Danh Ngôn

“The insecure leader interprets critical thinking as criticism”

Nhà lãnh đạo không vững vàng sẽ diễn giải tư duy phản biện thành sự phê phán

-Andy Stanley (1958-), mục sư người Mỹ, người sáng lập North Point Community Church (Hội Thánh Cộng đồng North Point), Atlanta.


“When we blindly adopt a religion, a political system, a literary dogma, we become automatons.”

Khi chúng ta mù quáng chấp nhận một tôn giáo, một hệ thống chính trị, một giáo điều văn học, chúng ta trở thành những người máy tự động

― Anaïs Nin (1903-1977), nhà văn Mỹ gốc Cuba - Pháp. The Diary of Anaïs Nin, Vol. 4: 1944-1947 (1972)


“Believe what you like, but don't believe everything you read without questioning it.”

Hãy tin những gì bạn thích, nhưng đừng tin mọi điều bạn đọc mà không nghi ngờ gì.
― Pauline Baynes (1922-2008), họa sĩ vẽ tranh minh họa người Anh.
Questionable Creatures: A Bestiary (2006)

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Đà Lạt thông, cỏ và gió

Tiêu Dao Bảo Cự

Người ta thường gọi Đà Lạt là “Thành phố hoa” nhưng thực ra ấn tượng đặc trưng đầu tiên của du khách khi đến Đà Lạt không phải là hoa, lại càng không phải là hoa dã quỳ. Dã quỳ không chỉ của riêng Đà Lạt mà là nét chung cho cả Tây Nguyên. Vào giữa đông, bắt đầu mùa khô, đi theo quốc lộ 20 dọc theo Tây Nguyên, ta sẽ thấy sắc hoa quỳ vàng rực rỡ khắp các thung lũng, sườn đồi của Đà Lạt, Ban Mê Thuột, Pleiku chói chang trong nắng ấm. Còn hoa, với phương pháp trồng cấy và trưng bày hiện đại, hoa có thể hiện diện khắp mọi nẻo đường ở bất kỳ thành phố nào. Dĩ nhiên khi được mệnh danh là “Thành phố hoa”, Đà Lạt phải có cái gì hơn hẳn các thành phố khác về hoa, nhưng đó là khi người ta có đủ thời gian để đi sâu khám phá.

Đà Lạt một trăm năm – Tản mạn về cái đẹp và nỗi đau

Tiêu Dao Bảo Cự

Đà Lạt đã bị bê tông hóa, những di tích lịch sử đã bị phá nát và sắp sửa bị phá nát. Những thông tin đó đang rộ lên trên nhiều tờ báo, cứa vào lòng những ai yêu Đà Lạt. Chúng tôi đăng lại bài sau đây của nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự, đã công bố cách đây 16 năm, để góp thêm một tiếng nói lương tri của người trí thức trước đại nạn hỗn láo với thiên nhiên và chối bỏ ký ức lịch sử đang xảy ra ở Đà Lạt và không chỉ ở Đà Lạt.

Văn Việt

Nghiệp và Giải Nghiệp theo Chánh Pháp

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Cộng đồng người Việt trong và ngoài nước đang hết sức băn khoăn trước tình trạng những ngôi chùa Phật giáo trở thành nơi kinh doanh tâm linh dưới danh nghĩa “giải nghiệp”. Nhà văn Phan Tấn Hải, một người nghiên cứu Phật giáo lâu năm, tác giả nhiều văn bản giảng giải Phật pháp với bút danh Nguyên Giác, gửi cho Văn Việt bài viết mang tính thời sự sau đây. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc

Văn Việt

Dặm trường (kỳ 4)

Trần Doãn Nho

CHƯƠNG 9

Trở về lại Sài Gòn, Hạnh cảm thấy lòng mình phơi phới một niềm vui mới mẻ. Ngồi trên xe, người nàng nhẹ tênh mà lòng cũng nhẹ tênh. Chưa bao giờ nàng cảm thấy mình hồn nhiên, tươi trẻ như thế. Không có mang hàng hóa gì, nên nàng chẳng quan tâm gi đến các trạm thuế dọc đường. Không lo lắng, băn khoăn, không nhìn trước nhìn sau, không nhìn qua nhìn lại. Nàng lặng nhìn những cánh đồng xanh tươi thoăn thoắt chạy lùi ở hai bên đường, đầu óc tưởng nghĩ đến những niềm vui nho nhỏ trong những ngày sắp tới. Khác với những lần trước, cứ mỗi lần vào bán hàng ở Sài Gòn, nàng nôn nao muốn về. Ở Sài Gòn, nàng thấy lạc lõng, nhạt nhẽo, thiếu cái ấm cúng, thân tình của Huế. Thiếu đầm ấm, thiếu tình cảm. Nàng nhớ Huế, nhớ chồng, nhớ con, nôn nao muôn về. Nhưng lần này, tự nhiên, nàng cảm thấy Sài Gòn đáng yêu. Sài Gòn tự do, Sài Gòn rộng lượng, hào phóng. Sài Gòn không ai biết ai. Ở Sài Gòn, người ta lẫn lộn với nhau, không ai dòm ngó ai, không ai xoi mói đến đời tư. Nàng bỗng nhiên muốn ở lại Sài Gòn.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 121): Đỗ Quỳnh Dao nhìn từ Thế Uyên

Tương tự Phan Thị Trọng Tuyến và Mai Ninh, Đỗ Quỳnh Dao cũng thuộc thành phần du học Pháp trước 1975, cũng học hành thành đạt rồi ở lại, nhưng không như Phan Thị Trọng Tuyến viết văn khá sớm, Mai Ninh và Đỗ Quỳnh Dao viết văn khá trễ, mãi tận đầu thập niên 90 của thế kỷ trước mới có tác phẩm đầu tiên được xuất bản (đều do Văn Mới, CA). Nếu Mai Ninh viết tương đối bạo tay bạo chân một chút về tình dục, Đỗ Quỳnh Dao gần như gia nhập dòng văn chương khá phổ biến ở Âu châu, là phân tích nội tâm, nhưng khác biệt ở điểm chủ đề thường hướng về một phụ nữ. Nhưng không phải là tất cả các loại phụ nữ khác nhau, mà gần như chuyên trị các loại phụ nữ bất hạnh, bất hạnh về bất cứ nguyên nhân nào. Người viết Liễu Trương đã có lý khi viết: "Đỗ Quỳnh Dao xóa bỏ mọi biên giới để chỉ nhìn con người và sự đau khổ của con người... có cái nhìn đây nhân ái... Trong các truyện của bà, chủ đề trội nhất là thân phận của người phụ nữ" bất hạnh, như cô bé tật nguyền, cô gái tâm thần không muốn lớn, người vợ chồng ngoại tình, người đàn bà đau bệnh chết từ từ..." {Ngày Nay, Houston, Những nhà văn nữ VN ở Pháp, số 508, 2003}. Nhưng trong phần viết của Liễu Trương có điểm cần bàn luận thêm, là khi bà viết chủ đề tiểu thuyết Con nữ là"mặc cảm của những người đồng tính luyến ái". Có lẽ bà tiện tay viết chung luôn như vậy, còn thực ra Con nữ không phải đồng tính luyến ái, không phải tình yêu nam nam, nữ nữ, mà là tình yêu của một người ái nam ái nữ với một người nam. Sở dĩ phải dài lời như thế là bởi vì có tới hai thứ ái nam ái nữ khác nhau: thứ nhất, là loại thân thể như người nam nhưng phần sinh dục là nữ (như nhân vật sát nhân hàng loạt trong phim Silence of the lamb do Jodie Foster đóng vai cô FBI tập sự), thứ hai là thân thể như người nữ mà phần dưới là đàn ông, tiếng Anh gọi là 'she-male', như trong phim The crying game. Và nhân vật Con Nữ của Đỗ Quỳnh Dao chính là một she-male.

Mạt pháp Phật giáo Việt Nam, cái sảy nảy cái ung?

Hoàng Hưng

Những vụ “Cúng sao giải hạn” hằng năm làm tắc đường Hà Nội của chùa Phúc Khánh, rồi “trả nghiệp theo giá ra của Vong” ở chùa Ba Vàng quá trắng trợn phản Phật pháp gần đây, cùng với hội chứng start-up đua nhau xây chùa to để buôn thần bán thánh, chỉ là bước “cái u” biến thành “ung thư” của tình hình Phật giáo nước nhà.

Lục bát Cung Trầm Tưởng

(Thi liệu nằm trong bộ sưu tập của nhà thơ Nguyễn Thanh Châu)
Dưới đây là một số bài thơ lục bát của thi sĩ Cung Trầm Tưởng được sưu tập từ các thi phẩm đã xuất bản của ông: Tình ca (1959), Lục bát Cung Trầm Tưởng (1972), Cung Trầm Tưởng, một hành trình thơ (2012) và từ các tập san văn nghệ miền Nam trước 1975 như: Sáng Tạo, Văn Nghệ, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn, Khởi Hành, Thời Tập
Tuyển tập được mở đầu bằng bài giới thiệu của cơ sở xuất bản Con Đuông.

Đọc thơ 16: Lưu Quang Vũ, càng thương yêu càng không vừa ý

Nguyễn Đức Tùng

Thơ của Lưu Quang Vũ, một nhà thơ quan trọng của những năm sáu mươi, bảy mươi, thế kỷ trước, người có số phận kỳ lạ, là sự kết hợp của hai khuynh hướng khác biệt. Trước hết, đó là phương pháp hiện thực có hơi hướm lãng mạn, phổ biến vào thời ấy. Mặt khác, bắt đầu rất sớm, dòng trữ tình - phê phán của riêng anh, trước đó gần như chưa có ở miền Bắc, nếu tính từ sau Nhân văn - Giai phẩm, một phong trào lúc ấy đã tàn lụi, không những trên các diễn đàn chính thống, mà ngay trong các sáng tạo ngầm của thành viên còn lại, những người sẽ chuyển sự chú tâm của họ về hướng khác.

Đinh Cường, vẽ và viết ở quê người

Phạm Cao Hoàng

Auto portrait, Đinh Cường, 10.7.2015

Đinh Cường rất kỷ luật và nghiêm túc trong việc sáng tác. Điều mà ông cho là quan trọng nhất là phải ngồi trước giá vẽ, ngồi vào bàn viết. Còn vẽ cái gì, viết cái gì thì sẽ tính sau. Thậm chí, vẽ cái gì viết cái gì cũng được. Phải bắt tay vào công việc thì mới có tác phẩm. Thời ở Kado – một vùng nông thôn hẻo lánh của người dân tộc thiểu số  thuộc quận Đơn Dương – vào những năm 1963, 1964, nhiều đêm ông và Trịnh Công Sơn mải mê sáng tác mà quên cả thời gian, đến khi nghe tiếng vượn hú ngoài khu rừng gần đó mới biết đêm đã tàn và trời sắp sáng. Trong số các họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam, ông là người vẽ chân dung văn nghệ sĩ nhiều nhất. Có khi cùng một người nhưng ông đã vẽ hàng chục bức chân dung mà ông vẫn chưa thấy đủ. Đó là trường hợp của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Trịnh Công Sơn.  Những bức tranh thiếu nữ do ông vẽ thì đẹp vô cùng.

Những năm tháng sống ở Virginia, tôi để ý thấy ông có bốn nơi để vẽ. Một là ngồi vẽ ở nhà – trong garage khi trời không lạnh lắm. Hai là vẽ ở nhà – trong studio dưới basement về mùa đông. Ba là vẽ chân dung cho bạn bè trong các buổi gặp gỡ. Đây là một điều rất đặc biệt và thú vị. Trong các buổi gặp gỡ  ông rất ít nói, lặng lẽ lấy giấy bút ra vẽ chân dung một người nào đó đang có mặt ở đó mà chính người đó không biết ông đang vẽ mình. Cuối buổi gặp gỡ ông cho mọi người xem và người được vẽ tất nhiên là vui không thể tả. Ông tận dụng thời gian và cơ hội gặp gỡ để phác thảo nhanh các bức chân dung. Địa điểm thứ tư mà ông ngồi vẽ là quán cà phê Starbucks cách nhà ông khoảng 30 phút đi bộ. Nơi đây ông đã vẽ theo trí nhớ chân dung của rất nhiều văn nghệ sĩ.

Đinh Cường đang vẽ chân dung một người bạn

tại một buổi họp mặt ở Vienna (VA) hôm 8 tháng 5.2014 - Ảnh: PCH

Vẽ  đối với ông như hơi thở. Mười ngày trước khi qua đời, nằm trên giường bệnh ông viết bài thơ Trưa nằm nhìn lên kệ sách, trong đó có câu “xin cho tôi vẽ dâng trào. nhựa xưa”. Trong Bài nhìn lên kệ sách 5, ông nói đến nỗi buồn khi bệnh tật đã làm cho ông không còn được vẽ và niềm khao khát được vẽ: “mùa xuân với trận mưa rào/cho tôi xin. một tiếng gào. Picasso.”

Rất bận rộn với việc sáng tác nhưng ông vẫn dành nhiều thời gian cho các bài viết về hội họa. Cuốn Đi vào cõi tạo hình của Đinh Cường do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành tại California năm 2015 là một cuốn sách rất cần thiết cho những ai muốn tìm hiểu về hội họa Việt Nam. Cuốn sách này là kết quả của hơn 50 năm tìm hiểu, sưu tầm, tích lũy, trong đó có những tài liệu chỉ gia đình ông mới có. Tính ông cẩn thận  và chân thật nên những thông tin, những tài liệu trong cuốn sách là rất đáng tin cậy. Đây mới chỉ là tập 1 trong bộ sách gồm 2 cuốn. Tập 1 viết về các họa sĩ xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương những năm 1930 cho đến giai đoạn chuyển tiếp 1954. Tập 2 viết về những họa sĩ cùng thời với ông xuất hiện từ năm 1957 trở về sau. Tiếc là tập 2 chưa kịp in thì ông đã ra đi nhưng chắc chắn gia đình ông cùng nhà xuất bản Văn Mới sẽ ấn hành tập 2 trong thời gian sắp tới.

Viết đối với ông cũng cần thiết như hơi thở. Ông làm thơ rất sớm và thơ ông xuất hiện đầu thập niên 1960 trên các tạp chí văn học ở Sài Gòn. Từ năm 2010 trở đi ông bắt đầu viết nhật ký dưới dạng những bài thơ mà ông gọi là đoạn ghi hay còn gọi là bản tin văn nghệ và phổ biến trên mạng Internet. Đây là những bài thơ ghi lại cảm xúc của ông về những sự kiện xung quanh ông, về tình cảm của ông đối với quê hương, gia đình, bạn bè… Cho đến nay ông đã viết cả ngàn bài thơ, trong đó có nhiều bài thơ rất hay, nhiều câu thơ xuất thần làm xao động lòng người.

Khoảng 200 bài thơ của ông đã được in thành hai tập: Cào lá ngoài sân đêm (Thư Ấn Quán, 2014) và Tôi về đứng ngẩn ngơ (Quán Văn, 2014). Nếu in hết thơ của ông thành sách phải đến 10 tập.

Đinh Cường có ba nơi để ngồi viết.

Nhiều nhất là ở quán cà phê Starbucks nằm trong một khu thương mại ở đường Burke Centre Parkway. Những nghệ sĩ lớn thường có những thói quen riêng, và thói quen của ông là ngồi ở Starbucks để viết. Làm gì thì làm, đi đâu thì đi, nhưng thói quen của ông là mỗi ngày đến đó hai lần, khoảng 10 giờ sáng và 4 giờ chiều. Từ nhà ông sang đó rất gần nên ông thường đi bộ; chỉ khi nào thời tiết xấu ông mới lái xe. Những lần chúng tôi đi ăn tối với ông, trên đường về bao giờ ông cũng ghé vào đó một mình để viết bài thơ trong ngày rồi mới về nhà. 

Đinh Cường đang ngồi viết trong  Starbucks Coffee
ở đường Burke Centre Parkway, thành phố Burke (VA)

Ảnh: Đinh Trường Chinh (2014)

Nơi thứ hai ông ngồi để viết là trong basement ở nhà ông. Thường thường ông thức dậy vào khoảng ba giờ sáng để viết, tự đánh máy trên computer rồi gửi ngay trong đêm đến những nơi cần gửi. Bốn giờ sáng là giờ tôi thức dậy; bao giờ tôi cũng check email xem ông có gửi bài hay không, nếu có tôi đưa lên internet ngay để bạn bè và những người hâm mộ ông có thể đọc được khi họ thức dậy vào lúc sáng sớm. Từ năm 2015, sức khỏe ông sa sút dần, hai ba ngày không thấy có bài của ông là dấu hiệu của một điều gì đó không bình thường.

Nơi thứ ba mà ông ngồi để viết là trong các buổi họp mặt bạn bè văn nghệ. Đây cũng là điều rất đặc biệt đối với Đinh Cường. Có lẽ ông là người duy nhất có thể sáng tác trong những không gian kiểu như vậy. Lần đầu tiên tôi được “thưởng thức” kiểu sáng tác này là đêm 28.2.2011, tại buổi họp mặt khoảng 15 người tại nhà tôi ở Centreville nhân dịp họa sĩ Nguyễn Trọng Khôi, ca sĩ Nguyễn Ngọc Phong cùng nhóm bạn ở Boston và Canada sang chơi. Trong lúc mọi người đàn hát, trò chuyện rôm rả thì ông loay hoay ngồi viết một cái gì đó, đến khi mọi người đề nghị ông đọc thơ thì ông đọc ngay bài thơ vừa viết tại bàn tiệc: Đoạn ghi đêm Centreville. Tôi hết sức bất ngờ và ngạc nhiên, tự hỏi trong một không gian khá ồn ào làm sao ông có thể viết rất nhanh một bài thơ hay như vậy. Bài thơ này đã trở thành một kỷ niệm lớn đối với gia đình tôi.

ĐOẠN GHI ĐÊM CENTREVILLE

Thơ Đinh Cường


“Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ”

Quang Dũng

Tôi biết vì sao anh vẽ ly thuỷ tinh

vẽ những viên cuội như có linh hồn

sao chiều nay gặp nhau nhà Phạm Cao Hoàng

Centreville mà như ngồi ở Harvard Square

tiếng chim báo mùa xuân đã về

bình hoa tulipe màu vàng chanh

giọng ca Phong một thời Đà Lạt

những cánh hoa phù dung buồn

ru người con gái ngủ yên bên Hồ Than Thở

mây trên núi đôi buổi chiều bay thấp xuống

không có bước chân ai về trên đồi thơm (*)

đánh thức những vì sao

đánh thức vầng trăng khuya

trên những mái nhà nguyện cổ Domaine de Marie

hay chuông ban trưa nhà thờ con gà

đôi má ửng hồng áo len xanh

nụ hôn đầu giấu duới hàng hoa mimosa 

Tôi biết vì sao anh vẽ ly thuỷ tinh

vẽ những viên cuội như có linh hồn

viên cuội trắng của tôi thời trẻ dại

thuỷ tinh buồn thoáng hiện bóng ai xưa …


(*)  ĐÀ LẠT, GiẤC MỘNG TRÊN ĐỒI THƠM

Ca khúc Nguyễn Trọng Khôi viết tặng Đinh Cường.

đôi má ửng hồng áo len xanh/nụ hôn đầu giấu duới hàng hoa mimosa. Đây là những câu thơ xuất thần, hình ảnh người con gái trong hai câu thơ rất là Đà Lạt, và lòng người Đà Lạt chắc phải xao xuyến khi đọc những câu thơ này.

Đinh Cường (bên phải) đang đọc bài thơ ĐOẠN GHI ĐÊM CENTREVILLE

tại buổi họp mặt ở Centreville hôm 28.2.2011 - Ảnh: PCH

Trong nhiều buổi họp mặt khác ông cũng viết như vậy rồi giao bản thảo cho tôi về nhà đánh máy để đưa lên Internet. Buổi chiều họp mặt, buổi tối đã thấy thơ Đinh Cường trên Internet. Và ông vẫn thường nhắc lại lời của Bùi Giáng: vui thôi mà.

PHẠM CAO HOÀNG

(Trích bài viết ĐINH CƯỜNG, THƠ VÀ TRANH CHO ĐẾN HƠI THỞ CUỐI CÙNG. Viết lần đầu: 2016 - Sửa chữa bổ sung: 2019.)

Đô đốc

Truyện Hà Thúc Sinh

image

Vợ chàng hãnh diện về chàng. Và cứ thật mà nói hãnh diện cũng phải. Ngày vượt biển dù mới tù về, ốm yếu ho hen, chàng vẫn cam đoan: đâu chứ Bidong nhắm mắt cũng đem được ghe ủi thẳng vào bãi. Y chang! Thậm chí trước lúc ra khơi, cậu em vợ kỹ sư có tính cẩn thận thái quá, chàng bực, bảo, “Cơ phận thay thế vậy là đủ, cậu đừng tìm thêm nữa. Giản dị nhiêu tốt nhiêu. Rườm rà dọc đường dễ bể”. Nó băn khoăn hỏi, “Nhỡ gãy luôn cái láp phụ tính sao?”. Chàng bảo, “Cứ ném đống bù-loong ra đó tôi ráp lại cho cậu giàn máy”. Ghe hư máy ba lần chàng sửa lành tuốt.

Văn học miền Nam 54-75 (548): Nguyễn Hiến Lê (kỳ 15)

Nguyễn Hiến Lê – hai mươi năm, một trăm cuốn sách

Phan Quang

Từ miền Trung đi thẳng vào Sài Gòn, ngay sau khi thành phố vừa giải phóng, một trong những mong ước đầu tiên của tôi là gặp gỡ một số trí thức và văn nghệ sĩ từng nghe tiếng.

Hầu hết, những vị tôi muốn gặp đều tiếp người ngoài Bắc vào với thái độ nhiệt tình, ít nhất cũng lịch sự dù không giấu vẻ lạnh lùng. Duy có hai người khước từ: Thượng toạ Thích Trí Quang và học giả Nguyễn Hiến Lê.

Dặm trường (kỳ 3)

Trần Doãn Nho

CHƯƠNG 7

Hạnh đi thế là đã chín ngày. Có thể nội hôm nay hay ngày mai là nàng sẽ về. Lục không mấy nôn nao, vì đã quen với những đợt  vắng nhà dài ngày của nàng. Thường thường thì nàng đi một tuần, chậm lắm là mười ngày. Sau khoảng thời gian  đó, cha con anh sẽ thấy Hạnh từ trên chiếc xích lô hay xe đạp thồ đổ ngay trước cửa, bước xuống, gọi anh, gọi con ríu rít ra bưng đồ vào. Cũng có lúc nàng về lúc nửa đêm hay ba, bốn giờ sáng. Một lần, nàng từ Sài Gòn ra, tự động mở cửa, nằm ngủ bên anh, thế mà anh chẳng hay biết. Sáng ra, thấy nàng nằm đó, anh ngạc nhiên tự hỏi không biết cô ta ra hồi nào. Anh thật vô tâm. Nàng nhọc nhằn buôn bán, lên hàng xuống hàng, đi vô đi ra, tính tính toán toán, mà anh thì như kẻ ngoại cuộc. Nàng chỉ đâu làm đó. Không thì thôi. Xong việc, anh vơ vẩn ngồi đọc đi đọc lại mấy cuốn sách cũ. Hoặc nghe đài. Hoặc nhìn cây nhìn cối. Hoặc đi nhà bạn nhậu nhẹt, tán gẫu.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 120): Đỗ Quỳnh Dao - Sợi tình

Bà Thị Nhụy Trần, nhũ danh Lê, 34 tuổi, gốc Á đông... Đây là câu bắt đầu trong hồ sơ bệnh lý của tôi.

Tôi mới 34 tuổi, tôi còn trẻ tôi còn đẹp. Mắt tôi vẫn sáng, da tôi vẫn mịn, bụng tôi vẫn sát, đùi tôi vẫn thon. Trên ngực, chiếc vú bên mặt nhỏ tròn vẫn vừa vặn trong nắm tay của chồng tôi, còn bên trái phải gọi là gì cái mặt phẳng bọc da này?

Đôi lời với Cục Báo chí Bộ Thông tin - Truyền thông

Nguyễn Đăng Quang

Hôm nay (22/3) tròn một tháng báo điện tử “Người Tiêu Dùng” (NTD) bị Cục Báo chí Bộ Thông tin - Truyền thông xử phạt, buộc đình bản 3 tháng và phải nộp 65 triệu tiền mặt về một hành vi mà Cục này cho là “vi phạm trong lĩnh vực hoạt động báo chí, xuất bản” vì đã đăng một bài nhạy cảm với nhan đề “Nhiều cấp dưới bị bắt giam và kỷ luật nặng, bao giờ ông Lê Thanh Hải và Lê Hoàng Quân ‘vào lò’?” của hai tác giả Thiện Hiếu và Minh Nguyễn.

Nhà thơ Phật tử W. S. Merwin (1927-2019)

Phan Tấn Hải

Nhà thơ W. S. Merwin vừa từ trần trong một giấc ngủ hôm 15/3/2019. Trong gần nửa thế kỷ, ông cũng nổi tiếng là một Phật tử, thực tập theo Thiền tông Nhật Bản. Cuộc đời ông là một điển hình của giới trí thức Hoa Kỳ thập niên 1960-1970, nhiều người nghiêng về Phật giáo khi nhìn thấy xã hội Hoa Kỳ tranh cãi về Chiến tranh Việt Nam và khắp thế giới chiến tranh như dường bất tận.

Image result for w. s. merwin 

Nhà phê bình thi ca Reginald Shepherd viết trên Poetry Foundation về các thi phẩm thời kỳ đầu của Merwin, được viết trong thời Chiến tranh Việt Nam: “Đó là những bài thơ không được viết cho một nghị trình [chính trị], nhưng đã thiết lập ra một nghị trình. Trân trọng giữ gìn và tái sáng tạo thế giới trong những chữ từ ái. Merwin luôn luôn quan tâm với quan hệ giữa đạo đức và mỹ học, cân nhắc cả hai phía đồng đều nhau. Thơ của ông là một đáp trả đối với một thế giới đã tan rã, không phải như những vùng địa lý nhưng là như các sự kiện thẩm mỹ.”

Tại sao phải bảo vệ “Đồi Dinh Thị trưởng cũ”?

Mai Thái Lĩnh

Đầu năm 2018, khi phê bình “đồ án quy hoạch khu trung tâm Đà Lạt”, tôi đã nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ “Đồi Dinh Thị trưởng cũ như một di sản kiến trúc quý giá của thành phố. Nhân dịp nhiều kiến trúc sư và nhiều tờ báo trong nước đang phản biện việc chính quyền Tỉnh Lâm Đồng phê duyệt “Đồ án quy hoạch chi tiết khu trung tâm Hòa Bình – Đà Lạt” của kiến trúc sư Hồ Thiệu Trị, tôi xin mạn phép làm rõ thêm luận điểm này.

Phải chăng tác giả Truyện Phan Trần là Nguyễn Huy Lượng?

Đoàn Xuân Kiên

Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.

Tân hình thức & Quan điểm thẩm mỹ mới

Khế Iêm

Những nẻo đường quá khứ
Nhà thơ Dana Gioia và Frederick Turner cho rằng Tân hình thức là một cuộc trở về tương tự như thời đại Phục hưng (Renaissance), một thời kỳ đánh dấu sự phong phú về sáng tạo, đời sống và kiến thức với những thành tựu văn học chưa từng có. Trước hết, văn xuôi xuất hiện vào khoảng thế kỷ 14 với "Lịch sử của Thánh Louis" của Jean de Joinville (1224-1317), và máy in được khám phá vào thế kỷ 15, đã làm bùng nổ thông tin chẳng khác nào thời đại tin học bây giờ. Xã hội phương Tây ở thời kỳ này, với sự thặng dư về nông sản, sự mở rộng các thành phố, sự tăng nhanh về dân số, sự mở mang các vùng thương mại, và sự khao khát kiến thức, thoát khỏi ảnh hưởng một nghìn năm của quyền lực tôn giáo, phản ứng lại thời Trung cổ. Những nhà Phục hưng phát hiện văn hóa cổ Latin và Hy lạp, thiết lập chủ nghĩa Nhân văn (Humanism), con người làm chủ cuộc đời mình. Bắt đầu từ Ý với nhà thơ kiêm triết gia Francesco Petrarch (1304-1374), bác bỏ chủ nghĩa kinh viện kết hợp giữa thần học và triết học của thời Trung cổ, khám phá và truyền bá văn học cổ đại, đặc biệt là những tác phẩm của Cicero, một chính trị gia và nhà hùng biện Roman. Những gì mà những nhà Phục hưng rút ra từ Socrates, Plato, Cicero là hạnh phúc, và niềm hân hoan tràn đầy của đời sống con người. Nghệ sĩ là những triết gia đích thực trong cách tái tạo thiên nhiên, qua tài năng và phong thái nghệ thuật, tách biệt nghệ thuật và thủ công nghệ, hội họa, điêu khắc và kiến trúc. Có thể kể, Leonardo da Vinci, Michelangelo, Raphael ở Ý, Francois Rabelais, Michel de Montaigne ở Pháp, Francis Bacon, William Shakespeare ở Anh, Miguel de Cervantes ở Tây Ban Nha... Nhưng đặc điểm của thời Phục hưng chính là thiết lập một qui trình giáo dục, đặt trọng tâm vào văn phạm, lý luận và thuật hùng biện, từ đó hướng con người tới thời hiện đại.

Cuộc nổi loạn của ngôn từ trong thơ đương đại – ghi nhận qua một số hiện tượng

Trần Ngọc Hiếu

“Làm sao để giải phẫu hoàn toàn
Vành tai tiếng Việt?”
(Đinh Linh)

Đặt vấn đề
1.
“Làm thơ tức là làm tiếng Việt”. Nhà thơ Trần Dần đã từng nói như thế. Bởi lẽ đó, đối tượng mà bài viết này khảo sát là những tác giả sáng tác bằng tiếng Việt, không câu nệ ranh giới trong nước/ hải ngoại. Viết bằng tiếng Việt – hành động đó đã bao hàm phép ứng xử của nhà thơ đối với những đặc tính chất liệu của ngôn ngữ này. Sâu xa hơn, viết cũng có nghĩa là nếm trải những hệ lụỵ của ngôn từ, là chấp nhận thoả hiệp hoặc bướng bỉnh cưỡng lại truyền thống, chịu đựng hoặc tìm cách vượt thoát những áp lực của văn hóa, xã hội, tích đọng trong tiếng Việt.
Trước sự phức tạp, bộn bề của thơ Việt đương đại, bài viết lựa chọn phương pháp điểm nhãn, dừng lại ở một số hiện tượng, mà trước hết theo cảm nhận của chúng tôi, đã đi lệch rất xa quỹ đạo truyền thống. Chúng hiện diện như là sự khiêu khích, thách thức đối với những quan niệm đã có, thậm chí còn đang tồn tại phổ biến, về thơ ca. Vì thế, chúng tôi đã gọi những hiện tượng đó là những “cuộc nổi loạn” trong thơ đương đại.

Văn học miền Nam 54-75 (547): Nguyễn Hiến Lê (kỳ 14)

NHỮNG CHƯƠNG BỊ KIỂM DUYỆT CỦA HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ

Chương XXII - Chiến tranh Việt Mỹ (1965-1975)       

Các chính phủ quân nhân      

Mĩ đưa quân sang        

Vụ Mậu Thân 

Vừa đánh vừa đàm - Hiệp định Paris   

Những bí mật trong chiến tranh Việt Mỹ         

Mĩ rút về, quân Nam tan rã, chiến tranh chấm dứt

TUYÊN BỐ VỀ DỰ ÁN ĐƯỜNG CAO TỐC BẮC - NAM

1. Sự việc:

Bộ Giao thông vận tải VN đã làm việc với Cty Thái Bình Dương (TQ) về việc Cty này ngỏ ý muốn làm Đường cao tốc Bắc - Nam bằng vốn vay từ Trung Quốc (TQ).

2. Xét rằng:

Đường cao tốc Bắc - Nam chạy dọc mặt phía Đông nước VN là dự án chiến lược, không chỉ góp phần phát triển kinh tế mà còn liên quan chặt chẽ với an ninh quốc phòng, liên quan phòng thủ Biển Đông.

Mọi công trình hợp tác với các nhà thầu TQ từ trước đến nay đều đội vốn rất lớn, thi công dây dưa. Thủ đoạn của họ là bỏ thầu rẻ, thi công trì trệ, kết hợp với quan tham VN đẩy giá lên. Trên thực tế, hầu hết các công trình có yếu tố TQ đều yếu chất lượng, kém an toàn khi thi công, khi vận hành và gây ô nhiễm trầm trọng môi trường. Đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông cho bài học xương máu.

Các nhà thầu TQ luôn đem các công nghệ lạc hậu, nhân lực TQ, kể cả lao động phổ thông vào VN, đến đâu ở lì đó, gây phức tạp an ninh xã hội.

Hiện nay các nước từ châu Phi, đến Ấn Độ Dương, Đông Á... đều tẩy chay các dự án đầu tư của TQ.

Tiếp tục thuê nhà thầu TQ là tiếp tay cho tham nhũng.

3. Yêu cầu:

Trước thực trạng tệ hại và nguy hiểm trên, chúng tôi – các cá nhân các tổ chức xã hội dân sự – yêu cầu:

Tổ chức ngay việc lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, các chuyên gia VN trong và ngoài nước, tham vấn các nhà thầu Mỹ, Pháp, Nhật Bản... tìm phương án tối ưu cho dự án Đường cao tốc Bắc - Nam. Loại bỏ dứt khoát nhà thầu TQ, không vay vốn và nhận đầu tư từ TQ vì những lý do trên.

Làm mỗi công trình đều phải đem lại công ăn việc làm, tích lũy kỹ năng, điều kiện học hỏi cho lao động và kỹ thuật viên VN, để tiến tới tự làm. Các dự án Cầu dây văng Mỹ Thuận, Cầu Cần Thơ là bài học tốt. Nhà thầu Úc, Nhật chỉ mang chuyên gia đến, kỹ sư, công nhân là người VN.

Theo cách ấy, ngăn chặn được hiện tượng di dân bất hợp pháp, gây bất ổn xã hội của lao động TQ, ngăn chặn tham nhũng.

Chính phủ cần huy động các doanh nghiệp VN cùng tham gia vào công trình chiến lược này, ưu tiên hợp tác với các công ty Mỹ, nhằm hạ giá thành, góp phần cân bằng cán cân thương mại, tạo điều kiện phát triển nhanh và bền vững kim ngạch giao thương hai nước.
Soạn tại Sài Gòn ngày 20-3-2019

Các tổ chức và cá nhân ký tên hưởng ứng Tuyên Bố trên xin gửi “họ, tên, nghề nghiệp (chức vụ nếu có), địa chỉ cư trú hay làm việc” về email: bacnamcaotoc@gmail.com

CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KÝ TÊN

Tổ chức:
1. CLB Lê Hiếu Đằng, đại diện: Lê Thân, nhà hoạt động xã hội, Sài Gòn
2. Nghiệp đoàn Báo chí Việt Nam, đại diện: Tiến sĩ Dương Thị Phương Hằng, Hoa Kỳ
3. Nhóm Vì Môi Trường, đại diện: Nguyễn Thị Bích Ngà, nhà báo tự do, Sài Gòn

Cá nhân:

1. Võ Văn Tạo, nhà báo, TP Nha Trang, Khánh Hòa
2. Hoàng Hưng, nhà thơ-nhà báo tự do, Sài Gòn
3. Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ, Hà Nội
4. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An, Quảng Nam
5. NSUT Nguyễn Thị Kim Chi, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
6. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy TP Đà Lạt, Lâm Đồng
7. Phạm Toàn, nhà nghiên cứu giáo dục, Hà Nội
8. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
9. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, Sài Gòn
10. Trần Văn Bang, kỹ sư, Sài Gòn
11. Nguyễn Thu Giang, nguyên Phó Giám đốc Sở Tư Pháp TPHCM
12. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài Gòn
13. Hà Văn Thùy, nhà văn, Sài Gòn
14. Tô Linh Giang, Hà Nội
15. Nguyễn Thị Khánh Trâm, hưu trí, Sài Gòn
16. Ngô Kim Hoa, nhà báo tự do, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
17. Lại Thị Ánh Hồng, nghệ sĩ hưu trí, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
18. André Menras - Hồ Cương Quyết, nhà giáo Pháp Việt, Pháp
19. Ngụy Hữu Tâm, Nguyễn Huy Tự, Hà Nội
20. Trần Ngọc Sơn, kỹ sư, Pháp
21. Nguyễn Thanh Hằng, dược sĩ, Pháp
22. Phạm Nguyên Trường, dịch giả, Vũng Tàu
23. Trần Minh Thảo, viết văn, Bảo Lộc, Lâm Đồng (CLB Phan Tây Hồ)
24. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
25. Đào Tiến Thi, nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ, nguyên Uỷ viên BCH Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội
26. Nguyễn Quang Nhàn, hưu trí, Đà Lạt
27. Tôn Quang Trí, nguyên Phó Giám đốc Sở Công Nghiệp TPHCM
28. Tô Lê Sơn, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
29. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn, Hà Nội
30. Tống Văn Công, nhà báo, cư trú tại Hoa Kỳ
31. Trần Tiến Đức, nhà báo độc lập, đạo diễn truyền hình và phim tài liệu, Hà Nội
32. Vũ Hồng Ánh, nghệ sĩ đàn Cello, Sài Gòn
33. Nguyễn Phú Yên, hưu trí, TPHCM
34. Lê Ngọc Thanh, linh mục Dòng Chúa Cứu thế Việt Nam, Sài Gòn
35. Đỗ Minh Tuấn, biên tâp-đạo diễn điện ảnh, Hà Nội
36. Hoàng Minh Tường, nhà văn, Hà Nội
37. Nguyễn Tuệ Hải, hưu trí, Canberra, Australia
38. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu văn học, Hà Nội
39. Nguyễn Quý Phương, hưu trí, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội
40. Nguyễn Trọng Bình, 82 tuổi, Long Biên, Hà Nội
41. Trần Quang Tuyết, TS Vật lý, nguyên Phó Hiệu trưởng ĐH Phú Xuân, Huế
42. Hà Huy Sơn, luật sư, Cty Luật TNHH Hà Sơn, Hà Nội
43. Lê Nam Hùng, phiên dịch Tiếng Nga, TP Nha Trang
44. Đoàn Công Nghị, công chức, TP Nha Trang
45. Nguyễn Văn Lịch, kỹ sư cơ khí, nghỉ hưu, Hà Nội
46. Nguyễn Đan Quế, bác sĩ, Sài Gòn
47. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, Q3, Tp HCM
48. Đỗ Ngọc Yên, nhà văn, Q. Cầu Giấy, Hà Nội
49. Nguyễn Trọng Hùng, TP Thanh Hóa
50. Nguyễn Kan Trường, họa sĩ, Q. Tây Hồ, Hà Nội
51. Nguyễn Trọng Bách, kỹ sư, TP Nam Định
52. Đinh Hữu Thuyên, lái xe, Q Gò Vấp, Sài Gòn
53. Cao Trần Việt Nga, hưu trí, CC Time City, Hà Nội
54. Phan Văn Phong, cử nhân Tài chính, Q.Hoàn Kiếm, Hà Nội
55. Nguyễn Chỉnh Huấn, cựu chiến binh BTTM, Q3, TPHCM
56. Nguyễn Phương Hoà Bình, bác sỹ nghỉ hưu, Q2, TPHCM
57. Nguyễn Đăng Châu, giảng viên ĐH hưu trí, Sơn Trà, Đà Nẵng
58. Đào Thu Huệ, giảng viên ĐH, Hà Nội
59. Võ Hồng Ly, viên chức, Q2, Sài Gòn
60. Nguyễn Thanh Trúc, giáo viên, Hà Nội
61. Hoàng Ngọc Vinh, Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên
62. Bùi Nghệ, kỹ sư hưu trí, Sài Gòn

63. Hoàng Ngọc Giao, luật sư, Tiến sĩ Luật, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách Pháp luật & Phát triển, Hà Nội

64. Doãn Kiều Anh, kỹ sư, Sài Gòn
65. Phạm Hồng Thắm, nhà báo nghỉ hưu, Hà Nội
66. Nguyễn Văn Dũng, giáo viên nghỉ hưu, Q Bình Tân, TPHCM
67. Đỗ Như Ly, hưu trí, Q.10, TPHCM
68. Đặng Hữu Nam, linh mục Giáo phận Vinh, Chánh xứ GX Mỹ Khánh, Nghệ An
69. Đỗ Thành Nhân, MBA - Tư vấn đầu tư, Quảng Ngãi
70. Đàm Ngọc Tuyên, nhà báo độc lập, Quảng Ngãi
71. Đinh Quang Tuyến, hướng dẫn du lịch tiếng Pháp, Q.8, Sài Gòn
72. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, CLB Phan Tây Hồ, Đà Lạt
73. Trần Quang Lâm Sơn, Biên Hoà, Đồng Nai
74. Phan Cao Thiện, lao động tự do, Quảng Trạch, Quảng Bình
75. Nguyễn Đình Ngọc, tù nhân nhân quyền, Q.7, Sài Gòn
76. Nguyễn Mạnh Hùng, mục sư Tin Lành, Thủ Đức, Sài Gòn
77. Nguyễn Oánh, hưu trí, Hải Phòng
78. Mai Thị Thúy Nga, hưu trí, Hà Nội
79. Trương Minh Nghiêm, hưu trí, TPHCM

80. Nguyễn Khắc Mai, nhà nghiên cứu, Trung tâm Minh Triết, Hà Nội
81. Lê Bảo Nhi, nhà báo tự do, Thủ Đức, Sài Gòn
82. Nguyễn Thị Thương Huyền, công nhân may, Gò Vấp, Sài Gòn
83. Lưu Thành, cựu chiến binh, TX Phước Long, Bình Phước
84. Lê Thị Ngọc, lao động tự do, Q.5, Sài Gòn
85. Trần Song Hào, bác sỹ, cựu chiến binh (chiến trường K) nghỉ hưu, Nha Trang
86. Hồ Ngọc Nhuận, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ TPHCM, hưu trí, Sài Gòn
87. Đào Công Tiến, PGSTS, nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Kinh Tế TPHCM
88. Võ Anh Dũng, hưu trí, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
89. Ngô Thị Thứ, giáo viên hưu trí, Thủ Đức, Sài Gòn
90. Dương Thị Mỹ, luật sư, Huế
91. Scatter Loz, 82 Stanley rd, Toronto, Canada
92. Nguyễn Quang Vinh, sĩ quan quân đội nghỉ hưu, Hà Nội.
93. Nguyễn Đăng Hưng, Giáo sư Danh dự Đại học Liège, Bỉ. Sinh sống tại Sài Gòn
94. Nguyễn Thị Mỵ, nhà thơ, Q. Lê Chân, Hải Phòng
95. Lư Văn Bảy, CTNLT, tỉnh Kiên Giang
96. Nguyễn Tường Thụy, nhà báo độc lập, Hà Nội
97. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Paris, France
98. Dương Văn Hải, thẩm phán Tòa án TP Huế, hưu trí, Huế
99. Lâm Quang Thiệp, Giáo sư nghỉ hưu, Hà Nội
100. Nguyễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội
101. Võ Xuân Tòng, nhà văn, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, sống tại TPHCM
102. Lê Hoàng Linh, lao động tự do, Gò Vấp, TPHCM
103. Võ Thanh Nguyên, lao động tự do, Sài Gòn
104. Nguyễn Hồng Hưng, nhà điêu khắc - giảng viên ĐH, Q.3, TPHCM
105. Nguyễn Thúy Hạnh, nhà hoạt động xã hội, Hà Nội
106. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, Hà Nội
107. Đoàn Huy Chương, Phó chủ tịch Phong trào Lao động Việt
108. Huỳnh Quang Minh, Kế toán, Quảng Nam
109. Tô Tấn Phước, thợ điện, Đồng Tháp
110. Nguyễn Tiến Dân, nhà giáo, Hà Nội
111. Khổng Hy Thiêm, kỹ sư điện, Cam Lâm, Khánh Hòa
112. Bùi Huy Ngọc, TS, nguyên Hiệu trưởng Trường CĐ Sư phạm Nam Định
113. Nguyễn Ngọc Thạch, hưu trí, Sài Gòn
114. Bình Mai, kỹ sư, Sài Gòn
115. Trần Rạng, nhà giáo, Sài Gòn
116. Nguyễn Thành Nga, bác sĩ, thương binh, BR-VT
117.Nguyễn Minh Châu, họa sĩ, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội
118. Bùi Hồng-Mạnh, cử nhân HH (73), CCB79, Blogger, Biên khảo tự do, Muních, CHLB Đức
119. Mã Lam, nhà thơ, Sài Gòn

Thơ Thanh Tâm Tuyền (1936-2006)

(Những bài thơ chưa in trong ba tập thơ đã xuất bản. Thi liệu do nhà thơ Nguyễn Thanh Châu sưu tập)


TRƯỚC 1975:



KHAI TỪ CỦA MỘT BẢN ANH HÙNG CA


O million de christs aux yeux sombres et doux
A. RIMBAUD




THI SĨ:


Xin im lặng! Xin im lặng!
Bắt đầu


HỢP XƯỚNG:


Có thấy chúng ta đứng giữa đồng bằng phì nhiêu tâm hồn
Trên triền núi cao lòng thương yêu
Đêm chỉ là màu ánh sáng quá dịu
Những ngôi sao những thế giới thở ấm không gian thân mật
Hãy khép mắt khép mắt thật khẽ
Môi hơi bàng hoàng ngực hơi vội vàng một ngôi sao băng
Có thấy chúng ta là hoa cỏ dưới bàn chân
Đến gặp nhau bối rối như bầy chim ngói
Tay còn nồng hương đất ruộng vườn nhà
Thơm mùi giấy trắng mực in tiếng máy
Muôn ngàn cuộc đời tuyệt đối muốn trú vào đôi con ngươi
Những giây nhiệm mầu trí não muốn buồn muốn vui muốn khóc
Hãy khép mắt khép mắt thật khẽ
Giam lấy những ảnh hình vĩnh cửu trong như một tiếng kêu thất thanh
Có thấy chúng ta biến thể những cánh tay biển xanh vỗ về những cánh tay rừng hoang choàng riết
Giòng nước mắt rỏ xuống những con sóng đời đời thầm nín
Hãy khép mắt khép mắt thật kín


NGƯỜI MÙ:


Tôi xin hát bài:


THÁNH CA CUỘC ĐỜI HÔM NAY


Đêm ở trên trời đêm rơi nhẹ nhàng
Tiếng nói người con gái ngọt những múi cam múi bưởi
Dễ quyến rũ


Đêm ở trên trời đêm rơi nhẹ nhàng
Anh là người phiêu lưu gặp lại quê hương
Âm thanh luồn qua ngõ tay vào vĩnh viễn


Đêm ở trên trời đêm rơi nhẹ nhàng
Em cười tình yêu điên như tóc gió chạy trốn
Em ơi địa cầu thì nhỏ


Đêm ở trên trời đêm rơi nhẹ nhàng
Đêm rơi thành ánh sáng anh tìm được em gối đầu vai anh


Và bây giờ vũ trụ bao la


HỢP XƯỚNG:


Có thấy chúng tôi sống hồn nhiên như mây lá ngàn mùa
Không thắc mắc vì sao buổi mai kia sương trắng khóc đầy
Vì sao mặt trời bay lủi thủi
Trái tim đập một mình
Chúng ta đã đan những ngón tay kết những hơi thở buộc những cảm tình
Thành anh em vợ chồng bằng hữu
Vì suối mát ngoan hiền hay giận dỗi
Vì núi trang nghiêm mưa an ủi
Chúng tôi là loài sinh vật hiền từ
Ngày qua thường khóc kêu cầu sự ngây thơ
Lấy ngây thơ làm khí giới
Có thấy chúng ta đã bưng bát cơm không hẩm cầm miếng bánh không đen
Chúng ta mở được cửa sổ lên khoảng trời xanh
Cuốc đất trong trong vườn mình mặc áo mùa xuân
Bếp lửa chập chờn tiếng thì thầm nụ cười cháy đỏ
Những buổi tối đọc sách hàng chữ ngay thẳng như lòng người
Hãy đến đây hân hoan vì tri thức trong sạch
Hãy khép mắt khép mắt thật khẽ
Có thấy chúng ta rơi vào giấc ngủ sâu vào những giấc mơ
Hương hoàng lan lẫn mái tóc người yêu
Xa ngoài thành phố bỗng lạc đường
Tại sao cánh đồng hoang tiếng kêu xé ruột
Tại sao cánh rừng cháy tôi một mình
Người nào ngủ đây người nào chết đây thân xác tan tành
Hãy khép mắt khép thật kín
Và chúng ta rơi vào cơn ác mộng một mình
                                                           
                                                                                     (Tối đen. Im lặng)



NGƯỜI MÙ:


Tôi xin hát bài:


THÁNH CA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT


Bây giờ vào mùa thu trời xuống thấp buồn vô cùng
Thành phố ngã như con vật kiệt sức
Người ta nằm im trên vỉa hè trong lỗ cống dưới gậm cầu lòng sông ngoài đất trống
Người ta nằm im những phiến đá sau cơn địa chấn bàng hoàng
Không ai dọn dẹp không ai chôn cất không ai vắng mặt


Bây giờ vào mùa thu trời xuống thấp buồn vô cùng
Không còn lấy một tiếng kêu tiếng rên la
Vì giản dị tôi đã chết
Nhưng ta nghe tiếng đập trái tim
Giữa mộ địa tha ma


Bây giờ vào mùa thu trời xuống thấp buồn vô cùng
Ta chạm đầu tay máu nỗi căm phẩn niềm tủi cực
Trên mi mắt nhiệt tình nơi giòng lệ
Trong cỏ cây tiếng biển lời rừng
Muôn vàn xao xuyến chưa kịp từ biệt nhau


Bây giờ vào mùa thu trời xuống thấp buồn vô cùng
Những kiếp hơi thở còn quyến lấy mọi hồn
Người vắng mặt có mặt âm thầm ôm đêm tối
Ta ngó thời gian như soi gương
Cuộc đời bao giờ cũng chỉ là một
                                                                                                  (Im lặng)



KHÁN GIẢ I:


Người là ai? Người hãy khuất vào sân khấu!


KHÁN GIẢ I I:


Người là ai? Ở đâu? Bao giờ?


KHÁN GIẢ I I I:


Tôi muốn hỏi tại sao đứng yên chỗ ấy?



THI SĨ:


Xin im lặng! Xin im lặng!
Tôi vốn là thi sĩ


KHÁN GIẢ I:


Thế nào là thi sĩ?


                                                                                                     (Ồn ào)


KHÁN GIẢ I I:


Phải thế nào là thi sĩ?


KHÁN GIẢ I:


Mau lên



THI SĨ:


Tôi vốn là thi sĩ người nghèo hèn
Không gia tài không địa vị không khí giới
Đến đây cất lên lời kêu gọi
Người nào chưa có ánh sáng tôi có tiếng kêu ánh sáng
(Và bình minh và mây trắng và trời xanh)
Người nào không có ngày mai đây danh tự ngày mai
(Và nhà cửa và trẻ con và đầm ấm)
Người nào thiếu tình yêu thiếu tự do
Thì chút mắt chút môi chút thở
Tôi mang theo tôi một thế giới
Hoa cỏ chim muông thời gian vũ trụ
Lòng hy vọng niềm tin tình bằng hữu chiến đấu
Và giọng nói quý báu của một người


KHÁN GIẢ I:


Tôi không cần những danh từ


THI SĨ:


Tôi làm gió làm mưa xuống những tâm hồn khô nẻ
Đốt lửa cháy những tâm hồn lạnh lẽo
Và sinh ra để ngợi ca cuộc đời ngợi ca loài người
Tôi nói tiếng yêu đương cùng tương lai
Nhưng hát lời nổi loạn chống kẻ địch


KHÁN GIẢ I:


Tôi không cần không cần những danh từ
                                                                                                    (Đi vào)



KHÁN GIẢ I I:


Nhưng hồn chúng tôi hoàn toàn hơn thượng đế
(Và thượng đế đã chết)
Ngày mai ánh sáng hay tự do
Chúng tôi đều đầy đủ
Chúng tôi sống tự nhiên như mặt trời
Người nói sao khi ấy?


THI SĨ:


Tôi xin trở vào nếu ai trả lời câu hỏi này:
Budapest là gì?
                                                                                                      (Im lặng)



KHÁN GIẢ I:


Tôi tố cáo nó là thằng phù thủy
Budapest Budapest là vô nghĩa thần chú dị đoan


KHÁN GIẢ I I I:  


Tôi không muốn biết Budapest là gì?


KHÁN GIẢ I I:


Phải Budapest là gì? Budapest là gì?


THI SĨ:


Hãy nghe



NGƯỜI MÙ:


Budapest Budapest phải chăng là thần thoại
Budapest Budapest phải chăng là cổ tích
Ngày xưa người ta gọi Budapest tên mặt trăng
Hay một loài hoa hiếm
Một tiên nữ bị đày xuống trần
Một con ngựa điên thiêu trụi cây cối
Hay chính những người tôi gặp không trông trông thấy mặt đây
Tôi không rõ nữa


KHÁN GIẢ I:


Hay Budapest nghĩa là người mù


KHÁN GIẢ I I I:


Người mù đớn đau suốt đời tìm ánh sáng


THI SĨ:


Xin im lặng! Xin im lặng!


NGƯỜI MÙ:


Tôi móc lấy mắt tôi nhai ngấu nghiến như đứa trẻ con tinh nghịch
Ô Budapest Budapest Budapest!
Nỗi cuồng điên cô độc riêng tôi
Phải như thế không?
Tôi ném trả bên ngoài chối từ ánh mai ân huệ
Ghi nhớ một lần ảnh hình nhục nhã và ôm giữ một đời
Không bao giờ chết được sống làm kẻ có tội
Ô Budapest Budapest Budapest
Tôi muốn không bao giờ quên không bao giờ quên
Hay Budapest là người tình với mái tóc đầy độc ác
Buộc tôi vào đêm tối không tha
Ô Budapest Budapest Budapest
Về đêm mùa đông lửa ấm tháng mười
Và tiếng sì sào trong máu hãy đi tìm một tiếng nói
Thì ta cứ coi như một câu chuyện thần tiên mà kể


Ngày xửa ngày xưa
Cố ru hồn mình về sâu mãi
Một chàng hoàng tử đẹp yêu nàng công chúa xinh tươi
Nhưng bỗng chàng bỏ công chúa mà lang thang
Nào ai biết lang thang để làm gì
Nhưng chàng nghe nhỏ to giòng suối cánh chim rừng già núi thẳm
Chàng vượt hết mọi đèo mọi sông mọi biển
Người kể chuyện cũng không rõ chàng tìm kiếm chi
Mãi mãi rồi hoàng tử gặp người đẹp cứu nàng thoát khỏi vuốt yêu tinh
Người đẹp ấy ai biết không
Là nàng công chúa xinh tươi của chàng


                                                                                        (Người mù vào)



KHÁN GIẢ I:


Ô Budapest Budapest Budapest
Là tên chàng hoàng tử nàng công chúa loài yêu tinh?


THI SĨ:


Tôi nhận rằng thơ vô ích như những trận mưa
Như những cái hôn bóng gió những giấc mộng đêm hè
Như tiếng hót họa mi hay sơn ca đầu xóm
Bầy lưu ly thảo luyên luyến
Bàn tay hẹn hò đón mình ở một ngã tư
Cửa nhà cũ không kỷ niệm không thân tình hồn thời gian
Bãi trống cỏ may và trinh nữ
Hình như chúng ta tới đây đều phải đi qua mùa thu
Con đường quen thuộc hơn một ngã tâm hồn
Chúng ta đi một mình hai người - bạn hay tình nhân 
Hay với cả gia đình
Heo may mừng ngây ngất về trên trán
Mối sầu một mình - a - vạn cổ sầu
Vài hình ảnh riêng chút hành lý
Tôi xin kể truyện
Ô Budapest Budapest Budapest
Dù biết chắc chẳng ai chú ý đến thu
Vì chỉ có kẻ điên mới đi mua khí trời
Phải không những em bé ngồi từng lầu chót vót?
Tôi muốn hôn nỗi buồn trên bàn chân
Uống tiếng ly rơi vỡ nâng niu bầy tóc khói
Và ngã lộn trong điểm xoáy mắt em
Ngã xuống vực hy vọng
Hãy khua động hai bàn tay sạch sẽ
Tưởng thiên nhiên đụng chạm ánh sáng tung tăng
Rung chuyển thân thể tôi giữa ruột đất
Một vì sao thường để bao nhiêu năm rụng đỏ môi em?


TRẺ CON:


Muôn nghìn năm
Mãi mãi


HỢP XƯỚNG:  (trong khi đọc đoạn này thì màn mở lên)


Ô Budapest Budapast Budapest
Người ngồi ở đâu? Hà Nội hay Paris New York hay Varsovie


Ô Budapest Budapest Budapest
Nhìn lên sân khấu học thuộc lòng mỗi lời


Ô Budapest Budapest Budapest
Tên một thành phố hơn một thành phố


Ô Budapest Budapest Budapest
Thảm kịch thần thoại ác mộng hay giữa đời


Ô Budapest Budapest Budapest
Budapest Anh hùng ca.


Tháng 6 năm 1957
Trích Budapest Anh Hùng Ca


Tập san SÁNG TẠO số 10






TUẦN GÁC
 


Bây giờ bốn giờ sáng đêm đang xoè cánh hư vô
Sông Sài Gòn trôi dưới chân một vết sương mờ
Trái hoả châu loè sáng rớt xuống
Rớt xuống
Lửa vàng hoen treo đầu tiếng ca
     -  Em ơi, em ơi ngồi đây anh nhớ em
Người lính gác trốn rét núp mình
Trong áo tơi chùm kín ủ khúc hát
Chợt đáp trên môi bay cao luồn khoả ngục
Vỗ cánh
Như con chim chập choạng vòng điếm hoang
Anh trèo rung thang sắt dốc ngược
Những chiếc xuồng đốt đuốc men bờ thành
Mò xác người chết đuối
(Thiếu nữ sẩy chân bến Đáy ban chiều)
Tiếng khóc bật chìm trên cù lao đối thủ
Như cỏ gianh khua
Như con tàu say lô cốt bấp bênh
Trái hoả châu rụng tàn
Mồi đuốc chập chờn cùng khúc hát âm vang
Anh bảo: Khua kẻng lên hãy kêu đồng bạn
Pha đèn sâu trong các vùng tử giác
Tiếng sắt dầy âm u truyền mãi hồi đối đáp
Trong hang động vô cùng rét lạnh và cô đơn
Lô cốt thả neo giữa không trung
Trái phá nổ ngậm miệt rừng chồi, hàng dừa nước ven sông ùa sáp tới
Anh bảo: Đừng ngủ em, chống mắt lên, chờ kẻ địch
Đừng ngủ em, trời sắp sáng, đừng ngủ em
Anh trở xuống lẩn vào đám cao ướt sắc vượt đầu
Và lại nghe khúc hát mỏng như tợ sợi rét dăng ngang mặt
     -  Em ơi, em ơi, ngồi đây anh nhớ em.


Tập san VĂN số 18






Tặng Phẩm




1


Trời còn đêm nay còn mãi mãi
Sao như lệ ướt chưa muốn rơi
Anh ném hồn dong ngoài bãi trận
Mai Hoa Mai Hoa em


Anh nằm trên đồi
Trời chiều ôm dưới ngực
Gió thổi hơi nồng trưa xa khuất
Trưa kia trời cháy đốt trên lưng
Những bãi cỏ khô trơ
Như mắt mở
Đêm trôi dàn
Trên ngánh sông dài như chẳng có
Mai Hoa Mai Hoa em


Im lìm bốc nhiều lần tỉnh thức
Nỗi giận khùng ngọ nguậy


Đạn súng vút ghim mình bóng tối
Vết lửa nhoài bay
Tan rồi trái cầu không tưởng
Cuộc phiêu lưu chết sững chốn vô cùng
Mai Hoa Mai Hoa em


Trăng mọc lõa lồ
Dưới bìa rừng vây bủa
Con trăng độc vật nhả rớt rãi xanh lè
Như muôn ngàn mũi châm
Thân phơi khờ dại
Cùng gió đảo điên trên vòm trống.


Mai Hoa Mai Hoa em đâu?


1962




2


Trùm lấp đi kỷ niệm hung hãn hơn kẻ thù
Em tóc dày đen như mắt
Như sầu hổ đóng đinh treo
Trên đỉnh mùa hè anh nào thấy


Rửa sạch mặt mũi lem luốc chùm ảo vọng
Em khoác cơn giông mịt mù
Môi nồng như lá cháy
Như chập chùng ngây thơ khuất dạng
Dấu kín anh.


Dìm sâu dưới lớp sóng dồi
Của vuốt ve như nỗi chết thường
Của cô đơn như hồi cuồng bạo
Hòn đá vô tri tim tĩnh mịch.


Mở thân em mở mở mở cánh cửa niềm quên
Rừng bốc cháy vực hút sâu quyến rũ
Và đỉnh núi cao phiêu bạt
Anh vùi cơn kiêu hãnh sần sùi mầm nổi loạn
Đừng để dục tình mọc cành nhọn cô đơn
Trong cơn trốt xoáy bụi lầm thất vọng
Mở thân em mở mở mở hạnh phúc thành chín tầng địa phủ
Anh đu mình theo nhịp kinh phong


Biết gì về tình yêu, anh, đâu biết gì về tình yêu.




3


Anh chàng rời nhà không ngoái lại
Buổi mai trùm đầu tóc
Anh chàng thất tình và buồn ngủ.


Đi đâu? Em đâu? Đây một mình anh
Một mình anh tôi mọi lũ một mình
Hoang vu phập phồng trong trái tim rỗng tuếch
Tiếng ve sầu kêu trên mấy cây mù u


Con đường nằm ấy con đường luyến tiếc
Những dấu chân tình va động hồn đá xanh
Cơn phủ phàng bưng gốc già tróc lở
Còn không em, còn không, cành lá mọc tay chân.


Anh chàng đưa đám tang trên bộ dạng
Giữa phố đông anh thổi kèn
Kèn du dương hú mối tình loãng nhạt
Trời vồng lên cười nấc đào huyệt chôn.


Chẳng hề gì, em, chẳng hề gì, em lánh mặt cõi chết
Như con sâu đo khắp cả vùng đêm
Như buổi mai này tù kín thân mòn
Anh chàng thất tình anh chàng buồn ngủ


1963




Đi xa đi xa
Và thấp giọng xuống


Bỏ mặc giòng suối như gương cho đám hoa cỏ buồn phiền
Mày phải nhớ trái tim đập này trái tim đập hồi vô giác
Và mày vẫn còn
Ngoài hai tay trần thô lỗ cặp mắt lồi
Ngoài những dấu mòn trên trán tiếng hú điên những móng vuốt và cái giống rừng rú vô căn
Ngoài giòng nước mắt loãng chua tàn nhẫn cơn dập dồn nức nở
Ngoài cõi hư vô khoả đầy ngoài mày mầm mống của mày
Mày hãy còn vẫn còn và quên đó


Đi xa đi xa
Và thấp giọng xuống


Mày gặp mày không nhìn nổi ra mày trong bờ bụi
Cơn rượt bắt cuồng cơn hấp hối ngu xuẩn ở trong luồng thôi thúc dữ
Linh hồn của con mắt đen đen đen và sáng như cơn mưa rào đầu mùa
Mày ở trong mày hai chân lún và ẩn náu
Và đêm ngã xấp và ngày nổ toang.


Đi xa đi xa
Và thấp giọng xuống.


Mày còn món tặng phẩm, món tặng phẩm đớn hèn trên tấm thân mang hiến
Cái chết vội vàng như quả rục, cái chết tan tành như tiếng kêu.


1963
Tập san VẤN ĐỀ





THẨM NHỦ


Tặng Cung Tiến

 


Dưới đáy vực gió cuồng
gió mê say phủ mờ cơn náo động
mặt mũi đám dông
đêm bay hoảng
Tôi đứng đấy như con công tôi múa
xoè bộ mã đời mình nũng nịu
như trên chót đỉnh khoe khoang
Tôi đứng đấy những tơ giăng phù phiếm
con nhện rớt hoài
trong màng lưới rách bung
của lời đong đưa trắc nết
 


Này tôi đứng
khoác manh áo cũ
che bụi mưa tàn
mưa lạc mùa mưa thoảng buốt phút sầu
mưa trên cao những bàn tay vẫy
nhịp tình dâng và
những nhịp không
thân nhẹ nhõm phô bày
 


Này tôi đứng
trên sợi dây treo
ngửa mặt trông đêm nhún nhẩy
nghe nỗi lao đao
mây rong cỏ muộn
những điệu đẩy dồn và
điệu tả tơi
như chút tính mệnh nào còn níu
 


Tôi thầm nhủ
Ồ, em cơn điên thường lạnh nhạt
khi men tê đầu lưỡi thèm
lời lẽ điếm đàng nuốt chửng
mỗi đêm nay mỗi ngày nay
suốt cơn mê gió nổi
tôi thầm nhủ
trò đùa mãi không thôi
em cười mãi không thôi
chạy nhầu trên đồi xa khuất bóng
và núi hãi hùng
này tôi còn đứng tôi thầm nhủ
 

1-69
Tập san VĂN





Khúc Tháng Chạp
 




Cớ sao chim tinh khôn, chim chẳng hay mùa đông chụp tới? Mùa đông, người thiếu phụ điêu ngoa vẻ u tình, người thiếu phụ hỗn hào nhẫn tâm quật thúc mê man. Người thiếu phụ không biết hổ ngươi. Mỗi ngày soi tấm gương hoen âm bầu trời đục dữ dằn, soi mắt mình trong mắt mình. Leo ngược dốc đứng, dốc trơn trùi nhọn hoắt. Rơi lăn lóc như bụi sạn.
 


Ôi — Chim hiếm hoi, chim lạ kỳ, chim bé bỏng. Vụt bay nỗi sầu bi, cánh hân hoan xơ xác. Hiểu không sự lênh đênh cùng thẳm? Hiểu không ngọn lao đao tuyệt tích? Hiểu không con bấc mù mất dấu trên đồng bưng mặt ngất? Hiểu không? ... Hiểu không. Những thoáng chốc vi vu nứt nẻ?
 


Mùa đông nham hiểm. Tiếng vang âm gian tà. Chuỗi đêm mòn trắng. Cành trụi lá gẫy khô. Trong bưng bít đắm đuối, thân vang rời mài miệt... Từ đỉnh thầm, đầu ngọn cỏ, thức mây đùn. Ôi mùa đông hố bẫy, ngời đen ngươi dẫn dụ. Chút bấp bênh đùa rỡn loã lồ xuyên luồn mũi kim rỉ sét. Ôi — tiếng vang lừng rơi ngã của ham mê, tiếng vang chết yểu giữa tường vách chật bóng điên loà.
 


Nội không quạnh quẽ như ngàn cõi chiêm bao vượt. Đập vỗ, đập vỗ hoài con mắt buốt, con mắt vi ty rụng Tưởng nét mùa thu lung linh. Đã bay qua, bay qua nghìn mệt mỏi. Như điệu ngân hụt hẫng. Mưa buông khít chân trời, mưa rũ liệt làm sao ngớt, mưa giả lả. Những huyệt trốt cuốn, vật nài chim ngây thơ khoá cánh, vùi dập chim mỏng mảnh trong khuất khúc giá băng. Đắp điếm những mai chiều như bao giờ xỉn cũ, những canh tàn giấu cất, những khuya lên rách rưới như bao giờ. Như bao giờ, hiểu không như bao giờ?
 


Ôi — Chim bé bỏng, chim bé bỏng hoài.
Và mùa đông thổi chuyến bay trong cõi rỗng.
trụi lớp mi che, không động thức. Con mắt khờ câm căng chống. Tưởng dáng mùa hè chín ối.


Tập san VĂN






VÀ BUỔI MAI NÀY CỦA EM





VÀ BUỔI MAI NÀY




Và buổi mai này rồi  cũng mọc lên ủ ê niềm thống hối
Trên bầu trời ngày đã quên ngày
Chó tru ngoài đồng chó tru thảm thiết
Tiếng vang rân
Hồi động kinh hoảng hốt
Đêm ôi đêm bằn bặt buông rời


Và buổi mai này rồi cũng mọc lên nhục nhằn màu quên lãng
Trên bầu trời mờ nhạt bông lửa bay
Sương ướt độc phủ hừng đông quay mặt
Và hái lá trụi cành
Loài chim nào sống sót
Tiếng dật dờ tiếng thất thanh tiếng im câm
Rướm máu


Và buổi mai này rồi cũng mọc lên ngu ngơ trong ký ức
Trên bầu trời ủ ánh trăng non
Dấu than đen dữ dằn miền cỏ úa
Muông thú biệt tăm thảo mộc cháy điên
Xóa lối mòn hồi tưởng


Và buổi mai này rồi cũng mọc lên hững hờ như bất trắc
Trên bầu trời co rúm tuyệt âm vang
Ngày thối rữa nỗi mù lòa quái quỷ
Hú than những chóp núi trơ xương
Lũng man di nặng hồn đá tảng
Xây xẩm miệng hư vô
Lổ huyệt đào ôm ấp
Như vực hân hoan


Và buổi mai này rồi cũng mọc lên lặng lờ sau nước mắt
Trên bầu trời nặng kín mưa giăng
Ôi mù hè chết thiêu bên bờ bụi
Ven sông chưa kịp rên la
Con trẻ ngẩn ngơ như nấm đất
Tay chân khô queo bó củi tro
Giữa đồ vật không tên gọi
Và cổ tích vùi sâu trong máu thầm thì.






ANDANTE




Như nước ngủ yên đầm ấm, nước trôi xuôi ngầm sâu giòng bất tuyệt
Cánh tay nàng giấc tình hong trễ nải biển sóng rụng tàn
(rụng những hoa đá chưa mài sần sùi ảo mộng)
Vời ngó đỉnh cây mù biếc trời trổi điệu thu ca vầy nghịch tóc
Loài gỗ cũ vỡ phanh phui sắc vân đen trầm
Mắt mở không mắt hiền ngoan cất dấu (những mùa hạ mỏng
Như áo nõn, trận mưa rào đám buồn quấn quýt quanh chân)
Và bước thong dong nỗi thinh không e dè trán vô tư bổng
Ngó khúc sông trườn lời lau lách, vùng sao tỏ vàm nhớ mênh mông
Như gió lùa xa - ôi xa như hương đất lạc - lửa trong veo gọi vẫy (trong veo như nguồn cao)
Chùm vui bắt cháy, gốc cô đơn, cành lá thản nhiên mồi ngọn lửa nhóm từ tia ánh dung nhan ru biếng nhác
Giọt nắng trên môi phơi trái ngọt cay
Và hồn hậu ủ mùa đông chưa tới.


Con phố khuất chìm, phố cổ bên bờ giếng mát
Mây buổi hoàng hôn đàn ngựa thuần - bờm mướt, tiếng dội tắt im
Rong sắc trời phiêu bạt, hàng mía lau trắng đong đưa, lá tre xanh già đáp đậu như châu chấu đồng
Lũ sáo chân vàng nhảy đùa lối cát - long lanh - nắng thốt lay bông dâm bụt đỏ
Ôi miền cư ngụ dại khờ, bướm say giấc hư thực lang thang
Nghe rì rào trò chuyện mấy đồng heo may - mùi cỏ hắc lênh đênh xóm bãi
Bóng rợp xô huy hoàng mầu ráng thẫm chợt tưởng mỏi hôn mê mau ngày tháng
(Mỗi ngày tay gió cởi, cánh áo vẫn còn nồng hơi thở ngon)
Không gian thấp bằng, chênh chao sóng (sóng ôm đồm những động vang), nét mày cong kín mối say sưa
Ôi miền cư ngụ hoang liêu, thân nguy nga mùa trù phú
Đồng buông thùa lúa mọc, hoa cải vang như chuông, đồi lả yếu
Như ngực băn khoăn nhớ vọng không trung - vàng lửa mật ban sơ ngọt sớt
Nghe chập chờn như mạch rừng tuôn, rừng xâm lấn hay cổ thèm bối rối, rễ chùm lạc thú lơi
Cá lội băng ngàn dặm, cá bạc ngời bay theo con nước - vuốt ve hỡi vuốt ve ân sủng bập bềnh
Theo tiếng hát thần, triều thao thức, nguồn nước ngọt rời xa xuống đồng nước mặn
Hỡi đẩy đưa tuyệt vời, rừng ngã đổ, hãy giong buồm
Ôi miền cư ngụ yên, thời gian nằm ổ cuốn trong lớp lá dầy đất mủn (chẳng ai nghe tuổi thở rất hàm hồ).





VÀ BUỔI MAI NÀY CỦA EM



Cửa đã mở vào vườn hư tưởng đó
Tiếng gỗ động đục nhòa
Phấn bụi reo vang hồ tịch mịch
Hồi đay nghiến
Và hồi rực rỡ thoắt u trầm
Tiếng gỗ mờ như gương mặt
Em có nghe em có nghe
Đêm nay vẫn mỗi đêm qua mưa nặng hạt
Trong tối ám này túa khúc cô đơn
Trên gai góc từng chùm hổ thẹn
Vật vã hoài gió mông lung
Đêm nay vẫn kéo dài huyền hoặc
Em có nghe em có nghe
Niềm hắt hủi trôi quanh dãy tường điếm nhục
Người bị sanh cầm
Trong chiêm bao đơn chiếc
Ôi giấc chiêm bao thừa bạo lực điêu ngoa
Giấc chiêm bao như chim ướt cánh vỗ động hoài
Em có nghe em có nghe
Người ngồi nghe máu chảy
Từng đập trút mê cuồng
Người ngồi nghe thịt xương rã mục
Như lá khô
Đất ẩm mùa khốn khổ
Con lạnh ghê mình trong quách xưa
Em có nghe em có nghe
Nơi bờ thềm rêu mốc nhỏ mọn nấm kinh hoàng
Những con ngựa vằn ánh sáng
Loạn trí hý vang
Và hơi thở phì phò sủi bọt
Em có nghe em có nghe
Đời côn trùng giá buốt
Trong lỗ hang sâu
Lá thúc quật vô tình như roi vọt
Hành hạ không ngừng hình bóng âm u
Ô hình bóng ngân nga quanh đâu đó
Em có nghe em có nghe
Cửa đã mở vào vườn hư tưởng
Cửa cũng khép rồi
Em hãy ngồi, ngồi xuống trên phiến đá mỏi mòn như ước mộng
Rồi em lắng nghe trong vườn đêm nay mưa cũ kỹ như hồn mình
Đêm nay vẫn mỗi đêm qua vườn hoang tịch
Em hãy ngồi nghe trong canh thâu núp ẩn chốn nào
Trong tuyệt cùng mối hoang mang ấy
Trong tuyệt cùng của thoáng gợn đau
Bồi hồi đáy ngực như con bão thầm
Mùi hương ủ dột
Hỡi em em hãy ngồi nghe như tượng đá
Khắp mọi vòm đen đúa mịt mùng
Khắp các lối mòn bỏ quên như lời tình tự
Các khúc cành xào xạc như xương
Ngọn lửa mát ngời còn vùi lấp
Một đốm hoa hé nở gần
Hỡi em em hãy ngồi nghe nỗi chết
Và hy vọng lụi tàn
Cơn rét mướt cũng lụi tàn
Như mảnh sao băng mất tích
Hỡi em em có hay
Đêm nay cửa đã mở vào vườn hư tưởng đó
Anh ngỡ thấy bầu trời
Như sâu kín
Anh ngỡ thấy cây xanh
Như hồn nhiên
Anh biết đâu nào anh biết đâu
Những trái quả mang tặng người yêu dấu
Thôi đã ruỗng hư
Những như lòng khinh miệt kẻ hờn cừu
Bỗng biến hình âu yếm
Anh biết đâu nào anh biết đâu


Và buổi mai này rồi cũng mọc lên, rồi cũng mọc lên
Cửa sẵn mở em nhìn vườn hư tưởng đó
Nhưng hoang vu đã chém nát thân mình.


11/68
Tập san VẤN ĐỀ số Xuân Kỷ Dậu

 





NGÔI NHÀ ĐỎ, TRĂNG HỒNG


(6 biến khúc quanh một đề thơ cổ)

 
 


Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
Xập xè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc dầy
Đi về này những lối này năm xưa...
Nguyễn Du

 
Gửi vợ chồng K.

 

1

 
Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng hạ.
Hạ nồng nàn quyến rũ môi hôn,
Gọi mưa mùa tắm gội xanh cỏ lá,
Dập tắt sầu thiêu đốt, phả du dương.
 
Mưa ngày qua, mưa ngày nay, xám ngắt.
Cửa đóng cài, cửa ẩm mốc cô đơn.
Gõ lên đi ngón tay cung khờ khạo.
Nép đầu say, tóc rối mộng thầm.
 
Ngồi xuống ghế mộc bầy riêng lẻ.
Chiều bên vườn gợn sóng nắng sơ thu.
Im tượng gỗ. Tiếng chân ai thoát chạy.
Bỗng bâng khuâng thang cấp lượn mơ hồ.
 
Trèo dốc đứng, vội vàng hơi thở hụt.
Bậc đá mòn rợp lối phân vân.
Hồn đá nín thiên thu chót vót.
Ghì ôm sâu chớp sấm non ngàn.
 
Theo lối khác. Giẫm dấu chân người lạ.
Đất trượt trơn. Cây cối rõi trông tìm.
Trăng hồng sáng ngân nga lửa lạnh.
Nhà lao đao. Đồi rào rạt ngoan nằm.
 
Kẻ lạ mặt bỗng đêm mai hoảng thức,
Thấy ngôi nhà bằn bặt cháy như tim.
Đồi giông gió lay trăng hồng lả thiếp.
Và hàm hồ buột giấc khóc êm.
 
 

2

 
Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng lạ.
Chiều úa tàn, trời tím buổi tinh sương,
Nắng hớn hở - nắng trong veo như mắt –
Mỉm cười xa, phố thấp, vẫy chàng.
 
Mái nghiêng cúi, ngói nâu đời cũ xỉn.
Trổ bông xưa, phơi đoá mộng dị kỳ.
Mộng vời vợi, chuỗi mưa điên xối xả.
Xuôi theo mưa giọt lệ chia lìa.
 
Tường ấp ủ hơi dồn nghìn giấc chết.
Nắng như trăng nhóm lửa bơ vơ.
Gương mặt héo chập chờn sau giậu đổ
Khuất dung nhan trong dáng ơ hờ.
 
Thềm quạnh quẽ gọi chân ai hồi tưởng
Gót cô đơn nghe rảo tận hiên ngoài.
Quãng trống trải, lịm say trăng thố lộ
Những âm vang cùng thẳm cuối trời.
 
Đèn vẫn thắp. Cửa sổ kia vẫn mở.
Loé sáng mù như một đốm sao.
Đêm dần lụn. Bướm đen vờn nghiêng ngả.
Đâu người ngồi nhập kiếp chiêm bao?
 
Trăng lợt lạt. Nhà im. Đồi rét mướt.
Tiếng sáo khuya rong ruổi u hoài.
Đường trơn dốc đẩy chân trì níu.
Nhà lênh đênh theo trận lũ rã rời.
 
 

3

 
Ngôi nhà ở trên đồi trăng hồng lả.
Trời vàm sông, bến quạnh gió mù tăm.
(Nước thao thức lòng sâu cuồn cuộn hút)
Nàng trở về lạc nẻo đêm rằm.
 
Những trận mưa, những trận mưa tầm tã
Đẩy trôi trăng ra biển im hơi.
Những giọt sương, những giọt sương giả lả
Lá khép thu, nương náu, kinh lời.
 
Bậc đá nổi. Ảo giác buông. Lối ẩn.
Thềm nào đây trải rộng giấc hoang vu.
“Chàng đâu? Chàng đâu? Riêng mình ngơ ngác.”
Chốn tình si thoang thoảng giọng cười mờ.
 
Trong thớ mủn mưa hắt đầm lạnh lẽo
Nắng muộn màng, nhợt nhạt reo vui
Trên cửa khoá, phô vết thương loang lở
Gỗ xác xơ. Mắt khép bùi ngùi.
 
Trên hàng hiên động tiếng mòn. Cửa mở.
“Nàng là ai?” Âm dội vẳng quanh vòm
Phút tối ám. Ngoài kia trời đục xoá.
“Nàng là ai?” Hoảng hốt cánh dơi đêm.
 
Đừng khêu lửa. Chân mập mờ bước sóng.
Buồng tim ta lửa ngún phủ thê lương.
Đừng khêu lửa. Ngọn lắt lay toả bóng.
Buồng tim ta sáng quắc ánh băng.
 
Hai tay giá trườn quanh hương nồng vắng.
Tường ẩm rêu. Ghế bụi. Ôi mùa hè.
Gió lùa thổi, nắng bay. Bàn quên lãng.
Những đốm hoa nhảy nhót ham mê.
 
Khuôn cửa sổ, gương chìm không hắt ảnh
“Nàng là ai?” Chàng dưới thấp sau gương
Phố khuya lạc, mờ như đang thu muộn
“Nàng là ai?” như thể lối vô cùng.
 
Níu chặt song, dáng cây sầu khô trụi,
Trong vườn xưa nàng khóc cạn đêm nay.
Trăng thất sắc lánh xa. Ngày sợ rạng.
Đồi chập chờn. Cỏ rối tưởng heo may.
 
 

4

 
Ngôi nhà đỏ đồi trăng hồng đuối nhớ
Thở hơi sương run rẩy. Ngã trong trời
Nhoè gió bấc, ngựa mây dồn gấp vó
Tiếng nhạn đen. Thả bổng quạnh hiu rơi.
 
Đồi bập bềnh trôi trên lũng biển trắng
Mái nhà ôm, nhô nóc hú gào người.
Người gắng gượng rõi dáng hình lãng đãng.
Đêm như hồn lóng cóng. Cắn môi.
 
Những bực đá lấp chìm. Đá rét mướt
Dâng dưới chân. Đợt sóng nổi chông chênh.
Người hẳn tiếc những khuya trời ngỏ thoáng
Đá nhún mình nâng gót nhẹ thênh.
 
Bụi hoa trắng ngó tìm trên đầu dốc.
Hoa ngời trông. Rạng hiện lối đơn sơ.
Hoa thù nghịch. Cười ý sầu điên đảo.
Rũ rượi hong cánh ướt. Quãng mờ.
 
Đèn vàng lụn như đầu diêm xoè tắt
Lửa thuyền xa, đom đóm dạt phiêu bồng.
Tình rầu rĩ kêu tiếng trầm cắn đắng
Bóng vang hư, thoáng lịm như không.
 
Kìa tóc sũng, tựa gờ tường đay nghiến.
Bám vịn trên cửa gỗ sượng sùng.
Thềm hiên gió rập rờn xô huyễn hoặc.
Đầu buốt mê nhịp gõ kinh hoàng.
 
 

5

 
Ngôi nhà đỏ đồi trăng hồng vằng vặc.
Cửa thiên thanh. Mái xoãi ngủ sậm nâu.
Cây biếc lục. Trời tím than. Núi sững.
Phố tuôn vàng huyên náo dưới triền sâu.
 
Hạ đen thẳm ngỡ ngàng đuôi mắt sắc.
Cơn sốt ngày. Nắng trải thảm ham mê.
Mở tung cửa nhốt thời gian ủ dột,
Gió mơn man, lùa rạng rỡ đêm hè.
 
Chàng thở vội hương bay trên đầu dốc.
Ngực cồn cào. Trống hụt những âm quên.
Bực đá gọi – ngát một mùa thảo mộc –
Gọi trắng trong. Phấp phới. Chuông rền.
 
Trên lối nhớ đứng ngây. Tuôn lệ.
Trời đêm xưa, gió lộng cũng về thăm.
Tường giãi im. Nàng ngửa đầu chợp mộng,
Thềm hoang đầy, xanh miết miết trăng.
 
Chốt lỏng gãy. Cửa bỏ không. Mờ hoặc.
“Chàng là ai?” Ghế mộc quỵ rời chân.
Trăng rọi lối quanh co. Ngách lắng tiếng.
“Chàng là ai?” Chim kêu lạc. Tần ngần.
 
Nàng hớt hải ngoài vườn. Ngày huyễn ảo.
Góp lượm cành. Đốt lửa. Xốn xang trăng.
Nhà quay tít trên vòng quay đám hội
Gió khắp đồi. Lửa chói sáng biển băng.
 
 

6

 
Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng khoả.
Trời sương lam. Núi ngây rừng gió lạ.
Cây ngà say. Đêm heo hút lặng khơi.
Mùa trở gió. Rười rượi buồn cỏ lá.
 
Im. Rớt im. Nhánh khô ròn. Bước động.
Ngói lệch xô, bàng hoàng, che khuất mộng.
Chàng quay lưng mỏi mệt ngắm phố chìm.
Cửa đóng bít. Rào vây. Mắt hoắc trống.
 
Trăng chợp lay. Nhỏ to vắng tiếng hát.
Mùa hạ vàng rực rỡ, tuôn bát ngát.
Đêm ơi đêm còn khúc điệu nào chăng
Vỗ về chàng? Trời yếu đau ngăn ngắt.
 
Mỗi bực cấp bước leo dầm hiu quạnh.
Thở chênh chao. Hồn tả tơi sóng sánh.
Đá mòn ơi, thấm thía dấu lãng quên.
Lối mờ tỏ. Mưa giông khuya ngất tạnh.
 
Hãy đắm đuối. Chàng Orphée si dại.
Đừng ngoái nhìn. Đừng ngoái nhìn. Bờ bụi.
Tủa gai, vườn hoang phế. Bóng ảnh nàng
Trôi tan tác trong hành lang thẳm tối.
 
Cửa ngõ chết, nỗi mù dằng dặc
Hoa trông vời khép niềm riêng nghi hoặc.
Đừng ngoái nhìn. Đừng ngoái nhìn. Chàng ơi.
Trăng ngỡ sáng. Trăng ngậm sương trầm mặc.
 
Mùa ngã độc. Nhà nín hơi lẩn lút.
Đồi sượng sần. Cây lìa cành, lá trút.
Đừng ngoái nhìn. Phơ phất khói sương thu.
Đừng ngoái nhìn. Trăng khoả thân xanh mướt.
 

Giai phẩm Văn 27.11.1972






Mùa Mưa Này Lạ Lẫm Phải Không Em?



Mùa mưa này lạ lẫm
em
Trong đêm chốc say mù
quạnh quẽ
hoảng hốt bay
Màn lưới buông cũ ẩm
Một giấc không ngờ
đầy bóng lặng


Mùa mưa quamh co
Những ngõ ngày lầm lũi
Mối ham mê hong ngoài trời
biệt dạng
em
như bụi lá
giữa sầu thinh không
mờ


Chút gì như âm thừa
em
câm nín
rỗng hoang trước vùng khiếp hãi
mút đêm kia
ráo hoảnh


Mưa dại dột mưa mau mưa lãnh đạm
em
trôi niềm luyến tiếc
Con gió bỗng gọi hò
dưới lũng xa không nhớ tưởng
em
đã khuất rời bám già
trên nhành lao đao.






SẦU KHÚC



1.


Ta kiếm gì ở người?
Người kiếm gì ở ta?
Một sớm mai kia ta thức giấc
Sương độc hủy hoại gương mặt tình
Ta cất tiếng ca
Người còn náu ẩn
Trong quãng im không của lời hát.





2. BIẾN KHÚC THANH QUAN


Em trở về, trở về đó ru?
Mùa sao sương phai nhạt,
Trăng nhìn đá. Đá nhìn trăng. Nào khác
Hồn cỏ thầm thì
trên lối cũ, nền cũ. Chiều
Trời bạc phận
Người hóa đá hóa trăng
phế tích rụng rời. Nào khác.
khói ngút
tiếng kêu buông.


Em trở về, trở về đó ru?





3. THEO CA DAO


Cầm bằng người ở trên rừng
Lớp quên lớp nhớ bủa trùng vây im
Cầm bằng người lạc cõi quên
Vang lừng cõi nhớ một miền hoang vu
Thì thôi thả gió tuyệt mù.




4.


Võng trời đất đong đưa
Chĩu cành sầu lung lạc
Hồn hãi níu bơ vơ
Trận thảm tình tạnh ngất.




5.


Này con chim đêm vỗ cánh bay miệt cùng
Vẫn ngợp say biển đen đúa
Ôi, trái tim ta đành lặng thinh
mà réo gọi


Này những giòng lệ tuôn
tiếng thất thanh chói lọi
Gửi ngàn sao
Phía đêm chừng rớt kiệt.


Ôi, này trái tim ta
Chớ vượt thoát hạn trời.





tử vong khúc
(trích)

tặng LÊ HUY OANH




Nàng trong mộng giọt đàn thánh thót,
Chàng quỳ ôm gót ngọc xót xa.
Nền thảm đỏ chóa mầu hoảng hốt,
Chàng bơ vơ, một tiếng ngân nga
Nàng trong mộng, rừng hương tỏa ngất,
Chàng tung bay trong ngọn sa đà
Cành lá vẫy những mùa trăng mật,
Chàng mê man lìa tách cõi bờ.
Nàng trong mộng, nhạc trầm heo hút
Cổ điện âm dội bước chân ma
Chàng bất tỉnh, thoát hồn lẩn quất
Bao biến thiên, ta vẫn gặp ta.
Nàng trong mộng, phả cơn bão táp
Biển cuồng điên từng mỗi âm ba,
Chàng trơ trọi, gieo mình khuất lấp,
Sóng phủ trùm, dậy nổi hoan ca.


Nàng trong mộng, mộng xưa chót vót
Mộng trong chàng, ngả ngớn Tử Hoa
Chàng nhập mộng, mộng dàn hoi hóp
chẳng kiệt cùng, trôi nổi đời xa.






ngày nín tưởng




Trận giông đổ
từ cơn khuya bặt giấc
thinh không xô bồ
phủ phàng nặng giọt


tháng Năm về
mưa sang trời đổi ngọn.
tháng Năm về
ru thiếp quãng phôi pha


Kín một cõi riêng
đầm đìa tuyệt vắng
Tách vỡ hạt cuối cùng
Dạt dào triều thác lũ


tháng Năm về
mặt đầm hoang ngát
tháng Năm về
nương náu lối đi quanh


Búi đêm ào tung xổ
Nhòa lời lẽ thốt thưa
Tràn lan cỏ bãi úng
Nín tưởng khắp trăm bề


tháng Năm về
mưa rong huyên náo
tháng Năm về
rừng điên kể lể


thôi rồi tháng Năm về
choàng cơn giông lộng
thôi rồi tháng Năm về
Nước giạt ngày trôi.






Tặng MAI THẢO


Trước bình minh, trời mưa. Cùng lúc giấc chiêm bao trở lạnh –
           giấc chiêm bao mở kiếp, mở cửa gió huyễn,
           cửa phong ba, cửa trăng ảo, cửa tiếp cửa
           lay chuyển, rền rĩ, vắng tanh…
           Cửa những chiêm bao khác.


Ôi, môi hoang phế, chĩu mướt, ngợp - Vành trăng tang úa
                       lênh đênh, mây sảng.
Người co quắp nằm trên đất dữ, gối ghì cơn Ác Mộng Mỗi
      Ngày.
           Lá múa, lá múa điệu nát tan
           khóc cười lảng biệt
           Lá múa, lá múa bóng thao thức
           Gỗ đá thâm trầm tạc oan khiên.
Gối ghì Tưởng Vọng đằng đẵng dáng chiêm bao hạnh ngộ.
     Người khóc điếng mê oan
           Trùng trùng gió nghiêng ngửa
           Ý khờ khạo, ý chịu giảo hình
           giữa cuộc hẹn
           Trùng trùng gió quấn quýt
           Lời Nín hiển linh


Trên môi chiêm bao, nụ chiêm bao mơ
           xanh những chiêm bao khác.


Giai phẩm VĂN







QUAN ÂM VÀ TỀ THIÊN ĐẠI THÁNH




TỀ THIÊN
tặng BÙI GIÁNG



Ta sinh từ đá ta đi
Quên trăng đảo chiếc, thoát ly ngục trời.
Chán Thiên Đình, chán Diêm Đài,
Mang thân hành giả rong chơi cõi miền.
Mở ra những trận đảo điên,
Trời thương nhớ đất, thần tiên nhớ người.
Riêng mình nhẩy nhót lơi khơi
Phân thân nghìn mảnh khắp đời có ta.
Đưa người quá cõi tà ma,
Nhịn thua niềng sắt, thương bà Quan Âm.
Qua sông soi bóng tần ngần
Tiếng cười quá vãng sóng vần vụ xoay.
Ngộ Không chẳng có mặt mày
Hình nhân dị thú bạt bay quỷ thần.



QUAN ÂM



1


Nàng nghe hết thẩy âm thanh trong trời đất
Hết thẩy dư vang khuất lấp đời ta
Nàng hóa thân một tiếng ngã rớt
Bay dò thăm thẳm suốt hồn ta.




2


Tay xòe đóa sen
Mày nổi vầng đêm
Nghiệt súc, trời lồng lộng thanh thản
Mỗi búp tay mỗi đỉnh non.



3


Mắt khép mặc tình ta nhẩy nhót
Nhan dâng hồng nguyệt vợi thinh không
Ta cơn trốt bụi sao cuồng khấu
Hạnh nguyện nàng rong ruổi chập chùng.



4


Hỗn mang trời biển sơ khai
Xuân thu chia giạt bến mê dài
Vời xa gió ngọn chan cô tịch
Ánh cười rạng rỡ phôi phai.



5


Dưới núi nằm xấp hầu nghe chừng
Hồn tinh hang hốc bặt hồi âm
Giấc đá nghiêm sâu vỡ thoát kiếp
Mộng ẩn thâm u, bồ tát nàng.


Tập san VĂN CHƯƠNG số Trung Tân






HẢI ĐẢO
 


Trên biển mù sóng cuộn
Ngày lộng tuôn như máu loang khô
Sóng thảng thốt dập vùi hải đảo
Cửa ngàn trùng gió mở toang
Nâng niu máu rỉ cườm tay nhỏ
Thời khắc câm tiếng nỉ non
 


Hải đảo xa vời em
Trên miền non cao rừng rú
Gió gào giận khốn tù
Trong cõi mộng hung tàn
Một mùa đông dài bão táp
Đêm qua ác điểu đậu cành khuya
Thả rớt trái tim ác độc
Trong một tiếng tang thương
Đêm qua gió cắp mộng lên non trốn chạy
Rồi gió hú van
Trong hành lang tối ám giờ lâm tử
 


Hải đảo xa vời em
Trời chuyển màu chớp xé
Cánh chim bay cánh chim bay
Vào mùa hư không trôi nổi
Khi bóng đảo chìm
 

1972







THƠ TÌNH

 

Je voudrais que mon amour meure
et qu’il pleuve sur le cimetière
et les ruelles où je vais
pleurant celle qui crut m’aimer

Samuel Beckett
 
 


I. gọi em dậy
 


Gọi em dậy trời mờ trên đồi
Hớt hải mai xa ngựa nẹt đuôi
Lông bờm mướt da căng gõ móng mặt đất nhớ
Mai còn trăng, úa lững thững tuần trăng
Trở về Trở về trên dấu cỏ sương
 


Gọi em dậy hoang mang mưa nhỏ
Lặng thinh mai phố xám đường cổ thành
Hoa rêu bèo cầu đá tường long lở
Mai ngu ngơ trăng sọi quạnh đầm trời
Trở về Trở về theo luống heo may.
 


Gọi em dậy ngày quen lạ sảng
Rủ rượi mai hơi hướng đêm thu
Rừng mắc cở mắt nghiêng tóc lả tả
Mai tinh mơ chết lửng tay hờn
Trở về Trở về trả lốt tịch dương
 


Gọi em dậy gọi em dậy
Nhìn suốt chiêm bao cười cợt gió
Đỉnh núi ngất xanh khắc tình sầu
 
 


II. chiều lặng thinh ngoài
 


Chiều lặng thinh ngoài, chiều thân thiết
Chiều chưa bao giờ
Như một nụ hôn ủ
Trong thinh không điếng vía
Khờ khạo cây gió chao.
 


Tình một đóa thắm
Một mùa giông
Bỗng đêm hè khánh kiệt.
 


Náu mình bên ghềnh đá
Nghe thác đổ
Vi vu khúc đông tàn
Khiếp đảm đời kiếp kiếp
 


Đợi gió thổi tan chiều
Và nỗi thờ ơ bảng lảng
 
 


III. thổi biệt mù tới
 


Thổi biệt mù tới
Thổi ta đi
 


Chim kêu líu lo
Trong giông bão chan hòa
Chẳng nín.
 


Thổi lặng ngắt xứ xôn xao
Thổi lùa tan vỡ
 


Hạnh phúc cho những chùm lá reo
Cho đá thiếp
Miếng hôn đau bằn bặt.
 


Thổi mờ mặt mũi
Thổi chia lia hình dạng.
 


Đồi tở mở lênh đênh
Đêm cồn
Lũng dâng tàn lửa
 


Thổi vang huyên náo
Thổi trống dư thừa
 


Đốm sao nhòa biệt
Cõi trời góa
Trên  giải sông trầm


Thổi em đến ta
Thổi ta mất tích.


 
 


IV.
 


Chúng ta đứng hong phơi. Mùa dìu dặt. Gió, đẩy xô sau lưng, lao đao dưới vực. Đứng mê man như cây ẩm, lá sũng trong tối.
 


Thành phố nào đã xa rời? Bật sáng đèn đóm trong khuôn các cửa nhà. Thành phố nào đó? Chập chờn đáy lũng. Lượn lờ triền đồi. Không dưng lời kể lể. Có nghe? Có nghe những nỗi niềm cao thấp, chênh vênh? Có nghe biền biệt trời gió lộng? Có nghe? Có nghe?
 


Chúng ta. Này vẫn chúng ta. Bao lâu? Còn chúng ta ư? Như thể mọi mảnh gió cuốn. Như thể tẩm liệm trong băng, trong cổ mộ. Chàng, tượng đá trồng sườn non. Giống như nàng cô phụ. Nàng cười nhộn theo mưa rũ tóc. C’est formidable, c’est ridicule. c’est merveilleux, c’est toi…
 


Mưa cũ kỹ. Chúng ta cũng cũ kỹ huyền hoặc. Thành phố lập lòe, rền chấn động những luồng sóng truyền nứt rạn ôm kín. Ruột đá nát. Chàng thấy biển nhấp nhô hèn mọn. Một mùa mưa phiêu bạt đêm thu muộn ru chàng. Chốn vườn cũ nàng về đã thành rừng mộng lẩn. Lối nào đâu? Lối nào đâu?
 


Mưa rong tìm lối. Trong giấc ngủ dầy của sự thể, mùa gió này đây động cành hoang dã. Mộng đâu? Mộng đâu? Mưa thầm gọi bồi hồi. Tiếng hắt hiu nhòa nhạt. Tiếng chìm. Gọi đứa trẻ lưu lạc giữa chiều nắng quái, đứa trẻ ôm gối bên hồ sương đục buổi mai, đứa trẻ lang thang theo con chó đói ghẻ lở vừa đi vừa liếm vết thương. Trong thành phố sụp đổ.
 


Gọi đứa trẻ hãi hùng tuôn chạy xa tiếng gọi.
 


Mưa còn đó không? Mưa dìu dặt. Biển nguôi ngoai ôm thành phố lặn mờ. Chàng đã hư hao và rộn rịp. Còn Nàng? Nàng cười như trận mưa không chịu ngớt. Nàng vui vầy như mưa và cỏ rối và đêm và trống trải. Phải chăng? Phải chăng?
 


Nàng bật khóc như mưa.


Tập san VĂN số 210
15/08/1972





THẦM




Bên triền thầm, rền khơi xa
Lạ tai giọng dỗ, lòa nhòa biển sương.
Bay bay mưa xóa trùng phùng,
Đứng im dốc đứng, trời mường tượng lâu
Hư hư cây cối lay mau
Đường lên núi thẳm cuốn nhầu vực mây.



Giai phẩm VĂN
20/08/1973





TẮM GIẾNG ĐÊM TRĂNG


A Isla
Mi Querrida




Trời còn đêm nay còn mãi mãi
Sao như lệ ướt chưa muốn rơi
Hồn đuối trăng nghiêng, trăng bờ bãi
Thả đắm dung nhan vực giếng khơi
Cười vẳng riêng mình, tuôn nước dội
Thân nhẹ mênh mang rực sáng ngời
Tản thần, em mọc túa hắt hủi
Xõa tóc làm ma cợt ghẹo người.







NẰM VÕNG NHỮNG NGÀY CUỐI NĂM


Mắc võng ngang hai đầu sinh tử
Dưới trời sương bẩn, lớp mưa thưa.
Cây yên khuất thần sầu quỷ khốc
Nắng cạn niềm bải hoải sau xưa
Ngày choáng váng nôn nao tịch diệt
Năm hồi sinh chóng mặt im trơ
Đong đưa sóng thảm chiều im lặng.
Cùng kiệt trôi rực rỡ bóng thừa.


Mắc võng bên bìa rừng thâm hiểm
Quạnh trăm năm, trời đất xanh xao
Chim bay mỏi, chông chênh sa lạc
Đồng bãi nghiêng, bằn bặt âm hao.
Lá phủ rợp, nồng ngây thảo dã
Tình ơi tình, say mứa chiêm bao
Bổng chìm heo hút quanh vòm bẫy
Cây gọi cây, lạnh ngất lửa sao.


Mắc võng trên đỉnh khuya mờ gió,
Trời tuôn bay, thấp thỏm đáy sâu.
Đá quặn ruột, đá hờn kết tụ.
Cỏ buông hơi, cỏ kén thâm u.
Rễ níu sững sờ tim cổ đại
Mỏm khờ hai hớp giấc thiên thu
Thơ ơi thơ rũ cuồng cơn chết
Lồng lộng non xa thở tuyệt mù.


Mắc võng ngang biển gào vô lối
Ào ào cô quạnh ngõ muôn sinh.
Đất lênh đênh, sóng tàn hơi đuổi
Thốt tiếng không, đảo dạt lặn chìm
Tình đắm hoang mang, lời huyễn dụ
Đêm chưa đêm, vật vã sơ sinh.
Bọt lả tả, ngày còn biến mặt
Trời tinh khôi, trắng xóa nhịp kinh.


Mắc võng trong vườn hoang kiếp phế
Nghe em về, hấp tấp mê hoan.
Đón cửa nẻo, lưới giăng bắt mộng.
Lá xum xuê, xô rạt bàng hoàng
Buổi khốn lụy đưa chân thảng thốt
Thưở xa vọng hiện bước canh tàn.
Đừng khóc. Võng đu ngoài cõi biếc
Chợt đứt rơi, thoảng tiếng gẫy ròn.


Tập san VĂN 1973





CÒI BÁO ĐỘNG




Trong trời gió xô mây chạy hoảng
Rừng thông cao như đám ngựa quần
Ngựa bị cột cơn giông khô tối
Hí vang rân sóng lớp bạt ngàn


Trăng nhỏ thó nhấp nhô huyễn hoặc
Chạy theo mây thở dốc khốn cùng
Hơi giá ướt đẩy chân bấn loạn
Ngựa lạc bầy đốc chứng hớp trăng


Hú dùm ta còi dài thảm thiết
Mối bi thương nhốn nháo cười hoài
Hú dùm ta gọi nàng lồng lộng
Kìa hố riêng nhào tới té lăn.


 
 

VẪN EM

 


Vẫn em đồi trăng phơi mờ hoặc
Tóc buông giải thẫm xoá canh thâu
Vẫn em rừng lũng khuya trốt lộng
Ngút đen mắt lạc ruổi tin sương
 


Vẫn em đồng sông sao trời hạ
Phập phồng tan nát lượng thời gian
Vẫn em dáng cây nghiêng nẻo khuất
Sương muộn ham mê thức lá buồn
 


Vẫn em ngực thở vùi cơn bão
Trải niềm không, xô xát niềm klhông
Vẫn em trận mưa giông vách núi
Mở buốt mông lung ngõ đất trời
 


Vẫn em thoáng trắng mây hiền hậu
Ngẩn ngơ soi mặt biển điêu linh
Vẫn em đoá quỳnh run hoảng nở
Hương thầm choàng riết cõi đêm ta.
 

2-73
Giai phẩm Văn tháng 11.1973




ĐỈNH NON XA

Tặng Vũ Duy Hiền và Trần Kim Hải

 


Hôm ta từ núi cao đi xuống
Trời phả sương mê lạnh nhạt hồn
Đá vách ngún mây kiêu bạc hống
Nhập nhoà tiếng ngậm bặt tang thương.
 


Trắng phếu sườn non ngày mới chớm
Một đoá trăng tàn lẩn lút bay
Mùa hiu hắt thổi hoang vu quyện
Lòng ta lạnh vắng như cỏ cây.
 


Dưới ngọn đèo xa loé nắng xưa
Phiêu bạt rừng già dìu dặt mưa
Triều lũng dựng xanh cuốn gió đáy
Mang mang giọng điệu trí câm mù.
 


Ta nhớ sau lưng núi thanh thản
Biếc ngây như lệ của đêm điên
Ta nhớ rằng ta không nhớ nữa
Như cây trơ trụi mùa hưu miên
 


Như phiến gỗ nặng thả theo nước
Bập bềnh trôi nổi ta về xuôi
Như lau lách mọc chen bờ bãi
Phất phơ tóc bạc lả theo trời.
 

Giai phẩm VĂN  3.9.1974






Mais désespérément



Khi tuôn những trận mưa mù
Gió, gió quỷ quyệt
Qua những vùng xanh biến tích
Gió, gió hú trời luân lạc
buổi tàn đông
Mờ bạc sông xa
Đứng giữa cỏ hèn giá
Ngọn kiêu trơ
Rụng cuống lá chót
Ngã trên đất mủn rời.
Khi mỏm núi cao tượng thần ác
giấu mặt mây đùn
Mặt lở lói phế khuyết
Rừng trăn trở lao xao
mùa cay nghiệt
Chim nào sống sót
Ngậm tiếng than sau
giọt nắng hè rực máu
Đồng lụt bão bải hoãi
Nước cuốn tuyệt vọng
Con thú nào buốt cóng vẫy vùng
giữa mắt chiêm bao thức.
Em trở lại, bắt buộc trở lại. Em vô vàn cô đơn ấp úng
Dù mùa xơ xác tan hoang
Em trở lại hãi hùng thất sắc
Lửa chụm cành mục lìa
Cành góp lượm
Nhánh trụi
Khói mịt mờ nước mắt dàn
Ngoài mưa khép nép bình minh
Em kêu : Em trở lại em trở lại
thấy không lửa đơn sơ lung lay
phụt tắt
lửa xanh xao rồi ngất xỉu
theo gió bay bờ bãi liêu sơ
Em trở lại, bắt buộc trở lại . Em biết bao khốn đốn
lập cập lau lách tả tơi
Em trở lại run rẩy cùng cực
những lối mòn bối rối mê man
Nín lặng tha ma nín lặng khắp
nơi trốn lủi
nơi mộ địa bặt khóc
Đó đây
Em kêu : Em trở lại em trở lại
thấy không nổi dậy những hoa phô
tươi ánh sáng khiếp đảm
nhắc nhở nhắc nhở mãi
mặt ngầm ứa lệ lộc non
sinh huyễn côn trùng
bóng trời trầm tá hỏa
Trời hoảng hốt xanh
khúc hát vang lừng xuân tự ải
Khi sông gọi biển trời giọt mưa thì thầm anh gọi em
Giải sông trắng lấp trời biển vỗ ru huy hoắc em trở lại
Ẩn mình trong anh chấn động tàn rơi


Giai phẩm VĂN 1973   
 
 




HẠ CA
 



Em vén tóc cho cao
Trưa nay trời nồng nực
Đầu cành xa hoa đỏ trổ ngời
Óng ánh nắng mật
Ngửng trông giếng khơi tuyệt ngấn mây
Đáy biếc toả
 


Tháng tư chói lọi vây
Chập chùng lấp loá
Ngày nôn nả ngây
Diễm lệ kinh hoàng
Giấc chon von còn chưa rớt ngã
Rực rỡ im vang.
 


Này em dừng nghe
Thời gian lặng thiếp cháy
Thong thả thong thả
Tình si thong thả
Lửa đầm say đê mê
Long lanh ngút ảo
 


Trên phố xá bừng héo hon
Rạng um xanh cây cối
Trổi râm ran điệu ve sầu bôn chôn
Van vỉ như hớt hải mờ tối
Phương hướng nào cũng mở mông lung
Quýnh quáng đốm trời diệu vợi.
 


Thả em bên kia chiêm bao nghĩ thoáng
Rong suốt giải phân ly
Theo đam mê lững thững
Ô em quỷ mị mùa hè
Sông nước phơi vàng xoá bờ bến
Tịch mịch rơi hạt lệ quạnh không.
 


Thản nhiên thản nhiên thôi
Tim khờ dại
Ngục tù thênh thang đắm tiếng gọi
Máu thổ hoa ngầu thắm tươi cười
Kìa vầng dương trút rợp huyễn hoặc
Biển khô mù hát trầm vong khôn nguôi.
 

4-74
Giai phẩm VĂN  21.5.1974

 
 




SAU 1975:

clip_image002


  Khúc Dẫn Nhập
Hắn Rũ Bỏ Ký Ức
Và Đi
     




Bị xua đuổi khỏi nơi trú ngụ
Hắn làm tên du thủ vong tình
Cùng xứ sở mắc vòng khốn đọa
Cất bước đi lãnh đạm thản nhiên


Như cánh chim bay liệng hừng đông
Trên hoang phế sau đêm thảm họa
Như con nước trụy băng mùa lũ
Trôi giạt trong mù mịt nguồn giông
…….


Suy trầm một trái tim trơ khô
Mơ màng nhảy đập nhịp thực hư
Nhìn qua ánh chớp lòa khoảnh khắc
Thấy mình trong bóng dáng tội đồ
Lầm lũi giữa thóa mạ hiểm độc
Giữa quê hương ngoảnh mặt làm ngơ
Không còn nơi chốn nào thân thiết
Không còn nỗi niềm nào mong chờ
Dửng dưng những bước dồn mê mệt
Triền miên tiếng rớt động lu mờ
Dưới gầm trời cạn tuyệt thiên thu
Lững thững qua lại bao mùa tiết
Hun hút mùa đông dài ác nghiệt
Cháy rực mông lung ngọn nắng mù
Hắn theo gót mùa gió hoang vu
Đến vùng đồng lầy phơi tanh ngắt
Núi non trùng điệp ngăn đất trích
Rừng già quạnh quẽ bóng ưu du.


Dằng dặc chuyến lưu đầy biệt xứ
Thật sâu trong nội địa man trá
Mở đóng những cửa ngục âm ti
Lặn mọc những vầng dương tráo trở
Chiếu tầng không lẩn lút ám dụ
Giăng mắc cung mây trên lối qua
Bước chân đưa dẫm đạp hững hờ
Dưới thung lũng sương khói phong tỏa
Chập chùng hố huyệt khoét dòm ngó
Tròng mắt ma quỉ soi thờ ơ
Chiếc bóng đi cắm cúi bơ vơ
Như câu hỏi xuyên ngang địa phủ
Xuyên lòng vực cuồn cuộn buốt giá
Đáy gió khuya trốt xoáy đẩy xô
Vần vũ tuôn vô vàn ảo hóa
Tụ ngưng ánh nhập nhoạng nguyên sơ
…….


Đi suốt cuộc khổ sai nghiệt ngã
Ngược xuôi trong cõi chết hàm hồ.


Thi sĩ, giòng giống bị bức triệt
Nương náu miền đầy ải thâm u
Không ngớt tay cuốc xẻng đào huyệt
Tự vùi chôn gương mặt phai nhòa.





Prélude Cho Những Chuyến Đi, Về



Trong bóng tối ruỗng im quái gở
Lúc dứt lặng trận chiến man rợ
Hắn rũ bỏ ký ức, và đi
Trong rừng sâu thẳm cây trút lá
Ngọn gió mông muội thổi tràn trề
Bấy giờ hồi trằn trọc lịch sử
Lịm từng cơn ảm đạm ê chề
Sớm hay khuya không biết đâu nữa
Thời khắc tự huỷ hoại vắng tanh
Giòng nước suối chảy không tiếng vang
Giữa bờ bến đắm chìm lấp lú
Những cơn trốt quặn thắt huyền bí
Xoay quanh sự thế vui trầm ngâm
Hắn đưa chân theo bước khôn cầm
Trên lối u mê mờ hoặc
Mọi nỗi niềm đều giấu mặt
Mọi sự thực đều lang thang
Hắn đi như thế, không thể khác.


1982






in memorium:

Khóc Muộn Tuyết Ngưu Vũ Khắc Khoan




Cõi tối biếc, quãng đồng trắng xoá
Rừng phong bát ngát tuyết mưa khoả
Bông lạnh tả tơi rối đêm ngày
Cầm chân Tuyết Ngưu đắp rét say


Trợn mắt dòm bão trận sinh tử
Bủa muôn trùng ánh thép hoa bay
Khốn kiếp cổ đại thời băng lũ
Tuyệt bóng dị thú hoang địa bày
 

1986






L ÊN CAO




Lên cao không khí thở nhẹ loãng
Thở kín buốt gió địa cực
Theo cơn đồng thiếp lạnh ngời.
 


Dưới vực hút khói mây xông toả
Dưới sâu xa mặt đất chìm
Vần vụ. Biệt tăm.
 


Sụt lở rặng núi tuyết
Màng nhĩ rách bươm
Tối mắt bụi trắng xoá chập chùng.
 


Hàn băng lửa trầm u vô thuỷ
Thiêu đốt mình mẩy như cặn ý
Ướp giá khô biết mấy lớp trời.
 

11-95





Bài Ngồi


Tặng Ngọc Dũng tức công tử Chí Hoà
 


Chiều chiều lững thững lên bãi tha ma.
Trời thu la đà không mùi hương trừ mùi cỏ ngái.
Trong khoé mắt hoen ửng loé góc trời mùa hạ đang lụn.
Những hàng bia lởm chởm sau lưng trên cỏ mượt ngả màu.
Dưới chân đồi xóm nhà ở sau rừng cây thưa.
Ngồi ngắm. Ngồi ngẫm.
Gió mát đầu óc bay tảng.
Ngồi như trời trồng. Tự trồng cái bị thịt.
Ngủ mở mắt thao láo không hay.
 
30/06/2000




Trăng Phố Buổi Sớm

tặng Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Cao Đàm, Phạm Văn Thuyết
 


Trăng tròn vàng rộ. Ngày thu, sương thiếp lạnh mỏng. Một người trong xóm tay bồng tay dắt con leo chậm từng bậc cấp nhá nhem trở về nhà sau đêm.
 


Ngắt bỏ đầu lọc, “ăn” điếu thuốc. Mở máy sưởi, ngồi trong xe kín ngắm trăng. Nghe khúc tở mở rộn ràng baroque. Khúc âu yếm tình tứ như của Schubert.
 


"Con chuột cống", không rõ từ đâu xuất hiện mấy bữa rày, xách túi đi ngang qua, đứng dòm ngó thùng rác. Trong kính chiếu hậu bên thành xe hiện những đốm đèn vàng thấp, đỏ cao tít, bất động, lung lay sau lùm cây thưa gần, giữa khoảng tối phủ trên xa lộ, của đường dốc bên kia.
 


Chạy xe trên phố đêm, thẳng tắp, điện sáng trưng. Trăng tỏ trên những mảng trời đen lùng bùng gió. Dàn kim túa trổi thúc hối. Dàn mộc chìm thủ thỉ.
 


Rẽ vào ngả khuya xum xuê. “... Anh đang nghe Nhạc Thâu Canh...” Người đàn bà biến lẩn trong vũng sáng quắc toả trước thềm nhà lặng trang, nơi tá túc của già cả lú lẫn.
 


Fugue của Bach. Ôi tưng bừng phơi phới của màu rượu chát trong ánh pha lê, của ảnh tượng lượn bay trên mặt kính vân chứa chan bóng sắc. Trăng nấp khuất sau lưng. Lấp loáng vun vút lùa tuôn trong mắt ham hố những sao sa, những tàn lửa.
 


Đến trước tấm lịch treo tường trong bếp. Xé một lúc từng mớ giấy không ai buồn bóc. Tìm ngày này:
 
Năm Quý Dậu
Tháng Tám (thiếu)
14
Thứ Tư
Ngày Quý Sửu — Hành Mộc — Trực Định — Sao Chấn...






Thơ Tình

(tặng Ngỗng Trời)




I.
Trở lại nắng ráo gió đằm thắm
trên đồi cây lá chưa trổ xanh
đu đưa vẻ trần trụi bình yên
Thân màu tối đục hửng rạng
giữa ngày thanh bạch bỗng nồng nàn


Mé rừng thấp um tùm khô ran
lá héo chết vẫn bám riết cành
suốt mùa giông tuyết dập phủ không rụng
màu đất lem lấp loáng kim ngân
Tiếng người cất vang trong hoang rậm


Thản nhiên gọi đồi hồi nôn nả
Trầm bỗng loang mặt hồ còn váng băng
Ngỗng trời lạc bên bờ rướn cổ
Ứng tiếng đáp trắng muốt hoang mang
rồi ngẩn ngơ lặng lẽ ẩn mình



II.
Lúc này mùa tiết giao hoan
Anh lắng nghe xa khuất trờ tới
Ánh bạch nhật dâng lùa tràn
Phá cơn say mơn trớn mặt mũi
những nứt nẻ rét cắt chưa lành


Thân thể anh tắm gội mát rượi
Cũng vẳng nghe nô nức vắng quên
Dấy nhịp rạo rực của ân ái
Như mơ hồ trong thăm thẳm nguồn cội
Mạch nhựa nguyên luân hồi hoá sinh


Trong đạm bạc anh gọi hồn em
như đã từ những ngày cũ đổ nát
Hỡi em, người tình trăm năm thất lạc
sau trận hoả thiêu ký ức tưng bừng
vẫn ngún cháy suốt biết bao mùa đông.