Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Việt. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 1 tháng 1, 2021

Tương lai hậu-Trump của văn học Mỹ

Các nhà văn sẽ làm gì khi hết phẫn nộ? Liệu họ có quay lại viết về bông hoa và trăng sao hay không?

Nguyễn Thanh Việt, The New York Times ngày 22/12, 2020

Trần Ngọc Cư dịch

Nguyễn Thanh Việt là Chủ nhiệm khoa Anh văn, ngạch Aerol Arnold, và là Giáo sư Anh văn, Hoa Kỳ học, và Dân tộc học tại Đại học Nam California. Ông từng đoạt giải Pulitzer và là thành viên của Hội đồng giải thưởng Pulitzer.

Donald Trump là một tổng thống phản văn học. Rõ ràng là người này không đọc sách, ngoài các tờ báo cáo và các dòng tweet được pha rất loãng. Ông thiếu một yếu tố cốt lõi cần thiết cho văn học: đó là sự đồng cảm với người khác.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2020

Những tư tưởng không thể tồn tại qua thời coronavirus

Covid-19 đang giết chết huyền thoại rằng chúng ta là quốc gia vĩ đại nhất trên trái đất.
Nguyễn Thanh Việt, The New York Times 10-4-2010
Nguyễn Hoàng Ánh dịch

Bài viết này là một phần của loạt bài The America We Need của chúng tôi, một loạt ý kiến ​​của Times về khám phá làm thế nào quốc gia có thể nổi lên từ cuộc khủng hoảng này mạnh mẽ hơn, công bằng hơn và tự do hơn.
Đôi khi mọi người hỏi tôi, cần phải làm gì để trở thành một nhà văn. Tôi nói với họ, điều duy nhất bạn phải làm là đọc liên tục; viết trong hàng ngàn giờ; và rèn luyện khả năng tự hành xác để hấp thụ rất nhiều sự từ chối và cô lập. Hóa ra, những phẩm chất này đã giúp tôi chuẩn bị tốt để đối phó với cuộc sống trong thời gian của coronavirus.
Thứ Ba, 7 tháng 1, 2020

Mỗi khoảnh khắc với con trai tôi là một hành động sáng tạo (Cho đến nay chúng tôi đã viết chung một cuốn sách)

Nguyễn Thanh Việt, New York Times, 1. 1. 2020

Trần Ngọc Cư dịch
Nguyễn Thanh Việt là một nhà văn Mỹ gốc Việt. Ông là Trưởng khoa Anh văn, Giáo sư Anh văn và Hoa Kỳ học, Dân tộc học tại University of Southern California.

Tranh Le Nhung

Vào cuối tuổi tứ tuần, tôi làm bố trở lại cho đứa con thứ hai, vào lúc tôi không mảy may kỳ vọng có thêm con. Cha tôi, 85 tuổi, vô cùng hân hoan khi tôi báo tin về đứa cháu thứ năm của ông.

Cha tôi gần như là một người vô cảm trong thời thơ ấu của tôi. Ông chỉ biết tập trung vào cuộc mưu sinh của một người chân ướt chân ráo mới đến xứ này. Gia đình tôi sống hai cảnh đời điển hình của Mỹ. Về phần bố mẹ tôi, đấy là gương sáng của người di dân hay tị nạn vươn tới thành công vật chất từ khố rách áo ôm. Đối với toàn gia đình chúng tôi, đấy là câu chuyện buồn của hai thế hệ, cha mẹ sinh ra ở nước ngoài và con cái lớn lên ở Mỹ, cách ly nhau bằng ngôn ngữ, văn hoá và tình cảm.

Thứ Hai, 19 tháng 11, 2018

Tôi yêu nước Mỹ. Đó chính là lý do tôi phải nói sự thật về nó

Nguyễn Thanh Việt, Time, 15, tháng 11, 2018

Hiếu Tân dịch

The Nguyen family, in the early 1980s in San Jose, Calif., where his parents owned the New Saigon Mini Market

Gia đình Nguyễn Thanh Việt, đầu những năm 1980 ở San Jose, California, nới cha mẹ ông là chủ siêu thị mini Sài Gòn Mới. Ảnh: Nguyễn Thanh Việt.

Nguyễn Thanh Việt sinh ở Việt Nam và trưởng thành ở Mỹ. Cuốn tiểu thuyết The Sympathizer của ông đoạt giải Pulitzer năm 2016 dành cho loại văn hư cấu và năm giải thưởng khác.

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2018

Về những câu chuyện chiến tranh chân thật

Nguyễn Thanh Việt

Hồng Anh dịch

(từ Viet Thanh Nguyen, “On True War Stories”, (Re)Collecting the Vietnam War, special issue of Asian American Literary Review 6.2 (Fall 2015): 140-145)

Truyện chiến tranh thì không có truyện nào hay

Ao ước, Denise Duong

Chiến tranh là địa ngục. Giống như nhiều người Mỹ và mọi người trên khắp thế giới, tôi thích những câu chuyện chiến tranh xây dựng dựa trên cái có vẻ là một ý tưởng gây xáo động. Tôi có góp phần cá nhân vào những câu chuyện như vậy, khi được sinh ra tại Việt Nam nhưng được nuôi dạy, hay được tạo thành, tại Mỹ. Một cuộc chiến đã mang tôi từ bên đó qua bên này, một trải nghiệm tôi chia sẻ với hàng triệu người bạn Mỹ của mình. Thỉnh thoảng tôi tự hỏi liệu hoàn cảnh của tôi, hay những gì mà ba mẹ tôi phải chịu đựng, có thể gọi là một câu chuyện chiến tranh không, và có thể kể câu chuyện đó như thế nào? Trong How to Tell a True War Story” [Làm thế nào kể một câu chuyện chiến tranh chân thật] trong The Things They Carried [Những thứ họ mang], Tim O’Brien nói:

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2018

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt lên tiếng về vụ Will Nguyễn

Trong một status, nhà văn Nguyễn Thanh Việt, giải thưởng Pulitzer năm 2016, viết về vụ sinh viên Will Nguyễn bị đánh đập dã man trong cuộc biểu tình ngày 10 tháng 6 vừa qua tại Sài Gòn và nay vẫn còn bị giam giữ.

Toàn văn status như sau:

Thật đáng quan ngại. Will Nguyen là một sinh viên người Mỹ gốc Việt, đã vài lần e-mail đến tôi. Giờ đây, tôi nhìn thấy anh trong tình cảnh này, bị đánh và kéo lê trên đường phố Việt Nam trong cuộc biểu tình chống "Đặc khu kinh tế" trao cho Trung Quốc trong 99 năm (tôi nghe như thể là chủ nghĩa thực dân của Mỹ ở Philippines và chủ nghĩa thực dân của Anh ở Hồng Kong). Dường như anh đã bị bắt giữ, không liên lạc được, dù anh là một công dân Mỹ. Hiển nhiên, không chỉ anh mà nhiều công dân Việt Nam cũng đang bị giam giữ. Một quốc gia tôn trọng công dân và cộng đồng hải ngoại thì sẽ không làm như vậy đối với dân tộc mình, nhưng điều này đã lặp đi lặp lại nhiều lần rồi. Chính phủ phải thả tự do cho Will Nguyen và tất cả những người bị giam giữ khác, những người đang đấu tranh vì chính Việt Nam.

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

Đỡ đạn từ chiến hào kinh điển (*)

Các tác phẩm của người nhập cư, người nước ngoài và các nhóm thiểu số không làm suy yếu chương trình văn học ‘cổ điển’. Chúng làm giàu nó thêm.

Chuyện kể của Nguyễn Thanh Việt, The Washington Post ngày 3/5/2018

Trần Ngọc Cư dịch

Nguyễn Thanh Việt là nhà văn đoạt giải văn chương Pulitzer, tác giả của “The Sympathizer,” “The Refugees,” và “Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memory of War.” Ông là giáo sư Anh văn tại Đại học Nam California.

Vào năm 1992, năm đầu làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ, ngồi trước Trưởng khoa Văn học Anh, một người nổi tiếng bênh vực chủ nghĩa văn hoá Mỹ [Americanist], tôi bày tỏ ý định viết một luận án về văn chương Việt Nam và văn chương Mỹ-Việt. “Anh không thể làm điều này,” ông ngăn cản, tỏ ra ái ngại về tham vọng của tôi là muốn dạy học ở một phân khoa Anh văn. “Anh sẽ không kiếm được việc làm đâu.” Vì ngay cả vị giáo sư đỡ đầu của tôi, một người theo chủ nghĩa Marx, cũng đồng ý với ông trưởng khoa, tôi đành đi theo một lộ trình an toàn hơn và viết một luận văn về văn học Mỹ gốc Á (Asian American literature), một ngành trong đó một số người đã vào được ngạch giáo sư đại học.

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

Ca tụng sự nghi ngờ và vô ích

Nguyễn Thanh Việt, The L os Angeles Times, 14/4/2017

Hồng Anh dịch

 

Nhà văn và nhà phê bình tự do Nguyễn Thanh Việt. (Ảnh Patrick T. Fallon / Dành cho The LA Times)

Gần 20 năm trước, tôi đến Los Angeles vào tháng Sáu. Tôi nhận bằng tiến sĩ ở đại học California-Berkeley vào tháng Năm và đã tròn 26 tuổi vào tháng Hai. Mùa hè năm đó, tôi tìm thấy một căn hộ nhỏ ở Silver Lake và bắt đầu chuẩn bị sự nghiệp mới là giáo sư tại Đại học Nam California (USC). Tôi nhìn lại chính mình bằng sự sửng sốt và cảm thông vì có nhiều điều tôi đã không biết khi 26 tuổi. Sự ngây thơ đã bảo vệ tôi khi tôi ngồi viết nơi bàn bếp nhỏ và trong mùa hè nóng nực, ngột ngạt đầu tiên ở Los Angeles đó, một tập truyện ngắn đã khởi sự. Nếu tôi biết phải mất đến 17 năm để hoàn thành nó, ba năm nữa để xuất bản, thì có lẽ tôi đã không bao giờ bắt đầu.

Nhưng đôi khi, không phải luôn luôn như vậy mà chỉ đôi khi thôi, sự bất khả tri cũng có ích như tri thức. Bất khả tri là có ích khi chúng ta nhận thức được nó. Trong trường hợp của tôi, khi miêu tả một cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chẳng hạn, tôi biết là tôi không biết điều gì, và tôi biết là tôi muốn biết điều đó, nhưng tôi không biết làm sao để biết. Tôi biết rằng tôi muốn viết tác phẩm hư cấu, và tôi biết rằng tôi muốn đem lại sự sáng tạo uyên bác, nhưng tôi không biết làm thế nào thực hiện cả hai. Tôi cũng biết rằng các trường đại học không tán thưởng sự bất khả tri, hay thú nhận mình thiếu hiểu biết, vì vậy tôi giữ lại điều không biết đó cho mình và vờ rằng tôi biết tôi đang làm gì.

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Nguyễn Thanh Việt trả lời phỏng vấn

clip_image002

NGUYỄN THANH VIỆT  qua phỏng vấn với Kanyakrit Vongkiatkajorn trên nguyệt san Mother Jones Jan/Feb. 2017.
Trong trí nhớ của ông, tiểu thuyết gia Nguyễn Thanh Việt lúc nào cũng không quên được thân phận tị nạn. Năm 1975 lúc ông bốn tuổi, gia đình ông gia nhập đoàn người miền Nam trốn chạy cộng sản. Ký ức ban đầu ông còn nhớ được khởi sự tại trại định cư ở Pennsylvania nơi gia đình ông đặt chân đến rồi bị chia cách tạm thời. Trường thiên tự sự của họ Nguyễn trên đất Mỹ đã định hình hành trình nhà văn – kể từ thời thơ ấu cô đơn thắc mắc tìm hiểu về những nỗi kinh hoàng mà thân quyến ông phải trải qua. Tiểu thuyết đầu tay của ông - CẢM TÌNH VIÊN (THE SYMPATHIZER) , lời tự thú đậm chất khôi hài đen của tay điệp viên Bắc Việt trốn qua nước Mỹ - đã thắng giải Pulitzer 2016 cho thể loại văn hư cấu. Tác phẩm phi-hư cấu tiếp theo, Nothing Ever Dies: Vietnam and the memory of war( Không có gì thật sự chết đi: VN và ký ức chiến tranh)được vào chung kết giải National Book Award 2016. Cuốn sách vừa ra mắt tháng Hai -2017 là tập truyện ngắn THE REFUGEES (DÂN TỊ NẠN) ông viết rải rác trong vòng hai mươi năm phấn đấu để có được danh hiệu “nhà văn”.
MOTHER JONES: Ông còn nhớ gì về quảng đời ông sống ở VN ?
NTV: Chỉ còn vài chớp lóe. Tôi nghĩ rằng ký ức tự sự bắt đầu khi tôi lên chiếc tàu tị nạn.
MJ: Xin ông nói về cơn hoạn nạn của gia đình ông.
NTV: Tháng 3-1975, mẹ tôi, tôi và anh trai đang sống ở quê nhà trên vùng cao nguyên miền Trung. Bố tôi lúc ấy làm ăn dưới Saigon khi bộ đội Bắc Việt bắt đầu  cuộc xâm  lăng cuối cùng. Thị xã chúng tôi bị chiếm đóng đầu tiên , mẹ tôi quyết định trốn chạy với hai anh em tôi bỏ gia sản lại cho chị nuôi tôi trông nom hi vọng có ngày hồi cư. Chúng tôi lội bộ mấy trăm cây số, leo kịp tàu về Saigon và tìm thấy bố tôi. Một tháng sau, quân cộng sản cũng vào đây và chúng tôi sau cùng leo lên một chiếc tàu đưa ra đảo Guam,  tôi nhớ là như thế. Từ đó chúng tôi bay qua Fort Indiantown Gap, tiểu bang Pennsylvania.
MJ: Ký ức ông bắt đầu từ nơi ấy ?
NTV: Đó là các hoài niệm ban đầu mà tôi còn nhớ. Để rời trại tị nạn, tôi cần người bảo lảnh, nhưng đâu có ai muốn bảo lãnh một gia đình bốn mạng. Bố mẹ tôi đi theo một người sponsor, anh tôi khi ấy 10 tuổi theo một người khác . Tôi thì được gửi cho một gia đình khác. Tôi rất bực tức và rối trí lúc đó, cho nên ký ức đầu tiên của tôi gắn liền với giai đoạn ấy. 
MJ: Nhưng gia đình đã đoàn tụ lại sau đó ?
NTV: Có lẽ vài tháng sau; nhưng vài tháng đối với đứa trẻ bốn tuổi là một thời gian rất dài. Chúng tôi sống ở Harrisburg từ 1975 đến 1978. Khi có người bạn cho bố mẹ tôi biết là San Jose có nhiều cơ hội tốt hơn, họ thu xếp ra đi và mở tiệm tạp hóa Việt hình như là thứ hai bên đó.
MJ: Xin nói về chặng đời ấy của ông.
NTV: Bố mẹ tôi đã sống một cuộc đời di dân tiêu biểu – nói tị nạn thì đúng hơn . Một lối sống tiểu thương khổ nhọc; có lần bị cướp vào tiệm nổ súng. Tôi thấy họ sống khá cô độc. Họ làm việc suốt ngày trong khi anh tôi học đại học cho nên tôi thành đứa con một lúc 10-11 tuổi. Tôi tìm được nơi trú náu kỳ diệu trong thư viện. Sách mở một thế giới khác cho tôi trốn vào. Tôi đọc nhiều về cuộc chiến VN. Từ đó tôi bắt đầu bị cuốn hút vào những sự việc đã xảy đến cho gia đình mình.
MJ: Ông có bàn luận chuyện đó với cha mẹ ông ?
NTV: Họ chỉ nói đại khái rằng: “Không phải sống ở VN là may cho con rồi!” Tôi rất thắc mắc về những điều họ không muốn bàn tới. Ví dụ, cả nhà chỉ có một tấm ảnh duy nhất của người con gái nuôi - một khoảng trống to tát . Nhưng khó mà hỏi bố mẹ tôi cho ra lẽ. Tiếng Việt tôi nói không rành lắm. Có nhiều việc tôi không biết hỏi như thế nào.
MJ: Tôi thấy là ông chịu khó phân biệt “di dân” so với “tị nạn”.
NTV: Di dân, cho dù họ là mối nghi vấn đối với một số người, là một phần không thể thiếu trong giả thuyết về Giấc mộng Hoa Kỳ (the American Dream). Một số đông dân Mỹ am hiểu tình cảnh di dân. Người tị nạn là những kẻ bị chiến tranh, thiên tai hoặc đại họa chính trị bứng khỏi quê nhà nên họ có tính đe dọa nhiều hơn vì họ nhắc cho ta nhớ rằng mọi tiện nghi ta vẫn cho là hiển nhiên có thể tan hoang trong chớp mắt.
MJ: Ông trở về VN lần đầu là khi nào?
NTV: 2003 thì phải. Tôi quay về năm hay sáu lần. Những chuyến đi bổ ích nhưng cũng khó khăn vì tôi vừa là người Việt vừa không là người Việt. Ngoài Bắc, thiên hạ rất thích chí: “Đón mừng người trở về quê nhà!” Trong những hoàn cảnh khác, anh phải trả theo giá Việt kiều. Người thân gặp anh thì mừng rỡ nhưng cũng căng vì anh đã bỏ đất nước ra đi và nay chắc anh là một Mỹ kiều giàu có. Thường thì họ hàng anh không khá giả cho lắm. Các điều tị hiềm và mong đợi về mặt tình cảm rắc rối vô cùng.
MJ: Có phải thời niên thiếu ông bị chấn thương tâm lý khi xem phim Apocalypse Now?
NTV: Apocalypse now đã để dấu ấn sâu trong tôi. Trải qua năm tháng, giữa tôi với phim này hình thành mối quan hệ hàm hồ . Tôi tôn trọng nó như một tác phẩm nghệ thuật mà Cảm Tình Viênphần nào là sự đáp ứng. Nhưng phim này là hiện thân của cách nhìn tiêu biểu Hollywood đối với các sắc dân không là da trắng,  không phải người Mỹ. Họ bị giản đơn hóa thành các vai dư thừaextras hoặc, khá hơn, như vai phụ diễn sidekicks trong các tự sự mà da trắng, nhất là vai nam chiếm thế trung tâm. Đặc biệt với dân Việt trong phim, điều này có nghĩa là họ xuất hiện để bị giết hại hay được cứu mạng - hoặc giúp vui thân xác. Như thế là rất có vấn đề nếu bạn là người Việt.
MJ: Ông có nói khi trước tác Cảm Tình Viên là ông nhất quyết không chìu theo công chúng Mỹ da trắng.
NTV: Nếu bạn được xem như một nhà văn thiểu số, điều cám dỗ bạn là viết cho đa số đọc. Đó là con đường dễ nhất để được xuất bản, và điều này sẽ làm méo lệch các câu chuyện. Tôi từ chối không làm việc ấy.
MJ: Có ai muốn dựng thành phim?
NTV: Theo tôi , kết cục tốt nhất là được nhóm Coppolas mua lại rồi đạo diễn loạn xị tiểu thuyết tôi nhưng cũng trả cho tôi thật nhiều tiền. Chuyện này mà xảy ra thì hay quá! Thực tế là chúng tôi đang điều đình một khả năng hợp tác với truyền hình. Làm phim thì khó xử lắm vì ta phải cắt bỏ phân nửa cuốn truyện.  
MJ: Tập truyện mới của ông khởi sự với “Black-Eyed Women/ Bọn đàn bà mắt đen” trong đó người phụ nữ viết mướn được hồn ma của người anh thăm viếng. Tại sao ông bắt đầu với truyện này?
NTV: Đó là một trong mấy truyện hay nhất. Nó cũng dẫn nhập cho đôi ba đề tài lớn: Một là cái ý về ma quỉ ám. Truyện này thực chất là một truyện ma quái, nhưng những ai từng trải qua các lịch sử chấn thương đều bị ám và lũ hồn ma tượng trưng điều này. Viết truyện này là một quá trình kinh khiếp. Phải mất 17 năm với khoảng 50 bản nháp!
MJ: Tại sao rối rắm đến thế?
NTV: Tôi là loại nhà văn lúc nào cũng muốn nói nhiều hơn, và tôi đã cố thử vùi ép mình vào khuôn khổ các truyện ngắn. Black-Eyed Women tiêu biểu cho sự vật lộn của tôi.
MJ: Từ khi nào ông biết là mình muốn sống bằng ngòi bút?
NTV: Bao giờ tôi cũng thấy như thế. Ở đại học, tôi đã nuôi hình ảnh vĩ đại buồn cưởi về mình trong quá trình thành văn sĩ, nhưng tôi không nghĩ mình có đủ kỷ luật hay kiên nhẫn - hoặc khả năng và tính khiêm tốn. Phải mất 20 năm để đạt được những điều này. Trước khi viết Cảm Tình Viên , tôi không bao giờ gọi mình là nhà văn bởi như vậy thì huênh hoang quá – nhà văn là một cách xưng tụng do người khác nói ra, như một danh hiệu.  Khi kết thúc Cảm Tình Viên tôi cảm thấy là mình đã trả xong món nợ.
MJ: Trong lời tri ân cho tập The Refugees, ông cho biết là con ông nay gần bằng tuổi cha khi ông trở thành người tị nạn.
NTV: Ba năm đầu đời quan sát đứa con – nó dễ thương và ngây thơ và các thứ - tôi tự hỏi thuở ấu thơ tôi có như thế chăng. Nó giúp tôi cảm thông chính mình nhiều hơn. Tôi hy vọng con tôi sẽ không phải nếm trải các thứ kinh nghiệm sẽ biến nó thành văn sĩ.


Bản dịch Việt văn do CHÂN PHƯƠNG 
clip_image004



Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Tuyên ngôn về Giá trị của chúng tôi (từ các giảng viên và nhân viên của Khoa Anh ngữ, Đại học Nam California, Hoa Kỳ)

Nguyễn Thanh Việt

Khoa Anh ngữ, Viện Đại học Southern California lên tiếng

Sau Bầu cử Tổng thống, những tổn thương từ lời nói và các hành động phân biệt chủng tộc đe dọa tinh thần hòa hợp và dân chủ, tinh thần tôn trọng sự đa dạng sắc tộc và đa văn hóa ở Mỹ đã khiến cho Khoa Anh ngữ, USC lên tiếng. Bài viết tuyệt hay này do chính Nhà văn Nguyễn Thanh Việt, người Mỹ gốc Việt đầu tiên đoạt giải Pulizer, giảng viên của Khoa biên soạn. Tôi đã chuyển sang Việt ngữ dưới đây với sự đồng ý của anh.

Nguyễn Thị Bích Hậu

 

Văn học là nơi tôn nghiêm. Không một cuốn sách nào lại khước từ người đọc. Văn học vĩ đại không thể tồn tại nếu nó dựa trên sự ghét bỏ, sợ hãi, chia rẽ, hàm oan, hoặc là thờ phượng bất công và quyền uy. Những nhà văn không thể viết nếu như họ không có khả năng đồng cảm hoặc là hình dung những gì mà tha nhân nhìn thấy, cảm nhận và suy nghĩ. Bằng đọc và viết, bằng nhận diện các nhân vật mà tính cách của họ không giống ta, chúng ta yêu quý ngôn từ và học ở đó cách yêu thương người khác.

Như là những người chuyên nghiệp, là các học giả và giảng viên Văn học, bằng các môn Tiếng Anh, Viết Sáng tạo và Nghiên cứu về tự sự, chúng tôi cam kết các nguyên tắc văn chương mà biểu hiện của nó vượt ra ngoài sách vở thông qua sự hòa hợp, đa dạng, hiếu khách, tôn trọng, đối thoại và yêu thương.

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016

Nguyễn Thanh Việt: Việc đoạt giải Pulitzer đã thay đổi giá trị tác phẩm của tôi và đời tôi.

Nguyễn Thanh Việt

Hiếu Tân dịch

Tác giả nhớ lại trạng thái như mơ trong đó ông viết cuốn tiểu thuyết được giải Pulitzer The Sympathizer, và những mong ước niềm vui riêng tư ông cảm thấy khi viết nó.

https://www.theguardian.com/books/2016/jul/26/viet-thanh-nguyen-winning-the-pulitzer-changed-the-value-of-my-book-and-myself

clip_image002

Nguyễn Thanh Việt. Photograph: Pulitzer Board /EPA

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

30 tháng 4

Nguyễn Thanh Việt

(cám ơn Hiền Lê về bản dịch)

Hôm nay là ngày mà nhiều người Việt trong cộng đồng hải ngoại gọi là “Tháng Tư Đen”. Với họ, đó là ngày tưởng niệm sự sụp đổ của Sài Gòn. Tôi hiểu cảm xúc đó. Lớn lên trong cộng đồng Việt Nam tại San Jose, tôi thấu hiểu những ký ức và nỗi đau không thể diễn tả thành lời này. Bản thân gia đình tôi cũng chịu cảnh chia cắt và phân ly, người thân và tài sản phải bỏ lại khi ra đi. Dù vậy, tôi chưa bao giờ toàn tâm chấp nhận một cảm xúc như vậy về sự mất mát và đau khổ, tôi chưa hề bao giờ mở miệng nói “ Tháng Tư Đen.” (Bởi ít ra để tả về tang tóc chúng ta nên gọi dùng “Tháng Tư Trắng,” dù cách gọi này sẽ chẳng được nhìn nhận ở một nước Mỹ của người da trắng). Tương tự như nhân vật trong the Sympathizer, tôi luôn nhìn vấn đề từ hai phía. Tôi biết, với một số người Việt, 30 tháng 4 không phải là ngày đau buồn mà là dịp để ăn mừng. Đối với vài người ngày đó là Sài Gòn Sụp Đổ, nhưng với vài người khác, đó lại là Ngày Giải Phóng.

30/4

30 Tháng 4 (cám ơn Hiền Lê về bản dịch)

Nguyễn Thanh Việt

Hôm nay là ngày mà nhiều người Việt trong cộng đồng hải ngoại gọi là “Tháng Tư Đen”. Với họ, đó là ngày tưởng niệm sự sụp đổ của Sài Gòn. Tôi hiểu cảm xúc đó. Lớn lên trong cộng đồng Việt Nam tại San Jose, tôi thấu hiểu những ký ức và nỗi đau không thể diễn tả thành lời này. Bản thân gia đình tôi cũng chịu cảnh chia cắt và phân ly, người thân và tài sản phải bỏ lại khi ra đi. Dù vậy, tôi chưa bao giờ toàn tâm chấp nhận một cảm xúc như vậy về sự mất mát và đau khổ, tôi chưa hề bao giờ mở miệng nói “ Tháng Tư Đen.” (Bởi ít ra để tả về tang tóc chúng ta nên gọi dùng “Tháng Tư Trắng,” dù cách gọi này sẽ chẳng được nhìn nhận ở một nước Mỹ của người da trắng). Tương tự như nhân vật trong the Sympathizer, tôi luôn nhìn vấn đề từ hai phía. Tôi biết, với một số người Việt, 30 tháng 4 không phải là ngày đau buồn mà là dịp để ăn mừng. Đối với vài người ngày đó là Sài Gòn Sụp Đổ, nhưng với vài người khác, đó lại là Ngày Giải Phóng.

Tuy nhiên, ghi dấu ngày hôm nay là điều quan trọng bởi nó là khoảnh khắc mang tính biểu tượng đánh dấu sự kiện nhiều trong số dân Việt Nam đã trở thành người tị nạn. Nhiều người nói tôi là dân nhập cư, và cuốn tiểu thuyết của tôi kể câu chuyện về người dân nhập cư.

Không hề. Tôi là người tị nạn và tiểu thuyết của tôi là câu chuyện về chiến tranh. Tôi đến Mỹ sau một cuộc chiến mà trong đó người Mỹ đã chiến đấu tại Vệt Nam, xung đột giữa người Việt Nam với nhau, sự can thiệp của cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, người Việt Nam đã đưa xung đột sang tận Lào và Campuchia. Cuộc chiến đó thực sự không hề kết thúc vào năm 1975, đối với nhiều người tại nhiều quốc và nền văn hoá khác nhau, nó vẫn chưa kết thúc.

Những người Mỹ gọi tôi là người nhập cư và gọi tiểu thuyết của tôi là câu chuyện về người nhập cư, đã phủ nhận một sự thật cơ bản của lịch sử Hoa Kỳ: nhiều người nhập cư vào đất nước này chính vì của các cuộc chiến mà Hoa Kỳ đã tham gia tại Philippines, Triều Tiên, Lào, Campuchia và Việt nam. Người nhập cư là câu chuyện về giấc mơ Mỹ, về nét độc đáo kiểu Mỹ.Còn khái niệm Người tị nạn lại là lời nhắc nhở về cơn ác mộng Mỹ, trong đó chính những người đã từng chịu đựng bom đạn, nay lại được trải nghiệm nước Mỹ.

Người Mỹ e ngại tị nạn, họ tìm cách biến hình ảnh người tị nạn thành hình ảnh người nhập cư, sang để thực hiện giấc mơ Mỹ. Người Việt ở Việt nam thì khó mà hiểu được những người anh em đang tị nạn của họ. Tôi có dịp ăn sáng tại Hà Nội với một người trước đây là đại sứ của Việt Nam, vị này cho rằng thuyền nhân là người đi tị nạn kinh tế, chứ không vì lý do chính trị.

Có lẽ chẳng có ai trong số dân Việt tị nạn đồng ý chút nào với quan điểm này, và nhóm tị nạn người Việt gốc Hoa thiểu số đã từng bị cưỡng bức, cướp bóc và tống tiền sẽ trả lời rằng lằn ranh phân biệt người tị nạn kinh tế và tị nạn chính trị là quá mỏng manh.

Một giáo viên dạy tiếng Việt cho tôi nói rằng các trại cải tạo là cần thiết để ngăn cản nguy cơ nỗi loạn thời hậu chiến. Có lẽ mầm nỗi loạn lúc đó đang hình thành, nhưng nếu chìa cánh tay ra vì hòa bình và hoà giải sẽ có tác dụng hàn gắn đất nước nhiều hơn.

Người Việt hải ngoại xem trại cải tạo là sự đạo đức giả tột cùng của cuộc cách mạng Việt Nam, là sự thất bại của chính những người Việt anh em.

Đây cũng chính là lý do tại sao lại có nhiều người Việt trở thành người tị nạn và tại sao nhiều người cảm thấy rất khó hàn gắn với một Việt Nam không hề thừa nhận tội ác chống lại chính người dân mình , dù đất nước này sẵn sàng nói về tội ác của người Nam Việt Nam, người Mỹ, người Hoa. Không gì khó khăn hơn là tự nhìn lại mình và nhận trách nhiệm.

Về điều này, cả người Việt Nam chiến thắng lẫn người Việt Nam thất bại đều có lỗi.

Tôi đã hơn một lần nghe những sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ nói rằng quá khứ đã qua, người Việt trong nước hiểu nỗi đau của người VIệt hải ngoại , chúng ta vì thế nên hoà giải và đi tiếp. Những em sinh viên này không hiểu điều mà người Việt hải ngoại cảm nhận: họ đã mất đất nước. Người chiến thắng có thể bỏ qua mọi chuyện dễ dàng hơn.

Chí ít thì các em sinh viên này cũng muốn bỏ qua mọi chuyện. Chí ít các em cũng chìa ra bàn tay hữu nghị, không giống với thế hệ lớn tuổi hơn các em.

Những bạn trẻ Mỹ gốc Việt cũng cần phải chìa bàn tay ra cho dù họ vẫn cảm nhận sâu sắc về lòng hiếu thảo và tuân lời cha mẹ. Các em cần phải hiểu rõ nỗi đau mà cha mẹ và ông bà đã trải qua.Nếu các em không hiểu thì liệu ai hiểu thay? Các em sống trong một xã hội mà phần lớn người Mỹ không biết gì về người Việt Nam, về người Mỹ gốc Việt, nơi mà người Mỹ không hề nhớ đến người Việt miền nam, những người mà vì họ, người Mỹ đã chiến đấu. Các bạn trẻ Mỹ gốc Việt cảm nhận được gánh nặng quá khứ của cha mẹ mà họ phải mang.

Có thể một ngày nào đó, các em sẽ dứt bỏ được gánh nặng này. Nhưng các em sẽ dễ dàng làm được điều đó hơn nếu Việt Nam chìa tay giúp bằng cách chính thức thừa nhận rằng mỗi bên trong cuộc chiến đều có lý do, mỗi bên đều có người yêu nước, và chúng ta không thể chia cắt quá khứ thành những anh hùng và những kẻ phản bội.

Với tôi, tôi vẫn là một người tị nạn.Ký ức bắt đầu khi tôi đến Mỹ năm bốn tuổi, và bị tách khỏi cha mẹ để đến sống với một gia đình da trắng. Đó là điều kiện để có thể rời khỏi trại tị nạn ở Fort Indiantown Gap, bang Pennsylvania

Trải nghiệm đó vẫn là một con dấu vô hình đóng giữa hai vai. Đời tôi, tôi đã cố gắng nhìn con dấu đó, định nghĩa nó, viết nó lại thành lời để giải thích với chính mình và chia sẻ với người khác.

Đó là nỗi đau, nhưng điều tôi học được là cố gắng không bị chìm vào nỗi đau này.Tôi cần thừa nhận nó để hiểu và cũng để thoát khỏi nó.Tôi cũng cần thừa nhận nỗi đau của người khác, có cái nhìn phổ quát về mọi điều. Đó là lý do tôi không thể gọi “ Tháng Tư Đen" chỉ câu chuyện của một bên. Riêng tôi, tôi lại thích câu chuyện của tất cả các bên.

Nguồn: https://www.facebook.com/vietnguyenauthor/posts/518038605069213
Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Trò chuyện với người đoạt giải Pulitzer nhà văn Nguyễn Thanh Việt (kỳ 2)

John Freeman trò chuyện với tác giả Cảm tình viên (The Sympathizer)

Hiếu Tân dịch, từ http://lithub.com/talking-to-pulitzer-prize-winning-writer-viet-thanh-nguyen/

JF: Trong cả cuốn Không có gì chết ông đã nhìn vào những vật tạo tác văn hóa – những vật tạo tác của trí tưởng tượng – xem xét, từ Apocalypse Now đến những tác phẩm nhỏ hơn ở Cambodia về Khmer Đỏ – để xem người ta tạo ra chiến tranh Việt Nam và chiến tranh nói chung như thế nào. Ông dùng thuật ngữ kí ức đúng đắn, mà tôi thấy rất khó tách ra khỏi sự công bằng, là thứ không dễ bóc tách ra khỏi trừng phạt. Làm thế nào chúng ta mở rộng những hình thức của hồi ức mà không nhượng bộ ý muốn trừng phạt?

NTV: Trừng phạt là đáp ứng có tính phản xạ đối với những gì chúng ta định nghĩa là tội ác, và một khi chúng ta đã có định nghĩa đó chúng ta có thể xác định tội ác đó đã được sinh ra và có những gốc rễ sâu xa như thế nào, một tội ác có nghĩa là một người da đen bị bắn trên đường phố hay một tên khủng bố bị giết bởi một người lính hay bị nhốt vào xà lim. Chúng ta có thể xử lí nó bởi vì chúng ta được đặt vào trong một cái khuôn lịch sử rất hạn chế về tội ác. Chúng ta có thể trừng phạt người đó, nhưng nó không đả động đến những gốc rễ sẽ dẫn đến việc cũng những sự kiện ấy tái diễn, dù nó là tội ác thật sự, hay bị qui là tội ác, hay chỉ là sự đánh trả. Đối với tôi lẽ công bằng rộng lớn hơn thế nhiều, và có một quang cảnh lịch sử rộng rãi hơn – đó là một viễn cảnh. Nếu chúng ta không hiểu cả hai vấn đề này, thì chúng ta không bao giờ có cách giải quyết công bằng. Đó là lí do phong trào Vấn đề Cuộc sống người Da đen nhìn những gì đang diễn ra hiện nay như sự lặp lại của cái vòng bạo lực đã diễn ra trước đó. Và đó là lí do Vấn đề Cuộc sống người Da đen bây giờ đang tranh cãi cho một quan điểm rộng lớn hơn nhiều về mối liên hệ giữa bất công và bạo lực Mỹ.

Thứ Năm, 21 tháng 4, 2016

Trò chuyện với người đoạt giải Pulitzer nhà văn Nguyễn Thanh Việt (kỳ 1)

John Freeman trò chuyện với tác giả Cảm tình viên (The Sympathizer)

Hiếu Tân dịch, từ http://lithub.com/talking-to-pulitzer-prize-winning-writer-viet-thanh-nguyen/

clip_image001

“Mọi cuộc chiến tranh đều diễn ra hai lần” Nguyễn Thanh Việt viết, “lần đầu trên chiến trường, lần sau trong trí nhớ.”

Sinh ở Việt Nam, cha mẹ trốn chạy sang Mỹ năm 1975, Nguyễn hiểu sâu sắc chân lí này.

Nguyễn sống ba năm đầu đời ở Mỹ trong một trại tị nạn ở Fort Indiantown Gap, Pennsylvania, sau đó sống trong một gia đình cưu mang ở Harrisburg, nơi ông bị tách khỏi cha mẹ và chị. “Không phải ai cũng chịu nhận chứa cả một gia đình,” ông nói, qua điện thoại từ Boston.

“Thời kỳ ấy tác động rất mạnh đến tôi, mãi sau này tôi mới nhận ra tác động ấy sâu xa như thế nào.”

Cuối cùng vào năm 1978 gia đình Nguyễn được đoàn tụ và định cư ở San Jose, nơi cha mẹ ông mở một trong những tiệm tạp phẩm đầu tiên của người Việt. Đó là một thời kì không dễ dàng, vì cái não trạng độc địa chống người Việt.

Là một học giả, Nguyễn đọc và nghiên cứu sâu theo cách của mình vào tâm điểm của cuộc xung đột lâu dài này – cuộc xung đột còn kéo dài vượt ra khỏi một cuộc chiến tranh. Và năm ngoái ông đã làm một cuộc công kích hai mặt vào việc mở rộng phạm vi chúng ta nói về Việt Nam.

Tháng Tư vừa rồi, Nguyễn cho ra cuốn tiểu thuyết hài kịch đen đầu tay của mình, Cảm tình viên, câu chuyện về một điệp viên cộng sản trốn khỏi Sài Gòn sang Mỹ, tại đấy anh ta sống cuộc sống hai mặt – vừa là một cư dân, vừa là điệp viên mật báo về một viên tướng định cư ở Los Angeles và là chủ một tiệm rượu.

Hôm nay cuốn sách đó đoạt giải Pulitzer về tác phẩm hư cấu.

Câu chuyện bắt đầu bằng những bước ngoặt ngẫu nhiên giết người và sau đó phi lí khi người kể chuyện ẩn danh cố gắng một cách vô ích tách khỏi quá khứ của anh ta. Kết cục anh ta phải tham gia vào một vụ tàn sát để che giấu vết tích của mình. Thậm chí anh ta còn đến Hollywood làm việc cho một phim khủng khiếp như Apocalypse Now.

Cách đây hai tuần Nguyễn còn xuất bản một tác phẩm nghiên cứu và phê bình có tầm ảnh hưởng lớn, Không có gì chết, khảo sát – một cách nghiêm túc, ít khôi hài – chiến tranh Việt Nam và chiến tranh nói chung – đã bị các nhà cầm quyền tạo ra, tổ chức và lạm dụng như thế nào.

Cả hai quyển gộp lại làm thành một góc nhìn khác về Việt Nam và những gì Mỹ đã làm ở đó, sâu sắc như Người vô hình của Ralph Ellison và Người yêu dấu của Toni Morrison nói về di hại của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chế độ nô lệ.

Không phải ngẫu nhiên đây là hai trong số những cuốn sách quan trọng nhất đối với Nguyễn ở Berkeley trong những năm 1980 và 1990, khi ông bắt đầu nhận ra rằng để nhớ lại cuộc chiến tranh một cách đúng đắn, chúng ta cần mở rộng cách tiếp cận nó.

Ở đây có sự cám dỗ đổ hết tội cho người Mỹ. Nhưng trong khi Cảm tình viên không ngần ngại lên án gắt gao những gì Mỹ đã làm ở Việt Nam, thì Không có gì chết cho rằng những phạm trù chê trách và nạn nhân không có tác dụng về lâu dài. Chính Nguyễn tin rằng để trong tương lai tránh được những cuộc xung đột trên qui mô rộng lớn như thế, chúng ta cần học cách trở nên quen thuộc với tính vô nhân đạo ở cả hai phía của cuộc xung đột.

Như vậy đúng lúc Nguyễn khảo sát để đặt những đau khổ của người Mỹ vào tâm điểm cuộc Chiến tranh Việt Nam, Nguyễn nhìn vào cách xã hội Việt Nam miễn cưỡng thừa nhận những cái chết của người Lào và Campuchia.

Tôi tiếp xúc được với Nguyễn, ông bây giờ là một giáo sư ở USC (Đại học Nam California), qua điện thoại ở Boston và ông mô tả con đường dài hai cuốn sách này phải trải qua để xuất bản gần như đồng thời, và ông hi vọng chúng có thể đạt được điều gì ngoài việc có được lượng độc giả lớn.

John Freeman: Cảm tình viên và Không có gì chết được xuất bản nhanh gối đầu nhau, tôi xin hỏi ông có thể cho biết tư tưởng của chúng liên hệ với điều gì không?

Nguyễn Thanh Việt: Cả hai cuốn này xuất phát từ một ý nghĩ của tôi muốn đề cập đến Việt Nam và rộng rãi hơn, đến vấn đề chiến tranh và kí ức nói chung. Ý tưởng trong Không có gì chết lớn lên chậm chạp – tôi làm việc về nó trong hơn một thập niên, nhưng bản thân cuốn sách tôi viết trong một năm. Tôi tung ra tất cả những bài báo mà tôi đã viết, và sau đó viết một cách tùy hứng sau khi đã hoàn thành Cảm tình viên. Một số ý tưởng trong đó đã được chắt lọc vào hư cấu, nhưng cả cuốn sách tự nó là một tác phẩm phi hư cấu. Tham vọng nằm sâu trong ý muốn của tôi – tôi có thể chưa ý thức điều này – là tôi thích viết phê bình như hư cấu và hư cấu như phê bình. Tôi nghĩ về W.G. Sebald – một trong những anh hùng của tôi – tôi không thể phân biệt trong tác phẩm của ông là hư cấu hay phi hư cấu, tất cả đều có cảm giác văn chương. Bởi vậy khi tôi viết hai cuốn sách này gần nhau, là tôi đã phối hợp tốt nhất phê bình vào hư cấu, và hư cấu vào phê bình, như vậy với Cảm tình viên tôi hi vọng xây dựng được nhân vật ‘người kể chuyện’ có thể nói một cách ấn tượng những sự việc hết sức gay cấn, nhưng là người không bị hạn hẹp như một học giả trong những niềm tin của mình. Trong Không có gì chết tôi không biết cách tìm ra một ý nghĩa khôi hài cho cuốn sách đó, nhưng tôi đã thật sự cố gắng để lấy mọi thứ tôi đã học được từ cuốn tiểu thuyết – nhịp độ kể chuyện chẳng hạn – thậm chí đưa những cảm giác thấp kém nhất không nói nên lời vào chính hình hài của sự vật. Một trong những điều tôi muốn cả hai cuốn sách làm được là lay động bạn đọc vả về cảm xúc và trí tuệ.

JF: Là một học giả, ông đã đọc rất nhiều không chỉ trong không gian văn học Á Mỹ, mà còn cả văn chương về chiến tranh Việt Nam, và trong Không có gì chết ông nhìn nhiều vào trong số những sách đó (từ Ngay sát nách của Larry Hienemann đến Tiểu thuyết vô đề của Dương Thu Hương) và xem xét chúng đã có tác động gì như những khía cạnh của kí ức tập thể. Thực chất ông đang biện luận rằng, nếu chúng ta muốn tạo nên một kí ức đúng đắn, chúng ta – với tư cách các nền văn hoá, các cá nhân – cần thừa nhận cả tính nhân đạo và tính vô nhân đạo của chúng ta, cũng như tính nhân đạo và tính vô nhân đạo của Người Khác. Kinh nghiệm ông có được khi xem xét một cách phê phán những cuốn sách này có làm thay đổi cách ông tiếp cận khi viết Cảm tình viên và cách ông phác họa các nhân vật không? Và có mở ra trước ông những sự việc mà trước đây ông không muốn làm?

NTV: Những cuốn sách ấy không phải là những tấm gương tiêu cực, chúng là tích cực theo nhiều cách khác nhau trong việc chúng đối diện với chiến tranh và chính trị như thế nào. Ngay sát nách của Larry Hienemann là cuốn tiểu thuyết tôi đọc khi tôi còn rất trẻ, 12 tuổi, nó là một trải nghiệm khủng khiếp, tôi chưa được trang bị về cảm xúc hoặc về văn chương để đối đầu với nó. Vì thế trong một thời gian dài tôi thật sự ghét cuốn sách đó. Nhưng tôi nghĩ Larry Hienemann thật ra đã làm đúng khi tập trung một cách không thương xót vào sự tàn bạo mà không biện luận rằng những sự việc ấy là sai. Còn nói về cuốn tiểu thuyết của tôi – tôi nhận ra nếu tôi có thể làm cho độc giả cảm thấy khó chịu giống như khi tôi đọc quyển sách kia, thì đó là điều tốt. Vâng, là một nhà phê bình, tôi phải đọc nhiều – trong nhiều thể loại – và khi đọc tất cả các tác phẩm thuộc mọi hạng tôi thấy đa số là tầm thường. Như vậy việc đọc cái mớ tạp nhạp này và thấy chúng nhàm chán thực sự có ích trong việc dạy tôi điều gì không nên làm.

JF: Ông vừa nhắc đến việc đọc Ngay sát nách năm 12 tuổi ở San Jose. Trong Không có gì chết ông chỉ nói thoáng qua về gia đình ông và sau đó trực tiếp hơn trong phần kết. Ông có thể kể với tôi về việc ông được nuôi dạy như thế nào không?

NTV: Điều quan trọng nhất: tôi là một người tị nạn ở Pennsylvania, bởi vậy điều mà tôi nhớ đến trước tiên là bị tách khỏi gia đình tôi, và được gửi – sau khi bị tách khỏi chị tôi, đó là điều rất đau đớn – đến sống với một gia đình da trắng. Để rời khỏi trại, chúng tôi phải li biệt nhau – không phải ai cũng chịu nhận chứa cả một gia đình – do đó 4 tuổi tôi đã phải sống với những người xa lạ. Chỉ kéo dài 14 tháng, nhưng thời kì này tác động mạnh đến tôi, mãi sau này tôi mới nhận ra nó sâu xa đến thế nào. Sau đó chúng tôi đến San Jose. Cha mẹ tôi là những chủ tiệm điển hình. Ở San Jose chúng tôi sống thật khó khăn bởi vì cha mẹ tôi làm việc suốt thời gian. Trải nghiệm này đối với tôi, bị xa lìa cha mẹ về mặt tình cảm, vì họ phải làm việc quá nhiều, và tôi bị thu hút một cách gián tiếp vào những kinh nghiệm chiến tranh và tị nạn. Tôi phải mất đến 10 hay 15 năm để đi đến chỗ sẵn sàng nghĩ về Chiến tranh Việt Nam và nó có ý nghĩa gì đối với tôi. Tôi chỉ muốn rời khỏi San Jose. Tôi không bao giờ muốn viết hồi kí của riêng mình, đời tôi, nó không thú vị đến thế, nếu tôi là một nhà văn giỏi hơn, thì tôi chỉ viết về cha mẹ tôi.

JF: Có cuốn sách nào ông đọc khi trưởng thành hay sớm hơn giúp ông nhìn thế giới một cách rộng lớn hơn, vượt ra khỏi San Jose không?

NTV: Khi còn đang học đại học, tôi nghiên cứu tiếng Anh và nghiên cứu sắc tộc – tiếng Anh, bởi vì tôi yêu văn học. Lý do tại sao tôi cần nghiên cứu sắc tộc là trong những năm 1980 và 1990 [người Mỹ] các ông gắn bó với đề tài này. Và tôi thấy mình không thể sống cuộc đời tách khỏi cái đó, vì tôi cũng cảm thấy nhất thiết phải làm một cái gì khác biệt. Nghiên cứu sắc tộc mở ra cho tôi thấy khả năng văn học có thể đóng vai trò quan trọng về phương diện chính trị và công bằng xã hội. Bởi vậy tôi thu hoạch nhiều từ những nghiên cứu về người gốc Mễ và văn học Mỹ gốc Phi và văn học Mỹ gốc Á. Một số người như Richard Wright, Ralph Ellison, và Maxine Hong Kingston có tầm quan trọng rất lớn đối với tôi. Thông qua việc trở về với những nghiên cứu tiếng Anh, tôi trở về với lí thuyết: chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa giải kiến tạo, tính dục đồng giới, lí thuyết, tất cả những cái này cùng đến một lúc và tạo thành nền tảng của Không có gì chết. Trong vòng một thập niên tôi cố gắng giảỉ quyết một số vấn đề cốt yếu: viết như một thiểu số có nghĩa là gì, bị chiến tranh đóng sẹo có nghĩa là gì? Trong Không có gì chết tôi cố gắng làm một số việc, nghĩ về kí ức, vâng, nhưng kí ức về chủ nghĩa tư bản, về sự bất công, và viết về tính chủ quan thiểu số như thế nào, và chúng tôi những tộc người thiểu số đã bị nhử vào những kinh nghiệm lí tưởng hoá như thế nào – nghĩ về cộng đồng của chúng tôi như được xác định bằng việc chúng tôi bị đem làm vật hi sinh. Và kết luận là: đó là những cái bẫy cho bất kì loại nhà văn nào của những cộng đồng thiểu số.

JF: Tôi nghĩ cái xuất sắc trong cuốn sách này là cách ông liên hệ những vấn đề về bản sắc – và cách những kí ức quanh vấn đề Việt Nam được tổ chức – với những hình thức bạo lực trong nước Mỹ, dựa hoàn toàn trên các nhà tư tưởng Mỹ gốc Phi, từ W.E.B Dubois đến Toni Morrison. Một câu trích từ Người yêu dấu mang đến cái tên cho cuốn sách. Tôi tự hỏi liệu ông có tìm thấy một độ mở nào cho những hình thức rộng lớn hơn của tư tưởng mà ông ủng hộ trong năm qua, khi tính dân tộc tăng lên rất mạnh trong những diễn ngôn hùng biện và đồng thời một cảnh tượng về sự hung bạo khủng khiếp của cảnh sát đang diễn ra chống lại dân Mỹ gốc Phi không.

NTV: Bất kì ai nhìn vào những quang cảnh hiện thời và phong trào hành động vì Vấn đề Cuộc sống người Da đen mà kinh ngạc trước bất kì sự liên hệ nào giữa các cuộc chiến tranh ở nước ngoài và xung đột trong nước, thì đó là ngây thơ, hoặc không có chút ý thức lịch sử nào cả. Và có lẽ phần lớn nước Mỹ là như thế. Tuy nhiên đây không phải là một ngẫu nhiên. Bộ phận quyền lực và ý hệ trong bất kì xã hội nào là công việc nó làm để phòng ngừa công dân hay cư dân của nó thiết lập những mối liên hệ như vậy. Ông biết không, những gốc rễ trong nước và quốc tế của bạo lực rất xa về quá khứ, và những gốc rễ của chế độ nô lệ và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc gắn kết sâu xa với chủ nghĩa dân tộc và chiến tranh. Tôi luôn ý thức rõ về điều này mỗi khi tôi khởi sự những Nghiên cứu Sắc tộc ở đại học. Tuy nhiên kết luận về điều này thiếu bối cảnh là cái bẫy cho rằng đau khổ của chúng ta là duy nhất. Và nó đúng cho bất kì dân tộc nào – nhiều người Việt Nam cảm thấy thế, nhiều người da đen cảm thấy thế, nhiều người da trắng cũng nghĩ thế. Chúng ta không thể nào thắng được những chia cắt giả tạo do điều này tạo ra – và những xung đột mà nó kích hoạt – cho đến khi chúng ta thừa nhận rằng những đau khổ của chúng ta là chung và được tạo ra trên rất nhiều khu vực. Đó là lí do tôi nhìn vào một số tác phẩm của các nhà văn chứng minh điều đó trong Không có gì chết: tác phẩm của Junot Diaz, Susan Sontag, và James Baldwin nói riêng. Đây là những nhà văn đã suy nghĩ về những vấn đề ấy.

(Còn tiếp)