Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Phú Phong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phạm Phú Phong. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 18 tháng 9, 2023

Văn chương Ý Nhi – một góc nhìn sâu thẳm*

Phạm Phú Phong

Tên đầy đủ là Hoàng Thị Ý Nhi. Sinh ngày 18/9/1944 tại Hội An, Quảng Nam, trong một gia đình danh tiếng (cháu gọi giáo sư Huỳnh Lý bằng ông nội chú, con gái của giáo sư Hoàng Châu Ký, vợ của giáo sư Nguyễn Lộc). Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1968. Về công tác ở Viện Văn học một thời gian, sau đó nhiều năm là biên tập viên Thơ của Nhà xuất bản Tác phẩm mới (nay là Nxb Hội Nhà văn). Hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh cùng gia đình.

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2023

Văn chương Phan Du – Ở hai phía một đỉnh đèo

Phạm Phú Phong

image

Chân dung nhà văn Phan Du

Phan Du, còn có các bút danh Phong Kiều, Lan Chi, Hữu Phương. Sinh ngày 1.5.1915, quê ở Phước Sơn, Quế Sơn, con Tiến sĩ Phan Quang (khoa Mậu Tuất, Thành Thái thứ X, 1898), em ruột Giáo sư Phan Khoang (1906-1971). Thuở nhỏ học ở Quy Nhơn, sau ra học ở Huế rồi làm cho một công ty tư nhân và từ 1942, bắt đầu sáng tác truyện ngắn in trên các báo. Sau 1954, sống và viết tại Sài Gòn. Sau ngày thống nhất đất nước 1975, về sống ở Đà Nẵng và mất ngày 11.3.1983.

Truyện ngắn Hai chậu lan tố tâm của Phan Du, được giải thưởng của Trung tâm Văn bút Philippines năm 1964 (gồm có 9 nước chủ yếu là ở khu vực Đông Nam Á tham gia; ông đạt giải Nhì, đồng hạng với Nhật Bản).

Tác phẩm chính: Cô gái xóm nghèo (tập truyện, Văn hữu Á châu, 1959), Uất hận lên men (tập truyện, Tân văn, 1964), Hai chậu lan tố tâm (tập truyện, Cảo thơm, 1965), Dinh Thầy (truyện, Khai trí, 1969), Hang động mới (tập truyện, Tân văn, 1970), Của báu nhà họ Vương (tập truyện, Khai trí, 1970), Những quả cà chua (tập truyện, Khai trí, 1971), Truyện con người (biên khảo, Cảo thơm, 1968), Mộng kinh sư (biên khảo, Cảo thơm, 1971), Quảng Nam qua các thời đại (biên khảo, quyển Thượng, Cổ học tùng thư, 1973).

Thứ Sáu, 16 tháng 6, 2023

Vu Gia với Tự Lực văn đoàn

Phạm Phú Phong

Tên thật là Phạm Ngọc Phúc, sinh 1952, tại Thanh Vân, Đại Cường, Đại Lộc, Quảng Nam. Sau trận lụt Giáp Thìn (1964), rời quê ra phố học. Lập nghiệp bằng nghề làm báo tại Sài Gòn (cho đến trước lúc nghỉ hưu là phóng viên, biên tập viên báo Người lao động của Liên đoàn lao động thành phố Hồ Chí Minh). Tiểu thuyết đầu tay Vùng đất dữ (1988). Năm 1990, vào học cao học Ngữ văn tại Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh (khi đã có 9 đầu sách được xuất bản). Năm 1992, tốt nghiệp cao học. Công trình nghiên cứu đầu tiên được công bố là Khái Hưng-nhà tiểu thuyết (1993, từ luận văn cao học Những nhận định bước đầu về tiểu thuyết Khái Hưng). Nay đã nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm chính: Tiểu thuyết: Vùng đất dữ (1988), Có những cuộc tình (1989), Khúc dân ca cho người dưới mộ (1989), Đời ca sĩ (1989), Giọt nước mắt cho tình yêu (1989), Mộng đẹp tàn phai (1990), Niềm say mê của con người (1990), Khi sống họ đã yêu (1990), Người mẹ cô đơn (1990), Trên đỉnh tình sầu (1991), Hoàng hôn tím (1995). Truyện danh nhân: Nho tướng Nguyễn Công Trứ (1996, 2001), Phan Châu Trinh – người khởi xướng dân quyền (2002, 2008). Thơ: Ta và Em (2001). Biên khảo: Địa chí Đại Lộc (đồng chủ biên với Huỳnh Ngọc Trảng, 1992, 2000), Khái Hưng – nhà tiểu thuyết (1993), Thạch Lam – thân thế và sự nghiệp (1994), Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa văn học (1995), Hoàng Đạo – nhà báo, nhà văn (1997), Hải Triều – nghệ thuật vị nhân sinh (1998, 2002, 2005), Làm thế nào để viết luận văn, luận án, biên khảo (2002, tái bản nhiều lần), Phan Khôi – tiếng Việt, báo chí và thơ mới (2003), Địa chí Đại Cường (chủ biên, 2005), Trần Tiêu – nhà văn độc đáo của Tự Lực văn đoàn (2006), Địa chí Đại Nghĩa (viết chung với Huỳnh Ngọc Trảng, 2007), Tú Mỡ – người gieo tiếng cười (2008), Thế Lữ – một khách tình si (2009), Khái Hưng – người đổi mới văn chương (2011), Xuân Diệu – một đời “Gửi hương cho gió” (đăng báo mạng vansudia.net). Phần tiểu sử này do chính tác giả Vu Gia viết, xin phép biên tập lại để phù hợp với nội dung cuốn sách.

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2023

Nguyễn Văn Hạnh, trong công cuộc đổi mới văn học

Phạm Phú Phong

Sinh 1.1.1931, tại Điện Tiến, Điện Bàn, Quảng Nam. Tập kết ra Bắc năm 1954. Tốt nghiệp phổ thông trung học, Nguyễn Văn Hạnh được cử sang học đại học ở Liên Xô. 1961, tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Lômônôxốp, Matxcơva, Liên Xô, rồi năm 1963, bảo vệ luận án Tiến sĩ Ngữ văn, cũng tại trường này. 1963-1975, Chủ nhiệm bộ môn Lý luận văn học, khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội. 1975-1977, Trưởng ban điều hành (Viện trưởng) Viện Đại học Huế. 1977-1981, Hiệu trưởng Đại học Sư phạm Huế. 1981-1983, Phó trưởng ban Văn hóa - Văn nghệ Trung ương. 1983-1987, Thứ trưởng Bộ Giáo dục. 1987-1990, Phó trưởng ban Văn hóa - Văn nghệ Trung ương. 1990-2002, Chuyên gia cao cấp Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn quốc gia. Hiện nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

Được phong hàm Giáo sư năm 1984.

Tác phẩm chính: Cơ sở lý luận văn học (4 tập, chủ trì và tham gia biên soạn, 1965-1971), Suy nghĩ về văn học (1972), Thơ Tố Hữu, tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí (1980, 1985), Nam Cao, một đời người một đời văn (1993), Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ (viết chung với Huỳnh Như Phương, 1995,1999), Văn học và văn hóa, vấn đề và suy nghĩ (2002), Chuyện văn, chuyện đời (2004), Lý luận - phê bình văn học: thực trạng và khuynh hướng (2009).

Thứ Năm, 8 tháng 6, 2023

Nam Trân với Huế, đẹp và thơ

Phạm Phú Phong

Tên thật là Nguyễn Học Sỹ, sinh ngày 15.2.1907, tại làng Phú Thứ thượng (nay là thôn Mỹ An), Đại Quang, Đại Lộc, Quảng Nam, trong một gia đình nhà nho. Thuở nhỏ học chữ Hán đến 12 tuổi, ra học Trường Quốc học Huế, rồi ra học Trường Trung học Bảo hộ ở Hà Nội. Đỗ Tú tài, ông về làm Tham tán Tòa Khâm sứ Huế, sau đó được bổ làm Tá lý, rồi Thị lang Bộ Lại (hàm tam phẩm). Sau 1945, Nam Trân tham gia kháng chiến, công tác ở Ủy ban Hành chính Kháng chiến huyện Đại Lộc, rồi tỉnh Quảng Nam, sau đó là Chánh văn phòng Ủy ban Hành chính Kháng chiến Liên khu Năm, Chủ tịch Liên đoàn Văn hóa kháng chiến Liên khu Năm (1949). 1954, tập kết ra Bắc, ông công tác tại Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn phòng Hội đồng Hòa bình thế giới tại Việt Nam, là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa 1). 1959, ông về công tác tại Viện Văn học, làm Trưởng ban Tư liệu - Thư viện, Phó trưởng ban Nghiên cứu văn học cổ - cận đại và giảng viên lớp Đại học Hán học đầu tiên của nền giáo dục dân chủ cộng hòa, phụ trách Tiểu ban dịch tập thơ chữ Hán Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh ra tiếng Việt trong lần in đầu (1960). Nam Trân mất ngày 21.12.1967 tại Hà Nội, vì căn bệnh ung thư, khi đang còn dạy lớp Hán học và dịch dở dang Kinh thiCổ văn Trung Quốc.

Tác phẩm chính: Huế, Đẹp và Thơ (tập thơ, 1939, 1997). Ngoài ra, còn dịch và chủ trì để dịch các tác phẩm: Nhật ký trong tù (1960), Người Xô viết chúng tôi (truyện ngắn của B.Polevoi, 2 tập, 1961, 1977), Thơ Đường (2 tập, 1962), Thơ và từ của Mao Trạch Đông (1965), Thơ Tống (1968)

Thứ Hai, 8 tháng 5, 2023

Nguyễn Văn Xuân – nhà văn, học giả

Phạm Phú Phong

 

Sinh năm 1921 tại Thanh Chiêm, Điện Phương, Điện Bàn, Quảng Nam. Thuở nhỏ học ở quê, sau ra Huế học. 16 tuổi bắt đầu tự học và cộng tác với các báo ở Hà Nội và Sài Gòn, trong đó có các tờ nổi tiếng thời bấy giờ như Tiểu thuyết thứ Bảy (Hà Nội), hoặc Văn Lang (Sài Gòn), nơi quy tụ nhiều cây bút tiếng tăm thời bấy giờ... Truyện ngắn đầu tay Bóng tối và ánh sáng từng được tạp chí Thế giới trao giải nhất (1938). Cách mạng tháng Tám 1945, ông hăng hái tham gia công tác ở quê hương, làm Ủy viên kịch nghệ Phân hội Văn nghệ Quảng Nam và Ủy viên kịch nghệ Chi hội Văn nghệ Liên khu Năm. Sau 1954, ở lại Quảng Nam, tham gia hoạt động đấu tranh thống nhất đất nước và bị bắt giam tại nhà lao Thừa Phủ, Huế (1955). Ra tù, ông về sinh sống tại Đà Nẵng, tiếp tục hoạt động văn hóa văn nghệ, dạy học, viết sách, nghiên cứu và sáng tác. Ông mất ngày 4.7.2007 tại Đà Nẵng.

Tác phẩm chính: Bão rừng (tiểu thuyết, 1957), Dịch cát (tập truyện ngắn, 1956-1966), Khi những lưu dân trở lại (biên khảo, 1967), Hương máu (tập truyện ngắn, 1969), Tuyển tập truyện ngắn tiền chiến (tập truyện ngắn, 1969), Phong trào Duy Tân (biên khảo, 1970), Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc (biên khảo, 1971), Kỳ nữ họ Tống (tiểu thuyết, 2002), Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân (2002), Nguyễn Văn Xuân toàn tập (7 tập, 2020).

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2023

Lưu Quang Vũ – Chim sâm cầm không chết*

Phạm Phú Phong

Tên thật cũng là bút danh, sinh ngày 17.4.1948 tại Gia Điền, Thiệu Cơ, Hạ Hòa, Phú Thọ. Quê gốc ở Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Con trai của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận và bà Vũ Thị Khánh, nguyên là nữ sinh Trường Trung học Đồng Khánh, Huế. 1949-1953, sống cùng với gia đình tại chiến khu Việt Bắc. 1954, về Hà Nội, tiếp tục đi học. 1965, xung phong gia nhập quân đội, thuộc quân chủng Phòng không không quân. 1966, những bài thơ đầu tay in trên các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Văn nghệ quân đội... 1970, xuất ngũ, làm nhiều nghề kiếm sống, và vẽ tranh, viết báo, làm thơ... Từ tháng 8.1979 cho đến khi mất, làm phóng viên tạp chí Sân khấu. Mất ngày 29.8.1988, cùng với vợ là nhà thơ Xuân Quỳnh và con trai út Lưu Quỳnh Thơ, trong một tai nạn giao thông.

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2023

Huỳnh Lý – nhà giáo của nhân dân*

Phạm Phú Phong

Tên thật cũng là bút danh, sinh ngày 5.6.1914 tại làng Kim Bồng, Hội An, Quảng Nam trong một gia đình có truyền thống Nho giáo và hiếu học. Thuở nhỏ ông học ở quê và Trường Trung học Quy Nhơn, sau học Trường Trung học Bảo hộ (Trường Bưởi, nay là Trường Chu Văn An) Hà Nội. 1936, đỗ Tú tài và bắt đầu nghề giáo ở Trường tư thục Khuyến học (Đà Nẵng). 1940 giáo viên Trường Viên minh (Hội An). Tham gia Cách mạng tháng Tám 1945 và kháng chiến chống Pháp, ông lần lượt đảm nhận các công việc: Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Kháng chiến Hội An, Ủy viên phụ trách Giáo dục Quảng Nam, rồi Ủy viên phụ trách Giáo dục Liên khu Năm, giáo viên Trường Trung học Phan Châu Trinh, rồi phụ trách Ban Tu thư của Nha giáo dục Liên khu Năm. 1954, tập kết ra Bắc, làm việc ở Ban Tu thư Bộ Giáo dục, là một trong những người chủ trì soạn thảo chương trình và sách giáo khoa môn Văn trong trường phổ thông. 1958, về giảng dạy bộ môn văn học Việt Nam hiện đại tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 1964-1967, những năm chiến tranh ác liệt, ông được cử làm Chủ nhiệm khoa Văn Đại học Sư phạm Vinh vừa mới thành lập, sau đó về lại Đại học Sư phạm Hà Nội. Sau 1975, ông được cử tăng viện cho khoa Ngữ văn, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và dạy ở đây cho đến lúc nghỉ hưu. Huỳnh Lý được Nhà nước phong hàm Giáo sư (1980), danh hiệu Nhà giáo nhân dân (1990). Ông qua đời ngày 21.5.1993 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm chính: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (soạn chung, 3 tập, 1957,1958), Mấy bài sử ca trong giai đoạn chống xâm lăng (1958), Chèo và tuồng (1958), Văn học Việt Nam 1945-1962 (1963), Văn Hồ chủ tịch (1974), Văn học Việt Nam 1945-1954 (chủ biên, 1980), Thơ văn Phan Châu Trinh (1983), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1920-1945 (1987), Hợp tuyển thơ văn thế kỷ XVII-đầu thế kỷ XX (chủ biên, 1990), Phan Châu Trinh thân thế và sự nghiệp (1992),Tuyển tập Huỳnh Lý (2002). Tác phẩm dịch: Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Procès de la colonisation francaise) của Nguyễn Ái Quốc (1961), Những người khốn khổ (Les Misérables) của V.Hugo (dịch chung, 1962), Ơgiêni Grăngđê (Eugénie Grandet) của Balzac (1964), Không gia đình (Sans famille) của Hector Malot (1966), Tu viện Pacmơ (La Chartreuse de Parme) của Stendhal (1968).

Thứ Bảy, 11 tháng 3, 2023

Tường Linh – Người của quê xưa*

Phạm Phú Phong

clip_image002Tên thật là Nguyễn Linh, còn có các bút danh Việt Thủy, Trúc Xuyên, Người Sông Thu, Linh Nguyên, sinh ngày 12.12.1931 tại Trung Hạ, Trung Phước, Quế Sơn (nay là xã Quế Trung, huyện Nông Sơn), Quảng Nam.

Từ thuở nhỏ đến tuổi 18, Tường Linh tập làm thơ Đường luật và các thể truyền thống như phú, đối, văn tế... theo ý muốn và sự đào luyện của ông nội. Chị Điện Hòa là bài thơ đầu tay viết về trường hợp hy sinh anh dũng của một người phụ nữ Điện Hòa (ngày 4.11.1950) trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Bắt đầu xa quê từ ngày 1.11.1954, ra Huế, Quảng Trị, rồi vào Nam (ngày 1.3.1956), định cư tại Sài Gòn, làm thơ, viết báo và làm nhiều nghề kiếm sống. Đã qua đời ngày 5.2.2021 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Tác phẩm: Thơ tập làm thuở nhỏ (in thạch bản, Tam Kỳ 1950), Mùa đi (in thạch bản, Bồng Sơn, 1953), Mùa hoa cải (Huế, 1955), Mây cố quận (Nxb Tao đàn, Sài Gòn, 1962), Nghìn khuya (Tao đàn, Sài Gòn, 1965), Thu ơi từ đó (Tao đàn, Sài Gòn, 1972), Giọt cổ cầm (Nxb Đà Nẵng 1998), Về hỏi lại (Đà Nẵng 2001), Thơ Tường Linh tuyển tập (Nxb Văn học 2011). In chung: Chung dòng (chung với Phạm Doãn Hứa, Nxb Trẻ 1998), Hòn Kẽm-Đá Dừng (chung với Thu Bồn, Phạm Doãn Hứa, Phan Đắc Lữ, Nxb Trẻ 2001), Dấu sóng (chung với Hướng Dương, Nxb Văn nghệ, 2002).

Thứ Bảy, 4 tháng 2, 2023

Nguyên Ngọc – Một góc nhìn (*)

Phạm Phú Phong

Tên thật là Nguyễn Văn Báu, các bút danh khác: Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Kim. Sinh ngày 5.9.1932 tại Đà Nẵng, trong một gia đình công chức ngành bưu điện. Quê gốc xã Thăng Uyên, Thăng Bình, Quảng Nam. Thuở nhỏ học ở Hội An, Đà Nẵng, rồi Huế. 1950, gia nhập quân đội, tốt nghiệp Trường Lục quân Liên khu Năm, ở đơn vị chiến đấu một thời gian, rồi làm phóng viên báo Quân đội nhân dân Liên khu Năm. 1954, tập kết ra Bắc, tham gia trại sáng tác viết về gương các anh hùng. 1957, tạp chí Văn nghệ quân đội thành lập, ông là một trong những thành viên biên tập đầu tiên, rồi làm Thư ký tòa soạn. 1962, vào chiến trường miền Nam, làm Trưởng ban văn học thuộc Cục chính trị quân khu Năm, Chủ tịch Hội Văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ, phụ trách tờ báo Văn nghệ quân giải phóng khu Năm, sáng tác với bút danh là Nguyễn Trung Thành. Sau 1975, về lại tạp chí Văn nghệ quân đội, được bầu bổ sung vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 2, làm Phó tổng thư ký, kiêm Bí thư Đảng đoàn. Sau đó, ông liên tiếp được bầu vào Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa 3 và khóa 4, từng làm Tổng biên tập báo Văn nghệ mở đầu thời đổi mới, và từng là Đại biểu Quốc hội. Sau khi nghỉ hưu, ông về làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Trường Đại học Phan Châu Trinh.

Nguyên Ngọc được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, năm 2001.

Tác phẩm chính: Đất nước đứng lên (tiểu thuyết, 1955), Mạch nước ngầm (truyện vừa, 1959), Rẻo cao (truyện ngắn, 1962), Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc (truyện và ký, 1969), Rừng xà nu (truyện và ký, 1969), Đất Quảng (tiểu thuyết, 2 tập, 1971, 1974), Trận đánh bắt đầu từ hôm nay (truyện và ký, 1975), Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ (dịch của Xvetlana Alechxievich, 1987), Có một đường mòn trên biển Đông (ký, 1994), Cát cháy (truyện và ký, 1996), Tháng Ninh Nông (truyện và ký, 1999), Văn học là gì? (dịch cua J.P.Sartre, 1999), Nghệ thuật tiểu thuyết (dịch của Milan Kundera, 1999), Nghĩ dọc đường (tản văn, 2003), Tản mạn nhớ và quên (tản văn, 2005), Bằng đôi chân trần (ký,2006), Các bạn tôi ở trên ấy (bút ký, 2013).

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2022

Mùa xuân, đọc văn xuôi Ý Nhi

Phạm Phú Phong

Ý Nhi là nhà thơ nổi tiếng, xuất hiện vào những năm cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ, là tác giả của chín tập thơ (trong đó có hai tập in chung), đã từng được Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ Người đàn bà ngồi đan (1985) và giải thưởng Cikada của Thụy Điển (2015). Thơ chị cũng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như Pháp, Anh, Nga, Thụy Điển, Trung Quốc. Gần đây, chị còn xuất hiện với tư cách là người viết truyện ngắn và chân dung văn học, là tác giả của hai tập chân dung văn học đặc sắc, một tập truyện ngắn và nhiều truyện ngắn khác in rải rác trên báo chí.