Danh Ngôn

Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu đục; nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy.

Nguyễn Trường Tộ Thiên hạ đại thế luận

 

“...Xin có lời khuyên với đồng bào chỉ nên trông cậy ở chính mình, chớ vọng ngoại vì vọng ngoại ắt là chết. Hãy coi trọng nền hòa bình của đất nước nếu chúng ta không muốn mua lấy cái chết. Những sự giải thoát của chúng ta là nằm chủ yếu trong sự học hành, mở mang trí tuệ

Phan Châu Trinh – “Hiện trạng vấn đề”, Đại Việt tân báo, 1907

 

Quanh năm châu, có nước nào thần phục người ta mà được người ta yêu thương không? - Không có. Có nước nào thấy nước khác thần phục mình mà rủ lòng thương yêu đến không? - Cũng không có. Hai ý đó lấy chứng cớ ở đâu? Xin lấy chứng cớ ở nước Việt Nam ta”.

Phan Bội Châu, Việt Nam quốc sử khảo. (Chương 9, Tiết thứ ba: Thần phục Bắc triều mà không giúp được gì cho nước), Chương Thâu dịch và chú thích. Hà Nội: Giáo dục, 1961, tr. 144-145

 

Những điều nhân dân cho là phải, Chính phủ không thể không làm; những điều nhân dân cho là trái, Chính phủ không được làm [...] Nhân dân có nghĩa vụ giám đốc Chính phủ. Nhân dân mà làm tròn nghĩa vụ mình thì Chính phủ không dám làm sai; Chính phủ có nghĩa vụ bảo vệ nhân dân […] Chính phủ tức là chỉ đại biểu cho cả nước mà thôi

Phan Bội Châu, Việt Nam quốc sử khảo. Chương Thâu dịch và chú thích. Hà Nội: Giáo dục, 1961, tr. 72

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Nguyễn Duy – nhà thơ hiện đại Việt Nam (Thực hành phân tích diễn ngôn văn học) (kỳ 8)

NGUYỄN DUY, NHÀ THƠ DU/RU CA

Thay lời bạt

Đỗ Lai Thúy

Là ta, ta hát những lời của ta

Nguyễn Duy

Cuối những năm 1980, tôi tập viết cho mục “đến với những bài thơ hay” của báo Người Hà Nội Văn Nghệ. Trong số đó, có hai bài tôi ưng nhất là Lại về tỉnh nhỏ của Yến Lan, và đặc biệt là Đò Lèn và sự giải cổ tích hóa trong thơ Nguyễn Duy. Hôm tôi đến Văn Nghệ lấy báo biếu, nhà thơ Trần Ninh Hồ, trưởng ban thơ, bảo: Tôi đã cứu cho ông một bàn thua trông thấy! Nhìn khuôn mặt nghệt của tôi, anh giải thích: đó là tôi đã bỏ đi chữ hóa trong cụm từ cổ tích hóa của ông. Tôi kêu lên, ông Hồ ơi, ông Hồ ơi, ông giết tôi rồi. Các thời đại sau - cổ tích thì không còn cổ tích nữa, chỉ có sự cổ tích hóa mà thôi. Bà ngoại Nguyễn Duy trong bài Đò Lèn, bằng thân phận cực nhọc, bi đát của mình đã giải những cái mà người ta muốn cổ tích hóa, thần thoại hóa nó.

Trời đêm có lối ra thương tích (Night Sky with Exit Wounds)

Ocean Vuong

Ngu Yên tuyển, dịch và giới thiệu

 

clip_image002

Ocean Vuong

Tên thật: Vương Quốc Minh, sinh năm 1988, thi sĩ Việt Nam. Viết truyện và tiểu luận.

Sinh quán tại TP Hồ Chí Minh, Việt Nam. Vượt biên theo gia đình lúc hai tuổi, đến trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân. Đến Hoa Kỳ, định cư tại Hartford, Connecticut.

Tốt nghiệp cử nhân văn chương tại Brooklyn College University of New York. Tốt nghiệp M.F.A. tại New York University.

Thơ của Vuong xuất hiện trên hầu hết những tạp chí văn chương nổi tiếng tại Hoa Kỳ, như: The Nation, TriQuarterly, Guernica, The Rumpus, Boston Review, Narrative Magazine, The New Republic, The New Yorker, và The New York Times.

Quê nhà trong thế giới – Hồi ký của người được giải Nobel Amartya Sen (kỳ 7)

Nguyễn Quang A dịch

6. Sự hiện diện của quá khứ

1

Tôi học ở Santiniketan trong mười năm, từ 1941, khi tôi đến từ trường St Gregory’s, cho đến 1951, khi tôi chuyển sang Presidency College ở Calcutta. Môn yêu thích nhất của tôi tại Santiniketan là toán học và tiếng Sanskrit. Trong hai năm cuối ở trường, tôi chuyên về khoa học, nhất là vật lý và toán học, mà tôi chuẩn bị để học ở Presidency College. Là không hiếm để bị toán học quyến rũ, nhưng là một fan của Sanskrit ở trường là bất bình thường hơn. Tôi đã rất say mê về sự phức tạp của ngôn ngữ đó, và trong nhiều năm Sanskrit đã gần thành ngôn ngữ thứ hai của tôi sau tiếng Bengali, một phần bởi vì sự tiến bộ của tôi về tiếng Anh đã rất chậm. Tại trường St Gregory’s ở Dhaka tôi đã kháng cự giáo dục nói chung, nhưng đặc biệt tiếng Anh, và khi tôi chuyển sang Santiniketan phương tiện giảng dạy đã là tiếng Bengali rất vững chắc. Tiếng Anh, ngôn ngữ của Raj bằng cách nào đó đã bỏ qua tôi – ít nhất trong nhiều năm.

Hoàng Xuân Hãn và các vì vua triều Nguyễn

Lê Học Lãnh Vân

Bác Hãn quen biết cá nhân và từng làm việc với vua Bảo Đại. Bác cũng nhận xét về các vị vua Khải Định, Tự Đức. Có những nhận xét của bác năm 1989-1990 khác với nhận xét của chính bác trước kia. Đây chỉ là suy nghĩ của bác do trải nghiệm cuộc sống thực, do đọc sách chứ không phải là nghiên cứu lịch sử. Bác nghĩ các nhà sử học về sau sẽ có những nghiên cứu thêm…

Bài viết này ghi chép lời kể của bác Hãn.

In retrospect: Nguyễn Văn Trung nhìn lại một hành trình trí thức lận đận

Ngô Thế Vinh

“… những cố gắng suy nghĩ của một người vẫn ước muốn tự đặt cho mình một kỷ luật đồng thời cũng là một lý tưởng là phải tìm kiếm không ngừng, bằng cách tự phủ nhận, bất mãn với quãng đường mình vừa qua và cứ như thế mãi mãi…” [Cùng bạn độc giả, Lược Khảo Văn Học I] [1] Nguyễn Văn Trung

image

Hình 1: Trái, Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1969; phải, Nguyễn Văn Trung 50 năm sau, Montréal tháng 8/2019.

[Nguồn: trái, album gia đình Nguyễn Quốc Linh, phải, photo by Phan Nguyên]

Nguyễn Duy – nhà thơ hiện đại Việt Nam (Thực hành phân tích diễn ngôn văn học) (kỳ 7)

Lã Nguyên

IV. Bốn mô thức tu từ

Mọi loại hình văn học, - từ cổ đại, trung đại, đến hiện đại,- lấy truyền thuyết làm chiến lược diễn ngôn đều phải dựa vào một tự sự mà người kể và người nghe, người viết và người đọc cùng biết rõ như nhau. Cứ đọc lại Iliad Odyssey của Homer ta sẽ nhận ra điều đó. Trong những pho sử thi ấy, Homer không sáng tạo truyện kể mới. Ông chỉ thuật lại thật hay, ca lại thật réo rắt những câu chuyện đã có sẵn trong kí ức cộng đồng. Phải dựa vào một tự sự như thế, truyền thuyết mới tạo ra được nguyên tắc đồng thuận, đồng ca cho chiến lược diễn ngôn truyền thụ tri thức. Nhìn từ góc độ ấy, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa thuộc loại hình văn học từ chương[1]. Thơ Tố Hữu không phải là trường hợp ngoại lệ. Khảo sát sáng tác của ông, tôi nhận ra bốn mô thức tu từ phổ quát của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa: Thệ, Hịch, Ca thi Đại cáo. Tôi dùng khái niệm “mô thức tu từ” để chỉ các thể loại diễn ngôn đã hoàn bị, bộ xương cấu trúc của nó đã đông chắc, đã hóa thành “hình thức thế giới quan” (thuật ngữ của G.D. Gachev), hay “hình thức quan niệm” (thuật ngữ của Trần Đình Sử). Chúng được văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sử dụng như một công thức diễn ngôn nhằm biến thi pháp sáng tạo thành thi pháp của cái truyền thống, điển phạm, qua đó, làm cho phát ngôn của nó thực sự thành một quyền lực. Trong khuôn khổ của tiểu luận này, tôi chỉ có thể nhận xét sơ bộ về đặc điểm của từng mô thức nói trên qua các bình diện: Hệ chủ đề, vai phát ngôngiọng điệu như là biểu hiện của phong cách lời nói.

1. Thệ. Là “thề”, cũng có thể gọi là “diễn ngôn hứa hẹn”. Thơ Tố Hữu là một lời thề lớn. Từ ấy của ông thực sự là tập thơ thề. Các bài Từ ấy, Như những con tàu, Giờ quyết định, Quyết hi sinh, Con cá chột nưa, Tâm tư trong tù, Trăng trối… đều là những bài thơ thề trong tập thơ này. Việt Bắc trong tập Việt Bắc, hay Theo chân Bác thuộc loại thơ thề trường thiên. Có thể kể ra vô số bài thơ của Tố Hữu được viết theo các mô thức tu từ khác, nhưng chen vào đó vẫn có những câu thề. Chẳng hạn, Sáng tháng năm là bài lãnh tụ ca (ca thi), nhưng hai câu sau đây chắc chắn là thơ thề:

Chúng con chiến đấu hi sinh

Tấm lòng son sắt đinh ninh lời thề

Hoặc Ta đi tới, xét về thể loại, nó nửa như ca thi, nửa như đại cáo, nhưng ở giữa lại có mấy câu:

Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân

Dù ai rào dậu ngăn sân

Lòng đa vẫn giữ là dân Cụ Hồ

Cho nên, thệ thực sự là mô thức tu từ quan trọng của thơ Tố Hữu. Ta nhận ra “thệ” là mô thức tu từ trong thơ Tố Hữu, vì ở đây chủ đề của nó đã được gói vào khuôn mẫu. Mọi lời thề trong sáng tác của ông chỉ xoay quanh một nội dung cốt lõi:“Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa”. Khái niệm “chủ nghĩa” này có nội hàm không thay đổi.  Nó là “Mác – Lênin”, là “mặt trời chân lí”: “Mặt trời chân lí chói qua tim”. “Mác – Lênin, vĩnh viến mặt trời”. Trong bài Ngẫu hứng viết năm 1984, Tố Hữu mời gọi:

Hãy hô một tiếng vang trời đất

Muôn năm, muôn năm Mác - Lênin!

Hiện thân của “Mác – Lênin” là “Đảng chói lọi Hồ Chí Minh vĩ đại”. Cho nên, “Dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” trước hết là lời thề trung thành tuyệt đối với Bác, với Đảng: “Bác bảo đi là đi”. “Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi. Vững như muôn ngọn giải Trường Sơn”. “Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng <…> Vững lòng quyết sống, không rời Đảng ta <…> Cắn răng thà chết, không xa Đảng mình”. Nhờ có “Đảng chói lọi, Hồ Chí Minh vĩ đại” mà “Trăm năm mất nước mất nhà. Hôm nay mới cất lời ca tiếng cười. Ta đã đứng nên người độc lập. Cao bằng người, nào thấp thua ai?”. Cho nên, lời thề “tôn thờ chủ nghĩa” còn là lời thề ơn nghĩa, “ơn Đảng”,  “ơn Bác”: “Lòng ta ơn Bác đời đời <…> Còn đây ơn Bác nối dòng dài lâu <…> Đời đời ơn Bác càng sâu càng nồng”.

Chủ thể của lời thề được qui phạm hóa. Trong thơ Tố Hữu, nó xuất hiện ở những “ngôi” giao tiếp khác nhau. Nó có thể là “Tôi”: Tôi buộc lòng tôi…  <…> Tôi đã là con…”. “Tôi chưa chết, nghĩa là…”.  Nó cũng có thể là “Ta”, “Chúng ta”:  Ta bước tới.... Chúng ta, con một cha…”. Trong bài Việt Bắc, nó là “Ta”, mà cũng là “Mình”: “Ta với mình, mình với ta”. “- Lòng ta ơn Bác…” … Có điều không nên quên, trên bức tranh thế giới “phân vai tượng đài”, dẫu phân thân vào “Mình” hay “Ta”, vào “Tôi” hay “Chúng ta”, thì vai phát ngôn của lời thề bao giờ cũng được trao cho “con”, “chúng con”. Nó là tiếng nói của “chiến sĩ đồng bào” trước Đảng và lãnh tụ:

Chúng con chiến đấu hi sinh

Tấm lòng son sắt đinh ninh lời thề

Hoặc:

Chúng con tin: Bác vẫn đi về

Nghìn năm xin trọn lời thề nước non!

Cuối cùng, trong thơ Tố Hữu, giọng điệu của lời thề luôn luôn được phong cách hóa. Hai cung bậc chủ đạo của nó là sục sôi nhiệt huyếtcung kính chân thành. Ta biết, hạt nhân ngữ nghĩa của “thề” là “hứa”. Nó chỉ khác “hứa” ở một điểm cốt lõi: thề là một nghi lễ. Nghi lễ này không thể thiếu hai nghi thức. Thứ nhất, “thề” phải thể hiện quyết tâm thực hiện lời “hứa” bằng cách viện ra những gì quí giá nhất mà nó chấp nhận hi sinh để đảm bảo “hứa” không thành “hão”. Chẳng hạn, lời thề “tiêu thổ kháng chiến”:

Bàn tay đã nắm lời thề

Ra đi quyết phá, ngày về sẽ xây

Không chỉ thế, người chiến sĩ của Tố Hữu còn “hứa” sẵn sàng hi sinh sự sống cho lí tưởng cách mạng:

Sống đã vì cách mạng, anh em ta

Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà

Tinh thần sẵn sàng hi sinh sự sống, nguyện “dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa” ấy thường được thơ Tố Hữu thể hiện qua thủ pháp điệp cú pháp, ví như:

- Chúng ta đã quyết thì làm

Đã đi phải đến hoàn toàn thành công

- Đời cách mạng, từ khi tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Là gươm kề tận cổ, súng kề tai

Là thân sống chỉ coi còn một nửa

- Với cách mạng tôi không hề đùa bỡn

không hề dám chối một nguy nan

- Tôi sẽ chết bình yên không hối hận

Tôi sẽ chết như bao nhiêu số phận

Tôi sẽ chết tuy chưa về đến đích

- Tôi chưa chết nghĩa là chưa hết hận

Nghĩa là chưa hết nhục của muôn đời

Nghĩa là còn tranh đấu mãi không thôi

Còn trừ diệt cả mộ loài thú độc

Điệp cú pháp là một trong những thủ pháp tạo nên giọng nhiệt huyết của lời thề. Thứ hai, khi thề, bao giờ người ta cũng phải viện tới một sức mạnh siêu cá thể làm “trọng tài” giám sát. Người xưa thường thề nguyền giữa khói hương nghi ngút tế cáo trời đất, với sự chứng giám của “Hoàng Thiên, Hậu Thổ”, “quỉ thần hai vai”. Ở đây, sức mạnh siêu cá thể này là những đấng siêu nhiên.  Trong thơ Tố Hữu, lời thề của “con”,  “chúng con” cũng cất lên trước sự chứng giám của một sức mạnh siêu cá thể. Nhưng người cộng sản quả quyết: “Trời không có thiên thần. Đất không có thánh nhân”. Cho nên, sức mạnh chứng giám lời thề trong thơ Tố Hữu không phải là thánh thần, mà là những con người đã hóa thành thần thánh. Tố Hữu gọi đó là “đôi mắt thần - chủ nghĩa”:

Từ khi chân dấn bước

Trên con đường đấu tranh

Tôi sẵn có trong mình

Đôi mắt thần - chủ nghĩa

“Mắt thần - chủ nghĩa” là “mắt Mác – Lênin”, “mắt Đảng”: “Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt”. “Cuộc sống lớn có đôi mắt Đảng/ Mỗi bước đi gần nâng ước mơ xa”. “Đôi mắt Đảng” soi xét mọi hành vi, chứng giám các lời “thề”. Ta hiểu vì sao, hình tượng Đảng và lãnh tụ bao giờ cũng được Tố Hữu mô tả bằng thủ pháp khoa trương, kì vĩ hóa, tạo thành khu vực gián cách giữa sức mạnh thiêng liêng với thế giới phàm tục:

- Đảng ta đó, trăm tay nghìn mắt

Đảng ta đây, xương sắt da đông

Đảng ta muôn vạn công nông

Đảng ta muôn vạn tấm lòng, niềm tin

- Người đứng trên đài, lặng phút giây

Trông đàn con đó, vẫy hai tay

Cao cao vầng trán… Ngời đôi mắt…

- Bác ngồi đó, lớn mênh mông

Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non

Được đặt vào khu vực gián cách tuyệt đối ấy, lời thề trong thơ Tố Hữu lúc nào cũng cất lên bằng giọng điệu cung kính, chân thành.

2. Hịch. Là lời kêu gọi chiến đấu. Nó là diễn ngôn hiệu triệu. Thơ Tố Hữu về cơ bản là thơ tuyên truyền, kêu gọi. Từ ấy không chỉ là lời thề tâm huyết, mà còn là lời kêu gọi thanh niên đứng lên phá gông xiềng của chế độ tù ngục thực dân - phong kiến. Việt Bắc, Ra trận là lời kêu gọi giết giặc lập công, thống nhất đất nước. Gió lộng là lời kêu gọi chinh phục thiên nhiên, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với Tố Hữu, cứu nước, hay xây dựng chủ nghĩa xã hội đều là làm Cách mạng. Đường Cách mạng là “đường thiên lí”. Ở tuổi hai mươi, nhà thơ kêu gọi thanh niên “Dậy mà đi”, “Đi, bạn đời ơi, đi! Cả cuộc đời”. Ngoài thất thập (1992), ông vẫn không thôi cất lên tiếng thơ mời gọi “lên đường”, “đi tới”:

Ta đi tới, quyết không lùi bước

Cho đến ngày cạn sức, tàn hơi

Xét cho đến cùng, bài nào của Tố Hữu cũng đều là tiếng gọi lên đường, là lời hiệu triệu đấu tranh, là tiếng kèn xung trận. Cho nên, có thể nói, “hịch” là mô thức tu từ cốt lõi, có vai trò trọng yếu trong thơ Tố Hữu. Đó cũng chính là hình thức diễn ngôn làm lộ rõ các khuôn mẫu từ chương trong sáng tác của ông.

Hịch văn, từ Dụ chư tì tướng (cuối thế kỉ XIII) của Trần Quốc Tuấn, cho tới Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bao giờ cũng sử dụng một kiểu kết cấu, nhắm vào một chủ đề bất di bất dịch. Đó là kiểu kết cấu chia văn bản thành hai phần. Ngoài nội dung kêu gọi, hiệu triệu, phần quan trọng nhất của hịch văn là vạch tội kẻ thù. Có thể gọi “hịch văn” là văn kể tội. Tôi cho rằng, ở Việt Nam, không một nhà thơ nào có tài kể tội giặc như Tố Hữu. Phải vạch ra những tội ác “trời không dung, đất không tha” của kẻ thù và nỗi thống khổ khôn cùng của Tổ quốc, của nhân dân để chuẩn bị cho lời hiệu triệu tiêu diệt chúng. Lấy bài Hầm người trong Từ ấy, hay Bắn trong Việt Bắc  làm thí dụ. Hầm người có 7 khổ, sau khổ mở đầu, 4 khổ tiếp theo chỉ tập trung vẽ ra hình ảnh ngột ngạt của một xã hội ngục tù:

Nơi rộng mênh mông không giới hạn

Cơ chừng xây trải mấy muôn năm

<…>

Ngổn ngang xương lạnh đầy ao huyết

Giữa lúc tầng cao, dội tiếng người

Bốn khổ thơ vạch tội này truyền cho người đọc tâm trạng “uất nặng”“khí hận rung hầm lặng” để chuẩn bị cất lên lời hiệu triệu:

Này phá, dô ta! Này ta phá

Dô ta! Cho mở cửa hầm sâu

Bài Bắn cũng vậy, tất cả có 5 khổ, khổ cuối là lời kêu gọi, ba khổ giữa tố cáo tội ác của kẻ thù với hình ảnh man rợ:

Bao đồng chí của ta bay giết

Chặt đầu cắm cọc phơi khô

Chị em ta bay căng thịt lõa lồ

Con em ta, bay quăng thân vào lửa

Lúa ngô ta bay cướp về cho ngựa

Xóm làng ta bay đốt cháy tan hoang

Hầu hết các bài thơ trong Từ ấy có kết cấu hai phần như thế. Nhiều bài thơ trong Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận cũng có kết cấu như vậy. Lối kết cấu hai phần, trước: vạch tội, sau: kêu gọi, còn được sử dụng rộng rãi ở nhiều đoạn, nhiều khổ trong các bài thơ trường thiên của Tố Hữu, như Ba mươi năm đời ta có Đảng, Trên đường thiên lí, Theo chân Bác

Cũng như “Thệ”, “Hịch” bao giờ cũng là tiếng nói cất lên trong không gian “tôn ti”. Chẳng hạn, trong Từ ấy, chủ thể phát ngôn của những lời hiệu triệu được trao vào vai người chiến sĩ đại giác ngộ. Người đại giác ngộ là người sở đắc chân lí. Đối tượng lắng nghe lời hiệu triệu của người sở đắc chân lí là những vú em, lão đầy tớ, đứa bé đi ở, cô gái giang hồ, những “trai quí, gái yêu” còn “Bâng khuâng đứng trước đôi dòng nước”, hoặc cả “Một khối người <…> Đang mải cuốc cày, cưa, kéo, đẩy/ Như nhau, không biết một ngày vui”…Trong Bài ca mùa xuân năm 1961, cả nước lắng nghe lời hiệu triệu của Bác Hồ: “Nào đi tới! Bác Hồ ta nói”. Lời Bác Hồ là “lời non nước”. Tiếng nói của Bác là “Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau”. Ta hiểu vì sao, trong Bài ca xuân 68, lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vang lên như vậy:

Tiến lên!

                           Toàn thắng ắt về ta!

Hệt như hịch văn, mọi lời hiệu triệu trong thơ Tố Hữu đều là lời của Cha già dân tộc nói với “chúng con”, lời của đất nước non sông, của lãnh tụ nói với “chiến sĩ đồng bào”. Nó là tiếng nói cất lên từ trên cao truyền xuống phía dưới, vang xa muôn phương:

Chào 61! Đỉnh cao muôn trượng .

Ta đứng đây, mắt nhìn bốn hướng

Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau

Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu

Với ý nghĩa như thế, “hịch” trong thơ Tố Hữu thực sự là lời nói phong cách hóa. Trong Thi pháp thơ Tố Hữu, đặt sáng tác của tác giả này vào bối cảnh thi ca trước 1945, Trần Đình Sử đưa ra nhận xét quan trọng: “Tố Hữu đã tạo ra một giọng thơ quyền uy duy nhất hấp dẫn lúc ấy…”[2]. Tôi cho rằng, “giọng thơ quyền uy” này chính là điệu giọng hịch văn như một phong cách lời nói trong sáng tác của nhà thơ. Từ trong bản chất, nó là giọng “độc thoại” được phong cách hóa với tham vọng vắt kiệt nghĩa đối tượng bằng một phát ngôn duy nhất.

Trong thơ Tố Hữu, giọng hịch văn đầy “quyền uy” thể hiện ngay ở cặp đại từ nhân xưng của ngôn ngữ nhà binh được sử dụng để chỉ quan hệ “địch – ta”: “Bay – Choa” (Choa đói choa rét, bay thù chi choa”. “Bay coi Tây – Nhật là cha”), “Chúng ta - Chúng nó, Chúng bay (Chúng nó là vật, ta đây là người”. “Chúng bay chui xuống đất. Chúng bay chạy đường trời”).  Giọng quyền uy được tăng cường bởi những cặp hình ảnh tượng trưng làm nổi bật sự đối lập gay gắt giữa “Chúng ta” với “Chúng nó”. Mỗi “chúng ta” là một “ngôi sao” (“Mỗi con người nhấp nhánh một ngôi sao”), ai cũng là “thiên thần” ( “Như thiên thần bay giữa trăng sao” ). “Chúng nó” là thú dữ, như “hổ”, “rắn” (“Cũng loài hổ báo ruồi xanh”. “Như hổ mang chực bắt được mồi”), hoặc súc vật bẩn thỉu, như “dê”, “chó”, “mèo” (“Lũ chúng nó rầm rầm rộ rộ. Mắt mèo hoang mũi chó, râu ). Xã hội “ta” là “Thiên đường” (“Miền Bắc, thiên đường của các con tôi”). Xã hội của “chúng nó” là “hố thẳm không cùng” (“…Biết bao thân tù hãm. Đọa đầy trong những hố thẳm không cùng), là “hầm người” (“Nơi rộng mênh mông không giới hạn <…> Nhô nhúc - trời ơi! Một khối người”) , là “lò sát sinh” (“Ôi nhân loại! Địa cầu cháy bỏng. Lò sát sinh ngập máu xương rơi. Lũ đế quốc như bầy quỉ sống. Nướng người ăn nhảy nhót reo cười”). “Ta nay” là “hoa” (“Ta làm sen thơm ngát giữa đầm”), là “ban ngày” (“Nay thêm sông biển, lại thêm ban ngày), là “vui và ánh sáng” (“Ngày mai đây tất cả sẽ là chung. Tất cả sẽ là vui và ánh sáng”). “Xưa”, dưới ánh thống trị của “chúng”, tất cả chỉ là “máu” (“Sân đình máu chảy…”. “Lò sát sinh ngập máu xương rơi” ), là “đêm”, là  “bóng tối” (“Ôi những đêm xưa, tối mịt mùng”. “Cảnh cơ hàn, trời đất tối tăm”, “Lần đêm bước <…> Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi” ).

Giọng “quyền uy” của phong cách hịch văn được cất cao trong thơ Tố Hữu bởi những lời kêu gọi hành động đáp trả quyết liệt tội ác man rợ của kẻ thù theo nguyên tắc: “Máu kêu trả máu, đầu van trả đầu”. Giặc “đốt nhà”, “giết người”, “cướp nước ta, cắt cổ dân ta”, thì “ta”:

Cầm dao, cầm súng xông ra phen này!

Đánh cho giặc Nhật tan thây.

Vằm cho nát mặt cả bầy Việt gian.

Diệt trừ phát xít Việt gian

Hoặc:

Ơi các anh xung kích dưới cỏ âm thầm.

Hãy sẵn sàng tay mác nhảy lên đâm.

Giết, bắt sống, không mống nào được thoát!

Anh đại bác gầm lên trong tiếng hát

Cuối cùng, giọng hịch văn đầy “quyền uy” thể hiện rõ nhất qua hệ thống nhan đề tác phẩm, qua lớp từ và câu mệnh lệnh thức được sử dụng dầy đặc trong thơ Tố Hữu. Một loạt bài thơ của ông có nhan đề được đặt bằng các từ, hoặc các mệnh đề mệnh lệnh: Đi đi em, Liên hiệp lại. Giờ quyết định, Dậy lên thanh niên, Tranh đấu, Quyết hi sinh, Dậy mà đi, Đi, Giết giặc, Hãy đứng dậy  (Từ ấy), Bắn, (Việt Bắc) … Hai chữ “ra trận” giống như một mệnh lệnh được Tố Hữu sử dụng đặt tên cho cả một tập thơ, tập: Ra trận. Có thể tìm thấy nhiều hô ngữ hàm ý kêu gọi, hiệu triệu, như “hỡi”, “ơi”, trong vô số câu thơ của Tố Hữu: “Thi sĩ hỡi”. “Hỡi những tù nhân …!”. “Bạn đường ơi” “Kiêu hãnh chút, bạn đời ơi!”. “Hỡi người bạn! Vui lên đi! Ất Dậu”.“Hỡi những con khôn của giống nòi”.“Hỡi tất cả những người đang sống’.“Ơi các anh xung kích”… Đặc biệt, thơ Tố Hữu đầy ắp những câu mệnh lệnh: “Đi đi em!”. “Đi, bạn ơi, đi! Biệt tháng ngày!”. “Nào đi tới!”. “Đi ta đi! Khai phá rừng hoang!”. “Này hãy nghe cả lâu đài xã hội. “Hãy cắt đứt những dây đàn ca hát”. “Hãy đứng dậy ta có quyền vui sống”. “Này phá, dô ta ! nào ta phá”. “Quyết chiến đấu nào ta liên hiệp lại!”. “Đứng lên đi, xây dựng cuộc đời chung”. “Tiến lên, quân giải phóng!”  “Tiến lên giành quyền sống”. “Hãy nhằm hướng phương đông mà tiến”. “Hãy nhớ lấy lời tôi”. “Anh chị em ơi! Hãy giương súng lên cao chào xuân 67”

Chính các cặp đại từ nhân xưng, những hình ảnh tượng trưng tương phản, các hô ngữ hàm ý kêu gọi, những câu mệnh lệnh thức được sử dụng trong thơ Tố Hữu đều là cấu trúc biểu nghĩa vốn có sẵn của hịch văn.  Những cấu trúc biểu nghĩa có sẵn này đã mang lại cho thơ ông giọng điệu đầy “quyền uy”, khi thì hào sảng, lúc quyết liệt, đanh thép. Nhưng nên nhớ, đây là đặc trưng của phong cách thể loại, chứ không phải là sản phẩm của ý thức sáng tạo cá nhân.

3. Ca thi. Khái niệm này có nội hàm tương đương với phạm trù “Tụng” trong mĩ học phương Đông, hoặc “Ode” của mĩ học phương Tây. Nó là thơ tán dương, ca ngợi. Tố Hữu bắt đầu viết ca thi từ năm 1946. Các bài Hồ chí Minh, Huế Tháng Tám, Vui bất tuyệt in trong Từ ấy là những tác phẩm ca thi đầu tiên của ông. So với Từ ấy, số lượng ca thi trong Việt Bắc nhiều hơn. Đêm xanh, Cá nước, Lên Tây Bắc, Sáng tháng năm, Ta đi tới, Việt Bắc… là những áng ca thi đặc sắc của thơ ca Cách mạng. Đặt nhan đề cho tập thơ được sáng tác sau ngày hòa bình lập lại là Gió lộng (1955 - 1961) với câu đề từ rút từ bài Mẹ Tơm: “Gió lộng đường khơi rộng đất trời!”, Tố Hữu đã hé lộ để người đọc nhìn thấy một thời đại ca thi thực sự đã được mở ra. Kể từ đây, cùng với “hịch”, ca thi trở thành mô thức tu từ chủ đạo trong sáng tác của ông.

Như đã nói, Tố Hữu làm thơ là để phục vụ và tuyên truyền Cách mạng. Thơ ông là thơ trữ tình chính tr[3]. Toàn bộ ca thi trong sáng tác của ông không vượt ra ngoài giới hạn của ba loại chính ca đã trở thành điển phạm: Đảng ca, Lãnh tụ caCách mạng ca.

Đảng ca là thơ ca ngợi Đảng. Hai bài thơ đầu tiên của Tố Hữu lên tiếng ca ngợi Đảng là Từ ấy (1938) và Con cá chột nưa (1940). Hồi ấy, có lẽ do hoàn cảnh hoạt động bí mật, nhà thơ chỉ nói tới “Mặt trời chân lí” (“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ. Mặt trời chân lí chói qua tim”) và “Đôi mắt thần: chủ nghĩa”(“Tôi sẵn có trong mình. Đôi mắt thần: chủ nghĩa”). Phải đến sau Cách mạng tháng Tám, ông mới hô vang giữa chiến khu Việt Bắc:

Không gì vinh bằng chiến đấu dưới cờ

Đảng chói lọi, Hồ Chí Minh vĩ đại!

Năm 1960, Tố Hữu viết trường ca Ba mươi năm đời ta có Đảng. Tác phẩm vừa là bản diễn ca Đảng sử, vừa là màn hợp xướng ngợi ca “Đảng chói lọi”. Từ đây, ông trở thành thi sĩ hàng đầu của dòng Đảng ca trên bầu trời văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thơ ông chuyển tải không mệt mỏi tới người đọc một đại tự sự: Đảng là trí tuệ, là văn minh, là người phát động phong trào, tổ chức nên mọi thắng lợi, cứu dân, cứu nước, biến giấc mơ ngàn đời của những kẻ nô lệ thành hiện thực:

Nghìn năm giấc mộng đêm ngày

Ba mươi năm Đảng, hôm nay có mình.

Lãnh tụ ca là thơ suy tôn lãnh tụ. Năm 1946, Tố Hữu viết bài Hồ Chí Minh và trở thành thi sĩ Việt Nam đầu tiên sáng tác Lãnh tụ ca. Năm 1952, ông viết Sáng tháng năm nổi tiếng. Năm 1969, Tố Hữu khóc Bác bằng bài Bác ơi, một năm sau, ông cho ra đời trường ca Theo chân Bác. Ngoài Hồ Chí Minh, Tố Hữu còn viết về Stalin (Bài ca tháng Mười, Đời đời nhớ ông), Lênin (Trước Kremlin, Với Lênin, Lều cỏ Lênin). Tôi tin, ở Việt Nam, cho đến nay, chưa một nhà văn hay nhà thơ nào viết về lãnh tụ có sức lay động lòng người mạnh mẽ như Tố Hữu. Có điều, chỉ cần đọc qua, ai cũng thấy, những vần thơ suy tôn lãnh tụ của ông không nói với ta điều gì mới mẻ ngoài những tri thức một thời ta đã được học, đã được biết, ví như, Bác Hồ là “tinh hoa của dân tộc”, là bậc “đại trí, đại nhân, đại dũng”, Bác vĩ đại, mà giản dị, suốt “một đời thanh bạch chẳng vàng son”, Người là “Ngọn đuốc thiêng <…> đi trước, nghìn sương muôn tuyết. Dắt dìu dân nước Việt Nam ta”. Nói như thế để thấy, không phải nội dung, mà chính là lớp tu từ đã tạo nên sức hấp dẫn cho những vần thơ suy tôn lãnh tụ của Tố Hữu.

Cách mạng ca là thơ ca tụng Cách mạng. Trong sáng tác của Tố Hữu, đây là bộ phận có khối lượng lớn nhất và nó thường dựa vào các tứ thơ được lặp đi lặp lại như những mô thức dễ nhận biết. Trước hết, phải kể tới một tứ lớn: “Biển sống trào lên thành đại hội”. Lần đầu nó được mở ra trong bài Vui bất tuyệt:

Biển sống trào lên thành đại hội

Muôn màu vũ trụ kết hoa đăng

Xôn xao mặt đất trăng là trăng

Chảy xiết Ngân hà, muôn sao vàng rực

Mặt trời đỏ huyền kì mọc lên, ôi náo nức

Nhạc trân gian cuồn cuộn bốc hồng trần!

Đây là tứ thơ lấy cảm hứng trực tiếp từ không khí của những ngày Tổng khởi nghĩa năm 1945 ở Huế và có nguồn cội từ luận điểm nổi tiếng của C. Mác: “Cách mạng là ngày hội của quần chúng”. Về sau, nó trở thành tứ thơ trung tâm, làm nên linh hồn của Cách mạng ca trong sáng tác của Tố Hữu. Về điểm này, có lẽ không cần nói gì thêm, vì trên kia tôi đã chứng minh: Tố Hữu không chỉ mô tả Cách mạng như ngày hội lớn của dân tộc, mà còn sử dụng ngôn ngữ hội hè để kiến tạo bức tranh thế giới, biến cả thế giới thành vũ hội Cách mạng.

Một tứ thơ khác: “Đời ta gương vỡ lại lành. Cây khô cây lại đâm cành nở hoa”. Đó là tứ thơ nói về sự hồi sinh của cả một dân tộc được Cách mạng cứu rỗi. Lần đầu tiên nó được thể hiện bằng cảm hứng sục sôi trong bài Huế tháng Tám:

Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gong xưa đã gẫy

Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!

Nhà thơ đã sáng tạo ra một ẩn dụ độc đáo để thể hiện sự hồi sinh: suốt bốn nghìn năm dân tộc chỉ còn là lồng “ngực lép”, nay được “cơn gió mạnh … thổi phồng lên”:

Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gẫy

Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh

Thổi phồng lên. Tim bỗng hóa mặt trời.

Cái tứ nói về một dân tộc nô lệ, một thế giới đã “chết”, nay được Cách mạng “hồi sinh”, vụt đứng lên thành người tự do, cao lớn sẽ còn lặp đi lặp lại hàng mấy mươi lần bằng những ẩn dụ và các hình ảnh tượng trưng khác nhau trong nhiều bài thơ của Tố Hữu, ví như: Ta đi tới (“Mẹ ơi lau nước mắt. Làng ta giặc chạy rồi. Tre làng ta lại mọc. Chuối làng ta xanh chồi”), Lại về (“Hà nội ơi, Hà nội! Cay đắng tám năm ròng. <…> Bây giờ đây lại là đây. Quốc kì đỉnh tháp, sao bay mặt hồ…”), Xưa…nay (“Xưa là rừng núi là đêm. Giờ thêm sông biển, lại thêm ban ngày”), Quê mẹ (“Huế không buồn nữa, Huế ta ơi. Nước mắt trăm năm đã hé cười”), Quang vinh Tổ Quốc chúng ta (“Khổ trăm năm, cực mấy nghìn năm <…> Ta đứng dậy hai tay giải phóng”), Ba mươi năm đời ta có Đảng (“Thở nô lệ dân ta mất nước <…> Ta đã đứng nên người độc lập. Cao bằng người nào thấp thua ai?”). Cái tứ này còn được Tố Hữu sử dụng để nói về sự hồi sinh của Ba Lan: “…Vác-sa-va ấm nắng ban trưa. Nét vàng lịch sử vừa tươi lại. Trong cuộc hồi sinh tạnh gió mưa” (Em ơi…Ba Lan), của Trung Quốc: “Trung Quốc đó. Sức thanh xuân bừng dậy/ Có phải chăng xưa nàng tiên nữ ấy/ Mấy nghìn năm đầy đọa tháp Lôi Phong/ Vươn mình lên rực rỡ dưới cờ hồng” (Đường sang nước bạn), của Liên Xô và cả nhân loại: “Thuở Anh chưa ra đời <….> Đêm ngàn năm man rợ <…> Từ khi Anh đứng dậy/ Trái đất bắt đầu cười...” (Bài ca tháng mười), “Những xác chết nằm không nhắm mắt <…> Đã sống lại làm người được sống/ Đã đứng lên vĩnh viễn là người” (Bay cao)… Có thể nói, đây là tứ thơ làm nên nội dung cốt lõi của Cách mạng ca trong sáng tác của Tố Hữu.

“Đời trẻ lại. Tất cả đều các mạng”. Có một thiên đường mặt đất ở quanh ta (“Miền Bắc thiên đường của các con tôi”). Đó là tứ thơ nổi lên trong Gió lộng. Nó ca tụng Cách mạng ở thời đại mới. Ở thiên đường này không còn đói nghèo (“Rũ sạch cô đơn, riêng lẻ, bần cùng”. “Hết khổ rồi, em nhỉ Hỉ Nhi ơi. Em mặc áo hoa, em đi hài ấm”), rất tự do, đầy hòa thanh hòa điệu (“Rất tự do nên tượi nhạc tươi vần”. “Người yêu người sống để yêu nhau” ), người hóa thành thiên thần (“Từ kiếp vượn hỗn mang nguyên thủy (…) Ta đứng trên trái đất làm người (…) Như thiên thần bay giữa trăng sao”), tương lai rộng mở, đời từ nay thế là có hướng đi: “Gió lộng đường khơi rộng đất trời”. Ra trận ngợi ca Cách mạng bằng một tứ thơ khác: “Lịch sử chọn ta làm điểm tựa”, “31 triệu nhân dân” ào ào “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, phơi phới một niềm tin “làm người lính đi đầu”.

Bàn về Cách mạng ca trong sáng tác của Tố Hữu, không thể không nhắc tới có một loạt bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của các loại tình cảm cách mạng, ví như tình “tiền tuyến hậu phương – quân dân cá nước” (Cá nước), tình son sắt thủy chung giữa miền xuôi và miền ngược, người kháng chiến với chiến khu cách mạng (Việt Bắc). Ông cũng có nhiều bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của quần chúng Cách mạng, như chú bé liên lạc (Lượm), anh bộ đội cụ Hồ thới kháng chiến chống Pháp (Giữa thành phố trụi), người chiến sĩ giải phóng quân thời chống Mĩ (Tiếng hát sang xuân), chị lao công (Tiếng chổi tre), hoặc các anh hùng liệt sĩ (Người con gái Việt Nam, Hãy nhớ lấy lời tôi). Nhưng có lẽ Tố Hữu thành công hơn cả trong việc dựng tượng đài cho các bà mẹ  Cách mạng Việt Nam, ví như Bà má Hậu Giang (Bà má Hậu Giang), bà bủ (Bà mẹ Việt bắc, Bà bủ), bà bầm (Bầm ơi), mẹ Suốt (Mẹ Suốt), mẹTơm (Mẹ Tơm) với nhiều hình ảnh giàu sức khơi gợi: “Nước non muôn quí ngàn yêu/ Còn in bóng má sớm chiều Hậu Giang”; “Bầm ra ruộng cấy bầm run/ Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non”; “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung/ Gió lay như sóng biển tung trắng bờ…”; “Buồng mẹ - buồng tim – giấu chúng con (…)/ Sống trong cát, chết vùi trong cát/ Những trái tim như ngọc sáng ngời” 

Trong “Ca thi” của Tố Hữu, đối tượng ca tụng là Đảng, Lãnh tụ và Cách mạng. Chủ thể phát ngôn ở đây chỉ có thể là “con”, “chúng con”, hoặc là “ta”, “chúng ta” hiểu theo nghĩa là “chiến sĩ đồng bào”: “Con nghe Bác tưởng như lời non nước. Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau”. “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta. Ta bỗng lớn ở bên người một chút”. “Ca thi” là tiếng nói hướng thượng. Giống như “Thệ” và “Hịch”, nó là tiếng nói của không gian “tôn ti”. Tuy nhiên, giữa chúng có một điểm khác biệt cơ bản.  “Thệ” và “Hịch”là những tiếng nói thể hiện xu hướng chính trị hóa văn nghệ.  Xu hướng thẩm mĩ hóa chính trị lại là đặc điểm quan trọng nhất của “Ca thi”. Nó sử dụng rộng rãi ngôn ngữ hình tượng để tác động vào trực cảm, trực giác. Ta hiểu vì sao “Ca thi” của Tố Hữu dồn mọi nỗ lực để kiến tạo hai loại hình tượng: hình tượng thị giáchình tượng thính giác.

Vẽ tranh là cách tốt nhất để tạo ra hình tượng thị giác. Nhà thơ mời gọi: “Anh hoạ sĩ làng Hồ, lại đây anh, mà vẽ”. Ông trầm trồ: “Nước non mình, đâu cũng đẹp như tranh”. Đọc “Ca thi” của ông ta như được tận mắt nhìn thấy một bức tranh với mấy nét vẽ cơ bản.

Nét thứ nhất: vẽ động thái của đối tượng ca ngợi bằng cặp động từ “đi”, “đi tới” “bay”, “bay lên”. Trong thơ Tố Hữu, ai cũng như đang “đi tới” (“Yêu biết mấy những con người đi tới), đôi tay hóa thành “hai cánh” (“Hai cánh tay như hai cánh bay lên), lòng người phấp phới “bay” (“Ta đi đây, lòng ta như bay), đất nước là “cỗ xe trăm mã lực khổng lồ” do “Bàn bàn tay thần diệu của Bác Hồ. Cầm chắc lái, bay trên đường vạn dặm, tất cả đều như đang “đi”, “đi tới”, “bay”, “bay lên”, “bay giữa trăng sao”. Về điểm này, tôi đã trình bày trong phần nói về “ngôn ngữ hội hè”, nên sẽ không bàn luận gì thêm.

Nét thứ hai: vẽ ra hình sắc của vũ trụ. Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nhận xét tinh tế về ngôn ngữ giàu hình ảnh và màu sắc trong thơ Tố Hữu. Ông phát hiện: “hình ảnh ngôn từ trong thơ Tố Hữu thể hiện một thế giới đang “bừng sáng, bốc cháy, nóng bỏng”. Tố Hữu “thích nói đến mặt trời chân lý, mặt trời lên, đỏ như sao hoả, sáng sao kim, chói lọi khối sao băng, cả địa cầu thành ngôi sao, muôn vạn vì sao dẫn đường”. Theo nhà nghiên cứu, Tố Hữu “thích dùng những hình ảnh nóng cháy - ngọn đuốc thiêng liêng, tim ta làm ngọn lửa…”, vì thế, “cả thế giới trong thơ Tố Hữu, ngoại trừ bọn phản động, tất cả đều phát sáng”[4].

Nét thứ ba: dùng các chi tiết ngoại hình “mặt”, “má”, “ngực”, “bàn chân”, “hai cánh tay” để vẽ ra một cơ thể cường tráng. Nó là cơ thể của “Cộng hòa ta nay tuổi mới mười ba”, của “Đất huy hoàng 25 tuổi trẻ”, của “các em”, “các anh”,các chị”, của “những người trai, những cô gái yêu”.  Tất cả đều trẻ trung “trẻ mãi không già”. Người già nua, tật nguyền không bao giờ xuất hiện trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng. Mẹ Suốt, hay “các cụ bạch đầu quân” trong thơ Tố Hữu đều “trẻ lại”, “thành cách mạng” để “Lớp cha trước, lớp con sau. Đã thành đồng chí chung câu quân hành”.  Ta hiểu vì sao, nhà thơ thường gắn cơ thể cường tráng của của “cộng hòa ta”, của “đất nước huy hoàng” với “xuân”, “mùa xuân”: xuân đất trời, xuân Tổ quốc và cả “xuân nhân loại”. Nổi bật trên cơ thể cường tráng kia là“mặt người rạng rỡ”, “Gương mặt người, ai cũng sáng long lanh”. Và trên gương mặt “rạng rỡ” ấy bao giờ cũng ửng lên đôi má “bồ quân” (“Ngơ ngác trông quanh lạ mấy lần. Hỏi thăm cô gái má bồ quân), “má hây hây” (“Hỡi em đi học, hây hây má tròn), “má hồng” (“Ga mới hồng đôi má. Cầu mới thơm mùi sơn”), “má đỏ dậy” (“… Có gì vui đấy. Hỡi em yêu? Mà má em đỏ dậy?” ), “má đỏ thắm” (“Em nói, em cười, má em đỏ thắm), “má hường” (Những sắc đẹp đã ửng hường đôi má. Cộng hòa ta nay tuổi mới mười ba”). Hấp dẫn nhất là các chi tiết nói về “lồng ngực” (Đường nở ngực. Những hàng dương liễu nhỏ”. “Giương ngực nở, đi đến bờ bến mới”. “Ngực dám đón những phong ba dữ dội”), “bàn chân”,  ( “Những bàn chân từ than bụi, lầy bùn (…) Những bàn chân của Hóc Môn, ba tơ, cao Lạng (…) Những bàn chân đã vùng dậy đạp đầu…”. “Chân đạp bùn không sợ các loài sên”…), “bắp chân”, “bước chân”,  “đôi vai” (“Bước trường chinh, bắp chân đã vững/ Gánh sơn hà vai cứng đảm đương”, “Bước chân ta vững như đồng như sắt”…). Chính những chi tiết như thế làm hiển hiện trước mắt người đọc một cơ thể trẻ trung, cường tráng, ngời ngời sắc xuân, hừng hực sức sống.

Hình tượng thị giác trong thơ Tố Hữu không chỉ là tranh vẽ, mà còn là tượng đài uy nghi, hoành tráng được khắc họa bằng ngôn ngữ khoa trương. Về điểm này, tôi cũng đã nói ở trên, nên không có gì phải bàn thêm.

Hình tượng thính giác cũng tác động mạnh mẽ tới trực giác, trực cảm. Cách tốt nhất để “Ca thi” tạo ra hình tượng thính giác là hô khẩu hiệu. Nhan đề nhiều bài thơ của Tố Hữu tự nó đã là một khẩu hiệu: Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Vinh quang Tổ quốc chúng ta!. Người đọc có thể nghe thấy các khẩu hiệu được nồng nhiệt hô vang trong nhiều tác phẩm của ông, ví như Huế tháng Tám (“Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam muôn năm”), Hồ Chí Minh (“Hồ Chí Minh. Người trẻ mãi không già!”), Sáng tháng Năm (“Việt Nam phải tự do. Thế giới phải hòa bình!”), Hoan hô chiến sĩ Điện Biên (“Hoan hô chiến sĩ Điện Biên!”.), Hai anh em ( “Giữ hòa bình, Tổ quốc chúng ta! …Ngàn năm Triều – Việt một nhà!”), Chào xuân 67 (“Mác – Lênin, vĩnh viễn mặt trơi!”), Bài ca xuân 68 (“Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”), Theo chân Bác (“HỒ CHÍ MINH! HỒ CHÍ MINH!”)…

Dĩ nhiên, trong nghệ thuật, hiện thân của hình tượng thính giác là hình tượng âm nhạc. Cốt lõi cấu trúc của hình tượng âm nhạc là giọng điệu. Trong nghệ thuật ngôn từ, nền tảng của giọng điệu là ngữ điệu. Năm 1921, trong một công trình nghiên cứu nổi tiếng, dựa vào cú pháp giọng điệu, lấy ngữ điệu làm bản vị, B.M. Eikhenbaum đã chia câu thơ trữ tình Nga thành ba loại phong cách: điệu ca, điệu ngâm điệu nói [5]. “Ca thi” trong sáng tác của Tố Hữu chủ yếu thuộc điệu ngâmđiệu ca. Có thể nhận ra ba đặc điểm cốt yếu về tổ chức ngữ điệu của điệu ca trong “Ca thi” của Tố Hữu.

Thứ nhất: Câu cảm thán và câu nghi vấn tu từ với từ đánh dấu giọng. Nhiều bài thơ của Tố Hữu sử dụng dày đặc các câu cảm thán, câu chỉ định và câu nghi vấn tu từ hàm ý thán phục, ngưỡng mộ, tự hào với những từ đánh dấu giọng, như “ôi” (Ôi ta biết cảm ơn ai đã sáng tạo cái tên người dũng sĩ!”.“Ôi sức trẻ! Xưa trai phù Đổng”, “Ôi hạnh phúc! Ta yêu vô tận” ), “đó (“Lênin đó. Muôn triệu lần nảy nở (…) Lênin đó. Ngời ngời chân lí”. “Đời vui đó hôm nay mở cửa. Đời vui đó, tiếng ca đoàn kết”…), “biết bao” ( “Đẹp biết bao, cuộc chiến đấu anh hùng”), “sao” (“Đáng yêu sao, những mảnh đất bạc màu. (…) Nghe Đảng khuyên, bỗng thấy mình giàu”), “vì sao” ( Vì sao nhỉ, anh em ơi có lúc. Ta vẩn vơ mơ tưởng trên đường”), “có thấy” ( “Này các chị các anh, đi trên đường có thấy/ Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh?” ), “phải không” (Phải không vậy, Trong tay ta, tất cả?” ), “phải chăng” ( Phải chăng có những khúc đường nóng lạnh”). Quan trọng hơn, trong điệu ca, các từ đánh dấu giọng thường được đặt vào những vị trí xác định, ví như đầu câu, hoặt đầu mỗi nhịp thơ. Chẳng hạn:

Yêu biết mấy, những dòng sông bát ngát

Giữa đôi bờ dào dạt lúa ngô non

Yêu biết mấy, những con đường ca hát

Qua công trường mới dựng mái nhà son!

Yêu biết mấy, những bước đi dáng đứng(…)

Yêu biết mấy, những con người đi tới …

Hoặc:

Vì sao ngày một thanh tân?

Vì sao người lại mến thân hơn nhiều?

Vì sao cuộc sống ta yêu.

Mỗi giây, mỗi phút, sớm chiều thiết tha?”

Vì sao mỗi hạt mưa sa?...

Thứ hai: Hơi thơ liền mạch. Tố Hữu triệt để sử dụng sức mạnh của tất cả các loại gieo vần, vần lưng, vần chân, vần thông, vần gián cách, vần ngay trong nội bộ dòng thơ, gây ấn tượng không có sự ngưng giọng hay ngắt giọng, tạo ra hơi thơ liền mạch trong suốt toàn bài. Để bạn đọc hình dung, xin dẫn đoạn mở đầu bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên:

Tin về nửa đêm

Hỏa tốc hỏa tốc

Ngựa bay lên dốc

Đuốc chạy sáng rừng

Chuông reo tin mừng

Loa kêu từng cửa

Làng bản đỏ đèn, đỏ lửa

Một đoạn khác trong bài Ta đi tới:

Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! 
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca...

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu phân tích kĩ tổ chức vần điệu và hơi thơ liền mạch trong sáng tác của Tố Hữu, nên tôi thấy không cần nói gì thêm về đặc điểm này.

Thứ ba: Điệu giọng réo rắt. Như đã nói, Tố Hữu bắt đầu viết “Ca thi” từ các bài Hồ Chí Minh, Huế tháng Tám, Vui bất tuyệt trong tập Từ ấy. Đem so sánh cú pháp giọng điệu trong Từ ấy với Việt Bắc và các tập thơ về sau của ông, ta thấy có sự khác biệt hết sức cơ bản. Từ ấy có 34 bài thơ viết theo thể 8 tiếng, 18 bài thất ngôn, 9 bài ngũ ngôn, 11 bài lục bát và song thất lục bát. Như vậy ở đây, câu thơ 8 tiếng là sự ưu tiên lựa chọn hàng đầu của Tố Hữu. Không cần phải thống kê chi tiết như thế, ai cũng có thể đoán được, từ Việt Bắc, đặc biệt là ở những tác phẩm quan trọng nhất của Tố Hữu, ưu tiên lựa chọn hàng đầu của ông chắc chắn sẽ là câu thơ lục bátsong thất lục bát. Ta biết, câu thơ 8 tiếng là hình thức câu thơ cơ bản của Thơ mới lãng mạn. Nó vốn là câu hát nói, viết theo lối cú pháp liên tục, làm thành câu thơ điệu nói hiện đại. Thơ thất ngôn và song thất lục bát là sản phẩm của thơ ca trung đại. Lục bát là thể thơ dân gian. Câu thơ thất ngôn được tổ chức theo nguyên tắc cú pháp song hành, tạo ra vẻ đẹp trang nghiêm. Trong sáng tác của Tố Hữu, ngay cả lục bát cũng cũng được viết bằng cú pháp song hành như vậy. Chẳng hạn, hầu hết các câu 8 tiếng trong bài Việt Bắc đều được chia thành hai vế đăng đối với nhau:

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ// những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối// mối thù nặng vai

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng// măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám //đậm đà lòng son

Mình về còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật// thuở còn Việt Minh

Nhưng về cơ bản, thơ lục bát được tổ chức theo qui tắc cú pháp trùng điệp hồi hoàn. Qui tắc này thể hiện ở cách gieo vần: vần lưng (chữ cuối của câu lục vần với chữ thứ 6, hoặc chữ thứ tư của câu bát) và vần chân (chữ cuối của câu bát vần với chữ cuối của câu lục ở cặp thơ tiếp theo).  Cú pháp hồi hoàn, trùng điệp là nền tảng của điệu ru. Cú pháp đăng đối, song hành là cơ sở của điệu ngâm. Xét từ phong cách giọng điệu, hành trình thơ của Tố Hữu bắt đầu từ điệu nói (Từ ấy), rồi chuyển qua điệu ngâmđiệu ru (Các tập Việp Bắc, Gió lộng, Ra trận. Máu và hoa). Điệu ngâm, điệu ru cùng với tổ chức vần điệu linh hoạt, đa dạng đã mang lại cho câu thơ của ông một giọng điệu cực kì réo rắt.

Có thể nói, Sáng tháng năm, Việt bắc, Ba mươi năm đời ta có Đảng, Bài ca mùa xuân năm 1961, Mẹ Suốt, Kính gửi cụ Nguyễn du, Theo chân Bác, Nước non ngàn dặm là những bản Lãnh tụ ca, Đảng ca Cách mạng ca thuộc loại réo rắt nhất trong lịch sử thi ca hiện thực xã hôi chủ nghĩa.

4. Đại cáo. Tôi dùng khái niệm này trước hết để chỉ những tác phẩm ví như Huế tháng tám, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Ta đi tới, Ba mươi năm đời ta có Đảng, hay Nước non ngàn dặm. Đó là những tác phẩm được Tố Hữu viết ra để đánh dấu một sự kiện, kết thúc một giai đoạn lịch sử, công bố một thắng lợi. Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa nói chung, thơ Tố Hữu nói riêng, là văn học của thắng lợi. Cho nên, quá già nửa sáng tác của Tố Hữu mang dáng dấp, hơi hướm của “Đại cáo”. Xin đọc đoạn mở đầu bài Chào xuân 67:

Đất nước ta ơi 
Xin bắn hai mươi phát đại bác vang trời
Chào xuân 67!
Xuân của chúng ta
Nam Bắc hai miền chiến công lừng lẫy!
Báo cho anh em bè bạn gần xa
Tin vui của chiến trường chống Mỹ!                                 

Đó là phần mở đầu của một văn bản mang phong cách “Đại cáo”. Nó chẳng khác gì cái mở đầu của bài Ba mươi năm đời ta có Đảng :

Anh chị em ơi! 
Ba mươi năm đời ta có Đảng
Hôm nay ôn lại quãng đường dài...
Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay
Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm
Mùa xuân đó, con chim én mới
Rộn đồng chiêm, chấp chới trời xanh
Đời ta gương vỡ lại lành
Cây khô cây lại đâm cành nở hoa.                                   

Cho nên, “Đại cáo” cũng là một khuôn mẫu từ chương có vị trí quan trọng  trong sáng tác của Tố Hữu. Chủ thể phát ngôn của nó là “Ta”, “Chúng ta”. Nó nhân danh đất nước, Tổ quốc để nói với “Chúng con”, với “Chiến sĩ đồng bào”. Cũng như “Hịch”, tiếng nói của nó bao giờ cũng cất lên từ trên cao, vang xa giữa một không gian công cộng. Nền tảng cấu trúc của nó là một câu chuyện lịch sử. Trong Hoan hô chiến sĩ Điện Biên có câu chuyện “Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt”. Trong Ta đi tới có câu chuyện “Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ. Bắp chân, đầu gối vẫn săn gân”. Ở Vinh quang Tổ quốc chúng ta, nhà thơ “Trông lại quãng đường qua máu đỏ” để kể chuyện “Trải mười năm chiến đấu gian lao. Trông mình nay đã lớn cao…”.  Trong hàng loạt tác phẩm khác, như Đường sang nước bạn, Em ơi…Ba Lan, Theo chân Bác, Nước non ngàn dặm, Đường của ta đi… cũng có những câu chuyện trường thiên lịch sử như vậy. Rất dễ nhận ra, câu chuyện lịch sử trong thơ Tố Hữu bao giờ cũng có hai nội dung chính: lập cáo trạng tội ác kẻ thùliệt kê chiến công nối tiếp chiến công, mở ra một cục diện mới. Đây là cặp chủ đề tạo thành khuôn mẫu nội dung của thể “Cáo”. Cũng chính cặp chủ đề ấy đã biến “Đại cáo” trong sáng tác của Tố Hữu thành một mô thức tu từ tổng hợp. Chẳng hạn đây là đoạn “Ca thi” với tất cả những đặc trưng cơ bản của nó trong Ba mươi năm đời ta có Đảng:

Máu áo mới nâu non nắng chói 
Mái trường tươi roi rói ngói son
Đã nghe nước chảy lên non
Đã nghe đất chuyển thành con sông dài
Đã nghe gió ngày mai thổi lại
Đã nghe hồn thời đại bay cao...
Núi rừng có điện thay sao
Nông thôn có máy làm trâu cho người
Đời hết kẻ sống lười ăn bám
Đời của ai dũng cảm hy sinh
Những người lao động quang vinh
Chúng ta là chủ của mình từ đây...
Nghìn năm giấc mộng đêm ngày
Ba mươi năm Đảng, hôm nay có mình

Nhưng trong Ba mươi năm đời ta có Đảng còn có cả “Thệ”:

Dù khi tắt lửa tối trời

Vững lòng quyết sống không rời Đảng ta

lẫn “Hịch”:

Hỡi quốc dân, hỡi đồng bào! 
Có gươm, có súng, có dao hãy dùng
Quyết kháng chiến đến cùng cứu nước!
Toàn dân trông phía trước, tiến lên!

Nhìn chung, từ Việt Bắc, nhất là ở các tập Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa, thơ Tố Hữu là hình thức tổng hợp của các mô thức tu từ. Trong sáng tác của ông vừa có tiếng nói hướng thượng cung kính của “chúng con”, của “chiến sĩ đồng bào”cất lên từ phía dưới, vừa có tiếng nói trang trọng, “quyền uy” của “ta”, “Chúng ta”, của Đảng, Lãnh tụ, của Tổ quốc vang lên từ ở bên trên. Bốn mô thức tu từ Thệ - Hịch - Ca thi - Đại cáo ứng với tương quan cấp độ của các chủ thể trong sự kiện giao tiếp và hệ thống phân vai trên bức tranh thế giới như những thẩm quyền diễn ngôn trong sáng tác của Tố Hữu. Chúng thực sự biến thi pháp sáng tạo thành thi pháp của cái điển mẫu, mang lại vị thế quyền lực cho diễn ngôn văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa.

V. Kết. Tôi chỉ rút ra hai kết luận để khép lại bài viết này:

Thứ nhất: Sáng tác của Tố Hữu bao trùm một thời kì rất dài, với nhiều bước ngoặt thăng trầm trong lịch sử dân tộc. Ông sáng tác từ năm 1937 đến 1992, đời thơ của ông liền một mạch, gắn chặt với quá trình phát triển của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khi hình thành, cho đến lúc nở rộ, quy phạm hoá, rồi giải qui phạm, trở thành hiện tượng văn hóa - lịch sử được bảo quản kĩ trong ‘kho lưu trữ” của thời gian. Lịch sử sáng tác của ông là một phần lịch sử văn học dân tộc. Ông tạo ra cả một hệ thống điển phạm cho nền văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa. Không cần kể nhan đề những tác phẩm rất rõ nghĩa, kiểu như Người thay đổi đời tôi, người thay đổi thơ tôi (thơ Chế Lan Viên), Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng (nhạc Phạm Tuyên), ai cũng thấy, toàn bộ nội dung những sáng tác ưu tú nhất của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, từ văn xuôi, như Con trâu (Nguyễn Văn Bổng), Vùng mỏ (Võ huy Tâm), Xung kích, Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Đất nước đứng lên, Rừng xà nu (Nguyên Ngọc), Truyện Tây Bắc, Miền Tây (Tô Hoài), Cửa biển (Nguyên hồng), Dấu chân người lính (Nguyễn minh Châu), Bão biển, Đất mặn (Chu Văn), qua thơ, như Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông, các tập Riêng chung, Một khối hồng, Hai đợt sóng, Hồn tôi đôi cánh (Xuân Diệu), Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời (Huy Cận), Hoa ngày thường-Chim báo bão, Những bài thơ đánh giặc, Đối thoại mới, Ngày vĩ đại, Hoa trước lăng Người (Chế Lan viên), cho tới kí, như Ở Rừng (Nam Cao), Sông Đà (Nguyễn Tuân)… đều không vượt ra ngoài khuôn khổ của chiến lược diễn ngôn, ngôn ngữ thế giới quan và các mô thức tu từ của thơ Tố Hữu. Chẳng những thế, trong số các nhà văn, nhà thơ cùng thế hệ với Tố Hữu và những cây bút sau ông vài thế hệ, không một ai đủ sức phân thân vào tất cả các chủ thể giao tiếp, nhập vào tất cả các “vai truyền thuyết” trên bức tranh thế giới của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa để tạo ra những sáng tác có thể cất lên tiếng nói sang sảng đầy quyền uy của “Hịch Văn” và “Đại Cáo”. Từ Xuân Diệu, Tế Hanh, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Phan Tứ, Nguyễn Minh Châu…, cho tới sau này, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương…, tất cả bọn họ chỉ có thể viết “Thệ văn”, hay ‘Ca thi”, cất tiếng nói về “Mẹ Tổ quốc”, hoặc “chúng con anh hùng”. Tức là cho đến nay, trong nghệ thuật ngôn từ, Tố Hữu vẫn là tác gia hàng đầu của những tác phẩm Đảng ca và Lãnh tụ ca ưu tú nhất. Với ý nghĩa như thế, sáng tác của Tố hữu thự sự là bức tranh thu nhỏ của nền văn học hiện thực hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thứ hai:  Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đánh dấu bước chuyển đổi cực kì quan trọng của lịch sử văn hóa của nhân loại. Đến đây, trên một phạm vi rộng lớn, nghệ thuật hiện đại có xu hướng quay về với các truyền thống từ chương. Sáng tác của M. Gorki, V.V. Maijakovski, A.N. Tolstoi, A.A. Fadeev, D. Furmanov, A.X. Xerafimovich, F. Gladkov, L. Leonov, K. Fedin (Nga), E. Jones (Anh), G. Herwegh, G. Weerth, F. Freilligrath (Đức), E. Pottier (Pháp), Lỗ Tấn (Trung Quốc) và nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam cung cấp nguồn tư liệu vô giá để ta suy ngẫm về hệ thống lí thuyết của các lí luận gia văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Các lí luận gia của Liên Xô, Cộng hòa dân chủ Đức, Trung Quốc và cả ở Việt Nam trước đây đều khẳng định hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tốt nhất, nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa là con đẻ của thời đại mới, của một thế giới quan và hệ tư tưởng mới. Nhưng sáng tác của những nhà văn nói trên lại chứng tỏ, văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa gắn rất chặt với quá khứ văn hóa của nhân loại. Những gì tôi trình bày trong tiểu luận này cũng chỉ nhằm chứng minh: là lá cờ đầu của nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thơ Tố Hữu trở thành kho “kí ức thể loại” (M.M. Bakhtin), nơi lưu giữ vững chãi hệ thống điển phạm - từ chiến lược diễn ngôn, ngôn ngữ thế giới quan, cho tới các mô thức tu từ - của nghệ thuật từ chương truyền thống phương Đông.

LN

Đồng Bát. Tháng 3/2015.

Nguồn: Lã Nguyên, Phê bình kí hiệu học (Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ), Nxb Phụ nữ, 2018, tr. 188 – 235


[1] Về bản chất từ chương của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, xin xem: E. Chernoivanhenko.- Tiến trình văn học trong ngữ cảnh văn hoá - lịch sử. Sự phát triển và thay đổi các loại hình văn học và các loại hình ý thức văn học - nghệ thuật trong văn chương Nga từ thế kỉ XI đến thế kỉ XX.- Nxb “Majax”, Odessa, 1997, tr. 487 – 688.

[2] Trần Đình Sử.- Thi pháp thơ Tố Hữu.- Nxb “Tác phẩm mới”, 1987, tr. 51.

[3] Về xu hướng trữ tình chính trị của thơ Tố Hữu, xin đọc: Trần Đình Sử.- Thi pháp thơ Tố Hữu.- Tlđd, tr. 24-40.

[4] Trần Đình Sử.- Thi pháp thơ Tố Hữu, Tlđd, tr.256 – 257.

[5] Xem: B.M. Eikhenbaum.- Nhạc điệu câu thơ trữ tình Nga – Những vấn đề phương pháp luận//Tạp chí “Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật”, số 4, tháng 12/2012, tr. 57

Người đi hái giấc mơ (1)

Tiểu thuyết ngắn Trương Đình Phượng

image

 

1.

Tôi là Trí, năm nay tôi ba mươi hai tuổi, tôi xuất thân từ gia đình nghèo, nói theo cách nói người dân nước mình là nghèo rớt mồng tơi, mà nghèo rớt mồng tơi là nghèo như thế nào thú thật tôi cũng cóc hiểu, bố tôi chết năm tôi mười bốn tuổi, ông chết vào một sáng tháng mười, hôm ấy có mưa, thứ mưa phùn buồn như chấy cắn, suốt đời lao tâm lao lực khiến ông bị căn bệnh ung thư phổi, nhà đói tiền mẹ tôi cố chạy vạy vay mượn khắp nơi ba lần đem ông đi viện cả ba lần bác sĩ trả về, đêm trước hôm ông lìa cõi thế nhân người ta hút dịch phổi cho ông, nhiều lắm, chừng đầy cả chiếc chậu nhựa, mẹ tôi ngồi bên thẫn thờ như gà mất ổ trứng, bà buồn và đớn đau vô cùng nhưng nước mắt bà cứ cố tình chạy ngược, tôi khi đó còn hồn nhiên như dế, trong lùm cỏ lũ dế vô tư hát điệu nhạc của chúng, trên chiếc giường lạnh lẽo thiếu hơi ấm của cha của mẹ tôi vô tư chìm vào giấc ngủ, đêm đó tôi mơ, một giấc mơ mà mãi tận sau này tôi cố đi tìm lại cũng không bao giờ gặp được, tôi mơ tôi hóa thành những tờ tiền mới cứng toe toét cười trên bàn tay xém sạm nỗi đời của mẹ tôi, bàn tay bà run lẩy bẩy, một đời đói rạc đói rượi tự dưng từ đâu xuất hiện số tiền lớn khiến bà hoang mang, khốn nạn đời bần cùng nó thế, khổ quen, hạnh phúc đột ngột đến không dám đón nhận cứ như tù nhân được tha bổng nhưng chả dám nhảy cỡn lên lao ra khỏi cánh cửa nhà ngục vì sợ tai mình có vấn đề, lỡ nghe nhầm, chân vừa ló ra đường đã bị tóm lại, tội chồng thêm tội.

Quê nhà trong thế giới – Hồi ký của người được giải Nobel Amartya Sen (kỳ 5)

Nguyễn Quang A dịch

4. Cùng với ông bà

1

Tôi đã kể, trong vòng hai năm quay lại từ Burma, tôi ở Santiniketan, đi học ở đó và sống với ông bà tôi như thế nào. Nhà mái tranh của họ, nơi tôi sinh ra, là một nhà khiêm tốn nhưng ấm cúng do Visva Bharati cung cấp, trong một dãy nhà giáo viên gọi là Gurupalli (‘làng giáo viên’). Nó có một bếp, một phòng ăn và hai phòng ngủ ở hai bên của một phòng đọc sách nhỏ, trong đó có thể tìm thấy ông tôi thường xuyên nhất khi ông ở nhà (thay cho làm việc trên tầng đỉnh của thư viện Santiniketan, như ông thường làm). Đôi khi ông thích làm việc ở ngoài hiên, ngồi bắt chéo chân trên một tấm thảm bông nhỏ trước một bàn viết thấp trên sàn.

Kiến nghị của luật sư về tình trạng sức khỏe của Phạm Thị Đoan Trang và thay đổi biện pháp tạm giam

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-------o0o------

Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2021

ĐƠN KIẾN NGHỊ

(Về tình trạng sức khỏe của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang và thay đổi biện pháp tạm giam đối với bị cáo)

Kính gửi:

- TÒA ÁN NHÂN DÂN TP.HÀ NỘI

- TRẠI TẠM GIAM SỐ 01 HÀ NỘI

Đồng kính gửi:

- GIÁM ĐỐC CÔNG AN TP.HÀ NỘI

- VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TP.HÀ NỘI

- HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TP.HÀ NỘI

Chúng tôi gồm các luật sư Nguyễn Hà Luân, luật sư Lê Văn Luân, luật sư Phạm Lệ Quyên – VPLS Hưng Đạo Thăng Long cùng một số luật sư có tên dưới đây:

1. Luật sư Ngô Anh Tuấn – VPLS Ngô Anh Tuấn;

2. Luật sư Nguyễn Văn Miếng – VPLS Hồng Đức;

3. Luật sư Trịnh Vĩnh Phúc – VPLS Trịnh Vĩnh Phúc;

4. Luật sư Đặng Đình Mạnh – VPLS Đặng Đình Mạnh.

Là các luật sư bào chữa cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978) trong vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 373/2021/TLST – HS ngày 01/09/2021 về tội Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiện tại bị cáo Phạm Thị Đoan Trang đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Hà Nội.

Vào hồi 15h ngày 19/10/2021, các luật sư Lê Văn Luân, Ngô Anh Tuấn, Phạm Lệ Quyên đã gặp và trao đổi với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tại Trại tạm giam số 01 Hà Nội. Tại cuộc gặp ngày hôm đó, bà Trang đã trao đổi rất nhiều và nhấn mạnh về tình hình sức khỏe của mình, nhận thấy rằng nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài mà không được khám, chữa kịp thời có thể sẽ nguy hiểm đến tính mạng của bà Trang, vì vậy, chúng tôi làm văn bản này gửi tới các Quý cơ quan với những nội dung và đề nghị như sau:

1. Về tình hình sức khỏe của bà Phạm Thị Đoan Trang

Đã hơn 1 năm qua, kể từ khi bị tạm giam (cho tới ngày trao đổi với các Luật sư), bà Trang gặp phải rất nhiều vấn đề về sức khỏe bao gồm: (i) tình trạng kinh nguyệt của bà thường kéo dài tới 15 ngày mỗi tháng (rong kinh) khiến cơ thể bà lúc nào cũng trong tình trạng thiếu máu, ảnh hưởng tới sinh hoạt hằng ngày; (ii) vấn đề huyết áp thấp của bà cũng phải được lưu ý đặc biệt khi bà thường xuyên rơi vào tình trạng đau đầu, mệt mỏi, run tay, chân; (iii) vết thương cũ ở hai chân của bà nhiều lần bị đau nhức khiến cho việc di chuyển hết sức khó khăn nhất là trong thời tiết lạnh giao mùa. Những biểu hiện nêu trên của bà Trang đã diễn ra liên tục trong thời gian dài (khoảng 01 năm) dẫn đến sức khỏe của bà ngày càng yếu đi trầm trọng, hiện tại cân nặng của bà chỉ còn 48kg (sụt 10kg so với thời gian mới bị tạm giam).

Sau khi tiếp nhận các thông tin từ phía bà Trang, thông qua việc tham vấn ý kiến từ một số bác sĩ chuyên khoa về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy rằng bà Trang hiện đang gặp phải những đe dọa nghiêm trọng về sức khỏe. Bà đã chia sẻ rằng trước khi bị tạm giam, bà đã từng khám tại Bệnh viện Từ Dũ (TP. Hồ Chí Minh) với kết quả chẩn đoán: có dấu hiệu của khối u (u nang) và kèm theo một số nội dung tư vấn có liên quan để phòng ngừa. Do đó, vấn đề kinh nguyệt kéo dài có thể là một trong những nguyên nhân dẫn dến tình trạng huyết áp thấp của bà, và khiến bà Trang bị sút cân, thậm chí biểu hiện này còn có thể là dấu hiệu của một số bệnh nguy hiểm như: rối loạn máu và hooc-mon, bệnh tuyến giáp, tổn thương tử cung và nhiều bệnh khác, nhưng nguy hiểm hơn đây có thể là dấu hiệu của bệnh u nang buồng trứng (ung thư).

Bà cũng cho biết thêm rằng bà đã nhiều lần trực tiếp trao đổi với phía Trại tạm giam về tình hình sức khỏe của bản thân, đồng thời đã đề nghị được khám chữa bệnh nhưng cho đến thời điểm hiện tại (ngày gặp các Luật sư) thì bà vẫn chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào hoặc sự thăm khám đúng mức nào từ các bác sĩ hoặc nhân viên y tế của Trại tạm giam số 01 Hà Nội.

Cũng tại buổi làm việc với Luật sư, bà đã thông tin thêm với các Luật sư về sự việc có một số người tự giới thiệu là nhân viên y tế của Bộ Công an đã đến hỏi thăm sức khỏe của bà vào ngày 02/06/2021. Tuy nhiên, tại buổi gặp ngày hôm đó, họ cũng chỉ dừng lại ở việc hỏi thăm qua tình hình sức khỏe mà không thực hiện bất kỳ biện pháp khám bệnh, chẩn đoán lâm sàng hoặc thực hiện các xét nghiệm nào khác cũng như không đưa ra những hướng dẫn về liệu trình chăm sóc sức khỏe cho bà, mặc dù bà đã nêu đầy đủ tình trạng sức khỏe lúc đó của mình. Hiện tại, với những biểu hiện mà bà đã trải qua (vẫn còn tiếp tục xảy ra và chưa được điều trị kịp thời) khiến bà vô cùng lo lắng cho sức khỏe của bản thân.

Quyền được bảo hộ về sức khỏe nói chung và được chăm sóc y tế nói riêng của bị can, bị cáo là một trong những quyền cơ bản và quan trọng được quy định rất rõ ràng tại nhiều văn bản pháp luật, cụ thể:

​+ Hiến pháp 2013 quy định mọi người đều có quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe (Điều 20) và có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế (Điều 38);

​+ BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định mọi người đều được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe (Điều 11);

​+ Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2019 quy định người bị tạm giam có quyền được và bảo đảm chăm sóc y tế (Điều 9.1);

Theo đó, mọi người bao gồm cả bị can, bị cáo – những người đang bị tạm giam đều phải được hưởng quyền “được pháp luật bảo hộ về sức khỏe” như đã liệt kê.

Và, đối với các cơ sở giam giữ, theo quy định của pháp luật, phải có trách nhiệm bảo đảm thi hành những quyền cơ bản trên đối với bị can, bị cáo, được dẫn chiếu với một số cơ sở sau:

​+ Các trại tạm giam có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giam thực hiện các quyền của mình theo quy định của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 và pháp luật có liên quan (Điều 13.1.d);

​+ Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với các cơ sở giam giữ trên địa bàn, tổ chức khám bệnh, chữa bệnh cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam (Điều 7.4 Nghị định 120/2017/NĐ-CP ngày 06/11/2017);

​+ Cơ sở giam giữ phải có trách nhiệm đưa đối tượng quản lý được khám, chữa bệnh khi vượt quá khả năng chuyên môn điều trị của đơn vị y tế tại cơ sở giam giữ đến nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp huyện hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước nơi gần nhất (Điều 5.1 Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BCA-BQP-BYT ngày 19/10/2015 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế).

Như vậy, theo đúng diễn biến trao đổi từ phía bà Trang về mặt thực tế, quyền được chăm sóc y tế và bảo hộ về sức khỏe của bà Trang chưa được đảm bảo cơ bản và đầy đủ theo quy định pháp luật cũng như chưa nhận được sự quan tâm kịp thời từ phía Trại tạm giam số 01 Hà Nội (cùng các cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm khác), trong khi bà Trang đã nhiều lần đề nghị mà vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Điều này không chỉ dẫn đến sự sa sút nghiêm trọng về thể chất cũng như tinh thần của bà Phạm Thị Đoan Trang trong thời điểm hiện tại (thậm chí gây hưởng hoặc để lại di chứng, hậu quả cho tương lai nếu tiếp tục kéo dài) mà còn ảnh hưởng đến cả quá trình giải quyết vụ án, cũng bởi lẽ đó mà ngay chính trong BLTTHS 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) đã quy định rằng việc xét xử có thể phải tạm ngừng nếu do tình trạng sức khỏe của người tham gia tố tụng (bao gồm bị cáo) không được đảm bảo (Điều 251).

2. Các đề nghị và dựa trên sự cấp thiết cũng như tính hợp pháp

Căn cứ tại Điều 73 BLTTHS 2015 về nghĩa vụ của người bào chữa phải giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, cũng như dựa trên các quyền của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang, trong tình trạng cấp thiết về sức khỏe như đã nêu ra với mức độ nghiêm trọng đáng kể, chúng tôi khẩn thiết gửi tới các Ông/bà có thẩm quyền những đề nghị sau:

1. Đề nghị TAND TP.Hà Nội (cơ quan thụ lý vụ án) kịp thời tiến hành xác nhận tình trạng suy giảm sức khỏe của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang, từ đó phối hợp với Trại tạm giam số 01 để tiến hành các thủ tục cho bà Phạm Thị Đoan Trang được khám chữa bệnh; trong trường hợp xét thấy điều kiện khám chữa bệnh tại Trại tạm giam số 01 Hà Nội không đáp ứng đủ điều kiện về trang thiết bị cũng như chuyên môn thì phải tiến hành đưa bà Trang đến các cơ sở khám chữa bệnh khác để thăm khám; dựa trên tình hình thực tế và diễn biến sức khỏe Tòa án ban hành quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đối với bị cáo và thay đổi sang biện pháp ngăn chặn khác để đảm bảo cho gia đình có điều kiện để chăm sóc và đồng thời thuận tiện cho việc chữa bệnh của bà Trang;

2. Đề nghị Trại tạm giam số 01 Hà Nội thực hiện khám chữa bệnh sơ bộ cho bị cáo Phạm Thị Đoạn Trang ngay (với mọi phượng tiện hiện có) và trên cơ sở đó thông báo tới TAND TP.Hà Nội để có các biện pháp khám chữa bệnh chuyên sâu tiếp theo (nếu vượt quá khả năng hoặc do diễn biễn nặng và trở nhanh của bệnh) cho bà Trang;

3. Đề nghị Giám đốc Công an TP Hà Nội (quản lý trực tiếp), VKSND TP.Hà Nội (kiểm sát tố tụng) và HĐND TP.Hà Nội (theo chức năng đại diện) có biện pháp chỉ đạo, giám sát đối với vụ việc của bà Phạm Thị Đoan Trang và lên kế hoạch thanh tra việc áp dụng pháp luật về chế độ bảo đảm sức khỏe của các bị can, bị cáo trong quá trình tạm giam, tạm giữ.

Kính thưa các Ông/Bà cùng các Quý cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm!

Sức khỏe của bà Phạm Thị Đoan Trang đang trong tình trạng vô cùng cấp thiết, vì vậy kính đề nghị các Ông/Bà và các Quý cơ quan sớm đưa ra những biện pháp cũng như các chỉ đạo sớm nhất (kịp thời) để tránh dẫn đến những chuyển biến nguy hiểm hoặc nghiêm trọng hơn cho bị cáo.

Trân trọng cảm ơn!

Mọi văn bản tố tụng đề nghị gửi về địa chỉ:

Không có mô tả ảnh.

Không có mô tả ảnh.

Không có mô tả ảnh.

 

Nguồn: FB Lê Văn Luân

Trao đổi lại với tác giả Thụy Khuê

Bách Thân

Tôi định chỉ viết duy nhất một bài, nhưng vì đã có sự đặt vấn đề trở lại nên dĩ nhiên là phải có trao đổi tiếp. Cám ơn tác giả Thụy Khuê (TK) đã đọc và nhanh chóng trả lời. Một số góp ý, TK xác nhận sẽ sửa; một số khác, không nhắc tới và số còn lại “tôi sẽ cùng ông, xem lại những điểm ông nêu ra, chỗ nào sai, tôi xin sửa lại”. Tôi thấy cách làm việc như vậy là chuẩn, lại nhanh chóng, xin đáp ứng. Để độc giả dễ theo dõi, tôi sẽ trả lời theo thứ tự TK nêu ra.

Siêu lý của tình yêu

Nguyên Ngọc

Gần đây, Bảo tàng Quân đội đã công bố bức thư của Đặng Thùy Trâm gửi người yêu và cả trang nhật ký của Khương Thế Hưng, tức M. trong nhật ký của Trâm. Tôi biết cả hai người ấy gần như là từ đầu, cuộc chiến đấu anh hùng, tình yêu đẹp, buồn của họ, và từ lâu tôi cũng suy nghĩ nhiều về câu chuyện đau đớn này.

Câu thơ lục bát

Nguyễn Đức Tùng

Tặng bạn Văn Giá

image

 

Thơ lục bát là tâm hồn dân tộc: nếu thế thì tâm hồn ấy đang thay đổi. Lục bát như một nghệ thuật thơ ca cần thay đổi theo, tự làm mới, để tồn tại cùng dân tộc, một dân tộc vừa văn minh hơn vừa dung tục hơn, có học hơn nhưng bé bỏng hơn, dễ tổn thương.

Quê nhà trong thế giới – Hồi ký của người được giải Nobel Amartya Sen (kỳ 4)

Nguyễn Quang A dịch

3. Trường học Không có Tường

1

Rabindranath Tagore chết trong tháng Tám 1941. Khi đó tôi vẫn ở Trường St Gregory’s ở Dhaka. Hiệu trưởng cho chúng tôi tin bi thảm trong một cuộc họp trường được triệu tập vội vã, và tuyên bố một sự đình chỉ dạy học trong ngày. Khi tôi đi về nhà, tôi tự hỏi vì sao người đàn ông râu rậm đáng yêu, mà tôi biết như một người bạn của gia đình, và người mà tôi với ông bà tôi hay mẹ tôi đến thăm bất cứ khi nào tôi ở Santiniketan, đã quan trọng đến vậy cho thế giới. Tôi biết rằng Rabindranath là một nhà thơ rất được ngưỡng mộ (tôi có thể ngâm vài bài thơ của ông), nhưng đã không hiển nhiên đối với tôi vì sao ông được cho là một người quan trọng đến vậy. Khi đó tôi bảy tuổi, và không có ý tưởng nào Tagore sẽ ảnh hưởng triệt để thế nào đến tư duy của tôi trong những năm sắp tới.

2000 thuật ngữ Tâm lý học (kỳ 83)

Hoàng Hưng

831. Infinite regression (danh): Sự truy hồi bất tận

Một tuyến lập luận trong đó bản thân lời giải thích cho điều gì đó lại đòi hỏi một lời giải thích tương tự, và cứ thế cho đến bất tận. Ví dụ: muốn giải thích khái niệm Ý THỨC vốn giả định sự tồn tại của một HOMUNCULUS (Người nhỏ xíu) bên trong tâm trí đang quan sát trải nghiệm có ý thức, điều ấy lại đòi hỏi có một homunculus khác quan sát tâm trí của homunculus thứ nhất, v.v.

Đề cương diễn xướng ca múa nhạc trường ca Đăm San (1)

Tác giả kịch bản: Hoàng Hưng

Nội dung:

Thể hiện trường ca Đăm San ở những tình tiết chính, làm bật lên khát vọng tự do, chinh phục, giàu mạnh, khát vọng tình yêu, tinh thần chiến đấu bảo vệ hạnh phúc của con người Tây Nguyên và CON NGƯỜI nói chung.

Thể hiện qua 5 cuộc chinh phục của Đăm San, thể hiện ở diễn tiến 5 màn (Ngũ hành) với 1 trục xuyên xuốt là cặp Đăm San-H’Nhí (Âm Duơng)

- Diễn tiến: 5 cuộc chinh phục của Đăm San (Ngũ hành)

- Trục chính: Tình yêu của Đăm San – H’Nhí với những mâu thuẫn và hoà hợp luôn song hành (Âm Duơng)

1/ Cuộc chinh phục thứ nhất: chinh phục Tình Yêu – Cõi Nhà.

Diễn biến: H’Nhí, H’Bhí đi hỏi ĐS. ĐS cưỡng lại, bị Trời thuyết phục. Đăm San cứu H’Nhí H’Bhí sống lại. Lễ cưới.

2/ Cuộc chinh phục thứ hai: chinh phục các tù trưởng trong vùng – cõi Người.

Diễn biến: Đăm San chiến đấu với tù trưởng Sắt giành lại H’Nhí. Lễ mừng chiến thắng

3/ Cuộc chinh phục thứ ba: chinh phục đất đai sông nước – cõi Đất Nước.

Diễn biến: Đăm San dẫn đầu lũ làng trồng lúa, đánh cá. Lễ cơm mới

4/ Cuộc chính phục thứ tư: chinh phục tập tục chuê nuê mẫu hệ - cõi Âm

Diễn biến: Đăm San chặt cây thần. ĐS đòi Trời làm H’Nhí H’Bhí sống lại. Lễ mừng.

5/ Cuộc chinh phục cuối cùng: chinh phục Thái Dương – cõi Trời.

Diễn biến: Đăm San đi bắt con gái Thần Mặt Trời. Đăm San chết ở rừng sáp và tái sinh.

Thụy Khuê có đôi lời cùng ông Bách Thân

Trước hết, tôi xin cảm ơn ông Bách Thân[1] trên Văn Việt, hôm nay, ngày 20-10-2021, đã góp ý cho cuốn sách Tự Lực văn đoàn, văn học và cách mạng tôi đang viết và in dần trên Văn Việt. Ông đã chỉ ra những chỗ – theo ông là sai – trong chương Việt Nam Quốc Dân Đảng[2]. Vì vậy, dưới đây, tôi sẽ cùng ông, xem lại những điểm ông nêu ra, chỗ nào sai, tôi xin sửa lại.

Nguyễn Duy – nhà thơ hiện đại Việt Nam (Thực hành phân tích diễn ngôn văn học) (kỳ 6)

Lã Nguyên

Phụ lục

THƠ TỐ HỮU - KHO “KÍ ỨC THỂ LOẠI”

CỦA VĂN HỌC TỪ CHƯƠNG

I. Mở

Trong rất nhiều công trình nghiên cứu, thơ Tố Hữu mặc nhiên được xem là “lá cờ đầu” của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thế tức là chắc chắn đặc trưng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ được bộc lộ rõ nhất trong sáng tác của ông. Cho nên, tôi sẽ phân tích thơ ông để nhận biết những đặc điểm của hiện thực xã hội chủ nghĩa như một phương pháp sáng tác. Xin nói ngay, tôi xem thơ Tố Hữu là một thực tiễn diễn ngôn. Tôi hiểu diễn ngôn là phát ngôn, một hành động tạo sinh văn bản giữa người nói và người nghe, đồng thời là “sự kiện tương tác văn hóa” (Van Djik) giữ chủ thể (tác giả, người sáng tạo), khách thể (người nghe, người tiếp nhận) và đối tượng được nói tới (ai, cái gì, nhân vật). Hiểu như thế, để rút ra nhận xét về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, tôi sẽ tiếp cận thơ Tố Hữu từ ba góc độ: 1. Chiến lược diễn ngôn, 2. Ngôn ngữ thế giới quan và các bức tranh thế giới bằng ngôn từ, 3. Mô thức tu từ.

Chu Văn Sơn “sống thơ”

(Thay Lời vào sách)

Văn Giá

Không có mô tả.

1. Nhà nghiên cứu phê bình (NCPB) văn học Chu Văn Sơn là người nổi tiếng giàu chữ và kỹ chữ. Trong khá nhiều bài viết, nhất là khoảng từ năm 2000 trở đi, ông hay dùng chữ “sống thơ” với hàm nghĩa chỉ người viết nào có một quan niệm sâu sắc về nghề, một mối bận tâm to lớn và thường trực đối với thơ ca, với sự sống, một tầm triết học và mỹ học nhất định thì mới có thể có những tác phẩm đáng kể. Nếu ai đó sống nông, sống ẩu, sống thiếu tử tế với sự sống, với thơ, với văn chương nói chung thì đừng bao giờ hy vọng có những trang viết thành tựu. Từ chỗ “sống thơ” mới có thể làm nên phong cách sáng tạo, tầm vóc tư tưởng của một người cầm bút. Điều tâm đắc này đã được ông thể hiện rõ ràng nhất trong bài viết “Thanh Thảo với trường ca” (2009). Tôi muốn thêm một ý nữa, khi chữ “sống thơ” đặt ngoài ngữ cảnh này, khiến người đọc liên tưởng đến một lối sống đẹp, một nhân cách sống đẹp như thơ. Nếu hiểu theo nghĩa ấy để nói về Chu Văn Sơn cũng không phải là không có lý. Suốt hơn 30 năm dạy học, sống và viết, ông đã có một đời sống đẹp đẽ, thiện lành, cao quý.

Văn chương và quyền chết

Maurice Blanchot

Đoàn Huyền dịch

Người ta chắc chắn có thể viết mà không tự vấn rằng tại sao mình viết. Khi một người viết chiêm ngắm cây bút của mình đang viết ra những con chữ, liệu anh ta thậm chí có quyền nhấc nó lên và bảo với nó: “Dừng lại! Ngươi biết gì về bản thân mình”? Sao ngươi cứ phóng về trước? Sao ngươi không thể thấy rằng nét mực ngươi viết chẳng hề để lại dấu vết nào, rằng dù ngươi có thể tự do đi tới, nhưng là đi qua chỗ hư trống, rằng ngươi không bao giờ vấp phải bất cứ cản trở nào chẳng qua vì ngươi chưa bao giờ rời khỏi điểm xuất phát của mình? Nhưng ngươi cứ viết liên tu bất tận, phơi bày cho ta thấy cái mà chính ta là người đọc cho ngươi viết, tiết lộ cho ta điều ta đã biết rồi, khi kẻ khác đọc, họ làm ngươi giàu có thêm bằng cái ngươi tặng họ và tặng cho ngươi điều mà ngươi dạy họ. Giờ đây, ngươi hoàn thành điều mà ngươi không làm; cái ngươi không viết đã được viết: ngươi bị kết án không thể tẩy bỏ.”

Quê nhà trong thế giới – Hồi ký của người được giải Nobel Amartya Sen (kỳ 3)

Nguyễn Quang A dịch

2. Những dòng sông Bengal

1

Dhaka xa sông Padda hùng vĩ, nhánh lớn hơn của hai nhánh của sông Ganga nổi tiếng – ‘the Ganges (sông Hằng)’ cho những người nói tiếng Anh. Ganga tách làm đôi khi nó bước vào Bengal, qua các thành phố cổ của niềm bắc Ấn Độ, kể cả Benares và Patna. Sông Padda (mà tên của nó là dạng Bengali của Padma theo tiếng Sanskrit, có nghĩa là ‘hoa sen’) thơ thẩn trôi duyên dáng theo chiều đông-nam trước khi nó kết thúc ở Vịnh Bengal. Nhánh kia, Bhagirathi, chảy theo phía nam trực tiếp hơn, qua thành phố Calcutta, để gia nhập Vịnh sau một hành trình ngắn hơn nhiều. Bằng các nào đó nhánh nhỏ đã tìm được cách để giữ được tên cổ ‘Ganga’, được dùng luân phiên với Bhagirathi (cũng như Hooghly, một tên tương đối gần đây hơn). Cả Bhagirathi và Padda rất nổi tiếng trong văn học Bengali cổ và đã có một mức cạnh tranh nào đó về sức lôi cuốn tương ứng của chúng. Như một đứa trẻ từ Dhaka, tôi nhớ việc nói với các bạn của tôi ở Calcutta rằng họ đã bị đánh tráo với một dòng suối kém hơn, không có sự vĩ đại của Padda giống hoa sen.

Thơ chữ Hán Nguyễn Du viết về Khuất Nguyên trong mảng thơ đi sứ vùng Hồ Nam (Trung Quốc)

(Góp kỷ niệm 70 năm thành lập Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội (tháng 10/ 1951 - tháng 10/ 2021).

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

IMG_20211019_104402[3]

Tóm tắt: Bài viết khảo sát 8 bài thơ của Nguyễn Du nói về/ có liên quan tới Khuất Nguyên trên sóng nước vùng “Tiêu Tương bát cảnh”; nhưng thiên nhiên tuyệt mỹ chỉ giúp ông thấm thía hơn cái bi kịch đau buồn của Khuất Nguyên suốt hai ngàn năm qua. Bằng sự hiểu biết sâu sắc cộng với mối thiện cảm của một “đồng tâm nhân”, Nguyễn Du đã có những đánh giá chân xác về tác phẩm của Khuất Nguyên cũng như vị trí của ông trong lịch sử văn học Trung Quốc.

Trong mảng thơ này có thể khai thác nhiều về nghệ thuật sử dụng và sáng tạo ngôn ngữ, nghệ thuật Đường thi của Nguyễn Du trong việc giảng dạy.

Bài viết gợi ý cần đi sâu vào tập Bắc hành tạp lục dưới khía cạnh tìm hiểu tư tưởng “giải ảo, giải thiêng” Trung Hoa cũng như chế độ phong kiến mạt kỳ, điều này giúp chúng ta giải mã được rất nhiều giá trị còn ẩn sâu trong thơ chữ Hán Nguyễn Du nói chung, bài Phản chiêu hồn nói riêng nằm trong chương trình Phổ thông Trung học.

Từ khóa: Nguyễn Du, Khuất Nguyên, Tương giang, Ly tao, oan hồn.

***

Thăm gặp bà Phạm Đoan Trang

Luật sư Lê Văn Luân

Hôm nay, 19/10/2021, tôi vào Trại tạm giam số 1 Hà Nội để gặp bà Phạm Đoan Trang với tư cách luật sư của bà.

Về tình hình chung, bà Trang vẫn giữ tinh thần lạc quan và tỏ ra minh mẫn đến các chi tiết. Bà nhớ từng ngày hỏi cung và một số sự việc điển hình mà bà phải đối mặt trong các buổi hỏi cung này.

Việt Nam Quốc dân đảng giai đoạn khởi nghĩa Yên Bái trong sách “Tự Lực văn đoàn - Văn học và cách mạng”

Bách Thân

Nhân có cuộc tranh luận về sách (hiện mới chỉ công bố dần dạng điện tử) Tự Lực văn đoàn – Văn học và cách mạng,[1] (sau đây viết tắt là TLVĐ) của tác giả Thụy Khuê; chúng tôi tìm đọc và thấy cần phải làm rõ với tác giả một số chi tiết lịch sử liên quan đến Việt Nam Quốc dân đảng giai đoạn Khởi nghĩa Yên Bái (khoảng 1929-1931). Vì vậy, về căn bản, bài này chỉ khảo nội dung của ba bài (chương?) của sách trên, là: “28- Hoàng Đạo: Vấn đề Cần lao[2], “34- Việt Nam Quốc Dân Đảng[3] và “35- Con đường cách mạng[4]. Ghi chú nguồn trích dẫn từ đây sẽ dùng các ký hiệu chỉ từng chương (28), (34) và (35).

Cần rửa sạch nhà tiếp khách quý

Lê Học Lãnh Vân

Tôi cho rằng tin 15 con chó bị giết tại Cà Mau khiến thiện cảm của thế giới với Việt Nam bị giảm đi.

Vấn đề không hẳn là vì ăn thịt chó, dân châu Âu thân mật với ngựa vẫn ăn thịt ngựa đó thôi. Vấn đề nằm ở chỗ những con chó đó được nuôi làm bạn với con người. Những con chó đó, chơi giỡn với chúng, vuốt ve chúng thấy mắt chúng ánh lên bao nhiêu tình cảm trìu mến. Cho nên cùng lúc giết mười lăm con chó như vậy được cảm nhận là nhẫn tâm, nhẫn tâm với chó và nhẫn tâm với chủ, những người nghèo thiếu đã nâng niu chăm sóc mang chúng về quê cùng chung sống.