từng vết nhớ

Cho đời lại mưng đau
Thời gian. sự tẻ lạnh
Như khi bước qua cầu
Vin cùng nước lóng lánh

Những hạt nước giọt mắt
Nhỏ vào nhau yêu xót
Xa xôi và động tình
Khua trăng niềm khánh ngọc

Hãy nghe từng âm rung
Đá chìm miền tổn thất
Khi vàng xên nâu thổ
Hãy nhớ nhau mịt mùng

)(

9.10.24

 

N Â U  C Â M

Chập choạng đêm. sờ
Một vệt bỏng
Vết nứt da mùa
Vào hẳn trọng tâm cái lạnh
Để thấy mình chưa rét

Chưa đâu mùa đông xâu ta một chuỗi nhớ
Chim tha tình về dưới hiên nâu
Lá bắt đầu vàng

Ví như nhà bếp là một nụ hoa
Tươm tướp những chặng dinh dưỡng
Nhen lửa chiều nào
Cho cánh rừng chín

Ghi vào notes những cái lụn vụn
Mở ra một khoảng đứng
Ly cà phê chưa hâm
Làm sao đồng bằng biết được mình đang hát
Tôi
Cao nguyên

Khi bạn tưởng mình chủ chốt
Thiệt ra thế giới toàn bị động
Động
Động
Động
Động chủ là ai
Vách đá sượng sần

Con chim nâu
Cuộc tình nâu
Tuồng như những tấm ván bắt đầu
Thiết kế một nóc nhà câm

)(

6.Octobre.24

 

Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2024

Thơ Hoàng Xuân Sơn

T  h  I    p.  n  H  Ư   h Ồ

clip_image002[4]

                                 Saatchi Art

 

tôi ngạt thở như trăng

đêm củi than

đốt cháy hương rừng

tôi như thừng kéo neo

về hướng mặt trời mọc

biển quạnh hiu. [những rặng đồi khóc lóc]

tôi như thân cây tróc vỏ

mùa lá đỏ về chân ngọa cầm

tôi như phiến âm

đàn lết. phong. rêu mục

Thứ Tư, 13 tháng 2, 2019

Ơn Xuân

Hoàng Xuân Sơn


xuân chờ

mụn nắng đơm hoa

gió buông củ cải

lòa xòa tóc mây

nhờ em

da lão đâm chồi

ơn nuôi nấng

giữa trần ai bít bùng

đời mình có cái chung chung

cái riêng tư của

mịt mùng tai ương

phía trước xông một con đường

sau lưng

ủ mộng bình thường*xác xơ

đời quá bộ

như bài thơ

cùng nhau lượm chữ

dăm tờ rối beng

giờ chừ

khúc nhạc leng keng

hỏi xuân du có

trống kèn

đẩy

đưa?


27 tháng giêng 19

*ngủ đi em mộng bình thường – thơ Huy Cận

Chủ Nhật, 25 tháng 2, 2018

Chùm thơ Tết

Phan Đắc Lữ

Ba ngày tết


Ba ngày Tết
Một mình ta ở nhà
Vui với hai con chó, một con mèo
Ngoài sân chú gà trống gáy ó... ò… o…
Ao trong vườn đàn cá lội tung tăng.


Trong nhà không hoa, không bánh kẹo
Trên bàn thờ chỏng chơ hai cái bánh chưng
Một nén nhang khói tỏa đìu hiu
Ông bà không biết có ngại mà không về.

Thứ Ba, 25 tháng 4, 2017

Tạm Thay Lời Kết: Vạn Nẻo Mây Tần

Ký ức Hoàng Xuân Sơn

Thêm một Ký ức tháng Tư từ bạn văn Hoàng Xuân Sơn từ Canada gởi đến Văn Việt.

Xin cảm ơn tác giả và trân trọng chia sẻ cùng các bạn.

Văn Việt

 

Những ngày u ám trước thời điểm 30/4/1975, cả bọn công chức chúng tôi trong Văn Phòng Phụ Tá Kế Hoạch/Tổng Cục Bưu Chính gồm có anh Đỗ Kỳ Quang đầu đàn (hiện cư ngụ ở Toronto – Canada), các bạn Lê Đình Thông (cựu nhà báo Độc Thủ, tiến sĩ, hiện định cư ở Pháp Quốc), Nguyễn Hoàng Dũng (Dũng còm, không biết tin tức), Lý Ngọc Châu (California?) và Nguyễn Thị Châu Triền (không rõ tin tức – người nữ thư ký duy nhất trong văn phòng) đứng ngồi không yên. Hết đi ra lại đi vào, lóng ngóng tin tức từ chính trường ngày càng bi thảm; từ chiến trường mỗi phút giây thêm tồi tệ. Cả bọn bàn tán xôn xao, hoạch định con đường… chạy loạn.

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2017

Mãnh sư

Hoàng Xuân Sơn

Bạn thân mến, 

Khi bạn yêu cầu tôi viết một bài về nhạc sĩ Phạm Duy (PD) cho một số báo đặc biệt, thật tình tôi rất phân vân và e ngại. (*)

Phân vân là vì với nhạc sĩ PD, tôi rất nể phục về tài năng nhưng lại thiếu lòng say mê về những ca khúc ông đã viết ra cho dù đó là những ca khúc được nhiều người xưng tụng. E ngại là vì tự biết mình không có khả năng chuyên môn về nhạc học để viết nên một bài nhận định nghiêm túc về một sự nghiệp âm nhạc đồ sộ. Thôi thì tạm mượn hình thức lá thư này để chia sẻ với bạn một vài cảm nghĩ của một người thưỏng ngoạn bình thường về những soạn phẩm của một nhạc sĩ nổi tiếng nhiều mặt.

Gần đây, đọc các nguồn tin trên liên mạng có một số luận cứ phản bác sự nghiệp ca nhạc của PD. Những người này cho rằng tài năng của PD chỉ đóng khung ở những Bài Thơ Phổ Nhạc. Vượt ra ngoài khuôn khổ này, nhạc PD chỉ là một mớ tuyên truyền nhàm chán, ý cạn, và càng ngày càng ít người thích hát hoặc nghe nhạc PD. Ðành rằng những ca khúc PD phổ từ thơ của các thi sĩ như Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Thiên Thư, Minh Ðức Hoài Trinh, v.v. là một nhánh xuất chúng trong sự nghiệp âm nhạc của ông, nhưng không phải tài năng người nhạc sĩ chỉ dừng lại ở đó. Theo tôi, PD là một trong những người viết ca từ hay nhất của thời đại chúng ta. Và hẳn người nhạc sĩ cũng tâm đắc điều đó khi ông cho ấn hành tuyển tập Ngàn Lời Ca – Phạm Duy (1987) trong đó chỉ thuần lời ca mà không chủ lấy một nốt nhạc.

Thứ Tư, 25 tháng 1, 2017

Thơ Xuân Hoàng Xuân Sơn

mê ly

 

hắn khoe làm tiết canh rùng rợn

cả lẩu dê

hun nóng đường trường rượt chạyThơ - HoangXuanSon

mẹ rượt mẹ rượt hồi nào

bóng đêm đè bóng mình ná thở

[ai bảo mần chi thơ

cho chầm dzầm huyết áp]

túi khôn túi mật

tin vào điều bạn viết

túm tụm hai đầu

quẳng bọn mình gọn bâng vào chiếu rượu

văn minh mồi lửa

hơ nóng miếng tiết rậm lông

chan và húp

ta cùng huơ tay múa dậm

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Cũng cần có nhau (chương mười)

Hoàng Xuân Sơn

C H Ư Ơ N G M Ư Ờ I

M ậ u T h â n T r o n g L ò n g C u ộ c C h i ế n

Có những cái tết xa nhà tuy cô đơn nhưng thật là cảm khái. Nhớ đến cái tết xa nhà đầu tiên năm nào ở CPS: Tất cả anh em bạn bè đều về quê ăn tết hoặc quay về vui xuân với mái ấm gia đình; chỉ còn Ngô Vương Toại và mình tôi trụ trì tất cả cơ ngơi vắng như chùa Bà Đanh của CPS. Chiều ba mươi tết, hai đứa lộn mãi túi quần, vơ bèo vớt tép, được mươi trự (đồng bạc, nói theo tiếng Huế) rủng rẻng, cũng quyết định đóng bộ thăm thú phố phường. Chập choạng tối. Trời vắng, lạnh như cõi lòng trống không. Hai chàng lang thang ở miệt Bùng Binh rồi trốn về Chợ Cũ (cóp-py bài học Việt sử – Gia Long Tẩu Quốc: lang thang ở vùng Cà Mau rồi trốn sang Xiêm). Hai đứa hẩu xực hai tô mì hoành thánh, sắm thêm được một chai vang đỏ thưởng xuân là cạn lán.

Về nhà, cũng bày rượu đỏ cúng giao thừa kiếm vận hên. Vỏ chai (sau khi đã cưa hết rượu) được vẽ vời cắt dán làm bình bông tuyệt đẹp. Bẻ tạm bông sứ nhà nàng (nhà cô bé Phương) cho có hoa có hòe chưng ba ngày tết. Và hai cu cậu máu văn chương nổi lên đùng đùng, cũng học theo tiền nhân làm câu đối tết. Như vầy :

Tối ba mươi, đói nghiêng khát ngửa , diện áo quần đi chơi, quên hết mọi sự ( xuất : Toại )

Sáng mồng một, đứng lên ngồi xuống , trùm chiếu chăn nằm ngủ , nhớ cả một đời ( đối : Sơn )

Và còn hai câu khác nghe cũng tự thán lắm ! Tự nhiên quên mất!

Cắt một manh chiếu rách, nắn nót viết câu đối cảm tác theo lối chữ Triện, treo hai

bên cửa ra vào nhà. Cứ thế mà tống cựu nghinh tân. Vậy mà, sáng bảnh mắt mồng một tết, đã thấy cô Thái ( em bà Thím của Toại ) xông đất mang theo nào là hoa quả mứt bánh. Bọn tôi dĩ nhiên mừng hết lớn, trong cơn tụng niệm ở hiền gặp lành. Xế trưa, bầu đoàn thê tử CPS: các anh Toàn, Cát, Điểu, Phùng . . . lục tục ghé ngang trụ sở, đọc câu đối của hai thằng khố rách, thương tình lì xì chút đỉnh phong bao đỏ. Thế là tối hôm đó, từ kẻ hèn, bỗng đội lại lốt người sang, đủng đỉnh rượu chè bánh trái.

Năm Mậu Thân 68, tôi quyết định về Huế ăn Tết với mạ và gia đình. Giang ra Nha Trang vui xuân với gia đình chị tôi đang theo chồng (quân nhân) đóng trụ nơi đó. Không hẹn mà gặp, Trịnh Công Sơn, Phạm Nhuận cũng về Huế năm này. Tôi về tới Huế khoảng 25, 26 tết. Hơn 5 năm xa nhà, về nhìn lại sông nước vườn tược, lòng nao nao một khúc ruột, một chặng đời xa xứ. Huế vẫn muôn đời trầm lặng. Không có gì thay đổi lớn ngoài bầu không khí vẫn rất thiêng liêng gần gủi của những ngày cận tết ở Huế, có thể thấy được, đọc được trên dáng đi, trong mắt trên môi người.

Sau khi con cái đi xa, mạ quyết định rời khu Tòa Khâm/Hàng Me/Lê Lợi về cư ngụ trong căn nhà hương hỏa nhỏ bên Ngoại, nằm phía bên tê múi Đập Đá. Trong nhà có mệ ngoại tôi, lúc ấy đã ngoài 80 nhưng nom còn khỏe mạnh lắm. Và thêm gia đình chị Hoa với hai em Giêng/Hai, bà con xa, vẫn giúp việc cho nhà tự hồi tôi còn bé tí tẹo.

Về nhà với mạ nhưng không quên những cái hẹn đàn đúm ở nhà bạn. Đó là cái nết, cái tật ( dễ thương ?) của bọn trẻ chúng tôi. Cần bạn như cần hơi thở. Mấy ngày trước Tết, tôi hay ghé nhà anh TCS ở đường Nguyễn Trường Tộ, gần cầu Phủ Cam. Mặc dù hai gia đình đã là thân thuộc, đây là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc, kề cận mọi người trong nhà anh Sơn. Ai nấy đều hiếu khách, dễ mến, gây ấn tượng sâu đậm, quá tốt đẹp trong buổi đầu gặp gỡ. Má anh TCS lịch thiệp, niềm nỡ, hay nhắc hay kể chuyện đời xưa. Anh Hà, Tịnh đã quen mặt, rành rọt nhau tự chốn ăn chơi. Và mấy người em gái TCS Thúy/Tâm/Ngân/Diệu/Trinh xinh xắn, hồn nhiên, dễ thân thiện. Chị em líu ríu quấn quít bên nhau như chim. Có đôi khi cãi lẫy nhau nhưng vẫn yêu thương nhau cùng cực tấm lòng rà ruột. Tôi chưa thấy một gia đình nào có sự đoàn kết chặt chẽ như vậy : một đại gia đình sát cánh đùm bọc yêu thương nhau, liền lạc như chuỗi hạt kim cương bồ đề.

Đôi khi anh ngỡ mình là gió

gió tình cờ trở lại nhà em

gió đến rất thầm sau khung cửa

đón các em về buổi học tan

Nhớ Huế êm đềm mưa nghiêng sợi

thương màu áo dạ phố đông sang

buổi sáng em cười mắt ngái ngủ

đêm qua lạnh quá giữa mưa phùn

. . . . . .

Bước chân phiêu lãng còn trên phố

buổi chiều tà có mắt ai trong

bàn tay năm tháng mềm như lụa

ngồi đây thương nhớ cũng tang bồng

Những hội ngộ thơ mộng. Đẹp. Và buồn. Và rồi cũng mong manh như cơn mưa phùn tan trong lạnh sớm.

Vâng ! Có bao giờ niềm thương được trọn vẹn mãi mãi nơi chốn an lạc vĩnh hằng?

Gặp gỡ hôm này, chia tay hôm mai . . .

Lần về quê ăn tết này, tôi còn gặp được nhiều bạn bè cũ mới tại nhà anh TCS, thường là nơi tụ hội đông đủ. Nào là Lê Hữu Bôi ( trước, sinh viên tranh đấu – nay là công chức của Phủ Đặc Ủy Tị Nạn Cộng Sản ) cùng vài người bạn dân sự có, quân nhân có đến từ Sàigòn. Nào là Ngô Kha, Bửu Chỉ, Đặng Ngọc Vịnh, Hoàng Trang . . . dân Huế . Có Đinh Cường nữa thì phải? Hình như Cường đang dạy học ở Huế . Rồi Sơn lớn (TCS ), Sơn nhỏ (HXS), Trịnh Xuân Tịnh, Hoàng Thi Thao, Phạm Nhuận . . . từ Sàigòn về. Vậy mà trong cuộc gặp gỡ ấy có người bên này, bên kia khi giờ cuối ngả ngũ mới rõ ràng xanh đỏ. Có cả Lê Văn Tài (LVT), một họa sĩ trẻ tuổi tài cao chuyên về thủy thái họa. Tài vẽ rất đẹp. Và lạ. LVT là người trân qúy bạn bè. Mỗi một cuộc họp mặt, gặp gỡ bằng hữu đều được anh ghi lại một cách trang trọng đầy đủ tên tuổi bạn bè trên những tờ bích họa màu sắc, treo la liệt khắp nhà, xưởng vẽ . . . LVT hiện nay đang định cư ở Úc Đại Lợi, tiếp tục vẽ và làm thơ ( xin xem bài giới thiệu của Nguyễn Hưng Quốc trên Tạp Chí Thơ số mùa Xuân năm 2007 ). Sau những gặp gỡ tiền trạm ở nhà TCS, Tài hẹn anh em tụ lại nhà Tài tối 29 tết ăn nhậu và xem những họa phẩm mới. Nhà Tài ở gần cửa Thượng Tứ.

Chiều hôm đó, tôi đi phà từ Đập Đá qua chợ Đông Ba; thả bộ dọc phố Trần Hưng Đạo hướng về nhà Tài. Tết năm nay người ta ở đâu mà đông đúc lạ kỳ. Thiên hạ ngược xuôi, xôn xao mua bán chật cả phố Huế. Có những khúc đường phải chen lấn mới đi lọt. Chợ hoa trước Ty Thông Tin kín nghịt người. Hóa ra sau này mới vỡ lẽ : Bắc quân và lực lượng nằm vùng cộng sản đã chuẩn bị cài người, chuyển tải ngầm vũ khí trước tết, để sẵn sàng cho cuộc tổng công kích Mậu Thân 68. Chẳng hiểu vòng đai an ninh thành phố Huế làm chi mà lỏng lẽo đến độ buông thả như vầy ?!

Tới nhà Tài lúc sẫm tối, đã thấy có mặt đông đủ anh em . Mỗi người một ly rượu cầm tay, xúm xít xem LVT vẽ một bức tranh mới. Kỳ gặp gỡ này có tay Quân bên Biệt Động Quân hay Lực Lượng Đặc Biệt gì đó lái xe Jeep từ Đà Nẵng về Huế với hai đàn em; áo quần mặt mũi tóc tai còn dính bụi đường. Quân gạ Tài đổi bức tranh đang vẽ lấy hai vò mỹ tửu lớn. Tài chịu ngay, và vật rượu ra cùng bằng hữu đánh tiếp. Thương ơi, nghĩa cử của dân giang hồ hảo hớn !

Gần rạng ngày 30 mới tan cuộc. Tôi say nhừ tử, phải nhờ bạn đèo về nhà. May mà mạ thông cảm tết nhứt nên không la rầy. Tỉnh rượu lúc mặt trời đã lên vài ba sào, đã lại nghe thèm . . . bạn. Nhớ có cái hẹn tối mồng một Tết lên nhà TCS gặp anh em bạn đánh bài chơi. Thôi thì 30 Tết ở nhà với mạ lo giúp đón rước ông bà, cúng quảy giao thừa rồi mồng một xuất hành cũng được. Về thăm mạ mà bỏ đi chơi hoài cũng tội. Nhưng rồi chứng nào vẫn tật ấy. Gia đình và bằng hữu : vẫn muốn ôm tất cả trọn vẹn vào vòng tay thân thương ! Đêm giao thừa và ngày đầu xuân nguyên đán trôi qua trong tĩnh lặng. Đã hết rồi những háo hức đón tết của thời nhỏ nhít xa xưa. Mấy ngày tết ở Huế trời nặng và buồn. Không gian như có độ chì trĩu xuống phố xá, sông đồi. Hình như một nỗi lo âu không tên gọi khởi đi từ tiếng vọng xa xăm, mơ hồ của tai ương và hệ lụy. Đó chỉ là tâm cảm. Chẳng mấy chốc mà thành điềm báo dữ của sự thật . Một sự thật kinh hoàng và tàn khốc : Biến Cố Mậu Thân Tang Tóc tràn đầy huyết lệ !

Tối mồng một tết Con Khỉ mới ra lò. Cơm nước xong, khoác vội chiếc blouson ngắn, tay thọc túi quần, tôi tà tà cuốc bộ lên nhà TCS theo lời hẹn. Sương khuya bắt đầu thấm lạnh. Qua hết con đập, đi thêm một đoạn ngang tới ngõ Hương Mỹ, tôi như linh cảm một điều gì không hay; vội vã quay trở về. Về nhà nói với mạ con thấy trong người sao sao, thôi không lên nhà bạn nữa. Mạ bảo thôi đầu năm đầu tháng đừng ở lại nhà người ta, sợ phiền hà kiêng cử. Thôi ở nhà đợi cúng quải mâm cơm đầu năm xin tài lộc, cầu xin ông bà Trời/Phật phù hộ cho toàn gia. Tôi ngồi nhà nhâm nhi ly rượu ngọt, rồi thiếp ngủ lúc nào không hay. Giao thừa đã qua non một ngày rồi mà sao tiếng pháo vẫn còn nổ ran khắp bốn hướng đánh thức tôi dậy. Nửa mơ nửa tỉnh tự hỏi không biết năm nay thiên hạ ăn tết lớn sao đốt pháo quá chừng chừng. Nhưng hòa lẫn tiếng pháo là tiếng súng nổ cắc-cù đó đây. Chừng một chốc sau là tiếng súng lớn, moọc chê đại bác dội ầm ầm. Mẹ con sợ quá vào nhà đóng cửa cài then, chui xuống hầm tạm trú ẩn. Ở Huế thời điểm này nhà nào cũng làm tạm một cái hầm tránh đạn bằng bao cát vây quanh những giường phản gỗ cứng. Và cũng tạm cho là yên lòng. Nhưng tránh đâu cho được bom đạn vô tình không mắt !!?? Chị Hoa, Giêng/ Hai cũng rời căn phòng nhỏ đàng sau lên nhà trên tụ tập. Tất cả mọi người đều nhớn nhác, lo sợ. Tiếng pháo, tiếng súng rồi vẫn rơi đều trên giấc ngủ chập chờn của những sinh phần nhỏ bé. Tờ mờ sáng mồng hai tết, mạ thức sớm ra sau bếp, thấy ông Bốn hàng xóm mặc áo dài đen ngồi lù lù một góc. Mạ quở : Nì cái ông Bốn ni lạ đầu năm đầu tháng răng mà bận áo đen qua ngồi thù lu nhà người ta rứa, xui chết ! Ông Bốn đưa tay lên môi ra dấu nói khẽ, và thì thào : chị ơi, họ về rồi chị ơi, đi đầy cả ngoài đường đó tề (Ông Bốn là cảnh sát viên, nghe động tịnh đã khôn hồn tìm đường lánh trước) .

Cả nhà hí cửa dòm ra, thấy « phía bên kia » lố nhố từng toán người, lũ lượt đi lui đi tới. Họ không vận sắc phục đồng nhất mà mặc áo quần đủ loại. Băng đỏ đeo tay. Súng ống trang bị tận răng. Đấy là lực lượng du kích CS nằm vùng, chưa phải là bộ đội chính quy Bắc quân. Cũng may họ đang loay hoay tìm nơi an toàn đóng chốt nên chưa có thời giờ lục soát, sục sạo từng căn nhà một.

Tôi có phần lo sợ. Không biết mình đi học đi hành ở xa về thăm nhà có việc gì không hay xãy ra không ? Chắc sinh viên học sinh thì không sao ! Vậy mà nhờ Giêng còn nhỏ tuổi, chạy luồn trong xóm dò la tin tức, và biết được xóm dưới gần Vỹ Dạ du kích CS đã lùa tất cả thanh niên ra khỏi nhà, trói ké và dẫn đi về phía Ngọc Anh, Tây Thượng mất dấu. Thế là tôi bàn với cả nhà, quyết định đào tẩu. Nhớ hay không nhớ lời dạy cổ nhân : trong ba mươi sáu chước, « phú lỉnh » chiếm phần tiện nghi ? Suốt cuộc đời tôi, đây là một quyết định thập phần đúng đắn liên quan tới sinh mệnh. Giữa lằn ranh sống/chết, định mệnh là gì nếu không bắt đầu bằng một dấu chấm hỏi (?). Bắt đầu bằng một giả dụ . Một chữ NẾU.

Nếu tôi vẫn tiếp tục ghé chơi và ngủ lại nhà TCS tối mồng một tết, biết đâu chẳng bị thảm sát như Lê Hữu Bôi dưới chân cầu Phủ Cam ? Nếu tôi không nghe lời em Giêng tìm phương lánh nạn, biết đâu không bị lùa đi nơi vắng vẻ, bị đập đầu thủ tiêu như chú Bửu Tương ( con ông Ưng Hồi ) giữa đồng mông Vỹ Dạ ? Hỡi ơi! Tai họa và ý trời. Biết đâu mà lần tràng hạt . . . Nam Mô A-Di-Đà Phật. Biết đâu mà cầu cứu Phật bà Quan Thế Âm linh ứng bồ tát !

Tôi khoác vội chiếc áo veston nỉ xám ( chiếc áo mà Khánh Ly đã chọn mua cho lúc anh em la cà ở Khu Dân Sinh Sàigòn ), chẳng kịp mang giày, xỏ đại dép, không kịp nói câu từ biệt với gia đình, tất ta tất tưởi, bôn ba tìm đường . . . . cứu lấy mình !!!!!!

Vì ăn phải đạn VC một lần, tôi như con chim bị ná, cắm đầu cắm cổ chạy mà hồn vía bay bỗng lên mây. Chao ơi cái Đập Đá thân thương ngày nào lê la tụng bài thi dưới mấy cột đèn sao nay bỗng dài lê thê, trùng thẳm đến thế ! Hình ảnh một tôi bấy giờ chắc là bi thảm nhất trong cuộc đời : Hai tay xỏ hai chiếc dép, giơ cao khỏi đầu trong tư thế đầu hàng (đầu hàng ai ?), chạy bán mạng qua đập đá hướng về phía Tòa Khâm. Gió sông lạnh buốt hồn. Đong đưa những đường đạn nheo nhắm rập rình đâu đó. Trời ơi đập dài, chân quíu, sợ quá muốn . . . ướt đẫm quần. Chạy gần tới mút bên kia mới hoàn hồn khi nhìn thấy chiếc nón sắt và màu áo trây-di thân quen (Ôi sắc phục này mà một thời những kẻ trốn lính trong thành phố phải thuộc nằm lòng câu nhìn xa trông rộng và kính nhi viễn chi ! ). LêThế, bạn học cũ, nhập ngũ sớm, đứng đó, cầm súng gác đầu cầu như ông thần hộ mệnh. Chao ơi là mừng hết lớn. Như vậy là có cơ thoát rồi. Như vậy trong tâm tưởng đã rạch ròi đâu là bạn đâu là thù .

X X X

Bạn Thế chỉ cho tôi tìm sinh lộ bằng cách hòa nhập vào dòng người tạm lánh cư ở Trường trung học Kiểu Mẫu gần Tòa Khâm. Bảo thêm: Theo đường lộ lớn mà đi. Đừng đi tắt qua ngõ hẻm gặp binh sĩ Đại Hàn, có thể bị nghi là VC, bắn bỏ! Trời Phật ạ! Như vầy là từ bên ni múi Đập Đá trở lên phía Ga Huế, phe đồng minh vẫn còn trấn đóng khu vực này.

Vào tới trường Kiểu Mẫu đã thấy đông đảo đồng bào tị nạn. Hầu như tất cả phòng ốc đều được chiếm ngụ. Quá đỗi vui mừng gặp lại Phạm Nhuận ở đây! Nhuận cũng nhất thân nhất bộ chạy giặc như tôi từ hướng Vỹ Dạ lên. Kỳ này chàng ta về Huế mang theo nhiều bộ đồ vía. Nhưng hỡi ơi, tất cả áo quần này đã bị một đường đạn lạc xuyên táo thủng từ đầu này sang đầu nọ (áo đi thay người). Chiếc áo Nhuận mặc trên người còn mang dấu lỗ đạn. Nhuận và tôi kiếm được một góc phòng nhỏ tá túc qua cơn hoạn nạn. Năm nay tiết đông xuân lạnh nhiều. Không ai trang bị đủ đồ lạnh trong cuộc lánh cư hỗn loạn. Mọi vật dụng đều được tận dụng để làm phương tiện sưởi ấm. Bàn ghế gỗ được chẻ ra thay củi nhóm bếp lửa. Sách vở, báo chí, tài liệu . . . thay gối chăn đắp đỗi tạm thời. Và vật thực chi dùng cho bữa ăn thật là hiếm hoi trong mấy ngày đầu lánh nạn. Ai nấy đói meo!

An vị tạm thời xong, một nỗi lo sợ lớn lao khác lại tràn ập tới: vì mấy ngài du kích VC núp bên tê Đập Đá (phía nhà tôi) rập rình bắn sẻ qua phía bên ni trường Hạ Sĩ Quan (nơi trú đóng của lực lượng quân sự Hoa Kỳ & đồng minh), tin dữ đưa tới tối hôm đó là tất cả súng ống lớn nhỏ của phía đồng minh sẽ trực xạ san bằng múi đập Đá bên tê thành bình địa. Trời ơi! Không biết số phần mệ, mạ và gia đình ra răng? Chắc tiêu tùng hết quá?! Ôi may thay, nhờ có một người tên Thư (em ruột chuẩn Tướng Thiện, mất tích) làm thông dịch viên cho Mỹ cố gắng thuyết phục lực lượng đồng minh nã súng, rót đạn vào sâu hơn phía những cánh đồng xa tận Lò Trâu, nơi có thể là hậu cần lớn của cán binh CS. Chẳng qua anh Thư cũng có mẹ già và gia đình ở ngay múi Đập Đá cách nhà tôi không xa.

Ngày hôm sau gặp lại mệ, mạ , mẹ con chị Hoa chạy giặc lên khu Kiểu Mẫu. Mừng mừng tủi tủi. Ôm nhau khóc ròng. Tội nghiệp mệ ngoại đã gần 80 mà vẫn rán chạy lếch thếch theo đoàn người lánh nạn. Hôm ấy, gia đình Trịnh Công Sơn cũng từ Phủ Cam chạy xuống sau khi đã lội qua vài trạm núp lánh như Thư Viện Huế, Kho Bạc . . .Trịnh Quang Hà (em trai kế anh TCS) là quân nhân trực thuộc Quân Vụ Thị Trấn Huế được cắt gác coi sóc an ninh thường xuyên vòng rào trường Kiểu Mẫu, nên tin tức tình hình chung quanh cũng được thông báo nhậm lẹ. Sinh hoạt ở trại tạm cư dần ổn định. Thực phẩm được tiếp tế đều đặn hơn. Nhưng cái khó khăn nhất vẫn là vấn đề vệ sinh cá nhân. Tất cả nhà cầu đều tắt tị! Mọi người đều ùa ra bãi sân cỏ sau lưng trường, làm một trong những công tác gọi là « Tứ Khoái » của nhơn loại. Khi ấy không còn phân biệt già- trẻ- lớn- bé , nam thanh nữ tú. Tất cả mọi người đều bình đẳng. Chỉ cần một tấm giấy (tùy thân?) che lại bộ mặt trần tục là . . . xong (mình không thấy ai mà cũng nỏ ai chộ mình!). Chỉ có anh TCS và tôi là không chịu hòa mình vào tập thể: cắn răng, bấm bụng được một tuần thì cũng phải lần mò về nhà cũ (số 9 kiệt 1 đường Lê Lợi, cách trường Kiểu Mẫu 1, 2 quãng đường) để giải quyết bầu tâm sự!

Hồi mạ dọn về Đập Đá, ngôi nhà ở Kiệt 1 Lê Lợi được nhường lại cho vợ chồng Thúy/Thiệu bà con gần. Bác ruột tôi, thi sĩ Ngư Xuyên Hoàng Xuân Vịnh, vẫn có một phòng riêng trong nhà, ở chung với Thúy/Thiệu. Mệ ngoại, mạ ở trung tâm Kiểu Mẫu độ dăm ngày, thiếu thốn phương tiện, lại phải quay về nhà cũ điều đình với Thúy/Thiệu xin tạm trú. Vòng tay họ hàng quyến thuộc sẵn sàng rộng mở. Tôi vẫn còn ở Kiểu Mẫu. Thỉnh thoảng chạy đi chạy lại. Cuộc chiến sôi sục vẫn tiếp diễn hàng ngày đây đó. Phía Tả Ngạn Huế cộng quân hầu như chiếm đóng khắp nơi; từ An Hòa, Mang Cá, Đại Nội qua Gia Hội, Bãi Dâu . . . và đóng nhiều chốt ngay trong từng căn nhà của hai con lộ chính Phố Huế là Phan Bội Châu và Trần Hưng Đạo. Bên này trường Kiểu Mẫu nhìn qua bên kia sông, trông rõ mồn một từng đợt tác chiến của quân đồng minh, hoặc bằng phi cơ chiến đấu, hoặc bằng phi pháo xuống vùng địch chiếm đóng. Trong khuôn viên nhà trường, thỉnh thoảng tên bay đạn lạc cũng tìm kiếm đôi người vắn số. Đại bác (vẫn) đêm đêm dội về thành phố. Và đau lòng hơn hết cả là một hôm nửa đêm về sáng, mọi người nghe một tiếng nổ long trời lở đất: sáng ra nhìn thấy một vai cầu Trường Tiền đổ gục xuống lòng sông Hương Giang. Việt cộng tháo chạy giựt sập cầu!!! Ôi đau lòng xót dạ xiết bao! Hỡi ơi, cây cầu thơ mộng biểu tượng an lành thân thương của thành phố Huế, của một thời học trò ríu rít chân qua, rồi cũng có ngày tai ương gánh chịu.

Một ngày vào thuở xa xưa trên đất thần kinh

Người bỏ công lao xây chiếc cầu xinh

Cầu đưa lối cho dân nối liền cuộc đời

Khắp cố đô dân lành an vui ca điệu Nam Bình

. . . . .

Cầu đưa ta đi sớm trưa tìm trong nắng mưa niềm vui ngày mùa

Hết lòng gìn giữ nhịp cầu nối liền tình người đẹp đời mai sau

. . . . .

Ngày nào cầu đã đưa anh qua phố tìm em

Cầu đã đưa ta sang chỗ hẹn nhau . . . .

. . . . .

Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui

Giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi

Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi

Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài

. . . . .

Cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng đã chia sẻ nỗi đau thương Huế của anh của em của chúng ta bằng những lời ca não nuột như thế đó trong Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy.

Tình hình chiến sự phía hữu ngạn Huế dần yên ắng. Đã thấy bóng dáng đoàn quân tiếp viện từ trung ương, những chiến sĩ Dù, Thủy Quân Lục Chiến, kể cả cán bộ xây Dựng Nông Thôn đóng chốt nhiều nơi. Tôi cũng rời trưòng Kiểu Mẫu trở về nhà Kiệt 1 Lê Lợi đoàn tụ với gia đình. Một hai tuần sau đó, lực lượng các binh chủng Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa và Đồng Minh đã lần lượt tái chiếm Nội Thành, đẩy lui Bắc quân và du kích VC khỏi các vị trí tạm chiếm đóng trong và ngoài Thành Phố Huế. Toàn bộ cố đô Huế đã được giải thoát sau gần hơn hai tháng trời chìm trong lửa đạn tang tóc.

Trong khoảng thời gian này, tôi rất ngạc nhiên khi thấy Đinh Bá Ái, một thành viên của Quán Văn, theo chân đoàn cứu trợ nạn nhân chiến cuộc từ Sàigòn vào đến Huế; tìm được ngay chóc địa điểm nơi tôi và gia đình lánh nạn (có lẽ do Hoàng Xuân Giang chỉ dẫn). Ái khuyên tôi nên gia nhập các toán thiện nguyện làm công tác vệ sinh thành phố để sớm tìm phương tiện trở lại Sàigòn. Tôi xung vào toán công tác trú đóng thường trực ở Bệnh Viện Huế. Trong toán chỉ có nhạc sĩ Miên Đức Thắng là người quen biết cũ. Những người bạn mới cũng rất dễ thương, cùng nhau công tác trong tinh thần chia sẻ và đùm bọc. Có những bạn như Hoàng Công Hối (Trung kỳ), Khanh (Nam kỳ), Bảo Hạnh (Bắc kỳ, dược sĩ, về sau là bà Miên Đức Thắng) v.v. đã kết nên thân tình bằng hữu, lúc trở lại Sàigòn.

Huế sau Mậu Thân, cả một trời hoang tàn đổ nát. Không khí tang tóc u uẩn bao trùm khắp nơi. Xác người còn nằm vướng vất đó đây dưới mương rạch, bên ghềnh đá, trên đầu thành quách . . .; tứ chi không còn nguyên vẹn!

Như khúc phim thời sự nóng bỏng

Đ trở về một chuyến đi thật xa

buốt tê từng ngách kỷ niệm

vũng nước đọng có nằm yên trong đêm xuân lửa bừng bừng?

trăng hóa điên một tầng xạ ảnh

có T có X hung hăng nhảy xuống đường

em thơ vùi chôn đáy dầu cặn

màu trời đục mắt cá ươn

người cụt đầu trên tháp canh già hơn đại thụ

xin để yên

xin để cho Huế muôn đời thầm lặng

Bọn tôi hàng ngày trang bị dụng cụ thuốc men đầy đủ xông vào các hang cùng ngõ hẻm làm công tác cứu trợ. Có rất nhiều mồ chôn tập thể được khai quật. Chúng tôi đã chứng kiến tận mắt những xác người bị chôn sống bị trói ké dính chùm với nhau bằng đủ mọi thứ dây nhợ, có khi bằng cả kẽm gai. Xác này nối xác kia được lôi ra khỏi lòng đất tăm tối. Những chiếc sọ người còn thủng lỗ lớn sau những cú nện bất ngờ bằng chày vồ/xẻngcuốc của phường sát nhân! Kinh hoàng khiếp đảm quá!!!!!!!

Lúc cộng quân rút đi, và ngay cả thời gian chiếm đóng Huế, họ đã thủ tiêu hàng ngàn người dân vô tội. Những nơi có mồ chôn sống tập thể vĩ đại phải kể đến Nam Hòa, Phú Thứ, Bãi Dâu, Nam Giao và vùng hẻo lánh phụ cận Huế [1]. Có người thuật lại ở các vùng này đêm đêm còn nghe tiếng kêu khóc rền rĩ vọng từ lòng đất . Đó là những thân người non yếu, trong tay không một tấc sắt, bị lùa xuống mồ chôn tập thể mà vẫn còn thoi thóp nuối vọng chút hơi thở trần gian ??!!! Có phải đây là một trong những tộc ác chiến tranh ghê tởm và có tầm vóc nhất trong lịch sử tội ác nhân loại?

Vì đâu hàng ngàn người dân Huế vô tội bị thảm sát trong cuộc chiến Mậu Thân? Lúc cộng quân tiến chiếm thành phố Huế, họ đã sử dụng những mũi nhọn xung kích toàn là đám người bất mãn, mang lòng thù hận cá nhân (hoặc bị mê hoặc bởi tuyên truyền mật ngọt bỏ theo về phía bên kia), tạo thành một lực lượng chỉ điểm hùng hậu cho công cuộc tố giác giết chóc không ngừng.

Là người con dân Huế nói riêng và Việt Nam nói chung, ai mà không đau lòng xót dạ cho tấm thảm kịch nhuốm đầy máu và nước mắt này! Nhưng: liệu những khuôn mặt trí thức Huế trở cờ, một thời được nuôi nấng bởi cây trái Kim Long/Nguyệt Biều, bởi hồn thiêng sông núi Hương Bình có đứng trong hàng ngũ điềm chỉ viên xung trận của cộng quân? Và liệu những kẻ này còn được sự bình tâm trước lịch sử, sự thật và lương tri con người? Toàn là kẻ sĩ tăm (tai) tiếng của thời đại cả đấy. Những kẻ sĩ ném đá giấu tay, ngụy tạo thông tin, chối tội đây đẫy trong khi tay đã nhúng chàm, máu và nước mắt. Ôi! Đâu mất rồi đức “Liêm Khiết Của Trí Năng”?! Nhắc đến bọn người chơi với quỷ này không thể nào không nhớ một bậc tự xưng và thậm xưng trong pháp giới tu hành. Vị này cũng mắc cái bệnh huyênh hoang. Đã một đời đi với bụt rồi mà còn lóng ngóng theo ma bận áo giấy, bởi vì tu tập với lòng tà; còn tham sân si đầy mình. Ôi cùng sinh quán với kẻ này đấy. Xấu hổ làm sao. Và xấu hổ cho chính mình đã có hồi ngưỡng mộ thần tượng (dỏm).

Chiến tranh gây nên chết chóc, mất mát, tang tóc là điều hiển nhiên. Nhưng chiến tranh cũng làm thất điên bát đảo kẻ sống còn. Ai tỉnh ai điên giữa lòng đau thương ngút ngàn. Như một chứng nhân, Trịnh Công Sơn đã viết được những ca khúc từ kinh nghiệm bản thân trong lòng cuộc chiến, sẽ mãi là tư liệu cho cuộc chiến Mậu Thân thảm khốc. Lời và nhạc chuyên chở nhiều hình ảnh và âm sắc mạnh mẽ:

Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người

Tôi đã thấy tôi đã thấy trên con đường người ta bồng bế nhau chạy trốn

Chiều đi lên đồi cao hát trên những xác người

Tôi đã thấy tôi đã thấy bên hố hầm một người mẹ ôm xác đứa con

Mẹ vỗ tay reo mừng xác con – Chị vỗ tay hoan hô hòa bình

Người vỗ tay cho thêm thù hận – Người vỗ tay xa dần ăn năn . . .

( Hát Trên Những Xác Người )

Xác người nằm trôi sông – Trôi trên ruộng đồng – Trên nóc nhà thành phố – Trên những đường quanh co

Xác người nằm quanh đây – Trong mưa lạnh này – Bên xác người già yếu – Có xác còn thơ ngây

Xác nào là em tôi – Dưới hố hầm này – Trong những vùng lửa cháy – Trên những vồng ngô khoai . . .

( Bài Ca Dành Cho Những Xác Người )

Ngày ngày bọn tôi đi kiểm chứng thi hài. Tối tối về bệnh viện giải trừ cơn xung động bằng những cơn say tít mù. Toàn là rượu đế thứ thiệt. Mấy anh bạn người Nam tửu lượng cao, uống khiếp! Đế hàng chục lít, đong bằng chén ăn cơm. Cứ thế quay đều quay đều quay đều . . . quay tít thò lò. Sức tôi chỉ vài ba chén là hoắc cần câu, nằm quay cu lơ. Ngoài nhậu nhẹt ra còn tụ tập hát hò đủ các loại nhạc từ TCS, Phạm Duy . . . tới nhạc lính, nhạc sến, nhạc chế. Ôi thôi cũng gượng vui cho qua ngày đoạn tháng. Bảo Hạnh hay bày trò chơi tập thể. Như vỗ tay đánh chuyền, miệng gọi tên nhau thân ái. Bởi vậy mà nên duyên vợ chồng với Miên Đức Thắng sau này. Tôi cũng dần dà kết thân với Hối, Khanh. Các bạn này lúc trở lại Sàigòn cũng gia nhập vào đại cái bang Quán Văn đã tới hồi chung cuộc.

Tôi mày mò trở lại thành đô bằng một chuyến bay nhỏ ghé qua Đà Nẵng. Trên máy bay có Thượng Tọa Mãn Giác và một phái đoàn Phật Tử. Cùng đi với tôi có Tâm (tóc) Quăn, một bạn Huế bên Nông Lâm Súc, đã biết nhau từ thời trung học. Có bạn đồng hành cũng đỡ nghe lạc lỏng (Tâm ơi Tâm ơi chừ ở mô?). Tới Đà Nẵng bọn tôi tháp tùng Thầy Mãn Giác và chúng Phật Tử vào một ngôi chùa nhỏ thọ trai và tá túc qua đêm. Thượng Tọa Mãn Giác người trắng trẻo, đôn hậu và rất hoạt bát. Người rất được giới Phật Tử hâm mộ. Vài năm trước đây hay tin người đã viên tịch về chầu Phật Tổ. Xin thắp một đóa sen lòng tiễn đưa người về Tây Phương Cực Lạc!

Sáng hôm sau mọi người ra phi trường, được chuyển tiếp sang máy bay quân sự lớn bay về Sàigòn .

Ôi Mậu Thân tan tác muôn đời là một ám ảnh khôn nguôi trong tâm thức người chạy nạn, trong đó có tôi dự phần.

______________________________________________________________________________

[1] Phụ đính:

TỔN THẤT NHÂN MẠNG TẾT MẬU THÂN 1968 Ở HUẾ

• Tổng số dân sự tử vong : 7600 người chết lẫn mất tích

• Chiến trường : 1900 bị thương vì chiến cuộc, 944 thường dân chết vì chiến cuộc

• Nạn nhân của những vụ giết tập thể :

- 1173 tử thi tìm thấy trong đợt đầu sau cuộc chiến 1968

- 809 tử thi tìm thấy trong đợt nhì, kể cả tìm thấy trong đụn cát tháng 3&7 – 1969

- 428 tử thi tìm thấy trong đợt ba, trong Khe Đá Mài khu Nam Hòa ( tháng 9-69 )

- 300 tử thi tìm thấy trong đợt thứ tư ở vùng Phú Thứ ( tháng 11-69 )

- 100 tử thi tìm thấy nhiều nơi khác trong năm 1969

- 1946 người mất tích, tính đến năm 1970

( Tuệ Chương Hoàng Long Hải, theo Douglas E . Pike -

Trích dẫn từ Wikipedia )

Thứ Ba, 16 tháng 8, 2016

Cũng cần có nhau (chương chín)

Hoàng Xuân Sơn

N h ữ n g K i n h N g h i ệ m H ã i H ù n g

H Ồ N V Í A U M I N H

Có những kinh nghiệm suốt đời để lại trong chúng ta những dấu ấn khiếp đảm, hãi hùng. Của thế giới ảo, và thực. Khởi đầu là thế giới mộng mị chập chờn. Thế giới lượn lờ những hồn ma bóng quế.

Nhắc tới lời thiêng ứng vào vận bạn Ngô Vưong Toại nhà ta trúng đạn phải nằm viện mất mấy tháng trời, không thể nào không kể đến thế giới hoang đường trong khu vườn cỏ. Nơi đây, CPS/Quán Văn, chốn cư ngụ của bọn giang hồ tứ chiếng chúng tôi; xưa kia, thời Tây, là khám lớn cũ : nhà giam giữ và hành quyết tội đồ. Sau khi Tây bỏ đi, khu vực này trở nên hoang tàn, um tùm cỏ cây lau lách. Chu vi này chỉ được khai quang vào thời Đệ Nhất Cọng Hòa, làm nơi triễn lãm công cộng với những dãy nhà tiền chế như đã nhắc ở đoạn đầu. Bởi vậy, huyền thoại về một thế giới vưởng vất tà mị có khi trở nên là sự thật (!?). Không mấy ai tin thế giới hoang đường thần bí là có thật. Nhưng có những sự kiện và biến cố xãy ra không thể nào không đặt để một dấu hỏi lớn. Cho dù đối với người bình tâm nhất. Một vài anh em trong bọn tôi đã thấy ma và bị ma nhát. Phải chăng là sự thật hay chỉ là đắm hồn trong một cơn mê hoảng?

Người đầu tiên là Nguyễn Phùng (Phùng nhỏ). Một hôm nằm nửa mê nửa tỉnh, Phùng nghe tiếng xiềng xích khua loảng xoảng và mơ màng thấy có nhiều bóng người di động chung quanh giường bố. Mở mắt ra nhìn kỹ thì không thấy gì hết. Tiếng động cũng im bặt luôn. Nhưng hễ cứ chợp mắt là cảnh cũ tái diễn. Phùng sợ quá, thao thức trằn trọc cả đêm. Một lúc mơ màng thiếp ngủ, bỗng nghe như có người lay thức dậy. Phùng mơ hồ thấy hình dạng một phụ nữ bận áo dài hoa cao cổ, đeo chuỗi hạt lóng lánh, tóc chải phồng dợn sóng theo thời trang thập niên 50, đứng tựa cửa nhìn Phùng nhoẻn miệng cười. Phùng chết lặng người. Và mãi hôm sau nín thinh không nói năng gì. Chỉ thấy cu cậu lẳng lặng mua sắm hoa quả bánh trái về bày một góc phòng, lên nhang đèn, lâm râm khấn vái. Gặng hỏi. Phùng mới thuật lại mọi điều tai nghe mắt thấy cho anh em tỏ tường. Dù là giang hồ hảo hớn, nam nhơn vạm vỡ, nhiều đấng mày râu nghe xong chuyện ma cũng co rúm người lại. Chắc chắn tối nay có kẻ không thể ngủ yên. Là ai? Là ai ? Là . . . TÔI !!!!!!!

Cái đêm hôm ấy, dù không làm việc gì nặng nhọc trong ngày, không hiểu sao tôi bỗng lăn quay ra ngủ giấc mệt mề. Trong cơn mê ngủ chập chờn, ai đó rót âm nhạc vào bên tai, có lúc nghe êm đềm, có lúc nghe chát chúa. Giật mình mở mắt nhìn quanh chẳng thấy gì. Chỉ thấy các bạn đồng phòng đang cơn say ngủ. Nhắm mắt thiu thiu lại nghe tiếng nhạc chen lẫn tiếng cãi cọ rất ồn ào. Bắt đầu nghe lạnh gáy, cơn sợ thấm dần, trùm mền kín mít. Tiếng đôi co lớn dần . . . lớn dần và đột ngột chấm dứt bằng một hồi trống chiêng, phèng la rơi loảng xoảng. Một, hai, ba . . . đánh bạo kéo mền khỏi mặt, nhìn trừng trừng vào khoảng tối: Tất cả đều lặng thinh trừ tiếng thở kéo đều những giấc ngủ say. Sự kiện này chỉ xãy đến với tôi một hôm. Rồi thôi. Đồ rằng có anh em nào đùa dai, sử dụng máy phát thanh làm trò biến ảo. Vặn hỏi. Nhưng tất cả bộ mặt đều ngơ ngác. Không tìm thấy câu trả lời.

Chưa hết . Sự kiện xãy ra bên dưới trụ sở Ca Đoàn Nguồn Sống (CĐNS) mới thực sự làm tăng mối sợ hãi của những kẻ cứng bóng vía, cho chuyện thần tiên ma quỷ chỉ là chuyện đùa, bịp bợm.

Ở một xế trưa đẹp trời chan hòa nắng, mọi người bỗng thấy một xe cứu thương đổ xịch ngoài đường Lê Thánh Tôn, có người khiêng băng ca vào văn phòng CĐNS. Ai nấy nhốn nháo. Hóa ra một ca viên của CĐNS bị ngất xỉu được xe cấp cứu chở đi bệnh viện. Sau khi người này hồi tỉnh, nguyên nhân được thuật lại như sau: Trưa hôm ấy, khi ngồi trực bàn trong văn phòng ca đoàn ( CĐNS có đông đảo anh chị em thành viên sinh hoạt, luôn luôn có quan khách và thân nhân thăm viếng ), anh bạn này tiếp một cụ già râu tóc bạc phợ mặc bộ đồ lụa trắng tới hỏi thăm một ca viên X nào đó. Anh bạn trả lời ông cụ rằng hôm nay ca viên X đi vắng. Xin cụ để lại danh tánh để báo cho người thân. Trong lúc lúi húi biên chép, nhìn trật xuống dưới bàn, anh bạn nhận thấy ông cụ vẫn còn đứng đấy. Nhưng chỉ với hai ống quần trắng phất phơ, không thấy bàn chân đâu cả!!! Anh bạn này sợ quá, lăn đùng té xỉu. Mọi người xúm lại vực dậy, gọi xe cứu thương cấp kỳ. Khiếp quá. Ma hiện giữa ban ngày ban mặt giời ạ!

Và đây mới là hiện tượng khủng khiếp nhất trong những hiện tượng ma nhát ở khu CPS:

Một buổi tối Quán Văn đông khách. Mọi người đang tâm tình nhỏ to bên ly cà phê tí tách giọt, bỗng nghe một tiếng thét thất thanh từ phía hậu liêu, dãy nhà vệ sinh, phòng tắm của CPS. Một bóng người trần truồng vụt chạy ra đứng giữa đám đông khách hàng, thở hỗn hễn, trên thân còn dính đầy bọt xà phòng. Hóa ra Nguyễn Huỳnh. Huỳnh toàn thân run lập cập, miệng lắp bắp: Ma . . . Ma . . . ! Tôi không tin con người hiền hậu, đứng đắn như Nguyễn Huỳnh phịa chuyện. Phải có một cái gì đó bất thường!? Sau một lúc hoàn hồn, Huỳnh cho biết lúc đang tắm, mắt nhắm, ngửa mặt lên vòi bông sen, khi nước chảy trôi hết thuốc gội đầu; Huỳnh mở mắt ra chợt thấy trên trần nhà một khuôn mặt người to bằng cái nia sàng gạo, đỏ ong như sáp nặn, màu máu tươi, nhếch miệng cười rộng tới mang tai !!!!!! Huỳnh sợ té đái, rú lên, cứ thế tông cửa nhà tắm chạy ra trần truồng như nhộng. Bọn tôi ai nấy đều run theo cái sợ của Nguyễn Huỳnh: Những khuôn mặt tái mét, cắt không ra một giọt máu.

Ôi chẳng biết đâu là sự thật! Có chăng một thế giới ma quỷ vô hình? Cho đến bây giờ, chuyện quỷ thần thiêng liêng lộng hành vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Bán tín bán nghi. Cũng lắm khi mình sợ bóng sợ vía. Thần hồn nát thần tính. Nhưng ngần ấy sự việc xãy ra chứng tỏ khu tứ giác CPS là một địa linh khác thường. Chúng tôi vẫn hằng tâm niệm nơi cư ngụ này là một vùng đất thiêng. Luôn có quỷ thần che chở cho người lành. Đôi lúc họ, những người thuộc thế giới bên kia chỉ hơi bông đùa một tí tị với những kẻ yếu bóng vía (bông đùa kiểu đứng tim chết người như chơi!). Nhưng bù lại, bạn hãy tin này nhé: Những người bị nạn bom đạn như Ngô Vương Toại, như Bùi Hồng Sĩ, như Hoàng Xuân Sơn . . . đều tai qua nạn khỏi. Hơn thế nữa, Việt Cộng vẫn thường pháo kích vào dinh Gia Long, dinh Độc Lập, đạn pháo rớt cả vào khuôn viên CPS nhưng chưa hề phát nổ. Có buổi sáng sớm anh em thức dậy sau một đêm dài chui rúc tránh đạn pháo kích (tránh vào đâu?!), ra vòi nước ngoài vườn đánh răng rửa mặt đã nhìn thấy nhiều trái đạn pháo cắm vào đất mềm, đuôi đạn còn lồi ra ngoài (hú vía!), phải báo cáo với cơ quan an ninh đến tháo gỡ.

Bây giờ, để tôi thử làm thầy bói mù một lần coi chơi: Đa số những anh chị em xuất phát từ mảnh đất thiêng liêng này dù là Văn Khoa, CPS, Nguồn Sống, Hội Họa Sĩ Trẻ v. v. đều thành danh và thành công trên đường đời. Chủ yếu phát về văn nghệ, chính trị và quản trị. Nhưng có một điều, nhìn lại quãng đời đã qua, ông thầy « sờ voi » này không khỏi giật mình khi nghiệm thấy rằng không ít anh chị em chưa bước qua ngưỡng cửa tuổi thọ đã lặng lẽ ra đi vì bệnh tật: Nguyễn Huỳnh, Hoàng Xuân Giang, Hoàng Ngọc Tuấn, Đỗ Ngọc Yến (Văn Khoa/CPS/Quán Văn) – Trần Đại Lộc, Lê Đình Điểu, Trịnh Công Sơn (CPS/Quán Văn) – Lưu Trọng Đạt, Ngô Văn Tính (?) ( Quán Văn/Quán Thằng Bờm) – Hoàng Cơ Trường (?),Đặng Tường Vy và còn ai nữa (Ca Đoàn Nguồn Sống) – Nghiêu Đề, Mai Chửng, Lê Thành Nhơn (Hội Họa Sĩ Trẻ ) . . . Trịnh Cung một lần sém bị! [1]

Âu cũng là luật bù trừ: Có phát, có tàn! Xin những bạn còn tại thế đừng run en! Nhiêu đó đủ rồi! Những anh em bằng hữu đã ra đi từ trước sẽ phù hộ cho chúng ta rong chơi nốt cuộc ải trần gian vui ít buồn nhiều này. Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi. Sơn ơi!

C H Ạ M M Ặ T T Ử T H Ầ N

Ở đời, không có kinh nghiệm nào mà không phải trả giá. Nhưng kinh nghiệm mà phải trả bằng ngần tính mạng của mình thì quả là đắc giá. Và hãi hùng: Kinh nghiệm Ngô Vương Toại và viên đạn thù phía bên kia.

Cuối thu, đầu đông năm1967, nối tiếp sự thành công rực rỡ từ Quán Văn; Trịnh Công Sơn/Khánh Ly (TCS/KL) tái xuất hiện. Địa điểm lần này là Đại học Văn khoa Saigon (trường mới, ở đường Cường Để). Bằng vào sự thiết trí hệ thống âm thanh cực kỳ to lớn của những người bạn văn nghệ Đan Mạch (Cao SơnNguyễn Văn Tấn nhớ là của Juspao Hoa Kỳ?), đêm TCS/KL tại Đại học Văn khoa hứa hẹn nhiều pha hấp dẫn và sôi nổi. Sôi nổi là vì đêm sinh hoạt này nhằm hỗ trợ cho mùa tranh cử Ban Đại Diện Sinh Viên Văn Khoa niên học mới. Bạn Ngô Vương Toại nhà ta ứng cử vào chức vụ Phó Chủ Tịch Nội Vụ của một liên danh có nhiều khuôn mặt quen thuộc ở Văn khoa như Phạm Tài Tấn, Phạm Đông Bách,Bùi Bảo Trúc, Phạm Vân Bằng v. v. Toại kiêm luôn phát ngôn viên và người điều khiển chương trình tối hôm đó. Không khí thật là nhộn nhịp người lui kẻ tới, pha lẫn chút gì căng thẳng. Khán thính giả ngồi kín Giảng đường 1 (lớn nhất ở trường mới), đông ken, lan cả ra ngoài hành lang chung quanh. Thậm chí tràn cả dưới sân, nhấp nhô đầu người, tiếng nói cười lao xao. Bầu không khí yên lặng trở lại khi các bạn người Đan Mạch đồng ca một bài hát bằng tiếng nước mình. Nghe cũng kỳ thú. Và rồi TCS/KL tiếp nối. Lại say sưa hát, say sưa thưởng ngoạn. Lại những tràng pháo tay nổ ran. Và đêm trường, một lần nữa chứng kiến sự hòa nhập cao đỉnh của tuổi trẻ và lớp lớp con tim mang cùng nhịp điệu.

Sau một chuỗi ca khúc TCS/KL lóng lánh sáng, trước giờ nghỉ giải lao, anh TCS mời Ngô Vương Toại, Hoàng Xuân Giang và tôi lên sân khấu cùng hát bài Đi Tìm Quê Hương. Dù đã xuất hiện trước đám đông nhiều lần, lần này tôi vẫn cảm thấy run en như thường trước một lượng khán thính giả quá đông đảo. Tất cả ánh sáng đều được giảm xuống độ mờ tối đa. Chỉ còn những hình nhân nến, lung linh , chao đảo theo từng lời ca.

Người nô lệ da vàng ngủ quên, ngủ quên trong căn nhà nhỏ, đèn thắp thì mờ

Ngủ quên , quên đã bao năm

Ngủ quên, không thấy quê hương

Bao giờ đập tan gông cùm xiềng xích nô lệ trói buộc hờn căm

. . . . . .

Người nô lệ bước đi, đi tìm giòng sông

Người nô lệ bước đi, đi về đồi non

. . . . . . .

Đi cho thấy quê hương. . . . . .

Hát. Nhắm mắt lại. Ngủ quên. Bước đi cơn đau dài du mộng. Thức dậy. Và đêm. Rồi cũng qua đi.

Mở bừng mắt. Quê hương vẫn đấy – người vẫn đây. Mà hồn chìm khuất tận cõi mơ hồ nào. Linh cảm một điều gì không hay sẽ đến? Người nô lệ – những giọt máu tuôn trên da vàng ?

Khánh Ly hát. Trịnh Công Sơn hát. Hát mãi. Như những mũi tên lao vút. Cho đến khi đèn bật sáng. Đã hết chưa cuộc bể dâu? Chưa hết đâu. Chỉ là trần gian nửa cuộc về. (Giây phút hãi hùng ấy sẽ đến. Sẽ đến? Sẽ đi về đâu? – “ Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời – chợt hãi hùng hoàng hôn trờ tới ”– Trầm Tử Thiêng ).

Giờ giải lao, xuất hiện một đôi nam nữ ăn bận khá lịch sự từ từ tiến lên diễn đàn. Nam: Quần màu sậm, sơ mi trắng, tay thọc túi quần. Nữ : Áo dài xanh lá mạ, đeo kính gọng xếch mắt mèo, tay ôm một chiếc cặp lớn, căng phồng. Ngô Vương Toại đang ở trên sân khấu nói qua về công việc bầu bán ban đại diện sinh viên văn khoa sắp tới.

Nam ngỏ ý xin được góp lời. Nữ đứng sát bên kéo khóa mở cặp. Và rồi trờ tới. Trờ tới nguyên văn: “ Xin tất cả anh chị em yên chí. Chúng tôi đã bố trí chung quanh cả rồi – Hôm nay, nhân ngày kỷ niệm 7 năm thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam . . .” “Cái gì mặt trận?” Nam nói chưa dứt câu, Toại phản ứng lẹ như chớp; nhanh tay giật lại micro : “Ẩu nà, câm mồm … !”. Quát: “Đứng im!”. Và đoàng doàng, hai phát súng nổ liên tiếp. Tôi hoa mắt thấy thân hình Toại văng bật vào tường dưới bảng đen. Nhiều phát súng nổ liên tiếp sau đó. Nguyễn Văn Tấn tự Tấn Mốc cầm chiếc ghế nhào lên cứu bạn. Và rồi cũng ăn đạn vào chân té quỵ xuống bục.

Một cảnh tượng hỗn loạn chưa từng thấy trong đời! Những thân người chen lấn, đẩy xô núp đạn hòa trong tiếng la hét, khóc lóc rợn người. Đôi nam, nữ bình thản bước xuống bục sân khấu, rẽ đám đông. Và đi mất hút.

Thoát được ra ngoài. Run như cầy sấy! Giang đâu rồi? Toại ơi! Chết? Chắc chết! Làm sao chịu thấu hai cú đìa-rếch vào người. Không dám nhìn. Chỉ còn nghe tiếng còi hụ xe cứu thương chở bạn mình đi khuất.

Trật tự tạm vãn hồi. Những kẻ chạy thoát ra ngoài, nhốn nháo nhìn vào bên trong giảng đường. Chao ôi là la liệt giày dép, nón áo, giấy tờ, sách báo. Ngổn ngang gò đống hệt một bãi chiến trường. Những người bạn Đan Mạch thu dọn đồ đạc, tháo gỡ hệ thống âm thanh, mặt mày ngơ ngác như vừa được xem xong một vở bi kịch lớn. Một vở kịch với nhiều diễn viên sống động . . .

Leo lên yên sau xe gắn máy của một bạn nào không nhớ. Đèo nhau về trạm Quán Văn bình yên. Đã thấy Trần Hiếu Lai đứng thở hỗn hễn. Hóa ra cu cậu chạy bộ từ văn khoa về nhà. Cái sợ đã làm động cơ thúc đẩy một kẻ bình thường trở thành lực sĩ vô địch điền kinh chạy việt dã!

Khuya tối hôm đó, TCS phải đi lánh nạn nơi khác. Bọn tôi nằm chờ sáng trong nỗi thấp thỏm, lo âu. Cái gì sẽ xãy ra tiếp? Nhưng ngày mai rồi thấy lại mặt trời. Mặt trời mặt trời đã lên – Còn nhìn còn nhìn thấy con người. Xế trưa, tin lành cũng đưa đến: Ngô Vương Toại không việc gì nguy hiểm tới tính mạng. Dù viên đạn quái ác đã xuyên qua năm bảy tầng tạng phủ. Đúng là mạng quá lớn bạn ơi. Bạn còn phải nằm viện điều trị lâu dài. [2]

Để kiểm chứng một khúc rẽ quan trọng. Và để rà soát lại trí nhớ tồi tệ của mình, tôi đã liên lạc với bạn Toại để cả hai cùng quay lại khúc phim thời sự gay cấn hãi hùng ấy.

Khi tôi viết những dòng chữ này, Ngô Vương Toại vừa mới hồi phục sau một cơn tai biến mạch máu não. Bạn ta còn phải tịnh dưỡng, tập tành nhiều để trở lại tình trạng sức khoẻ bình thường như trước. Cầu xin mọi điều an lành đến với bạn mình, người đã gánh chịu muôn ngàn khó khăn mà vẫn luôn luôn yêu đời, yêu người; lạc quan và bền chí.

Trong một thư riêng, chữ viết của Toại có hơi run rẩy, nhưng trí nhớ vẫn còn tốt. Sau đây là trích đoạn về nguyên nhân đưa đến cái giây phút hãi hùng để đời ấy của nạn nhân trực tiếp:

. . . “Sau khi bị ba lần stroke cuối năm ngoái, trí nhớ mình rất tồi, cái được cái quên, lẫn lộn và mấy ngón tay phải vẫn còn tê nên viết khó khăn, chữ xấu . Sẽ tập viết lại .

Sơn nhớ không, năm 1967 phe sinh viên thân Cộngtìm cơ hội phát triển hoạt động mạnh trong môi trường đại học để có thể sử dụng các cơ chế đại học mở mặt trận gây xáo trộn trong thành phố sau khi đã thành công trong việc bao vây nông thôn . Mình hợp tác với anh em sinh viên quốc gia tại Đại học Văn khoa, Luật, QGHC, Sư phạm . . .để chận sự bành trướng đó. Cách hay nhất ngăn làn sóng đỏ là giữ các ban chấp hành sinh viên.

Một liên danh gồm các sinh viên quốc gia được thành lập và để tạo cảm tình với sinh viên văn khoa, mình mời TCS và KL hát. Có hai lý do, vào thời kỳ này TCS và KL là hai nghệ sĩ được yêu mến nhất và mình muốn cho thiên hạ thấy rõ Miền Nam tự do nếu có phải can dự trong chiến tranh là vì tự vệ chứ không phải là phía cổ súy chiến tranh và có lý do để không ngại một loại nhạc chống chiến tranh . ” . . .

Sau khi Toại ngã đạn, Trịnh Công Sơn đã sáng tác ca khúc Nhân Danh Ai, dành riêng cho Ngô Vương Toại. Bài ca lên án những ai dùng bạo lực để cố cướp lấy tính mạng của đồng loại. Mặt dù hồi đó thuộc nằm lòng ca khúc này, đã cùng với Khánh Ly và các bạn Giang,Tuấn, Tự đứng ca trước đầu giường bệnh của Toại đêm Giáng sinh 1967, giờ này tôi cũng chỉ nhớ lỏm bỏm được một câu: Nhân danh ai anh đến đây bắn vào người – cho máu em cho máu anh tuôn trên da thịt này . . .

Hỏi Toại thì Toại cũng chỉ nhớ ngần này:

Nhân danh ai anh đến đây bắn vào người

Lũ dơi trời đêm nay vùng biết nói

Nhân danh ai ? anh đến đây bắn vào người

Trong mắt anh, trong mắt em, hãi hùng đầy

Xin nhân loại một ngày, nhủ lòng thương mến nhau

thôi

Nhân danh ai, anh đến đây bắn vào người

. . . .

Trong tim anh, mẹ Việt nằm

Trên nôi chung một màu vàng

Một niềm tin, một giận hờn . . .

Ca khúc này cũng không thấy ghi trong danh mục sưu tập nhạc Trịnh Công Sơn sau khi anh qua đời. Toại cũng đồng ý với tôi họa chăng chỉ có Khánh Ly may ra nhớ được toàn bài. Cũng rất cần, để ghi lại làm chứng liệu. (Nữ Hoàng Sân Cỏ ở đâu đó ới giùm cho một tiếng!).

Bài Nhân Danh Ai chứng tỏ TCS không hề là người của riêng một phe phái. Anh lên án sự xiển dương cho bạo lực dù hành động bắn giết hành hạ đồng loại đến từ bất cứ phía nào.

Toại còn nằm viện dài dài cho đến lúc bình phục hẳn (cũng kéo dài khoảng vài tháng ). Hễ rảnh rỗi là bọn tôi đại Cái Bang Mai/ Giang / (Nhuệ Giang và Hoàng Xuân Giang) Tuấn /Tự /Sơn/ Lai /Tấn . . . vào Bệnh Viện Bình dân thăm viếng ủy lạo bạn ta, dìu chàng đi làm công tác vệ sinh, thay áo quần, đổ bô . . . và hát cho chàng nghe như buổi nào chúng mình vẫn ca hát với nhau. Ôi tình bạn thắm thiết dưòng bao!

Tưởng cũng nên nhắc lại, người điền khuyết chức vụ tranh cử trong liên danh của Ngô Vương Toại không ai xa lạ, chính là Nguyễn Ngọc Ngạn, một tên tuổi văn nghệ quen thuộc về sau tại hải ngoại.

Kể từ khi Ngô Vương Toại bị lãnh kẹo đồng của phía bên kia, tình hình chính trị trong các khuôn viên đại học có mòi căng thẳng, trầm trọng hơn. Chiến tranh nóng, lạnh giữa sinh viên quốc gia và VC nằm vùng đã thò hẵn bộ mặt hung tợn ra bên ngoài: Những vụ bắn giết, thanh toán nhau như cơm bữa đã lần lượt lên khuôn nóng các bản tin thời sự. Những sự việc cụ thể giữa chiến tranh Quốc/Cộng sẽ được thuật lại chi tiết hồi sau .

Viết thêm: Sau khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời (1939-2001), rất nhiều cơ quan truyền thông báo chí trong và ngoài Việt Nam đã loan tin, đăng tải những lời chia buồn bày tỏ lòng thương tiếc vô hạn người viết thơ ca tài hoa đoản mệnh này. Nhiều tuyển tập bài viết tưởng niệm TCS cũng đã được ấn hành. Tình cờ, một người bạn cho tôi mượn cuốn sách gồm nhiều người viết mang tựa đề TRỊNH CÔNG SƠN-Rơi Lệ Ru Người do nhà xuất bản Phụ Nữ thực hiện tại Hà Nội-Việt Nam. Trong tuyển tập này có một bài báo viết dưới tiêu đề: Trịnh Công Sơn - Người Hát Rong Trên Cõi Tạm, tác giả: Nguyễn Hồng Lam (từ trang 102 đến 124) trong đó có đoạn viết về cùng một khung cảnh, sự kiện xãy ra buổi trình diễn đặc biệt của TCS/Khánh Ly cùng thân hữu mà tôi đã lượt thuật bên trên, nhưng ngòi viết này đã hoàn toàn được bẻ quặt tới một chỗ bịa đặt hoàn toàn vô căn cứ.

Đọc bài báo, thoạt đầu tôi rất phẫn nộ vì tất cả sự thật đều bị bóp méo. Nhưng sau đó lại cảm thấy buồn cười và thương hại cho lối viết ngụy tạo sự kiện một cách trắng trợn, tuyên truyền rẽ tiền, thậm chí ngô nghê, ấu trĩ của một loại chuyên viên bồi bút nào đó. Xin quý bạn đọc vui lòng duyệt lại trích đoạn của tác giả Nguyễn Hồng Lam dưới đây để có thể so sánh và dưa đến một thẩm định đúng đắn :

. . . . . “Sau Sơn, có rất nhiều người hát nhạc của anh. Các ca sĩ Giao Ánh(?!), Thanh Thúy, Thanh Tuyền . . . đều thích hát nhạc Trịnh nhưng thành công hạn chế. Cuối năm 1967, qua bạn bè giới thiệu, Trịnh Công Sơn đã lên Đà Lạt và tìm được Khánh Ly,một ca sĩ phòng trà của xứ sương mù. Với Khánh Ly,nhạc Trịnh nhanh chóng đạt đến đỉnh cao của sự lay động, làm sôi sục lên một tâm trạng căm hờn chán ghét chiến tranh. Để đối phó với phong trào sinh viên phản chiến và tranh đấu, Nguyễn Cao Kỳ đã tung tay chân vào các giảng đường để chỉ điểm bắt bớ và phá hoại. tại Đại học Văn khoa, tên Ngô Vương Toại đã được Nguyễn Cao Kỳ chỉ định làm trưởng một nhóm “thanh niên trừ gian”, thực chất là một tập hợp những tên chỉ điểm mặc áo sinh viên, Toại đã tự đứng ra lập một “Quán văn” tại Đại học Văn khoa(?!), chuyên hát nhạc Trịnh để lôi kéo sinh viên, nhưng chỉ biểu diễn các tình khúc khá ủy mị và đầy nỗi đau thân phận Trịnh viết trước khi vào Sài Gòn tham gia tranh đấu. Để tẩy chay, Trịnh đã dứt khoát không một lần bước lên sân khấu của “Quán văn”, dù Toại nhiều lần cố công nài nỉ. Đêm 20-12-1967,Toại lại tổ chức một đêm ca khúc Trịnh Công Sơn tại “Quán Văn”do Khánh Ly hát. Bất đắc dĩ, Trịnh Công Sơn cũng đến dự đêm biễu diễn này(vì Khánh Ly nài nỉ). Bất ngờ khi NgôVương Toại vừa giới thiệu xong, một nữ sinh viên đã tiến lên cướp diễn đàn. Trước micrô chị dõng dạc: “ Thưa toàn thể anh chị em sinh viên, hôm nay là 20-12-1967, kỷ niệm 7 năm ngày ra đời của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam . . .” . Khán thính giả ồ lên, reo hò đã khiến mặt nạ “trừ gian” của Ngô Vương Toại rơi xuống. Y lộ nguyên hình là một tên Việt gian phản động, xách một chiếc ghế gỗ nhảy lên sân khấu quật xuống đầu chị nữ sinh. Nhưng anh sinh viên áo trắng đứng sau chị đã nhanh hơn đá văng chiếc ghế trên tay Toại. Điên tiết Ngô Vương Toại hụp xuống vén ống quần, định rút súng. Nhưng, hai phát đạn từ khẩu súng mới xuất hiện trong tay anh thanh niên đã găm thẳng vào bụng y, hất Toại ngã lăn ra sàn sân khấu. sau này, mọi người mới biết, chị sinh viên kia tên là Út Thanh, đã cùng một đội viên khác của Lực luợng vũ trang Thành Đoàn tiến hành phá âm mưu của những tên chỉ điểm. Ngô Vương Toại may mắn thoát chết, nhưng âm mưu lôi kéo sinh viên xa rời tranh đấu của y và quan thầy thì vỡ tan tành.” . .

____________________________________________________________________

[1] Xin đọc : Cái Huông Của Thời Quán Văn trong Phần Viết Thêm

[2] Sau khi Ngô Vương Toại bị bắn, VC đã tìm cách len lỏi vào bệnh viện Bình Dân để “thịt” Toại tiếp. Nhờ lanh trí, Nguyễn Văn Tấn cùng điều trị ở đây đã hô hoán cứu vãn an ninh kịp thời