Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2026

Ái Điểu, cõi lạ văn chương

 Nguyễn Lệ Uyên

Thỉnh thoảng vào FB của bạn bè, ít khi chú ý đến các trang chưa tương tác, chỉ lướt nhanh qua vài Avatar với nhiều khuôn mặt khác nhau, không lưu vào bộ nhớ. Cho đến một hôm, nửa khuya mở YouTube bấm đại một bản nhạc dỗ giấc ngủ, bổng văng vẳng giọng ca Chế Linh thê thiết, nức nở chập chờn giai điệu ưu uất: Hận Đồ Bàn của nhạc sĩ Xuân Tiên. Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, âm thanh não nuột kia lóe sáng góc nhỏ xíu trong đầu, như báo hiệu có một mối liên quan với hình ảnh một Avatar của ai đó tôi đã từng lướt qua với đôi mắt buồn thăm thẳm, với nụ cười thổn thức quặn thắt, với khuôn mặt tươi rói nỗi niềm trong tầng khuất khổ đau, hiện hữu lên bóng dáng những người phụ nữ Chăm bước chậm trên nền cát nóng, đầu đội những tamia dwa buk: kiên nhẫn, chịu đựng pha trộn niềm vui và nỗi buồn, cuốn theo nhiều thế kỷ mông lung nhang khói.

Khi đình làng tắt đèn – Kinh Bắc và "Ngày ôm nhau" trước cả phương Tây

 Tô Văn Trường

Tôi sinh ra ở quê lúa Thái Bình, lớn lên giữa ruộng đồng mặn mòi phù sa, quen với chuyện hội làng rước kiệu, đánh trống, hát chèo, thi nấu cơm. Thế nhưng trong gia phả họ nhà tôi lại ghi rất rõ: cách đây 14 đời, ông tổ là cụ Tô Hiểu Thông, người Kinh Bắc. Từ nhỏ nghe kể chuyện “gốc Bắc Ninh”, tôi chỉ nghĩ đó là một dòng chữ cho vui trong gia phả, không ngờ có ngày đọc tư liệu xưa mà phải ngồi thừ ra tự hỏi: không biết cụ tổ năm ấy có từng… đi xem hát đêm đình hay không.

Harrison Ford – giải Thành tựu Trọn đời

 Lê Hồng Lâm

Harrison Ford được trao giải Thành tựu Trọn đời (Life Achievement Award) tại Actor Awards năm nay, sau khi đã cống hiến cho điện ảnh vô số bộ phim thành công trong hơn 6 thập niên, và từng nhận các giải thưởng danh dự khác như César, Palm d’Or (Cành cọ vàng) và Thành tựu trọn đời của Viện Phim Mỹ (AFI) cho dù chưa một lần bác thắng giải Oscar.

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2026

Thông báo kết quả giải Văn Việt lần thứ Mười Một (năm 2025)

 Hội đồng Giải Văn Việt đã thống nhất kết quả Giải Văn Việt lần thứ Mười Một (năm 2025) như sau:

Giải Văn năm nay được trao cho chùm văn của Ái Điểu với 4/5 phiếu bầu chọn (Ban Xét Giải Văn gồm các nhà văn Ngô Thị Kim Cúc, Võ Thị Hảo, Nguyên Ngọc, Nguyễn Viện và Ngu Yên).

Nghe tiếng quê hương từ nơi xa thẳm

 Nguyễn Thị Tịnh Thy

Nếu giới thiệu với một ai đó về Bùi Vĩnh Phúc, trước tên của ông, thế nào cũng phải có những danh xưng “nhà nghiên cứu - phê bình”, “nhà văn”, “nhà thơ”, “nhà giáo”, “dịch giả”. Đó là điều hiển nhiên, vì nó chính danh. Nhưng riêng tôi, khi đọc xong bản thảo cuốn sách Chữ nghĩa & không gian văn chương của Bùi Vĩnh Phúc, dù đọc với tư cách là một đồng nghiệp - hậu bối, và với con mắt nghề nghiệp, tôi chỉ muốn gọi ông bằng định ngữ “một người yêu nước mình” như tên một bài thơ của Trần Vàng Sao.

Nhịp điệu của những mất mát không tên trong văn xuôi Ái Điểu

Bảo Chân

Thời gian gần đây, văn chương Ái Điểu xuất hiện, giữa nhiều ồn ào của thị hiếu đương đại, với những truyện ngắn, bút ký, truyện-kịch… đặc biệt thu hút người đọc. Không ồn ào, không tìm kiếm lối văn chương hào nhoáng rực rỡ, tác giả bình lặng khắc họa những nỗi mất mát đứt gãy của con người trong xã hội: ga xép bị xóa sổ, đất thừa tự bị cắt mất, và những người phụ nữ mang nỗi đau đời...

Lê Thanh Trường: Phát biểu nhận Giải Thơ – Giải Văn Việt lần thứ Mười Một

 Lê Thanh Trường

1.

Tôi không biết như vậy là ít hay nhiều, những lần tôi nghĩ về thơ – hay những gì liên quan tới thơ.

Có lẽ nhiều hơn nhiều thứ khác. Bởi sau khi tự hỏi như vậy, tôi nhận ra mình đã nghĩ về thơ thường xuyên hơn những việc lẽ ra là "sát sườn" hơn trong cuộc sống.

Giới thiệu thơ Lê Thanh Trường

 Nguyễn Đức Tùng

Thơ vận động giữa giấc mơ và đối thoại. Trong một xã hội tan rã, thơ mang đến cho người đọc sự thật không tìm thấy ở nơi khác, lòng tin không tìm thấy ở nơi khác. Tuy vậy, cùng với các thể loại văn học khác, thơ ngày càng ít người đọc, ngày càng bị lấn át bởi các phương tiện truyền thông, nó chỉ giữ lại cho mình những người say đắm. Đối với họ, thơ là sự kiểm soát ngôn ngữ: Lê Thanh Trường có giọng thản nhiên, trung tính, pha giễu cợt. Thơ anh không mang lại nhiều hy vọng, hơi buồn bã, nhưng đó là những bài thơ chứa đầy sự hiểu biết đối với hy vọng. Đời sống ngày càng khó khăn, tương lai không đoán được, những bổn phận của chúng ta là không thể hoàn thành.

Lê Thanh Trường – một lần bao nhiêu vòi vọi…

 Thái Hạo

1.

Lê Thanh Trường làm thơ như như người nhặt lên chiếc vỏ lon bên đường, và nhìn nó rất lâu. Từ dòng sông, ngọn núi trăng sao đến cỏ cây, con chó nhỏ, ễnh ương, một cái lá hay rãnh nước, những thứ han rỉ xộc xệch…, tất cả đều thơ. một rãnh nước chảy qua bụi cỏ/ một hòn đá bóng lên trong ngày nhập nhoạng/ một giọt hắt kề bên mí mắt/ mái tóc ướt với cơn buồn qua mối tình thứ mấy/ đọt lá cao su/ khoảng sáng sau chân đồi/ ôi chao nếu còn kể nữa, có lẽ tất cả cơn mưa sẽ sống lại.

Tino Cao: Phát biểu nhận Giải Nghiên cứu - Phê bình – Giải Văn Việt lần thứ Mười Một

 Tino Cao

Rất nhiều lần tôi tự hỏi, việc đọc văn và viết về văn học thực ra bắt đầu từ đâu. Nó không khởi đi từ một quyết định rõ ràng, cũng không phải từ một tham vọng nghề nghiệp hay một ý thức tự thân nào về vai trò của người viết. Nó đến chậm rãi hơn thế, gần như lặng lẽ, như một thói quen hình thành từ những ngày còn rất trẻ, khi chữ nghĩa xuất hiện như một nơi trú ẩn trước khi trở thành một cách đối diện với thế giới.

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

Niềm tin công lý và trách nhiệm cải cách tư pháp qua vụ án Hồ Duy Hải

 Tô Văn Trường

Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày vụ án Hồ Duy Hải được tuyên bản án tử hình đầu tiên. Hai thập kỷ không chỉ là một mốc thời gian; đó là một quãng đời của một con người và cũng là khoảng lặng đủ dài để một bản án trở thành nỗi day dứt trong tâm thức xã hội. Khi một vụ án không thể khép lại sau chừng ấy năm, vấn đề không còn dừng ở số phận của một cá nhân, mà đã trở thành câu hỏi về độ tin cậy và tính chính xác của hệ thống tư pháp.

Công bằng xã hội ở đâu? Bình đẳng công dân ở đâu?

 Phạm Đình Trọng

Tan học, học sinh Vũ Văn Thành đi xe máy chở theo ba bạn học Nguyễn Bá Thịnh, Vũ Thanh Hùng, Vũ Văn Lộc. Tuổi trẻ nghịch ngợm, tốp nam sinh đi xe máy liền giật chiếc mũ vải và chiếc nón lá của hai nữ sinh đi bộ cùng chiều. Nữ sinh tố cáo với công an bị giật mất mũ nón, bốn nam sinh liền đến công an giao trả lại nguyên vẹn tài sản đã giật.

Yêu Dostoevsky, ngưỡng mộ Putin?

 Tino Cao

Có không ít người Việt, vì yêu văn học Nga, yêu những áng văn tuyệt vọng, những trang tiểu thuyết được viết dưới bóng tối chuyên chế, mà sinh lòng yêu mến nước Nga, rồi yêu mến luôn cả chính thể đã tạo ra bóng tối ấy. Họ yêu Bác sĩ Zhivago, yêu thơ Mandelstam, yêu Dostoyevsky, yêu những bản trữ tình dở dang của Tchekhov, nhưng lại không thấy rằng tất cả những tài năng đó, không ít thì nhiều, đều bị nghiền nát trong guồng máy đàn áp của nhà nước Nga hậu Xô viết và Liên Xô trước đây.

Đời sống tăng đoàn ở Nalanda (Ấn Độ) vào thế kỉ 7 theo Nghĩa Tịnh: hai loại bình đựng nước

 Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về chương hay mục 6 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh, tựa đề chương 6 là 水有二瓶 thủy hữu nhị bình (~ nước có hai bình): người viết phỏng dịch là hai loại bình đựng nước. Chương này có tất cả 483 chữ Hán, khi dịch ra tiếng Anh thì có khoảng 775 chữ (bản dịch của Takakusu, sđd), hay khoảng 772 chữ (bản dịch của Li Rongxi, sđd); hay số chữ tiếng Anh dùng tăng 60% so với nguyên bản Hán văn. Khi dịch ra tiếng Việt hiện đại cho tạm thời rõ nghĩa thì cần khoảng 753 chữ (xem phần sau) hay số chữ tiếng Việt dùng tăng 56% so với nguyên bản Hán văn. Tuy nhiên, cần thận trọng khi đọc các tài liệu cổ đại vì Hán văn vào thời trung cổ có khác hơn ngày nay, có lúc ý nghĩa không rõ ràng hay tối nghĩa, không như ý của tác giả, dẫn đến cách hiểu khác nhau: td. ít người biết xúc 觸 còn có nghĩa là dơ dáy, hay xem mục 3.3 phần dưới về các câu khó hiểu/tối nghĩa. Ngoài ra, tiếng Hán trung cổ cũng phản ánh thời kỳ phát triển khác biệt: td. âm vận thời nhà Đường so với âm vận thời nhà Hán, thời nhà Minh; đây là chưa kể đến việc soạn giả dịch lầm hay tam sao thất bản: thí dụ trong chương 6: chữ duy 唯 viết thành chuẩn 准 (bản thời Tống, Nguyên, Minh); chữ ủng 擁 viết thành quán 罐; chữ quải 掛 viết thành quải 挂... Một kết quả quan trọng là giao lưu văn hóa/tôn giáo và ngôn ngữ với Phạn ngữ đã làm vốn từ Hán gia tăng vượt bực, cũng như ngữ pháp cùng các tài liệu âm vận học mà ít người biết đến, không chỉ giới hạn trong thuật ngữ Phật giáo như niết bàn, nghiệp, kiếp, Giác Thụ (cây Bồ đề)… Thí dụ như trong chương 6 ngắn ngủi, Phạm tăng và Tây phương tăng được dùng để chỉ nhà sư Ấn Độ, phản ánh mức độ phong phú của ngôn ngữ khi dùng các từ phiên âm trực tiếp từ tiếng Phạn hay phiên nghĩa trong tiếng bản địa. Người đọc sẽ thấy các dữ kiện này xuất hiện thường xuyên trong bài viết này. Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật giáo), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), A (tiếng Anh) NHKQNPT (Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện).

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

Về Giải thưởng Văn Việt

Thái Hạo

Vài ngày tới Văn Việt (CLB Văn đoàn Độc lập Việt Nam) sẽ công bố giải thưởng của năm 2025. Vì vài năm nay tôi được Văn Việt mời làm giáo khảo cho giải Thơ, thấy cách làm việc của họ khá hay bởi tính khách quan và vô tư, đáng để tham khảo, nên xin chia sẻ dưới đây.

Khi công lý cần được soi lại: Vụ án Hồ Duy Hải sau 18 năm

 Tô Văn Trường

Có những bản án khép lại một hồ sơ tố tụng, nhưng không khép lại những trăn trở trong lương tri xã hội. Mười tám năm đã trôi qua kể từ đêm xảy ra thảm án tại Bưu điện Cầu Voi, nơi hai nữ nhân viên trẻ bị sát hại dã man. Nỗi đau ấy là sự thật không gì bù đắp được. Công lý, trước hết, phải dành cho các nạn nhân và gia đình họ.

Những dấu hỏi trong truyện-thơ Ái Điểu

 Nguyễn Lệ Uyên

Ngoài truyện, Ái Điểu còn làm thơ. Thơ cô không mới, không thuộc các trường phái Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực, Tân hình thức… mà hầu hết gần như là những câu chuyện kể như khi cô viết truyện; chỉ khác hơn chút là những truyện-thơ ấy cô không mấy chú ý đến thẩm mỹ (esthestique) trong tu từ và hơi thiếu một chút nhạc điệu, màu sắc kiểu “thi trung hữu họa” vốn thường thấy các nhà thơ thời trước vận dụng. Những bài thơ này, nếu thêm vài chữ, bớt vài câu nó sẽ trở thành truyện và ngược lại.

Cánh chim đỗ quyên gieo chữ giữa hai bờ đại dương

 Lê Bảo Nhi

Đỗ Quyên – cái tên như một ám ảnh thi ca, gợi nhớ hình ảnh con chim lưu lạc kêu tiếng nhớ nước thương nhà. Có lẽ, chẳng bút danh nào phù hợp hơn với một người con Hà Nội mang theo hành trang văn chương đi qua nửa vòng trái đất, để rồi giữa lòng Vancouver lạnh giá hay bên bờ biển Cabo nắng cháy, vẫn không ngừng viết về một quê hương thao thức trong từng nhịp thở.

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

Tiệc tất niên của loài bò sát

 Ái Điểu

Ba Mươi Tết năm nào tôi cũng chỉ mở tiệm đến 10 giờ sáng, có bán cũng ít khách. Dù có gì đi nữa, mọi người cũng muốn trở về nhà mình, trở về với nguồn cội, với những quá vãng, với tâm linh.

Trưa nay tôi cúng tất niên, mời đám đàn bà không chồng dự.

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Hiện tượng mờ hoá trong tập truyện ngắn "Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình" của Raymond Carver

 Nguyễn Hồng Anh

Raymond Carver là nhà văn Mỹ nổi lên từ thập niên 1970, bước sang những năm 1980, tên tuổi và sức ảnh hưởng của ông đã lan tỏa trên khắp thế giới. Ông được tôn xưng là bậc thầy truyện ngắn của thế kỷ XX và là chủ soái của trường phái cực hạn. Phong cách viết của R. Carver mang dấu ấn đậm nét từ sự kế thừa hai nhà văn lớn thế giới mà ông xem như những bậc tiền bối của mình: Ernest Hemingway và Anton P. Chekhov. R. Carver đã học tập từ Chekhov quan niệm về lối viết: “Trong các truyện ngắn, nói không đủ thì tốt hơn là nói quá nhiều” (dẫn theo [6]), và học tập từ Hemingway cái gọi là “lý thuyết bỏ quên” (theory of omission): “Anh có thể bỏ đi bất kì điều gì nếu anh nhận ra anh đã bỏ quên nó và phần bị bỏ đi sẽ củng cố thêm câu chuyện và khiến người đọc có thể cảm nhận nhiều điều hơn là những gì họ hiểu” (dẫn theo [4]).

Thử tìm cách đối lại vế ra của cụ Nguyễn Khoa Vy

 GS. Nguyễn Tài Cẩn

Con gà trống đã ra thủ đô ăn Tết

Từ khi công bố câu đối thách cách nửa thế kỷ của nhà thơ Nguyễn Khoa Vy, tòa soạn đã đi từ trạng thái hồi hộp, lo lắng đến... bối rối.

 

Lúc đầu cứ sợ không ai hưởng ứng và "số phận" con gà trống chắc vẫn phải quẩn quanh trong vườn nhà chị Bội Lan, con gái của nhà thơ, ở Vỹ Dạ, (điều mà chắc chị Bội Lan cũng sẽ rất buồn lòng). Nhưng đến khi đón nhận sự hưởng ứng quá sức nồng nhiệt của bạn đọc từ khắp nơi trong nước (nồng nhiệt đến nỗi cả nhà văn Phó tổng biên tập của SH cũng lén lút nhảy vào cuộc thi bằng cách dấu tên nhưng không may bị tòa soạn lật "tẩy" qua nét chữ, thì tòa soạn đâm ra hết sức bối rối. Bối rối bởi lẽ là: Câu đối hay thì nhiều, quá nhiều mà gà thì chỉ có một! Đến nay, nghĩa là khi người Sông Hương viết những dòng này, tòa soạn đã nhận được tất cả 352 câu được gửi đi từ khắp các địa phương trong cả nước, từ thủ đô Hà Nội đến miền sông nước Cửu Long xa xôi và cả tận bên Pari. Thực tình đã có lúc Người Sông Hương tính đến nước liều, đề nghị tòa soạn thôi thì... lờ đi cho đỡ nặng gánh, có nghe phê bình thì đành chấp nhận thương đau vậy. Tất nhiên là không ai dám công khai cái chước mười mươi gian lận này, thế nhưng xét chọn câu hay xứng đáng nổi bật trong số câu hay thì người nào cũng... líu lưỡi. Cuối cùng may mắn làm sao, trong một ngày cuối năm đẹp trời (có lẽ là một ngày đẹp trời nhất trong những ngày đẹp trời ở Huế), đối với Người Sông Hương tòa soạn nhận được một lá thư kèm với một bài viết dài 5 trang đánh máy của một nhà ngôn ngữ học quen biết, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, từ Hà Nội gửi vào. Bài viết có nhan đề: Thử tìm cách đối lại vế ra của cụ Nguyễn Khoa Vy và cả lá thư thân tình cụ cũng bảo là chỉ dám "thử" thôi, chứ không tham gia vào cuộc thi, vì câu thách của nhà thơ quá "đắt" còn con gà trống của nhà thơ thì cụ đề nghị hãy cứ để cho nó nhảy tung tăng trong vườn nhà chị Bội Lan. Đọc xong lá thư và cả bài viết của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng vốn đã đọc câu thách đối từ nửa thế kỷ trước, Người Sông Hương và cả tòa soạn thở ra nhẹ nhõm. Thế là tai qua nạn khỏi! và dù giáo sư Nguyễn Tài Cẩn không muốn, Người Sông Hương cũng xin được thông báo với toàn thể bạn đọc tin vui: Con gà trống của nhà thơ Nguyễn Khoa Vy đã lên tàu Thống Nhất ra thủ đô Hà Nội ăn tết, đồng thời xin gửi đến tất cả các bạn đã hưởng ứng cuộc thi lời cám ơn chân thành của tòa soạn và của chị Bội Lan, con gái của nhà thơ.

Dưới đây xin giới thiệu với bạn đọc một số câu đối hay tòa soạn đã nhận được và bài viết của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn mà Người Sông Hương hy vọng rằng các bạn đã sẽ rất đồng tình với quyết định của Sông Hương.

NGƯỜI SÔNG HƯƠNG

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Kịch bản lỗi

 Ái Điểu

 

*MÀN MỘT

Em đĩ nhỏ lùa đàn bò qua cánh đồng cát lầy

tóc em vàng nắng cháy

màu  mặt trời xích đạo

không phải màu ánh đèn hộp đêm.

Bụi xương rồng đơn độc

có đủ bóng che phận đời em?

Thành phố, em đã bỏ lại

có phòng lạnh, nệm êm.

Liệu đời có bình yên

dưới mặt trời mù loà, đảo điên?

(Tiếng vang từ hậu đài: Có, có, có!

Có hạnh phúc, có tương lai)

Nghệ thuật và sáng tạo: hành trình nội tại của nghệ sĩ

 Nguyễn Man Nhiên

Diễn ngôn từ các bậc thầy

Nghĩ về nghệ thuật, người ta hay tưởng tượng đến những khoảnh khắc “bừng sáng” của thiên tài: một ý tưởng độc đáo xuất hiện bất ngờ, rồi tác phẩm hoàn thành như “phép màu”. Nhưng thực tế hoàn toàn khác.

Một bất ngờ của cha tôi

 (Hồi ức của con gái về người cha – nhà văn Kim Lân)

Nguyễn Thị Hiền

 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đất nước thống nhất. Do tôi làm báo nên ngay ngày 1 tháng 5 năm 1975 tôi lập tức lấy giấy đi công tác vào Sài Gòn. Tôi muốn tận mắt xem chế độ tư bản sống như thế nào. Tôi cũng muốn đi tìm em Đức của tôi. Em đi bộ đội và em đã cùng đoàn bộ đội tiến vào giải phóng Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử.

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Phan Thanh Giản – bi kịch của lương tri và hành trình minh oan trong ký ức dân tộc

 Tô Văn Trường

Năm 1975, khi tôi vào Nam thăm mẹ sau 21 năm xa cách, con phố nơi mẹ sống vẫn mang tên Phan Thanh Giản; sau đó không lâu được đổi thành Điện Biên Phủ. Có lần một người bạn trẻ hỏi tôi vì sao tên phố lại thay đổi, nhưng khi ấy tôi chưa có đủ tư liệu để giải thích. Câu hỏi tưởng chừng đơn giản ấy lại mở ra một hành trình suy ngẫm về lịch sử, về cách hậu thế nhìn nhận quá khứ và về số phận của những nhân vật từng gây nhiều tranh luận.

Một tai nạn thương tâm

 James Joyce

Trịnh Y Thư dịch

Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod[1] vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo. Phòng ông thuê nằm trong một ngôi nhà cũ kỹ, u ám. Từ cửa sổ phòng, ông có thể nhìn thấy khu nhà máy chưng cất rượu đã bỏ hoang từ lâu, hoặc phóng tia mắt ra xa về phía con sông cạn nước mà thành phố Dublin được xây dựng lên trên. Trên những bức tường cao của căn phòng không trải thảm, chẳng có tranh ảnh nào được treo. Ông tự mua sắm mọi đồ đạc trong phòng: một chiếc giường sắt màu đen, một bệ rửa mặt cũng bằng sắt, bốn chiếc ghế mây, một giá treo quần áo, một thùng đựng than, một tấm chắn và những thanh sắt cời lửa lò sưởi, một chiếc bàn vuông vức trên đó là bàn làm việc của ông. Mấy kệ gỗ trắng ăn vào hốc tường làm thành tủ sách. Giường ngủ được phủ bằng vải màu trắng, một tấm khăn hai màu đen đỏ phủ chân giường. Một chiếc gương nhỏ treo trên bệ rửa mặt. Ban ngày, một chiếc đèn chụp màu trắng đứng như món vật trang trí duy nhất trên bệ lò sưởi. Những cuốn sách trên kệ gỗ trắng được sắp xếp từ dưới lên trên theo khổ sách từ lớn đến nhỏ. Bộ Wordsworth Toàn tập[2] nằm ở một đầu kệ dưới cùng và một bản sao Sách giáo lý Maynooth, được khâu vào bìa vải một cuốn sổ tay, nằm ở đầu kệ trên cùng. Các vật dụng dùng để viết luôn ở trên bàn. Trong ngăn kéo bàn có một bản dịch ở dạng bản thảo vở kịch Michael Kramer của Hauptmann, những chú thích hướng dẫn dàn dựng sân khấu được viết bằng mực tím và một tập giấy nhỏ được ghim lại bằng một chiếc ghim bằng đồng. Trên những mảnh giấy rời này, lâu lâu một hàng chữ được biên xuống và, trong một khoảnh khắc trớ trêu, tiêu đề một quảng cáo cho Bile Beans được dán lên tờ đầu tiên. Khi nhấc nắp bàn lên, một mùi hương thoang thoảng tỏa ra – mùi của những cây bút chì làm bằng gỗ bách hương còn mới, hoặc mùi một lọ keo, một quả táo chín nẫu bị bỏ quên.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 13)

 Nguyễn Phương Mai

LỜI KẾT CHO LOẠT BÀI VỀ CUỘC CHIẾN TẠI UKRAINE

Cuộc chiến ở Ukraine chạm mốc 4 năm vào ngày 24-2-2026. Và suốt 9 tháng qua, từ khóa “Ukraine” trở thành trung tâm năng lượng trong cái vũ trụ nhỏ bé của tôi.

Lời kết này là một chút chia sẻ để độc giả hiểu hơn về bối cảnh phía sau những trang viết.

Hồ Anh Thái giữa hai bờ mới – cũ

 Minh Phúc

Liên tục có tác phẩm mới trong những năm qua, nhà văn Hồ Anh Thái tiếp tục cho thấy nội lực mạnh mẽ với cuốn tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân (Nhã Nam và NXB Hà Nội ấn hành 2026). Với cuốn sách này, ông cho thấy sự sáng tạo vượt trội trong cách viết và các chủ đề bản thân khai thác.

Hai câu chuyện về vị thầy tôi yêu kính

 Lê Học Lãnh Vân

Giáo sư Nguyễn Thanh Khuyến vừa thất lộc ngày 21 tháng 2 năm 2026 tại Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Thanh Khuyến và người em là thầy Nguyễn Xuân Nguyên là hai vị Thầy tôi rất thương yêu và kính trọng. Gia đình thầy Khuyến thầy Nguyên có mối thâm tình với gia đình tôi từ đời trước, và trong đời hai Thầy có tới mấy thành viên trong gia đình là bạn học, bạn thiết với anh chị tôi. Do đó, tôi biết khá nhiều chuyện về Thầy, chuyện nào cũng khiến tôi thêm lòng kính trọng. Tôi gọi thầy Khuyến là Thầy và gọi thầy Nguyên là anh.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 12)

 Nguyễn Phương Mai

DANH TÍNH – NỘI CHIẾN VĂN HÓA

Kỳ cuối cùng của loạt bài này tập trung vào vấn đề ngôn ngữ. Học giả Phạm Quỳnh từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Chính vì vậy, ngôn ngữ là thách thức gây chia rẽ lòng người lớn nhất trong cuộc CÁCH MẠNG DANH TÍNH ở Ukraine.

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

Những hứa hẹn và hiểm họa của Hiệp định sông Mekong năm 1995 sau 30 năm

  

Phạm Phan Long, P.E.

Tháng Hai 2026

Giới thiệu: Ba mươi năm Thịnh vượng trong hiểm họa

Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của sông Lạn Thương, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.

Nói chuyện Ăn trong Đời sống, Tâm thức, và Ngôn ngữ Việt

 Bùi Vĩnh Phúc

Tranh của Bùi Xuân Phái (1920-1988)

.1.

Ăn uống, nói chung, là chuyện bình thường. Ta nhớ trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều viết “… Máy huyền vi mở đóng khôn lường! / Vẻ chi ăn uống sự thường / Cũng còn tiền định khá thương lọ là…” Như thế, ăn là một chuyện bình thường, như việc đi đứng, nói năng, hít thở. Nó là chuyện sống. Cho dù trong cuộc sống ấy, đôi khi ta vẫn được nhắc bảo là “Ăn để sống chứ không phải sống để ăn”. Cả Đông và Tây đều có những cái nhìn sâu sắc và ý nghĩa khi nói đến chuyện ăn uống này. Khái niệm “ăn” không chỉ nói đến hành động sinh tồn mà còn là một hiện tượng văn hóa, triết học và xã hội sâu sắc. Cách nhìn nhận về việc ăn uống khác biệt rõ rệt giữa phương Đông và phương Tây, phản ánh những giá trị cơ bản, cốt lõi của mỗi nền văn minh.

Dương Thu Hương: Mĩ học của sự không thỏa hiệp

 Tino Cao


Bài viết này tôi xin được kính tặng nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một trong số rất ít nhà báo có cơ hội trực tiếp chuyện trò cùng nhà văn Dương Thu Hương và đón nhận từ bà những chia sẻ hiếm hoi, chân thành về hành trình sáng tác và những khúc quanh nhiều thử thách trong đời viết văn của bà. Trong khi Dương Thu Hương luôn giữ sự tiết chế trước báo chí và công luận, gần như dè sẻn từng lời phát biểu, thì văn chương của bà lại dấn thân với một sức mạnh hiếm thấy, trở thành một trong những tiếng nói quyết liệt nhất cho tự do tư tưởng và phẩm giá con người. Vì vậy, bài viết này không chỉ là một thử nghiệm suy tư của tôi về văn chương của bà mà còn là lời tri ân dành cho cuộc đối thoại đã trao cho tôi một nguồn cảm hứng sâu sắc, nơi một người làm báo với hơn nửa thế kỉ trong nghề luôn biết lắng nghe để mang đến những phát hiện sắc sảo, và một nhà văn với gần năm thập niên cầm bút chọn để tác phẩm của mình phát ngôn thay cho những tuyên bố trực tiếp.


Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn Đinh Quang Anh Thái