Danh Ngôn

Dân không nên sợ chính phủ. Chính phủ nên sợ dân.

People shouldn't be afraid of their government. Governments should be afraid of their people.
Alan Moore

Có gì là khác biệt đối với người chết, trẻ mồ côi và kẻ không nhà cho dù sự hủy diệt điên rồ có diễn ra dưới tên gọi của chủ nghĩa toàn trị hay thánh danh của tự do hay dân chủ?

What difference does it make to the dead, the orphans and the homeless, whether the mad destruction is wrought under the name of totalitarianism or in the holy name of liberty or democracy?
Mahatma Gandhi

Cuộc tranh luận tốt nhất chống lại dân chủ là một cuộc đối thoại năm phút với cử tri trung bình.

The best argument against democracy is a five-minute conversation with the average voter.
Winston S. Churchill

Dân chủ hẳn phảiđiều gì đó hơn chuyện hai con sói và một con cừu bỏ phiếu xem nên ăn gì vào bữa tối.

Democracy must be something more than two wolves and a sheep voting on what to have for dinner.
James Bovard

Nếu bầu cử mà tạo nên bất kì sự khác biệt nào, họ sẽ không để chúng ta bầu cử đâu.

If voting made any difference they wouldn't let us do it.
Mark Twain

Cách mạng đã đưa tôi đến nghệ thuật, và đến lượt nó, nghệ thuật đã đưa tôi đến Cách mạng.

The Revolution introduced me to art, and in turn, art introduced me to the Revolution!
Albert Einstein

Biu tình vượt ra ngoài lut pháp không khi phát t dân ch; đó là điu thiết yếu ca nn dân ch.

Protest beyond the law is not a departure from democracy; it is absolutely essential to it.
Howard Zinn

Chúng ta hãy đừng tìm cách thỏa mãn cơn khát tự do bằng việc uống chén đắng cay và thù hận.

Let us not seek to satisfy our thirst for freedom by drinking from the cup of bitterness and hatred.
Martin Luther King Jr.

Mục đích có thể biện minh cho phương tiện miễn là có cái gì đó biện minh cho mục đích.

The end may justify the means as long as there is something that justifies the end.
Leon Trotsky

Tuyên truyn đi vi nn dân ch cũng như cây dùi cui đi vi nhà nước toàn tr.

Propaganda is to a democracy what the bludgeon is to a totalitarian state.
Noam Chomsky

Bí mật sinh ra độc tài.

Secrecy begets tyranny.
Robert A. Heinlein

Dân chủ không chỉ là quyền bầu cử mà còn là quyền được sống đúng phẩm giá.

Democracy is not just the right to vote, it is the right to live in dignity.
Naomi Klein

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thơ NP Phan

bóng và hình

 

 

ngọn cờ bay lả bay la

đêm dài lắm mộng con cà con kê

em ơi, tàn cuộc thì về

bận lòng bến lú, sông mê làm gì

 

chỉ là một chút cuồng si

bước chân dò dẫm đường đi cơ cầu

nhẩn nha như tằm ăn dâu

để cho nhân thế nỗi sầu thất kinh

 

hỡi ôi, nào bóng nào hình

cái tâm vô cảm, cái tình yêu ma

tội thì gần, nợ thì xa

múa may trong cõi ta bà u minh

Điểm sách Nguyễn Hữu Liêm, "Phác thảo về một triết học cho lịch sử thế giới"

Dương Ngọc Dũng

image

Kể từ khi Kim Định qua đời thì thị trường triết học của dân tộc Việt đã trở thành hoang mạc. Giới trí thức, nếu có mở mồm bàn chuyện triết lý, thì cũng chỉ thở dài luyến tiếc Trần Đức Thảo, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Nguyễn Mạnh Côn, Nghiêm Xuân Hồng, Kim Định, Nguyễn Văn Trung, Đặng Phùng Quân, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Đăng Thục, Trần Công Tiến, những tác giả lừng lẫy của một thời vang bóng. Trần Đức Thảo, một triết gia Marxist được đào tạo bài bản không thua gì Nguyễn Hữu Liêm, đã sớm kết thúc sự nghiệp triết học của mình sau khi từ bên Pháp trở về Hà Nội, và ông cũng chẳng viết lách gì bao nhiêu (những kiệt tác viết bằng tiếng Pháp của ông mãi đến gần đây mới được dịch ra). Khác hẳn Phạm Công Thiện, một tác giả cũng có rất nhiều đầu sách, nhưng họ Phạm không có một công trình tập trung nào vào một chủ đề triết học nào cả. Ông viết lan man về văn học, triết học, và làm thơ. Khác hẳn với Nguyễn Văn Trung, một tiến sĩ triết học có tư duy thiên tả được đào tạo bài bản, Nguyễn Hữu Liêm không bàn những chuyện “linh tinh” như “tiếng ca Thanh Thúy” hay “đạo Cao Đài.” Cũng khác với Nguyễn Mạnh Côn, tác giả của học thuyết Tân Trung Dung, chỉ mong muốn phá vỡ lý luận của Marx và Trần Đức Thảo. Nghiêm Xuân Hồng là học giả hơn là triết gia, na ná như Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Hoàng Xuân Việt, Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Lê Thành Trị. Đặng Phùng Quân cũng là một triết gia được đào tạo bài bản, nhưng ông bàn về tư tưởng của các triết gia khác (như Derrida) chứ không sáng lập một học thuyết nào cả. Kim Định là độc đáo nhất về nhiều phương diện. Chỉ riêng với phương diện xiển dương Nho Giáo (mà ông gọi là Triết Lý An Vi) không thôi ông cũng xứng đáng được so sánh với Tu Weiming (Đỗ Duy Minh, đại học Harvard) rồi. Riêng Trần Văn Đoàn, tôi vẫn chưa thấy ông có một tác phẩm triết học nào riêng cho mình để lưu danh thiên cổ, trong khi so với tất cả những người vừa được liệt kê, ông được đào tạo qui củ nhất, thông thạo nhiều ngoại ngữ nhất, có nhiều bằng cấp nhất (kể cả triết học lẫn thần học) và có nhiều điều kiện nhất trong việc tiếp xúc với các triết gia tên tuổi trên thế giới. Trần Công Tiến nổi tiếng nhất là việc phiên dịch Sein und Zeit của Heidegger. Gần đây còn có Hồng Dương Nguyễn Văn Hai, tiến sĩ toán học, thâm cứu Phật Giáo và triết học Tây Phương, nhưng vẫn tự hạn chế trong việc trình bày, giải thích, thông diễn, hơn là sáng tác. 

Đồng bằng (kỳ 5)

Nguyên Ngọc

… Giữa 1967 tôi trở về quân khu. Lúc này đang rộn rã lắm. Bùi Minh Quốc, Vương Linh, Chu Cẩm Phong, Thế Vinh, Hà Xuân Phong, Khánh Cao, Phương Thảo, Phương Anh, Phan Huỳnh Điểu… từ Hà Nội vừa vào. Chúng tôi chuẩn bị đại hội thành lập Hội Văn nghệ Giải phóng miền Trung. Và chuẩn bị Xuân Mậu Thân.

Xuân Mậu Thân, Quảng Đà là hướng đánh trọng điểm của Khu 5. Khu ủy và bộ tư lệnh quân khu đều chuyển ra đứng ở vùng núi phía Tây Đà Nẵng để tiện chỉ huy trực tiếp.

Giáo sư Kê truyện (kỳ 8)

Trần Thanh Cảnh

Ngài Kê thành Quốc sư nước Việt

1. Sau khi làm cố vấn cho hai nhiệm kỳ Nội Các thành công rực rỡ, ngài Kê về nghỉ ngơi. Lần này là nghỉ hẳn. Ngài nghỉ công cuộc kinh bang tế thế là phải bởi hai hậu duệ, Hùng Văn Hạ nghĩa tử và Giang Đình Tinh Anh đích tử kỳ này chúng đều tiến bộ vượt bậc, chiếm chân chủ chốt của nước nhà. Hạ nắm Nhà Đỏ còn Tinh Anh nắm Nhà Trắng. Không lý lẽ gì mà ông bố lại đi thưa dạ bẩm vâng với hai thằng con được.

Bàn về tôn giáo, khoa học và đạo đức

Phạm Nguyên Trường

Hôm trước thấy một bạn hỏi: Đã có khoa học sao còn cần tôn giáo?

Đây là câu trả lời của mình.

A. Con người cần tôn giáo.

Một người có đức tin tôn giáo phải có 2 trong số 4 đặc điểm sau đây:

1. Luôn luôn trăn trở với câu hỏi: Ta là ai/Ta từ đâu tới và sẽ đi về đâu? Đây mới là câu hỏi mà tôn giáo tìm cách trả lời chứ tôn giáo không phải là để giải thích các hiện tượng tự nhiên mà người tiền sử chưa hiểu được. Giải thích hiện tượng tự nhiên là thần thoại, không phải tôn giáo.

“Nhẹ lương nặng bổng” – một trong những tử huyệt của thể chế

(Nhân việc cựu Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đặng Huỳnh Mai xin “giữ lại nhà công vụ”)

Đào Tiến Thi

Mấy ngày nay, nhân chuyện bà cựu thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Đặng Huỳnh Mai có đơn gửi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “xin giữ lại” căn hộ nhà công vụ mà bà được ở hồi làm thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, dư luận bùng lên những lời chê trách bà Mai, trong đó không thiếu những lời thóa mạ nặng nề. Tôi hỏi một số bạn bè làm ở Bộ Giáo dục và Đào tạo có nhiều năm làm việc với bà Mai thì anh em cho biết bà Mai không phải là người xấu, thậm chí là người giản dị, chan hòa, tình cảm. Bà cũng chẳng thiếu thốn gì. Chồng bà vốn là “tỉnh trưởng” và các con bà hôm nay đều khá giả, có vị trí xã hội cao. May là (nhờ báo chí) bà đã sớm tỉnh ngộ và xin rút đơn[1].

Nhà văn Nguyễn Minh Châu

Trung Trung Đỉnh

Số phận nghiệt ngã thường dành cho những người chân thật, đa cảm và cả nghĩ. Đó là nhận xét mang đậm chất chủ quan của tôi, mỗi khi nhớ tới nhà văn Nguyễn Minh Châu. Tôi cứ hình dung thấy ông ngồi ngơ ngẩn trước bàn, trước trang giấy, xung quanh ngổn ngang những vật dụng gia đình thời bao cấp, nào bếp dầu, nào lọ dưa, thùng gạo, nơi góc hẹp dành riêng cho ông để viết văn. Chiếc đèn dầu cố hữu để sát chân chiếc đèn điện có chụp bằng loại chụp hình phễu, thêm vào đó ông chủ của nó còn cẩn thận bọc kỹ một lớp giấy báo phòng khi đêm hôm làm việc vợ và các con không phải bận tâm vì ánh sáng, vì cái thói lọ mọ của mình.

Giáo sư Trần Đình Sử – trẻ và nhiệt huyết cùng “thời gian tiểu thuyết” của mình

Lê Tuyết Hạnh

Hơn 30 năm xa giảng đường, 20 năm không được thụ giáo những bài học văn chương của thầy, không gặp thầy vì công việc và cuộc sống đã phân công hướng khác, nhưng chưa bao giờ tôi có cảm giác cách xa. Tôi vẫn được đọc và học thầy qua những cuốn sách mà thầy xuất bản, nhiều cuốn đã trở thành “kinh điển” từ thuở sinh viên và ấn tượng đến bây giờ: Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp Truyện Kiều, Những thế giới nghệ thuật thơ… Chẳng vì lợi ích gì, chẳng để làm gì cả. Chỉ là cái đầu đòi hỏi, tâm hồn mang những trang phân tích bước chân phi phỏng của nàng Kiều, nỗi cô đơn đau đớn của Tiểu Thanh mà thầy chỉ ra một cách xác đáng bằng thi pháp học. Và cùng với thời gian, những trang sách lại dày thêm, cuốn sau ra đời cập nhật hơn cuốn trước, đồng hành với sự phát triển của khoa học thế giới, thúc đẩy học thuật nước nhà: Dẫn luận thi pháp học (2004-2008), Những vấn đề thi pháp văn học trung đại (1998 – tái bản hai lần), Trên đường biên của lí luận văn học (2014), Tự sự học (2017), Kí hiệu học và văn hóa (2014), Đọc văn học văn (2018), Việt Nam – một thế kỉ tiếp nhận văn học nước ngoài (viết chung, 2020)… Gần 40 đầu sách nghiên cứu được viết và dịch thuật trong nửa thế kỉ liên tục từ 1968 đến nay, và vẫn còn tiếp nối, chưa kể những bộ sách giáo khoa thầy làm Tổng chủ biên theo tinh thần đổi mới từ góc nhìn tiếp nhận văn bản. Thật là sức làm việc và sáng tạo khổng lồ.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 260): Người đi trên mây – Nguyễn Xuân Hoàng (26)

NGƯỜI ĐI TRÊN MÂY (Kỳ 75, 76 & 77)

Kỳ 75

Ngó theo hướng mắt Tâm, tôi thấy từ một chiếc ô tô đậu sát lề đường bên cạnh gốc me, một cô gái bước xuống. Cánh cửa xe đã đóng lại, nhưng cô vẫn đứng yên một chỗ nhìn ngó xung quanh, trước khi đi thẳng về phía bàn chúng tôi.

Tôi nhận ra là Uyên ngay khi cô cất bước. Cô đi thẳng đến chỗ tôi ngồi, ngó quanh bàn và nói:

-Xin lỗi các anh, tôi có chút chuyện muốn nói riêng với anh Thăng!

-Mời cô tự nhiên! Cô cứ như bọn tôi không có mặt ở đây là được rồi! Nhật nói đùa không ác ý.

-Cám ơn anh! Tôi cũng đang nghĩ vậy! Uyên đáp lại nhanh không để hở một phút.

Tôi kéo ghế đứng dậy. Tôi biết là mình phải về. Tôi chợt nhớ tối nay là sinh nhật của Uyên và tối nay cũng là buổi gặp gỡ chót với Quỳnh.

-Đi đâu vậy bạn? Tâm hỏi chận.

-Tao có chút chuyện. Tôi nói.

-Chưa giới thiệu mà! Nhật kêu lên.

-Xin lỗi. Đây là Uyên, con gái cụ Phan. Và đây là anh Nhật, nhà báo-nhà binh, anh Tâm, nhà văn khét tiếng Khô Khốc Thiền Sư, và đây là anh Phùng, “godautre” của trường Văn Khoa.

-Còn một người chưa được giới thiệu! Nhật nhắc.

-Ai? Tôi ngạc nhiên.

-Ông chứ còn ai?

-Thôi, giỡn hoài!

-Để tao giới thiệu giùm với cô Uyên. Nhật đứng dậy đưa tay về phía tôi, nói với Uyên:

-Và đây là Thăng, người đi trên mây.

-Sao lại người đi trên mây? Uyên hỏi.

-Nghĩa là người này chỉ biết có trời trăng chứ không biết thổ thần thổ địa.

-Đủ chưa? Tao lên đường?

-Mày tên là Thăng, nhưng chưa thể thăng sớm dễ dàng như vậy đâu! Nhật không tha tôi.

-Làm sao bây giờ! Thủ tục xong rồi mà! Uyên nôn nóng làm tôi tức cười.

-Thủ tục đã xong đâu! Nhật trả lời.

-Vậy còn gì nào? Uyên hơi xẵng giọng.

-Còn mục chót. Nhưng hơi gay! Tâm chen vô. Tôi biết Tâm muốn để tôi đi.

-Xin anh cứ nói! Uyên vẫn nôn nóng.

-Chuyện như vầy. Bữa nay cả bọn tôi đồng ý đi uống rượu. “Người-đi-trên-mây” là cái ông này - Tâm chỉ tôi - ổng kêu một két bia. Một két bia là hai mươi bốn chai. Chia cho bốn đứa, một đứa sáu chai. Nãy giờ trung bình mỗi đứa ba chai.

Ông-trên-mây thì chỉ mới chai rưỡi. Ổng muốn đi cũng dễ thôi. Cạn hết sáu chai phần ổng thì ổng có quyền dzọt.

Tâm khề khà như một ông già.

-Nghĩa là anh Thăng còn phải uống bốn chai rưỡi nữa? Uyên hỏi.

-Đúng!

-Nếu anh Thăng uống không hết thì sao?

-Thì chưa đi Nhật chêm vào.

Uyên cúi thấp xuống vai tôi, nói khẽ.

-Anh uống hết không?

-Chắc không hết! Tôi thành thật.

Tâm quay sang nói nhỏ gì đó với Nhật và Phùng, xong hắn tuyên bố:

-Cho phép cô Uyên giúp sức!

-Cám ơn anh! Sao anh không nói sớm? Uyên cười.

-Cứ coi như anh Thăng uống ba chai. Tôi uống ba chai.

Uyên lấy bia đổ vào ly tôi và chúng tôi chia nhau hết ly này đến ly khác. Cả đám trố mắt nhìn Uyên uống bia như uống nước ngọt.

Khi tôi theo Uyên ngồi hẳn vào trong xe, nhìn qua cửa kính, tôi thấy người chủ quán vừa mang ra cây đèn dầu. Cả đám bạn tôi như những bóng đen bất động. Ánh sáng của ngọn đèn hắt lên từ phía cổ chiếu rõ những mảng cằm phản với bóng đen của cả khuôn mặt.

Xe chạy vòng theo đường Lê Văn Duyệt trở về nhà ông Phan. Tôi nghe trong hơi thở của Uyên còn đọng mùi bia rượu.

Kỳ 76

Khách đến đã khá đông. Phần lớn là sinh viên Văn khoa và Luật khoa, những trường Uyên có ghi danh lấy chứng chỉ. Mặc dù thời buổi này (mà chắc là thời buổi nào cũng thế thôi!) “phi bác sĩ bất thành phu phụ,” sinh viên y khoa không thấy có trong phần khách mời của Uyên.

Tôi không hiểu sự giao du của Uyên, và thật tình mà nói, tôi có bao giờ tìm hiểu chuyện riêng của Uyên. Nhưng sở dĩ tôi biết điều này là vì trên đường từ Chợ Đũi về, sau khi đã uống giùm tôi một “loáng” ba chai bia, Uyên hỏi đố là tôi có thể đoán được khách mời sinh nhật của cô tối nay là ai không. Tôi nói tôi không biết. (Mà làm sao tôi biết được?) Uyên cho hay có ba cái đặc biệt của sinh nhật cô. Trước hết là cô mừng tôi “chặt được sợi dây cuối cùng của một ràng buộc đã là vô ích.” Thứ nữa là cô có một người bạn mới, một cô bạn gái tên Quỳnh. Và sau cùng, cái đặc biệt của sinh nhật Uyên chính là cô sẽ từ chối lời cầu hôn của một sinh viên y khoa duy nhất trong buổi tiệc này.

Khác với buổi dạ tiệc lần đầu tôi đến nhà ông Phan, không khí hôm nay ồn ào náo nhiệt và rôm rả hơn. Những người trẻ tuổi của thành phố, trong đó có một số người từ quân trường trở về phép đặc biệt, đang quây quanh Uyên và bà Phan. Hai mẹ con đứng bên cạnh nhau, giữa những người trẻ tuổi trông giống như hai chị em. Bà Phan nhỏ nhắn dịu dàng, xinh đẹp nhờ cách trang điểm đơn sơ và ăn mặc giản dị. Còn Uyên như lớn hẳn lên do cách phấn son có phần hơi thái quá một chút, mắt bôi đen, má tô hồng, môi đỏ son. Hôm nay cô mặc chiếc áo dài nhung màu tím than, điểm hoa trắng nhỏ. Áo hở cổ rất rộng, để lộ làn da trắng muốt nổi lên trên sợi dây màu đen tuyền với một thập tự giá bằng gỗ mun. Cao hơn bà Phan gần nửa đầu, Uyên giống như một người mẫu. Trước mặt tôi hôm nay là một cô Uyên lạ hẳn: sắc sảo và cương quyết. Có phải vì đây là lần đầu tiên Uyên có một khuôn mặt trang nghiêm của một người sắp quyết định một điều gì lớn lao trong đời mình?

Phòng khách đèn sáng trưng. Tất cả bạn Uyên ở ngoài vườn cây đã tụ tập hẳn vào trong. Không khí chật chội ấm cúng. Giữa phòng là một chiếc bàn hình bầu dục, mặt đá có vân. Một chiếc bánh sinh nhật lớn trong hộp kiếng đặt giữa bàn, quanh bánh là những bông hồng vàng và nhung thẫm. Quà tặng đủ cỡ nằm la liệt dưới sàn nhà.

Tôi bước về chỗ bà Phan.

“Joyeux anniversaire!”

Rất nhiều tiếng chúc mừng của những người trẻ tuổi. Như một con công, một con công “chúa,” đang khiêu vũ giữa bầy, cô tươi cười, hân hoan, đáp lễ. Bà Phan thấy tôi tới gần, lên tiếng gọi.

-Thăng đến đây!

-Mừng sinh nhật Uyên!

-Cám ơn anh. Uyên nghiêng mặt về phía tôi. Và tôi hôn cô.

-Sinh nhật vui vẻ! Tôi chúc một lần nữa.

Bà Phan đặt tay lên vai tôi ra dấu. Tôi theo bà bước ra khỏi đám đông. Khi đến chỗ vách có treo thanh kiếm Nhật, bà Phan dừng lại hỏi tôi, giọng trách móc dịu dàng:

-Cháu đi đâu suốt cả tuần?

-Thưa bác... Tôi ấp úng.

-Nghe nói cháu đã có Bản Đại Tự?

-Thưa bác, cháu đã nhận.

-Cháu thấy sao?

Thấy sao? Hình như có người đã hỏi tôi một câu tương tự. Thấy sao là sao? Dửng dưng! Hình như người ta nóng lòng chờ đợi một điều gì đó, nếu không có nó người ta sẽ khổ sở đến không chịu nổi, vậy mà khi điều ấy đến người ta lại thấy dửng dưng. Nhưng với bà Phan, tôi biết phải trả lời sao.

-Thưa bác... Tôi luôn luôn ngọng trước những câu hỏi của bà Phan.

-Tôi muốn nói là cháu thấy việc xử ấy có công bằng không?

-Thưa bác, cháu không để ý đến khía cạnh công bằng pháp lý của bản án. Chính cháu là nguyên đơn và cháu hiểu rằng tờ giấy phán quyết ấy chẳng qua cũng chỉ là một tờ giấy. Nó không thay đổi được gì đời cháu.

-Nghĩa là sao?

-Thưa bác, cháu nghĩ là cháu đã làm một điều ngu xuẩn. Cháu đã cố gắng một cách vô ích.

-Chào anh! Bà Phan đang nghiêm bỗng nở nụ cười hướng về phía một ông khách tiến về phía chúng tôi.

-Không dám, chào chị. Chị hồi này khỏe luôn chứ ạ! Khách trả lời khi đứng trước mặt bà.

Kỳ 77

Đó là một người đàn ông tròn và lùn. Ông đeo chiếc kính lão nhỏ, để râu mép. Bộ quần áo ông mặc là một loại vải đắt tiền được cắt rất khéo.

-Chào bác Phan đi con!

Người đàn ông nói với người thanh niên đứng bên mà tôi không để ý. Anh rất trẻ, trắng trẻo, gầy và hơi xanh. Mắt anh nhìn thẳng, nụ cười tự tin.

-Cháu Ngạc đang là sinh viên năm thứ ba trường đại học y khoa.

Người đàn ông giới thiệu con trai một cách trang trọng và kiêu hãnh.

-Tôi cũng xin được giới thiệu với anh đây là cháu Thăng, con trai của một người bạn thân của gia đình tôi.

-Chào cậu!

Người đàn ông ngó tôi không mấy thiện cảm. Ông đưa tay cho tôi bắt. Những ngón tay ông rất lơi trong tay tôi.

-Uyên, lại đây con!

Bà Phan gọi Uyên ra khỏi đám bạn cô. Bà giới thiệu người đàn ông với chúng tôi.

-Bác Đại đây là tổng giám đốc công ty thương thuyền Vihaco, có tàu chạy đường Singapore và Hong Kong. Và đây là cháu Uyên!

-Kính bác!

Uyên nghiêng mình lễ phép.

-Cháu Thăng tiếp khách hộ Uyên nhé!

Bà Phan nói với tôi và đưa tay mời hai cha con ông Đại.

Còn lại một mình, tôi đi dọc theo vách tường, đến thềm cửa lớn. Tôi đứng lặng nhìn ra sân. Những ngọn đèn xanh đỏ bắt quanh các cành cây đã tắt. Đêm đang xuống. Tôi có ý trông chờ Quỳnh. Liệu cô có đến không? Tôi nhớ câu chuyện với Quỳnh sáng nay. Dường như chúng tôi đã ngầm đồng ý với nhau rằng đã đến lúc mỗi người phải sống một đời riêng. Tôi nhớ đến ông Phan, người đã vắng mặt trong ngôi nhà này, và quyền thế có vẻ như cũng đã theo ông mà ra đi. Tôi chợt nhận ra, chính ngay chỗ tôi đứng bây giờ là nơi tôi đã bắt tay ông Phan lần đầu. Cái vẻ u ám trầm mặc của vườn cây giờ đây khác hẳn với cái vẻ rực rỡ quyền quí của nó trước kia, gợi lại trong tôi biết bao điều cần suy nghĩ. Phải chăng quyền thế cũng như ánh sáng và bóng tối? Phải chăng đời sống cũng như nước thủy triều, nó tấp lên rồi rút xuống? Ông Phan đã ra đi, và đó hình như là một chuyến đi không có đường trở lại. Quỳnh và Uyên cũng sẽ ra đi, và cả hai như cũng sắp nói với tôi lời vĩnh biệt.

-Tại sao Thăng đứng đây? Vào trong này với Uyên!

Uyên nắm cánh tay tôi thật chặt. Trong bóng tối, tôi thấy mắt cô sáng long lanh.

-Ông tổng giám đốc công ty về rồi à?

-Vâng. Bác Đại và anh Ngạc vừa về xong. Bác ấy không vui!

Có vẻ như Uyên muốn cho tôi biết rằng cô vừa nói lời từ hôn với người thanh niên tên Ngạc.

-Mấy giờ rồi anh?

Tôi nhìn đồng hồ tay.

-Tám rưỡi.

Tôi thấy Uyên bồn chồn nôn nóng.

-Sao Uyên chưa cắt bánh sinh nhật?

-Uyên muốn chờ chị Quỳnh.

-Tôi sợ là sẽ quá trễ. Sắp đến giờ giới nghiêm rồi!

-Vâng. Uyên biết. Nhưng me đã có giấy phép đặc biệt.

-Thôi, mình vào đi. Sinh nhật của cô thì cô phải có mặt với bạn bè chớ!

-Bây giờ thì Uyên không muốn vào nữa. Uyên có chuyện muốn nói với anh. Trong đó đông người Uyên sẽ khó nói.

-Cô có biết là hôm nay cô lạ lắm không?

Tôi gạt ngang.

-Uyên hiểu. Nhưng anh có biết anh là người không thực tế không? Tại sao anh không xin học bổng?

-Học bổng gì? Tôi ngạc nhiên.

-Me đã nói với anh rồi mà! Uyên trố mắt nhìn tôi.

-Tôi không nhớ. Thật tình là tôi không nhớ.

-Me nói bố sẽ lo cho anh cái học bổng nếu anh muốn. Anh vẫn chưa trả lời đề nghị của bố?

-A! Tôi nhớ ra rồi. Nhưng tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời. Tôi bị xâu xé giữa sự ở và sự ra đi. Đi Mỹ có nghĩa là đi theo Uyên, là chạy theo một mối tình mà cà hai đều biết rằng chỉ là một thách đố, là mãi mãi chia tay với Quỳnh, là trốn lánh những móng vuốt của người đàn bà, là tự bứt mình ra khòi Đăng và Mai mà tôi thương yêu nhất. Còn ở lại, có nghĩa là chịu đựng sức ép của một quyền lực vô hình, là chấp nhận nỗi khốn khổ của một trái tim dẫy dụa vì bị ruồng bỏ...

(còn tiếp)

Nguồn: https://ngo-quyen.org/p3623a5068/nguyen-xuan-hoang-nguoi-di-tren-may-ky-75-76-77

Mặt trận ở Sài Gòn – The Battle of Saigon

Tập truyện song ngữ Việt Anh

Ngô Thế Vinh

clip_image002

Vẫn liên tiếp xuất hiện những cuốn sách viết về Chiến Tranh Việt Nam, tuy nhiên có rất ít sách đề cập tới quan điểm từ miền Nam, từ góc cạnh của những người thất trận nhưng họ đã từng chiến đấu và tin tưởng ở một nền Cộng Hòa miền Nam mới khai sinh. Ngô Thế Vinh qua kinh nghiệm của một y sĩ trong một đơn vị Biệt Cách thiện chiến đã đem tới cho chúng ta những lý giải và soi sáng về những tình huống lưỡng nan ngoài trận địa. Rồi ông cũng đề cập tới cuộc sống hỗn mang ban đầu của một người tỵ nạn tạo dựng lại cuộc đời trong sự xa lạ của một miền Nam California, với phấn đấu để trở lại nghiệp cũ giữa một cộng đồng di dân gồm cả nửa triệu thuyền nhân với những khuynh hướng chánh trị phân hóa đa dạng. Một bối cảnh như vậy hầu như hoàn toàn bị lãng quên trong văn học. Người đọc sẽ thấy mình bị lôi cuốn vào tâm thức của một y sĩ tiền tuyến, của một tù nhân trong các trại tù gulag và rồi đến một người tỵ nạn bị bật ra khỏi gốc rễ được giải thoát để hội nhập vào một tầng lớp trung lưu Mỹ mới vừa hình thành. Đọc Mặt Trận Sài Gòn để cảm nhận lắng nghe nỗi bâng khuâng của một con người vẫn gắn bó với những ci rễ tinh thần của một quê hương Việt Nam không thể tách rời. TIM PAGE, Time - Life, UPI free lance reporter

Thơ Trương Đăng Dung

Trước tháng 11 năm 2011, người ta biết đến Trương Đăng Dung là nhà nghiên cứu lý luận văn học với những công trình nghiên cứu và dịch thuật nghiêm cẩn, có giá trị khoa học như Những vấn đề của khoa học văn học (1990), Từ văn bản đến tác phẩm văn học (1998), Tác phẩm văn học như là quá trình (2004), Trên đường đến với ngôn ngữ (M. Heidegger), Nghệ thuật và chân lí khách quan (G. Lukacs).

Nếu như, có chút gì liên quan đến thơ, thì đó là bản dịch Truyện Kiều sang tiếng Hungari khi ông gần tròn 30 tuổi.

Với sự “định vị” như vậy, việc tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng của ông ra mắt bạn đọc vào tháng 11 năm 2011 là một sự lạ, một bất ngờ. Nhưng rồi, sự lạ, sự bất ngờ đã sớm được giải mã. Chỉ trong vòng ba năm, vào kỳ tái bản (NXB Văn học/2014), Những kỷ niệm tưởng tượng đã nhận được trên 30 bài viết của các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu, các nhà thơ. Mỗi người, ở góc nhìn của mình, đều nhận ra chân giá trị của Thi phẩm. Sự phát hiện đáng giá nhất của họ nằm ở chỗ tìm ra được mối liên hệ tự nhiên, nhất quán giữa nhà lý luận Trương Đăng Dung và nhà thơ Trương Đăng Dung. Nói cách khác, đây là mối liên hệ cật ruột giữa những công trình khoa học mang đậm tinh thần triết học và Thơ - suy nghiệm, thơ - tư tưởng.

Ngay trong năm xuất bản, Những kỷ niệm tưởng tượng đã nhận được giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội và vào năm 2018, Những kỷ niệm tưởng tượng được đón nhận tại Hội chợ sách quốc tế Budapest với bản song ngữ Việt-Hung.

Gần 10 năm sau, Trương Đăng Dung mới giới thiệu tập thơ thứ hai của mình: Em là nơi anh tị nạn (NXB Văn học/2020), khi “thế giới này không còn chỗ bình yên”.

Văn Việt xin giới thiệu cùng bạn đọc tiểu luận Cô đơn, khát vọng và khoảnh khắc trong thơ hiện đại và chùm thơ rút từ Em là nơi anh tị nạn.

Văn Việt

Thuật ngữ chính trị (45)

Phạm Nguyên Trường

Political Dictionary – The Bridge

134. Dominant party – Đảng giữ thế thượng phong. Đảng giữ thế thượng phong là thuật ngữ để nói về đảng chính trị giữ thế thượng phong trong chính phủ của một nước trong nhiều thập kỷ, tự mình điều hành hoặc là đối tác hàng đầu trong các chính phủ liên minh. Ví dụ, Đảng Dân chủ Kitô giáo ở Italy, Đảng Dân chủ Tự do ở Nhật Bản và Đảng Quốc Đại ở Ấn Độ. Một trong những đặc điểm của đảng giữ thế thượng phong là trong đảng này thường có đường lối chính trị đối lập với lãnh đạo đương quyền, chứ không phải thông qua phe đối lập chính thức. Các đảng giữ thế thượng phong có xu hướng rất dễ chia thành các phe phái, việc lựa chọn các nhà lãnh đạo đảng trở thành cuộc cạnh tranh giữa các phe phái mạnh nhất.

Đồng bằng (kỳ 4)

Nguyên Ngọc

NGUYEN NGOC.QUANKHU 5.1963[4]

Nhà văn Nguyên Ngọc ở căn cứ Quân khu 5, năm 1963

Cuối tháng 4-1965 tôi rời Bình Định, trở về quân khu lúc này vẫn đóng ở vùng núi Nam Quảng Nam. Vùng giải phóng đã mở rộng thênh thang, địch cụm lại ở các thành phố, thị xã và từng đoạn trên quốc lộ 1. Nông thôn đã về ta. Đường giao liên không phải leo mãi Trường Sơn cao tít nữa, nay men dọc theo triền đồng bằng ven núi, xơ xác nhưng vẫn vui.

Nhân kỷ niệm 75 năm ngày hai quả bom nguyên tử được ném xuống Hiroshima và Nagasaki, Nhật Bản

clip_image002

Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đang cúi đầu trước đài tưởng niệm sau khi đọc bài diễn văn nhân kỷ niệm lần thứ 75 tưởng nhớ các nạn nhân của vụ ném bom nguyên tử tại công viên tưởng niệm Hoà Bình ở thành phố Hiroshima hôm thứ Năm 6-8-2020

(Ảnh: Philip Fong/Agence France-Presse — Getty Images)

Hôm nay, 6 tháng 8 năm 2020, thế giới kỷ niệm lần thứ 75 ngày hai quả bom nguyên tử được ném xuống hai thành phố lớn của Nhật Bản: Hiroshima và Nagasaki. Tưởng không cần phải nhắc lại những thiệt hại về người, của và tinh thần người dân Nhật Bản và những hệ quả tai hại khôn lường từ 75 năm qua. Điều cần nói đến là sự quên lãng của nhân loại về một tai hoạ nhãn tiền, một tai hoạ đã xẩy ra cách đây 75 năm, nhưng cũng có thể xẩy ra lần nữa vào bất cứ lúc nào và ở bất cứ nơi đâu. Sự quên lãng vốn là điều không thể tránh khỏi của con người. Nhưng quên lãng đi những nguyên nhân gây nên những cái chết tập thể, chết lần chết mòn vì nhiễm thể, vì môi trường sống chung quanh bị hủy hoại, lại là một thái độ vô trách nhiệm với chính mình, với đồng loại, với các thế hệ mai sau. Một cuộc khảo sát mới đây của hãng truyền thông quốc gia Nhật Bản NHK (Nippon Hoso Kyokai – Japan Broadcasting Corporation) cho biết chỉ có 30 phần trăm dân số Nhật Bản nhớ được chính xác ngày, tháng và năm quả bom nguyên tử được ném xuống thành phố Hiroshima. Đó là một báo động đỏ cho những người còn quan tâm đến sự sinh tồn chung của nhân loại. Đã đành, 75 năm là một quãng thời gian không phải ngắn nhưng mỗi năm, cứ đến ngày đầu tháng 8 là những nạn nhân còn sống sót của vụ nổ hai quả bom nguyên tử lại rủ nhau về tụ họp ở thành phố Hiroshima, nơi toạ lạc của viện bảo tàng tưởng niệm hoà bình Hiroshima để cùng nhau nhớ đến hơn 200 ngàn nạn nhân đã thiệt mạng vì cuộc ném bom và nỗi thống khổ của những người còn sống sót dù đã nhiều năm trôi qua. 75 năm qua là 75 lần người ta được nhắc nhở. Và nhớ đến những thảm kịch quá khứ không phải chỉ để ngồi khóc thương những người, những gì đã mất mà quan trọng hơn, nhớ để mỗi người tự nỗ lực bằng cách riêng của mình không để cho thảm kịch xẩy ra thêm một lần nữa. Đó là lý do chính cho con người chúng ta cần đến trí nhớ. Nhưng, buồn thay, như đã nói, quên lãng là một thuộc tính của con người.

Vậy, làm cách nào để bù đắp cho những quên lãng không thể tránh khỏi ấy?

Nhà văn Nhật Bản Yoko Ogawa, một tiếng nói nổi bật và mạnh mẽ trong văn đàn Nhật Bản đương đại, tác giả nhiều tác phẩm được quan tâm không chỉ ở Nhật Bản, còn ở Pháp, Mỹ và nhiều nước trên thế giới, đã đưa ra đề nghị của mình trong một bài viết được đăng tải trên tạp chí The New York Times số đặc biệt tưởng niệm Hiroshima và Nagasaki.

Yoko Ogawa tin rằng, bằng văn chương, chúng ta sẽ lưu giữ được những ký ức cần thiết về hai quả bom nguyên tử đã được ném xuống Nhật Bản tháng 8 năm 1945.

Liệu Yoko Ogawa có thuyết phục được người đọc hay không, xin để mỗi người tự trả lời. Riêng người Việt Nam chúng ta, sinh sống trong nước hay hải ngoại, rất cần tìm ra một phương cách phù hợp để làm sao gìn giữ được trí nhớ, cho mình và cho các thế hệ tương lai, về những gì đã xẩy ra cho dân tộc, cho đất nước Việt Nam trong thời đoạn lịch sử độc nhất vô nhị của hơn 45 năm qua.

Xin mời quý độc giả cùng theo dõi.

T.Vấn

6-8-2020

Bằng văn chương, chúng ta sẽ lưu giữ những ký ức về hai quả bom nguyên tử đã được ném xuống Nhật Bản

Tác giả: Yoko Ogawa

Dịch giả: T.Vấn

clip_image004

Thành phố Hiroshima (sau vụ ném bom khoảng chừng một hay hai tháng) nhìn từ phía Higi-Yama, một ngọn đồi toạ lạc ở phía đông thành phố.

(Ảnh: Collection Japanese/Magnum Photos)

Chúng ta tìm đến văn chương như là một nơi chốn ẩn náu mỗi khi phải đương đầu với những nghịch lý vượt quá tầm kiến giải của lý trí con người.

Ngày 6 tháng 8 năm 1945, một quả bom nguyên tử được ném xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Ba ngày sau, 9 tháng 8, một quả bom nguyên tử nữa được ném xuống thành phố Nagasaki. Ngày 15 tháng 8, 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng.

Từ đó, ở Nhật Bản, tháng 8 hàng năm được coi là tháng để tưởng nhớ người chết.

Năm nay, 2020, kỷ niệm lần thứ 75 ngày ném hai hai quả bom nguyên tử, lẽ ra sẽ được tưởng niệm vào dịp khai mạc Thế Vận Hội Tokyo 2020. Nhưng vì dịch bệnh Covid-19 hiện đang hoành hành khắp nơi nên Thế Vận Hội Tokyo đã bị hõan lại. Và chúng ta sẽ âm thầm lặng lẽ cầu nguyện cho những người chết trong một không khí tĩnh lặng ít có ai mong đợi.

Tại Thế Vận Hội Tokyo 1964, người cầm đuốc thế vận chặng cuối cùng là một thanh niên vô danh 19 tuổi, một vận động viên điền kinh tên Yoshirori Sakai. Anh sinh ra tại Hiroshima đúng vào ngày thành phố bị ném bom. Hình ảnh người thanh niên, đơn giản trong trang phục áo trắng, quần đùi trắng chạy từng bước trên bực thang dẫn tới chỗ toạ lạc của đài lửa thế vận mang một nét rất khác thường. Trong anh, người ta thấy toát lên một vẻ thuần khiết, sự vững chãi và tính cách mạnh mẽ của tuổi trẻ. Những người hiện diện trong buổi lễ hẳn sẽ phải mang một cảm giác khó tả khi nhận ra rằng, cả thế giới đang tụ họp về Nhật Bản để tham dự ngày lễ hội thể thao trọng đại chỉ mới 19 năm sau ngày đệ nhị thế chiến chấm dứt. Vậy mà giờ đây, ngay trước mặt họ, một thanh niên sinh ra từ đổ nát hủy hoại khủng khiếp chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, một sinh vật người ôm trong mình ngọn lửa của sự sống đang từng bước một tiến lên đỉnh đài thế vận. Không một ai bận tâm than phiền đến ý đồ chính trị trong việc lựa chọn người cuối cùng mang lửa thế vận, nhưng cũng không một ai không nhận ra sức sống mãnh liệt tiềm ẩn trong hình ảnh chàng thanh niên đến từ thành phố Hiroshima.

Đáng buồn thay, với thời gian qua đi từ bấy đến nay, chúng ta đã thất bại trong việc hoàn thành giấc mơ về một thế giới không còn bóng dáng vũ khí hạt nhân. Ngay đến ở Nhật Bản, những hồi ức năm xưa nay cũng đã ngày một phai mờ. Trong một cuộc khảo sát của hãng truyền thông Nhật Bản NHK, chỉ có 69 phần trăm cư dân Hiroshima và 50 phần trăm cư dân Nagasaki có thể nhớ được chính xác ngày, tháng, năm quả bom nguyên tử được ném xuống thành phố Hiroshima. Trong khi đó, ở mức độ toàn quốc, con số phần trăm cũng chỉ đạt tới 30. Những đám mây quên lãng ngày một dầy đặc hơn. Và sẽ đến lúc, chúng ta sẽ không còn được nghe trực tiếp từ những chứng nhân lịch sử còn sống sót kể về những gì họ đã trải qua.

clip_image006

Tâm điểm của quả bom nguyên tử ném xuống trung tâm thành phố. Nơi đây, trước đó là nơi toạ lạc một trại lính

(Ảnh: Wayne Miller/Magnum Photos)

Chúng ta, - những người may mắn không được chứng kiến tận mắt những gì đã xẩy ra – phải làm gì để gìn giữ ký ức của những người đã từng sống qua thời đoạn lịch sử ấy?

Sau tất cả những kinh hoàng khủng khiếp, thách đố khả năng của trí tưởng tượng con người đã xẩy ra – Những cuộc chiến tranh lê thê, cuộc diệt chủng Do Thái, vụ nổ nhà máy nguyên tử ở Chernobyl, ở Fukushima… không kể tới Hiroshima và Nagasaki – nhân loại đã thường xuyên đối đầu với việc bảo tồn kho tàng ký ức để nhắc nhở người đời về những gì đã xẩy ra.

Làm cách nào chúng ta có thể khắc sâu vào trong lòng những gì đã xẩy ra từ một quá khứ xa xăm, ở một nơi cũng xa xăm không kém, mà chúng lại không có một mối quan hệ trực tiếp đến sự sống hàng ngày của chúng ta? Quan trọng hơn, nhớ đến chúng không chỉ như một mảnh kiến thức thông thường, mà phải mang cảm giác như chính mình là một phần trong biến cố ấy?

Làm cách nào chúng ta có thể đóng được chiếc thuyền con, tuy mong manh, nhưng đủ sức chuyên chở những mảnh ký ức ấy vượt trùng khơi đến những bến bờ xa xăm cho những thế hệ nối tiếp?

Có một điều chắc chắn: Đây là nhiệm vụ không một chút nào phù hợp với những tổ chức chính trị, những cơ chế hàn lâm. Đơn giản chỉ vì với họ, việc chia sẻ những hồi ức của con người, về cơ bản, là một công việc hoàn toàn bất hợp lý.

Vì vậy, chúng ta sẽ viện dẫn đến văn chương, xem văn chương như là một nơi chốn ẩn náu mỗi khi phải đương đầu với những nghịch lý vượt quá tầm kiến giải của lý trí con người. Qua ngôn ngữ của văn chương, chúng ta cuối cùng sẽ cảm thông được với những đau khổ của những người vô danh chưa hề quen biết. Hoặc, ít nhất, chúng ta sẽ đủ can đảm buộc mình nhìn thẳng vào sự ngu xuẩn của những kẻ gây nên những lỗi lầm không thể tha thứ và tự hỏi chính mình, liệu mầm mống của những điều điên rồ ấy có đang ẩn nấp trong chính con người mình hay không.

Tôi đã từng chăm chú lắng nghe tiếng kêu của những người đã từng sống qua kỷ nguyên cai trị của Đức Quốc Xã, bằng cách đọc đi đọc lại “Nhật ký của một cô gái trẻ” của Anne Frank, “Đi tìm ý nghĩa con người” của Victor Frankl, “Nếu đây là một con người” của Primo Levi. Chẳng hạn như, từ Anne Frank, tôi học được một chân lý vô giá về con người, rằng con người có thể trưởng thành và phát triển kể cả trong lúc sống trốn chui trốn nhũi như một con thú. Từ những tiết lộ trong ghi chép của Victor Frankl “những con người ưu tú nhất đã không trở về” từ những trại tập trung, tôi nhận ra được nỗi thống khổ vô bờ của những người sống sót khi bị buộc phải kéo lê sự sống. Và khi mà, qua những trang sách vừa đọc, tôi cảm thấy một sợi dây nối kết giữa sự tồn tại hôm nay, ở đây của tôi với một khoảnh khắc nào đó xa xăm trong quá khứ lúc tôi chưa được sinh ra, cũng có nghĩa là chân trời của tôi đã được mở rộng và một thế giới mới đang mở ra trong tôi.

Cũng tương tự như vậy, văn học Nhật Bản vẫn tiếp tục đề tài về bom nguyên tử. Đề tài này chiếm một vị trí đặc biệt trong mỗi thể loại văn học – tiểu thuyết, thi ca, kịch, khảo cứu. Thí dụ, những ai sinh năm 1962, như tôi, hẳn phải quen thuộc với tác phẩm “Hai cô gái nhỏ có tên là Iida” của Miyoko Matsutani, câu chuyện về chiếc ghế biết nói kỳ diệu đã nối kết hai bé gái nhỏ sống ở hai thời đại khác nhau trong một căn nhà nơi tờ lịch đã bị đóng băng vào ngày 6 tháng 8, 1945. Hoặc, với một trong những tác phẩm không thể không biết đến của văn học Nhật Bản đương đại, “Mưa đen” của Masuji Ibuse kể lể hết sức tỉ mỉ về những hậu quả của vụ ném bom nguyên tử xuống hai thành phố Nhật Bản. Nhà văn lừng danh Kenzaburo Oe, lúc còn ở tuổi hai mươi vừa mới bước chân vào thế giới văn chương đã đến thăm Hiroshima và cho chúng ta tập “những ghi chép ở Hiroshima” nói đến tính cách khác thường về phẩm giá con người nơi những nạn nhân còn sống sót của vụ ném bom đang trải qua những thống khổ vượt quá sức con người. Và còn rất nhiều những thí dụ tương tự khác.

Nhưng có một tác phẩm khác từ lâu được ngưỡng mộ và say sưa tìm đọc, kể cả hiện tại, và thường được trích dẫn trong các sách giáo khoa: đó là tiểu thuyết “Những đoá hoa mùa hè” của Tamiki Hara. Tác giả là một nạn nhân trực tiếp của vụ ném bom nguyên tử, ghi lại trong tác phẩm những điều tai nghe mắt thấy chính xác đến từng chi tiết nhỏ.

Sinh ra ở Hiroshima năm 1905, Hara đang sống ở Tokyo, viết tiểu thuyết và làm thơ gởi đăng ở các tạp chí văn học, thì vợ ông đột ngột qua đời năm 1944. Tháng 2 năm 1945, ông quay về nơi chôn nhau cắt rốn, như thể ông “có hẹn với tấn thảm kịch sắp xẩy đến cho thành phố Hiroshima” như sau này ông đã viết. Buổi sáng ngày 6 tháng 8 năm 1945, Hara ngồi ở nhà, – trong căn phòng tắm kín mít không có đến một cửa sổ – chi tiết này có lẽ đã giúp ông thoát chết. Một cách may mắn, ông chỉ bị xây xát nhẹ, và sau đó lang thang khắp thành phố đổ nát để ghi nhận những chi tiết có thật trong tập bản thảo, sau đó trở thành tác phẩm lừng danh “Những đoá hoa mùa hè”.

clip_image008

Hình ấn bản bằng Nhật ngữ của tác phẩm “Những đoá hoa mùa hè” của Tamiki Hara, một nạn nhân của vụ ném bom.

(Ảnh: Shinchosha)

Quyển truyện bắt đầu với sự kiện diễn ra hai ngày trước khi thành phố bị ném bom, nhân vật chính đến thăm mộ vợ mình. Anh ta lau chùi sạch sẽ tấm bia và đặt ở đó những đoá hoa mùa hè rực rỡ giữa một khung cảnh êm dịu và tươi mát. Nhưng dù vậy, một nỗi buồn tràn ngập hồn anh về sự mất mát trước cái chết của người vợ yêu quý, như một linh cảm về những xác người nằm la liệt đến độ không thể đếm được, mà chỉ một thời gian ngắn sau này anh sẽ chứng kiến.

Đoạn mô tả nhân vật chính chạy đến dòng sông để tìm nơi trú ẩn có những chi tiết rất nhỏ bằng một giọng văn lạnh đến rợn người. Ngôn ngữ được dùng thật ngắn gọn, không có chỗ cho những từ dùng mô tả cảm xúc. Sự khủng khiếp mà nhân loại chưa từng bao giờ chứng kiến lần lượt được mở ra trước mắt người kể, khủng khiếp đến độ anh ta không thể nào thốt ra được một lời nào mơ hồ dù chỉ để diễn tả cảm xúc của mình.

Những mặt người sưng vù khiến không thể nói xác nằm đó là đàn ông hay đàn bà. Đầu người cháy đen thành than với những chỗ lồi lên trông như hạt đậu đen. Tiếng người kêu gào liên tục xin được uống ngụm nước. Trẻ con nắm chặt tay nhau, miệng thì thầm yếu ớt, “Mẹ ơi… Bố ơi,”. Người đi ngang qua, xăm soi từng móng tay người chết, hay rút lấy sợ dây lưng trên thi hài như muốn lưu giữ làm kỷ vật từ người chết. Thành phố được mô tả như chìm trong một không khí sặc mùi tử khí: “Trong cái hư không mênh mông lóng lánh sắc bạc, ẩn hiện những con đường, những dòng sông và những cây cầu bắc ngang; rải rác đây đó là những xác người đã sưng phù hay thối rữa. Một địa ngục thật mới mẻ, được tạo nên bởi một thứ kỹ thuật hết sức tinh vi và phức tạp.

Khi quả bom nguyên tử tước đi khỏi mặt đất tất cả những gì gọi là thuộc về con người, dường như cùng lúc, nó đã hoả thiêu luôn cả ngôn ngữ của nhân loại. Tuy nhiên, có lẽ do bởi ý trời định, Hara đã mang theo trong người không chỉ thực phẩm, thuốc men mà còn có một quyển sổ và một cây viết chì. Thế nên, những gì ông ghi lại trong quyển sổ của mình không chỉ đơn thuần là những con chữ. Ông đã tạo nên một biểu trưng cho những gì ông nghe được từ người chết, từ những người đang hấp hối, những điều mà không thể chỉ đơn giản được biểu lộ bằng chữ viết. Những dấu tích, những vật chứng mà những người đã lặng lẽ biến mất khỏi đời này từng sở hữu, chúng thực sự vẫn còn tồn tại.

Trong lúc sống cô đơn vì bệnh tật đã cướp đi của Hara người vợ thân yêu, ông còn đối mặt với thảm kịch bom nguyên tử. Thế nên, các sáng tác của Hara đều có gốc rễ từ nỗi im lặng khủng khiếp của sự chết. Là một nhà văn, một nhà thơ, Hara đứng giữa thanh thiên bạch nhật, không phải để phát biểu với đồng loại mà để lặng lẽ cam chịu sự giằng xé của nghịch lý: Tìm lời cho những tiếng kêu không thành tiếng của những người đã bị tước đoạt mất khả năng nói thành lời của mình.

Hara còn là tác giả một bài thơ ngắn nhan đề “Đây là con người nhân loại”, một tác phẩm vượt lên trên mọi đắng cay, giận dữ, để tìm cách vừa dịu dàng, vừa tinh tế làm sống lại tiếng nói đã bị hủy diệt của những con người đã không còn mang hình dạng con người:

Đây là một con người nhân loại

Hãy xem họ đã bị bom nguyên tử làm biến dạng như thế nào

Thân xác họ đã sưng phù hư hại

Đàn ông đàn bà nhìn cũng giống như nhau

Này đây những lời kêu cứu

Tiếng nói câm lặng đang tìm cách vượt thoát

Khỏi những đôi môi sưng vù trên khuôn mặt thối rữa

Đây là một con người nhân loại

Đây là một con người nhân loại

Đọc bài thơ, chúng ta không thể không liên tưởng đến tác phẩm “Nếu đây là một con người” của Primo Levi, một nhà hoá học và cũng là một người sống sót từ trại tập trung. Ngay từ đoạn mở đầu, Levi đã đặt câu hỏi:

Hãy xem coi liệu đây có phải là một con người

Khi anh ta đầm mình lao động trong đám bùn lầy

Người chưa hề biết thế nào an lạc hoà bình

Người đã phải giành giật đến từng mẩu bánh nhỏ

Người chết chỉ bởi một câu trả lời có hay không

Tôi không biết hai nhà văn, Hara và Levi, có từng quen biết nhau không, nhưng chúng ta có thể nhận ra mối đồng cảm trong ngôn ngữ của họ. Một người hỏi liệu đây có phải là một con người hay không; người kia trả lời rằng đúng vậy, đây là một con người nhân loại. Trong tác phẩm của họ, chúng ta chứng kiến cuộc gặp gỡ giữa một người luôn phấn đấu để bảo tồn phẩm chất nhân loại và người kia lúc nào cũng dõi mắt canh chừng không để cho phẩm chất ấy bị hư mất – một cuộc hội ngộ tư tưởng mang tầm mức ảnh hưởng sâu rộng đến các thế hệ tương lai. Trong thế giới văn chương, một chân lý quan trọng nhất có thể được tìm thấy ở những trùng hợp ngẫu nhiên, đơn giản và đôi khi, vô nghĩa. Với sự tiếp tay của văn chương, lời của người khuất vãng sẽ được gom lại và cẩn trọng đặt vào trong lòng những chiếc thuyền nhỏ bé để chúng tiếp tục hoà nhập vào với dòng sống của thực tại.

clip_image010

Hiroshima on Sept. 8, 1945, một tháng sau vụ ném bom.

(Ảnh: Wayne Miller/Magnum Photos)

Thêm một trùng hợp ngẫu nhiên khác nữa: Có lẽ với cảm thức cho rằng mình đã hoàn thành nhiệm vụ với tư cách kẻ sống sót sau một tấn thảm kịch; hoặc cũng có lẽ do bởi gánh nặng trên vai về một quá khứ quá khủng khiếp, vượt sức chịu đựng con người, cả hai nhà văn đã tự kết liễu đời mình; Hara năm 1951 và Levi năm 1987 (có người cho rằng cái chết của Levi không phải do tự sát)*.

Trong lúc ngồi viết những dòng này, trước mặt tôi là bộ sưu tập những bức ảnh của Hiromi Tsuchida, chụp những phiên bản được tái tạo từ những tàn tích của vụ ném bom do viện bảo tàng hoà bình Hiroshima thực hiện. Tôi đặc biệt bị ấn tượng bởi một bức ảnh chụp hộp đựng thức ăn và bình đựng nước mang theo đến trường của một học sinh trung học đệ nhất cấp tên là Shigeru Orimen. Lớp học của cậu được trưng dụng làm nhiệm vụ quốc phòng và có mặt trong thành phố vào buổi sáng ngày 6 tháng 8 năm 1945. Lúc quả bom được ném xuống, Shigeru cách tâm điểm nơi quả bom tiếp xúc mặt đất khoảng 500 mét. Mẹ cậu tìm được con nằm lẫn trong đống xác chất đống dọc theo bờ sông và lục lại được hộp thức ăn và bình nước trong túi xách của Shigeru. Bà còn nhớ buổi sáng hôm đó, cậu rời nhà với niềm mong ước sao cho chóng đến giờ ăn trưa vì hôm đó bà nấu món cơm chiên đậu là món khoái khẩu của Shigeru. Cái hộp đựng thức ăn đã bị móp méo thảm hại, nắp bật ra và thức ăn bên trong chỉ còn là vài cục nhỏ cháy thành than.

image

 

Hộp đựng bữa ăn trưa của Shigeru (bên trái) và bình nước (bên phải)

(Ảnh: Chugoku Shimbun)

Thực ra, cái hộp đựng thức ăn trưa nhỏ bé đã chứa đựng một điều gì đó quan trọng hơn: đó là sự ngây thơ vô tội của một bé trai chỉ háo hức mong được thưởng thức món ăn ưa thích của mình, và tấm lòng người mẹ dành cho con. Ngay cả khi nạn nhân cuối cùng của vụ ném bom đã biến mất khỏi trần gian, và cả khi bộ đồ đựng thức ăn trưa này chỉ còn là một tàn tích trơ trơ như gỗ đá, nhưng bao lâu vẫn còn có một ai đó sẵn lòng lắng nghe tiếng nói ẩn giấu trong cái hộp cơm móp méo của Shigeru, thì những ký ức này sẽ vẫn còn sống sót.

Tiếng nói của người chết luôn luôn là vĩnh cửu, bởi vì nhân loại lúc nào cũng sở hữu một chiếc thuyền nhỏ – ngôn ngữ của văn học – để đưa tiếng nói ấy vào với các thế hệ tương lai.

Yoko Ogawa

(T.Vấn chuyển ngữ)

Nguồn: The New York Times Magazine

How We Retain the Memory of Japan’s Atomic Bombings: Books

Về tác giả:

Yoko Ogawa là một nhà văn Nhật Bản đương đại. Bà sinh năm 1962, tác giả nhiều tác phẩm đã được dịch sang nhiều thứ tiếng. Các tác phẩm tiêu biểu: Viên quản gia và vị giáo sư (The housekeeper and the professor – 2003); Tập truyện Báo thù (Revenge – 1998); Khách sạn Iris (Hotel Iris – 1996); Cảnh sát ký ức (The Memory Police – 1994), v.v. Trong số đó, quyển “The Memory Police” được coi là tác phẩm mang ý nghĩa và tầm vóc của những tác phẩm nói về các chế độ chuyên chế độc tài của George Orwell. Bà đã từng vào đến chung kết giải thưởng văn chương cao quý của Mỹ National Book Foundation 2019; nằm trong danh sách chung kết giải Man Booker International Prize 2020. Ngoài ra, bà đã đoạt nhiều giải thưởng quan trọng của văn học nhật Bản. Hiện Yoko Ogawa đang cộng tác với nhiều tạp chí quốc tế, phải kể đến: The New York Times Magazine, A Public Space . . .

clip_image015

Nhà văn Nhật Bản Yoko Ogawa(1962- )

(Ảnh: goodreads.com)

Chú thích:

* Ngày 11 tháng 4 năm 1987, người gác cửa của một căn chung cư ở thành phố Turin, nước Ý, nơi Primo Levi đã sống hầu như cả trước lẫn sau chiến tranh đã tìm thấy nhà văn nằm chết dưới chân cầu thang. Chuyên viên giảo nghiệm xác định ông chết do tự sát. Những người quen biết ông đều đồng ý với giả định đó, sau những đau khổ ông đã chịu đựng trong chiến tranh và sống với chúng trong suốt quãng đời còn lại. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng cái chết của nhà văn là một tai nạn, vì ông mắc phải chứng bệnh hay bị choáng váng, đi đứng không vững. Cho đến nay, sự tranh cãi vẫn còn và chưa có thêm chứng cớ để xác định chính thức rằng Primo Levi chết vì tai nạn hay do tự sát.

clip_image017

Nhà văn Primo Levi ở New York (1919-1987)

(Ảnh: primolevicenter.org)

** Shigeru Orimen, một học sinh lớp 6 (ngày xưa thời VNCH gọi là lớp đệ Thất), vào buổi sáng ngày 6 tháng 8 năm 1945, đang làm công việc dọn dẹp một toà nhà vừa bị đập phá theo sự trưng dụng của chính phủ ở Hiroshima thì quả bom nguyên tử ném xuống cách chỗ của cậu khoảng 500 mét. Mãi đến ngày 9 tháng 8, tức ba ngày sau, mẹ cậu mới tìm được xác con nằm trong một đống đổ nát dọc theo bờ sông, cùng với hộp đựng thức ăn trưa và bình nước trong túi cặp. Cha và anh Shigeru đã đi phục vụ ở tiền tuyến. Ở nhà, cậu phải thay cha anh làm công việc cày bừa, gieo hạt, tưới tắm giúp mẹ. Bữa ăn hôm đó là sản phẩm thu hoạch từ công khó của Shigeru sau nhiều ngày miệt mài đồng áng. Nỗi đau của bà mẹ còn nặng nề hơn nữa khi biết con mình không bao giờ còn có dịp thụ hưởng thành quả lao động do chính tay mình làm ra, do chính tay mẹ nấu cho mình. Hai di tích của Shigeru Orimen do gia đình lưu giữ và hiến tặng cho viện bảo tàng Hoà Bình của thành phố Hiroshima.

clip_image019

Di ảnh cậu học trò lớp 6 Shigeru Orimen

(Ảnh: Chugoku Shimbun)

"Thiên nhân cảm ứng?"

Cảm nghĩ đón thu về (6/8/2020)

Đào Tiến Thi

Cái nắng nóng năm nay gần như kéo dài suốt tháng 6 và tháng 7, mà là nắng nóng khủng khiếp, nắng nóng triền miên không có mưa, tưởng như ngày nào cũng là ngày Hạ chí (22/6). Ấy thế mà đùng cái mấy hôm nay có lúc có gió lạnh. Sáng sớm hôm nay tôi còn phải đắp chăn! Cứ tưởng dính virus Vũ Hán hóa ra không phải. Nhìn đồng hồ, nhiệt kế chỉ 27 độ C, thấp hơn cả nhiệt độ khi tôi ngủ trong phòng máy lạnh (tôi thường để 28 độ C trong những ngày nóng vừa rồi). Thời tiết mấy hôm nay giống như thời tiết những ngày cuối thu sắp sang đông. Thật lạ quá! Nghĩa là năm nay có lẽ sẽ không có những ngày giữa thu với nắng vàng đầy ắp và trời trong vắt nữa. Càng không có những ngày chớm thu để reo vui như chàng thi sỹ nọ: “Đây mùa thu tới mùa thu tới/ Với lá mơ phải dệt lá vàng”.

Mạc Can

Nguyễn Hồng Lam

GIANG HỒ TRÀ ĐÁ MẠC CAN

Mấy ông thần bạn đọc ưa tò mò thường hỏi tôi: trên giang hồ, ông nể tay nào nhất? Thật tình, sợ thì không nhưng nể thì nhiều. Giang hồ không có vua, làm gì có ai là nhất. Nhưng đọng lại, cả trên trang viết lẫn ngoài đời thật, dân chơi thứ thiệt mà tôi quý hơn cả chắc chắn sẽ là Mạc Can, một nghệ sĩ lận đận đa tài.

Giáo sư Kê truyện (kỳ 7)

Trần Thanh Cảnh

Ngài Kê đi làm cố vấn

1. Bây giờ ở nước ta gia đình ngài Giáo sư Kê rất nổi tiếng.

Có thể gọi là nổi như cồn, nổi nhất nước, bởi là do hai tay hậu duệ: nghĩa tử Hùng Văn Hạ thì chấp chính Bộ Dục - Văn - Giao còn nam tử Giang Đình Tinh Anh thì nắm Bộ Công, hai bộ trọng yếu của nước nhà. Rất hăng hái phát tài. Mà đều còn trẻ, đang đà thăng tiến hứa hẹn chủ chốt nước nhà nay mai.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 259): Người đi trên mây – Nguyễn Xuân Hoàng (25)

NGƯỜI ĐI TRÊN MÂY (Kỳ 72, 73 & 74)

Kỳ 72

“Nhưng mấy thầy uống đâu cũng vậy, uống em em biết ơn!”

“Trời! Uống chị? Uống chị là uống làm sao?” Nhật lại tấn công.
“Ông nội này làm luật sư chắc! Bắt bẻ quá “chời” qua đất “dzậy!” Chị chủ quán trả lời, giọng đã hơi giận.

Thuật ngữ chính trị (44)

Phạm Nguyên Trường

Political Dictionary – The Bridge

130. Divine right - Quyền lực thần thánh. Quyền thiêng liêng của các ông vua trong việc cai trị vương quốc của mình là học thuyết thần học và chính trị quan trọng ở châu Âu thời trung cổ, và các lí thuyết gia chính trị sau này như Bodin (1530 - 1596) và Hooker (1554 -1600), không nhiều thì ít, đều gắn bó với học thuyết này. Nó chống lưng cho quan điểm bảo hoàng trong giai đoạn nội chiến ở Anh (1642-1651), và cuối cùng đã bị những lực lượng của Nghị viện trong cuộc chiến tranh này hủy bỏ. Học thuyết này – có ích cho cả Giáo hội lẫn chế độ quân chủ - được người ta phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của giáo hội và các vương triều châu Âu để họ có thể kí kết giao ước về địa của mỗi bên trong quan hệ với nhau. Trong khi ý thức hệ của vương triều được Giáo hội bảo vệ, thì các ông vua cũng phải dùng lực lượng vật chất để bảo vệ và ủng hộ Giáo hội Công giáo La Mã và giáo lý, và để cho Giáo hoàng và các giám mục của Ngài toàn quyền cai quản lĩnh vực tôn giáo và đạo đức.

Nhân sự cấp chiến lược: bài toán khó đang cần lời giải

Tô Văn Trường

Tiền nhân cũng như các bậc tinh hoa của nhân loại đã có những ngôn từ thật sâu sắc Hiền tài là nguyên khí Quốc gia; Cán bộ quyết định hết thảy!; Con ngưòi là vốn quý nhất!. Rõ ràng việc chọn hiền tài, chọn cán bộ, chọn con người mà lại là hiền tài, cán bộ và con người cấp chiến lược, cấp cao nhất là việc vô cùng hệ trọng, có thể nói là quan trọng nhất liên quan đến sự hưng thịnh hoặc suy vong của Quốc gia.

Vài thông tin chưa chính xác về khu vực Mũi Đại Lãnh

Nguyễn Văn Nghệ

NGHE 5

    Mũi Đại Lãnh được người dân địa phương gọi là Mũi Nạy (Đầu ghềnh Mũi Nạy gie ra/ Qua hai mũi ấy đó là Ô Rô), Mũi Chùa, Mũi Diều, Mũi Kê Gà. Sau khi ngọn hải đăng được xây dựng ở mũi Đại Lãnh thì mũi Đại Lãnh có thêm tên gọi mới, đó là Mũi Điện. Trên bản đồ phương Tây ghi là Cap Varella hoặc Varela hoặc Avarella.   Một vài bản đồ phân biệt mũi Đại Lãnh và Mũi Nạy là hai mũi khác nhau. Mũi Nạy và mũi Đại Lãnh cách nhau bởi Bãi Môn và Mũi Nạy nằm phía bắc của mũi Đại Lãnh.

 

     Varella nghĩa là gì?

Vào trang Wikipedia tiếng Việt tìm “Mũi Đại Lãnh” ta sẽ thấy: “Mũi Đại Lãnh do một tướng người Pháp tên Varella phát hiện, nên có tên gọi trước đây là Cap Varella trên các bản đồ cũ”. Tất cả các bài viết liên quan đến mũi Đại Lãnh đều khẳng định xuất xứ địa danh Varella y như vậy.

   Các bản đồ trong tài liệu của Linh mục Alexandre de Rhodes (năm 1651 và năm 1653 đã xuất hiện địa danh Ponto da Varella (Mũi Varella). Varella nghĩa là gì?

   Dựa vào tự điển tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Anh (1773): “Varella hay Varela chỉ chùa hay đền thờ thần của người Ấn Độ hay tu viện của họ”.

  Năm 1637, nhà buôn người Anh là Peter Mundy (1597-1667) trong bản tường trình “The travels of Peter Mundy in Europe and Asia” có nhắc đến Varella: “Ngày 18/6/1637 (tàu) chúng tôi đi ngang qua La Varella, một tảng đá lớn thẳng đứng giống như một cái tháp tọa lạc gần đỉnh của một dãy núi cao gần biển… Tảng đá Varella này phân chia nước Champa và Đàng Trong (Cauchin-China) mà cả hai vương quốc này luôn tìm cách thâu địa danh này cho riêng mình. Tảng đá này cao khoảng 10 đến 12 yeards (khoảng 9 đến 11 mét bây giờ) và là một trong những kỳ quan của thế giới”

   Truyện nước Anam Đàng Trong quyển nhị (1822) của Philipphe Bỉnh ghi Varella là Varela và ông gọi Varela là Đá Dựng :“ cho đến Varela hay là Đá Dựng”.

    Bản đồ năm 1823 cho thấy mũi Varella còn gọi là Pagoda Cape (Mũi Chùa). Như vậy từ “Chùa” phù hợp với nghĩa của từ “Varella” trong tiếng Bồ Đào Nha[1].

  Chú ý trên bản đồ xưa ở hai địa đầu bờ biển Khánh Hòa có hai địa danh Avarella hoặc Varella: một tại mũi Đại Lãnh được ghi là Avarella hoặc Cap Varella hoặc Pr. Varella verum (Mũi Varella “thật”); một tại bờ biển phía nam cách cửa biển Cam Ranh khoảng 6 km, gọi là mũi Đá Vách ghi: Pr.Varella falsum (mũi Varella “giả”)hoặc Faux cap Varella (mũi Varella “giả”) hoặc Avarellafalsa (Avarella “giả”)[2]

   Như vậy địa danh Varella đã có từ trước và không phải do sĩ quan người Pháp tên là Varella phát hiện!

   Năm khai sinh ngọn hải đăng Đại Lãnh

  Hiện nay, khi vào Google tìm kiếm lý lịch ngọn hải đăng Đại Lãnh, ta sẽ thấy tất cả đều ghi năm khai sinh ngọn hải đăng Đại Lãnh là 1890.

   Tháng 1 năm 1892 đến tháng 3 năm 1892 ông J. Brien, Phó Thanh tra Trạm& Bưu điện (Sous-Inspecteur des Postes et des Télégraphes) được Toàn quyền De Lanessan ủy nhiệm một chuyến đi khảo sát thực địa từ Qui Nhơn vào đến ranh giới giữa Bình Thuận và Biên Hòa. Ông đã ghi chép tỉ mỉ hành trình của ông qua các trạm thông tin trong tác phẩm “De Qui Nhon en Cochinchine Explorations dans le Binh Thuan (Sud-Annam)”, xuất bản năm 1893. Khi qua Đèo Cả, ông mô tả kỹ lưỡng về Vũng Rô, mũi Varella, nhưng không hề thấy nhắc đến ngọn hải đăng (Sau đó khi đi qua Mũi Dinh ông J.Brien lại tường thuật về ngọn hải đăng Mũi Dinh ở Ninh Thuận). Vậy ngọn hải đăng Đại Lãnh được xây dựng năm nào?

    Paul Doumer làm Toàn quyền xứ Đông Dương từ năm 1897-1902, trong hồi ký của mình, ông có nhắc đến ngọn hải đăng Đại Lãnh: “ Vào ban ngày, người ta dễ dàng thấy mũi này. Ngón tay đó[3]là dấu hiệu không thể nhầm lẫn . Thật may mắn là nó không thường xuyên bị mây che. Đương nhiên là không có hải đăng chiếu sáng ban đêm. Sau đó tôi đã cho khảo sát và xây dựng hải đăng này. Công việc đó chưa hoàn tất khi tôi rời Đông Dương năm 1902. Việc nghiên cứu và xây dựng không thể diễn ra nhanh chóng tại một vùng cách biệt, với vùng rừng núi khó khai phá như ở mũi Đại Lãnh”[4].

  Như vậy hải đăng Đại Lãnh được khởi công vào tháng đầu thế kỷ XX và có thể hoàn tất vào năm 1903 hoặc 1904. Không biết các nhà nghiên cứu dựa vào đâu mà lại khẳng định hải đăng Đại Lãnh được xây dựng vào năm 1890?

    Nơi đón bình minh đầu tiên trên đất liền ở Việt Nam

    Trước đây tại mũi Đại Lãnh có tấm bia đá hoa cương ghi toàn chữ Quốc ngữ, hiện nay đã thay bằng tấm bia khác và được ghi bằng hai thứ chữ: Việt ngữ và Anh ngữ. Nội dung xác định Mũi Điện (mũi Đại Lãnh) là “ Điểm cực đông, nơi đón bình minh đầu tiên trên đất liền Việt Nam”. Mũi Điện ở Kinh độ 109 độ 27’06”E. và Vĩ độ 12 độ 52’08”N. thuộc xã Hòa Tâm, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

  Trong Bài 2: “Vị trí địa lý, phạm vi lãnh thổ”, trang 13 sách Địa lý lớp 12 (tái bản lần thứ 12) do Lê Thông (Tổng Chủ biên), Nguyễn Viết Thịnh (Chủ biên)dạy tất cả học sinh Việt Nam: “…và điểm cực Đông nằm ở kinh độ 109 độ 24’ Đ. Tại xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa”

   Hiện nay tại Mũi Đôi, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa có một khối hình chóp bằng kim loại, đánh dấu điểm cực Đông trên đất liền ở Việt Nam. Trên khối hình chóp ghi vĩ độ, kinh độ điểm cực Đông trên đất liền ở Việt Nam: 12 độ 38’39,78”- 109 độ 27’50,03”.

   Như vậy không thể có hai điểm cực Đông trên đất liền ở Việt Nam được. Theo tôi thì tỉnh Phú Yên nên sửa lại nội dung tấm bia như sau: “ Địa điểm thuận tiện được nhiều người đến đón bình minh sớm trên đất liền ở Việt Nam”. Nếu tỉnh Phú Yên tiếp tục duy trì tấm bia ấy thì hóa ra cùng một sự kiện, ở trường học sinh Phú Yên được dạy một nơi, nhưng khi ra khỏi trường thì chính quyền tỉnh Phú Yên giải thích một nẻo!

  Ngoài ra những nhà soạn sách giáo khoa Địa lý lớp 12 cũng cần xem lại con số kinh độ 109 độ 24’Đ có phải là con số chính xác chưa? Bởi vì ở mũi Đại Lãnh (Phú Yên) và Mũi Đôi (Khánh Hòa) đều ghi Kinh độ là 109 độ 27’.

Mũi Đại Lãnh là ranh giới giữa Phú Yên và Khánh Hòa trước đây.

  Tác phẩm “Phú Yên đất và người” của Nhà nghiên cứu Trần Huiền Ân ghi về ranh giới Phú Yên và Khánh Hòa: “Trước kia ranh giới Phú Yên- Khánh Hòa tại đèo Cổ Mã. Bản đồ đời Duy Tân cũng vẽ ranh giới tại đây”[5]. Nhưng rất tiếc là ở cuối tác phẩm có phần “Bản đồ và hình ảnh minh họa” lại không có bản đồ đời Duy Tân, mà chỉ có Phú Yên đạo đồ mà thôi!

   Trong các sách xưa, đều lấy núi Đại Lãnh (Đèo Cả) và Thạch Bi sơn (núi Đá Bia) làm giới hạn phía nam của vùng đất Phú Yên. Phú Yên đạo đồ được vẽ sau năm 1832 ghi tại mũi Đại Lãnh, phía đông Thạch Bi sơn ba chữ Hán: “Khánh Hòa giới” (ranh giới Khánh Hòa).

   Năm 1885 Công sứ Aymonier cùng Trần Bá Lộc kéo quân ra dẹp phong trào Cần vương ở Khánh Hòa, ông đã ghi chép tỉ mỉ về những nơi ông đã hành quân. Vũng Rô và mũi Varella (Mũi Đại Lãnh): “En fin, la province est borne au nord par la grande chaine qui va plonger son dernier contrefort au cap dit de Varella”[6] (Và cuối cùng tỉnh Khánh Hòa được giới hạn về phía bắc bởi dãy núi lớn đâm ra bờ biển như pháo đài gọi là Varella).

   Aymonier lại xác định : “A ce cap Varella ou cap de la Pagode, le Mũi Nại des Annamites finit la côte de la province du Khánh Hòa qui”[7](Từ cái mũi Varella này hay là Mũi Chùa, Mũi Nại[8] của người An Nam là chấm dứt đường bờ biển của tỉnh Khánh Hòa). Một vài bản đồ chú thích Mũi Nại khác với mũi Đại Lãnh. Mũi Nại nằm phía bắc của mũi Đại Lãnh cách nhau bởi Bãi Môn.

   Annuaire Général de l’Indochine năm 1910 ghi: “C’est au Varella que se termine la province du Phu yen et que commence celle du Khánh Hòa”[9] (Chính ở Varella mà kết thúc tỉnh Phú Yên rồi bắt đầu tỉnh Khánh Hòa).

   Tác phẩm “Non nước Phú Yên” của Nguyễn Đình Tư cũng xác định ranh giới bờ biển Phú Yên và Khánh Hòa: “… từ cửa Đà Nông vào đến Vũng Rô giáp Khánh Hòa, vì có dãy núi Đá Bia nằm sát biển, Nạy có thắp hải đăng nên bờ biển cao và dốc, ghềnh đá ngổn ngang rất nguy hiểm cho việc thủy vận, nên ở Mũi. Bờ biển Phú Yên chấm dứt tại đây”[10].

   Từ ngày 18.4.1994 phạm vi Vũng Rô và Mũi Đại Lãnh thuộc về tỉnh Phú Yên[11]

  Thời đại thông tin toàn cầu, cho nên những thông tin sai lệch cần phải đính chính, không nên để những thông tin sai lệch kéo dài mãi!

1 (1)

Bản đồ phân biệt Mũi Nạy và Mũi Đại Lãnh

6 (1)

Bản đồ ghi địa danh Avarella. Xuất bản 1630

8

Bản đồ trong tài liệu của Lm Alexandre de Rhodes năm 1651 và 1653 ghi Ponto da Varella (Mũi Varella)

9

Bản đồ năm 1823 ghi Pagoda Cape

10

Bản đồ trong tài liệu năm 1651 và 1653 của Lm Alexandre de Rhodes đã có ghi địa danh Varella

(raremaps.com/gallery/detail/55700/cartes-des-indes-orientalis-dessinee-suivant-les-observations-homann-heirs)

khanh hoa

Phú Yên toàn đồ vẽ sau năm 1832. Ba chữ Hán Khánh Hòa giới (Ranh giới Khánh Hòa) ngay mũi Đại Lãnh (Phía đông Thạch Bi Sơn)

  Chú thích

[1] Xem bài viết “Tiếng Việt thời LM de Rhodes- Phổ Kiến( Phúc Kiến), Chincheo và Varella…(phần 23)” của tác giả Nguyễn Cung Thông

https://conggiao.info/tieng-viet-thoi-lm-de-rhodes—pho-kien-phuc-phuc-kien-chincheo-va-varella-phan-23-d-55699

[2] Pr. là chữ Promumturium trong tiếng Latin được viết tắt có nghĩa là mũi, mỏm đá nhô ra biển; Verum là đúng, thật; falsum, falsa là sai, giả. Faux trong tiếng Pháp là sai, giả.

     https:// nghiencuulichsu.com/2017/08/02/cap-vartlla-that-va-cap-varella-gia/

[3]  Ngón tay đó:  chính là khối đá đứng sừng sững trên Thạch Bi sơn (núi Đá Bia). Người Pháp gọi khối đá ấy là “Le doigt de Dieu” (Ngón tay của Thượng Đế).

[4] Paul Doumer, Xứ Đông Dương, Nxb Thế Giới, tr. 351.

[5]  Trần Huiền Ân, Phú Yên đất và người, Nxb Văn hóa-Văn nghệ, tr. 92

[6][7]  Étienne Aymonier, Notes sur l’Annam II le Khanh hoa, Saigon Imprimerie Coloniale, 1886, p.6; 14.

[8]  Mũi Nại: các tài liệu tiếng Pháp ghi là “Nai”. Người Việt không đọc “Nại” nhưng đọc “Nạy”.

[9]  Annuaire de l’Indochine 1910, IDEO, Hanoi-Haiphong, Imprimerie d’Extrême-Orient, p. 530

[10]  Nguyễn Đình Tư, Non nước Phú Yên, Nxb Thanh niên, tr. 30

[11]  https://baophuyen.com.vn/413/212861/thay-doi-dia-danh-hanh-chinh-thoi-nhap-tinh-va-tai-lap-tinh.html

Nguồn: https://nghiencuulichsu.com/2020/08/03/vai-thong-tin-chua-chinh-xac-ve-khu-vuc-mui-dai-lanh/

Văn học miền Nam 54-75 (675): Xuân Vũ (kỳ 19)

XƯƠNG TRẮNG TRƯỜNG SƠN

19

Tôi bị cuốn hút vào cậu thanh niên kỳ dị này. Và cứ theo chiều hướng của Năm Cà Dom thảo luận với Cường thì tôi và Hồng đi để Năm Cà Dom ở lại bệnh xá. Thu đang ngồi nắn nắn bắp chân trên võng. Thấy Hồng tới, Thu vội vàng bỏ chân xuống dép và ngó lom lom vào cái con người kỳ quái kia.

Điểm sách: “Bản sắc” của Francis Fukuyama

Đỗ Kim Thêm

clip_image002

Tác phẩm

Cơ chế suy đồi, kỳ thị chủng tộc và bất công xã hội làm cho nền dân chủ tự do Mỹ lâm nguy, kinh tế suy sụp và xã hội phân hoá. Trong thời gian gần đây, sau cái chết của George Floyd làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng COVID-19 vốn dĩ đã là khẩn cấp. Tình trạng lung lay lên cao điểm. Tại sao bức tranh muôn màu và sinh động của xã hội Mỹ trở nên buồn thảm hơn bao giờ hết?

Đã có vô số các lý giải, nhưng trong tác phẩm Identity: The Demand for Dignity and the Politics of Resentment, Francis Fukuyama cho là khủng hoảng về bản sắc của các nhóm sắc tộc là nguyên nhân và đấu tranh để công nhận nhân phẩm là giải pháp.

Suy nghĩ về bài ‘dậy sóng dư luận’ của ông Vũ Ngọc Hoàng

Lê Học Lãnh Vân

Bài của ông Vũ Ngọc Hoàng, đăng trên tờ Thanh Niên ngày 1.8.2020, có tên “90 năm ngày truyền thống ngành tuyên giáo: Tuyên giáo phải nhằm khai hóa văn minh” cho dân tộc thu hút sự chú ý của dư luận.

Bài này chưa nói hết ý ông Hoàng vì còn phần tiếp theo chưa đăng. Trong phần đã đăng có hai ý chính: Tuyên giáo phải vừa khoa học vừa chính trị, và Tuyên giáo nhân lên sức mạnh chân chính.

Chúng tôi xin trao đổi về phần "Tuyên giáo phải vừa khoa học vừa chính trị".

Thơ Lý Quang Hoàn

Những ngày tháng trống rỗng II...

 

clip_image002[5]


Những chuyến xe lửa chạy ngang qua thành phố
Lặp đi lặp lại cuộc hành trình nhàm chán... đi và về... trên những cung đường
đơn điệu, buồn rầu như những điếu thuốc ngủ vùi trên môi …
vẫn không làm nhạt nhoà đi tôi và nỗi nhớ em trong những ngày tránh dịch…
Những ngày ngồi nhớ lại cuộc tình rã rời…
em và những giọt nước mắt chia phôi…
“Phải chăng là những giọt nước mắt cá sấu?“

Thuật ngữ chính trị (43)

Phạm Nguyên Trường

Political Dictionary – The Bridge

126. Discrimination – Phân biệt đối xử. Phân biệt đối xử trong chính trị là đối xử thiếu thiện chí với những nhóm người được xác định theo các đặc điểm như chủng tộc, ngôn ngữ, giới tính hay tôn giáo. Đây là cách làm thường thấy trong phần lớn các xã hội khác nhau; nhưng trong thế kỷ XX, đặc biệt là sau vụ thảm sát người Do Thái do Đức quốc xã tiến hành, hầu hết các chế độ dân chủ đã có những nỗ lực nghiêm túc nhằm chống lại hiện tượng này bằng luật pháp và quyết định của tòa án. Phân biệt đối xử ngược hoặc tích cực (Reverse or positive discrimination: xem hành động khẳng định) đôi khi được áp dụng – đây là đề xuất nói rằng trong một số trường hợp cần phải có những biện pháp ưu tiên ưu đãi cho thành viên của những nhóm vốn bị thiệt thòi. Trong các xã hội phi dân chủ, tệ phân biệt đối xử vẫn khá thịnh hành. Ví dụ, ở Iran thời Khomeini, nhiều người bị hành quyết chỉ vì họ theo những tín ngưỡng không phải là Hồi giáo Shi‘ite. Vấn đề hiện nay là, nhà nước có thể làm những việc gì nhằm ngăn chặn tệ phân biệt đối xử trong các mối quan hệ xã hội và kinh tế tư nhân, vì bộ máy pháp luật và hành chính sẽ trở nên quá cồng kềnh và rất khó chứng minh được rằng đã có phân biệt đối xử trong mỗi trường hợp cụ thể.

Vẻ bình thường mới mẻ

Đỗ Quý Toàn

Nhấn mạnh đến tính mới lạ của thơ có thể gây hiểu lầm rằng chỉ nói những điều kỳ lạ mới thành thơ. Không, đôi khi sự giản dị làm chúng ta kinh ngạc hơn. Ai cũng thuộc bài Mùa Thu Câu Cá của Nguyễn Khuyến; có lẽ chúng ta nên đọc lại đầy đủ:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Tựa gối ôm cần, lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Lời tâm sự của một nhân chứng

Nói chuyện với các nhà văn Đức tại thành phố Nuremberg, 2.2000

Vũ Thư Hiên

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tuyên bố độc lập năm 1945 khi đại chiến thế giới lần thứ hai kết thúc. Cùng với sự tuyên xưng độc lập, chế độ kiểm duyệt thời thuộc Pháp chính thức bị bãi bỏ.

Nhưng chẳng bao lâu sau, những tờ báo thuộc các xu hướng không làm vừa lòng nhà cầm quyền mới lần lượt bị đóng cửa bằng nhiều cách, kể cả những cách hoàn toàn không dân chủ chút nào – phong toả trụ sở, tịch thu báo, cấm bán, cấm tồn trữ…

Cõi yên nghỉ

Truyện Lữ Quỳnh

LU QUYNH.Phan Nguyên

* Chân dung Lữ Quỳnh – Phan Nguyên vẽ.

Nhìn những con chim ngậm cỏ ríu rít bay về rúc vào cuối mái hiên lớp học trong ánh nắng nhạt nhòa của một ngày sắp tắt, Lam cố nén tiếng thở dài trong cổ và cảm thấy cả vuông ngực căng tức khó chịu. Những hình ảnh thuộc ngày tháng nào mà Lam lười biếng không muốn nhớ, đang hiện ra lù mù, lãng đãng trong trí như sương muối những buổi sớm mai thức dậy đánh răng nhìn qua cửa kính. Lam vốn sợ những phút sống hãi hùng mà đối tượng có khi chỉ là một thoáng nắng, chút phất phơ của cành liễu, hay những vỏ ốc vụn vỡ lẫn với cát trắng trên con đường mòn mỗi ngày đi về mấy bận.

Giáo sư Kê truyện (kỳ 6)

Trần Thanh Cảnh

Ngài Kê và sự nghiệp đào tạo ba vạn chín nghìn tiến sĩ của nước nhà

1. Thấm thoắt ngài Giáo sư Tiến sĩ Giang Đình Kê, viện trưởng viện súc sản đã hưu trí được năm năm. Hồi mới nhận quyết định, ngài tuyên bố, “Tao nghỉ là nghỉ, không tơ vương dây dưa gì nữa. Mấy chục năm ròng ra thưa vào bẩm mệt lắm rồi. Chán lắm rồi. Nghỉ hẳn. Làm dân cho khỏe”.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 258): Người đi trên mây – Nguyễn Xuân Hoàng (24)

NGƯỜI ĐI TRÊN MÂY (Kỳ 69, 70 & 71)

Kỳ 69

Mẹ tôi ở xa, quá xa, cho nên những lục đục trong gia đình tôi chậm đến tai bà. Tuy vậy đối với bà chỉ có nước mắt là người sứ giả hòa bình duy nhất được gửi đến trong một trận chiến tranh mà sự đổ vỡ rõ ràng là không thể hàn gắn được.

Thuật ngữ chính trị (42)

Phạm Nguyên Trường

Political Dictionary – The Bridge

122. Directed Democracy – Dân chủ có lãnh đạo. Dân chủ có lãnh đạo hay còn được gọi là dân chủ có định hướng, là thuật ngữ mà đôi khi được sử dụng nhằm biện minh những chế độ tự nhận là dân chủ ở các nước đang phát triển, nhưng hầu như chẳng có gì chung với chế độ dân chù đại diện ở phương Tây. Khái niệm này được nhà lãnh đạo Pakistan, Ayub Khan – chính quyền của ông này được quân đội ủng hộ - đưa ra trong thập niên 60 của thế kỉ trước. Nó cũng gần giống khái niệm của những người Marxist về vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, được gọi là chuyên chính vô sản. Nó dựa trên luận cứ nói rằng người dân trong đất nước mới giành được độc lập trong Thế giới Thứ ba chưa thể tham gia một cách đầy đủ vào nền chính trị dân chủ vì dân trí thấp. Mà lí do thực tế là thiếu học vấn (nếu không nói là phần lớn cò mù chữ) và thong tin liên lạc yếu kém, và cũng tàn dư từ thời thuộc địa, làm cho người ta sợ rằng dân có thể dễ dàng bị các phần tử phản động mua chuộc. Ngoài ra, dân chúng có thể đòi quyền lợio kinh tế vượt quá khả năng của quốc gia, đặc biệt khi hy sinh để xây dựng ngành công nghiệp nặng và tích lũy vốn cho ngành công nghiệp tiêu dùng trong những giai đoạn sau. Chế độ dân chủ có lãnh đạo cho phép người dân tham gia vào một số hoạt động: Mọi người đều có thể tham gia một đảng duy nhất được phép hoạt động hoặc thậm chí có thể tham gia một trong những đảng được phép hoạt động và thể hiện quan điểm về chính sách, với điều kiện là họ không được thách thức quyết định đã được “những người biết rõ nhất” đưa ra vì lợi ích của xã hội. Ví dụ, một số quốc gia cộng sản châu Âu, đáng chú ý nhất là Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức), không phải là những nước độc đảng, ví dụ, nhưng được cai trị bởi liên minh do Đảng cộng sản lãnh đạo. Tư tưởng chủ yếu ở đây là, cuối cùng, khi dân trí gia và nền kinh tế được cải thiện, người dân sẽ được “đưa” vào chế độ dân chủ thực sự. Mặc dù hiện nay người ta ít khi sử dụng thuật ngữ này, nhưng hầu như tất cả các chế độ quân sự đều đưa ra những tuyên bố như thế nhằm biện minh cho sự việc cầm quyền của mình.

Khi nhân dân bị bịt miệng

Tạ Duy Anh

Nếu anh ngăn cản người bên cạnh nói sự thật, coi như anh tự bịt một phần mắt và một phần tai mình.

Nếu anh ngăn cản cả một dân tộc nói sự thật, coi như anh là kẻ bị mù và điếc toàn phần.

Một chế độ cũng thế, nếu chỉ tìm mọi cách bịt miệng người dân, lấy con ngáo ộp “Thế lực thù địch” với hình phạt tàn khốc đi kèm để dọa họ, thì chế độ đó tự biến mình thành chiếc ao tù hôi thối của nhân loại về mặt đạo đức và trước sau cũng suy tàn.

Thử đọc một bài thơ của Huy Tưởng theo một cách khác

Vũ Thành Sơn

image

IMG_0247_Original[3]Tôi vừa nhận được tập thơ Đêm Vang Hình Tiếng Chuông của nhà thơ Huy Tưởng. Tập thơ gồm 197 bài thơ ngắn, hầu hết là lục bát bốn câu, được Văn Học Press in trang nhã với tranh của họa sĩ Trương Đình Uyên. Sự có mặt của tranh Trương Đình Uyên trong tập thơ không hề mang tính chất minh họa, mà có giá trị mỹ thuật hoàn toàn riêng của nó, có thể được thưởng thức độc lập. Những bức tranh đẹp, thơ mộng, gợi ít nhiều một không khí hoài niệm.

Đọc thơ 24: Huy Tưởng, lục bát

Nguyễn Đức Tùng

clip_image002

Thơ làm cho thời gian trôi chậm lại.

Bạn ngồi xuống, lắng nghe tiếng nói vang lên từ một người chưa hề gặp mặt. Từ khoảng cách lớn lao, chúng ta nghe được tiếng nói ấy, thì thào hay mạnh mẽ. Tôi ngồi yên lặng, sự tưởng tượng mang tôi lại gần tác giả, vượt qua thế giới đầy tiếng động. Gần hai trăm bài thơ lục bát ngắn của Huy Tưởng trong tập “Đêm vang hình tiếng chuông” liên tiếp nhắc nhở ta về sự yên tĩnh, sự ngồi lại, về những khoảng cách rút ngắn. Kiên nhẫn và chờ đợi. Thơ anh gợi ý về khung cảnh thanh bình đẹp đẽ đã từng có hay sẽ có, nhắc nhớ lại. Âm nhạc, ngôn ngữ, những khoảng trống im lặng làm thay đổi dòng chảy suy tưởng, uốn cong chúng, kéo thẳng chúng, tạo ra những màu sắc khác nhau, có khả năng mang chúng ta đi xa, sẽ mang chúng ta trở lại, thăm dò những thế giới khác nhau, như cuộc ra đi và trở về, tán rồi tụ, mất rồi được.