Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Đọc thơ một người ch/nữ

 (Về thơ của Nguyễn Thị Thúy Hạnh[1])

Lê Hồ Quang

Trong tập thơ thứ nhất của Nguyễn Thị Thúy Hạnh, hình tượng chữ xuất hiện ngay trong nhan đề - Di chữ, trong cả lời đề từ - ta đi giặt áo thơ/ mặc mới một mùa chữ. Khép lại tập thơ, ở bìa sau, hình tượng ấy được nhắc lại: tôi tái sinh lời/ chữ tái sinh tôi. Ở tập thứ hai, Văn học vết thâm, hình tượng chữ tiếp tục được khai triển, mở rộng:

“đằng sau cửa hẹp là một cái hang cũng là một con đường, một trú ẩn và một khai phóng, một hiện hữu và một dẫn dắt, một cô lập và một mời mọc, một Logos đồng bằng dựng ngược, một sống Lời và không-gì-khác…”

Thư gửi má

 Truyện ngắn Văn

 

I.

Họ đã ở trong rừng một tuần.

Ban ngày, ánh nắng lọt xuống thành từng vệt mỏng giữa những tầng lá chồng lên nhau. Có những thân cây lớn đến bốn, năm người ôm không xuể. Rễ của nó trồi lên khỏi mặt đất, ngoằn ngoèo như những con trăn già nằm ngủ. Dây leo quấn từ gốc lên ngọn, buông xuống thành từng bức rèm xanh.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 6)

 Nguyễn Phú Yên

CHƯƠNG V: DÒNG CA KHÚC LÃNG MẠN TRỮ TÌNH (Phần 2)

III.  NHỮNG CA KHÚC CA NGỢI QUÊ HƯƠNG

Ý niệm thiên nhiên không thể tách rời với ý niệm quê hương, đất nước. Thiên nhiên đó không phải như trong thơ văn cổ điển của Trung Hoa và Việt Nam, ở đó luôn tìm thấy toàn hình ảnh phong hoa tuyết nguyệt. Thiên nhiên đó phơi bày trước mắt, nó cụ thể ở chung quanh mình và của chính mình. Yêu thiên nhiên cũng chính là yêu quê hương của mình. Nhiều ca khúc viết về nỗi niềm yêu mến quê hương, mô tả những cảnh vật, con người và đời sống nông thôn quen thuộc và gần gũi. Nhiều tác giả tha thiết với phong vị đồng quê, yêu mến những giá trị tinh thần của dân tộc còn lưu lại nơi đồng quê. Khuynh hướng viết về thôn dã có lẽ là khuynh hướng bình dị, trong sáng, êm đềm nhất trong dòng ca khúc lãng mạn trữ tình.

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

Navi Pillay và lương tâm của công lí quốc tế

 Tino Cao

Theo tin từ Oslo, đúng 11 giờ sáng thứ Sáu, 9 tháng Mười, theo giờ địa phương, Ủy ban Nobel Na Uy công bố quyết định trao Giải Nobel Hòa bình năm 2026 cho Navanethem “Navi” Pillay, nữ luật gia Nam Phi 85 tuổi, người đã dành gần sáu mươi năm đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, bảo vệ nhân quyền và góp phần phát triển nền tư pháp hình sự quốc tế. Trong thông cáo chính thức, Ủy ban Nobel tuyên bố vinh danh bà “vì những nỗ lực thúc đẩy hòa bình và luật pháp quốc tế”, đồng thời nhấn mạnh rằng “Giải Nobel Hòa bình năm 2026 được trao cho một người phụ nữ vì đã thể hiện lòng can đảm và sự chính trực phi thường, tiên phong thúc đẩy việc xây dựng một hệ thống pháp lí toàn cầu bao quát hơn. Bà đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm truy tố các tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại và tội diệt chủng” (nguyên văn: “The Nobel Peace Prize for 2026 goes to a person who with exceptional courage and integrity has led the way towards a more comprehensive global legal order. This year’s laureate has been instrumental in ensuring that war crimes, crimes against humanity and genocide are prosecuted”). Sự ghi nhận ấy dành cho một sự nghiệp pháp lí trải dài từ cuộc đấu tranh chống chế độ apartheid tại Nam Phi đến những phiên tòa xét xử tội diệt chủng ở Rwanda và cuộc điều tra gây tranh cãi về chiến tranh tại Gaza.

Anne Carson, giải Nobel Văn học 2026

 Florence Noiville, Le Monde ngày 8.10.2026, lúc 13:05, chỉnh sửa lúc 15:07

Bảo Chân dịch

Mùa Nobel văn học năm nay, có hai nữ tác giả Canada Anh ngữ hiện diện trong danh sách những ứng cử viên triển vọng nhất của giải. Người thứ nhất, nổi tiếng tầm quốc tế là Margaret Atwood, và người còn lại, ít được công chúng Pháp biết đến, đó là Anne Carson. Và chính người thứ hai ấy – một nữ tác gia độc đáo, người luôn chơi đùa một cách hóm hỉnh và uyên bác với các thể loại văn học – đã được Viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải thưởng cao quý này vào thứ Năm, ngày 8 tháng 10 năm 2026. Mười ba năm sau Alice Munro (1931-2024), Anne Carson là nhà văn nữ Canada thứ hai đón nhận vinh dự này. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong trường hợp của bà, người ta còn có thể nói đến quốc tịch kép Hy Lạp - Canada, bởi lẽ tác phẩm của bà được sáng tạo từ tinh thần Hy Lạp cổ đại, thấm đượm văn phong và văn hóa cổ điển.

Con cừu thất lạc

 Truyện ngắn của Anne Carson, giải Nobel 2026

Ngu Yên dịch

.

Trời lạnh trong bóng tối; chúng tôi đến sớm hơn dự định. Tôi không thích những bữa tiệc. Bà ngoại của bạn đứng trong bếp, trông như một nhân vật thần thoại, hai tay khoanh trước chiếc tạp dề. Bạn nói, cần đi quanh giao tiếp. Một lúc sau, bạn đến bên tôi, đang ngồi trên bậc thềm. Bạn vui lắm. Kể tôi nghe bao nhiêu dự định: luyện tập để trình diễn sân khấu hòa nhạc, trải qua những cuộc tuyển chọn khắc nghiệt, đi khắp thế giới. Trên trán bạn linh hồn sáng lên. Tôi chẳng biết góp ý điều gì. Tôi thành thật cầu nguyện. Biết đâu một cơn bão sẽ ngăn bước chân bạn. Nhưng rồi đêm vẫn trong trẻo. Bạn cứ nói mãi. Rạng đông bắt đầu. Tôi có ước muốn thầm kín: lặng lẽ nghiêng người về phía bạn, như rơi vào một mặt hồ, rồi biến mất. Nhưng bạn đứng dậy, phủi bụi trên người.

Quẳng gánh vui đi...

 Phạm Viêm Phương

Pablo Picasso, Grande baigneuse au livre, 1937.

Bruce Coville, nhà văn Mỹ viết cho thiếu niên, trong một diễn văn nọ bàn về sự minh bạch của chính quyền, chế độ kiểm duyệt, và tự do thông tin, đã phát biểu rằng “Bưng bít thông tin là điều cốt tủy của chế độ bạo chúa. Còn kiểm soát luồng thông tin là công cụ của chế độ độc tài.”

Thân xác không chỉ là... thân xác...

 Nguyên Hưng

Số đông dân ta, đến giờ, vẫn “mê man bất tỉnh” trước những bức tranh như của William-Adolphe Bouguereau (1825-1905). Cho “như vậy mới là nghệ thuật”, “như vậy mới là đẹp”... Còn trước tranh của Lucian Freud (1922-2011), không chỉ đại chúng, mà có không ít “nghệ nhà ta”, cũng dị ứng, cho là “không đẹp”, “phản nghệ thuật”, thậm chí là “bệnh hoạn”...!

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2026

Anne Carson đoạt giải Nobel Văn chương 2026

 Anders Olsson, Chủ tịch Ủy  ban Nobel,

https://www.nobelprize.org/prizes/literature/2026/bio-bibliography/

Bản dịch của Văn Việt

Giải thưởng Nobel Văn học năm 2026 được trao cho nhà văn người Canada Anne Carson, “vì văn nghiệp táo bạo và đầy tính sáng tạo của bà, nơi cuộc đối thoại đầy ngẫu hứng với truyền thống cổ điển đã kiến tạo nên những hình thức mới cho văn học hiện đại.”

Nhà văn Canada, Anne Carson, được vinh danh vì sự nghiệp sáng tác “táo bạo và đầy sáng tạo”

  Bảo Chân dịch từ TV5 Monde - https://information.tv5monde.com/culture/anne-carson-nouvelle-sappho-de-la-poesie-canadienne-2840737

Anne Carson vừa là nhà thơ, tiểu thuyết gia vừa là một học giả nghiên cứu Hy Lạp cổ đại danh tiếng. Bà đã trở thành chủ nhân Giải Nobel Văn học 2026. Là tác giả của một sự nghiệp sáng tác uyên bác, kể những câu chuyện sáng tạo và hiện đại về tình yêu, ham muốn và cái chết qua đó các anh hùng thần thoại, các tác giả cổ đại và các nhà văn lãng mạn cùng được triệu gọi vào.

Anne Carson và cuộc đối thoại bất tận với cổ điển

 Tino Cao

Giải Nobel Văn chương 2026 vừa được trao cho Anne Carson, nhà thơ, nhà tiểu luận, học giả người Canada, với lời tuyên dương dành cho “sự nghiệp sáng tác táo bạo và giàu sáng kiến, trong cuộc đối thoại đầy tinh thần ngẫu hứng với truyền thống cổ điển đã tạo nên những hình thức mới cho văn chương đương đại”.

Từ Nobel Văn chương Anne Carson 2026 nghĩ về một giấc mơ Việt Nam

 Trần Kiêm Đoàn

Mỗi năm, khi mùa Thu trở về và giải Nobel Văn chương được công bố, trong lòng những người yêu văn học khắp năm châu lại dấy lên một niềm vui xen lẫn suy tư. Vui vì nhân loại vừa có thêm một tài năng được vinh danh. Suy tư vì đằng sau mỗi giải thưởng lớn thường là cả một hành trình sáng tạo âm thầm, có khi cô độc, của người cầm bút đi tìm tiếng nói riêng giữa muôn vàn tiếng nói của cuộc đời.

Phần lớn nhà văn ngày càng lười biếng, người đọc sách cũng ngày một ít đi

 Tàn Tuyết, 一个时代的记录 ngày 8.10.2026

Nguyễn Khắc Ngân Vi dịch

Theo tôi, nếu nhà văn Trung Quốc không thể chiến thắng thứ tự luyến dân tộc của chính mình, thì họ sẽ không thể tiếp tục theo đuổi lý tưởng văn chương. Bởi vậy, trong văn đàn đại lục, rất nhiều nhà văn đến khoảng bốn mươi tuổi đã bắt đầu thoái hóa, hoặc không còn viết nổi tác phẩm, hoặc dùng những thứ giả phẩm để đối phó, lừa dối độc giả. Căn nguyên của hiện tượng này nằm ở tâm lý tự đại dân tộc. Nền văn hóa của chúng ta đã hủy hoại, đầu độc những thiên tài của chính mình.

Triển lãm Maj Trang Olson: Đi tiếp con đường của cha (Maj Trang Olson: Following her father’s footsteps)

 Đinh Quang Tỉnh

Nằm tĩnh lặng giữa lòng phố cổ Hà Nội, ngôi nhà số 46 Trần Nhật Duật - con phố gắn liền với vị danh tướng kiệt xuất thời Trần, không chỉ là nơi chứng kiến bao đổi thay của mấy thế hệ, mà còn là một "bảo tàng gia đình" đong đầy ký ức. Nơi đây từng là mái ấm của gia đình cố họa sĩ Hồng Vân, người nghệ sĩ tài hoa với những bức chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh tràn đầy lòng kính yêu và khí chất ở thập niên 70. Nối tiếp dòng chảy nghệ thuật ấy, người em út Nguyễn Bá Nghĩa đã lưu giữ tại ngôi nhà này một bộ sưu tập tranh tượng phong phú của nữ Họa sĩ tài hoa người Thuỵ Điển gốc Việt Maj Trang Olson, cùng hai người anh trai là Họa sĩ, Ðiêu khắc gia, Nghệ sĩ thị giác Nguyễn Hồng Hưng và Nghệ sĩ Thiền Zen (Paul Vân Thuyết). Từng góc nhỏ trong ngôi nhà không chỉ lắng đọng tấm lòng tri ân sâu sắc hướng về cha anh, mà còn là sợi dây vô hình kết nối một quá khứ hào hoa với hiện tại văn minh.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 5)

 Nguyễn Phú Yên

CHƯƠNG V: DÒNG CA KHÚC LÃNG MẠN TRỮ TÌNH (Phần 1) 

Có thể xem văn chương lãng mạn và âm nhạc lãng mạn Việt Nam là cặp song sinh ra đời sau khi có sự tiếp nhận chủ nghĩa lãng mạn phương Tây đầu thế kỷ XX. Thật vậy những chủ đề trong văn chương Tự Lực Văn Đoàn và Thơ mới vẫn có thể tìm thấy trong âm nhạc lãng mạn trữ tình với tính chất phong phú không kém, thậm chí neo vào lòng người sâu đậm hơn nhờ thế mạnh giai điệu âm nhạc cũng như sự phổ biến tác phẩm trong quần chúng. 

Thứ Năm, 8 tháng 10, 2026

Hòn đảo đang chìm

 Truyện ngắn Văn

Năm nào biển cũng lấn vào, lấy đi một ít đất. Không nhiều, chỉ vài mét. Có năm đất mất ít hơn. Có năm nhiều hơn.

Người ta đóng một cây cọc gỗ ở mép nước để đo. Mùa hè năm sau nhìn lại, nước đã ngập nửa cây cọc.

Họ lại đóng một cây cọc mới. Rồi thêm một cây cọc nữa. Cứ như thế suốt nhiều năm.

Bi kịch của nữ sĩ Akhmatova: Vì sao con trai hận bà đến thế?

 Lê Thọ Bình dịch '

(từ «ОНА НАПИСАЛА „РЕКВИЕМ“, ОНА МЕНЯ ПОХОРОНИЛА»: ПОЧЕМУ ЛЕВ ГУМИЛЕВ НЕ ПРОСТИЛ СВОЮ ВЕЛИКУЮ МАТЬ АННУ АХМАТОВУ, smiruponitke.info)

Tháng 3 năm 1966, Anna Akhmatova trút hơi thở cuối cùng tại một dưỡng đường vùng ngoại ô Moskow. Bà bước sang tuổi bảy mươi sáu, trái tim đã hoàn toàn kiệt sức.

Michel de Montaigne: Người khai sinh thể loại Tiểu luận (Essay)

 Đỗ Kim Thêm

Michel de Montaigne (1533–1592)

Michel de Montaigne là một trong những triết gia, văn gia và chính khách tiêu biểu của thời kỳ Phục hưng Pháp, đồng thời được xem là người đặt nền móng cho thể loại tiểu luận (essay) trong nền văn học phương Tây. Ông sinh ngày 28 tháng 2 năm 1533 tại lâu đài Montaigne, vùng Périgord (nay thuộc tỉnh Dordogne, Pháp), trong một gia đình quý tộc giàu có. Dưới sự giáo dục chu đáo của người cha, Montaigne được nuôi dưỡng trong tinh thần nhân văn Phục hưng và sớm tiếp cận nền học vấn cổ điển. Trong những năm đầu đời, ông được giáo dục bằng tiếng Latinh, nhờ đó có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với kho tàng triết học và văn học Hy Lạp – La Mã cổ đại.

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

Lại chuyện sách giáo khoa

 Thái Hạo

Chắc có nhiều người nhớ và thuộc những bài hát nổi tiếng như Thu hát cho người, Điệu buồn Phương Nam, Đên Gành Hào nghe điệu hoài lang… gắn với tên tuổi của Nguyễn Đức Sao Biển. Nhưng có lẽ ít người biết người nhạc sĩ này còn là một thầy giáo triết học ở miền Nam trước 1975.

Can Xue (Tàn Tuyết) của Trung Quốc sẽ được Nobel Văn học 2026?

 Phan Tấn Hải

Trước tiên là chuyện cá độ văn học. Bởi vì người dám đưa tiền ra cá độ, hẳn là có lý do họ tin rất mực. Nếu nhìn vào các thị trường dự đoán và nhà cái về giải văn học trong những ngày trước mùa Nobel 2026, chưa có ứng viên nào vượt trội tuyệt đối. Nobel Văn học vẫn là giải khó đoán nhất vì Viện Hàn lâm Thụy Điển thường gây bất ngờ. Tuy nhiên, một số tên tuổi được nhắc đến nhiều nhất hiện nay.

Nghịch lý độc đoán trong nghệ thuật: Từ cái tôi sáng tạo đến cuộc chiến hệ hình văn hóa

 Nguyên Hưng

Giới nghệ thuật thường chứng kiến một nghịch lý quen thuộc: nhiều họa sĩ lớn tiếng đòi hỏi tự do tuyệt đối cho chính mình, nhưng khi bình phẩm về đồng nghiệp lại tỏ ra hết sức độc đoán, như thể chỉ riêng họ nắm giữ chân lý về cái đẹp. Hiện tượng này không đơn thuần là ích kỷ hay đố kỵ cá nhân. Nó là một vấn đề sâu của triết học nghệ thuật, bắt nguồn từ cấu trúc cái tôi sáng tạo, từ nền tảng văn hóa định hình người nghệ sĩ, và từ cuộc chiến ngầm giữa các hệ hình ý thức.

Trò chơi khác với lửa của Linda Lê – tự hủy và phục sinh

 Đoàn Huyền

Linda Lê đặt tên tập truyện, một trò chơi khác với lửa[1] bởi trong nỗ lực khử đi “nỗi ô nhục khủng khiếp nhất và không thể dung nổi nhất trong mọi nỗi ô nhục”[2] – nỗi ô nhục “bị ra đời”[3], nỗi ô nhục đã ném người ta vào một mạng nhện và nén người ta lại trong một lốt giáp xác, tức, ghim người ta trong trạng thái vĩnh viễn trói buộc và muôn đời ấu hóa, tác giả cần sức nóng thảm họa của ngọn lửa diệt vong để, trong khoảnh khắc tự hủy, thiêu ra tro nỗi ô nhục bản mệnh, đồng thời cần sức sống lửa phục sinh để từ đống tro tàn, phượng hoàng tái sinh. Trò chơi khác với lửa của Linda Lê về bản chất là tác phẩm của tháo gỡ và lên đường: tháo gỡ những ảo tưởng và lên đường trong tư thế kẻ đơn độc không sở hữu gì, ngoài đôi mắt thức. Nên, dù, cái chết phơi mình khắp tập truyện, dù, không khí âm u ám rịt từng con chữ, dù, vẫn thói dồn ngòi bút vào đường cùng ngõ cụt, tác phẩm không hề là một nghi thức “ăn mình” mà như một mũi tàu lướt từng gợn sóng, lách từng kẽ gió, tiến về phía chân trời, trên hành trình không ngừng đi tới của tự do.

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2026

Giấc mộng Diễn Đàn

 Lê Học Lãnh Vân

Từ mấy năm nay rồi, có lẽ những người bạn gần gũi biết trước tạp chí Diễn Đàn – Forum (gọi tắt là Diễn Đàn) sẽ đóng cửa. Hôm nay, đọc Lời chào tạm biệt và cảm tạ của DIễn Đàn, tôi nói với gia đình, những sợi dây liên lạc, kỷ niệm quãng đời hoạt động của ba hồi ở Paris đã được cắt đứt hoàn toàn! Quan hệ cá nhân còn nhưng thời hoạt động ấy đã hoàn toàn hết!

Giải cấu trúc ảo tưởng “Chống diễn dịch”

 Nguyên Hưng

Trong đời sống mỹ thuật Việt Nam, tồn tại một suy nghĩ phổ biến vừa mang tính tuyên ngôn phản kháng, vừa đậm đặc sắc thái phòng vệ của giới nghệ sĩ sáng tác: "Hội họa không cần diễn dịch như một ông hướng dẫn viên du lịch". Nhìn bề ngoài, mệnh đề này biểu đạt một khát vọng chính đáng về tính tự trị của ngôn ngữ thị giác, giải phóng tác phẩm khỏi áp lực minh họa giáo điều. Tuy nhiên, khi nhìn rộng và sâu hơn vào lịch sử và xã hội học nghệ thuật qua lăng kính triết học và mỹ học hiện đại, lời khước từ này lộ rõ là một phản ứng ngây thơ trước bản chất vận hành của ngôn ngữ và văn hóa. Hiện tượng khá đông họa sĩ tuyệt đối hóa việc "chống diễn dịch" để ẩn mình trong những tháp ngà tư tưởng không thuần túy là một lựa chọn thẩm mỹ cá nhân. Nó là triệu chứng lâm sàng của một nền đứt gãy hệ thống, nơi sự thiếu vắng của phê bình chuyên nghiệp đã đẩy người nghệ sĩ vào thế phòng thủ cực đoan, đồng thời tước đoạt quyền đồng sáng tạo của công chúng.

Lorca nào trong trí nhớ Việt Nam

 Tino Cao

“Những tiếng đàn bọt nước

Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

li-la li-la li-la…”

(Đàn ghi ta của Lor-ca, Thanh Thảo)

Và:

“Mặt trời hồng trên cát nóng Es-pa-nha, là tiếng đàn ghi ta của Lorca. Giọt lệ nào ướt đẫm áo choàng đỏ thắm Es-pa-nha, hay giọt buồn ghi ta của Lorca…”

(Cây đàn guitar của Lorca, Thanh Tùng)

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Sóng ngầm của Linda Lê – cơn sóng không từ đại dương

Đoàn Huyền

Suốt tác phẩm, lá thư của người em cùng cha hằn lên như vết dấu khai màn, như nguyên nhân đã định cho mọi sự biến. Nhưng lá thư ấy sẽ chẳng gây nổi một chấn động dạng nhẹ nào nếu những kẻ trong cuộc không mắc kẹt trong quá khứ, không phải quá khứ trùng khít với thứ lịch sử viết hoa, mà là quá khứ của một lịch sử cá nhân với những chi tiết rời rã không thể vuốt phẳng: hoàn cảnh ra đời và sinh trưởng trong sự vắng mặt của kẻ sinh thành như chỉ dấu của chối bỏ. Hơn hết, nếu nó không rơi vào tâm điểm của sự lạc lõng của một khước từ neo đậu. Chính nó, thiên hướng tha hương như một trạng thái sống, như một tâm thế tồn tại, chính nó, bản năng của kẻ luôn khiến mình nghịch thời, lạc lối, và chính nó, sự thiếu quyết đoán, không dứt khoát như thói tật của tính cách cá nhân hay như định mệnh tất định của những lưỡng nan bất khả giải mới là cơn sóng ngầm, cơn địa chấn húc đổ mọi trạng thái yên ổn bề ngoài. Những điều đó vứt bỏ mọi vẻ đột ngột, bất ngờ của một tai họa, để hiện thân thành sự tất yếu của một sự thể dĩ nhiên phải thế. Nói cách khác bi kịch trong tác phẩm là tàn cục của diễn trường nơi những phẩm chất bản chất nhất, sâu thẳm nhất xồ ra, tự tung tự tác, nơi những thiên hướng, tâm thế, bản năng tìm được cái cớ để thôi ẩn thân trong lòng bóng tối, nhảy vào cuộc và bẻ lái con tàu định mệnh theo ngã rẽ không thể đoán định. Điều đáng kể, do đó, không phải là hậu quả của cơn sóng ngầm ấy mà là chân dung của nhân vật khi bản thể lộ hiện, hắt ánh sáng lên con người và xoay chuyển cuộc đời họ. Bởi sự thể đó sẽ là sự lên tiếng của vô vàn góc cạnh đa sắc, đa thù, từ chối hòa âm, biến hình trong một đồng ca thuận hòa, vô sắc, vô thanh.

Hamid Ismailov và tiếng vọng từ những vùng đất bị lưu đày: Bản hòa tấu của lịch sử và phận người Trung Á (Giới thiệu ứng cử viên Nobel Văn học 2026)

 Lê Thọ Bình (tổng thuật và giới thiệu)

Trong không khí sôi nổi của đời sống văn chương thế giới những ngày đầu tháng Mười năm 2026, giới phê bình lẫn độc giả yêu văn học đang hướng trọn sự chú ý về Stockholm, nơi quyết định tôn vinh tên tuổi tiếp theo nhận giải thưởng cao quý Nobel Văn học sắp được xướng lên (ngày 8/10).

Những viên sỏi còn lại

 Nhớ anh Cung Tích Biền

Tô Đăng Khoa

Khi chị Kim, vợ anh Cung Tích Biền, nhờ tôi điều phối chương trình tang lễ của anh, tôi nhận lời mà không nghĩ nhiều về công việc ấy vì chị và gia đình đã chu đáo thu xếp chương trình tang lễ rồi. Tôi nghĩ chắc cũng chỉ là đứng lên giới thiệu từng người, giữ cho chương trình khỏi trễ, biết lúc nào nên nói, lúc nào nên lui xuống. Tôi nhẩm đọc những tên những người sẽ phát biểu, tên những bản nhạc, thứ tự chương trình. Những việc rất cụ thể.

Tràng hạt – Trái tim Nam tiến Đỗ Quyên ca

 Nguyễn Nguyên

“Đất nước tràng hạt”, trường ca du ký của Đỗ Quyên, với kì 1 (trên vanviet.info) xuất hiện đúng quốc khánh năm thứ 81 nước Việt. Tôi không nghĩ đây là sự tình cờ, mà là tâm niệm của người dẫu ở đâu trên hai nửa bán cầu đều dành lòng hướng về đất nước hình chữ S thân thương. Có điều, đây là lần đầu tiên tác giả dành trọn vẹn một trường ca về Tổ quốc mình. Lịch sử giữ nước, “đẻ đất đẻ nước” bi hùng tự tại hiển hiện trong thi nhân thi ca con dân Việt…

“Châu về/thân đậu/con dân

Nước non/non nước/xa gần là đây”...

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

Trương Huy San – Có những điều một bản án không thể kể hết về một con người

 Nguyễn Quốc Chính

Tôi đã nghĩ khá lâu trước khi viết những dòng này về Trương Huy San - Osin Huy Đức. Không phải để biến anh thành một biểu tượng; càng không phải để yêu cầu bất kỳ ai phải nghĩ về anh giống như tôi. Tôi chỉ muốn viết về một con người mà tôi từng biết, về một người cầm bút có một hành trình đặc biệt, và về những nghĩa cử rất con người mà có lúc chính tôi đã được chứng kiến.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2026

Lời chào tạm biệt và cảm tạ

 Diễn Đàn

Kính gửi quý bạn đọc và thân hữu,

Ngày 1.10.2026, tạp chí Diễn Đàn (tên đầy đủ là Diễn Đàn – Forum, để tránh trùng hợp với rất nhiều “Diễn Đàn” khác) vừa tròn 35 tuổi. 35 năm là một quãng đường khá dài đối với một tạp chí “nghiệp dư”, hiểu theo nghĩa kinh tế (không kinh doanh) của từ này. Trong số đặc biệt kỷ niệm 30 năm ra báo, anh Nguyễn Ngọc Giao, trong ban chủ biên Diễn Đàn, đã có bài Chuyện bây giờ mới kể: câu hỏi “đầu tiên”, nói khá rõ điều này. Ở đây, tôi chỉ xin nói thêm một khía cạnh: tất cả chúng tôi, trong ban biên tập và kỹ thuật Diễn Đàn, không ai được đào tạo trong nghề báo, và cũng không ai được nó nuôi sống dù sau nhiều năm làm việc cũng đã mầy mò học được một ít kỹ thuật của “nghề”, cả trong các khâu biên tập, kỹ thuật để thực hiện “báo giấy” hay “báo mạng”. Nghiệp dư còn có ý nghĩa đó.

Thế mà, đa đoan đeo đuổi cũng được 35 năm, nhiều bạn trong nhóm làm báo đã trên 80, trẻ hơn thì cũng đã “U80”, chẳng phải đã đến lúc buông ư?

Thú thực, người viết mấy dòng này, được anh em trao cho việc điều hành tờ báo trong công việc hàng ngày mấy chục năm nay, cũng đã nghĩ đến chữ “buông” đó vài năm trước đây, nhưng rồi hè 2021 khi đưa ra bàn thì lại dẫn tới quyết định “làm số đặc biệt 30 năm trước đã”! Không lẽ “làm reo”, đành tiếp tục. Vả chăng, 30 tuổi cũng là một dịp nhìn lại mình, hoài bão và thực tế. Bài học thì nhiều, kỉ niệm còn nhiều hơn. Số đặc biệt 30 tuổi tuy không tập trung vào những kỉ niệm ấy, đã nhận được bài viết của nhiều thân hữu, đầy tình cảm, ưu ái về tờ báo cũng như cho riêng những người làm báo, càng làm cho chữ “buông” nặng nề hơn, khó thực hiện hơn. Nhưng làm sao bây giờ? Trong bài viết của mình anh Lê Học Lãnh Vân đã nhắc lại lời cảm khái của triết gia Bùi Văn Nam Sơn, nói thay cho bao nhiêu người: “Vãng sự vân yên hốt quá! Chuyện cũ gợi bao nỗi cảm hoài, như khói như mây!” Thời gian thì vẫn trôi, chẳng ai níu lại được (*) dù có là thiên tài như thi sĩ Lamartine bên hồ Le Bourget.

Xin mời bạn đọc bấm vào đường dẫn trên để đọc toàn văn 50 bài thuộc nhiều thể loại, thơ văn hay nghị luận bàn về những vấn đề mà chúng ta đều quan tâm. Cũng xin mời bạn đọc đọc lại mấy lời phi lộ cho số kỷ niệm ấy, để cùng chúng tôi ôn lại quãng đường thực ra là quá ngắn cho cái ước vọng sớm thấy một Việt Nam dân chủ và phát triển, ước vọng mà chúng ta chia sẻ với mọi tầng lớp đồng bào hiện sống trong và ngoài nước.

Giấc mộng chưa thành, nhưng cái lẽ vô thường được nhiều triết gia từ Đông sang Tây, tự Cổ chí Kim dạy chúng ta, có thể nào một tờ tạp chí nhỏ như Diễn Đàn dám ôm tham vọng – gọi cho đúng là ảo vọng – tự cho sự có mặt của mình là thiết yếu, là “không thể thay thế”...

Vì thế mà có mấy dòng này để thông báo cùng quý bạn đọc và thân hữu quyết định nhất trí của nhóm làm báo Diễn Đàn: đóng cửa (** và ***) tờ báo. Xin được thấu hiểu và thông cảm.

Sau cùng nhưng không phải kém quan trọng nhất, 35 năm ấy Diễn Đàn đã không thể chào đời và sống được nếu không có sự hỗ trợ của bạn đọc và của đông đảo các tác giả “khắp năm châu”, như chúng tôi đã nhấn mạnh trong Lời bạt cho số Kỉ niệm 30 năm. Tạp chí đóng cửa nhưng anh em trong toà soạn và kỹ thuật của báo vẫn rất mong sẽ có thêm những cuộc gặp gỡ – trong hay ngoài nước – các thân hữu của mình.

Xin tạm biệt và trân trọng cảm tạ.

Thay mặt Diễn Đàn

Hà Dương Tường

(liên lạc: hdtuong@gmail.com)

Tái bút

(*) Người viết rất ngần ngại nhắc lại những tin buồn, nhưng từ hồi “kỉ niệm 30 năm” ấy tới nay, chỉ trong vòng 5 năm, Diễn Đàn đã phải chia tay thêm bao nhiêu bạn bè thân thiết. Chỉ kể sơ những người trực tiếp “dính” tới tờ báo: các chị Phạm Tư Thanh Thiện, Mai Ninh, các anh Ngô Vĩnh Long, Trần Hữu Dũng, Đặng Tiến, Phạm Văn Đỉnh, Cao Huy Thuần, Võ Quang Yến...

(**) Cụ thể, chúng tôi sẽ không tiếp tục nhận bài vở mới cho trang web diendan.org, tuy nhiên trang này sẽ tiếp tục mở trong ít nhất 5 năm nữa (tiền thuê “máy chủ” đã có đủ trong trương mục!), với toàn bộ các bài đã đăng được giữ nguyên để bạn đọc có thể tìm lại nếu cần, kể cả các bài trên báo giấy đã được số hoá và lưu trữ tại địa chỉ diendan.org/tai-lieu/bao-cu . Việc tìm các bài cũ cũng tương đối đơn giản, chỉ cần bạn gõ vào ô “Tìm kiếm” ở đầu trang báo, góc phải, từ khoá của bài, viết trong ngoặc kép. Từ khoá đó có thể là một hay nhiều phần của tên bài, hoặc một tên riêng nào đó – tất nhiên nếu bạn nhớ càng chính xác và đầy đủ thì kết quả càng cụ thể hơn. Ví dụ, nếu bạn gõ “Võ Văn Kiệt” và “Thư gửi Bộ Chính trị” thì sẽ có 5 kết quả, nhưng nếu bạn chỉ gõ “Võ Văn Kiệt” thì sẽ có tới 330 kết quả và sau đó phải lục trong số 330 bài đó đúng cái bài đang tìm! Bạn cũng có thể tham khảo toàn bộ tạp chí Thời đại mới và các cuộc Hội thảo mùa hè (1998-2019) mà Diễn Đàn đã lưu trữ tại các địa chỉ https://tapchithoidai.diendan.org/ và https://hoithao.diendan.org/.

(***) Một vài bài chúng tôi đã nhận được và đang biên tập trước khi viết bài chia tay này sẽ được đăng sau ngày 1/10. Mặt khác trong chừng mực có thể, chúng tôi sẽ cố gắng đưa lại một số bài đã đăng những năm trước, nhưng xét ra vẫn còn tính thời sự và giá trị nào đó. Ngoài ra, trang Facebook của báo (Diễn Đàn - Forum) vẫn được giữ lại để khi cần (có sự kiện quan trọng!) chúng tôi có thể gửi tới bạn đọc thông tin và/hoặc nhận định của mình.

Nguồn: https://www.diendan.org/loi-chao-tam-biet-va-cam-ta

Chia tay Diễn Đàn

Phan Thị Hà Dương

Hôm nay đọc tin biết báo Diễn đàn (báo giấy và online) chia tay độc giả. Thấy buồn quá. Báo Diễn Đàn (và trước đó là Đoàn Kết) đã mang đến cho mình những bài thơ Hoàng Cầm, Hữu Loan từ những ngày gần như không mấy thanh thiếu niên được biết đến những tên tuổi ấy. Và bao nhiêu năm qua, Diễn Đàn cũng là nơi mang nặng những bài viết trăn trở nghĩ suy về đất nước.

Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn

(Tranh minh họa sưu tầm)

Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc – người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong – tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử: “Ngày Kỷ dậu, mùng sáu, Giảo Kỳ xuất bọn Chương Hiến Hầu đánh phá quân của người em Thế tử [tức vua Trần Nhân Tôn] là Thái soái Trần Khải tại bến đò Phú Tân, chém ngàn người. Thanh Hóa và Nghệ An đều đầu hàng. Vua Trần sợ, khiến [sai] người trong họ là Trung Hiến hầu Trần Dương xin hòa. Lại sai kẻ cận thị là Đào Kiên đưa bà chúa em vua cho Trấn Nam vương xin hòa giải” (1).

Thơ Haiku của Nozawa Boncho

 Bạt Xứ chuyển ngữ

Nozawa Boncho (1640−1714) đang hành nghề y tại Kyoto thì gặp Basho và trở thành một trong những môn đệ tận tụy nhất của thi hào này. Năm 1690, ông cùng Kyorai, một môn đệ khác của Basho, biên soạn cuốn “Áo Tơi Của Khỉ”. Đây là tuyển tập thơ của các thi sĩ thuộc trường phái Basho trong đó Boncho đã đưa vào hơn bốn mươi bài thơ của chính mình. Không lâu sau đó, mối quan hệ giữa ông và Basho bị rạn nứt và ông chuyển đến sống tại Osaka.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

Nguyễn Khắc Dương – Nguyện lót chân êm khách vỉa hè!

 (Kính tặng cô giáo thương yêu của con, cô Nguyễn Thị Dư Khánh)

Phạm Hiền Mây

I. AI CÓ CHỜ AI ĐẾN BẠC ĐẦU

Nguyễn Khắc Dương là một người, mà tiểu sử của ông không thể kể bằng vài dòng như ngày sinh, nơi sinh, học hàm, hay chức vụ được.

Với một đời người đã đi qua hơn một thế kỷ, cuộc đời Nguyễn Khắc Dương là một con đường dài của đi tìm, qua nhiều địa danh: Hương Sơn, Hà Tĩnh, rồi Huế, rồi miền Nam, rồi Paris và Đại học Sorbonne, rồi Đà Lạt; qua nhiều thế giới tinh thần: những môi trường tu trì, giáo dục và đại học; đến những năm cuối đời trong dáng dấp một “hành giả” lặng lẽ.

Ông là một trí thức xuất thân từ gia đình Nho học nhưng lại bước vào thế giới Kitô giáo; là một người học triết Tây phương nhưng tâm hồn vẫn nặng ký ức Đông phương. Hai bờ ấy không hòa tan vào nhau nhưng cũng không triệt tiêu nhau. Chúng cùng hiện diện trong một con người, như hai bờ của một dòng sông cùng ôm lấy một dòng nước.

Nguyễn Khắc Dương sinh ngày 24.09.1925, tại làng Thịnh Xá, nay thuộc xã Sơn Hòa, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình khoa bảng Nho học nổi tiếng. Cha ông là Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm. Anh trai là bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, và các anh chị em khác cũng là những người làm việc nổi tiếng trong các lãnh vực như văn hóa, khoa học, giáo dục: Nguyễn Khắc Phi, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Thị Dư Khánh, Nguyễn Thị Thiếu Anh, Nguyễn Thị Phương Thảo. Sanh ra trong một gia đình mà cha là bậc đại khoa và từng giữ nhiều trọng trách trong triều Nguyễn như vậy, nên Nguyễn Khắc Dương, ngay từ nhỏ đã thấm nhuần tinh thần: coi trọng việc học, đạo đức và lễ nghĩa.

Ông học tại Huế, trường Thiên Hựu – Providence; đi qua những năm tháng biến động sau 1945; bước vào đời sống tu trì Phanxicô; sang Pháp tu học và tốt nghiệp Cử Nhân Triết Học tại Đại học Sorbonne.

Năm 1965, Nguyễn Khắc Dương trở về Việt Nam; từ năm 1966, ông lên Đà Lạt giảng dạy Triết học tại Viện Đại học Đà Lạt, sau đó đảm nhiệm chức vụ Phó Khoa Trưởng và Quyền Khoa Trưởng khoa Văn - Triết của Viện Đại học Đà Lạt. Nhìn từ bên ngoài, đó là một sự nghiệp học thuật đáng nể. Nhưng như ta đã chứng kiến, điều còn lại nơi ông, sau cùng, chẳng phải là chức danh.

Ông có bút hiệu là Thế Tâm. “Thế” là cõi đời, cõi thế. “Tâm” là tấm lòng. Hai chữ đặt cạnh nhau thành một lời tự nhận khiêm cung: tấm lòng ở giữa cõi đời.

Bốn bài thơ của Thầy Nguyễn Khắc Dương, mà tôi muốn giới thiệu đến bạn đọc hôm nay, gồm có bài Chiều Hương Giang, là những hoài niệm về quê hương, bạn bè, người xưa; bài Tương tư là nỗi niềm cô đơn, chia lìa, chờ đợi của lữ thứ; bài Uy Viễn tướng công vẽ chân dung của kẻ sĩ qua hình tượng Nguyễn Công Trứ, và cuối cùng, bài Sở nguyện, đi từ cái tôi của một lữ hành đến lòng thương người và lời nguyện dâng hiến.

Đặc biệt, trong bài thơ Tương tư, có một câu rất tình và rất thơ – ai có chờ ai đến bạc đầu. Chờ này, là chờ một người, hay chờ bạn cũ, hay chờ quê hương, hay chờ một cuộc trở về, hay tác giả chờ một câu trả lời cho ý nghĩa của đời người chăng?

Hay, cả cuộc đời của Nguyễn Khắc Dương là một cuộc chờ đợi khôn nguôi?

******

II. BÀI THƠ CHIỀU HƯƠNG GIANG

Bến đò Thừa Phủ không còn nữa

Nhớ những chiều xưa nhạt nắng vàng

Thương ai đứng đợi, người không tới

Ngang vai tóc chải suối thời gian

Bóng chiều xuống tơ trời vương ngọn cỏ

Đàn chim bay nghiêng cánh nắng chiều rơi

Bốn phương tản mát, hỡi những ai bè bạn

Còn nhớ chăng trời mây nước Hương Giang

Những buổi chiều bến nước của quê hương

Kẻ còn sống cũng như người đã khuất

Hãy về đây chớ ngại gì sớm muộn

Cùng nhau ta soi bóng nước Hương Giang.

Bài thơ mở đầu bằng một lời báo tang, địa danh đã hóa thành ký ức – Bến đò Thừa Phủ không còn nữa. Không chỉ mất một bến đò, mà cả một không gian văn hóa của Huế xưa cũng đã lùi vào quá khứ, với những chuyến đò, những người lái đò, những buổi chiều sông nước và bao kỷ niệm của những thế hệ từng đi qua nơi ấy.

Sang câu thứ hai – […]  những chiều xưa nhạt nắng vàng – nắng không còn rực rỡ nữa mà đã “nhạt”. Thời gian giờ đây được cảm nhận bằng thị giác, ánh sáng phai như ký ức phai. Cảnh vật hiện tại đã trở thành chiếc gương phản chiếu quá khứ để nhà thơ nhìn vào và thấy những buổi chiều xưa cũ.

Từ cảnh, tác giả tả sang người - Thương ai đứng đợi, người không tới. Nỗi nhớ quê chuyển thành nỗi nhớ một bóng người. “Đợi” và “không tới” đã dựng nên một khoảng cách, thứ khoảng cách mà dặm đường cũng không thể đo được. Vậy, người đã không tới ở đây là ai? Bạn, người thân, hay những người đã đi xa, mãi mãi? Ở đây, có nên chăng người đọc, cũng không cần tác giả phải giải thích cụ thể, rõ ràng. Mà theo tôi, chính sự bỏ ngỏ này, mới làm câu thơ có sức ngân, như tiếng chuông vọng lại từ một nơi mênh mang, xa vắng vậy.

Ngang vai tóc chải suối thời gian – là một hình ảnh rất thơ. Suối thời gian vừa là dòng thời gian, vừa gợi đến dòng Hương Giang, khiến con người và dòng sông như hòa nhập vào nhau làm một.

Sang khổ thơ thứ hai, thiên nhiên cũng mang tâm trạng như người – bóng chiều xuống tơ trời vương ngọn cỏ. Buổi chiều giờ đây đã thành một trạng thái tâm hồn. “Tơ trời”, “ngọn cỏ”, “cánh nắng” tạo nên một thế giới mong manh, nhẹ đến mức tượng chỉ cần một hơi thở là tan. Đó là thế giới của người biết rằng, tất cả đều sẽ rồi mất đi, và vì thế, họ sẽ nhìn mọi thứ bằng một sự trìu mến đặc biệt.

Rồi một tiếng gọi bỗng bật ra – Bốn phương tản mát, hỡi những ai bè bạn. Con người bị thời gian và cuộc đời phân tán khắp bốn phương, mỗi người mỗi ngã. Ngay tại câu thơ này đây, ta thật khó mà không nhớ đến hành trình của cuộc đời Nguyễn Khắc Dương: Hà Tĩnh, Huế, Paris rồi Đà Lạt. Và từ đó, tiếng gọi “hỡi những ai bè bạn” càng dễ gợi lên hình ảnh một con người từng đi qua nhiều miền đất và những người thân quen, nay đã tản mát về nhiều phương trời.

Hương Giang, trở thành nơi quy tụ – Còn nhớ chăng trời mây nước Hương Giang. Dòng sông trở thành ký ức chung, là nơi mà những người xa xôi vẫn có thể tìm về đặng mà gặp lại nhau. Mới hay, quê hương chính là nơi mà những con người vì hoàn cảnh mà phải phân tán, vẫn luôn chung lòng nhớ về.

Kẻ còn sống cũng như người đã khuất bỗng trở nên liền kề. Người đã khuất vẫn hiện diện trong ký ức người đang sống. Quê hương trở thành nơi gặp gỡ của người sống và người chết, một cuộc hội ngộ mà lịch sử không cho phép, nhưng trong cõi lòng nhớ nhung thì hoàn toàn có thể.

Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh Cùng nhau ta soi bóng nước Hương Giang. “Soi bóng” có phải chăng là tự soi mình trong thời gian? Hương Giang soi bóng con người nhưng đồng thời con người cũng soi lại chính cuộc đời mình. Nhìn xuống mặt nước, ta thấy mình, và thấy cả những người đã cùng mình nhìn xuống mặt nước ấy, hôm xưa.

******

III. BÀI THƠ TƯƠNG TƯ

Cảnh cũ còn đây khách vắng đâu

Mình ta vò võ suốt đêm thâu

Xuân Hương sóng gợn vang vang hận

Than Thở thông reo vợi vợi sầu

Khóm trúc gió lay gây nỗi nhớ

Chồi lan sương đẫm gợi niềm đau

Chương Đài lữ thứ chia đôi ngã

Ai có chờ ai đến bạc đầu.

Câu mở đầu của Tương Tư đã dựng nên một kết cấu đối lập quen thuộc trong thơ cổ từ ngàn xưa – Cảnh cũ còn đây khách vắng đâu. Cảnh còn nhưng người thì vắng. Vật còn mà người thì đã đổi. Núi sông vẫn đó mà người xưa không thấy. Cảnh vẫn đẹp, vẫn nguyên vẹn đã làm nổi bật khoảng trống mà người để lại.

Và rồi cái tôi cô độc xuất hiện một cách trực tiếp – Mình ta vò võ suốt đêm thâu. “Mình ta” là một thế giới chỉ còn một người, không có hai. “Đêm thâu” kéo dài cảm giác cô đơn và cảm giác này không có điểm cuối, không có điểm kết thúc. “Vò võ” là trạng thái của người thao thức, không ngủ được, không nói với ai được, chỉ có mình đối diện với mình thôi.

Không gian Đà Lạt hiện ra qua hai địa danh Xuân Hương và Than Thở – Xuân Hương sóng gợn vang vang hận / Than Thở thông reo vợi vợi sầu. Trong khung cảnh thiên nhiên ấy, sóng và thông đều được nhân cách hóa thành tiếng lòng. Thiên nhiên giờ đây là sự cộng hưởng của tâm trạng. Sóng gợn như nhịp thở của người tương tư, thông reo như tiếng thở dài không nói thành lời. Người thơ không nói thẳng nỗi buồn của mình mà đã để cảnh vật nói giúp, nói thay.

Khóm trúc gió lay gây nỗi nhớ / Chồi lan sương đẫm gợi niềm đau – hai hình ảnh tiêu biểu của mỹ học phương Đông. Trúc và lan mang nhiều lớp ý nghĩa: thanh cao, tiết tháo, u nhã, bền bỉ. Trong khung cảnh ấy, sương đẫm trên lan trở thành hình ảnh của nước mắt, của đau thương. Cái đẹp thanh nhã và cái đau âm thầm gặp nhau, làm nên một nỗi buồn lặng lẽ, có phẩm cách.

Điển cố Chương Đài được tác giả cho xuất hiện trong câu Chương Đài lữ thứ chia đôi ngã. Chương Đài vốn gắn với câu chuyện Hàn Hoành và Liễu Thị đời Đường, về sau trở thành một điển cố gợi cảnh chia lìa, nhớ thương giữa người đi và kẻ ở. “Lữ thứ” ở đây nhấn mạnh thân phận người đi xa, người sống ngoài nơi mình thuộc về. Bởi vậy, câu thơ không nhất thiết chỉ nói về tình yêu đôi lứa mà nỗi chia lìa ấy còn có thể mở rộng thành tình người, tình quê, tình bạn, và tình của người xa quê đối với nơi mình từng thuộc về. Tương tư, trong nghĩa rộng, là nỗi nhớ của mọi kẻ bị chia lìa khỏi điều mình thương.

Ai có chờ ai đến bạc đầu – câu hỏi không có lời đáp. “Bạc đầu” biến nỗi tương tư thành một cuộc chờ đợi kéo dài suốt đời. Người ta có thể tương tư một đêm, một mùa, nhưng chờ đến bạc đầu thì đã là chờ cả một đời người. Một đời người, cuối cùng, được nhìn như một cuộc chờ đợi, không rõ chờ ai, chờ điều gì, chỉ biết rằng họ vẫn đang chờ mà thôi.

Mang Chiều Hương Giang đặt kề bên Tương tư, không dưng, bỗng trở thành hai nửa của một nỗi nhớ: nửa ngoài, hướng về quê hương và bè bạn; nửa trong, hướng về nỗi cô độc của riêng mình.

******

IV. BÀI THƠ UY VIỄN TƯỚNG CÔNG

Phong vị hàn nho một chữ nghèo

Bước đường khoa hoạn mấy cheo leo

Kinh luân đầy túi mà dung dị

Trăng gió nghiêng bầu vẫn lược thao

Phú quý công danh xem tợ rác

Thị phi thăng giáng cợt như bèo

Tang bồng hồ thỉ vòng vay trả

Cao vút ngàn thông gió lộng reo.

Bài thơ Uy Viễn tướng công, bài thơ viết về ngài Nguyễn Công Trứ, là gương soi để tác giả Nguyễn Khắc Dương nhìn vào đó mà nhận ra rõ rệt hơn, trí thức là như thế nào.

Phong vị hàn nho một chữ nghèo - “hàn nho” là nhà Nho thanh bần, nghèo vật chất nhưng không vì thế mà nghèo khí tiết. “Nghèo” trong Uy Viễn Tướng Công này, không hề kèm theo nghĩa mặc cảm. “Nghèo” chính là một “phong vị”, một hương vị, gần như một vinh dự vậy. Nghèo vật chất nhưng lại giàu khí phách, đó là dáng dấp đầu tiên của kẻ sĩ.

Bước đường khoa hoạn mấy cheo leo – con đường công danh của kẻ sĩ vốn đầy thăng trầm, lúc lên lúc xuống, lúc nổi lúc chìm, cheo leo. “Cheo leo” là tính từ chỉ vị trí nằm ở nơi cao, dốc đứng, không có chỗ bấu víu hay điểm tựa vững chắc, tạo cảm giác nguy hiểm và dễ bị rơi, ngã.

Kinh luân đầy túi mà dung dị – kẻ sĩ là người có tài trị thế, học rộng, mưu lược, nhưng không phô trương. Tài năng và sự giản dị cùng tồn tại trong một con người. Đây là một phẩm chất khó hơn ta tưởng, vì thường người có tài thì hay muốn người ta thấy tài của mình.

Trăng gió nghiêng bầu vẫn lược thao – kẻ sĩ, phải cùng lúc làm chủ được cả hai phương diện, một bên là văn chương, phong nhã, là trăng gió và chén rượu; một bên là chí khí, hành động, là lược thao, tức tài cầm quân. Kẻ sĩ không chỉ là người biết đọc sách, biết thưởng trăng, uống rượu, mà họ còn là người biết lo việc nước, không quên bổn phận của mình.

Phú quý công danh xem tợ rác – quan niệm xem nhẹ danh lợi này, không hề phủ nhận công danh, vì chính Nguyễn Công Trứ đã theo đuổi khoa cử, để có thể làm quan và lập công. Nếu có phủ nhận, ấy là phủ nhận việc để công danh làm chủ đời mình. Người ta vẫn có thể có công danh mà vẫn không bị công danh sở hữu.

Thị phi thăng giáng cợt như bèo – đây là thái độ của kẻ sĩ trước dư luận và thăng trầm. Bèo lên xuống theo dòng nước, thế nên khen chê, thăng giáng cũng chỉ là chuyện bèo trôi mà thôi. Con người cần giữ lấy tâm, đừng để bị cuốn theo dòng đời, dù dòng đời ấy đẩy mình lên hay kéo mình xuống.

Tang bồng hồ thỉ vòng vay trả – ở đây, ta lại gặp một thành ngữ quen thuộc gắn với chí làm trai và hoài bão lập công danh. “Tang bồng hồ thỉ” vốn gợi đến cung tên, trong đó, cung làm bằng gỗ dâu, tên làm bằng cỏ bồng, về sau trở thành biểu tượng cho chí hướng và trách nhiệm của nam nhi. Trong thơ Nguyễn Công Trứ, chí ấy thường được nhìn như một món nợ phải mang và phải trả, một bổn phận đối với cuộc đời. “Vay trả” vì thế, không chỉ là chuyện công danh, mà còn là ý thức về trách nhiệm của một con người trước thời đại và cuộc sống.

Và bài thơ kết bằng một hình ảnh mang tính biểu tượng – Cao vút ngàn thông gió lộng reo. Cây thông cao, bền, đứng thẳng trước gió, là biểu tượng khí tiết của kẻ sĩ: gió vẫn lộng, thông vẫn reo, thông không hề ngã.

Vì sao tác giả Nguyễn Khắc Dương lại chọn viết về Uy Viễn tướng công? Phải chăng ông tìm thấy nơi Nguyễn Công Trứ một con người khiến ông phải kính trọng – có học, có tài, từng trải, không nô lệ cho danh lợi, giữ khí tiết, sống giữa đời nhưng không để đời làm mất mình? Một người viết chân dung người khác thường viết luôn một phần chân dung của chính mình. Ở đây, nét bút dành cho vị tướng công ấy cũng có thể là nét bút mà tác giả Nguyễn Khắc Dương dành cho lý tưởng của bản thân.

Thế nên, Uy Viễn tướng công có thể xem là một bài thơ về mẫu hình kẻ sĩ, là tấm gương tinh thần mà tác giả muốn noi theo. Nhưng đây mới là một nửa của câu chuyện. Nửa còn lại nằm ở bài thơ kế tiếp dưới đây, nơi kẻ sĩ đương đứng trên cao kia, quyết định bước xuống vỉa hè.

******

V. BÀI THƠ SỞ NGUYỆN

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè

Tấm thân đất chở với trời che

Cảm người bươn chải vòng cơm áo

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe

Trần sắc mười phương đau đớn thấy

Thế âm bốn cõi xót xa nghe

Bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Hành giả dừng chân tạm vỉa hè – “hành giả” ở đây có thể hiểu là người đang trên một cuộc hành trình, nhưng không chỉ là cuộc lữ hành trong không gian mà còn là một hành trình tinh thần của con người. “Dừng chân tạm” hàm ý, cuộc đời không phải nơi cư trú vĩnh viễn mà chỉ là chốn nghỉ chân giữa đường. Và chốn dừng chân ấy chính là “vỉa hè”, vị trí thấp nhứt, bình dân nhứt, khiêm nhường nhứt, là nơi mà mọi người dù sang dù hèn, đều có thể lại qua. Đặt “hành giả” cạnh bên “vỉa hè”, nghĩa là nhà thơ đã tự sắp mình vào hàng của những người bình thường đang đi lại trên đường.

Tấm thân đất chở với trời che – câu thơ mang ý nghĩa, con người thực là nhỏ bé giữa trời đất, thiên địa, đồng thời có thể được đọc như một cảm thức Kitô giáo về thân phận thụ tạo và ý thức về sự hữu hạn của con người. Nhưng dù đọc theo hướng nào, thì cái nhìn của tác giả về con người ở đây vẫn là cái nhìn khiêm nhường: ta còn đứng được đến ngày hôm nay đây, là do được đất chở, được trời che.

Từ cái nhìn về mình, tác giả chuyển sang nhìn người – Cảm người bươn chải vòng cơm áo. Đây là cái nhìn của một trí thức không quay lưng với tầng lớp bình dân. “Cơm áo” này, đã kéo triết học từ giảng đường xuống đường phố. Người từng học ở Sorbonne, từng dạy triết ở đại học, nay lại chú ý đến chuyện bươn chải kiếm sống của những con người bình thường. Đó là một sự chuyển hướng không nhỏ: từ những vấn đề của tư tưởng sang những vấn đề của bữa cơm manh áo.

Thương kẻ bôn ba nhịp ngựa xe – từ “cảm”, tác giả đi đến “thương”. Cảm là biết, là nhận ra. Thương là đi thêm một bước, là đồng cảm, là để nỗi đau của họ chạm vào mình. Nhà thơ không chỉ quan sát cuộc đời như một người đứng ngoài, mà ông bước vào để cùng đứng chung với nó.

Trần sắc mười phương đau đớn thấy / Thế âm bốn cõi xót xa nghe – từ những con người cụ thể trước mắt, tác giả đã mở rộng cái nhìn ra toàn bộ cõi đời. Thị giác và thính giác, giờ đây, cùng làm việc: “đau đớn thấy”, “xót xa nghe”. Nhà thơ không chỉ thấy bằng mắt mà còn nghe bằng tâm. Mắt và tai ở đây đều thành phương tiện của lòng thương xót. Bạn đọc thơ, hẳn sẽ thấy thấp thoáng trong hai câu này hình ảnh của một người biết lắng nghe tiếng than của thế gian, để rồi xót xa và thương cảm.

Sau khi mở rộng ra tận “mười phương”, Sở nguyện quay về với sự hữu hạn – bao giờ cát bụi hoàn nguyên thể. “Cát bụi” gợi lên thân phận hữu hạn và cái chết của con người, nhưng “hoàn nguyên thể” dường như không chỉ đơn giản là trở về với cát bụi, mà còn gợi một sự trở về với nguyên thể, với phần sâu xa và chân thật nhất của kiếp người. Điều này khiến người đọc có thể nhớ đến thân phận thụ tạo và niềm tin Kitô giáo về con người trong tương quan với Thiên Chúa. Nhưng tôi thì lại thích đọc chỗ này như một giao thoa Đông Tây. Nghĩa là, “cát bụi” của tác giả Nguyễn Khắc Dương vừa mang âm hưởng của lời nhắc trong truyền thống Kitô giáo, vừa mang sắc thái của cái nhìn Đông phương về sự hữu hạn, tan hợp và trở về của thân xác.

Câu kết – nguyện lót chân êm khách vỉa hè – chính là linh hồn của toàn bộ bài thơ. Tác giả không ước mình được giàu sang hay danh vọng, hay được lưu vào sử sách như một tượng đài. Ông chỉ xin được hoàn thành một điều nhỏ nhoi, đó là giúp bộ hành, bước chân đi của họ được trên đường đời được bớt đớn đau. Một đời người học triết, dạy triết, đi qua những nền văn hóa lớn, cuối cùng chỉ mong mình trở thành một chút bụi lót cho êm chân người khác. Đó không phải sao, là sự hạ mình của trí tuệ trước tình thương bao la, bất tận, dành cho kiếp người lầm than, đau khổ?

“Hành giả” trong Sở nguyện, vì thế, với tôi, không chỉ là một tuyệt tác của thơ ca, mà tôi còn đọc ra, “hành giả” chính là một tự họa của Thầy Nguyễn Khắc Dương, một chân dung của người đi, người học, người tìm kiếm, người giảng dạy, người sống giữa những nền văn hóa, và cuối cùng là người có ước muốn – được trở thành một người phục vụ.

******

VI. NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ

Chiều Hương Giang nhớ quê hương, nhớ người. Tương tư nhớ một bóng hình, đối diện cô độc. Uy Viễn tướng công suy tư về người kẻ sĩ, khí tiết và bổn phận. Sở nguyện từ cái tôi bước ra nhân thế, từ suy tư bước vào lòng thương. Từ nhớ đến thương; từ thương đến nguyện. Đó là trục tư tưởng chạy suốt bốn bài thơ, và cũng là trục chạy suốt một đời người.

Nguyễn Khắc Dương là con người của nhiều miền văn hóa. Nho giáo đến với Thầy từ gia phong. Phật giáo hiện ra như một hấp lực tinh thần trên hành trình tìm kiếm. Lão Trang mang đến cảm thức về tự do, thanh đạm, siêu thoát. Kitô giáo là đức tin, tình yêu, lòng thương xót. Triết học Tây phương là lý tính, là thói quen tự vấn, là nỗi truy tìm chân lý. Nhiều tư liệu viết về cuộc đời Thầy đều nhấn mạnh tính chất đa văn hóa và hành trình tìm kiếm giữa những xung đột của các truyền thống tư tưởng ấy. Đỗ Lai Thúy từng gọi Nguyễn Khắc Dương là một người “tìm mình qua những xung đột văn hóa”, và nhận định rằng trong Thầy, các nền văn hóa khác nhau không ngừng gặp gỡ, va chạm và được hóa giải.

Nhưng đứng giữa ở đây, không có nghĩa là trộn lẫn, là xóa hết dị biệt giữa Công giáo và các truyền thống khác. Với tôi, khi tìm hiểu về cuộc đời Nguyễn Khắc Dương, thì Thầy là một người đã cố gắng đối thoại, hòa nhập và diễn giải đức tin Kitô giáo trong không gian văn hóa Việt Nam, đến mức những truyền thống Nho, Phật, Lão và triết học Tây phương, đều cùng hiện diện trong cách Thầy suy tư về con người. Sự khác biệt vẫn còn đó và điều Thầy làm được là để chúng cùng lên tiếng trong một tâm hồn.

Nói một cách khác đi, Thầy Nguyễn Khắc Dương là người thầy nhiều hơn là người xây dựng một hệ thống. Qua những bài giảng còn lưu lại và trong ký ức của người từng là học trò của Thầy, từng biết Thầy, có thể thấy Thầy không chỉ truyền đạt triết học, mà còn khơi dậy nơi người học thói quen tự vấn và khả năng nhìn một vấn đề từ nhiều phía. Thầy không vội biến triết học thành một hệ thống khép kín. Với Thầy, triết học dường như là một cuộc hành trình tự vấn. Thế cho nên, hình ảnh “hành giả” trong Sở nguyện, với tôi, chính là hình ảnh của một người Thầy, mà đến tuổi 102 rồi, vẫn mang dáng dấp của một người đi, người hỏi và người học.

Trong Uy Viễn tướng công, kẻ sĩ là người đứng ở trên cao, giữ khí tiết, coi nhẹ phú quý công danh. Nhưng đến tới Sở Nguyện, thì hành giả đã tự hạ mình mà bước xuống tận vỉa hè. Từ kẻ sĩ đến người phục vụ, hai hình ảnh tưởng đối lập nhưng thật ra lại gặp nhau ở một điểm: không sống cho danh lợi của chính mình. Một bên là khí tiết, một bên là lòng thương; một bên là giữ mình, một bên là dâng hiến. Và cả hai đều dẫn tới một quan niệm về phẩm giá con người: phẩm giá không nằm ở chỗ ta đứng cao bao nhiêu, mà ở chỗ ta không để điều thấp hèn sai khiến, và ta sẵn sàng cúi xuống vì người khác.

“Một chữ nghèo” trong Uy Viễn tướng công; “vỉa hè”, “cát bụi” trong Sở nguyện, ba hình ảnh này có thể kết thành một tư tưởng: con người càng không bị danh lợi trói buộc sẽ càng có tự do để sống cho điều mình tin là đúng. Từ tư tưởng này, mở ra một loạt khái niệm mà cả đời Thầy Nguyễn Khắc Dương dường như đã tự vấn và luôn thực hành: lương tâm, tự do, phẩm giá, trách nhiệm, bổn phận. Cái nghèo mà Thầy nói đến, không phải là cái nghèo bị áp đặt, mà là sự thanh bần được chọn, để mình được nhẹ nhàng và thẳng thớm hơn.

Người ta thường biết đến Thầy trong vai trò một người Thầy triết học, một trí thức Công giáo và một người sống sâu với đức tin. Nhưng ở nơi Thầy, những suy tư về Thiên Chúa và con người, không chỉ nằm trong những khái niệm. Đức tin ấy đã đi vào thơ bằng lòng thương xót, bằng niềm đau trước nỗi khổ của nhân thế, bằng sự khiêm nhường, bằng ý thức thân phận, bằng sự phó thác, bằng hy sinh và phụng hiến. Hãy nghe lại hai câu thơ:

Trần sắc mười phương đau đớn thấy

Thế âm bốn cõi xót xa nghe

Và:

Nguyện lót chân êm khách vỉa hè.

Để thấy, thần học ở đây, với cách đọc của tôi, không nói về Thiên Chúa bằng những mệnh đề cao siêu mà đi vào hình ảnh một con người biết cúi xuống trước nỗi đau của đồng loại. Từ đó, bạn đọc thơ có thể tự trả lời cho câu hỏi, phải chăng, sự kỳ diệu của bộ môn thần học, không chỉ nằm ở những điều người ta nói về Thiên Chúa, mà còn nằm ở cách một con người đối xử với nỗi đau của đồng loại như thế nào.

“Hành giả”, chính là hình tượng bao trùm toàn bộ chân dung Thầy Nguyễn Khắc Dương. Thầy là người đi giữa quê hương và tha hương; giữa Nho giáo và Kitô giáo; giữa Đông và Tây; giữa triết học và đức tin; giữa giảng đường và đời sống; giữa cô độc và tình người; giữa thời gian và vĩnh cửu. Và cuối cùng, hành giả Nguyễn Khắc Dương, đã dành cả cuộc đời đi tìm, để rồi trở về với một lời nguyện nhỏ.

Nhiều người từng là học trò, từng gặp gỡ và quen biết, thường nhấn mạnh những điều đặc biệt gây ấn tượng ở nơi Thầy: không chỉ kiến thức uyên bác mà còn là sự giản dị, thanh bần, gần gũi, lòng nhân ái, sự tự vấn và trách nhiệm của người Thầy Nguyễn Khắc Dương. Những tư liệu về Thầy cũng nhiều lần ghi lại những nét giản dị ấy. Một tâm hồn lớn nhưng chọn một đời sống nhỏ: đó dường như là cách Thầy sống, trước khi là cách Thầy viết.

Đến hôm nay, khi đã bước vào tuổi 102, vẫn còn nguyên nơi Thầy, hình ảnh của người đi, người hỏi và người học. Và chính những thế hệ học trò đã từng gặp Thầy, học Thầy, họ vẫn đương tiếp nối, cũng như mang theo một phần hành trình ấy trong cuộc đời của họ.

Vào ngày này, lời chúc thông thường dường như không đủ, tôi xin biến nó thành lời tri ân. Tri ân một người Thầy. Tri ân một người đã dành bằng hết cuộc đời mình cho việc học tập và giáo dục. Tri ân một “hành giả” đã đi qua nhiều nền văn hóa. Tri ân một con người vẫn giữ được lòng thương xót người sau một hành trình dài với rất nhiều khổ đau. Tôi xin được gọi tên hành trình đó là một thế kỷ đi tìm chân lý và một lời nguyện ở lại với con người.

Và sau tất cả những điều mà bài cảm nhận hôm nay của tôi đã viết, về Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, Kitô giáo, triết Tây phương, kẻ sĩ, trí thức, người thầy, hành giả, lương tâm, tự do, phẩm giá, trách nhiệm, lòng thương xót…, cuối cùng, chỉ xin được thu về, gói trọn trong lời khấn nguyện nhỏ nhoi của hành giả Stêphanô Nguyễn Khắc Dương:

NGUYỆN LÓT CHÂN ÊM KHÁCH VỈA HÈ!

Sài Gòn 26.09.2026

Cung Tích Biền: từ sân chùa tới văn học chủ hòa

 Phan Tấn Hải

Nhà văn Cung Tích Biền

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ – chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa Sài Gòn, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

Vĩnh biệt hành giả Stéphane Nguyễn Khắc Dương

 Tino Cao

Mới bốn ngày trước, 24 tháng Chín, những người từng học, từng đọc, từng kính trọng một đời trí thức và đức tin còn gửi về Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương những lời mừng thọ tuổi 102. Một trăm lẻ hai năm, quãng đời hiếm có của một con người đã đi qua gần trọn những biến thiên lớn nhất của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20 và những thập niên đầu thế kỉ 21. Những lời chúc ấy tưởng còn nguyên hơi ấm, thì tối thứ Hai, ngày 28 tháng Chín năm 2026, lúc 20 giờ 15 phút, Thầy Stéphane Nguyễn Khắc Dương đã được Chúa gọi về nhà.