Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Mai Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mai Thảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 27 tháng 9, 2018

Văn học miền Nam 54-75 (505): Lê Xuyên (kỳ 4)

Chú Tư Cầu

Lời tựa

Hiện tượng của truyện dài viết từng đoạn, đăng từng kỳ nơi trang trong các nhật báo, như chúng ta đang thấy lan rộnq thành một lan rộng bao trùm toàn diện, đẩy hầu hết những cây bút sáng tác chuyên nghiệp hiện nay tới kiếm tìm một văn thể mới, áp dụng một bút pháp mới. Kỹ thuật được mệnh danh là kỹ thuật viết tiểu thuyết cho báo hàng ngày, ở mỗi người viết, phơi bày thành một phong cách biểu hiện khác nhau, nhưng mục đích muốn tới và dụng tâm cuối cùng thì giản đơn và sáng rõ là một.

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 13): Mai Thảo – Lần thăm cuối cùng

Mai Thảo

Đã đúng một năm, kể từ ngày Thanh Nam không còn, tôi chưa một lần trở lại Seattle, nơi Thanh Nam đã sống gần trọn mười năm đất khách với Túy Hồng và các con, cũng là thành phố Tây Bắc tôi đã sống hơn hai mùa mưa, từ 1979 đến 1981, và cùng làm việc hàng ngày với Huy Quang, Nguyễn văn Giang và Thanh Nam ở tờ Đất Mới.

Không trở lại. Chẳng phải vì Thanh Nam mất, mọi liên hệ tình cảm gắn bó bấy lâu tôi có với Tây Bắc, vì cái chết của bạn ở đó, đã nhất loạt rời đứt. Cũng chẳng phải vì tôi chẳng còn một bằng hữu, một thân tình nào khác ở Tây Bắc ngoài Thanh Nam. Trái lại. Từ và qua Thanh Nam, Tây Bắc đã đem lại cho tôi rất nhiều bằng hữu mới.

Những người bạn này vẫn hàng tuần điện thoại về Santa Ana nói chuyện với tôi, cũng là những người đã lo toan mọi điều cho gia đình Thanh Nam lúc bầu đoàn thê tử nhà văn mới từ tiểu bang New Jersey qua, thay thế cho anh em văn nghệ ở xa, săn sóc Thanh Nam suốt thời gian mấy năm nằm bệnh, và cũng những bằng hữu chung ấy của Thanh Nam và tôi, đã là những người cùng Túy Hồng đưa linh cửu Thanh Nam đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 12): Mai Thảo

Image result for Mai ThảoTên thật Nguyễn Đăng Quý. Sinh ngày mùng Tám tháng 6 năm 1927 tại Quần Phương Hạ, Hải Hậu, Nam Định.

Cùng gia đình di cư vào Nam năm 1954.

1956: Chủ nhiệm tạp chí Sáng Tạo

1963: Chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ

1982: Chủ bút tạp chí Văn

1982 đến nay: Chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn (tục bản tại CA.)

Hiện tại đang định cư tại quận Cam, California, Hoa Kỳ.

Tác phẩm:

Trên dưới 50 tác phẩm thuộc mọ thể loại: truyện dài, tập truyện ngắn, tuỳ bút, nhận định, thơ… Trong đó có những tác phẩm quen thuộc như: Đêm giã từ Hà Nội, Tháng Giêng cỏ non, Bầy thỏ ngày sinh nhật, Sống chỉ một lần, Để tưởng nhớ mùi hương, Ôm đàn đến giữa đời, … Và một tập thơ được nhiều người biết đến: Ta thấy hình ta những miếu đền.

Bổ sung của Văn Việt: Mai Thảo làm Chủ biên tạp chí Văn đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Nhà văn Mai Thảo mất tại Santa Ana, California (Hoa Kỳ) ngày 10 tháng 1 năm 1998.

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2017

Mặc Đỗ quy ẩn

Mai Thảo

Image result for "Mai Thảo" vanviet.info

Mỗi buổi sáng khi sương mù còn là một biển hơi trắng xoá chưa tan biến trên khắp vùng Missouri City, khi sân chơi mênh mông của ngôi trường tiểu học địa phương đối diện với cái địa chỉ văn chương Blue Ridge 1802 còn hoàn toàn vắng lặng, khi cách đó 5 dặm đường đồng, nhà thơ trẻ Hoàng Ngọc Ẩn, người hàng xóm Việt Nam còn ngủ vùi sau một ngày làm việc ở các tiệm sách nhạc mới mở dưới phố, nhà văn Mặc Đỗ đã một mình thức dậy.

clip_image002

Bìa tạp chí Văn số hai, tháng 8, 1982

[nguồn: Da Màu http://damau.org/archives/32091]

Thức giấc sớm giữa mỗi tinh sương thôn dã Texas còn trong vắt, đầu cành chưa chim hót, gờ mái chưa nắng dấy, lúc mà chuyển động của Texas duy nhất ở nơi những cỗ máy khoan dầu to nặng không tiếng in hình trên một nền trời cực Nam còn thoi thóp những vì sao cuối cùng chưa rụng, ở người nhà văn chủ lực của nhóm Quan Điểm là một thức giấc đã cố định, đã một đời. Từ xa thẳm thanh niên. Từ thiếu thời đại học. Nơi người sinh viên Hà Nội tiền chiến và tiền khởi nghĩa trước mỗi giấc ngủ đều hẹn giờ với cây kim báo thức, tắm nước lạnh những buổi sáng mùa đông và tập thể dục trước khung cửa phòng ngủ ngó xuống 36 phố phường chưa một tiếng xe lăn. Thức giấc củng Hồ Tây mầu cốm đậm chưa ngời ngời một triệu con trăng ánh sáng. Cùng Quan Chưởng đèn khuya còn thắp, chuyến xe điện Yên Phụ đầu ngày lát nữa mới Kim Liên.

Thức giấc sớm ấy ở mãi với người sinh viên sau đó giã từ những mộng vàng niên thiếu, theo cửa lớn vào đại dương đời và trở thành nhà văn, một nhà văn như người ta thấy ở một giai tầng trí thức tây phương, mà văn chương là một tra vấn không ngừng, đời sống là một ám ảnh siêu hình, và ngôn ngữ một lên đường dẫn vào hành động. Thức sớm. Bởi tâm thể thao thức. Bởi thời thế sóng đập. Bởi nhân gian không ngủ, đứng ngồi không yên. Chừng như trong tâm thức đã trưởng thành, mỗi khởi đầu ngày vẫn trước sau là một hé cánh rất ban mai của tiếng chuông đồng hồ tuổi nhỏ. Đứa trẻ nghe chuông cho khỏi trễ giờ vào lớp. Người viết chữ ký thác những hoài bão trí thức của mình lên mặt giấy sáng sáng thức cùng chuông để gặp sớm, để khỏi lỡ hẹn với hiện tại và thế kỷ của mình.

Ngồi lên và ra khỏi chiếc giường mỗi tinh sương còn nhờ nhờ bóng đất bóng trời, vẫn ở với Mặc Đỗ đêm 26 tháng tư 1975 từ căn phố lầu Trần Hưng Đạo cùng gia đình âm thầm rời khỏi Sài Gòn sắp mất. Những ngày ở đảo, ở trại, buổi sớm ra bãi, tới ngồi trên một mỏm đá, chống tay dưới cằm, nghe tiếng sóng đổ hồi không nghỉ, nhìn ngắm những biến thiên những thay đổi một đời. Thức giấc sớm ấy vẫn cứ như một kỷ luật sắt son không phá vỡ với Mặc Đỗ lữ thứ, từ bảy năm Texas, trong cùng đáy tách thoát mất tích cánh đồng Missouri City hoạ hoằn mới có một Nghiêm Xuân Hồng, một Võ Phiến, một Mai Thảo từ nghìn dặm tới thăm. Thức giấc sớm ấy bây giờ chừng như còn chặt chẽ, còn trọn vẹn hơn nữa. Với một Mặc Đỗ đã 65 tuổi. Với một Mặc Đỗ đã nhìn thấy rất gần số tháng năm còn lại của mình. Với một Mặc Đỗ từ giải phẫu mắt khiến cái nhìn yếu kém, từ giải phẫu óc, đã lành, nhưng mỗi đổi mùa còn làm cho đau. Với người nhà văn đã lựa chọn từ mười năm một thế sống tịch mịch, cách khuất hơn hết mọi đời sống nhà văn Việt Nam lưu vong, từ chối mọi tiếp xúc tạp nhạp với đời, đi hẳn vào một thế giới bên trong, tự vây hãm trong một lưu đầy im lặng.

Hình ảnh đời sống Mặc Đỗ bây giờ là thế. Một mặt phẳng không tiếng. Một đáy giếng thăm thẳm. Một cánh cửa đóng kín. Một quy ẩn sớm chiều. Một tịnh thất hoàn toàn. Ở cái địa chỉ văn chương Blue Ridge, người chủ nhân khoanh tay nhìn ra thế giới mù sương, đã rút lên cây cầu treo, từ lâu không xuống nữa. Những chuyến xe đò, những hãng máy bay từ mười năm chưa lấy được một đồng nào của Mặc Đỗ quyết liệt từ chối mọi chuyển dịch. Mỹ sống đã vô chừng riêng tây hang động. Nhà văn Việt Nam còn trăm lần ốc đảo, nghìn lần hang động hơn. Bóng dáng một Mặc Đỗ ở quê nhà, mỗi buổi chiều Sài Gòn tắm nắng, nhanh nhẹn băng qua con đường Trần Hưng Đạo, đứng đợi xe trước cửa chợ Bến Thành, chiều nào cũng ngồi với bạn hữu ở nhà hàng Hải Biên, đêm nào cũng là một đêm huy hoàng Chợ Lớn, cái bóng dáng cùng khắp ấy, không ai còn nhìn thấy nữa. Bằng hữu khắp nơi như láng giềng lân cận. Tấm rèm đã buông. Một im lặng đầy. Và lớn. Luỹ hoa đã dựng. Bên ngoài luỹ hoa, trong này luỹ hoa. Ngôi nhà sáng láng, ngưng đọng, với những bức thuỷ mạc Trung Hoa trên những vì tường, cỗ máy điện thoại không reo, những mặt ghế phòng khách bỏ trống, những tờ lịch rớt xuống, rớt xuống theo nhịp đi lặng lặng của tháng ngày, hoàng hôn Texas đỏ thẫm thế nào không hay, những ngã tư đời ồn động thế nào chẳng thiết, đó là Mặc Đỗ, Mặc Đỗ cực nam, Mặc Đỗ Texas, Mẵc Đỗ đi dép mỏng mặc quần áo cũ, mỗi buổi sáng ra căn vườn sau nhà ngồi thật lâu với một đài hoa, và trở vào thức một mình với những cuốn sách.

Căn vườn sau, ba phía tường vây bọc. Mảnh đất riêng ở dưới. Mảnh trời riêng trên đầu. Những cuốn sách, thức giấc đã nhìn thấy, im lìm trên giá. Những cuốn sách mà Victor Hugo gọi là những bạn đời chung thuỷ nhưng buồn bã. Những cuốn sách mà Hồ Dzếnh cảm thấy "hồn đau thổn thức buồn". Những cuốn sách của người, cái thế giới tư tưởng chữ nghĩa cổ kim kỳ ảo. Những cuốn sách của bạn, đánh dấu một thời kỳ văn học ở đó có chí lớn, có hoài bão, có nhập cuộc, có lên đường. Những cuốn sách của chính mình, đêm bay lên khỏi vùng trời đất nước đã mang theo. Cuốn Bốn Mươi của tuổi không ngờ vực. Cuốn Siu Cô Nương của vị trí giai tầng. Khu vườn sau. Những cuốn sách người. Những cuốn sách ta. Vười im lặng nắng. Sách không tiếng động. Đó là cái thế giới thu nhỏ và niêm phong hiện giờ của Mặc Đỗ.

Khoảng hai năm trước đây, thời gian đánh dấu cho sự im lặng kéo dài, đầy và lớn nhất của Mặc Đỗ, cũng là thời gian sau này những tri kỷ và thâm giao được biết là tuyệt vọng và bi thảm nhất của Mặc Đỗ trong nhận thức riêng tây về thân thế cuối chiều, cũng như trong nhận thức tổng thể về xã hội về thời đại của người trí thức lưu đầy ở nơi ông, và buồn bực vô chừng trước bệnh trạng, trước cái điều mà ông gọi là "sự vô dụng của bản thân" đã tới, Mặc Đỗ có như rớt xuống một đáy thẳm. Đi giữa một mùa đông. Ở trong một hầm đá tối. Đời sống hết mọi lý do của nó. Tận tuyệt. Những nguyên tắc để làm gì. Những kỷ luật vô ích. Tâm trạng gần như một thù nghịch, một ngờ vực với hết thảy, thời gian này là của một Mặc Đỗ khắc khổ đến độ khô cứng, thành kiến tới cố chấp, lúc diễu cợt mỉa mai, hồi lạnh lùng cay đắng, cặp mắt khắc nghiệt phán xét tàn nhẫn đời sống, mọi thoả thuận khoan dung với đời, với người không còn nữa, khởi đi từ một nhìn ngắm u uất hờn giận với chính bản thân mình. Đó là thời kỳ Mặc Đỗ cự tuyệt với hết thảy, không còn viết được một giòng chữ nào và đã nghĩ thôi hẳn với văn chương. Trả lời thư một bạn thân hỏi tại sao không còn viết nữa, ông trả lời khô khan vắn tắt: "Tại vì tôi không còn nhìn thấy một giá trị nào". Những bằng hữu ở xa tới thăm, ông ra đầu thềm tiễn chân nói có thể đây là lần gặp cuối. Bạn tới thăm không muốn ở lâu trong ngôi nhà buồn bã. Người tiếp bạn tới thăm chừng như cũng không thiết tha giữ bạn ở lại với mình. Thời gian này, ở trong cánh đồng Missouri City là những buổi chiều đi "gọi chim vườn bay hết", là trời hết một phương, trái đất cùng đường, những con ngựa gầy Texas đứng hình phạt trên những đồng cỏ khô cháy, những cỗ máy khoan dầu Texas nhẫn nhục quay những vòng quay chịu tội, không một bông hoa nở trong căn vườn sau, những cuốn sách trên giá và những tranh thuỷ mạc Trung Hoa trên tường vô nghĩa.

Vượt qua sa mạc Arizona từ phía Tây, rời khỏi Oklahoma City và Dallas gió cát chói chang từ phía Bắc, những bạn hữu từ nghìn dặm và bằng đường bộ tới thăm Mặc Đỗ đi vào Texas và Houston hồi gần đây, vẫn gặp lại một Texas và một Houston như cũ. Những trang trại típ tắp. Những đồng cỏ mệnh mông. Những cái máng khô, những con ngựa gầy, những hàng dậu đổ. Những ngôi nhà chọc trời của những thị trấn nắng lửa in hình trên một nền trời cực Nam loà nắng. Những xóm nghèo. Những người da đen. Những ghe thuyền đánh cá trong những vùng biển. Bầy thuỷ thủ say rượu hò hét. Khói nhà máy và mùi dầu lửa mùi biển mặn trộn lẫn trong không khí hừng hực choáng váng dồn dập hơi thở.

Và tiến vào Missouri City, một cương thổ mới, khuất cách của văn chương Việt Nam lưu vong, vẫn những con đường cũ, một địa chỉ cũ, một ngôi nhà cũ, một Blue Ridge 15803 gặp lại. Những con đường cỏ hoang lan tràn, vắng vẻ, gợi nhớ những con đường đồng miền Trung. Một địa chỉ yên tĩnh. Một ngôi nhà đóng kín. Tất cả hầu như vẫn thế, vẫn vậy, không một đổi thay nhỏ so với lần trước. Tất cả vẫn như riêng một trời ta một biển ta, rất cách biệt, rất riêng tây với mọi biển trời người. Rồi tiếng chân người từ bên trong đi ra. Rồi Mặc Đỗ mở cửa đón bạn xa vào, thì cũng vẫn là Mặc Đỗ ấy. Tịnh thất quy ẩn. Bên ngoài đời sống, trong này luỹ hoa. Cả tháng không ra khỏi nhà, hàng xóm láng giềng sáng chiều không thấy mặt.

Nhưng Mặc Đỗ gần đây, Mặc Đỗ của lần gặp mới, trong cái phong thái đi ra, trong ánh mắt và nụ cười đón bạn, đã có một vẻ gì đổi khác. Gần như sự trở về của một Mặc Đỗ xưa. Gần như sự trở lại với đời. Gần như một Mặc Đỗ mới. Người chừng như trẻ hơn, mặc dầu mái tóc vẫn thêm nhiều sợi bạc. Người, chừng như an nhiên hơn, nhẹ nhõm hơn, vì đã bắt gặp được một thoả thuận nào đó, một thoả thuận tâm hồn và trí thức với bản thân, với cuộc đời trước đây không tìm thấy. Ngôi nhà cũng từ người, tạo ra một cảm giác mới. Như có nhiều trời xanh hơn lần gặp trước chảy vào thiên thanh những cửa sổ phòng. Như những bức tranh thuỷ mạc Trung Hoa trên những vì tường là những cánh cửa phơi phới và sinh động khác nữa của thiên nhiên. Những cuốn sách trên giá lại đàm thoại hào hứng với người, ngoài căn vườn sau nhiều bông hồng xôn xao sắp nở. Bởi vì người ta đã ra vườn, làm cho hoa nở. Mở lại những cuốn sách. Làm cho sách nói. Ra khỏi một hầm đá tối thẳm, khiến mặt đất lại sáng loà rực rỡ ở chung quanh.

Một buổi trưa thư thái trôi qua. Một buổi chiều tàn nắng trong vườn. Những bước dạo chơi trên cỏ. Uống rượu trước lò sưởi. Bình trà ngoài góc hiên. Ánh đèn sáng dịu dàng. Khăn trải bàn tinh khiết. Câu chuyện vể bằng hữu, về quê nhà kéo dài tới thật khuya. Thôi ông đi ngủ, mai phải lên đường sớm. Tới Missouri City lần này sao ít thì giờ vậy. Bao giờ trở lại. Món chả cá uống với đế Nam Mỹ không kịp thôi để lần sau. Bảo với X. sắp dựng diễn đàn chung tôi sẽ có bài. Nhất định. Tươi tắn, ấm áp, rộng rãi. Đó Mặc Đỗ gặp lại. Trên con đường trở lại bàn viết, đó Mặc Đỗ mùa hè năm nay.

Và người bạn xưa vừa tới thăm Mặc Đỗ vẫn không trả lời được cho câu hỏi hắn từ biệt bạn mang theo lên đường, ra khỏi Texas. Điều gì, động lực nào đem lại cho con người nhà văn nhóm Quan Điểm xưa cái phong thái tươi tắn, điềm tĩnh của lần gặp này không thấy ở lần gặp trước. Sự thoả thuận mới, sự bình yên mới ấy? Một giác ngộ tâm linh, một phóng thoát tinh thần? Cái bóng mát đằm thắm của đạo Phật lúc cuối đời thanh thản? Một kết quả trong suốt của quy ẩn? Một hiệu quả bất ngờ của tịnh thất? Một cửa ngõ nhập thiền? Cái hiệu năng cuối cùng của văn chương? Có thể. Không rõ. Không biết.

Cái hình ảnh sau cùng còn giữ lại của người bạn sau lần gặp mới là một bông hồng. Một bông hồng đỏ cắm trong một lọ thuỷ tinh nhỏ. Trước ngày đón bạn tới, Mặc Đỗ đã ra vườn hái một bông hồng, đem bông hoa đặt vào trong phòng ngủ bạn. Bông hoa còn tươi thắm lúc người bạn từ biệt ra đi. Mọi câu hỏi có thể được trả lời xong xuôi. Chỉ bằng bông hồng đó.

MAI THẢO

[Chân dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam.

Nxb Văn Khoa 1985]

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

TỬ HÌNH CHO MÀU XANH

tùy bút

Mai Thảo

clip_image001

Tôi còn nhớ năm ngoái, cũng vào tháng này, trong một buổi tiếp tân tại tư thất một người bạn làm phóng viên cho nhiều hãng thông tấn quốc tế, một nữ phóng viên Gia Nã Đại đã tươi cười trả lời, lập tức, khi tôi hỏi cô về những vẻ đẹp hàng đầu đáng ghi nhớ nhất về thủ đô và thành phố chúng ta: “Thì đó, những cái đẹp tươi sáng của một thành phố nhiệt đới, gần biển. Cái đẹp rực rỡ của những mái ngói đỏ chói, rười rượi của những bức tường nắng vàng. Cái nắng trên thành phố này vạm vỡ và nhẩy múa. Bởi vậy mà Saigon không phải là một thị trấn buồn rầu.” Rồi im lặng một giây và nghìn lần yêu thích hơn: “Đẹp nhất là mầu xanh. Phải, đẹp nhất là cái cõi lá xanh, bóng xanh đậm, nhạt, bát ngát của Sàigòn. Đâu đâu ở đây, tôi cũng gặp những con đường mát lạnh dưới lá, những thảm cỏ ngon mắt, những hàng cây cao vút, những công viên um tùm. Ít có một kinh thành thế giới bây giờ còn giữ gìn được trên nó nhiều mầu xanh và nhiều cây cối như vậy. Anh không thấy sao?”

Thấy. Nhưng từ một mùa mưa năm ngoái đến mùa mưa năm nay, những vẻ đẹp của Saigon, mà người nữ phóng viên ngoại quốc khả ái kia đã đáp tàu về nước và đã mang theo, những vẻ đẹp ấy không còn nguyên vẹn nữa. Thành phố chúng ta vẫn đẹp. Cái nắng buổi trưa ở đây vẫn rực rỡ, cái nắng buổi sớm vẫn óng ánh, cái nắng buổi chiều vẫn dịu dàng. Đường Hồng Thập Tự, đường Hiền Vương, vẫn những mái ngói đỏ chói, những bức tường vàng nắng nằm dưới những tàng cây xanh lam.

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (80): MẤY THÁNG CUỐI CÙNG VỚI VŨ HOÀNG CHƯƠNG

MAI THẢO

vhc3Vượt qua cây cầu Calmette soi bóng trên một con kinh tù đọng, con kinh chạy dọc theo vùng ngoại vi tràn lan náo nhiệt nhất của Sài Gòn là khu Chương Dương, Ông Lãnh, chiếc xe đạp lọc cọc chở tôi đi trên một mặt nhựa lồi lõm, đụng tới tòa nhà xám bẩn của hãng làm phân bón thì rẽ trái và lăn vào một con đường trải đá xanh.

Con đường thoạt đầu nhỏ hẹp vào tới sâu phình rộng dần dần và mở thành một vùng ngoại ô tràn lan náo nhiệt khác là vùng Khánh Hội. Tại đây hai bên hàng quán, chợ búa chen chúc ngổn ngang không hàng lối, sáng chiều là bụi cát rác rưởi đủ loại dấy bốc mù mịt do chân trần những bầy trẻ nhỏ đen đúa nhếch nhác chạy nhẩy la thét hất tung lên. Cuối đáy con đường là phường Cây Bàng. Nó đứng chắn ngang với những rào cây um tùm như một biên giới tươi xanh ngăn chia chợ búa thị tứ ồn ào trước mặt với phía sau, cũng chỉ là những xóm ngõ bình dân lao động, nhưng một ngày đã trở thành tao nhã, tao nhã từ vết nắng sớm đến nét trăng chiều, từ ngọn cỏ bờ đến cụm hoa đồng, vì còn là một địa chỉ lẫy lừng của văn chương, nơi một mái lầu thi ca lừng lẫy.

Chiếc xe chở tôi rẽ phải trên một con đường nhỏ, yên tĩnh, rẽ trái vào một con đường nhỏ yên tĩnh nữa, rồi tới một đầu ngõ khuất khúc. Tôi xuống xe, dắt bộ tới cuối ngõ, tới trước một căn nhà gỗ hai tầng. Đẩy một cánh cổng khép hờ đi vào, tôi đã tới Gác Bút của Vũ Hoàng Chương.

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

Hà Nội, một ánh lửa đã tắt

Mai Thảo

Thời kỳ tản cư ra khỏi thủ đô Hà Nội, bấy giờ là 46, toàn quốc kháng chiến, trôi dạt suốt ba bốn năm liền ở mấy tỉnh phụ cận với năm cửa ô và ba mươi sáu phố phường là Sơn Tây, Hà Đông, Phủ Lý, tối nào với tôi cũng có một khoảng thời gian nhỏ dành cho nhìn về Hà Nội. Đứng dưới một gốc cây, tôi trèo lên cành. Ở giữa một cánh đồng, tôi lên mặt đê. Một bụi tre làm cho khuất lấp? Tôi lần ra khỏi ngõ. Và như thế, đứng cái thế đứng chênh vênh trên một ụ đất, một gò đống, tôi mê mải ném tầm mắt vào một khoảng trống trải rộng, nhìn về cái phía có một vùng ánh sáng lung linh hư ảo bốc lên. Trời của chiến thời mới khởi dấy hồi đó, đêm nào cũng tối đặc như trời ba mươi tết. Tiêu thổ lướt qua như một bóng rợp khổng lồ, tất cả những thị trấn đã san thành bình địa.

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Chuyến tàu trên sông Hồng

Mai Thảo

Hình dung thấy một cái bến tỉnh lẻ. Buổi chiều mùa đông. Những trụ xi măng ướt sương. Ánh đèn dầu le lói hắt ra từ những quán lá thấp. Đám người ngồi chen vai trên những hàng ghế nối liền, xây lưng ra mặt bến. Những đứa con gái mặc quần đen, áo cánh trắng, ngoài khoác áo bông đột chỉ như bàn cờ tướng, áo len xanh đỏ đan hình quả trám, hình tổ ong, hình dây thừng, thoăn thoắt múc đồ ăn từ những chậu sành da hươu vàng đậm ra những cái đĩa quả đào. Thịt ba chỉ kho, nước thịt nâu đậm nhếch nhoáng, sao mỡ nổi dầy trên mặt, đậu nhồi lốm đốm những cuộn hành xanh non, món giả ba ba có ốc ang chuối chát và giềng mẻ quyền quyệt lổn nhổn, cá chép kho sắt từng khoanh mỏng, mỗi khoanh còn nguyên một thỏi trứng vàng. Mưa lất phất ngoài trời. Người mại bản Trung Hoa cởi trần ngồi trong một túp lều dựng ở đầu cầu đi xuống con tàu phì phà thở khói.

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Đêm giã từ Hà Nội

Mai Thảo

Phượng nhìn xuống vực thẳm.

Hà Nội ở dưới ấy.

Từ chỗ anh đứng, Phượng nhìn sang bờ đường bên kia. Những tảng bóng tối đã đặc lại thành khối hình. Từng chiếc một, những hàng mái Hà Nội nhoà dần. Phượng nhìn lên những hàng mái cũ kỹ, đau yếu ấy, giữa một phút giây nhoè nhạt, anh cảm thấy chúng chứa đựng rất nhiều tâm sự, rất nhiều nỗi niềm. Những tâm sự câm lặng. Những nỗi niềm nghẹn uất. Của Hà Nội. Của anh nữa.