Danh Ngôn

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói:

Thấu hiểu nỗi đau của người khác là món quà to lớn nhất mà bạn có thể trao tặng họ. Thấu hiểu là tên gọi khác của yêu thương. Nếu bạn không thể thấu hiểu, thì bạn chẳng thể yêu thương

Hành động bất bạo động được sinh ra từ nhận thức về đau khổ, được nuôi dưỡng bởi tình thương, và chính là cách hiệu quả nhất để đối đầu với nghịch cảnh

Mỗi người chúng ta nên tự hỏi mình: Tôi thật sự muốn gì? Trở thành người thành công số 1? Hay đơn giản là người hạnh phúc? Để thành công, bạn có thể phải hi sinh hạnh phúc của mình. Bạn có thể trở thành nạn nhân của thành công, nhưng bạn không bao giờ là nạn nhân của hạnh phúc

Ta và Đất Mẹ không phải là hai thực tại riêng biệt. Đất Mẹ chính là ta, ta là đất Mẹ. Đất Mẹ không phải chỉ là môi trường

Hãy bước đi như thể bạn đang hôn trái đất bằng bàn chân của mình

Con đã được biểu hiện từ đất mẹ, con sẽ trở về đất mẹ để tiếp tục được biểu hiện hàng triệu lần nữa, để cùng với tăng thân con làm công việc chuyển rác thành hoa, bảo hộ sự sống và xây dựng một tịnh độ ngay trên mặt đất này

Sinh và diệt chỉ là những hiện tượng mà ta nhìn thấy trên bề mặt. Nếu ta nhìn thật sâu thì không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự tiếp nối không ngừng. Khi ta tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt thì ta không còn lo sợ cái chết

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2022

TRIẾT: Tập san triết học và tư tưởng. Số 8, tháng 6, 2022

Nguyên Chánh

Xin hân hạnh giới thiệu với bạn đọc số 8 tháng 6, 2022 của TRIẾT: Tập san Triết học và Tư tưởng.

Trong số mới này, có tổng cộng chín bài tiểu luận về triết học và tư tưởng. Đầu tiên là bài Từ bàn viết Chủ Nhiệm của Nguyễn Hữu Liêm. Ông viết, “Hầu hết những tác giả đóng góp bài vở cho TRIẾT thuộc về thế hệ thế kỷ trước, phần lớn xuất thân ở miền Nam Việt Nam trước 1975, đa số mang học vị ngoại quốc – nhưng vẫn yêu tiếng Việt, cảm thấy như vẫn còn mắc một món nợ tinh thần cho nền học thuật nước nhà, mang hoài bão về khả thể chuyển hóa tư duy cho truyền thống suy nghĩ của dân tộc trước những vấn đề lớn mà con người và đất nước đang đối diện.” Ông nhấn mạnh rằng, “Triết học không phải cho đám đông hời hợt vốn chỉ dừng lại ở thơ văn thuần mô tả. Triết học cũng không phải là một thể loại văn chương áo mão lập danh. Người nghiên cứu triết là những kẻ thất vọng trước sự hời hợt của đám đông, muốn tìm sâu về những vấn nạn nhân sinh và lịch sử. Họ không chấp nhận thực tại như là chuyện đã rồi, có sẵn, không nghi ngờ, không cần nghi vấn.”

Vũ khí quan trọng nhất bị bỏ quên

Tô Văn Trường

Người ta thường nói tới “Sự thông minh của trái tim”, chính vì cái tâm đó làm nền mà Việt Nam đã đánh thắng những đế quốc mạnh nhất, vì đã tìm ra những phương án thông minh để chiến thắng, mà chính tiến sĩ Henry Kissinger (đã từng làm việc cho ba đời Tổng thống Mỹ) phải thú nhận. Trong nhiều lĩnh vực chúng ta đã làm được như vậy, nhưng phải thành thực nói rằng, gần đây, chữ tâm đó đang nhạt dần và bị bỏ quên.

Đêm giữa ban ngày (kỳ 29 - hết)

41

- Malêlết ló mốn cặp (gặp) mày! - Cố Thủ Chẩu đứng trước mặt tôi, ngúc ngắc cái đầu húi cua, nói bằng giọng khàn khàn.

- Có chuyện gì thế? - tôi nhìn đôi mắt một mí không chớp của anh ta.

- Khôông pết! - Cố Thủ Chẩu nói.

- Sao lại không biết?

- Ló bảo ngộ tến lói.

- Sao anh ta không tự đến?

Cố Thủ Chẩu nhăn nhó:

- Mà mày pằng lòng chớ, có không?

Tôi đã biết gì về NHẤT-LINH

Đông Hồ

Anh Nguiễn-Ngu-Í,

Chắc rằng anh muốn hỏi tôi về Nhất-Linh; chớ không hỏi tôi về Nguyễn-Tường-Tam. Có như thế thì tôi mới trả lời anh được. Nói như vậy là tôi muốn nhận định phân minh hai lãnh vực trong một nhân-vật. Là tôi chỉ có biết về nhà văn-sĩ Nhất-Linh mà không được biết về nhà chính trị Nguyễn-Tường-Tam.

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2022

Chuyện kể ngàn năm sau

Truyện Lê Minh Hà

Buổi chiều mẹ mèo trốn con thì buổi tối chú mèo của chúng ta được bọc cẩn thận đặt vào trong làn. Mèo con đã bắt đầu cuộc di cư như thế trên một chiếc xe máy. Run rẩy trong chiếc làn bị rung thật lực, mèo con cố gắng nhận đường. Thật không thể. Chỉ có những tiếng gào rú ầm ào và cái mùi  khét lẹt ở đâu đó bên ngoài.

Một ký ức Hà Nội thời bao cấp

Nguyễn Bảo Châu*

Tôi cưới vợ vào ngày 29-5-1971.

Sẽ chẳng có gì phải nói lại, nếu như cái ngày vui nhất của một đời người đó được diễn ra trong vui vẻ, hạnh phúc. Tôi đã không có được cái điều may mắn đơn giản ấy vì đã bị người ta phá tan đám cưới của mình, mà nguyên nhân chỉ vì miếng ăn bị dừng lại trong ít phút.

Đêm giữa ban ngày (kỳ 28)

40

So với mấy cuộc chuyển trại trước, cuộc chuyển trại cuối năm 1973 đến với tôi hoàn toàn không bất ngờ.

Từ mấy hôm trước tôi trong trại đã có tiếng xì xào về một sự kiện không bình thường. Trên văn phòng Ban Giám thị người ta lễ mễ khuân ra khuân vào những chồng hồ sơ cao ngất. Việc rõ ràng bí mật, cho nên công an tự làm lấy. Mấy cái máy chữ gõ rào rào không nghỉ.

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2022

Tư tưởng của Tây phương và Đông phương

C.D.

Hiện trong thế giới có hai thứ văn minh, là văn minh Tây phương và văn minh Đông phương. Hai cái văn minh ấy khác nhau là do tại hai đàng tư tưởng khác nhau. Tây phương gồm cả các nước châu Âu châu Mỹ mà nước Pháp là một; Đông phương gồm cả các nước châu á, mà nước ta là một. Tư tưởng của Tây phương phát nguyên từ Hy Lạp, La Mã, Hê-bơ-rơ, song bây giờ đã hỗn thành ra một nền tư tưởng Tây phương, nên ở đây gọi chung là tư tưởng Tây phương. Tư tưởng Đông phương có hai tua lớn, một là ấn Độ, một là Tàu, mà ta thuộc về tua Tàu, nên ở đây chỉ lấy Tàu làm trọng.
Người ta thấy bên Tây về đường vật chất phát đạt tinh xảo hơn bên Đông, rồi cho rằng văn minh Tây phương là vật chất văn minh, còn văn minh Đông phương là tinh thần văn minh. Nói như vậy là lầm. Những cái thuyết tự do bình đẳng, là phần hệ trọng nhứt trong văn minh Tây phương, chẳng phải tinh thần là gì? Bên nào cũng có tinh thần vật chất cả, chẳng qua vật chất tùy theo tinh thần của mỗi bên mà hiện ra hai vẻ khác nhau. Cái tinh thần ấy tức ở đây tôi gọi là tư tưởng.
Ba điều tôi sắp giải ra dưới nầy chỉ là từ trong hai cái văn minh ấy mà rút ra mỗi bên ba cái yếu điểm; ngoài ra, mỗi cái văn minh hoặc giả đều có chỗ hay chỗ dở thì tôi không kể đến. Tôi cũng không có ý so sánh bên nào hơn, bên nào kém; cốt muốn tỏ ra cho biết hai bên trái ngược nhau, không thể dung nhau mà thôi.

Nhà nước pháp quyền

Lưu Thủy Hương

 

Là một khái niệm hoàn toàn xa lạ đối với đa số người Việt. Thời gian này nó thường xuyên được nhắc đến qua cố gắng xin vào EU của Ukraine.

°

Vậy, nhà nước pháp quyền là gì?

Đó là tiêu chuẩn đầu tiên để trở thành một nước thành viên của EU.

Nhà nước pháp quyền có nghĩa là chính phủ và chính quyền chỉ có thể hành động trong khuôn khổ các luật hiện hành.

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2022

Hương biển

Truyện Nguyễn Thị Thanh Bình

Người đàn ông đó lâu lâu vẫn lai vãng trong những giấc mơ của tôi. Nơi một bãi biển hoang vắng, đôi chân trần của ông ta thường để lại trên cát ướt những câu thơ thật buồn mà hình như chỉ mình tôi đọc được. Những câu thơ ấy lắm khi bị sóng cuốn đi rất nhanh, như ông ta cũng lướt đi quá nhanh cùng với những ngày biển trở mình dông bão.

Trí thông minh cảm xúc: năng lực nghề nghiệp hàng đầu của giáo viên

Dương Thắng

Những trào lưu cải cách giáo dục được thực hiện trong những năm gần đây đều nhấn mạnh tới phương pháp sư phạm kiến tạo - xã hội gắn với mô hình giáo viên chuyên nghiệp. Hình mẫu giáo viên được đề cao đó là một chuyên gia về giảng dạy và một người nắm vững các kỹ năng thực hành, trong đó trí thông minh cảm xúc được xem như một trong những kỹ năng nghề nghiệp thiết yếu để bảo đảm cho sự thành công trong công việc dạy học.

Thứ Sáu, 24 tháng 6, 2022

Bạn thơ cửa biển

Hoàng Hưng

Những ngày xưa yêu dấu hiện về qua tấm hình khoảng 55 năm trước!

Nhà thơ Nguyễn Tùng Linh ở Úc vừa gửi qua message tấm hình từ FB Nguyen Tuyet Nhung! Chị của Linh, mở hiệu ảnh ở Hải Phòng những năm 1960. Chị đã chụp bức hình này!

Ôi làm sao quên ngôi nhà trên phố Hàng Kênh, nơi tôi thường về trú ngụ như nhà mình sau những ngày dạy học ở phố Rế! Ôi những đêm ngủ với Tùng Linh trên gác cứ nửa đêm là thức giấc vì tiếng ho hen thắt ruột của cụ Tá Vang, lão trượng râu tóc đẹp phi phàm ngày ngày phóng bút vẽ tranh truyền thần ở vườn hoa trung tâm thành phố! Căn gác có thể là một địa chỉ lưu niệm của giới văn chương đất Cảng thời chiến tranh!

Hồi ấy chúng mình "loãng mạn cách mạng" ra phết hihi.

Đăng lại bài viết về nhóm thơ Hải Phòng nhé!

Ý kiến ngắn: Tôi không tin Phan Khôi đọc thơ người khác mà sai tới cỡ ấy

Phan Nam Sinh

Đọc Phan Khôi, tác phẩm đăng báo, in sách 1948 - 1958 do nhà nghiên cứu phê bình Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn, Nhà xuất bản Tri thức ấn hành năm 2019, tới trang 613 thấy có bài Văn nghệ sĩ xuất phát đi mặt trận của Thao Trường, tức nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, đăng trên tạp chí Văn nghệ năm 1949 tại Việt Bắc, trong có chi tiết Phan Khôi đọc thơ của một võ tướng người Tàu, thời Nam Tống, tên là Nhạc Phi (岳飞), trước lúc ông và các văn nghệ sĩ lên đường đi chiến dịch, mà đọc như vầy:

Đêm giữa ban ngày (kỳ 26)

38

Ở Hỏa Lò tôi đã được Thành kể cho nghe về người tù huyền thoại đã ở liền một mạch hai mươi hai năm trong tù. Anh nói có lần anh đã gặp những người đã ở chung với một tù nhân có thâm niên cao nhất: tù suốt từ 1946 cho tới tận bây giờ (tức năm 1968). Kỷ lục ấy chưa có ai vượt qua.

Lược sử từ “phản động”

Quy Anh Duong

290001848_10216937520109384_586823616353728034_n

Hình: Luật khoa tạp chí.

Nhớ lần đọc bài báo về cậu em quán quân cuộc thi Đường bay thẳng Australia, à không, Đường lên đỉnh Olympia 2019 thấy cậu cũng quan tâm đến các thế lực “phản động” (PĐ) và yêu thích môn lịch sử. Tôi không rõ cậu hiểu từ “phản động” này ra sao nhưng tin chắc cậu em chưa bao giờ thử tìm hiểu ý nghĩa thực sự của từ này! Tôi cũng từng thắc mắc và thử tìm hiểu lịch sử biến hóa ngữ nghĩa của từ “phản động” (PĐ), thấy cũng khá thú vị nhưng rồi bận việc lại quên khuấy đi. Nhân ngày Báo chí Cách mạng 21/06 lại nhớ đến một bài viết cũ chưa được post lên FB này.

PĐ hiển nhiên là một từ Hán Việt. Văn bản cổ xưa đầu tiên sử dụng đến 2 chữ PĐ được các nhà nghiên cứu ghi nhận chính là Đạo đức kinh của Lão Tử. Trong chương 40 - Thiên hạ 反者道之動 弱者道之用 (Phản giả Đạo chi động. Nhược giả Đạo chi dụng), nghĩa là “luật vận hành của Đạo là quay trở về lúc ban đầu, chỗ dụng của Đạo là ở sự mềm dẻo”.

Thứ Tư, 22 tháng 6, 2022

Văn học còn có ích gì hôm nay? Vì sao tôi viết?

Nhân Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần X diễn ra tại Đà Nẵng, và hai cuộc Hội thảo văn xuôi và thơ: “Vì sao chúng ta viết”.

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

I. Mấy câu hỏi, đúng hơn là những ý tưởng như bâng quơ, có gì hơi cổ lỗ, song vốn nằm sâu trong tiềm thức và có khả năng đánh thức sự lười biếng của tư duy giữa bao lo toan bề bộn đời thường lắm khi thấm máu và nước mắt: “Vì sao tôi viết“, “Văn học có ích gì cho xã hội?”, “Ngày hôm nay, văn học có cần thiết lắm không? Cần cho ai?”, “Văn học với thực tại xã hội?”, “Điện ảnh cần gì ở văn học”, v.v.

Chúng đến, đúng lúc ở trên bàn tôi là cuốn sách đang đọc dở: “Proust có thể thay đổi cuộc đời bạn thế nào” (How Proust Can Change Your Life) của Alain de Botton, trong đó ngay ở chương II tác giả đã đưa ra mấy cuốn sách cùng nhiều tranh minh họa giới thiệu các phương pháp tự chăm sóc và thay đổi sức khỏe cho mọi người của bác sĩ Proust - người cha, để làm một cuộc “so sánh ngầm” với văn chương của người con - nhà văn Proust. Tác giả cho biết: từ những năm đầu thế kỷ XX, nhà văn Proust trước khi bắt tay viết bộ sách đồ sộ bảy tập “Đi tìm thời gian đã mất” cũng đã từng băn khoăn về ý nghĩa của công việc mình sẽ làm, qua lời tâm sự với người hầu gái: “Giá mà tôi có thể chắc chắn về việc mình làm với những cuốn sách như cha tôi đã làm với người bệnh nhỉ?”. Rồi Alain de Botton đã trích nguyên lời Proust như làm “tuyên ngôn” chính, tóm tắt nội dung chính cho cả cuốn sách, và có thể cũng là lý do sự ra đời cuốn sách của mình: “Đọc kiệt tác mới của một thiên tài, chúng ta mừng rỡ phát hiện trong nó các suy tưởng của chính ta mà ta từng khinh bỉ, những niềm vui và nỗi khổ mà ta đã kìm nén, cả một thế giới cảm xúc mà ta đã khinh miệt và giá trị của chúng do chính cuốn sách nơi ta khám phá ra bất ngờ dạy cho chúng ta”[1].

Tâm sự trên của Proust ra đời trong buổi bình minh của thế kỷ trước song cũng là thời “hoàng hôn của những thần tượng” (F. Nietzche), ở đó tràn ngập sự thất vọng và phẫn nộ trước cái “Tháp Babel” tri thức chứa đầy sự hỗn độn, mông lung về ý nghĩa cuộc đời, về các giá trị đảo lộn. Thế nhưng, giữa “thời kỳ ngự trị bởi những quan niệm văn học suy đồi và một khuynh hướng khoái cảm bệnh hoạn”, nói như R.M. Albérès trong cuốn “L’ Aventure Intellectuelle du XXe Siècle” (Cuộc phiêu lưu tri thức thế kỷ XX), vẫn có nhiều nghệ sĩ ngôn từ thầm lặng đi tìm những cuộc “thí nghiệm” mới, qua những cuộc “khám phá” văn chương và “nổi lên những bức tranh xã hội huy hoàng của Joyce, Proust, Huxley, Thomas Mann…”. Như thế, tâm sự của Proust cũng là tâm sự chung của nhiều nhà văn trên con đường phá bỏ đường mòn lý trí, đi tìm “lạc thú của văn chương trong những mảnh đất trinh nguyên”, trong thế giới tâm hồn con người mênh mông và bí ẩn – như sứ mệnh đã đặt trên vai họ [2]. Và cuộc tìm kiếm gian khổ và vinh quang ấy, sức mạnh của “lạc thú” sáng tạo ấy kéo dài qua hai cuộc đại chiến thế giới, qua nhiều biến động lịch sử, cho tới tận hôm nay, giữa mưa bom bão đạn của tên Sa hoàng mới tàn phá các thành phố làng mạc Ukraine; vẫn tiếp tục nguồn cảm hứng vĩ đại của Dostoyeski và các nhà văn Nga thế kỷ XIX: “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”. Đó là nguồn cảm hứng văn học đã/ sẽ được nuôi dưỡng bằng cái chết dũng cảm của nữ văn sĩ Iryna Tsvila người Ukraine khi đang ghi chép về những người bảo vệ thủ đô Kyiv và cầm súng cùng họ; bằng máu trên người cô gái Miến Điện bị xích trói như một con vật nhưng vẫn ngẩng đầu thách thức kiêu hãnh làm chấn động lương tri nhân loại và giúp các nhà văn – dĩ nhiên là nhà văn thật sự – giải mã được câu “châm ngôn” thấm máu và nguồn cảm hứng “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới” kia theo quy luật thẩm mỹ của “thế kỷ bạo tàn” mới: chính Khát vọng TỰ DO - QUYỀN SỐNG mới là nội dung cơ bản, là động lực của CÁI ĐẸP, chính nó mới cứu rỗi được thế giới! Nội dung cơ bản và động lực của CÁI ĐẸP đó xuất hiện trong các tác phẩm nghệ thuật không ngừng được sản sinh ở bất kỳ mảnh đất nào của hành tinh nóng bỏng này – trong đó là văn học, nghệ thuật của ngôn từ mà M.Gorki đã từng cảm thán, suy ngẫm: “Sách khiến cho khắp thế gian, khắp trái đất tràn ngập nỗi buồn nhớ cái tốt đẹp hơn…”

Sách – mà chủ yếu là văn học – đã trở thành một “nhân vật” rất độc đáo trong cuốn tiểu thuyết "The Reader” (Người đọc) của nhà văn Đức Bernhard Schlink xuất bản năm 1995, được dịch ra 39 thứ tiếng, được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh cùng tên rất thành công! Tiểu thuyết kể lại mối tình giữa cậu thiếu niên Michael Berg mười lăm tuổi và cô lính canh Hanna Schmitz ba mươi sáu tuổi. Michael đã là một trong những "người đọc sách" chung thủy, cần mẫn cho Hannah – người không biết chữ trong thời gian cô ta làm ở một trại tập trung dành cho phụ nữ; và khi thành luật sư, sau mấy năm phiên tòa xử tội phạm chiến tranh, Michael một lần nữa lại bắt đầu đọc cho Hannah nghe – bằng cách ghi âm toàn bộ những cuốn sách theo anh là cần vào những băng cát-xét rồi gửi đến nhà tù; nhờ những cuốn băng ấy mà Hannah đã tự học đọc và học viết được. Trong suốt mười tám năm bị giam giữ của cô, Michel chỉ đến thăm cô một lần, vào một tuần trước khi cô được thả. Rồi Hannah đã nhảy qua cửa sổ tự tử đúng vào ngày được trả tự do, nhưng cả tiểu thuyết và phim đã không lý giải nguyên nhân, để độc giả và khán giả tự đoán nhận ra – bằng chính “nhân chứng im lặng” là Sách. Sự vô học của Hannah khiến cô đã trở thành “cái máy” thực hành tội ác của bọn phát xít, cũng là một nạn nhân đáng thương; nhưng rồi chính là Sách đã giúp cô hiểu ra tội ác vô tình của mình thời trẻ, và sự đổ vỡ của “người đọc” trong cô lại là sự chiến thắng của cái Thiện – nhờ sự thật và những gì tốt lành do Sách mang lại… Ở đây, triết lý chua xót thông qua số phận bi thảm của người tội phạm cũ và “thân phận” của Sách có thể giúp người đọc khắp thế giới có dịp hiểu thêm giá trị của Sách, của Văn học đối với ý nghĩa của sự Tồn tại, của Tình yêu, sự Thức tỉnh, lòng Hận thù, sự Tha thứ… Đó cũng là cơ sở để cuốn tiểu thuyết được đưa vào chương trình văn học phổ thông trung học ở Đức nhiều năm qua. Ai dám bảo rằng: văn học đã hết thời, không còn ý nghĩa gì nữa trong đời sống Công nghiệp - Điện tử?

Nếu ai có chút nghi ngờ về sự cần thiết của văn học, xin hãy đọc lại cuốn tiểu thuyết “Dịch hạch” (La Peste) của nhà văn Pháp Albert Camus: Những điều Camus viết về những gì đã diễn ra một thành phố Pháp trên bờ biển Angiêri, trong một nạn dịch hạch hoành hành khủng khiếp vào những năm chủ nghĩa phát-xít đang thống trị toàn châu Âu kia, cũng là những điều tiên báo cho tương lai của nhân loại, buộc con người trong các thời đại, các chính thể xã hội phải suy ngẫm một cách thực sự nghiêm túc về lương tâm, trách nhiệm của mình đối với đồng loại. Với sự lan tràn của đại dịch mới, người ta chợt nhận ra rằng: sự hủy hoại môi trường sinh thái đã trở nên nguy hại và cấp bách đến thế nào; người ta đã từng dửng dưng cười cợt trước sự đau khổ của người khác và tình đồng bào đã từng bị dày xéo lăng nhục rồi bị giết chết thê thảm ra sao... Những lò thiêu người bị bệnh dịch hạch ở châu Âu, châu Á, châu Phi trong các thế kỷ trước được nhớ lại khiến người ta rùng mình liên tưởng tới những lò thiêu người Do Thái của bọn Na-zi… Nhưng điều chủ yếu khiến cuốn tiểu thuyết này còn được đọc lại ngày hôm nay và còn được đọc lâu dài nữa, theo tôi chính là bởi suy nghĩ trĩu nặng tình xót thương con người của nhân vật Taru, người mà ngay giữa cao trào của dịch hạch đã nói tới nguyên nhân sâu xa của bệnh dịch, đó là cái ác của con người. Luật sư Taru, sau khi nghe lời buộc tội độc ác của cha mình và chứng kiến tòa kết tội tử hình một bị cáo, đã rời bỏ cuộc sống nhung lụa và lao vào cuộc chiến đấu chống lại sự giết người. Albert Camus đã nói rõ tư tưởng của các nhân vật tích cực đang chống lại dịch hạch nói riêng và cái ác nói chung: “Cái ác trên đời này hầu như bao giờ cũng bắt nguồn từ sự dốt nát, và thiện chí cũng có thể gây tổn thất như tà dâm nếu không được soi đường… và tính xấu tồi tệ nhất là của những kẻ dốt nát nhưng lại cho là mình biết hết thảy và lúc đó tự cho mình chém giết. Tâm hồn đứa giết người là một tâm hồn mù quáng, và sẽ không có lòng tốt chân chính và tình yêu cao đẹp nếu không có toàn bộ sáng suốt cần thiết.” "Dịch hạch" thực ra là ngụ ngôn ám chỉ "bệnh dịch" của chủ nghĩa phát-xít, con đẻ của tên đồ tể Hitler, kẻ đã tự coi mình có sứ mạng thánh thần sắp xếp lại trật tự thế giới – kết quả của sự ngu xuẩn – để lý giải hành động tàn ác của mình và đồng bọn. Đến hôm nay, những lời cảnh báo của nhà văn vẫn còn nguyên giá trị, cái nhìn tiên tri của ông vào thế giới phi lý của con người dường đã ứng nghiệm, khi toàn cầu hôm nay cũng đang đương đầu với một đại dịch thế kỷ!

Nhưng văn học trong thời hiện đại – cũng như trong quá khứ hàng ngàn năm trước – đã từng là một phương tiện đắc lực của những thế lực thù địch với chủ nghĩa nhân văn, được sử dụng để phục vụ cho cho lợi ích của một nhóm người, một giai tầng luôn tìm cách đứng trên đầu trên cổ lớp dân nghèo lương thiện. Trong sách “Những huyền thoại”, Roland Barthes có kể lại câu chuyện về một vụ án trong đó giới quan tòa quý tộc với "tất cả phép tu từ bóng bẩy, bay bướm trong nhà trường được tung ra ở đây để buộc tội một ông lão chăn cừu... Công lý đã khoác cái mặt nạ của văn chương hiện thực, của truyện dân dã... " Và dưới góc độ mỹ học, với thái độ đả kích sâu cay, ông vạch ra bản chất xã hội nhơ bẩn của vụ án đó: "Nhân danh chính ngôn ngữ để đánh cắp ngôn ngữ của một người, mọi vụ sát nhân hợp pháp đều bắt đầu từ đấy" [3].

II. Tôi xin dừng lại ở lĩnh vực mà tôi tương đối quen thuộc, ở trong nước – lĩnh vực Điện ảnh và Truyền hình, tức là một lĩnh vực nghệ thuật hiện đại và Nghe - Nhìn thời Kỹ thuật số, cái thời hơn bao giờ hết chúng cần phải gắn bó với văn học, và cũng chưa bao giờ chúng xa cách đối với văn học và trống rỗng về văn học đến thế, ở nước ta!

Văn học ở đây là muốn nói chung về nền kiến thức văn hóa – trong đó, văn học nhiều khi giữ vai trò chủ chốt, mang tính quyết định đối với giá trị và thành công của tác phẩm điện ảnh, đặc biệt với các thành phần sáng tạo cao nhất trong phim như biên kịch, đạo diễn. Người biên kịch, lao động của họ tuy tạo ra sản phẩm scénario chỉ là hạng thứ so với tác phẩm văn học như tiểu thuyết, kịch, trường ca, song lại có vai trò quyết định sống còn đối với bộ phim tương lai – không chỉ vì “rốt cục, có nhiều sự kiện và chi tiết trong tác phẩm nghệ thuật (ở đây là kịch bản điện ảnh) còn thật hơn những cuốn sách lịch sử” (Charlie Chaplin), mà vì nó còn là “bản thiết kế tổng thể ban đầu” dành cho kịch bản kỹ thuật phân cảnh (Découpage tecnique) sau đó sẽ chứa toàn bộ nội dung - hình thức bộ phim cùng các phương thức và kỹ thuật thực hiện cho tất cả các thành phần đoàn làm phim. Các Festival Film quốc tế bao giờ cũng coi kịch bản văn học là thành phần cần được tôn vinh đầu tiên. Trong một tiểu luận viết về việc chuyển thể Truyện Kiều lên màn ảnh, người viết bài này có nhấn mạnh: mức độ thành công của tác phẩm điện ảnh nhiều hay ít – tùy thuộc phần lớn vào tài năng giải mã tác phẩm văn học của nhà biên kịch và đạo diễn – đều có ý nghĩa nhất định nào đó trong việc phổ biến giá trị văn học và các giá trị nhân văn nằm trong tác phẩm gốc tới đông đảo công chúng. Ngay từ thời thơ ấu của mình, Điện ảnh thế giới đã mau chóng tìm đến văn học và kịch mục sân khấu, các nhà sản xuất phim đã đặt hàng các nhà văn lớn nhất của Pháp viết kịch bản phim hoặc mua bản quyền tác phẩm của họ. Điện ảnh kể từ khi xuất hiện phim nói tới nay đã để lại biết bao kinh nghiệm xương máu trong việc chuyển thể tác phẩm văn học; và một Giải thưởng danh giá cho những người làm phim nhiều quốc gia như của Viện Hàn lâm Khoa học Điện ảnh Hoa Kỳ đã dành riêng một giải Oscar cho phim chuyển thể từ tác phẩm văn học gốc! (Truyện Kiều: Từ văn học tới điện ảnh - một phương thức diễn dịch nghệ thuật đầy thử thách” - vanviet.info ngày 5.11.2021).

Thế nhưng, ở nước ta, sau một thời dài xa lánh những vấn đề về số phận con người, “dị ứng” với những gì gọi là “Thao thức” – tên một cuốn tiểu thuyết của A. Kron – thì điện ảnh do phim thương mại áp đảo thống trị đã tạo ra những sản phẩm ngày càng xa lạ với những vấn đề nhân văn mà điện ảnh thế giới đã tạo ra con đường lớn cho nó, để chạy theo thứ thị hiếu tầm thường đã bắt đầu tràn ngập xã hội và ngấm sâu vào tâm hồn đông đảo giới trẻ. Chất liệu đời sống - lịch sử ngồn ngộn và kho tàng văn học dân gian, văn học viết từ thời trung đại tới hiện đại đủ cung cấp cho hàng trăm tác phẩm điện ảnh thực sự, đã bị đẩy lùi thật xa để nhường bước cho những “váy ngắn váy dài, chân ngắn chân dài”, những cuộc tình tay ba sướt mướt, những mối tình đồng giới, cuộc sống vương giả nhà lầu, xe hơi, thời trang, trang điểm quý tộc… Không ít nhà biên kịch và đạo diễn từng mơ ước làm phim nghệ thuật đã bị “ngã gục” trước cuộc tấn công dữ dằn kèm mua chuộc ngọt ngào đó, đành gạt lệ chia tay “văn học thứ thiệt” để phục vụ – đúng hơn là làm nô lệ cho những nhà sản xuất và phát hành phim bất chấp “con nghệ thuật” như họ vẫn mỉa mai, những người tôn thờ kim tiền hơn cả mụ Tú Bà tôn thờ thần Mày Trắng!

Từ đó tất yếu nảy sinh ra cái hiện tượng ngày càng phổ biến, là copy kịch bản nước ngoài – gọi một cách lịch sự là phim “remake”, “phim Việt hoá từ kịch bản nước ngoài”. Thí dụ tiêu biểu nhất là phim ăn khách gần đây: “Tiệc trăng máu” (2020), đã “thuổng” hết ý tưởng và nội dung cơ bản của phim Italya: “Perfect Strangers” của đạo diễn Paolo Genovese, sản xuất năm 2016 với doanh thu hơn 16 triệu Euro ở quê nhà, còn trên toàn cầu phim thu hơn 31 triệu USD, thắng hai giải Phim hay nhất và Kịch bản xuất sắc nhất tại giải David di Donatello – một "Oscar” nước Ý – (sau đó được chiếu tại Liên hoan phim Châu Âu tại Việt Nam năm 2020, với tên “Người lạ hoàn hảo”)… Không chỉ dùng lại kịch bản ngoại, không ít đạo diễn trẻ đã làm phim hoàn toàn bắt chước phong cách Tây, như bộ phim có doanh thu khá cao "Em chưa 18" đã được xưng tụng một cách đầy tự hào mà không biết nhục nhã là: "phim Mỹ nói tiếng Việt"! Phim truyện truyền hình cũng vậy, giờ vàng của các Đài Truyền hình, nhất là Đài Truyền hình Trung ương tràn ngập những phim “remake” như vậy – như phim “Người phán xử” chuyển thể của phim Israel, rồi sau đó là cả một série phim “Việt hoá” ra đời: “Cả một đời ân oán” (từ phim Đài Loan), “Sống chung với mẹ chồng” (từ tiểu thuyết “Phù thuỷ dưới đáy biển” của Giả Hiển, Trung Quốc)… Rồi một loạt các kịch bản Hàn Quốc như “Gạo nếp gạo tẻ” (từ phim “Wang Family”), “Mối tình đầu của tôi” (từ “She Was Pretty”); rồi “Hướng dương ngược nắng”, “Hương vị tình thân” đã được “Việt hoá” từ phim Hàn Quốc; cả série phim sit-com của Hàn Quốc cũng được “Việt hoá” thành “Gia đình là số 1”, v.v. Chúng là sự tiếp nối của thảm họa “phim mỳ ăn liền“ xuất hiện từ những năm 80 thế kỷ trước kéo dai dẳng tới hôm nay. Nhiều trí thức đã than phiền, lắc đầu về hiện tượng quái dị, quái thai này của điện ảnh - truyền hình, tiêu biểu như nhà văn Nguyễn Hiếu: “Nghiện biện pháp dễ dãi trong nghệ thuật, làm phim bằng cách Việt hoá kịch bản nước ngoài là một trong những nguyên nhân sâu sa làm lệch lạc, méo mó tâm lý, nhân cách người Việt, chưa nói đến trong lâu dài sẽ làm người Việt rơi vào tình trạng vong quốc nô văn hoá” (“Mối họa tiềm ẩn từ dòng phim Việt hóa kịch bản nước ngoài” - lethieunhon.vn).

Trong phim tài liệu – một thể loại của điện ảnh –, tình hình cũng vậy. Khi người làm phim về chân dung danh nhân văn hóa mà thiếu hụt kiến thức văn học – cụ thể ở đây là kiến thức văn học sử về tác giả, tác phẩm, trên cái nền văn hóa tổng hợp, thì sẽ tạo ra những “hạt sạn” khủng tra tấn khán giả. Ví dụ tiêu biểu hơn cả là bộ phim “Đại thi hào Nguyễn Du” dài 180 phút gần đây nhất được thực hiện với kinh phí khổng lồ: Trong đoạn nói về mẹ thân sinh của Nguyễn Du, với những lời bình so sánh thân phận của bà với nàng Kiều trong tình cảnh bị danh gia họ Hoạn đánh ghen bằng cách bắt hầu rượu, hầu đàn cho hai vợ chồng một cách tủi nhục. Đó là sự so sánh khiên cưỡng, sai sự thật lịch sử! Hơn nữa, cũng trong phim, có nhiều cảnh miêu tả sự gần gũi thân mật của Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm với hai mẹ con Nguyễn Du, sự quan tâm chu đáo chân tình của bà chính thất Nguyễn Thị Dương với Nguyễn Du, và với bà trắc thất Trần Thị Tần – như thế là ý tưởng phim với hình tượng cụ thể phim đã “đánh nhau” kịch liệt! Hay là, tác giả đã miêu tả kỹ sự thân tình của chúa Trịnh Sâm với quan thượng thư Nguyễn Khản – người thay cha dưỡng dục cậu Chiêu Bảy – qua đoạn y hệt “phim truyện”: Nguyễn Khản đưa Chiêu Bảy tới gặp Trịnh Sâm. Đây là một trong những đoạn phim gây phản cảm nhất, không chỉ vì nó hoàn toàn không cần thiết cho phim, mà chính vì đã hạ thấp nhân vật Nguyễn Du khi cho Chúa xoa đầu khen ngợi, động viên và dạy dỗ Nguyễn Du cứ như một nhà văn hóa lớn, một bậc chăn dân mẫu mực!… Trong đoạn phim viên tướng Hoàng Ngũ Phúc trao tặng thanh bảo kiếm cho chú bé Chiêu Bảy được dựng khá công phu, song lại không đưa ra một thông điệp có ý nghĩa gắn với chủ đề tư tưởng phim (vốn rất mờ nhạt). Và khi Tể tướng Nguyễn Nghiễm thay mặt con trai cung kính cảm ơn viên tướng, thì người xem hoàn toàn thất vọng: Người cha vĩ đại đáng kính đó đâu mong muốn con trai mình đi vào con đường của một võ tướng thời loạn mà chính Cụ đã phải thực thi một cách khiên cưỡng, đã phải gác bút cầm gươm để bảo vệ cái chính thể mạt triều Lê - Trịnh thời mục ruỗng!

Rõ ràng là, khi văn học bị buộc rời xa điện ảnh, điện ảnh chỉ còn là sản phẩm thương mại thuần túy nhằm “móc túi” loại khán giả vốn sùng bái nghệ thuật Pop Art và không thể thưởng thức nổi âm nhạc không lời của Chopin, Mozart, Schubert… Một nền điện ảnh dân tộc xứng đáng để có thể xuất hiện trên bản đồ điện ảnh thế giới, bắt buộc phải lấy Giá trị - Thước đo của văn học làm cơ sở gốc, làm trọng tài chính cho mình. Có thế, tác phẩm điện ảnh mới đạt được cái tiêu chuẩn Triết - Mỹ mà nhà Ký hiệu học người Nga I.M. Lotman đã từng nêu ra từ giữa thế kỷ trước: “Con người có kết cấu trên màn ảnh phức tạp sẽ làm cho con người ngồi trong rạp về mặt trí tuệ và xúc cảm cũng phức tạp hơn (ngược lại, một kết cấu nguyên thủy thì tạo ra một khán giả nguyên thủy). Chỗ đó là sức mạnh của nghệ thuật điện ảnh, cũng chính là trách nhiệm của nó” [3].

____________

1. Alain de Botton. Proust có thể thay đổi cuộc đời bạn như thế nào - Trần Quốc Tân dịch, NXB Thế Giới, Hà Nội 2019, tr. 20, tr. 39.

2. R.M. Albérès. Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu Châu thế kỷ XX (1900-1959). (Vũ Đình Lưu dịch). NXB Văn học, Hà Nội 2017, tr. 27-28.

3. Roland Barthes. Những huyền thoại (Phùng Văn Tửu dịch), NXB Tri thức, Hà Nội 2008, tr. 81.

4. I.M. Lotman: Ký hiệu học và mỹ học Điện ảnh (Bạch Bích dịch). Viện Nghệ thuật & Lưu trữ Điện ảnh Việt Nam xuất bản, Hà Nội 1997, tr. 674.

Tìm hiểu văn học Belarus: bốn nhà thơ

Phan Tấn Hải

Chúng ta đều biết rằng Belarus là một nhà nước toàn trị, tuy mức độ cai trị không khắc nghiệt như ở Nga nhưng vẫn là độc tài hơn hầu hết các nước ở Châu Âu. Tuy nhiên văn học Belarus lại là một lĩnh vực không liên hệ bao nhiêu tới những cam kết chính trị của nhà nước Belarus trong nỗ lực hỗ trợ cuộc chiến của Putin tại Ukraine. Những bài thơ được dịch từ tiếng Belarus sang tiếng Anh đang phổ biến trên nhiều mạng trong học giới Hoa Kỳ cho thấy một khuôn mặt văn học Belarus rất mực thơ mộng của một dân tộc đang tìm tới chân, thiện, mỹ.

Một màu tím làm day dứt mãi

Hà Nhật

Từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, xuất hiện bút danh của một nhà thơ, độc đáo là chỉ có một từ: HỮU. Bút danh này xuất hiện với những bài thơ hay, chẳng hạn như bài Đèo Cả, với những câu mà Xuân Diệu khen nức nở trong một bài của mục Tiếng thơ:

Đèo Cả

Đèo Cả

Mây Ai Lao

Sầu đại dương

Đá bia mù sương

Dặm về heo hút

Mà thương ai lên đường

Chầy ngày lạc giữa núi

Sau chân

Lối vàng

xanh tuôn

Hồi ấy nhà thơ đã nổi tiếng.

Tuy nhiên, Hữu chỉ thực nổi tiếng, đến vang dội, sau khi khắp nơi truyền đi một bài thơ: MÀU TÍM HOA SIM.

Có một điều rất lạ: bài thơ của một người lính Việt Minh lại nổi tiếng trong vùng Pháp chiếm hơn là trong vùng mà nó được sinh ra. Từ Hà Nội, đến Huế, Sài Gòn, ở đâu cũng có nhiều người chuyền tay nhau chép rồi ngâm ngợi bài thơ. Chính tôi được một người bạn đưa cho chép rồi thuộc lòng bài thơ này khi đang học ở trường Khải Định – Huế.

Đến sau này, khi anh Nguyễn Bính bảo đưa in bài Màu tím hoa sim lên báo Trăm hoa, tôi cũng từ trí nhớ mà chép lại rồi đưa đến nhà in.

Mãi đến khi Hà Nội giải phóng, ra Hà Nội, tôi mới biết Hữu, không ai khác, chính là Hữu Loan. Còn hay hơn, tôi gặp chính nhà thơ Hữu Loan ở nhà của nhà thơ Nguyễn Bính. Tôi còn nhớ dáng anh trong lần gặp đầu tiên: cao gầy, rắn rỏi, hơi có chút khắc khổ. Có lẽ nhờ cái dáng này mà anh đứng vững trong những năm gay go nhất của cuộc đời.

Bị kỷ luật, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, anh không thèm chờ đợi bất cứ sự ban ơn nào, mà dứt áo rời khỏi Hà Nội, trở về quê hương Thanh Hoá, bắt đầu một cái nghề kiếm sống cực kỳ vất vả: đẩy xe chở đá. (Cũng nên biết rằng, trong những năm kháng chiến, anh từng là cán bộ chỉ huy, từng là người điều khiển một tờ báo của quân đội: báo Vệ quốc quân).

Hữu Loan phải làm như thế, bởi anh từng viết bài thơ chống những kẻ nịnh hót, với những câu thơ viết về những kẻ ấy:

Hít thượng cấp cứ thơm như múi mít!

Hữu Loan không thể “hít thượng cấp”!

Hữu là thế! Hữu Loan là thế!

Sau này, khi nhận bình thơ cho  Đài truyền hình HTV ở Sài Gòn, tôi cố gắng tìm cách đưa lên bài thơ đặc biệt không thể quên của Hữu Loan: Màu tím hoa sim.

Những câu thơ dung dị đến tận cùng, cũng yêu thương đến tận cùng, và cũng đau đến tận cùng. Mở đầu cứ thủ thỉ như lời chuyện trò. Mà đúng hơn, là lời tự mình trò chuyện với mình:

Nàng có ba người anh

Đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

.

Tôi

Người Vệ quốc quân

Xa gia đình

Yêu nàng

Như tình yêu em gái…

.

Ngày hợp hôn

Nàng

không đòi may áo cưới

Tôi mặc đồ quân nhân

Đôi giày đinh

Bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

Bên anh chồng

độc đáo

Đúng là độc đáo: một đám cưới độc đáo, một chú rể độc đáo, một cô dâu độc đáo.

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Thật giản dị, thật hồn nhiên. Thế mà trong cái vui đã ẩn chứa cái buồn:

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng đời chiến chinh

Mấy người đi

Trở lại

.

Lỡ khi mình

Không về

Thì thương

Người vợ

Chờ

Bé bỏng

Chiều quê

Đẹp quá, tình yêu của người chồng. Nhưng sao mà buồn thế! Cứ như một dự cảm đau đớn:

Nhưng

Không chết

Người trai

Khói lửa

.

Mà chết

Người

Gái nhỏ

Hậu phương 

Rồi dự cảm thành sự thật hiện ra ngay trước mắt:

Tôi về

không

gặp nàng

.

Má tôi ngồi

bên mộ con

Đầy bóng tối

.

Chiếc bình hoa ngày cưới

Thành

bình hương

Tàn lạnh

vây quanh

Khi tóc nàng xanh xanh

Ngắn chưa đầy búi

.

Em ơi

Giây phút cuối

Không được

nghe nhau nói

Không được trông nhau

Một lần 

Kỷ niệm cũ ùa về:

Ngày xưa

Nàng yêu hoa sim tím

Áo nàng

màu tím hoa sim

.

Ngày xưa

Đèn khuya bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

Ngày xưa…

Đúng là những nỗi đau chỉ thời chiến tranh mới có:

Một chiều rừng mưa

Ba người anh

Trên chiến trường Đông Bắc

Được tin

Em gái

Mất

Trước tin em lấy chồng

.

Một sớm thu về

Dờn dợn

Nước sông

Đứa em nhỏ

Lớn lên

Ngỡ ngàng

Trông

Ảnh chị

.

Những sớm thu về

Cỏ vàng

Chân mộ chí

Chao ôi, một đoạn thơ cuối cùng, đọc là không thể quên, bởi nó đi đến tận cùng nỗi buồn, tận cùng nỗi đau:

Những chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim

.

Những đồi hoa sim

Dài trong chiều

Không hết

Màu tím hoa sim

Tím chiều hoang biền biệt

.

Nhìn áo rách vai

Tôi hát trong màu hoa

Áo anh đứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm mẹ già xa lâu…

.

Thật như một sự tình cờ cho thơ Việt Nam: cái chết bất ngờ của cô gái trẻ tên Ninh ở một làng quê Thanh Hoá, đã đưa đến cho thơ Việt Nam một bài thơ tình giản dị mà hay vô cùng. Đây là bài thơ tình hay nhất thời chiến, bài thơ tình hay nhất của thơ Việt Nam!

Tấm lòng một người chồng. Tấm lòng một người lính. Tấm lòng một nhà thơ..

Một màu tím cứ day dứt mãi lòng người!

Đêm giữa ban ngày (kỳ 25)

37

Tù chính trị ở trại Tân Lập khá đông. Tại nơi tôi được đưa tới, sau mới biết tên là Trại A Tân Lập, có tới trên hai trăm người “số lẻ”. Sáng hôm sau, khi theo mọi người ra sân trại để nhập vào cái khối xám xịt lúp xúp nón mê đang ngồi xổm úp mặt vào lưng nhau chờ bị gọi đi lao động. Nhìn diện mạo những bạn tù này tôi sửng sốt: "Thế này mà là những người làm chính trị ư?!!".

Cuộc đến thăm một người hiền của Sài Gòn (Mênh mông thế sự để gió cuốn đi số 135)

Tương Lai

imageTừ lâu, chính xác hơn là từ cách đây ba năm, khi cụ Nguyễn Đình Đầu mừng sinh nhật thứ 100 tôi đã ấp ủ một cuộc đến thăm Cụ – người mà theo tôi – là một trí thức tiêu biểu nhất của Sài Gòn, vì thế tôi rất mực kính trọng. Càng thiết tha hơn khi vị sử gia lão thành đáng kính ấy lại dành cho tôi một tình cảm đặc biệt, không chỉ gửi tặng sách cụ vừa viết, mà còn chia sẻ những ý tưởng thân tình với tư cách là một người bạn vong niên (cụ hơn tôi trên một giáp), như có lần cụ báo cho tôi biết là cuốn sách tâm huyết cụ dành cho học giả Trương Vĩnh Ký bị thu hồi với giọng trầm buồn pha vị đắng cay về thế sự.

Từ lâu, chính xác hơn là từ cách đây ba năm, khi cụ Nguyễn Đình Đầu mừng sinh nhật thứ 100 tôi đã ấp ủ một cuộc đến thăm Cụ – người mà theo tôi – là một trí thức tiêu biểu nhất của Sài Gòn, vì thế tôi rất mực kính trọng. Càng thiết tha hơn khi vị sử gia lão thành đáng kính ấy lại dành cho tôi một tình cảm đặc biệt, không chỉ gửi tặng sách cụ vừa viết, mà còn chia sẻ những ý tưởng thân tình với tư cách là một người bạn vong niên (cụ hơn tôi trên một giáp), như có lần cụ báo cho tôi biết là cuốn sách tâm huyết cụ dành cho học giả Trương Vĩnh Ký bị thu hồi với giọng trầm buồn pha vị đắng cay về thế sự.

Thế mà hôm rồi lại chính cụ nhắn tôi đến chơi. Tuy đang bệnh, đi lại khó khăn, tôi cũng quyết đến thăm vị sử gia hiếm có ấy ngay. May mắn là Tô Lê Sơn, ông bạn quý của tôi vui vẻ nhận lời đem xe đưa tôi đến nhà cụ. Loay hoay mãi hai chúng tôi không mở được cửa mặc dầu đã đứng ngay ở cầu thang gác. Tôi lại phải gọi cho anh Nguyễn Quốc Thái nhờ hướng dẫn cách mở khoá.

Chúng ta 2022

Thái Hạo

Hội nghị những người viết văn trẻ: “Vì sao chúng ta viết”. Một câu hỏi hay, và súc tích. Nhưng khiến tôi sợ hãi.

Hai chữ “chúng ta” là nỗi sợ hãi. Tại sao không phải là “Vì sao TÔI viết”, mà lại là “chúng ta”?

Có những điều tưởng như đã chết cách nay một thế kỷ, nhưng không, nó đội mồ sống dậy. Hay là nó chưa bao giờ chết?

Đêm giữa ban ngày (kỳ 24)

36

Sau cuộc nói chuyện với Hán Còi trong khu kỷ luật, tôi không thiết làm việc gì nữa. Trong việc bắt tôi, chính quyền có thể sai lầm, hãy độ lượng thêm một lần để cho rằng như thế. Nhưng trong việc tước bỏ quyền được luật pháp bảo hộ của công dân, chính quyền chứng tỏ nó không phải chính quyền của dân nữa. Nó không vì dân, nó không hề bảo vệ dân. Nó chỉ vì nó, nó chỉ bảo vệ chính nó.

Mặt trời lụi tàn

Truyện Hoàng Thu Phố

1.

“Khi ánh sáng một lần nữa soi chiếu, ta bỏ lại tàn lụi thế giới này” (*)

Hiên nghỉ việc hai năm, dùng số tiền tiết kiệm để sống, chẳng làm gì, đơn giản chỉ là sống, lang thang và sống.
Điện thoại nhấp nháy sáng, Hiên để chế độ như vậy để bớt bị làm phiền, bớt những thứ quấy nhiễu mình từ đời sống xập xình chạy nhảy ngoài kia. Hiên thích khi nghĩ đến việc, một lúc nào đó từ bỏ những tiện nghi của thế giới này, không iPhone, không facebook, không gmail, không báo mạng, không ti vi, nói không với những giá trị mà ai ai ồn ã theo đuổi (trong số đó có mặt cả Hiên lúc này). Hiên sẽ tự do theo đúng nghĩa – trong suy nghĩ, có thể đi bất cứ đâu mà không cần đoái hoài điều gì cả (và không bận tâm xem có ai đó nhắc nhở, có ai đó có thể đang kiếm tìm, hay dõi theo mình ở bất kỳ nơi đâu trên những không gian ảo vô nghĩa hoàn toàn đó). Như có lần Hiên xem một bộ phim, kẻ đao khách lang bạt nửa đời chọn cách dừng lại ở lưng chừng thanh xuân, trú chân trên một ốc đảo mở một tửu điếm giữa bạt ngàn mênh mông mặt trời với cát bỏng, sống lẳng lặng giữa lay lắt muộn phiền, vài thứ chờ đợi trong vô vọng, ngày tháng như đang dần vứt đi. Và mỗi năm khi cơn gió Đông đầu tiên táp vào cái chuông gió cũ kỹ xỉn màu như thể tất cả đã lãng quên kẻ giang hồ tự quên mình đó, một người bạn không tên, không rõ tung tích, không biết quê hương, lại xuất hiện. Hiên không nhớ họ đã đối đáp trong câu chuyện bằng những gì, chỉ biết sau ba ngày ngồi với nhau và rượu, kẻ không quê hương đó lại bỏ đi, để lại những lửng lơ không giải thích nổi, và lời hẹn tái ngộ khi gió Đông thổi một lần nữa vào năm sau, không có tiệc chia tay, không những câu nói hay cái bắt tay của cuộc đưa tiễn vẫn thường thấy, kẻ ra đi thì biết ra đi, kẻ ở lại biết mình ở lại. Hiên có bao giờ đến đoạn phiêu du như vậy, có một nơi bơ vơ như một địa chỉ để đi và đến, một thứ biết sẽ không phải kiếm tìm, – và cứ như lịch đã hẹn, Hiên sẽ giã biệt những bùng nhùng đang vây lấy mình trong mỏi mệt rời rã này, lang thang bất chợt như bất cứ kẻ si tình ăn phải bùa mê nào, như cọng cỏ nảy những màu chồi xanh trên năm tháng đìu hiu mà không cần trông ngóng hay hy vọng quá nhiều vào điều gì, vào thứ gì mà thực ra chỉ là ảo vọng bên rìa đời sống.
Cuộc gọi nhỡ lần thứ ba, màn hình lưu lại thứ ánh sáng trong nhờ nhờ xanh hắt lên trước khi vụt tắt. Ngày đang tắt.
Tháng bảy, vàng óng. Mùa hè, buổi chiều đang gió. Hiên cởi trần nằm như con cá ươn bị quăng lên bờ cỏ, chung quanh nào cơ man là nắng, mắt lim dim.

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2022

Mưa ngày cũ

Truyện Đặng Mai Lan

Trong số 48 truyện ngắn, Mưa ngày cũ là bài thứ nhất tác giả chọn đăng vào tuyển tập "Văn Tuyển 30" vừa mới phát hành. Vì đó là truyện ngắn đầu tiên được viết ở hải ngoại mà Đặng Mai Lan ví như "tình đầu". Mối tình non dại với văn chương.

Mưa quá khứ, mưa đìu hiu nơi đất lạ, quê người...

Mời bạn bước vào không khí lan man những giọt mưa của Đặng Mai Lan từ 30 năm trước.

Văn Việt

 

Tôi sửng sốt nhìn người đàn ông đối diện. Đôi mắt của tôi hẳn là ngây dại lắm bởi vì tôi không tin vào nhãn quan của mình, những gì đang hiển hiện trước mắt. Cảnh vật, dòng người, xe cộ của một Paris ồn ào bỗng mờ nhạt lung linh. Tôi lặng lờ, nín bặt. Tôi chơi vơi, lạnh lẽo dù mùa hè đang trải dài. Nắng tươi vàng nơi những hàng cây, lấp lánh trên dòng sông trước mặt. Nắng mơn trớn những cánh tay trơn, phiến lưng trần và những vai áo hở, những phần thân thể hân hoan, khoe khoang thèm khát mặt trời. Vậy mà tôi lạnh. Một giây, hai giây tích tắc, tôi nghe tim mình đập những nhịp thổn thức.

Đến khi cảm thấy thôi không nghẹn ứa. Tôi cố gắng bật tiếng nói. Âm thanh khô, đặc. Tiếng nói mở ra của một lâu dài đóng kín.

- Anh Vinh! Thật là anh sao?

Anh Vinh cười, hình như anh bối rối vì hai cánh tay thừa thãi không biết làm gì. Bất ngờ quá, anh lúng túng không dám ôm tôi. Chúng tôi không dám ôm chầm lấy nhau mừng rỡ như mọi người ở xứ này, dù thời gian xa cách đã quá lâu. Sự ôm siết dẫu có cũng không thể nào vừa đủ. Thế mà anh chỉ vuốt tóc tôi. Cái vuốt tóc nhẹ nhàng như thuở nào tôi còn bé. Vậy mà tôi nghe những chân tóc rưng rưng. Từ những ngón tay anh, tôi biết anh cũng đang xúc động.

- Anh đây! Anh cũng không ngờ sao lại có thể gặp Quyên ở nơi này. Đi, đi với anh vào đây. Anh muốn biết em ở đâu và như thế nào bây giờ?

Tôi líu ríu theo anh vào quán. Quán chiều tấp nập, nơi chúng tôi ngồi có thể nhìn thấy đỉnh nhà thờ của thành phố. Dòng sông lờ lững chảy quanh, những nhịp cầu xám đục và cả khu công viên xanh mướt xa xa. Trên vỉa hè, lũ chim bồ câu đang từng bước thong thả tìm kiếm những vụn bánh rơi, hay một thứ gì chúng có thể ăn được.

Paris và người đàn ông trước mặt tôi. Cả hai đều là mộng. Người mộng, mộng của những ngày mới lớn, thời chăm chỉ sách đèn. Và bây giờ tôi đang có cả hai. Tất cả đang hiện hữu, kề cận, điều mà tôi không bao giờ ngờ đến. Anh Vinh mang nhiều nét già dặn phong trần nhưng trong tôi vẫn thấp thoáng hình ảnh người học trò trọ học của xóm nhỏ năm nào.

Anh nhìn tôi, ánh mắt chứa chan. Tôi cảm tưởng như đang bềnh bồng trôi trong một dòng suối mát của một ngày hè rực nắng.

- Bao lâu rồi mình mới gặp nhau? Anh muốn nghe em kể về em.

Không đợi tôi nói, anh tiếp lời:

- Sau khi đi tù về, trước ngày vượt biên anh có về lại xóm cũ hay tin em đã lấy chồng và xuất ngoại.

Một thoáng giận dỗi nhen nhúm trong lòng. Tôi nói:

- Tính ra đã gần hai mươi năm. Anh trở về nhà cũ thật sao? Em tưởng anh đi luôn từ ngày đó. Sau ngày căn nhà bác anh bị pháo kích hình như em không còn thấy anh một lần nào nữa.

- Tầm bậy! Thỉnh thoảng được phép anh có ghé về, nhưng em lớn rồi, hay đi chơi, em đâu có ở nhà mà thấy anh.

Câu nói trách móc của anh chợt làm tôi buồn bã. Có điều gì chận thắt ngang tim. Hình ảnh cũ, một quá khứ xa xưa chợt bừng sống lại. Căn nhà nhỏ của gia đình tôi trong lòng con ngõ hẹp. Chiều hôm ấy mưa dai dẳng lê thê, mưa cầm chân tôi ở nhà cô bạn học. Khi tôi về, bước vào nhà nhìn thấy chiếc ghế nệm xoay màu rêu cũ, và cây đàn guitar không được để đúng vị trí bình thường, lòng bỗng bùi ngùi khó tả. Ai đã đến ngồi đó cầm đàn và đã bỏ đi?

Bà chị trạc tuổi Vinh nhìn tôi cười hóm hỉnh:

- Anh chàng Vinh về thăm ông bác mà không hiểu sao lại vô nhà mình. Hắn ngồi chờ mày cả buổi. Còn cầm cây đàn chơi vài đoạn nữa mới oai! Coi bộ đi lính thay tâm đổi tính, hết cù lần.

Gần mười sáu tuổi, tình cảm tôi cho anh nhẹ nhàng. Tình yêu, tình thương, sự quý mến nhập nhằng muôn sắc màu trong tôi. Nhưng tôi thật sự đau lòng và xót xa quá đỗi khi nhìn cảnh tượng trước mắt. Anh đã ngồi đó, ôm đàn đệm một khúc nhạc chờ tôi. Đó là lần đầu anh bước vào nhà. Cũng là lần cuối cùng, không bao giờ tôi gặp lại anh thêm lần nào khác. Hai mươi năm rồi, nhưng khung cảnh một bóng tối nhá nhem, không khí ướt lạnh lan man của cơn mưa chiều muộn. Tôi tóc ướt, áo ẩm hơi mưa, lạnh lẽo đứng nhìn đám ghế bàn xô lệch cùng một cảm giác buồn rầu. Làm sao anh biết được, tối đó tôi đã ngồi bên khung cửa sổ, nhìn suốt ngõ mưa tưởng tượng anh đến rồi đi với bao nuối tiếc.

Vinh sống trên vùng cao nguyên. Sau khi đậu tú tài phần một anh vào Sài Gòn thi tiếp phần hai để vào đại học, vì nơi anh ở không có phân khoa anh chọn. Anh trọ nhà người bác, bạn của ba anh. Căn nhà ngay đầu ngõ có cây trứng cá trước sân. Mỗi ngày trên căn gác, qua vuông cửa sổ tôi có thể nhìn thấy bóng anh đi về những sáng, những chiều. Anh dựng xe, huýt sáo một điệu nhạc vui, cũng có khi anh trầm ngâm, tư lự.

Vinh sinh ra trong một gia đình khá giả, học hành giỏi giang, lại hiền lành nhã nhặn. Anh như một hình tượng lý tưởng cho đám trẻ trong xóm. Dĩ nhiên trong tâm hồn tôi, một cô gái vừa lớn.

Anh quý tôi lắm. Tôi là một cô em ngoan hay một người bạn nhỏ của anh? Tôi không hiểu, không xác định được chỗ đứng của mình nhưng tôi có rất nhiều quà tặng của anh. Những món quà nho nhỏ mà mẹ tôi, anh chị tôi chẳng ai có thể nghĩ đến để cho tôi. Anh giúp tôi làm những bài toán khó và khi chúng tôi bên nhau anh bày tỏ ước mơ của anh. Nếu bị động viên anh sẽ xin gia nhập binh chủng Không Quân. Anh mơ lướt gió cưỡi mây, mơ làm người hùng của không gian vô tận. Khi tôi kể điều này với chị tôi, chị phá lên cười. Chị bảo không thể nào nghĩ là anh có thể tâm sự được với một con nhóc, còn thích đi chân đất như tôi. Đáng lẽ những điều đó phải cho các chị, các cô hàng xóm đã biết tô phấn, tô son, đã biết cắn môi cười duyên dáng trước người khác phái. Với chị, anh là một tên thư sinh ngây ngô cù lần nhưng với tôi thì khác. Anh lý tưởng và đầy dũng khí.

Mùa xuân, anh về cao nguyên ăn Tết. Những ngày Tết bỗng nhộn nhịp hơn, tưng bừng hơn vì pháo nổ suốt ngày đêm. Rồi sau đó là đạn bay, lửa cháy. Chị em tôi bị giam nhốt trong nhà, trong nỗi sợ hãi vì chung quanh đầy những âm thanh cuồng nộ. Tiếng đạn bay vút trong không gian. Tiếng xe nhà binh dồn dập nghiến trên mặt đường ngoài phố. Tiếng người xướng ngôn viên lặp đi, lặp lại đều đặn trên máy phát thanh kêu gọi quân nhân các cấp đang nghỉ Tết phải trở về đơn vị gốc, và lời gọi hối thúc cư dân vùng Bà Quẹo phải di tản vì sẽ có một cuộc oanh kích. Tôi đã lén lên gác, bắc ghế trèo lên chỗ có cánh cửa lưới mà nơi đó chỉ cần nhướng người ló đầu ra là có thể nhìn thấy hướng mà phi cơ sẽ dội bom. Tôi thấy những chiếc máy bay hạ thấp, rồi lại vút lên cao. Mỗi lần như thế, những loạt đạn hình thoi được rơi ra từ thân tàu. Những tiếng nổ khô khan bật lên và sau đó là khói đen mù mịt. Tôi đã không hãi sợ trước hình ảnh chiến tranh kề cận. Tôi nghĩ đến Vinh, anh cũng sẽ dũng cảm và oai hùng như thế nếu anh bị động viên, đăng lính không quân như anh mơ ước.

Một đêm, cả nhà thức giấc ngơ ngác vì những tiếng nổ thật gần. Và sau đó là những tiếng chân khua chạy đầu ngõ, mùi khói khét tỏa lan. Mẹ tôi lâm râm cầu nguyện. Tiếng còi xe cứu thương hối hả, những tiếng nói ồn ào cất lên cùng những giọng xuýt xoa. Ngôi nhà đầu ngõ tiêu rồi! May phước quả đạn không rớt về phía trái, không về phía phải. Ôi đầy những "may phước" cho nhiều nhà, nhưng không may cho ngôi nhà Vinh ở trọ. Tất cả sụp đổ tan hoang. Anh bắt buộc phải xa rời xóm nhỏ sau những ngày xuân buồn thảm. Còn tôi mỗi ngày đi về dưới tàn cây trứng cá im lìm nhìn căn nhà nám đen, đống gạch vụn vỡ. Tôi buồn buồn với những mất mát trống không.

Sau đó anh vào lính. Thời gian ở quân trường, mỗi lần anh trở về xóm thăm người bác, tôi vẫn để mắt theo dõi khi nhìn thấy chiếc xe quen thuộc đậu trước hiên nhà. Anh đen sạm vì nắng quân trường. Tôi ngượng ngùng trốn không gặp anh. Tôi không hiểu vì sao, chẳng lẽ chỉ vì tôi đã lớn. Rồi anh thuyên chuyển đi xa và lập gia đình ở một tỉnh lỵ vùng biển, nơi đơn vị anh trú đóng. Tôi biết tin anh như thế qua người chủ căn nhà trọ. Tôi lớn lên cùng với nỗi buồn man mác, hối tiếc cho lần cuối cùng anh đến nhà không gặp. Chiếc ghế, cây đàn tôi nhìn mỗi ngày đã như một chứng tích buồn.

Bây giờ anh đang ngồi trước mặt, đang nhìn tôi đăm đăm. Có lẽ cũng như tôi, anh cố tìm kiếm chút gì còn lại ở những năm tháng đã qua đi.

Tôi nói:

- Em già đi nhiều phải không anh? Gặp lại anh, nghĩ đến thời gian qua hãi hùng quá. Những ngày chân ướt chân ráo đến đây em rất là tủi thân. Bất đồng ngôn ngữ, lại phải tập tành những công việc tưởng là mình không thể nào, không bao giờ làm được. Thế mà vẫn phải làm để trở thành nghiệp dĩ. Đôi khi em nghĩ, nếu còn ở quê nhà chắc chắn em còn khổ sở lao đao hơn nữa. Nhưng em có mặc cảm khổ tâm như ở đây không?

Nơi em sống là một tỉnh nhỏ cách đây khoảng hai trăm cây số. Thị trấn êm đềm, buồn thiu. Khu chung cư em ở gần một trường đại học và một công viên thật rộng. Mùa thu từ khung cửa nhìn ra có thể thấy một khoảng rừng vàng xác lá và xa hơn nữa là tháp chuông nhà thờ im lìm trong sương. Tòa nhà thờ cổ kính từ thế kỷ 13 qua bao tàn phá khủng khiếp thời Đệ Nhị Thế Chiến mà nó vẫn đứng sừng sững, cô đơn giữa những kiến trúc tân kỳ. Thực cảnh gần gũi với em, vì đôi khi em thấy mình cũng cô đơn như thế giữa những mới lạ nơi đây. Đừng nhìn em bằng cặp mắt ngờ vực. Em hạnh phúc an nhiên, nhưng ngoài cuộc sống lứa đôi, ngoài tình yêu và những nhu cầu vật chất chúng ta thật sự có mong muốn thêm gì nữa ở nơi chốn này, giữa cảnh đời lưu lạc? Anh Vinh à, thật không tưởng nổi, anh bỗng hiện ra lạ lùng trong vô số âm thầm tìm kiếm của em. Chúng ta tưởng đã lạc mất nhau từ thuở nào kia mà! Tôi kể lể miên man không mạch lạc. Giọng nói tôi có lúc chùng thấp như bị hụt hơi. Đáng lý tôi phải cười sung sướng, cười hân hoan trong niềm hạnh ngộ.

- Tội nghiệp em!

Năm ngón tay tôi run rẩy trong bàn tay anh. Những ngón tay dường như biết khóc. Tiếng nói anh bên tai tôi u ẩn buồn rầu:

- Mai anh đi rồi. Hôm nay là ngày cuối cùng của ba tuần lễ anh ở đây. Kể ra anh cũng còn may mắn, chúng ta còn may mắn. Vui lên đi Quyên, anh sẽ cho em hết một buổi tối này. Để anh đi gọi điện thoại cho người bạn hủy bỏ chương trình với anh ta tối nay nhưng quan trọng là em.

Anh nhìn tôi, nét mặt đăm chiêu nghi ngại:

- Anh muốn mời vợ chồng em dùng cơm tối với anh được chứ?

Tôi nói:

- Không anh Vinh! Em không có gì vướng bận. Em lên đây có công việc, nên đi một mình. Em cũng sẽ gọi về nhà người bạn. Gặp lại anh em mừng lắm, anh biết mà! Em muốn được ngồi trò chuyện với anh như ngày còn nhỏ dại.

Mai anh đi rồi! Lại là ngày cuối, phút cuối và sẽ bao lâu nữa cho một lần gặp lại mai sau? Một chu kỳ hai mươi năm nữa chăng? Chắc rồi ta sẽ răng long đầu bạc mà nhìn nhau. Và đây có phải là chút hạnh phúc nhỏ nhoi mà biết đâu trong quá khứ êm đềm xưa tôi đã chẳng một lần ao ước? Tôi muốn níu lấy nó bây giờ vì chiều đang đi và đêm sẽ đến. Tôi như cô bé lọ lem được khoác chiếc áo lóng lánh chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi.

Chúng tôi ngồi bên nhau, nồng ấm như một cặp tình nhân nhưng hai tâm hồn thì tan tác theo từng nỗi buồn hồi tưởng.

Như số phận của bao người sau ngày cáo chung bi thảm của đất nước. Anh kể tôi nghe về những ngày lao lung gian nan giữa chốn rừng thiêng nước độc, những ngày bấp bênh cơ cực chờ một chuyến đi, một bến bờ. Chúng tôi kể cho nhau nghe nhiều chuyện sau cuộc đổi đời. Nhưng không nói nhiều về đời sống hiện tại. Cơ hồ cả hai đều không muốn bất cứ một điều gì của đời sống riêng tư làm lu mờ thứ quá khứ trong vắt như pha lê vừa tìm thấy lại.

Nhưng rồi anh ngập ngừng nhìn tôi:

- Quyên!

- Dạ!

- Chúng ta xa nhau lâu lắm rồi, em vẫn quý mến anh như ngày nào chứ?

- Sao anh lại hỏi thế?

- Như em nói, em an lành và hạnh phúc sao nụ cười của em buồn quá. Anh cảm thấy dường như em không được vui lắm. Thực sự em sống ra sao?

Tôi muốn chảy nước mắt. Làm sao anh hiểu được gặp anh tôi vui nhiều nhưng buồn cũng không kém khi nhớ lại chiều mưa năm nào. Và tôi biết phải nói gì với anh đây?

- Anh thấy như thế sao? Chắc em đã già, đã khô khan cằn cỗi. Làm sao có thể tìm lại được tuổi mười sáu khi mình sắp bước qua tuổi ba mươi. Anh làm em tủi thân và đau lòng quá!

Tôi cười nhưng anh không cười. Tôi xoay xoay ly rượu. Hình như rượu cũng buồn. Rượu rưng rưng ly đỏ tràn trề (1). Câu hát chợt về bên tai, ý nghĩa thấm thía tận cùng. Và tôi không cười nữa.

Giọng nói tôi ngầy ngật như tẩm một chất men:

- Anh Vinh à, thôi em không đùa nữa, không cười nữa. Đừng lo lắng gì cho em, em hiểu những gì anh nói. Vật chất và phồn hoa ở đây không cho tinh thần em được một sự êm đềm trọn vẹn. Em sống bình thản mặt sống bên ngoài nhưng bên trong em đầy nuối tiếc. Nuối tiếc cho những giấc mộng, những ao ước của một tuổi hoa niên không thành tựu dở dang. Bây giờ gặp lại anh, buồn ghê! Em nhớ tàng cây trứng cá trước hiên nhà, những buổi trưa nắng êm ả chiếu rọi từng chùm ánh sáng nhảy múa, lay động theo từng bóng lá và thềm nhà đầy những hoa trắng rụng. Em nhớ miên man từng âm thanh tiếng động nơi ngõ cũ quê nhà. Luôn cả tiếng động cơ xe gắn máy anh đi về mỗi ngày nữa anh Vinh à. Anh có biết không?

- Thôi đừng nhắc nhở nữa Quyên. Em còn trẻ để bắt đầu làm lại tất cả. Anh cũng phải cố gắng rất nhiều. Ráng cười một nụ cười thật tươi đi, anh muốn thấy em cười.

Tôi nhấp thêm ngụm rượu. Anh lãng đãng thả hồn theo khói thuốc. Anh hút thuốc tự bao giờ nhỉ? Và tự lúc nào tôi đã biết nhấm nháp vị cay?

Tôi giấu hai tay vào túi áo. Đêm hè xứ người chẳng hè chút nào vì bỗng dưng trời trở lạnh. Khi về đến khoảng đường dành cho taxi chúng tôi đi chậm lại.

- Em muốn anh cùng lên taxi, đưa em về chứ?

- Thôi anh! Anh về đi. Em mong anh vui, bình an và hạnh phúc. Em thương anh!

Ba chữ "em thương anh" đã ấp ủ bao nhiêu năm tháng giờ bật ra không một đắn đo, toan tính. Tôi ngượng ngùng quay đi không dám nhìn anh nữa.

Những ngọn đèn đường vàng vọt đủ soi rõ hai chiếc bóng nhập vào nhau. Tôi có đang mơ không? Khuôn mặt tôi đang áp vào ngực anh ấm áp.

Tôi ngước lên:

- Anh nói gì với em đi chứ?

- Quyên nè! Có một câu từ lâu anh muốn nói với em, từ những ngày còn ở quê nhà, nhưng anh ngại ngùng vì lúc đó nhìn em hồn nhiên bé bỏng. Anh giữ mãi trong lòng cho đến ngày phải xa Sài Gòn, về đơn vị mới. Đó là một buổi chiều mưa rơi không ngừng, anh muốn đến rủ em đi uống cà phê ở quán gần nhà. Một điều chưa bao giờ có giữa đôi ta… Em nhắc bao nhiêu kỷ niệm, nhưng có bao giờ em nhớ tới một cơn mưa? Hay em không hề hay biết có người đã ngồi nao nức chờ em trong một buổi chiều mưa lướt thướt?

Giọt mưa quá khứ ứa ra trong mắt tôi:

- Em buồn lắm, hôm đó mưa lớn quá. Em đến nhà cô bạn mượn sách và chờ mưa tạnh để về. Có bao giờ em la cà suốt một buổi chiều. Tại sao anh lại đến nhà trong thời khắc đó?

- Em hiểu rồi đó. Câu nói chưa bao giờ được thốt lên nhưng còn mãi trong anh. Nếu hôm đó gặp em thì sao? Cũng chưa chắc anh dám ngỏ lời. Nhưng bây giờ anh nghĩ, định mệnh, đời sống đẩy đưa chỉ bằng một cơn mưa. Anh không ngờ anh đi luôn từ dạo đó. Đừng buồn nữa, anh xin lỗi em.

Em không buồn đâu, dù em chưa được một lần ngồi quán với anh. Điều mà có lẽ ngày đó em không hề dám mơ tưởng. Nhưng bây giờ chúng ta đang ngồi với nhau, quán lạ, một nơi không phải quê nhà. Cũng là một ân sủng của định mệnh. Anh cũng vui lắm phải không anh?

Đường Vinh về trời có mưa không? Ngồi trong lòng xe, tôi thấy mưa mù mịt.

Căn nhà đầy tiếng cười đùa vui vẻ. Mọi người đang lăng xăng thu dọn bát đĩa để chuẩn bị một chương trình văn nghệ bỏ túi, một thứ sinh hoạt thường có sau những lúc trà dư tửu hậu bởi chủ nhà là một nhạc sĩ.

Chị bạn nhìn tôi:

- Đi dữ nhe! Sao, gặp lại bạn cũ vui không? Vậy mà không mời về đây nhập cuộc.

Tôi nói dối trơn tru:

- Chị bạn hàng xóm hồi xưa ấy mà! Chị ở Mỹ qua thăm bà con bên này. Nhà xa, nên đàn đúm ngoài phố gần trạm métro, để chị ấy về nhà cho tiện.

Tôi trả lời cho qua rồi thả người ngồi xuống lòng ghế.

Nhìn anh chủ nhà cầm cây đàn so dây. Cái cảm giác lạnh lẽo buồn rầu trong tôi lại trở về. Hình như mưa vẫn đang rơi ngoài hiên.

(1991 - 2022)

........................................

(*) Mùa thu Paris (Lời Cung Trầm Tưởng, nhạc Phạm Duy)

Tiêu chuẩn – chế độ - tham nhũng *

Nguyễn Hoàng Văn

Dù khác xa nhau, “tiêu chuẩn” và “chế độ” lại biến nghĩa ở cùng một điểm đến và, trong rất nhiều trường hợp, còn có thể hội tụ với “tham nhũng” như là một thứ văn hóa chính trị dị thường của xã hội Việt ngày nay: “tiêu chuẩn” đã bị sử dụng như là “chế độ” để rồi trở thành nền tảng, thành mầm mống của đại dịch tham nhũng.

Đêm giữa ban ngày (kỳ 22)

33

Có vẻ như cái sự im ắng tại Bất Bạt chứng tỏ giai đoạn giam cứu đã kết thúc.

Tôi sống trong tâm trạng chờ đợi: để xem Đảng xử sự ra sao. Nhưng, giống như những con đom đóm, những tia hi vọng nhỏ nhoi lập lòe một thoáng rồi chìm nghỉm trong bóng đêm dày đặc. Những cuộc hỏi cung muộn mằn, càng về sau càng thưa, diễn ra uể oải, như thể cả người hỏi cung lẫn người bị hỏi cung đều quá mệt mỏi. Với vẻ mặt ngán ngẩm đời cạo giấy, Huỳnh Ngự máy móc đặt những câu hỏi vô duyên. Chẳng hạn, chợt nhớ ra, y bắt tôi khai về cuộc gặp gỡ vào ngày ấy tháng ấy giữa tôi với Rashid, bí thư sứ quán Liên Xô, tại câu lạc bộ Quốc tế. Những sự kiện vớ vẩn như vậy chỉ có Trời nhớ được nó có hay không và nó đã diễn ra thế nào. Tôi từ chối không trả lời, nói tôi không nhớ, tù lâu quá trí nhớ tôi ngày một kém. Không nhớ thì thôi, y cũng không thúc bách, không bắt buộc tôi phải nhớ. Tôi hiểu: y hỏi để mà hỏi, không cần câu trả lời.