Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

Nguyên Ngọc: Từ đại tự sự chiến tranh đến đối thoại nhân bản toàn cầu

 Tino Cao

Trong dòng chảy văn hóa và tư tưởng Việt Nam đương đại, Nguyên Ngọc cấu thành một thực thể đa diện thay vì dừng lại ở danh xưng văn chương thuần túy. Ở ông, các tầng vỉa trải nghiệm lịch sử và hệ thống tri thức kết tinh trong một cấu trúc cộng sinh bền chặt, nơi quá khứ và hiện tại không ngừng đối thoại. Chính sự giao thoa này khiến giới học thuật phương Tây không chỉ định vị ông như một tác gia chiến tranh mà đặt ông vào hệ tọa độ rộng lớn của những người thực hành văn hóa toàn diện. Dưới nhãn quan của giới quan sát quốc tế, ông hiện thân cho mẫu trí thức với tinh thần phản tư đầy bản lĩnh, sẵn sàng truy vấn và giải cấu trúc những nền tảng do chính mình góp công tạo dựng. Sự vận động nội tại đó đã kiến tạo nhịp cầu kết nối giữa đại tự sự sử thi với một hiện tại toàn cầu hóa đầy rạn nứt, đánh dấu bước chuyển dịch tất yếu từ paradigm tập thể sang không gian suy tưởng tự do về bản vị cá nhân trong mối tương quan cộng đồng.

Cuộc tìm kiếm chạy vòng quanh

 Tiểu luận Hồ Anh Thái

Cả một tập thể mà không sao vừa vặn được với nhân tố được lắp vào, người ngoài không vào được, người trong đưa lên cũng không thể hiệu quả được, cỗ máy vẫn tiếp tục ì ạch trì trệ. Vậy thì có khi phải xem lại chính cái cỗ máy ấy. Chính đấy mới là nguyên nhân khiến những cuộc săn đầu người lại thành cái đèn cù tít mù nó chạy vòng quanh.

Bức thư không hồi đáp gửi tới người thợ bạc Đông Du

 Đỗ Thái Bình

Trong cuộc đời có những bức thư gửi tới đúng địa chỉ nhưng vì một lý do nào đó lại không có người nhận. Có thể người nhận đã di chuyển, có thể người nhận đã qua đời… Trong lịch sử tù đày của những người yêu nước chúng ta không thiếu những câu chuyện đó. Lật tìm hồ sơ của những chí sĩ ái quốc trong nhà tù tại xứ Guyane Nam Mỹ, chúng tôi bắt gặp một lá thư có đủ cả phong bì gửi từ Nam Kỳ – tên gọi Nam Bộ thời thuộc địa Pháp – và một mảnh giấy xé ra từ tờ giấy kẻ ca rô khổ A4.

Hình 1- Phong bì thư

1. Cái phong bì

Hình bên là một phong bì thư gửi tới một người tại Guyane. Đây là loại phong bì thư thương mại thông thường, khá phổ biến trong tầng lớp có học thức hoặc ở các đô thị như Mỹ Tho, Sài Gòn - Chợ Lớn những năm 1910-1920. Phong bì có lót mặt trong màu tối (thường là xanh đậm hoặc đen) để đảm bảo tính riêng tư, không bị soi thấy nội dung bên trong dưới ánh sáng mạnh. Đây là kiểu phong bì tiêu chuẩn cho thư từ gửi đi quốc tế hoặc thư từ quan trọng thời bấy giờ.

Dấu bưu điện hình tròn bên phải ghi MYTHO - COCHINCHINE, tức Mỹ Tho Nam Kỳ 5-1-18, tức ngày 5 tháng 1 năm 1918. Có một dấu bưu điện ngày 22-3-18 đóng đè lên con tem, vòng ngoài của dấu ghi địa chỉ bưu cục nơi nhận, đó là St Laurent Guyane Française. Như vậy, bức thư mất khoảng hơn 2 tháng rưỡi để đi từ Mỹ Tho Nam Bộ Việt Nam sang đến thị trấn St Laurent ven sông Maroni, một thị trấn đông đúc nhất của Guyane, sau thủ phủ Cayenne. Ta không gọi Cayenne là thủ đô, vì cả Guyane, một xứ Nam Mỹ nằm giữa Venezuela và Brazil chỉ là một tỉnh hải ngoại của nước Pháp. Từ trước năm 1953, cả cái tỉnh có hình như trái xoài này chỉ là một nhà tù khổng lồ giam giữ phạm nhân và các tù chính trị của đế quốc Pháp.

Con tem có mệnh giá 10 centimes (10c), tức 10 xu, bằng 1/10 đồng bạc Đông Dương. Đây là mức cước phí tiêu chuẩn cho một lá thư quốc tế (từ thuộc địa về chính quốc hoặc sang thuộc địa khác như Guyane) ở nấc trọng lượng gửi đi đầu tiên. Vào giai đoạn 1917-1918 gửi bức thư này, do ảnh hưởng của Thế Chiến thứ nhất và tình hình kinh tế Đông Dương, giá cả có sự biến động. Theo các tư liệu kinh tế lịch sử Nam Kỳ, giá gạo thường dao động khoảng 5 đến 7 xu cho 1 kg gạo hạng trung bình. Với 10 centimes giá trị của một con tem dán trên thư này, người dân có thể mua được khoảng 1.5 kg đến 2 kg gạo. Nói cách khác, tiền cước phí để gửi một lá thư sang Guyane tương đương với khẩu phần gạo ăn trong khoảng 2-3 ngày của một người dân bình thường thời đó. Để quy đổi chính xác từ năm 1918 sang năm 2026 là rất khó do biến động lạm phát và thay đổi bản vị tiền tệ, nhưng có thể ước lượng qua giá gạo: Nếu 1 kg gạo ngày nay giá khoảng 20.000 VNĐ, thì con tem 10 centimes, tương đương ~1.5 kg gạo, có giá trị sức mua tương đương khoảng 30.000 đến 40.000 VNĐ tiền hiện nay. Nhân vật chính trên con tem được cho là cô Ba Thiệu, con gái thầy Thông Chánh, một mỹ nhân nổi tiếng của Nam Kỳ lục tỉnh cuối thế kỷ 19. Cô được học giả Vương Hồng Sển mô tả là có vẻ đẹp “không ai bì”, với nét đẹp tự nhiên và mái tóc dài chấm gót. Hình ảnh này sau đó cũng được sử dụng làm biểu tượng cho thương hiệu “Xà bông Cô Ba” của ông Trương Văn Bền. Dòng chữ “INDOCHINE” chỉ xuất xứ từ Liên bang Đông Dương, một đơn vị hành chính thuộc địa của Pháp tại Đông Nam Á. Ký tự “R F”, viết tắt của “République Française” (Cộng hòa Pháp. Dòng tem này (không có dấu in đè) bắt đầu xuất hiện từ năm 1907

2. Người nhận

Người nhận được ghi rõ ràng bằng nét bút mạnh mẽ: Monsieur Trần Văn Ngọ n0 m-le 41687 Camp Malgache. Pénitencier de Saint-Laurent. Guyane Française.

Đó là anh Trần Văn Ngọ, thợ bạc quê Mỹ Tho. Đi cùng đoàn do Nguyễn Quang Diêu dẫn đầu sang Hồng Kông mong học thêm nghề nghiệp để trở về phục vụ cách mạng thì bị bắt sau vụ nổ tại Kowloon ngày 16/03/1913 nên bị cảnh sát Anh-Pháp bắt đưa về Hà Nội. Bản án tuyên ngày 05/09/1913 đưa anh cùng 10 đồng chí khác tới Guyane với thời hạn khổ sai 8 năm. Quang Diêu đã phải thốt lên trong bài thơ Hà Thành lâm nạn như sau: Oan anh Trần Ngọ quá chừng, Tám năm tân khổ không phân lẽ nào.

Ngoài cái tên do bố mẹ đặt cho khi ra đời, giờ đây Văn Ngọ phải định danh bằng một con số 41687, là n, m như viết trên phong bì. Đó là chữ viết tắt của numero matricule, số định danh tù nhân thống nhất toàn nước Pháp bao gồm cả chính quốc lẫn thuộc địa. Địa chỉ ghi rất chi tiết: Camp Malgache tức trại Malgache, tục danh gọi là Trại Than vì chuyên khai thác than củi từ núi rừng bạt ngàn. Ngày nay khu nay gọi là Charbonnière, khu Than, cách trung tâm St Laurent chỉ vài cây số. Trại Than thuộc trại trung tâm, trên địa chỉ ghi là Pénitencier de Saint-Laurent – tức là Trung tâm trừng giới St Laurent.

Hình 2- Thư cô Tư Ngọ do một người đàn ông viết giùm

3. Bức thư của người vợ

Thư viết bằng chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ 20, có một số từ dùng theo phương ngữ Nam Bộ và cách viết thời bấy giờ, toàn văn như sau:

Mỹ tho, le 4 Janvier 1918.

Gởi lời thăm Ba thằng Lẫm đặng mạnh giỏi nội nhà cũng bình yên.

Còn Ba thằng Lẫm còn ở đó không xin trả lời cho tôi biết để ở nhà tôi trông đợi lắm.

Còn thằng Lẫm nó bây giờ cũng đi học như thường, mà nó nhắc nhở Ba nó hoài và nói sao ba nó không gởi thơ. Vậy thì ba nó trả lời cho tôi mừng và cho con nó vui.

Thôi ít lời thăm Ba nó đặng mạnh.

Cô Tư Ngọ

clip_image002

Bức thư ngắn ngủi tổng cộng có 91 từ thì 28 từ dành cho đứa con trai, 22 từ thăm hỏi tin tức, người vợ tù nhân luôn nhắc tới “Ba thằng Lẫm” với tình yêu thuỷ chung da diết. Lẫm lúc này bao nhiêu tuổi? Như đã nói ở trên, Văn Ngọ bị đi đày Guyane với bản án 8 năm. Khi khai gia cảnh, biên bản năm 1913 ghi con trai anh 3 tuổi. Vậy lúc này Trần Văn Lẫm đã lên tám, đã đi học, tức là vào lớp Đồng Ấu, tức Cours enfantin trong hệ thống tiểu học Pháp-Việt. Còn “Ba thằng Lẫm” mang họ Trần nhưng thực ra trong hồ sơ tù đầy có ghi rõ anh tên là Nguyễn Ngọc, hay Nguyễn Văn Ngọ con ông Nguyễn Văn Đen và bà Đoàn Thị Lê, cả hai mất sớm. Được họ Trần nuôi dưỡng và truyền nghề thợ bạc, Văn Ngọ là con thứ ba trong gia đình, tức cậu Tư Ngọ theo cách gọi Nam Bộ. Hồ sơ cũng cho biết, Văn Ngọ đã mất ngày 26/07/1915, một năm sau ngày tới trại giam ven sông Maroni. Trước đó, hàng tháng, theo quy định chung, tù nhân vẫn gửi thư và nhận được thư nhà. Do hai ba năm nay không có thư, vợ Văn Ngọ – cô Tư Ngọ – đã gửi thư này mong có phản hồi mà không biết rằng chồng mình đã bỏ mạng nơi đất khách quê người đã được 3 năm! Trong khi Ban quản trị Trại tù trước bức thư không người nhận đã ngoáy thêm một chữ ngoài phong bì “Evadé” – đã trốn tù – mà không trả lại hay thông báo cho người nhận. Vì thế, toàn bộ phong bì và thư còn lại được đưa về chính quốc và nay nằm trong Văn khố Hải ngoại Pháp ANOM tại thành phố Aix-en-Provence.

Hình 3- Hồ sơ ghi rõ Trần Văn Ngọ đã qua đời tại St Laurent ven sông Maroni ngày 26/07.1914

 

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2026

Quần chúng muôn mặt

 Đào Hiếu

 

Sau trận Mậu Thân 1968, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ban hành luật tổng động viên số 3/68, buộc các trường đại học phải thành lập “sư đoàn sinh viên bảo vệ thủ đô”. Lúc đó, ngoài những giờ học chuyên ngành của các khoa, chúng tôi bị tập trung để học quân sự với đầy đủ quân phục, ba lô, súng ống...

Phong cách Hán Việt hỗn hợp trong văn học trung đại Việt Nam

 Trần Đình Sử

Văn học trung đại Việt Nam, do Bắc thuộc trong thời gian dài, nhà nước phong kiến Việt nam sau ngày độc lập, vì cần kíp đã lấy chữ Hán làm công cụ quản lí hành chính và thi cử chọn nhân tài, tạo ra tầng lớp trí thức Hán học, cho nên bắt đầu viết bằng chữ Hán, phải sau thế kỉ XII mới bắt đầu có văn bản viết bằng chữ Nôm. Từ đó về sau, tình trạng song ngữ tồn tại mãi cho đến đầu thế kỉ XX, đến khi phế bỏ khoa thi Hán học thì mới chấm dứt. Tình trạng song ngữ kéo dài tám thế kỉ ấy với ưu thế thuộc về Hán văn, đã để lại dấu ân sâu đậm cả trong trong văn thơ chữ Hán lẫn văn thơ chữ Nôm của người Việt. Vốn tri thức Hán học của tầng lớp tri thức đương thời đã “ảnh hưởng đến truyền thống văn Nôm và đến cả tiếng Việt hiện đại” (Nguyễn Tài Cẩn) là một vấn đề lớn cần được làm sáng tỏ.

Cứu nguy nguồn nước và môi sinh Đồng Bằng Sông Cửu Long

 Dự Án Thuận Thiên: Xử Lý Nước Sông và Bổ Sung Nước Ngầm

Phạm Phan Long

20 Tháng Tư, 2026

Lời giới thiệu:

Sau nhiều  dự án lãng phí vì không đạt  được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa.

Thơ Đặng Tiến (Thái Nguyên)

 30 THÁNG TƯ NĂM 1975

                          [Chỉ là thế không tô hồng hay bôi đen chi hết...Thủa ấy của tôi]

 

Ngày 30 tháng Tư năm 1975

Thằng bé nhà quê là tôi vừa qua tuổi 14 chuẩn bị cho kì thi tốt nghiệp cấp 2 và thi tuyển vào lớp 8...

Thằng bé nhà quê quẩn quanh trong ngôi làng xưa cũ cùng những mái tranh nghèo nắng mưa dầu dãi không điện, không báo, không đài,

Ti vi và tủ lạnh, xe máy là chưa từng nghe và chắc chắn còn lâu mới thấy

Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

Văn Việt đến thăm nhà văn Nguyên Ngọc chiều ngày 19/4/2026

 Văn Việt

Hai ngày cuối tuần, thời tiết dịu lại sau đợt nắng nóng cả nước trên dưới 40 độ. Sau khi sắp xếp thời gian với các thành viên Văn Việt và bạn hữu – dù không thể cùng đi một lúc, một vài người đến sau do bận việc – chúng tôi lên đường ra Huế. Mục đích chuyến đi khá giản dị: thăm một số bạn văn thân thiết, đồng thời viếng mộ những gương mặt văn nhân chí sĩ đáng kính như cụ Phạm Quỳnh, cụ Phan Bội Châu, nữ sử Đạm Phương, và vợ chồng anh chị Hoàng Phủ Ngọc Tường - Lâm Thị Mỹ Dạ.

A.I trong giáo dục trung học: Sự ngu muội nhân tạo

 Silke Fokken, Johann Grolle, Claus Hecking, Der Spiegel số 17/2026

Tôn Thất Thông biên dịch

Giới thiệu: Đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc áp dụng một cách hiệu quả A.I trong giáo dục trung học. Kết luận khá phổ biến: “Tư duy phản biện và kỹ năng tự điều chỉnh” là những yếu tố then chốt. Những khảo sát sau đây đặc biệt có ích cho nền giáo dục Việt Nam, nơi mà tư duy phản biện ở thanh thiếu niên còn tương đối thấp.

Ánh đèn Trúc Chỉ và hơi thở Thiền trong thơ Nguyễn Duy

 Tô Văn Trường

 

Tuyển tập THƠ THIỀN LÝ-TRẦN là một tập sách mỹ thuật gồm 30 bài thơ thiền chọn lọc được minh họa bằng 30 bức ảnh nghệ thuật do nhà thơ Nguyễn Duy in trên giấy Dó truyền thống của Việt Nam, khuôn khổ 81x111 cm, cân nặng 30kg.

Nội dung cuốn sách là công trình hợp tác giữa nhà thơ Nguyễn Duy với hai nhà thơ Mỹ là Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung (gốc Việt), cộng với sự đóng góp của thiền sư Lê Mạnh Thát (viết lời bạt) và giáo sư Nguyễn Huệ Chi (hiệu đính Hán ngữ). Công trình này khởi sự từ 11.7.1995 (ngày bình thường hóa quan hệ Việt Mỹ) cho nên cuối năm 2004 hoàn thành bản thảo: tuyển chọn (dựa theo bộ sách Thơ văn Lý-Trần do giáo sư Huệ Chi chủ biên); dịch thơ Hán ngữ sang Việt ngữ (lục bát); dịch thơ Việt ngữ sang Anh ngữ.

Riêng thời gian in giấy Dó (từng tờ một) mất 6 tháng liên tục.

- 19.5.2005: Triển lãm lần đầu tiên tại Thư viện Quốc gia (cũ) tại Sài Gòn.

- 10.10.2005: Triển lãm tại Văn Miếu (Hà Nội) nhân dịp kỷ niệm 50 năm tiếp quản thủ đô Hà Nội và 995 năm Chiếu Dời đô của vua Lý Công Uẩn.

- 17-24.4.2007: Triển lãm tại Boston (Hoa Kỳ).

- 13.8.2013: Triển lãm trong chương trình Tuần lễ Văn hóa Việt Nam tại châu Âu ở Potsdam (Đức) (với phiên bản in ở Berlin).

Sau cuộc triển lãm ở Boston (17-24.4.2007), do không thể mang ngay các vật dụng trưng bày về Việt Nam được, tác giả phải gửi lại trường Đại học Massachusetts giữ giùm.

Vừa rồi, nhà thơ Nguyễn Bá Chung thay mặt tác giả đến xin lại và chuyển bằng đường hàng không về Việt Nam.

Ngày 17.4.2026 các bức ảnh-thơ in trên giấy Dó truyền thống của Việt Nam đã về Sài Gòn, được chở đến giao tận tay nhà thơ Nguyễn Duy.

Thế là, “châu về Hợp phố” sau đúng 19 năm “lưu lạc” nơi quê người.

(Theo tư liệu của nhà thơ Nguyễn Duy)


Kí ức và hình thức tự sự trong văn học di dân của người Việt

 Tino Cao

Trong nhiều nghiên cứu về văn học Việt Nam hải ngoại, các tác phẩm thường được đặt trong một khung tham chiếu quen thuộc, gắn với chức năng lưu giữ kí ức chiến tranh và kinh nghiệm lưu vong. Cách tiếp cận này tạo ra một nền tảng nhận diện cần thiết vì nó giúp xác định đề tài và bối cảnh lịch sử, đồng thời cung cấp một điểm tựa để đặt những trải nghiệm rời rạc của cộng đồng di dân vào một mạch chung có thể nhận diện. Trong Memory Is Another Country (2009), Nathalie Huynh Chau Nguyen cho thấy kí ức vận hành như một phương tiện duy trì sự liên tục với quá khứ, còn trong Body Counts (2014), Yen Le Espiritu nhấn mạnh cách kinh nghiệm chiến tranh tiếp tục định hình đời sống hiện tại của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Tuy nhiên khi nhấn mạnh vào chức năng lưu giữ và phản ánh, cách hiểu này cũng đồng thời giới hạn việc phân tích trong phạm vi nội dung khi các tác phẩm được tiếp cận như những bản ghi lại một kinh nghiệm đã có sẵn hơn là những thực hành ngôn ngữ có khả năng làm biến đổi kinh nghiệm đó. Vấn đề không phải là những cách đọc này sai mà là chúng dừng lại quá sớm khi xem kinh nghiệm như một đối tượng ổn định có thể chuyển tải gần như nguyên vẹn qua ngôn ngữ, trong khi chính quá trình viết đã làm thay đổi hình dạng của kinh nghiệm trước khi nó có thể xuất hiện như một câu chuyện. Khi chuyển trọng tâm từ cái được kể sang cách kể, có thể thấy các tác phẩm di dân không tổ chức kinh nghiệm thành một chuỗi liền mạch mà được triển khai qua những mảnh rời, những đoạn đứt quãng và những điểm lệch nhịp trong tự sự. Chính ở đây, việc viết phản ánh rõ quá trình tổ chức hơn là một hành động ghi chép.

Những "linh hồn Nga mồ côi" trên đất Pháp

 Lê Thọ Bình

Trong dòng chảy của thi ca Xô Viết thập niên 70, Robert Rozhdestvensky hiện lên như một tượng đài của sự chính trực.

Là một người cộng sản thuần thành, một tiếng nói đại diện cho lý tưởng của thời đại, nhưng khi đứng trước những nấm mồ tại nghĩa trang Sainte-Geneviève-des-Bois ngoại ô Paris, ông đã để lại một bài thơ vượt ra ngoài khuôn khổ của những giáo điều chính trị.

Đó là một cuộc đối diện sòng phẳng với lịch sử, nơi ý thức hệ phải nhường chỗ cho lòng trắc ẩn và cội nguồn dân tộc.

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2026

Tháng Tư: Khi lịch sử soi mình bên dòng Hương Giang

Trần Hoàng Phố

1-

Năm 2026, 51 năm sau một cột mốc làm thay đổi dòng chảy dân tộc. Hơn nửa thế kỷ – một quãng thời gian đủ để một đứa trẻ chào đời trong khói lửa nay đã lên chức ông bà, đủ để những vết thương trên da thịt đã thành sẹo, nhưng có lẽ vẫn cần thêm những nhịp cầu để những "vết sẹo tâm thức" thực sự được chữa lành.

Bộ tranh khắc gỗ Henri Oger – bản lưu trữ tại Thư viện Đại học Keio, Nhật Bản

 Hà Vũ Trọng

Kĩ thuật của người An Nam | Technique du peuple Annamite là một công trình nghiên cứu về xã hội ở An Nam do Henri Oger chủ xướng với bốn nghệ nhân người Việt minh hoạ và khắc gỗ gồm Nguyễn Văn Đãng, Phạm Trọng Hải, Nguyễn Văn Giai, và Phạm Văn Tiêu – phần lớn là người Hải Dương (của các làng như Hồng Lục, Liễu Tràng với truyền thống lâu đời về tranh khắc gỗ) được thực hiện vào năm 1908–1909. Thời đó bộ sách được phát hành chỉ với số lượng hạn chế khoảng 60 bản. Nội dung phản ánh đời sống của người dân Bắc Kì cuối thế kỉ IX - đầu XX. Các bức tranh khắc gỗ trong Kĩ thuật của người An Nam trải dài nhiều đề tài từ việc sản xuất, nghề nghiệp, dụng cụ, tín ngưỡng, phong tục, trò chơi dân gian đến các nhân vật lịch sử đương thời và đời sống muôn mặt của người dân Bắc Kì xưa.

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

Tôn trọng thành tựu nhưng từ chối ảo tưởng

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Sự kiện họa sĩ Chu Tiến Thăng đạt giải tại Portrait Society of America là một thành tựu đáng ghi nhận. Điều này không cần tranh luận, đó là kết quả của một nền tảng kỹ thuật vững vàng, một quá trình rèn luyện nghiêm túc và sự kiên định với ngôn ngữ hội họa chân dung hiện thực. Trong bối cảnh hội họa Việt Nam hiếm khi có sự hiện diện rõ ràng trên các sân chơi quốc tế chuyên biệt thì đây là một dấu hiệu tích cực. Nhưng vấn đề không nằm ở bản thân thành tựu mà nằm ở cách nó đang được diễn giải.

 Truyện ngắn của Thiền Zen Paul Vân Thuyết

Một buổi chiều mùa thu, ánh hoàng hôn đang tàn dần, mặt trời đỏ au tròn như chiếc đĩa lớn nằm lơ lửng phía trên đường chân trời, xung quanh nó có vài đám mây màu ghi xanh xám lượn lờ bao quanh đang trôi dần về phía màn đêm. Tôi chợt nảy ý định muốn lang thang dạo phố và ngồi đâu đó vẽ vài bức ký họa mà chưa muốn về nhà. Tôi xuống xe buýt ở ngay ngã ba cuối phố Trần Hưng Đạo cắt ngang phố Lê Duẩn đối diện với ga Hàng Cỏ. Phố xá đông đúc tấp nập người đi lại. Tôi lang thang ngắm nhìn dòng người tất bật hối hả…

Ở thế kỷ 18, người Việt gọi chữ “Quốc ngữ” là gì?

 Trần Quốc Anh

Cha Philipphê Bỉnh giải thích tại sao ông soạn sách bằng quốc ngữ (“chữ nước người mà tiếng nước ta”) thay vì chữ Nôm (“chữ nước ta”). Ông sống ở Bồ đã lâu rồi, ít dùng chữ Nôm nên cũng quên nhiều (“vì chữ An Nam đã lâu năm mà chẳng có đọc cùng chẳng có viết. thì đã quên hình tượng nó đi”).

Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Ocean Vuong – một tâm hồn nhạy cảm từ văn chương sang nhiếp ảnh

 Clément Ghys, Le Monde 05/04/2026.

Bảo Chân dịch

Độc giả đã vinh danh Ocean Vương qua những vần thơ và tiểu thuyết, trong đó tác phẩm mới nhất Hoàng đế xứ Gladness vừa được xuất bản ở Pháp. Nhưng Ocean Vuong còn là một bậc thầy về nhiếp ảnh. Trong suốt hai mươi năm qua, những bức ảnh anh chụp không chỉ kể lại những năm tháng tuổi trẻ ở Connecticut, kể nguồn cội Việt Nam, mà còn khắc hoạ một nước Mỹ của những người bên lề xã hội.

Khi một pavilion không còn là triển lãm, nó trở thành một lập trường

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Có những cuộc tranh luận không cần đến lời nói, không có diễn đàn, không có micro cũng không có những tuyên bố chính thức. Người ta bước vào một không gian, đi chậm lại, nhìn, rồi rời đi và khi bước ra, một ý niệm về một quốc gia đã âm thầm hình thành trong tâm trí của họ. Đó là cách mà Venice Biennale vận hành, không phải như một triển lãm đơn thuần mà như một cấu trúc nơi các quốc gia tự trình bày mình trước thế giới bằng thứ ngôn ngữ khó phản biện nhất, ngôn ngữ của hình ảnh.

Sự phục hưng của chủ nghĩa Marx trong xã hội Mỹ: Từ di sản bị đẩy ra rìa đến công cụ nhìn lại thời đại

Tino Cao

Nếu chỉ nhìn sự gia tăng mối quan tâm đến học thuyết Marx trong đời sống trí thức và chính trị Hoa Kì những năm gần đây như một “làn sóng quay lại”, có lẽ vẫn chưa chạm tới bản chất của vấn đề. Sự thật là đang diễn ra một dịch chuyển ngay trong điều kiện nhận thức của xã hội Mĩ khi những khái niệm từng sử dụng để giải thích thực tại nay không còn đủ sức diễn đạt. Marx trở lại không phải như một biểu tượng lịch sử cần khôi phục mà là nguồn khái niệm gợi mở cách nhìn khác về những gì đang tồn tại. Chính vì vậy, sự phục hưng này không dừng ở phạm vi các ngành xã hội học hay triết học mà lan vào không gian công cộng, từ các phong trào xã hội, báo chí cho đến ngôn ngữ thường nhật của chính trị. Cần nhấn mạnh là sự trở lại này không mang hình thức của một hệ tư tưởng khép kín, cũng không nhằm tái lập một Marxism chính thống hay truy tìm một “đường lối đúng”. Marx được tiếp cận như một tập hợp công cụ phân tích, có thể vận dụng linh hoạt để xem xét những hiện tượng cụ thể của chủ nghĩa tư bản muộn màng. Chính cách tiếp cận này khiến Marx thích ứng với bối cảnh Hoa Kì, nơi mọi hệ tư tưởng khi đi vào đời sống đều phải được điều chỉnh để phù hợp với một truyền thống đề cao tính thực dụng và luôn giữ khoảng cách với giáo điều.

Nghệ thuật – Nơi vết thương có hình hài

 Nguyễn Man Nhiên

Trong lịch sử mỹ học, nghệ thuật thường được ca ngợi như vương quốc của cái đẹp, của hình thức, của thiên tài và của tính độc sáng. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận nghệ thuật từ bình diện thẩm mỹ thuần túy, ta sẽ bỏ lỡ một trong những động lực sâu xa nhất của hành vi sáng tạo: nhu cầu tự bảo tồn đời sống tinh thần.

Thứ Hai, 13 tháng 4, 2026

Một thoáng trăng Cái Mơn

 Truyện ngắn của Đào Ngọc Chương

1

- “Đây là sứ trắng” – người nữ y tá trạm cấp cứu vừa nói vừa cười, rồi đưa tay lắc nhẹ chậu hoa.

Tôi sững người. Vẫn cánh lá xanh to bản hằn rõ những đường gân lá ấy, vẫn những búp xanh phong kín cái màu trắng suốt của những cánh hoa chưa nhìn thấy ấy, sao gọi là sứ trắng. Tôi ngắt một chút lá vò nát rồi đưa lên mũi. (Ai lại tìm về với hoa như vậy, nhưng đó là thói quen của những ngày tôi học thuốc nam). Như có vị cay trong mùi hương lá nồng nàn. Đích thị Ngọc Lan rồi.

Một tường thuật chi tiết về hội thảo “Văn học di dân: Ý niệm lưu đày và cứu rỗi – cùng những suy tư triết học và thần học”

 Nguyễn Hồng Anh

Dưới đây là bản tường thuật chi tiết trích từ tóm tắt tham luận của chúng tôi. Với hoạt động này, chúng tôi, gồm Học viện Công giáo và nhóm giảng viên/ nghiên cứu viên của các trường đại học và viện nghiên cứu, đã phần nào thực hiện được ước muốn về sự kết nối giữa khoa học - văn học - thần học/ đức tin, theo ý chỉ của Giáo hoàng Phanxico trong Tông thư viết về vai trò của văn chương trong đào tạo (cf. https://tgpsaigon.net/bai-viet/thu-cua-duc-giao-hoang-phanxico-ve-vai-tro-cua-van-chuong-trong-dao-tao-75307).

Sách mới: “TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học” của giáo sư Nguyễn Hữu Liêm có gì hay?

 Nguyễn Viết Sáng

 

Một tác phẩm triết học chuyên sâu về siêu hình vừa được xuất bản bởi Nhà xuất bản Tổng Hợp TP. HCM và Trustbooks, hứa hẹn mang đến cho độc giả một cách tiếp cận mới mẻ đối với câu hỏi muôn thuở: “Ta là ai?”

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2026

Đọc Bùi Vĩnh Phúc: Chữ nghĩa & Không gian văn chương

 Phan Tấn Hải

Thêm một cuốn sách phát hành giữa một thời bom đạn bay khắp trời. Bất kể rằng, dòng chữ không ngăn cản được đường đạn bay. Hiển nhiên, bởi vì tác giả Bùi Vĩnh Phúc đang rời khỏi thế giới vật lý của địa cầu, để bước vào một thế giới nơi mà anh gọi là một không gian văn chương rất riêng trong tác phẩm mới, nơi đó là thơ, là văn, là nhạc, là phê bình, là cảm nhận, là những giấc mơ bay bổng từ chiếc đàn dương cầm với các phím là chữ và nghĩa. Như thế đó, tuyển tập các bài viết của Bùi Vĩnh Phúc ấn hành với nhan đề Chữ nghĩa & Không gian văn chương (CN&KGVC) nơi do chính anh tuyển chọn, trích lại các bài viết anh ưa thích nhất.

Người đàn bà sống trong chiếc giày

 Truyện ngắn Nguyễn Đức Tùng

Anne Nguyen sống trong một chiếc giày. Thời bây giờ không có nhiều phụ nữ sống một mình trong chiếc giày. Họ thích sống trong các chung cư sang trọng có hồ bơi và có nhân viên bảo vệ hơn. Vì vậy, Anne là một trường hợp đặc biệt, cô sống ở đó đã nhiều năm, hoàn toàn bằng lòng với hoàn cảnh của mình. Cô ít khi mời ai tới nhà, thường tự tay chăm sóc căn nhà của mình, sạch sẽ, gọn gàng. Nhà có hai cửa sổ, một cửa ra vào, có thảm chùi chân. Tấm thảm bao giờ cũng sạch sẽ vì ít khi đón khách. Một ngày có người khách lạ tới gõ cửa. Anh ta muốn đi tìm một người vợ. Đó là một thương nhân giàu có. Anh nói, tôi nghe nói nhiều đến cô. Người ta khen ngợi cô rất nhiều. Đây lần đầu tiên tôi được gặp, và tôi hết sức ngưỡng mộ vẻ đẹp dịu dàng của cô. Anne nói, tôi không thích những người đàn ông đánh giá phụ nữ qua vẻ ngoài và dựa vào sắc đẹp. Tôi ưa những người đàn ông yêu phụ nữ xấu. Cảm ơn anh, nhưng anh không phải loại người mà tôi chờ đợi.

Đọc sách: CON NGƯỜI MỘT CHIỀU – Lý thuyết phê phán xã hội của Herbert Marcuse

 Hiếu Tân

Trong tác phẩm Con người Một chiều: Nghiên cứu về ý thức hệ của xã hội công nghệ tân tiến[*] (One-Dimensional Man: Studies in the Ideology of Advanced Industrial Society) (1964), Herbert Marcuse đưa ra lí thuyết “Một chiều” (One-Dimension): ‘Con người Một chiều’, với ‘Tư duy Một chiều’ tạo nên ‘Xã hội Một chiều’ – một xã hội không có đối lập, mà “không có đối lập” là điều kiện thuận lợi để xã hội duy trì và vĩnh viễn hóa sự thống trị, áp bức, kiểm soát con người. Con Người, theo Marcuse, là chủ-thể có tự do, sáng tạo và quyền tự quyết. Xã hội đương đại, theo Marcuse, hạn chế, kiềm chế và áp chế con người, nhưng mang trong lòng nó những khả thể giải phóng. Con người cần phải thoát khỏi tình trạng một chiều, phê phán trạng thái xã hội hiện tồn, tìm cách biến các khả thể thành hiện thực.

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

Ngày lễ Ivy trong phòng họp ủy ban

 James Joyce

Trịnh Y Thư dịch

Lão Jack gom những mảnh than vụn lại bằng một tấm bìa cứng rồi khéo léo rải lên đống than đang trở màu bạc trắng. Khi đống than được phủ sơ sài, gương mặt lão chìm vào bóng tối; nhưng khi lão cúi xuống quạt lò, ánh lửa tỏa lên soi cái bóng lom khom của lão lên bức tường đối diện và khuôn mặt lão dần hiện ra. Đó là khuôn mặt của một ông già, rúm ró, râu ria lởm chởm. Đôi mắt tèm hem lúc nào cũng ươn ướt có con ngươi màu xanh của lão chớp chớp nhìn vào lửa, cái miệng nhểu nhảo khép mở, lúc khép, nó nhóp nhép như đang nhai cái gì. Khi than đã bén lửa, lão dựng tấm bìa vào tường, thở dài, nói:

Dịch sang tiếng Anh thế nào hai câu thành ngữ “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” và “uống nước nhớ nguồn”?

 Thiếu Khanh

 

 

Hai thành ngữ tiếng Việt này mang cùng một ý nghĩa như nhau, luôn đi đôi, gắn kết với nhau như hai mặt của một đồng tiền, và chúng thật đơn giản; có lẽ bất cứ một người Việt nào dù nhỏ tuổi đều hiểu rõ ý nghĩa khi nói hoặc nghe người khác nói. Thế nhưng, khi cần dịch chúng sang tiếng Anh thì chuyện sẽ thành ra không đơn giản nữa, dù hầu như học sinh phổ thông ngành tiếng Anh lớp 12 nào cũng có thể dễ dàng dịch được.

Cấu trúc quyền lực và dòng chảy giá trị trong hệ sinh thái gallery toàn cầu

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập, dịch và biên soạn

Các tài liệu và sách báo về thị trường nghệ thuật khẳng định rằng: dưới lớp bề mặt tưởng chừng như tự do của thị trường nghệ thuật đương đại là một hệ thống vận hành theo nhiều tầng nấc nghiêm ngặt. Ở đó, giá trị không chỉ xuất hiện từ bản thân tác phẩm mà được hình thành qua sự tương tác giữa các thiết chế, thị trường và diễn ngôn học thuật.