Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Một cú đánh đẹp!

 Lê Huyền Ái Mỹ

Ba cơ thủ pool của Việt Nam là Dương Quốc Hoàng, Nguyễn Anh Tuấn và Lê Quang Trung đã quyết định rút khỏi giải đấu Peri Laili Cup 2026 (được tổ chức ở đảo Hải Nam, Trung Quốc từ ngày 26 đến 30-4) vì giải đã sử dụng logo đường lưỡi bò – vi phạm nghiêm trọng tới chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

Nhớ tới quê nhà một thời nước mắt

Đọc thơ: Vẫn sống cùng ngụ ngôn

 Phan Tấn Hải

Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn sống cũng ngụ ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.

Nỗi buồn đó ghi trong bài thơ Tiếc thương nơi trang 71, do Trần Đình Sơn Cước viết từ Chicago năm 2021, để tưởng nhớ K. (độc giả không thể đoán là ai, dĩ nhiên, chỉ trừ tác giả và vài người ở Huế) với dòng chữ ghi chú “Xuân Mậu Thân 1968” hẳn là ám chỉ người tên K. chết trong trận này, trích bốn dòng cuối bài thơ:

Đạn bom chôn một mối tình

Vùi trong đất mẹ tuổi bình minh xuân...

Vườn xưa hoa nở mưa dầm

Hải đường nắng ải đỏ bầm cố nhân.

(VSCNN, trang 71)

Thế hệ trẻ lớn lên trong thời quê nhà thống nhất sẽ không hiểu đầy đủ về thơ của hai thi sĩ gốc Huế này, vì bối cảnh trưởng thành khác hẳn nhau. Nỗi buồn của văn nghệ sĩ gốc Huế trước 1975 là một thứ văn hóa ẩn sâu trong da thịt xương tủy. Nó kết tinh tự nhiên từ nền văn hóa cố đô Huế, nơi tụ hội các học giả xuất sắc nhất thời phong kiến hòa lẫn vào nghi lễ triều đình, nơi thói quen hoàng tộc được giữ gìn kỹ càng ngay cả trong dân gian hai bờ Sông Hương, ở cả nơi chợ, hè phố... Chính vì là cố đô, nên khi sức mạnh văn hóa chuyển vào Sài Gòn, thủ đô mới của Miền Nam, sự tan rã (hay chuyển đổi) của nền văn hóa đầy chất quý tộc dần dần mang sức sống mới, pha một nét giang hồ Sài Gòn hơn, để thành một nỗi buồn u hiển đầy năng động, điển hình như truyện và thơ Nhã Ca, thơ và tranh Đinh Cường, nhạc và thơ Trịnh Công Sơn (lời nhạc cũng đầy chất thơ), và nhiều người khác.

Các văn nghệ sĩ trẻ hơn từ Huế, trong đó có hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước cũng ghi lại theo cách riêng, rất kín đáo, trên trang giấy với nỗi buồn trí thức và với nỗi đau tận cùng của một dân tộc trong cơn binh lửa. Họ đã dùng ngòi bút để phần nào ghi lại một thời kỳ mà cái chết và sự ly tán hiện hữu trong từng hơi thở. Nhưng họ viết rất kín đáo, sẽ không có nhiều độc giả nhận ra hai nhà thơ ám chỉ tới những người đàn anh và bạn hữu ở Huế đã ly tán thế nào.

Trong bài Tựa (dài 10 trang, từ trang 9 tới 19) do nhà thơ Ý Nhi viết nơi đầu tập thơ, có một đoạn nói về nỗi buồn này, trích:

Trong một trao đổi qua thư điện tử ngày 8/7/2025, Trần Đình Sơn Cước viết cho tôi: ‘Vẫn sống cùng ngụ ngôn’ phủ đầy kỷ niệm một thế hệ các anh văn nghệ sĩ mà chúng tôi yêu mến và cảm phục. Họ để lại dấu ấn sâu đậm trong chúng tôi nói riêng, và thế hệ chúng tôi nói chung. Họ là Ngô Kha, Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường... Vẫn sống cùng ngụ ngôn là tâm ý tôi muốn nhắc nhớ về họ, lấy cảm xúc từ tập thơ nhan đề Ngụ ngôn người đãng trí của Ngô Kha...” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 14)

Nhà thơ Ý Nhi nhận ra rằng trong thơ Trần Đình Sơn Cước có thể nhìn như một tập lưu ảnh (chữ trong ngoặc đơn là các tựa đề bài thơ), viết trong bài Tựa, trích:

Bên cạnh Đinh Cường, Bửu Chỉ, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Ngọc Biên... là Diễm Châu (Cổ vật), là Lê Khắc Cầm (Lời nguyện), là Nguyễn Ngọc Lan (Chứng ngôn), là Chân Tín (Sám hối), là Nguyễn Hữu Doãn (Tưởng niệm), là Bùi Chánh Thời (Hóa thân), là Mai Thái Lĩnh (Lời của thác), là Nguyễn Thanh Văn (Chén đắng), là Đoàn Thanh Liêm (Yên nghỉ) rồi ĐT, Hà Thủy, Ngữ An, rồi Vũ Hùng, K, Palh... Và rồi, sau tất cả, giữa bao nhiêu khuôn mặt, ta nhận ra khuôn mặt hằn vết ưu tư của người gìn giữ tập lưu ảnh: nhà thơ Trần Đình Sơn Cước. Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè.” (VSCNN, Tựa của Ý Nhi, trang 17)

Trong tên của các nhân vật ghi trên, bản thân người điểm sách hân hạnh có giao tình với họa sĩ Đinh Cường và luật sư Đoàn Thanh Liêm. Trong khi chúng ta có thể nhìn họa sĩ Đinh Cường (1939-2016) như người giấu được nỗi đau phân ly để tập trung vào sáng tác thuần túy với nét đẹp của tranh và thơ, luật sư Đoàn Thanh Liêm (1934–2018) lại là một mẫu người quân tử thời ly loạn, tuy tốt nghiệp trường Sĩ Quan Thủ Đức khóa 13, làm việc với cương vị Luật sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn và nổi tiếng về các chương trình biện hộ miễn phí cho người nghèo oan ức, nhưng nhiều lần từ chối di tản năm 1975 để ở lại cùng với dân tộc.

Tháng 2 năm 1990, LS Đoàn Thanh Liêm đưa ra bản Tuyên Bố 5 Điểm trong đó kêu gọi nhà nước  hãy hòa hợp hòa giải, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tôn giáo... Nhà văn Phạm Phú Minh kể lại trên Đài VOA rằng, sau khi rời nhà tù Cộng sản năm 1988, về cư trú ở Sài Gòn, thỉnh thoáng lại gặp LS Đoàn Thanh Liêm, và trong bầu không khí Đông Âu sụp đổ đầu năm 1990 được LS Liêm đưa cho bản  văn tựa đề Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản... Hiển nhiên, trong thời nhà nước CSVN siết bàn tay sắt hậu 1975, bản văn đòi nhân quyền của LS Đoàn Thanh Liêm chính là một bài thơ viết bằng sinh mạng của chính mình để rồi bị lãnh án 12 năm tù, và rồi bị trục xuất sang Mỹ năm 1996. Các năm sau đó, tôi vẫn thường nhìn thấy LS Đoàn Thanh Liêm đi lững thững mỗi buổi trưa trên đường Moran, thị trấn Westminster, và Luật sư Liêm vẫn thường ghé thăm tòa soạn Việt Báo để hỏi tôi (một nhà báo khá khù khờ) về chuyện quê nhà.

Trần Đình Sơn Cước có bài thơ tựa đề Yên nghỉ để tưởng niệm LS Đoàn Thanh Liêm, so sánh cuộc đời của vị luật sư nhân quyền này hệt như một tách “nhạc Jazz” làm say lòng người, dài bốn câu:

"A morning cup of Jazz"

Điệu Blues hóa chén trà lưu vong

Chén trà tiễn một lương tâm

Mùi hương theo gió thổi nhằm tim ta...

(VSCNN, trang 70)

Một khuôn mặt cực kỳ thơ mộng hiện ra nhiều lần trong tập thơ Vẫn sống cùng ngụ ngôn là họa sĩ Đinh Cường, một người cố gắng tách rời các khuynh hướng chính trị của thời đại và bạn hữu để tập trung vào nghệ thuật. Đinh Cường có các phụ bản tranh ở trang 43, trang 116, trang 130, và có hai bài thơ trong phần Phụ Lục trong đó nhắc tới suy nghĩ, kỷ niệm của họ Đinh với Trần Đình Sơn Cước, Trần Kiêm Trinh Tiên, Hoàng Ngọc Biên và Lữ Quỳnh.

Điểm ghi nhận, thi tập cũng được giúp từ bàn tay của một người con Đinh Cường là Đinh Trường Giang – người trình bày bìa, có các phụ bản tranh ở trang 21, trang 24 (Chân Dung Họa Sĩ Đinh Cường).

Trong bài thơ tựa đề Kỷ Niệm, dài 3 trang, Trần Đình Sơn Cước đề tặng Đinh Cường, trong đó hai khổ thơ đầu ở trang 53 ghi những dòng chữ có thể hiểu như là nói về thành phố Huế với cây cầu gãy, với cổ thành đổ nát, có thể hiểu là từ trận Mậu Thân 1968, trích:

Khi tôi lớn lên

Các anh như bầy chim di

Trốn xa thành phố

Bỏ lại giòng sông những sáng sương mù

Cây cầu gãy và cổ thành đổ nát

Hàng long não với gió chiều nhả nhạc

Bông Sầu Đông tím lặng

Chờ ai

  

Khi tôi lớn lên

Các anh như huyền thoại

Xao xuyến lòng các cô gái đôi mươi

Những chàng trai ôm giấc mộng đổi dời

Mơ các anh

Như mơ thần tượng

(VSCNN, trang 53)

Trong phần Phụ Lục còn có hai bài thơ của Trần Hoàng Phố, và một bản dịch bài Một thời sang tiếng Anh do dịch giả Hoàng Thạch Thiết thực hiện.

Nơi trang bìa sau là trích lời Tựa của nhà thơ Ý Nhi, trích:

Trong giòng chảy chậm rãi, thâm trầm, đượm buồn, thơ Trần Kiêm Trinh Tiên phải chăng là hành trình đi tìm "Những lời ca thơ/ Đẹp như nước mắt", là niềm mơ ước được viết Bài tâm khúc nhiều nốt lặng lên bầu trời khuya mênh mông kia..." (Tựa, Ý Nhi)

Cũng như:

"....Có thể nói, thơ Trần Đình Sơn Cước là cuộc tìm kiếm một câu trả lời cho sự lựa chọn chí hướng của mình và bạn bè. Những câu hỏi day dứt, xót xa từng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ anh.” (Tựa, Ý Nhi)

Tập thơ có nhiều phụ bản của các họa sĩ: Bửu Chỉ, Đinh Cường, Hải Bằng, Hoàng Ngọc Biên, Lữ Kiều, Đinh Trường Giang. Trong đó, có một phụ bản của Bửu Chỉ nơi trang 102 làm tôi khựng lại nhiều lần để nhìn. Tấm tranh này của Bửu Chỉ với nhan đề Nội chiến có hình một quả trứng gà màu trắng đã vỡ nửa trên, hiện ra hai người gầy gò như các cọng tăm với các chân còn đứng trong nửa quả trứng chưa vỡ ra hết đang cung tay đánh nhau. Phía trên cao trông như là hai vầng trăng, một màu trắng và một màu đỏ. Phải chăng đó là lịch sử quê nhà? Và bây giờ, chưa nguôi nỗi đau?

 

Phụ bản Nội chiến của Bửu Chỉ, trang 102.

Hình ảnh rất buồn đó được gợi nhớ, qua bài thơ hai đoạn sau đây của Trần Kiêm Trinh Tiên sáng tác năm 2019, với tựa đề in chữ hoa:

BỨC TRANH CHIỀU 30-4

Bao thuốc lá ai đánh rơi

Điếu thuốc kéo ra lưng chừng

Nằm lại bên thềm nắng

Chiều Ba Mươi Tháng Tư

 

Bức tranh ba chiều

Màu xám tối tràn xuống bậc thềm

Màu vàng nắng ải

Tuổi trẻ ai đánh rơi trên ngọn cây cụt đầu

Hạnh phúc ai để lại đằng sau

Người tình nhỏ vừa ra đi đúng Ngọ

Mảnh pháo năm im trong tim

Kỷ vật sau cùng, chiến tranh gửi lại

Chiều Ba Mươi Tháng Tư.

(VSCNN, trang 39)

Tương tự, trong bài thơ dài ba trang tựa đề Cổ vật sáng tác năm 2020 để tưởng nhớ Hoàng Ngọc Biên (1938-2019), nhà thơ Trần Đình Sơn Cước viết ở hai đoạn cuối, trích:

Chiều 30 ấy úa vàng

Bao thuốc rớt lại

vỡ tan

một thời...

 

Hình như

có giọt lệ rơi

Mộng xưa

đọng mãi tim người lưu vong

Một thời lãng mạn bão giông

Hóa thành tĩnh vật

trơ cùng tháng năm...

(VSCNN, trang 58)

Trong bầu trời quê nhà đầy giông bão như thế, hình ảnh các bà mẹ hiện lên gày gò, tội nghiệp. Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ dài 6 đoạn viết năm 2012, tựa đề Chiều Sausalito tiễn mẹ, ghi lại, trích ba đoạn thơ cuối bài là:

Nhớ xưa mẹ ôm đàn con vượt biển

Đất nước bạc tình mẹ tìm cửa tử

Ba nằm lại nơi trại tù Bắc Việt

Phút lâm chung mơ viên kẹo cầm tay

 

"Tháng Tư" về mẹ nếm đủ đắng cay

Thân gầy. Trắng tay. Mẹ xoay. Mẹ xở

Ngăn nước mắt mẹ xin Trời cứu khổ

Bước chân liều qua sóng dữ trùng dương...

 

Biển chiều nay lại tiễn mẹ lên đường

Bao giận thương tan cùng nắng gió

Nhìn bụi tro bập bềnh trên sóng vỗ

Chúng con cúi đầu tiễn mẹ đi xa.

(VSCNN, trang 82)

Thăm cha trong tù là một hình ảnh thường thấy trong thời sau 1975. Nhưng trước đó gần 20 năm thì... Nhà thơ Trần Đình Sơn Cước trong bài thơ sáng tác vào tháng 4/2018 tựa đề Mẹ tôi, chỉ dài 8 dòng, viết như sau, với ghi chú rằng mẹ từng đi tù theo Đạo Luật 10/59 (thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, nhiều người Việt Minh về thành bị giam vì nghi ngờ), như sau:

Năm xưa nhớ mẹ đi tù

Bầy con thơ dại lù mù tuổi thơ

Trưa hè chị dắt thăm nuôi

Mo cơm bới với cục đường mẹ ơi!

 

Ôm tôi. Nước mắt mẹ trào

Mẹ nhai cơm khống. Cục đường cho con

Mẹ tôi. Nay đã không còn

Cục đường lòng mẹ. Ngọt hoài lòng con.

(VSCNN, trang 83)

Và lòng mẹ lúc nào cũng thương con. Trong bài thơ Biển đau, ghi rằng để tưởng nhớ hai em T & T, Trần Đình Sơn Cước viết:

Thả bông hồng trôi vào biển khơi

Xác em nơi mô hồn em đâu

Lòng mẹ quặn đau trời bão gió

Sóng biển chiều nay phủ oán sầu

(VSCNN, trang 87)

Trong bài thơ dài 2 trang, tựa đề Sám hối, viết năm 2015, để tưởng nhớ Linh mục Chân Tín, Trần Đình Sơn Cước viết, trích:

Vết thương Quốc, Cộng

Vết thương thắng, bại

Vết thương trong, ngoài

Vết thương từ trái tim ngăn ngại

(VSCNN, trang 91)

Để rồi bài thơ tựa đề Lụi tàn để tưởng nhớ nhà thơ Trần Vàng Sao, Trần Đình Sơn Cước đã viết, trích:

Thế hệ chúng tôi

Thế hệ chiến tranh

Hận thù, tàn phá

Những đứa con tài hoa của Huế

(VSCNN, trang 96)

Thế đó. Các văn nghệ sĩ thờ kỳ đó, dù ra đời và trưởng thành ở Huế, hay Sài Gòn, hay Cần Thơ... đều có những sự đứt gãy, không chỉ ở văn hóa, lịch sử mà có khi ở cả sinh mạng. Có những người thoát chết và rồi im lặng trọn phần đời còn lại. Có những người lên tiếng, nhưng đời họ chỉ còn là các bản tình ca dang dở: họ là các mảnh vỡ của gương soi, dù có dán lại được bằng bất kỳ loại keo, hay hồ nào thì cũng vẫn hằn lên các vết nứt.

Thơ của Trần Đình Sơn Cước và Trần Kiêm Trinh Tiên có nét trầm mặc, cùng mang phong cách kín đáo, ưu tư và trí thức kiểu Huế. Thơ của họ là chữ đượm các nỗi buồn lặng lẽ. Ngay cả khi họ viết xuống giấy thành thơ, các nỗi buồn cũng là những phảng phất mơ hồ, không dễ được hiểu minh bạch, nếu độc giả không có đủ kiến thức về một thời nội chiến, nơi bất kỳ chiếc cầu gãy nào cũng là những trận mưa nước mắt cho các bà mẹ của cả hai miền. Tập thơ in tại Hoa Kỳ vào tháng 3/2026, không ghi địa chỉ liên lạc.

 

Noor Hindi: Thơ cho một đất nước đã mất

 Phan Tấn Hải

Các sinh viên Đại học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả – hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?

A Gorilla Story – bài điếu văn sống

 Lê Hồng Lâm

“Có nhiều ý nghĩa và sự thấu hiểu lẫn nhau trong một cái nhìn trao đổi với khỉ đột so với bất kỳ loài vật nào khác mà tôi biết.” – David Attenborough nhìn vào máy quay và nói như thế.

Đó là một trong những khoảnh khắc xúc động nhất từ bộ phim tài liệu A Gorilla Story mới air trên Netflix khi chỉ còn vài tuần nữa, cụ bước sang tuổi 100. Còn ai trên thế giới này nói điều đó đáng tin cậy hơn cụ?

Gần nửa thế kỷ trước, vào năm 1978, David Attenborough gặp một đàn khỉ đột núi ở Rwanda trong quá trình thực hiện loạt phim tài liệu Life on Earth của BBC – chương trình đặt nền móng cho cách người ta làm các bộ phim tài liệu về động vật hoang dã ngày nay. Trong cuộc gặp gỡ đó, những chú khí đột leo trèo lên người David (lúc đó mới ngoài 50) và cùng đùa vui tinh nghịch.

Gần 50 năm trôi qua, những hình ảnh đó vẫn cực kỳ ấn tượng và là nguồn cảm hứng cho một bộ phim tài liệu mới dưới sự đạo diễn của James Reed – nhà làm phim từng đoạt giải Oscar với bộ phim tài liệu xuất chúng My Octopus Teacher và Leonardo DiCaprio trong vai trò giám đốc điều hành.

James Reed đã khéo léo đan xen những hình ảnh từ footage và những cảnh quay mới – ghi lại một đại gia đình gorrila đang ngày càng đông lên nhờ công tác bảo tồn rất tốt ở châu Phi sau một giai đoạn chúng bị săn trộm và đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.

Cho dù mỗi con khỉ đột đều có tên riêng, thật khó để nhận diện chúng vì quá giống nhau. Nhưng thông qua phần dẫn chuyện tuyệt vời của David và những hình ảnh (không hiểu bằng cách nào) ghi lại được cực kỳ sống động, ta sẽ thấy được thế giới của loài gorilla này diễn ra cũng vô cùng khốc liệt với những màn phô trương sức mạnh, tranh giành quyền lực, bạo lực, trả thù... không kém gì thế giới của con người. Một con gorilla đực tên Imfura khỏe mạnh bị Ubwuzu – một kẻ mới lên nắm quyền và khá tàn bạo – đuổi đánh khỏi đàn. Imfura sau đó lợi dụng Ubwuzu đang “hú hí” với nhân tình, quay lại đàn và giết chết con của hắn. Màn trả thù ấy tạo nên những chất liệu kịch tính không kém gì một bộ phim của Hollywood.

Khoảnh khắc David Attenborough hồi ức lại những kỷ niệm đẹp về đàn gorilla gần 50 năm trước, trong đó có Pablo – con khỉ đột trưởng thành thành một con đực đầu đàn dũng mãnh, trước khi bị giết ở tuổi 33 khi bảo vệ gia đình khỏi một nhóm đối thủ cũng là một khoảnh khắc xúc động khác, khi cụ khép lại đoạn hồi ức bằng câu nói, “I will never forget him”.

A Gorilla Story không chỉ là một phim tài liệu về động vật, mà gần như là một “bài điếu văn sống” cho cả thiên nhiên lẫn chính David Attenborough. Nó chạm vào những tầng rất sâu về thời gian, ký ức, bạo lực, và cách con người nhìn vào tự nhiên để hiểu chính mình.

Ở bộ phim tài liệu tuyệt vời này, Attenborough không chỉ là nhà tự nhiên học, như cụ đã từng trong hơn nửa thế kỷ qua, và vẫn tiếp tục, cho dù sắp bước sang tuổi 100.

Cụ trở thành một “người lưu trữ ký ức của hành tinh”.

Mỗi lần xem bất cứ một bộ phim tài liệu nào về thiên nhiên và động vật hoang dã, tôi đều có cảm giác như nghe một cụ tiên ông kể chuyện vậy.

David Attenborough chơi đùa với những chú gorilla cách đây gần nửa thế kỷ (1978). Những thước phim này có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao ý thức bảo tồn loài động vật hoang dã này trước nạn săn trộm khiến chúng đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

RẤT NHỎ và RẤT LỚN

 Lê Học Lãnh Vân

 

Tôi phấn chấn nhìn vào Kỷ Nguyên Mới đang đi tới.

Kỷ nguyên mới ấy, theo tôi, chắc hẳn là kỷ nguyên dân tộc vươn mình, quốc gia cất cánh! Hòa bình đã trên năm mươi năm rồi, các thực thể lãnh thổ Hàn Quốc, Đài Loan, từng đồng vai phải lứa với Việt Nam, chỉ cần khoảng hai mươi lăm năm là cất cánh!

Bùi Vĩnh Phúc: Phê bình Văn học như là một hành động của tình yêu

 Trịnh Y Thư


1. Nhà Phê bình Văn học, anh là ai?

Làm thế nào để viết về một nhà phê bình văn học? Đó là câu hỏi lởn vởn, thậm chí quay quắt, trong trí óc tôi từ lúc được tin tạp chí Ngôn Ngữ, một tạp chí chuyên đề văn học có uy tín lớn xuất bản và lưu hành ở hải ngoại, dự định thực hiện một ấn bản đặc biệt về nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc, và tôi có ý định tham gia, đóng góp cái gì đó cho số báo ấy. Tham gia vì giữa tôi và Bùi Vĩnh Phúc chẳng xa lạ gì nhau. Sự thật là chúng tôi đã có mối giao tình văn chương từ rất lâu khi cùng sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật từ những năm đầu thập kỷ ’80 thế kỷ trước. Lúc đó anh là cây bút chủ lực của tờ tạp chí Văn Học do nhà văn Nguyễn Mộng Giác biên tập và điều hành. Thoạt đầu anh được biết đến với những bài tùy bút và thơ, nhưng dần dà, không rõ do một cơ duyên nào, anh bước sang lãnh vực Phê bình Văn học, và từ đó cho đến nay, không thể hoài nghi hay chối cãi được, anh nghiễm nhiên được xem là một trong số rất ít, rất hiếm hoi các cây bút phê bình đúng nghĩa và sắc bén nhất của văn học Việt Nam hải ngoại.

Tháng Tư

 Nguyễn Đức Tùng

Tháng tư đi qua như một lưỡi dao.

Mùa hè năm 1975, trong công viên có nhiều cây cao bóng mát trước dinh Độc Lập về phía nhà thờ Đức Bà, tôi gặp một người đàn ông áo quần rách rưới, ngồi trên băng ghế đá. Vì chung quanh không còn chỗ nào, tôi ngồi ghé vào một đầu băng ghế. Cả hai làm thinh. Lắng nghe trên ngọn cây tiếng ve kêu ran lần cuối. Bốn giờ chiều, thế gian trống rỗng, vàng vọt, vô nghĩa. Nhiều năm sau, khi nhớ lại, tôi tin chắc đó là Bùi Giáng. Lúc ấy tôi không kịp biết thế. Chúng ta không biết sự kết thúc. Lẽ ra chúng ta phải biết trước kết thúc ấy, nhưng chúng ta không biết. Không ai, từ bất kỳ phía nào của chiến tranh, bên thắng và bên thua, biết trước sự kết thúc ấy. Khi mọi sự đã xong, thì tha hồ nói.

Gã Phục điên từ bao giờ?

 Tô Hoàng

Nhà văn Nguyễn Khắc Phục

1- Tôi viết những dòng này không nhằm “rủa” ông bạn vàng của tôi – nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Cũng không nhắm biện minh cho những gì anh đã và đang nói, đã và đang làm hôm nay. Tôi kể lại câu chuyện xảy ra với anh cách đây đã 30 chục năm mà tôi là một chứng nhân. Trước hết bởi một nỗi day dứt lâu nay thường ám ảnh tôi: Mình biết một sự thật về Phục mà khoảng chục năm trước không thể kể, không thể viết, bây giờ được “tháo cũi sổ lồng”, sao mình không kể đi? Nếu bỗng dưng một ngày nào đó ông bạn nhiều bệnh hoạn, hay nghĩ ngợi, thích dâng hiến đến kiệt cùng sức lực này “đốc chứng” muốn đi theo đám bạn bè Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Nguyễn Lâm, Nghiêm Đa Văn, Tường Vân, Phạm Tiến Duật, Lý Biên Cương…? Tôi viết còn vì một thôi thúc nữa: Sao thiên hạ bây giờ nhiều người mắc phải căn bệnh “quay quắt” khốn khổ đến như vậy? Họ đang cố thanh minh thanh nga rằng họ sáng suốt, họ rạch ròi đã từ rất lâu; họ đã biết xua tay không hề tham dự vào công việc này, sự kiện nọ; họ bị bắt buộc, bị thúc ép, họ không mù quáng, cuồng tín đâu, nhưng họ đơn chiếc, lẻ loi, mà đã là số ít họ “đành” phải theo số đông…

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

Người giữ rừng ký ức

 Nguyễn Quốc Chính

 

Rừng xà nu nếu là một phần cuộc đời của Nguyên Ngọc, thì con người ông không chỉ sống một đời, mà mang theo cả một phần ký ức của đất nước. Đi qua chiến tranh, đi qua văn chương, đi qua những đổi thay, ông trở thành một dạng “trí nhớ sống” của thời đại.

Tháng Tư – Ngày hãy để vết thương thành sẹo, và để tình người lên ngôi Tháng Tư lại về, với nhiều người, đây là một ngày mang nặng dư vị của ký ức. Tôi đã đọc những dòng tâm tư ấy, và trái tim tôi cũng đau nhói lên. Tôi không tìm cách phủ nhận nỗi đau ấy, bởi phủ nhận nỗi đau của người khác cũng là một sự tàn nhẫn. Lịch sử đã đi qua, nhưng những vết thương vẫn còn hiện hữu trên thân thể của dân tộc, trên những mảnh đời, và trong tâm khảm của những người con xa xứ. Nhưng tôi tự hỏi, nếu chúng ta cứ mãi nhìn về phía sau với ánh mắt đau đáu, liệu vết thương ấy có cơ hội được khép lại hay chỉ mãi là miệng vết thương hở, rỉ máu theo từng nhịp thời gian? Hòa giải, không phải là quên đi, mà là bao dung để cùng sống tiếp. Có lẽ, điều đau đớn nhất không nằm ở việc phe nào thắng, phe nào thua. Điều đau đớn nhất là sau gần nửa thế kỷ, chúng ta vẫn nhìn nhau như những người ở hai bờ chiến tuyến, vẫn dùng những định kiến để đo đếm lòng yêu nước của nhau. Nhưng xin hãy nhìn lại: Dòng máu trong tim người ở lại và người ra đi đều cùng một sắc đỏ. Nỗi nhớ về quê hương, về mùi khói bếp, về dáng mẹ chiều hôm, về gốc đa đầu làng… chẳng phải là điểm chung lớn nhất mà không thế lực nào, không hận thù nào có thể cắt đứt được sao? Người ta thường nói: "Sông có thể cạn, núi có thể mòn". Lịch sử là những trang đã viết, chúng ta không thể xóa, nhưng tương lai là trang giấy trắng đang chờ được viết bởi chính chúng ta. Nếu chúng ta cứ mãi giữ sự hoài nghi làm tấm khiên, thì bao giờ tình người mới có thể chạm vào nhau? Hòa hợp là khi chúng ta biết trân trọng giá trị của sự khác biệt. Chúng ta không cần phải có chung một niềm tin chính trị, không cần phải nhìn lịch sử bằng một cặp mắt giống nhau. Hòa hợp thực sự là khi người trong nước biết lắng nghe nỗi đau của người xa xứ, và người xa xứ cũng bao dung hơn với những khó khăn, những trăn trở của người trong nước. Chúng ta cùng là nạn nhân của một thời đại đầy biến động. Khi cùng nhìn nhận như thế, ta sẽ thấy sự thấu cảm quan trọng hơn sự phán xét. Đừng để thế hệ trẻ phải mang gánh nặng của những nỗi đau mà chúng không trực tiếp gây ra. Hãy để các em lớn lên với niềm tự hào về một dân tộc biết đứng dậy sau đổ vỡ, thay vì chỉ biết nhìn về quá khứ với đôi mắt đầy hoài nghi và hận thù. Hãy để các em là những nhịp cầu, chứ không phải là những người kế thừa sự ngăn cách. Tháng Tư, hãy để nó là mùa của sự "chữa lành". Nếu bạn thấy đau, hãy cứ đau, nhưng đừng để nỗi đau ấy biến thành bức tường. Hãy để nó biến thành sợi dây kết nối. Mỗi người Việt, dù ở đâu, nếu còn yêu đất nước này, xin hãy cùng nhau góp một bàn tay. Người có điều kiện thì đóng góp vật chất, người có trí tuệ thì góp tiếng nói, người không có gì thì hãy góp một tấm lòng bao dung, một sự tử tế giữa con người với con người. Khi người Việt ở hải ngoại nhìn về đất nước với phần nào có chút niềm tin hy vọng, và người Việt trong nước mở lòng đón nhận những đứa con xa xứ trở về dù khác biệt tư tưởng, quan niệm ,với sự trân trọng, đó mới là lúc đất nước sẽ thực sự "lành". Chúng ta không thể chọn nơi mình sinh ra, nhưng chúng ta có thể chọn cách chúng ta đối xử với nhau. Tháng Tư này, thay vì chỉ treo cờ hay đọc khẩu hiệu, thay vì chỉ khóc cho một ký ức xa xôi, hãy thử một lần "đối thoại với trái tim". Hãy cho phép bản thân được tha thứ – không phải tha thứ cho kẻ thù, mà là tha thứ cho chính những vết sẹo trong lòng mình để được sống một cuộc đời nhẹ nhõm hơn, yêu thương hơn. Vì cuối cùng, sau tất cả những thăng trầm của lịch sử, cái còn lại bền vững nhất vẫn là tình đồng bào,tình họ hàng, tình đồng hương Và chỉ khi tình đồng bào , tình đồng hương ,được đặt cao hơn mọi ý thức hệ, dân tộc này mới thực sự có thể ngẩng cao đầu đi tới.

 Trần Hoàng Phố

Tháng Tư lại về, với nhiều người, đây là một ngày mang nặng dư vị của ký ức. Tôi đã đọc những dòng tâm tư ấy, và trái tim tôi cũng đau nhói lên.

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

Nguyên Ngọc: Từ đại tự sự chiến tranh đến đối thoại nhân bản toàn cầu

 Tino Cao

Trong dòng chảy văn hóa và tư tưởng Việt Nam đương đại, Nguyên Ngọc cấu thành một thực thể đa diện thay vì dừng lại ở danh xưng văn chương thuần túy. Ở ông, các tầng vỉa trải nghiệm lịch sử và hệ thống tri thức kết tinh trong một cấu trúc cộng sinh bền chặt, nơi quá khứ và hiện tại không ngừng đối thoại. Chính sự giao thoa này khiến giới học thuật phương Tây không chỉ định vị ông như một tác gia chiến tranh mà đặt ông vào hệ tọa độ rộng lớn của những người thực hành văn hóa toàn diện. Dưới nhãn quan của giới quan sát quốc tế, ông hiện thân cho mẫu trí thức với tinh thần phản tư đầy bản lĩnh, sẵn sàng truy vấn và giải cấu trúc những nền tảng do chính mình góp công tạo dựng. Sự vận động nội tại đó đã kiến tạo nhịp cầu kết nối giữa đại tự sự sử thi với một hiện tại toàn cầu hóa đầy rạn nứt, đánh dấu bước chuyển dịch tất yếu từ paradigm tập thể sang không gian suy tưởng tự do về bản vị cá nhân trong mối tương quan cộng đồng.

Cuộc tìm kiếm chạy vòng quanh

 Tiểu luận Hồ Anh Thái

Cả một tập thể mà không sao vừa vặn được với nhân tố được lắp vào, người ngoài không vào được, người trong đưa lên cũng không thể hiệu quả được, cỗ máy vẫn tiếp tục ì ạch trì trệ. Vậy thì có khi phải xem lại chính cái cỗ máy ấy. Chính đấy mới là nguyên nhân khiến những cuộc săn đầu người lại thành cái đèn cù tít mù nó chạy vòng quanh.

Bức thư không hồi đáp gửi tới người thợ bạc Đông Du

 Đỗ Thái Bình

Trong cuộc đời có những bức thư gửi tới đúng địa chỉ nhưng vì một lý do nào đó lại không có người nhận. Có thể người nhận đã di chuyển, có thể người nhận đã qua đời… Trong lịch sử tù đày của những người yêu nước chúng ta không thiếu những câu chuyện đó. Lật tìm hồ sơ của những chí sĩ ái quốc trong nhà tù tại xứ Guyane Nam Mỹ, chúng tôi bắt gặp một lá thư có đủ cả phong bì gửi từ Nam Kỳ – tên gọi Nam Bộ thời thuộc địa Pháp – và một mảnh giấy xé ra từ tờ giấy kẻ ca rô khổ A4.

Hình 1- Phong bì thư

1. Cái phong bì

Hình bên là một phong bì thư gửi tới một người tại Guyane. Đây là loại phong bì thư thương mại thông thường, khá phổ biến trong tầng lớp có học thức hoặc ở các đô thị như Mỹ Tho, Sài Gòn - Chợ Lớn những năm 1910-1920. Phong bì có lót mặt trong màu tối (thường là xanh đậm hoặc đen) để đảm bảo tính riêng tư, không bị soi thấy nội dung bên trong dưới ánh sáng mạnh. Đây là kiểu phong bì tiêu chuẩn cho thư từ gửi đi quốc tế hoặc thư từ quan trọng thời bấy giờ.

Dấu bưu điện hình tròn bên phải ghi MYTHO - COCHINCHINE, tức Mỹ Tho Nam Kỳ 5-1-18, tức ngày 5 tháng 1 năm 1918. Có một dấu bưu điện ngày 22-3-18 đóng đè lên con tem, vòng ngoài của dấu ghi địa chỉ bưu cục nơi nhận, đó là St Laurent Guyane Française. Như vậy, bức thư mất khoảng hơn 2 tháng rưỡi để đi từ Mỹ Tho Nam Bộ Việt Nam sang đến thị trấn St Laurent ven sông Maroni, một thị trấn đông đúc nhất của Guyane, sau thủ phủ Cayenne. Ta không gọi Cayenne là thủ đô, vì cả Guyane, một xứ Nam Mỹ nằm giữa Venezuela và Brazil chỉ là một tỉnh hải ngoại của nước Pháp. Từ trước năm 1953, cả cái tỉnh có hình như trái xoài này chỉ là một nhà tù khổng lồ giam giữ phạm nhân và các tù chính trị của đế quốc Pháp.

Con tem có mệnh giá 10 centimes (10c), tức 10 xu, bằng 1/10 đồng bạc Đông Dương. Đây là mức cước phí tiêu chuẩn cho một lá thư quốc tế (từ thuộc địa về chính quốc hoặc sang thuộc địa khác như Guyane) ở nấc trọng lượng gửi đi đầu tiên. Vào giai đoạn 1917-1918 gửi bức thư này, do ảnh hưởng của Thế Chiến thứ nhất và tình hình kinh tế Đông Dương, giá cả có sự biến động. Theo các tư liệu kinh tế lịch sử Nam Kỳ, giá gạo thường dao động khoảng 5 đến 7 xu cho 1 kg gạo hạng trung bình. Với 10 centimes giá trị của một con tem dán trên thư này, người dân có thể mua được khoảng 1.5 kg đến 2 kg gạo. Nói cách khác, tiền cước phí để gửi một lá thư sang Guyane tương đương với khẩu phần gạo ăn trong khoảng 2-3 ngày của một người dân bình thường thời đó. Để quy đổi chính xác từ năm 1918 sang năm 2026 là rất khó do biến động lạm phát và thay đổi bản vị tiền tệ, nhưng có thể ước lượng qua giá gạo: Nếu 1 kg gạo ngày nay giá khoảng 20.000 VNĐ, thì con tem 10 centimes, tương đương ~1.5 kg gạo, có giá trị sức mua tương đương khoảng 30.000 đến 40.000 VNĐ tiền hiện nay. Nhân vật chính trên con tem được cho là cô Ba Thiệu, con gái thầy Thông Chánh, một mỹ nhân nổi tiếng của Nam Kỳ lục tỉnh cuối thế kỷ 19. Cô được học giả Vương Hồng Sển mô tả là có vẻ đẹp “không ai bì”, với nét đẹp tự nhiên và mái tóc dài chấm gót. Hình ảnh này sau đó cũng được sử dụng làm biểu tượng cho thương hiệu “Xà bông Cô Ba” của ông Trương Văn Bền. Dòng chữ “INDOCHINE” chỉ xuất xứ từ Liên bang Đông Dương, một đơn vị hành chính thuộc địa của Pháp tại Đông Nam Á. Ký tự “R F”, viết tắt của “République Française” (Cộng hòa Pháp. Dòng tem này (không có dấu in đè) bắt đầu xuất hiện từ năm 1907

2. Người nhận

Người nhận được ghi rõ ràng bằng nét bút mạnh mẽ: Monsieur Trần Văn Ngọ n0 m-le 41687 Camp Malgache. Pénitencier de Saint-Laurent. Guyane Française.

Đó là anh Trần Văn Ngọ, thợ bạc quê Mỹ Tho. Đi cùng đoàn do Nguyễn Quang Diêu dẫn đầu sang Hồng Kông mong học thêm nghề nghiệp để trở về phục vụ cách mạng thì bị bắt sau vụ nổ tại Kowloon ngày 16/03/1913 nên bị cảnh sát Anh-Pháp bắt đưa về Hà Nội. Bản án tuyên ngày 05/09/1913 đưa anh cùng 10 đồng chí khác tới Guyane với thời hạn khổ sai 8 năm. Quang Diêu đã phải thốt lên trong bài thơ Hà Thành lâm nạn như sau: Oan anh Trần Ngọ quá chừng, Tám năm tân khổ không phân lẽ nào.

Ngoài cái tên do bố mẹ đặt cho khi ra đời, giờ đây Văn Ngọ phải định danh bằng một con số 41687, là n, m như viết trên phong bì. Đó là chữ viết tắt của numero matricule, số định danh tù nhân thống nhất toàn nước Pháp bao gồm cả chính quốc lẫn thuộc địa. Địa chỉ ghi rất chi tiết: Camp Malgache tức trại Malgache, tục danh gọi là Trại Than vì chuyên khai thác than củi từ núi rừng bạt ngàn. Ngày nay khu nay gọi là Charbonnière, khu Than, cách trung tâm St Laurent chỉ vài cây số. Trại Than thuộc trại trung tâm, trên địa chỉ ghi là Pénitencier de Saint-Laurent – tức là Trung tâm trừng giới St Laurent.

Hình 2- Thư cô Tư Ngọ do một người đàn ông viết giùm

3. Bức thư của người vợ

Thư viết bằng chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ 20, có một số từ dùng theo phương ngữ Nam Bộ và cách viết thời bấy giờ, toàn văn như sau:

Mỹ tho, le 4 Janvier 1918.

Gởi lời thăm Ba thằng Lẫm đặng mạnh giỏi nội nhà cũng bình yên.

Còn Ba thằng Lẫm còn ở đó không xin trả lời cho tôi biết để ở nhà tôi trông đợi lắm.

Còn thằng Lẫm nó bây giờ cũng đi học như thường, mà nó nhắc nhở Ba nó hoài và nói sao ba nó không gởi thơ. Vậy thì ba nó trả lời cho tôi mừng và cho con nó vui.

Thôi ít lời thăm Ba nó đặng mạnh.

Cô Tư Ngọ

clip_image002

Bức thư ngắn ngủi tổng cộng có 91 từ thì 28 từ dành cho đứa con trai, 22 từ thăm hỏi tin tức, người vợ tù nhân luôn nhắc tới “Ba thằng Lẫm” với tình yêu thuỷ chung da diết. Lẫm lúc này bao nhiêu tuổi? Như đã nói ở trên, Văn Ngọ bị đi đày Guyane với bản án 8 năm. Khi khai gia cảnh, biên bản năm 1913 ghi con trai anh 3 tuổi. Vậy lúc này Trần Văn Lẫm đã lên tám, đã đi học, tức là vào lớp Đồng Ấu, tức Cours enfantin trong hệ thống tiểu học Pháp-Việt. Còn “Ba thằng Lẫm” mang họ Trần nhưng thực ra trong hồ sơ tù đầy có ghi rõ anh tên là Nguyễn Ngọc, hay Nguyễn Văn Ngọ con ông Nguyễn Văn Đen và bà Đoàn Thị Lê, cả hai mất sớm. Được họ Trần nuôi dưỡng và truyền nghề thợ bạc, Văn Ngọ là con thứ ba trong gia đình, tức cậu Tư Ngọ theo cách gọi Nam Bộ. Hồ sơ cũng cho biết, Văn Ngọ đã mất ngày 26/07/1915, một năm sau ngày tới trại giam ven sông Maroni. Trước đó, hàng tháng, theo quy định chung, tù nhân vẫn gửi thư và nhận được thư nhà. Do hai ba năm nay không có thư, vợ Văn Ngọ – cô Tư Ngọ – đã gửi thư này mong có phản hồi mà không biết rằng chồng mình đã bỏ mạng nơi đất khách quê người đã được 3 năm! Trong khi Ban quản trị Trại tù trước bức thư không người nhận đã ngoáy thêm một chữ ngoài phong bì “Evadé” – đã trốn tù – mà không trả lại hay thông báo cho người nhận. Vì thế, toàn bộ phong bì và thư còn lại được đưa về chính quốc và nay nằm trong Văn khố Hải ngoại Pháp ANOM tại thành phố Aix-en-Provence.

Hình 3- Hồ sơ ghi rõ Trần Văn Ngọ đã qua đời tại St Laurent ven sông Maroni ngày 26/07.1914

 

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

Quần chúng muôn mặt

 Đào Hiếu

 

Sau trận Mậu Thân 1968, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ban hành luật tổng động viên số 3/68, buộc các trường đại học phải thành lập “sư đoàn sinh viên bảo vệ thủ đô”. Lúc đó, ngoài những giờ học chuyên ngành của các khoa, chúng tôi bị tập trung để học quân sự với đầy đủ quân phục, ba lô, súng ống...

Phong cách Hán Việt hỗn hợp trong văn học trung đại Việt Nam

 Trần Đình Sử

Văn học trung đại Việt Nam, do Bắc thuộc trong thời gian dài, nhà nước phong kiến Việt nam sau ngày độc lập, vì cần kíp đã lấy chữ Hán làm công cụ quản lí hành chính và thi cử chọn nhân tài, tạo ra tầng lớp trí thức Hán học, cho nên bắt đầu viết bằng chữ Hán, phải sau thế kỉ XII mới bắt đầu có văn bản viết bằng chữ Nôm. Từ đó về sau, tình trạng song ngữ tồn tại mãi cho đến đầu thế kỉ XX, đến khi phế bỏ khoa thi Hán học thì mới chấm dứt. Tình trạng song ngữ kéo dài tám thế kỉ ấy với ưu thế thuộc về Hán văn, đã để lại dấu ân sâu đậm cả trong trong văn thơ chữ Hán lẫn văn thơ chữ Nôm của người Việt. Vốn tri thức Hán học của tầng lớp tri thức đương thời đã “ảnh hưởng đến truyền thống văn Nôm và đến cả tiếng Việt hiện đại” (Nguyễn Tài Cẩn) là một vấn đề lớn cần được làm sáng tỏ.

Cứu nguy nguồn nước và môi sinh Đồng Bằng Sông Cửu Long

 Dự Án Thuận Thiên: Xử Lý Nước Sông và Bổ Sung Nước Ngầm

Phạm Phan Long

20 Tháng Tư, 2026

Lời giới thiệu:

Sau nhiều  dự án lãng phí vì không đạt  được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa.

Thơ Đặng Tiến (Thái Nguyên)

 30 THÁNG TƯ NĂM 1975

                          [Chỉ là thế không tô hồng hay bôi đen chi hết...Thủa ấy của tôi]

 

Ngày 30 tháng Tư năm 1975

Thằng bé nhà quê là tôi vừa qua tuổi 14 chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp cấp 2 và thi tuyển vào lớp 8...

Thằng bé nhà quê quẩn quanh trong ngôi làng xưa cũ cùng những mái tranh nghèo nắng mưa dầu dãi không điện, không báo, không đài,

Ti vi và tủ lạnh, xe máy là chưa từng nghe và chắc chắn còn lâu mới thấy

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

Văn Việt đến thăm nhà văn Nguyên Ngọc chiều ngày 19/4/2026

 Văn Việt

Hai ngày cuối tuần, thời tiết dịu lại sau đợt nắng nóng cả nước trên dưới 40 độ. Sau khi sắp xếp thời gian với các thành viên Văn Việt và bạn hữu – dù không thể cùng đi một lúc, một vài người đến sau do bận việc – chúng tôi lên đường ra Huế. Mục đích chuyến đi khá giản dị: thăm một số bạn văn thân thiết, đồng thời viếng mộ những gương mặt văn nhân chí sĩ đáng kính như cụ Phạm Quỳnh, cụ Phan Bội Châu, nữ sử Đạm Phương, và vợ chồng anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường - Lâm Thị Mỹ Dạ.

A.I trong giáo dục trung học: Sự ngu muội nhân tạo

 Silke Fokken, Johann Grolle, Claus Hecking, Der Spiegel số 17/2026

Tôn Thất Thông biên dịch

Giới thiệu: Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc áp dụng một cách hiệu quả A.I trong giáo dục trung học. Kết luận khá phổ biến: “Tư duy phản biện và kỹ năng tự điều chỉnh” là những yếu tố then chốt. Những khảo sát sau đây đặc biệt có ích cho nền giáo dục Việt Nam, nơi mà tư duy phản biện ở thanh thiếu niên còn tương đối thấp.

Ánh đèn Trúc Chỉ và hơi thở Thiền trong thơ Nguyễn Duy

 Tô Văn Trường

 

Tuyển tập THƠ THIỀN LÝ-TRẦN là một tập sách mỹ thuật gồm 30 bài thơ thiền chọn lọc được minh họa bằng 30 bức ảnh nghệ thuật do nhà thơ Nguyễn Duy in trên giấy Dó truyền thống của Việt Nam, khuôn khổ 81x111 cm, cân nặng 30kg.

Nội dung cuốn sách là công trình hợp tác giữa nhà thơ Nguyễn Duy với hai nhà thơ Mỹ là Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung (gốc Việt), cộng với sự đóng góp của thiền sư Lê Mạnh Thát (viết lời bạt) và giáo sư Nguyễn Huệ Chi (hiệu đính Hán ngữ). Công trình này khởi sự từ 11.7.1995 (ngày bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ) cho nên cuối năm 2004 hoàn thành bản thảo: tuyển chọn (dựa theo bộ sách Thơ văn Lý-Trần do giáo sư Huệ Chi chủ biên); dịch thơ Hán ngữ sang Việt ngữ (lục bát); dịch thơ Việt ngữ sang Anh ngữ.

Riêng thời gian in giấy Dó (từng tờ một) mất 6 tháng liên tục.

- 19.5.2005: Triển lãm lần đầu tiên tại Thư viện Quốc gia (cũ) tại Sài Gòn.

- 10.10.2005: Triển lãm tại Văn Miếu (Hà Nội) nhân dịp kỷ niệm 50 năm tiếp quản thủ đô Hà Nội và 995 năm Chiếu Dời đô của vua Lý Công Uẩn.

- 17-24.4.2007: Triển lãm tại Boston (Hoa Kỳ).

- 13.8.2013: Triển lãm trong chương trình Tuần lễ Văn hóa Việt Nam tại châu Âu ở Potsdam (Đức) (với phiên bản in ở Berlin).

Sau cuộc triển lãm ở Boston (17-24.4.2007), do không thể mang ngay các vật dụng trưng bày về Việt Nam được, tác giả phải gửi lại trường Đại học Massachusetts giữ giùm.

Vừa rồi, nhà thơ Nguyễn Bá Chung thay mặt tác giả đến xin lại và chuyển bằng đường hàng không về Việt Nam.

Ngày 17.4.2026 các bức ảnh-thơ in trên giấy Dó truyền thống của Việt Nam đã về Sài Gòn, được chở đến giao tận tay nhà thơ Nguyễn Duy.

Thế là, “châu về Hợp phố” sau đúng 19 năm “lưu lạc” nơi quê người.

(Theo tư liệu của nhà thơ Nguyễn Duy)


Kí ức và hình thức tự sự trong văn học di dân của người Việt

 Tino Cao

Trong nhiều nghiên cứu về văn học Việt Nam hải ngoại, các tác phẩm thường được đặt trong một khung tham chiếu quen thuộc, gắn với chức năng lưu giữ kí ức chiến tranh và kinh nghiệm lưu vong. Cách tiếp cận này tạo ra một nền tảng nhận diện cần thiết vì nó giúp xác định đề tài và bối cảnh lịch sử, đồng thời cung cấp một điểm tựa để đặt những trải nghiệm rời rạc của cộng đồng di dân vào một mạch chung có thể nhận diện. Trong Memory Is Another Country (2009), Nathalie Huynh Chau Nguyen cho thấy kí ức vận hành như một phương tiện duy trì sự liên tục với quá khứ, còn trong Body Counts (2014), Yen Le Espiritu nhấn mạnh cách kinh nghiệm chiến tranh tiếp tục định hình đời sống hiện tại của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Tuy nhiên khi nhấn mạnh vào chức năng lưu giữ và phản ánh, cách hiểu này cũng đồng thời giới hạn việc phân tích trong phạm vi nội dung khi các tác phẩm được tiếp cận như những bản ghi lại một kinh nghiệm đã có sẵn hơn là những thực hành ngôn ngữ có khả năng làm biến đổi kinh nghiệm đó. Vấn đề không phải là những cách đọc này sai mà là chúng dừng lại quá sớm khi xem kinh nghiệm như một đối tượng ổn định có thể chuyển tải gần như nguyên vẹn qua ngôn ngữ, trong khi chính quá trình viết đã làm thay đổi hình dạng của kinh nghiệm trước khi nó có thể xuất hiện như một câu chuyện. Khi chuyển trọng tâm từ cái được kể sang cách kể, có thể thấy các tác phẩm di dân không tổ chức kinh nghiệm thành một chuỗi liền mạch mà được triển khai qua những mảnh rời, những đoạn đứt quãng và những điểm lệch nhịp trong tự sự. Chính ở đây, việc viết phản ánh rõ quá trình tổ chức hơn là một hành động ghi chép.

Những "linh hồn Nga mồ côi" trên đất Pháp

 Lê Thọ Bình

Trong dòng chảy của thi ca Xô Viết thập niên 70, Robert Rozhdestvensky hiện lên như một tượng đài của sự chính trực.

Là một người cộng sản thuần thành, một tiếng nói đại diện cho lý tưởng của thời đại, nhưng khi đứng trước những nấm mồ tại nghĩa trang Sainte-Geneviève-des-Bois ngoại ô Paris, ông đã để lại một bài thơ vượt ra ngoài khuôn khổ của những giáo điều chính trị.

Đó là một cuộc đối diện sòng phẳng với lịch sử, nơi ý thức hệ phải nhường chỗ cho lòng trắc ẩn và cội nguồn dân tộc.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Tháng Tư: Khi lịch sử soi mình bên dòng Hương Giang

Trần Hoàng Phố

1-

Năm 2026, 51 năm sau một cột mốc làm thay đổi dòng chảy dân tộc. Hơn nửa thế kỷ – một quãng thời gian đủ để một đứa trẻ chào đời trong khói lửa nay đã lên chức ông bà, đủ để những vết thương trên da thịt đã thành sẹo, nhưng có lẽ vẫn cần thêm những nhịp cầu để những "vết sẹo tâm thức" thực sự được chữa lành.

Bộ tranh khắc gỗ Henri Oger – bản lưu trữ tại Thư viện Đại học Keio, Nhật Bản

 Hà Vũ Trọng

Kĩ thuật của người An Nam | Technique du peuple Annamite là một công trình nghiên cứu về xã hội ở An Nam do Henri Oger chủ xướng với bốn nghệ nhân người Việt minh hoạ và khắc gỗ gồm Nguyễn Văn Đãng, Phạm Trọng Hải, Nguyễn Văn Giai, và Phạm Văn Tiêu – phần lớn là người Hải Dương (của các làng như Hồng Lục, Liễu Tràng với truyền thống lâu đời về tranh khắc gỗ) được thực hiện vào năm 1908–1909. Thời đó bộ sách được phát hành chỉ với số lượng hạn chế khoảng 60 bản. Nội dung phản ánh đời sống của người dân Bắc Kì cuối thế kỉ IX - đầu XX. Các bức tranh khắc gỗ trong Kĩ thuật của người An Nam trải dài nhiều đề tài từ việc sản xuất, nghề nghiệp, dụng cụ, tín ngưỡng, phong tục, trò chơi dân gian đến các nhân vật lịch sử đương thời và đời sống muôn mặt của người dân Bắc Kì xưa.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Tôn trọng thành tựu nhưng từ chối ảo tưởng

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Sự kiện họa sĩ Chu Tiến Thăng đạt giải tại Portrait Society of America là một thành tựu đáng ghi nhận. Điều này không cần tranh luận, đó là kết quả của một nền tảng kỹ thuật vững vàng, một quá trình rèn luyện nghiêm túc và sự kiên định với ngôn ngữ hội họa chân dung hiện thực. Trong bối cảnh hội họa Việt Nam hiếm khi có sự hiện diện rõ ràng trên các sân chơi quốc tế chuyên biệt thì đây là một dấu hiệu tích cực. Nhưng vấn đề không nằm ở bản thân thành tựu mà nằm ở cách nó đang được diễn giải.

 Truyện ngắn của Thiền Zen Paul Vân Thuyết

Một buổi chiều mùa thu, ánh hoàng hôn đang tàn dần, mặt trời đỏ au tròn như chiếc đĩa lớn nằm lơ lửng phía trên đường chân trời, xung quanh nó có vài đám mây màu ghi xanh xám lượn lờ bao quanh đang trôi dần về phía màn đêm. Tôi chợt nảy ý định muốn lang thang dạo phố và ngồi đâu đó vẽ vài bức ký họa mà chưa muốn về nhà. Tôi xuống xe buýt ở ngay ngã ba cuối phố Trần Hưng Đạo cắt ngang phố Lê Duẩn đối diện với ga Hàng Cỏ. Phố xá đông đúc tấp nập người đi lại. Tôi lang thang ngắm nhìn dòng người tất bật hối hả…

Ở thế kỷ 18, người Việt gọi chữ “Quốc ngữ” là gì?

 Trần Quốc Anh

Cha Philipphê Bỉnh giải thích tại sao ông soạn sách bằng quốc ngữ (“chữ nước người mà tiếng nước ta”) thay vì chữ Nôm (“chữ nước ta”). Ông sống ở Bồ đã lâu rồi, ít dùng chữ Nôm nên cũng quên nhiều (“vì chữ An Nam đã lâu năm mà chẳng có đọc cùng chẳng có viết. thì đã quên hình tượng nó đi”).

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Ocean Vuong – một tâm hồn nhạy cảm từ văn chương sang nhiếp ảnh

 Clément Ghys, Le Monde 05/04/2026.

Bảo Chân dịch

Độc giả đã vinh danh Ocean Vương qua những vần thơ và tiểu thuyết, trong đó tác phẩm mới nhất Hoàng đế xứ Gladness vừa được xuất bản ở Pháp. Nhưng Ocean Vuong còn là một bậc thầy về nhiếp ảnh. Trong suốt hai mươi năm qua, những bức ảnh anh chụp không chỉ kể lại những năm tháng tuổi trẻ ở Connecticut, kể nguồn cội Việt Nam, mà còn khắc hoạ một nước Mỹ của những người bên lề xã hội.

Khi một pavilion không còn là triển lãm, nó trở thành một lập trường

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Có những cuộc tranh luận không cần đến lời nói, không có diễn đàn, không có micro cũng không có những tuyên bố chính thức. Người ta bước vào một không gian, đi chậm lại, nhìn, rồi rời đi và khi bước ra, một ý niệm về một quốc gia đã âm thầm hình thành trong tâm trí của họ. Đó là cách mà Venice Biennale vận hành, không phải như một triển lãm đơn thuần mà như một cấu trúc nơi các quốc gia tự trình bày mình trước thế giới bằng thứ ngôn ngữ khó phản biện nhất, ngôn ngữ của hình ảnh.