Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thanh Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 1 tháng 11, 2024

Chuyện vui về ngôi mộ Tạ Thu Thâu

Thanh Thảo

 

Sau khi chúng tôi quyết định sẽ xây mộ Tạ Thu Thâu cho “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, chúng tôi đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ của nhiều người bạn, cả trong nước và ngoài nước. Đồng tình, và ủng hộ luôn bằng tiền mặt. Số tiền không lớn nhưng tấm lòng thì lớn.

This image has an empty alt attribute; its file name is image-5.png

 

Vào cuối năm 2023, ngôi mộ của chí sĩ Tạ Thu Thâu đã được xây xong. Không chỉ xây mộ Tạ Thu Thâu, chúng tôi còn xây ngôi mộ nằm kế mộ của chí sĩ họ Tạ, ban đầu nghĩ là mộ của người đồng chí cùng đi với Tạ Thu Thâu từ Hải Phòng qua Hà Nội rồi xuôi tàu lửa về Sài Gòn. Sau tìm hiểu thêm thì biết, chỉ có Tạ chí sĩ dừng lại tại ga Quảng Ngãi để xuống Thu Xà thăm nhà thơ Bích Khê đang ốm nặng, còn người đồng chí của ông thì đi thẳng về Sài Gòn nên không bị sao cả. Vậy ngôi mộ bên cạnh mộ Tạ Thu Thâu là mộ của ai? Tìm hiểu thêm, thì biết có chuyện này: đó có thể là ngôi mộ của một người vốn là mật thám của Pháp, bị bắt và bị hành quyết cùng với người yêu nước chống Pháp Tạ Thu Thâu. Thôi thì chuyện đã rồi, cùng người Việt mình cả, nên xây mộ cho “người ấy” cũng là chuyện “hòa giải” thôi mà.

Ngày khánh thành hai ngôi mộ, người dân Xuân Phổ và chúng tôi đều rất vui, vì đã làm được việc tôn vinh cụ Tạ Thu Thâu và tử tế với người nằm cạnh cụ.

Cách đây vài tháng, từ nước Đức, anh Phạm Như Phúc, người đã đứng ra quyên góp anh em bên Đức góp phần xây mộ cụ Thâu, anh Phúc đã về Quảng Ngãi viếng mộ cụ. Vài ngày nữa, anh Nguyễn Ngọc Giao từ Pháp, là người quyên góp bạn bè bên Pháp chung tay xây mộ Tạ Thu Thâu cũng sẽ về Quảng Ngãi thắp nhang cho Cụ.

Anh Giao đã về Quảng Ngãi và cùng bố con tôi lên thắp nhang cho chí sĩ Tạ Thu Thâu và ngôi mộ bên canh mộ ông. Điều ngạc nhiên là chúng tôi thấy cả hai ngôi mộ đều có hoa tươi và bánh ai đã cúng trước đó vài ngày. Hoa còn tươi. Vậy là người dân Xuân Phổ, người dân Quảng Ngãi vẫn nhớ đến Cụ Thâu, chứ không đơn giản vì Cụ hay cho trúng số đề.

This image has an empty alt attribute; its file name is image-6.png

Chợt nhớ hai câu thơ của người bạn kháng chiến cũ đã quá cố của tôi, thi sĩ Trần Vũ Mai:

“Người yêu nước vốn chịu nhiều thua thiệt

Có được chăng, những tha thiết tim mình”

Với chí sĩ Tạ Thu Thâu, cái thua thiệt thì đã rõ, nhưng cái được còn lớn lao hơn.

Quảng Ngãi, một ngày cuối thu 2024

Nguồn: https://www.diendan.org/viet-nam/chuyen-vui-ve-ngoi-mo-ta-thu-thau

Chủ Nhật, 8 tháng 9, 2024

Bài thơ tôi viết đã 50 năm

Thanh Thảo

Một dòng sông còn đầy nước luôn luôn chảy, dù nhanh hay chậm. Thời gian thì cứ trôi qua đều đều, nhưng tùy cảm giác mỗi người, cũng có lúc nhanh lúc chậm.

Trong chiến tranh, thời gian trôi qua rất chậm.

Năm 1973 đó, khi tôi từ chiến trường Mỹ Tho về lại chiến khu, thì căn cứ cơ quan tôi đã chuyển từ Campuchia về Tây Ninh, cắm chốt ở sát sông Vàm Cỏ Đông. Ngày tôi đi xuống Mỹ Tho, cơ quan còn đóng tận rừng sâu thuộc đất Campuchia. Những ngày mới về chiến khu, không khí có phần tĩnh lặng, vì Hiệp định Paris đã có hiệu lực, Mỹ đã chính thức rút quân, lượng máy bay ném bom giảm hẳn, ở rừng gần như không còn phải đội bom nữa.

Thứ Tư, 14 tháng 8, 2024

Những người mẹ Việt Nam của thi sĩ Bùi Minh Quốc

Thanh Thảo

Tôi là lớp đàn em của anh Bùi Minh Quốc. Khi bước chân vào lớp 8 trường Chu Văn An, tôi đã tới Phòng truyền thống của trường là một ngôi nhà bát giác rất đẹp bên bờ Hồ Tây. Và tôi đã gặp ở đây bài thơ Lên miền tây của anh Bùi Minh Quốc. Bài thơ nổi tiếng ấy anh Quốc đã viết năm anh đang học lớp 9 hay lớp 10 gì đó ở ngôi trường rất nổi tiếng này. Và bài thơ này nổi tiếng khắp miền Bắc, rất nhiều thế hệ học sinh và cả sinh viên đã thuộc bài thơ. Thậm chí, đã lên đường ngược miền tây theo tiếng gọi của bài thơ, lên miền tây để dạy học, để mang ánh sáng giáo dục đến với núi rừng tây bắc:

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019

Sè sè nấm đất bên đàng

Thanh Thảo

Chuyện đời, luôn có những kết nối thật bất ngờ.

Một buổi sáng, tôi nhận được email của một người bạn, anh là giáo sư toán học ở Paris, đã nghỉ hưu, nhưng vẫn tham gia các hoạt động khoa học. Anh nói, mình đang ở Lisbon – Bồ Đào Nha, dự một hội thảo thường niên. Anh tình cờ đọc thấy trên Facebook của một Facebooker tên Phạm Vũ Lộc. Anh Lộc này quê ở miền Bắc, hình như cũng còn khá trẻ. Anh kể chuyện mình vừa vào Quảng Ngãi, và tìm đến làng Xuân Phổ, mà trên Google Maps ghi là Xuân Phổ - Nghĩa Bình, dù tỉnh Nghĩa Bình đã mất tên từ 30 năm nay. Anh Lộc tìm một ngôi mộ ở làng Xuân Phổ. Theo anh viết, thì “trong sự nghiệp tìm mộ của mình, đây là ca hiểm nhất”. Không biết hiểm thế nào, nhưng anh kể gặp dân làng, hỏi, không ai biết. Sau tìm tới một vị trưởng lão, 88 tuổi đời, 55 năm tuổi Đảng, lại hỏi. Cụ già sau khi căn vặn anh Lộc rất kỹ, mới đồng ý dẫn anh đi chỉ ngôi mộ đó. Và dặn anh: không được viết tên ông là người chỉ ngôi mộ. Anh Phạm Hữu Lộc kết luận cái “tút” ngắn của mình: “Vâng, đó là mộ Tạ Thu Thâu.” (*)

Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019

“Thế giới vui từ mỗi lẻ loi”

Nhà thơ Thanh Thảo viết một bài rất hay vĩnh biệt nhà thơ Tô Thùy Yên. Ông nói viết cho báo nhưng không báo chính thống nào đăng được. Ông bèn gửi cho tôi xem, xin đưa lên đây cho mọi người cùng đọc. Hải ngoại viết về Tô Thùy Yên tôi thích nhất học giả Đặng Tiến (Tien Dang), trong nước viết về Tô Thùy Yên tôi thích nhất bài viết ngắn này.

Hoàng Hải Vân

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2018

Thơ Thanh Thảo: John McCain

Đôi lời:
Nhà thơ Thanh Thảo, từ Quảng Ngãi, gởi cho tôi bài thơ này, vài ngày sau tang lễ của thượng nghị sỹ John McCain. Tôi nghĩ đây là một bài thơ thật hay, có giọng điệu tỉnh táo, đúng kiểu đàn ông với nhau, nhưng lại dung chứa một tình cảm ngấm ngầm mà sâu lắng, tương kính và đồng cảm. Hình như Thanh Thảo không chỉ viết về người lính John McCain mà thôi. Anh cũng viết về chúng ta, về những ngổn ngang sau chiến tranh, nay vẫn tiếp tục. Nhưng trước hết, đẹp và mạnh của một con người.
Trân trọng giới thiệu với các bạn.
Nguyễn Đức Tùng

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

Mười năm mất nhà ngữ học Cao Xuân Hạo (9): Người đồng hành cùng tiếng Việt

Thanh Thảo

Cách đây 4 ngày, trong khi ngồi với dịch giả Cao Xuân Tứ – người anh em họ với nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, hai người đều gọi cụ Cao Xuân Dục là ông cố – tôi đã hỏi về tình hình sức khoẻ của thầy Cao Xuân Hạo. Anh Tứ – Việt kiều ở Hà Lan, và là người đang dịch và quảng bá văn học Hà Lan ra tiếng Việt theo một chương trình của Hà Lan – đã nói với tôi là sức khỏe thầy Hạo đang rất xấu.

Cách đó gần một tháng, khi mới từ Amsterdam về Sài Gòn, anh Tứ đã tới thăm người anh em Cao Xuân Hạo của mình, và theo anh Tứ nói, lúc ấy anh Hạo vừa vượt qua cơn nguy kịch, nhưng đã tươi tỉnh trở lại, thậm chí còn uống được với người anh em của mình vài ly rượu vang. Nhưng không ngờ, đó là lúc khỏe lại cuối cùng của học giả Cao Xuân Hạo. Mấy ngày sau, ông đã chìm vào cơn hôn mê dài cho tới hôm qua.

Chúng ta đã mất một nhà ngôn ngữ học Việt Nam tài ba, một nghệ sĩ đa tài và nặng tình với nghệ thuật, một người thầy thiết tha với tiếng Việt và với học trò, một con người hiện đại nhưng lại có phẩm chất đạo đức của một nhà Nho "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất". Tôi có chút may mắn, khi mới vào học năm thứ nhất khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - khóa học sơ tán đầu tiên của các trường đại học miền Bắc vì chiến tranh phá hoại - tôi đã có dịp được hầu chuyện hóng chuyện thầy Hạo. Nói cho đúng, thầy Hạo chưa dạy lớp chúng tôi ngày nào, đơn giản, vì ngày ấy thầy Hạo và thầy Phan Ngọc không được đứng lớp.  Chỉ biết, với tôi lúc ấy, Cao Xuân Hạo là dịch giả bộ đại tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của văn hào vĩ đại Lev Tolstoi, và của hàng loạt tác phẩm văn học kinh điển khác.

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

Nhà văn Trang Thế Hy: Đêm nghe dừa rụng ngày nhìn chuột rơi


 thanh thảo
  
                                       “gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
                                         về sông ăn cá về đồng ăn cua
                                                              ( ca dao)




Nhà văn Trang Thế Hy và nhà thơ Thanh Thảo (Bến Tre-2006)
Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

CƠ NHỠ TRONG HÒA BÌNH

(phần tiếp theo)

thanh thảo


XXI
Có một thời trong văn học Việt Nam người ta hay dùng chữ ‘đông vui” để chỉ một đội ngũ sáng tác. Nếu đó là một lời khen, thì tôi nghĩ nó buồn cười. Văn học, chưa bao giờ ‘đông” mà “vui” cả. Đó không phải là cuộc tụ tập ăn nhậu, một “Ngày hội Đại đoàn kết” hay một bữa giỗ. Văn học, mỗi người đi một đường, mỗi người một kiểu, và như tôi, chỉ thích đi một mình. Lặng lẽ. Như thế thì không thể “đông vui”, nhưng bù lại, nó được việc. Người ta chỉ sáng tác được khi một mình. Nó không hề cô đơn. Nó có thể rất “vui”, nhưng là vui một mình. Chỉ có người đọc thứ hai, thứ ba... nếu tác giả quyết định chia sẻ bản thảo. Khi được về Trại sáng tác văn học quân khu Năm, tôi cũng chỉ nghĩ đó là một cơ quan, một nơi tôi có thể yên ổn ngồi và viết, sau những lúc đi chơi với bạn bè. Trại ấy đúng là như vậy. Chúng tôi chơi với nhau rất thân, ăn nhậu hàng ngày với nhau, nhưng tuyệt đối không ai biết ai đang viết gì. Chỉ khi nào chia sẻ, thì mới biết. Và cũng tuyệt đối không ai góp ý cho ai khi bản thảo chưa hoàn thành. Lúc xong, ra công khai rồi, mới biết. Tôi nghĩ, trại sáng tác, là như vậy. Nó phải tuyệt đối tôn trọng tự do và bí mật của người sáng tác cũng như của tác phẩm. Nghe nói, hồi ấy, trại trưởng Nguyễn Chí Trung cũng có “rèn giũa” hay góp ý cho người này người kia, nhưng tôi hoàn toàn không biết, và cũng không để ý. Khi tôi viết xong trường ca “Những người đi tới biển”, tôi đã đọc bản thảo cho mấy anh em bạn thân nghe, và đọc cho trại trưởng Nguyễn Chí Trung nghe. Anh Thu Bồn, khi đọc tới hai câu thơ trong trường ca : “ Xin mẹ cứ nhai trầu cho buổi chiều yên tĩnh/Chưa tắt ngấn cười kia thì trăng khuyết lại tròn” anh đã bật khóc. Tôi biết, anh Thu Bồn lúc ấy còn mẹ già mà anh không thể phụng dưỡng vì phải đi kháng chiến bao nhiêu năm. Câu thơ tôi đã chạm tới nỗi xót xa của anh-một người con hiếu thảo. Tôi cũng chưa biết số phận bản thảo của mình thế nào, cho tới khi nó được gửi cho NXB Quân đội. Hồi ấy, anh Nguyên Ngọc đã ra Hà Nội, và anh đề nghị ban biên tập NXB cho anh đọc bản thảo. Sau đó, chính anh Ngọc đã thúc đẩy để bản thảo này được in trong thời hạn ngắn nhất, chỉ mất chưa đầy ba tháng kể từ ngày gửi. Phần tôi, điều khiến tôi phấn khởi nhất là được... ứng tiền nhuận bút. Nhà thơ Tạ Hữu Yên, vốn cùng phòng Binh Vận với tôi, đã về công tác tại NXB Quân đội, và ông trực tiếp biên tập bản thảo của tôi. Nhờ mối thân quen đó, tôi cứ gạ ông cho ứng nhuận bút, và lần nào cũng được chấp nhận. Nhớ có lần, nhà thơ Tạ Hữu Yên vào Đà Nẵng công tác, ở lại ngôi nhà Trại sáng tác bố trí cho chúng tôi. Buổi sáng, ông lên sân thượng tập thể dục. Tôi theo lên, không phải để cùng tập với ông, mà nghĩ cách để... mượn tiền ông. Tôi giả vờ không để ý ông đang hăng hái hít thở, cứ hát rống lên một đoạn trong bài hát nhạc sĩ Nguyễn Thành phổ thơ ông: “Không thể nói trời không trong hơn/ và mắt em xanh khác ngày thường/ khi đoàn quân kéo về mùa thu ấy/ nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường”. Tôi hát không hay, dĩ nhiên, nhưng rất nhiệt tình. Và tôi liếc thấy nhà thơ Tạ Hữu Yên như đứng sững lại. Ông cảm động. Đúng là nhà thơ, mau xúc cảm. Ngay lúc ấy, tôi ngỏ lời... vay tiền ông, và Tạ Hữu Yên đã vô cùng hào hứng cho tôi... vay. Không kèm bất cứ điều kiện nào. Hồi ấy anh em sống với nhau dễ thương như vậy, dù cùng nghèo túng. Có thể tạm cư, nhưng viết thì không thể tạm bợ. Suốt gần mười năm, từ 1975 tới 1984, lúc nào tôi cũng có cảm giác mình đang ở tạm. Có thể là ở Hà Nội, ở Hải Dương, ở Đà Nẵng hay ở Qui Nhơn. Nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ mình viết tạm, dù chỉ một câu thơ. Cơ sự chỉ vì nhà cửa tôi ở lúc ấy rất tạm bợ. Tôi có cảm giác đó là những chỗ trú thân, chưa phải chỗ ở. Vì thế chưa bao giờ tôi nghĩ mình phải mua, phải trang bị cho nơi ở của mình bất cứ thứ gì. Kể cả cái giường nằm, hay cái bàn viết. Kiếm được đồng nào đổ vào ăn nhậu với bạn bè cho vui, thế thôi. Có lẽ lối sống ấy bây giờ không thích hợp, nhưng hồi đó tôi coi là chuyện bình thường, thậm chí chưa bao giờ nghĩ phải khác đi. Có thể hoàn cảnh đất nước lúc ấy cũng thế, có bình mà chưa có an. Và nhiều khi không có cả bình an. Bây giờ thì đã khác nhiều, có thể ngồi viết một cách thoải mái hơn, nhưng cảm giác bất an vẫn còn. Nó lơ lửng ở đâu đó, trong những gì khác với cái tôi đã trải qua. Nếu thi sĩ Trần Vũ Mai từng viết trường ca “Cảm giác lạc quan” ngay sau hòa bình, thì bây giờ không biết nên gọi cái cảm giác mà tôi thoáng nhận là cảm giác gì? Lạc quan chăng, không, mà bi quan, cũng chưa hẳn. Có lẽ nó đi giữa lạc quan và bi quan. Nó đi giữa cái lơ lửng. Đúng kiểu đi mà lâu nay Việt Nam vẫn đi giữa Trung Quốc và Mỹ. Bởi tôi nghĩ nhiều tới biến đổi khí hậu và cạn kiệt tài nguyên. Cạn kiệt tài nguyên chưa chắc đã chết ngay, nhưng biến đổi khí hậu thì dễ… toi lắm đấy. Vậy mà lâu nay nghe tuyên truyền về biến đổi khí hậu rất hời hợt. Người ta nói khai thác tài nguyên theo kiểu tận diệt luôn đi cùng tham nhũng. Đúng như thế. Tham nhũng cũng là một kiểu tận diệt. Tôi đã từng thấy nhiều công trình xây dựng lên tốn hàng trăm tỉ rồi bỏ hoang. Người ta gọi đó là lãng phí. Không phải. Đó là tham nhũng. Chỉ vì mấy chục “phần trăm” bỏ túi cá nhân mà người ta sẵn sàng thiết kế, phê duyệt, xin kinh phí thi công rầm rộ, xong rồi bỏ. Không phải họ không biết, nhưng cứ làm. Đó khác hẳn với lãng phí, là làm mà không biết mục đích sử dụng, không tính được hiệu quả sử dụng. Cũng may là trong một xã hội mà người tốt nhiều hơn kẻ xấu, việc tốt nhiều hơn việc xấu, thì xã hội ấy vẫn tiến lên, dù rất ì ạch. Lãng phí lớn nhất ở nước ta, là lãng phí chất xám. Chất xám vô hình, nhưng sẽ hữu hình khi được thể hiện. Chất xám cũng có thể bị bào mòn, bị thui chột nếu không có đất sống. Bây giờ hư học tràn lan, thực học nghẽn tắc. Người giỏi thật và người “giỏi giả” lẫn lộn, người giỏi thật thiếu điều kiện để chứng tỏ mình, người giỏi giả tăng cường khoa... nói giỏi. Nếu chỉ nghe các chức danh và học hàm học vị, thật chẳng biết ai giỏi ai kém. Trong cái cõi “tù mù” ấy, cộng với internet giúp sức, những kẻ bất tài nhưng già mồm lém miệng tha hồ “đăng đàn” nói xuôi nói ngược, và được hưởng ứng bởi một ít những người “đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu”. Như thế, môi trường trí thức là rất có vấn đề. Đó không phải việc của tôi. Vâng, hoàn toàn có thể nghĩ như thế. Nhưng ai cũng nghĩ như thế thì đất nước này nguy to. Ngày xưa, thời thuộc Pháp, nếu ai cũng nghĩ việc cứu nước không phải việc của mình, thì lấy đâu ra những anh hùng hy sinh thân mình cứu nước mà bây giờ chúng ta ngợi ca và cả lợi dụng? Tôi vừa trao đổi với thành phố Quảng Ngãi nên tổ chức một hội thảo khoa học về Trương Quang Trọng - một thủ lĩnh Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông Trương Quang Trọng nguyên là một sinh viên trường Thuốc Đông Dương, một người trí thức, con một gia đình khá giả ở huyện Sơn Tịnh - Quảng Ngãi. Sớm tham gia cách mạng, bị Pháp bắt đi đày ở ngục Kon Tum, Trương Quang Trọng đã thể hiện khí phách của một con người có nhân cách vĩ đại, khi tiến lên đối đầu với họng súng của tên quan ba Pháp. Tên này muốn tìm tù nhân Lung để “xài hàng nóng”, nhưng hắn đã gặp Trương Quang Trọng: “ Tao đây! Không có Lung nào hết! Mày muốn bắn thì bắn tao đây này!” Ông Trọng phanh ngực áo nói với tên quan ba bằng tiếng Pháp. Đó là hành động của một người hy sinh vì bạn, hy sinh để giữ danh dự cho những người tù Việt. Tên quan ba Pháp đã nổ súng. Trọng vừa ngã xuống, thì một bạn tù của ông - cũng là người Quảng Ngãi - đã bay lên với “hàng lạnh” trong tay là một con dao nhọn, quyết ăn thua đủ với tên quan ba Pháp. Hồ Độ cũng bị bắn, may không chết. (trích theo hồi ký “Ngục Kon Tum” của Lê Văn Hiến).Và lồng ngực Trương Quang Trọng ngang tàng thách thức/ và lưỡi dao Hồ Độ phóng qua cái chết/ máu gào thét/ máu/ sáng rực trong khoảnh khắc/”(trích trường ca “Bùng nổ mùa xuân”, thơ tôi). Có lẽ, với những người tù can đảm, “slogan” lúc bấy giờ là “đéo sợ!”. Ngay thời Pháp thuộc với hàng loạt cuộc đấu tranh chống Pháp trong nhà tù, thì tấm gương hy sinh của Trương Quang Trọng là oanh liệt nhất, hào hùng nhất. Lẽ ra, tỉnh Quảng Ngãi đã phải vinh danh Trương Quang Trọng từ lâu rồi. Lý do cho sự chần chừ chậm trễ này có lẽ vì Trương Quang Trọng không phải…đảng viên cộng sản. Không phải cộng sản, nhưng là thủ lĩnh Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội - là…anh ruột cộng sản, tổ chức do chính Bác Hồ sáng lập từ năm 1925.

XXII
Chính những ngày lang thang sau chiến tranh đã cho tôi một thói quen: thích lang thang. Bây giờ lớn tuổi, thích ngồi nhà, uống cà phê cũng ở nhà, chứ hồi trẻ, tôi chỉ thoải mái khi ở ngoài đường. Tôi có thể ở ngoài đường suốt ngày, tới đêm luôn. Với một chiếc xe đạp, thế là miên man và rời rạc, hết chỗ này lại chỗ kia, hết nhà này tới nhà khác. Tôi không du lịch, chẳng phượt, chỉ lang thang. Vô mục đích và vu vơ. Nhưng tôi thích. Bây giờ đến nhà ai cũng ngại, chứ hồi ấy, thấy vui. Nghe nói hồi xưa ở Nga cũng có những người lang thang cơ nhỡ như vậy, họ hành hương khắp nơi chứ không hành hương riêng về Đất Thánh. Người Nga gọi họ là “palomnhik”. Tôi chẳng biết mình có giống những palomnhik ấy không, nhưng đúng là tôi thích lang thang. Dĩ nhiên đích đến luôn là bạn bè. Bạn bè tôi đều nghèo, nhưng không ai lấy đó làm điều. Bây giờ nghèo thấy khổ, hồi ấy không. Nhà tôi 12m2 nhưng lúc nào cũng có khách. Từ những nhà văn tên tuổi trong cả nước tới những anh lang thang cơ nhỡ như tôi. Tất cả đều được đón chào ở nhà tôi, và tất cả đều vui lòng khi cùng gia chủ dùng tạm bữa cơm đạm bạc (ít đạm và ít tiền) hay vầy các cuộc nhậu. Tôi nhớ, có lần nhà thơ Xuân Diệu tới nhà tôi chơi, vợ tôi nấu món bún chả cá, ông ăn ngon miệng tới mức đứng lên không nổi luôn. Vì ngồi trên giường ăn cơm, chứ nhà tôi không có bàn ăn. Giờ nghĩ lại, vẫn thấy xúc động: hồi ấy khổ, mà vui. Chính từ cuộc sống thiếu bài bản như thế, đâm ra tôi viết được, viết được rất nhiều. Nhà thơ, cũng không cần quá tiện nghi để sáng tác. Nhiều khi sướng quá chưa chắc đã có tác phẩm. Vì khi viết, anh chỉ tập trung vào trang viết, dù là viết trên giấy hay trên máy tính, ngoại cảnh khi ấy bị xóa. Đã bị xóa, thì tiện nghi hay bất tiện cũng thế thôi. “Thân thể ở ngoài lao/Tinh thần ở ngoài luôn/”, tôi hay ngâm nga câu thơ độ chế lại từ “Ngục trung nhật ký” của Bác Hồ, người có một tuổi thanh niên vô cùng vất vả và lang thang cơ nhỡ gần như khắp địa cầu. Người như thế, chưa cần làm lãnh tụ hay gì cả, đã vô cùng đáng kính trọng. Những trải nghiệm của riêng người ấy đã bằng trải nghiệm của rất nhiều người cộng lại. Ở nhà số 9 ngõ Công Poăng (9 Impasse Compoint), dù ôm viên “gạch hồng” hay ôm gối ngủ, thì người thanh niên Nguyễn Ái Quốc vẫn là người Việt Nam yêu nước lang thang bậc nhất thời ấy. Không phải ôm cái gì, mà sống như thế nào. Bác Hồ, có thể còn những bí mật đời tư mà chúng ta chưa biết, nhưng chỉ với những gì đã biết, thì tuyệt đối không cần “huyền thoại hóa” gì cả, Bác đã là một vĩ nhân.

Khi lối văn chương sáo rỗng lên ngôi, người ta gọi đó là “văn mẫu”. Tới điếu văn cũng phải dùng “điếu văn mẫu” thì hết biết! Tôi đang dùng một lối văn “phi mẫu” để viết quyển sách này. Có thể coi đó như một phản ứng về lối viết. Tôi cứ viết tự nhiên, nghĩ gì viết nấy, không theo ai và chẳng mong ai theo mình. Khi ký ức ùa về, thật khó “thành kính phân lô”, vì ký ức có khi rất lộn xộn, vừa mập mờ vừa rời rạc, vụt sáng rồi vụt tắt. Chúng ta sống với ký ức, nhiều hơn là ký ức sống với ta. Bởi nó độc lập, trong ta và ngoài ta. Nhiều lúc, tôi muốn để ký ức tự vận hành khi viết, nhưng như thế sẽ rất tù mù. Thăm dò món này thật không đơn giản. Nhớ hồi cơ nhỡ đó, tuyệt đối không ai có điện thoại, vậy mà sao chúng tôi vẫn gặp nhau hàng ngày một cách khá dễ dàng. Luôn biết giờ nào thì bạn mình ở đâu, cứ tới đúng nơi đúng lúc là gặp. Gặp nhau, anh em biết nhau có tiền hay không ngay. Nếu đều không có, thì phải nghĩ cách. Còn chỉ một người có, là xong. Khoảng sau năm 80, khi nghệ sĩ piano Đặng Thái Sơn nổi tiếng thế giới, anh đã có tiền mua cho bố - nhà thơ Đặng Đình Hưng - một căn hộ khiêm nhường ở Giảng Võ. Rất khiêm nhuờng với bây giờ, nhưng hồi đó là ngon. Tôi nhớ nhiều lần tới thăm nhà bác Đặng Đình Hưng và uống rượu với bác, mỗi khi ra về bác Hưng lại dặn: “ Cậu nhớ gọi điện thoại cho mình nhé! Số máy của mình là...”. Đó là số máy bàn. Nhưng hồi đó tôi có biết điện thoại là cái gì đâu! Lấy đâu ra điện thoại, dù điện thoại bàn, để gọi cho bác Hưng. Người già sống một mình, con cái sắm cho cái điện thoại để gọi “chém gió” cho đỡ buồn, nhưng ở thời chả ai có điện thoại, nhất là những bạn văn nghệ nghèo, thì đành chịu. “Cuộc đời vẫn đẹp sao”, thôi thì lại hát và lại đi. Trời có xanh hay mù, thì cũng đi tới quán rượu, hay khá hơn, tới quán bia hơi. Hồi đó đơn giản quá. Bây giờ, chỉ cần tắt điện thoại, là coi như rơi vào khoảng mịt mùng. Phương tiện khiến chúng ta trở nên ỷ lại, và đó là điều không nên. Nhưng thời này mà không dùng điện thoại di động như ông Ngô Thế Oanh bạn tôi, thì cũng không ổn. Nhiều khi muốn gọi điện, muốn trao đổi từ một khoảng cách xa hàng nghìn cây số, nếu không dùng điện thoại di động, thì biết làm sao? Vi tính cũng không dùng nốt, thì biết thế nào? Tôi có những người bạn lạ, theo nghĩa cá tính lạ, ông Oanh này là một. Là Tổng biên tập tạp chí Thơ của Hội nhà văn, mà điện thoại không có, vi tính không dùng, chỉ thích đi bộ. Xe “ba nghìn con trâu” thật vô cùng xa lạ với một nhà thơ như thế. Tôi cũng là người không quan tâm mấy tới tiện nghi, nhưng tối thiểu như điện thoại di động (dù loại “cục gạch”) hay vi tính thì phải có. Để làm việc chứ không phải để chém gió. Tôi rất hâm mộ những người biết làm chủ phương tiện, vì họ có kỹ năng tốt. Người như thế luôn tự tin và chủ động. Nhất là với những người lớn tuổi, khi họ có kỹ năng tốt, họ luôn trẻ hơn tuổi của mình. Tư duy và lao động luôn làm chúng ta trẻ lại. Tỉ phú Warren Buffett là một tấm gương lớn về chuyện này. Ông tự lái một chiếc xe cũ, rất ít xài tiền, nhưng luôn vận động đầu óc, và luôn ở tốc độ cao trong tư duy. Người như thế trẻ lâu lắm. Vì họ chỉ “tham” kiến thức, tham trí tuệ, không tham tiền. Hàng tỉ đô đối với họ chỉ để chứng minh năng lực làm việc. Biết cho đi chính là biết sống. Tôi không có tiền nhiều, không phải tỉ phú, nhưng tôi biết cho đi, và biết sống. Vì thế đầu óc tôi luôn thanh thản. Biết làm “rỗng” đầu óc để có thể tích chứa, chúng ta luôn vui với bất cứ tuổi nào. Bây giờ hay quên một số thứ, nhưng như thế là hợp qui luật bộ nhớ. Lại nhớ, cách đây 25 năm, một quan chức tuyên huấn hay rao giảng về chuyện “ chúng ta phải tăng cường độ “bít” thông tin”. Tôi nghe không hiểu gì cả, nhưng tôi biết vị quan chức này cũng chẳng biết gì hơn tôi về công nghệ thông tin. Nói những điều mình không biết, thì còn khó hơn cho “lạc đà qua lỗ trôn kim”, như Kinh thánh dạy.



Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

CƠ NHỠ TRONG HÒA BÌNH

(trích)

thanh thảo

XVI

Còn thơ lại khác với nhiều thứ. Bây giờ người ta nói, thơ chả ai đọc. Chả ai đọc mà số người làm thơ lại tăng theo cấp số nhân ? Vậy là từ trong bản thể, thơ cần thiết cho người làm thơ, trước khi có thể cần thiết cho ai khác. Nhà thơ làm thơ để thỏa mãn mình, trước khi làm hài lòng người. Người ta sẽ nói: “ Còn Nguyễn Du thì sao ?” Vâng, Nguyễn Du là nhà thơ vĩ đại, nhưng bây giờ những người trẻ mấy ai đọc truyện Kiều ? Trừ những người phải đọc để làm luận án kiếm cái bằng thạc sĩ, tiến sĩ ? Hồi xưa, cha ông chúng ta ai cũng thuộc ít nhất là mấy câu Kiều, và họ hoàn toàn thuộc thành phần bình dân, không phải giới tinh hoa. Còn bây giờ ? Có khi ông Obama còn thuộc Kiều nhiều hơn là một người trẻ Việt Nam nào đó. Không ai trách họ cả. Mỗi một thời có những nhu cầu tinh thần khác nhau. Hồi xưa làm gì có facebook ? Bây giờ, hơn 30 triệu người Việt thường xuyên dùng các mạng xã hội để kết nối với nhau. Nhiều khi, đơn thuần chỉ để chém gió. Còn giới tinh hoa, bây giờ họ ở đâu ? Nói về giới này, hôm qua ngồi với nhà văn Nguyên Ngọc nhân dịp ông vào Quảng Ngãi dự 70 năm trường Lê Khiết, anh Ngọc nói: “ Đất nước nào cũng có giới tinh hoa của nó. Hồi xưa đã vậy. Bây giờ vẫn vậy.

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Người nông dân

Thanh Thảo
Với người Việt, nếu anh không phải từ trên trời rơi xuống, thì đều “từ đất dấy lên”. Từ đất mà lên, có nghĩa anh mang sâu xa trong huyết quản mình dòng máu của ruộng đồng, dòng máu của người nông dân. Đó là dòng máu mạnh mẽ, trong sạch, giàu đức hy sinh nhưng cũng đầy chịu đựng.
Bây giờ, ai cũng nói: Công nhân công nghiệp là tầng lớp chịu khổ nhiều nhất. Nhưng công nhân công nghiệp là ai, nếu không phải xuất thân từ nông dân, là con em nông dân, vì tại quê nhà thiếu sinh kế nên ra thành thị, vào các khu công nghiệp làm công nhân chỉ với mục đích là kiếm tiền gửi về phụ giúp nuôi cha mẹ già yếu hay nuôi con cháu học hành. Tới khi “thoát thân” thành công nhân công nghiệp, người nông dân vẫn chưa thoát cái nghèo, cái khổ.
Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

THƯỜNG KHI RẤT BẤT NGỜ, TA ĐỌC MỘT CÂU HAY

thanh thảo

Kẻ nào thực sự quên mình trong cuộc sống thì lại được cuộc sống trả lại cho tất cả” (Nguyên Ngọc).

Tôi đọc câu này trong... Bản Đề dẫn được đọc trong hội nghị... đảng viên của Hội nhà văn Việt Nam do nhà văn Nguyên Ngọc chấp bút. Hội nghị này diễn ra tháng 3 năm 1979 tại Hà Nội. Thời điểm ấy tôi cũng được coi là nhà văn, nhưng không được họp và nghe trực tiếp Bản Đề dẫn, do tôi... không phải đảng viên. Hóa ra, là đảng viên có lợi thật! Chả trách, mãi 36 năm “sự kiện Đề dẫn” tôi mới được đọc tài liệu này, một tài liệu mà chính tác giả của nó là nhà văn Nguyên Ngọc cũng phải thú nhận, là “Đọc lại rất hay, nhưng cũng rất buồn cười, nhiều chỗ hồi ấy mình còn cứng quá chừng!” (trích thư Nguyên Ngọc gửi Lại Nguyên Ân)[i]. “Cứng” như thế mà còn bị phê phán, còn bị đánh cho tơi tả, nữa là “mềm” như tôi hồi ấy. Thú thật là cũng có lúc tôi rất hăng hái, nhưng sao không ‘cứng” được, mà nó cứ... mềm mềm. Trách gì không được vào Đảng. Còn nhớ, lúc bấy giờ mấy anh em chúng tôi còn đang ở Trại sáng tác quân khu Năm, đóng trụ sở tại số 10 Lý Tự Trọng - Đà Nẵng. Tôi hoàn toàn không biết gì về cuộc “Hội nghị đảng viên” này. Cả về Bản Đề dẫn, mặc dù nổi tiếng như thế nhưng tôi cũng chưa từng được đọc. Một thời gian sau hội nghị, tôi chỉ được nghe tin vỉa hè, không mấy chính xác về Bản Đề dẫn này. Hồi đó, chúng tôi nghe là thủ trưởng của chúng tôi - nhà văn Nguyễn Chí Trung - ban đầu có tham gia tích cực vào việc hình thành văn bản này, thậm chí tôi còn nghe là Bản Đề dẫn do ông Trung chấp bút, ông Ngọc chỉ “định hướng tư tưởng”.

Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

NGUYÊN NGỌC-NHÀ THƠ

Thanh Thảo

Nói Nguyên Ngọc nhà văn, ai cũng biết. Nhưng chẳng lẽ còn một Nguyên Ngọc nhà thơ ? Là hai người khác nhau, trùng tên ? Không phải. Vẫn một con người đó. Vẫn Nguyên Ngọc bao năm nay là nhà văn đó. Nhưng, trong một buổi chiều ngồi quán vỉa hè uống bia với món vịt nướng chao cùng mấy thằng em, tôi chợt nhớ…Thì ra, bao lâu nay chúng ta đã bỏ quên, hoặc không bao giờ nghĩ, đã có một Nguyên Ngọc nhà thơ. Năm nay tròn 83 tuổi, hơn 60 năm là nhà văn nổi tiếng, không hề viết nửa câu thơ, dù là thơ…tán gái, bỗng một ngày được (hay bị) một gã nhà thơ khả nghi gọi mình là…nhà thơ ? Không biết ông Nguyên Ngọc nghĩ gì ? Còn tôi, tôi nghĩ thật như thế.

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

LANG THANG QUA CHIẾN TRANH (4)

Thanh Thảo

Cuộc uống rượu nhà Chú Hỏa, nếu mà có Thu Bồn cùng đi thì vui biết mấy !

Nhưng Thu Bồn đây rồi ! Nhà thơ như cây trắc, như « bóng cây Kơ-nia » (Nam Bộ gọi cây Kơ-nia là cây cầy) Tây nguyên đại ngàn lúc bấy giờ đang tá túc với chúng tôi ở chung cư 190 Công Lý( Sau đổi thành « Nam Kỳ Khởi Nghĩa »). Thu Bồn vui lắm. Và năng động vô cùng. Anh mặc quân phục, đeo súng ngắn, dáng đi hết sức mạnh mẽ trong cái thành phố khổng lồ mà anh mới một lần gặp mặt, dù mơ ước trong thơ đã nhiều. Nhớ một buổi sáng tôi với Thu Bồn và Ngô Thế Oanh đang lang thang trước 190 Công Lý thì gặp Trần Vũ Mai. Anh chàng Mai như phóng viên mặt trận lập tức chụp ảnh mấy anh em. Chưa kịp làm thêm vài kiểu ảnh nữa thì có một ông cụ già tới hỏi thăm chúng tôi. Ông hỏi ngôi nhà luật sư Trịnh Đình Thảo bây giờ có người ở không ? Chúng tôi không biết, nhưng vì ngôi nhà ấy ở 192 hay 194 Công Lý gì đó, gần chung cư 190, nên chúng tôi nghĩ là có người của Giải phóng đang ở để bảo vệ. Cụ già nói : ông vốn là người quản gia của ngôi nhà này, ngôi nhà mà luật sư Trịnh Đình Thảo vẫn ở trước khi lên chiến khu. Khi luật sư Thảo đi, ông vẫn trông nhà. Ông chỉ rời nhà trong ngày 30/4 vì lo ngại. Nay ông trở lại để hỏi thăm tin tức luật sư Trịnh Đình Thảo, và mang biếu luật sư chút ít mắm ăn - loại mắm gia đình ông tự làm mà luật sư Thảo rất thích ăn. Chỉ thế thôi. Chúng tôi tự nhiên cảm động, một người quản gia mà có tình nghĩa như thế với ông chủ, chứng tỏ ông chủ là người rất tình nghĩa, là người tốt. Luật sư Trịnh Đình Thảo đã rời Sài Gòn từ nhiều năm, vậy mà người quản gia vẫn nhớ, vẫn cảm thấy có trách nhiệm với chủ của mình, hơn thế, còn nhớ cả khẩu vị của ông chủ, nên mang biếu lọ mắm để chủ mình dùng.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

LANG THANG QUA CHIẾN TRANH (2)

Thanh Thảo

Nhân đây cũng nói, lúc ở chiến trường Mỹ Tho, đội công tác Binh vận đã có ý định “bồi dưỡng” để kết nạp tôi vào Đảng. Nói thật, nếu thời điểm đang ở chiến trường, chứ không phải ở chiến khu, mà người ta kết nạp tôi vào Đảng, tôi đồng ý vào ngay. Bởi lúc đó, tinh thần là “’đảng viên đi trước”. Đi trước là chấp nhận tới chỗ ác liệt hơn, nguy hiểm hơn, chứ không phải “đi trước” để “ăn cỗ” hay ăn cái gì. Nhưng rồi, chắc cũng do số phận, người ta thấy tôi sống hơi tự do quá, hơi lông bông quá, lại ăn nhậu với anh em hơi bị nhiều, nợ nần cũng lắm, nên việc kết nạp Đảng gác lại. Dù sao, đó là một thiện chí của chi bộ hay đảng bộ ở chiến trường, và tôi cảm ơn vì điều ấy. Không vào Đảng, tôi vẫn sống và làm việc như vậy, lang thang như vậy, chẳng có gì thay đổi.
Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

Dạ, tôi là Sáu Dân (trường ca)

Thanh Thảo

Về một con người đích thực

Nguyên Ngọc

Gần đây Thanh Thảo thường gửi cho tôi các sáng tác mới của anh, gần như vừa viết xong thì anh gửi ngay, những cái vừa ra lò, còn nóng hổi hơi lửa bếp, chưa đưa cho báo nào, thậm chí chưa ai được đọc; cũng có khi chưa xong hẳn, anh vừa gửi vài giờ trước lại gửi tiếp bản sửa anh bảo “hoàn chỉnh hơn”, mà cũng thường “hoàn chỉnh hơn” đến mấy lần liên tiếp. Điều ấy rất thú vị đối với người được tác giả coi là tri âm: có thể lắng nghe chuyển động tinh vi của một tác phẩm đang trằn trọc hình thành, lần theo một cuộc hoài thai.

Tôi cũng chú ý: anh chỉ gửi cho tôi toàn Trường ca, tức là, theo tôi hiểu, những gì ít nhiều có tính “sự tích”; những sự tích đó, chắc cả anh và tôi cùng ngầm hiểu, đều có liên quan theo kiểu nào đó, trong một chiều sâu nào đó, với cả hai chúng tôi. Tri âm nhắn gửi cho nhau. Lần trước là “sự tích” về người Mông, có lẽ là dân tộc kỳ lạ nhất trên thế giới anh với tôi đều từng nhỡ phải lòng.