Danh Ngôn

“Nhà tù thực sự duy nhất là sợ hãi, và tự do thực sự duy nhất là tự do khỏi sợ hãi”. (The only real prison is fear, and the only real freedom is freedom from fear) – Aung San Suu Kyi (Freedom from Fear, 1980)


Nơi nào tự do cư ngụ, nơi đó là đất nước tôi”. (Where liberty dwells, there is my country) – Benjamin Franklin (trích thư của Franklin gửi cho Benjamin Vaughan, 14/3/1783)


“Chúng ta được tự do, không phải vì chúng ta đòi tự do, mà vì chúng ta thực hành nó”. (We must be free not because we claim freedom, but because we practice it) – William Faulkner. (On Fear: The South in Labor, đăng trên Harper's Magazine, 1956)

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Quê hương tôi xứ dân Hời

Tạp bút Khuất Đẩu

Quê tôi, một miền quê thuần nông, nghèo nhưng không đến nỗi đói, nằm cạnh sông Kôn, con sông lớn nhất tỉnh Bình Định chảy qua kinh thành Đồ Bàn với rất nhiều huyền thoại.

Từ hiên nhà nhìn ra, sáng chiều và ngay cả trong những đêm tối trời, tôi vẫn thấy tháp Bánh Ít ở trước mặt, như hai búp măng non mọc lên từ lòng đất.

Xa hơn về phía tây, vượt hẳn khỏi những lũy tre ở quê ngoại, là tháp Cánh Tiên rực vàng trong nắng sớm và đỏ thắm trong những buổi chiều tà.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 179): Bùi Bích Hà

Mai (tôi) về Huế

Bùi Bích Hà

imageBùi Bích Hà sinh năm 1938 tại Gia Hội, thành phố Huế.
Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế ban Pháp văn.
Dạy Pháp văn tại Ðà Nẵng rồi Sài Gòn. Vượt biên 1984.
Ðịnh cư tại Laguna Hill, quận Cam, Cali USA từ 1986.
Xuất hiện trên báo Người Việt từ 1987.
Tác phẩm đã xuất bản:
Buổi Sáng Một Mình (tập truyện, Người Việt 1989)
Bạn Gái To Nhỏ (hỏi đáp tâm lý, Người Việt 1991)


Huế ngày nay. (Hình: Manan Vatsyayana/AFP/Getty Images)


Tôi xa Huế đã lâu. Lâu lắm. Lẽ ra đã quên nhiều thứ. Nhưng không. Cả BĐ. Tôi nghĩ chị cũng đã quên, hóa ra chị vẫn nhớ. Chị viết cho N. hôm qua, kể lại: “Đám cưới BH, bạn bè chỉ có một mình BĐ đến rồi BH bỏ Huế mà đi. Có người than thở: ‘Sao lấy chồng xa?’”

Người than thở ấy nay cũng đã bỏ Huế. Đã đi thật xa. Xa đến nỗi không thể nào quay về.

Bỗng dưng từ nơi mịt mùng, lặng lẽ, N. thình lình viết cho tôi: “Mình có một công việc mới. Mai về Huế. Sẽ ghé thăm BĐ.”

Một chỗ nào đó trong tôi, đã đau đớn, đã âm ỉ, đã tê dại, đã dường như chết. Đã để yên, đã chôn sâu ở một nơi thật khuất lấp những gì trôi xa tầm với. Những gì đã chia tay biết không còn lần gặp lại. Có câu hát của ai đó ghi khắc vào trí nhớ tôi,“và một loài hoa chợt hé…” Thỉnh thoảng, kỷ niệm những ngày vui xưa khẽ rung trong hồn như một hồi chuông thất lạc, một thoáng gió mơ hồ lay lắt chút dư hương. Nhưng không. Không chỉ có thế. Những củ tulip, những củ glailleul vẫn ngủ vùi trong thửa đất tưởng đã hết màu mỡ.

Văn học miền Nam 54-75 (595): Phạm Công Thiện (kỳ 4)

Ý thức mới về văn nghệ và chính trị

Chương ba
Nghĩ về ý nghĩa của Phật giáoThiền tông qua vài suy luận triết học Heidegger
Bây giờ đọc lại chương ba này, nói về Thiền tông và Heidegger thì tâm hồn tôi lại cảm thấy táy máy bồn chồn. Lúc tôi viết chương này thì tôi đang ở một nông trại tại Phi Nôm cách Đà Lạt 20 cây số. Dạo đó tôi mới đọc D. T. Suzuki và cũng mới đọc Heidegger. Mười năm nay, tôi đã đọc đi đọc lại D. T. Suzuki và Heidegger (tôi đã tìm đọc toàn thể tác phẩm của D. T. Suzuki và toàn thể tác phẩm của Heidegger). Trong mười năm nay, tôi đã “ăn nằm” với D. T. Suzuki và Heidegger; D. T. Suzuki tượng trưng cho Đông phương và Heidegger tượng trưng cho Tây phương, tôi đã đọc từng dấu chấm, từng dấu phết của những gì họ viết; tôi đã say mê, sung sướng với từng nhịp điệu ý nghĩa của từng tư tưởng, từng trang văn của họ, nhưng bây giờ sau mười năm qua thì tôi thấy mình đã biến đổi khác hẳn: tôi không còn ảo tưởng nào về D. T. Suzuki và Heidegger nữa. Tôi kính phục họ như kính phục những thầy giáo dạy mình lúc ở tiểu học; nhưng bây giờ thì tôi không còn đi học nữa; tôi đã bỏ học vĩnh viễn.

Với dự án Luang Prabang từ 2007 Việt Nam đã quy hàng chiến lược thủy điện của Lào

Với chính phủ Lào thì Biên bản Ghi nhớ – Memorandum of Understanding – năm 2007 về dự án thủy điện Luang Prabang với Việt Nam không thuần chỉ là một “quid pro quo – trao đổi dịch vụ giữa hai bên” nhưng có một ý nghĩa chiến lược lớn lao hơn một con đập rất nhiều: đó là Việt Nam đã bật tín hiệu đèn xanh đối với toàn chuỗi 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào. Chính phủ Lào đã rất khôn ngoan hiểu rõ rằng từ nay 2007, trên thực tế – de facto, mọi phản đối của Việt Nam nếu có cũng chỉ là chiếu lệ; và giới am hiểu tình hình lưu vực sông Mekong đã thấy rõ một Hà Nội bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, và đã bị khuất phục và quy hàng trước chiến lược thủy điện của Lào. Ngô Thế Vinh

Tảng đá ngàn năm

Truyện Trương Quang

                             Trên núi cao cây cối thì buồn

                             Đá ngủ quên hàng muôn ngàn năm.

                      T.T.N.C.

Xin thành tâm tạ tội với những dân tộc bị diệt chủng trong cuộc Nam tiến của người Việt

KÊU GỌI NHÀ CẦM QUYỀN VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TOÀ ÁN QUỐC TẾ VÀ ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC PHÒNG VỚI CÁC NƯỚC CÓ CHUNG QUYỀN LỢI HỢP PHÁP TRÊN BIỂN ĐÔNG (Cập nhật đợt 16 với 10 tổ chức, 1162 cá nhân đã ký)

I. Tình hình

Đầu tháng 07 năm 2019, nhà cầm quyền Trung Quốc đưa tàu Hải Dương 08 và các tàu hộ tống ra vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam như vào nơi vô chủ. Mới đây nhà cầm quyền Trung Quốc lại đưa tàu cần cẩu Lam Kinh vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, có lúc chỉ cách bờ biển Việt Nam 90 km. Cho đến nay những tàu ấy vẫn còn quấy phá vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đây là lúc thuận lợi nhất để kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế. Vậy mà, chính quyền Việt Nam vẫn tự hạn chế trong những phản ứng yếu ớt không xứng tầm của một dân tộc từng được coi là tấm gương bất khuất cho các nước nhỏ yếu. Thái độ ấy của chính quyền gây ra sự nghi hoặc và bất bình rất lớn trong nhân dân và khiến các nước hữu hảo không thể tích cực giúp đỡ Việt Nam bảo vệ chủ quyền.

Tưởng nhớ nhà thơ Nam Kỳ Lục Tỉnh Trần Tuấn Kiệt

Vương Trùng Dương

Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt. (Hình: Người Việt Bốn Phương)

“Thơ Trần Tuấn Kiệt đã đạt tới cõi nguồn trường mộng tinh anh nên gợi dậy rất nhiều chân trời hoài niệm. Dựng lên những câu hỏi huyền hoặc. Lời thơ pha đủ mọi dư vang của triều rộng. Con cháu Nguyễn Du đã gặp Hoelderlin Nerval – và đón suy tư hướng vọng vĩnh thể của thiên tài Tây phương. Niềm chiêm nghiệm bát ngát vô song…” (Nhà thơ Đức Friedrich Hölderlin, 1770-1843, nhà thơ Pháp Gérard de Nerval 1808-1855 – Bùi Giáng).

Văn Hải ngoại sau 1975 (178): Trần Vũ phỏng vấn Đỗ Lê Anh Đào

Sinh 1979 và đến Hoa Kỳ từ 1992. Phụ trách chương trình télévision VAALA và được xem như một trong những gương mặt trẻ làm thơ, viết văn, viết báo hôm nay, Đỗ Lê Anh Đào bên ngoài mang nét man dại của một thiếu nữ Bolivia nhưng đằng sau làn da ngăm là một nội tâm ngỗ nghịch pha lẫn khát khao của một tuổi trẻ đang tìm kiếm diện mạo của chính mình. Bước vào thế giới thơ-truyện của Đỗ Lê Anh Đào là bước chân vào một thế giới nhạy cảm của vùng vẫy bản năng.

Buồn vui cùng Trần Tuấn Kiệt

Nguyễn Văn Ðậu

Ðã từ nhiều năm nay, Trần Tuấn Kiệt không còn ra ngồi cà phê lúc sáng sớm ở mấy cái quán đầu hẻm gần nhà.

Anh bảo, trong người mệt ngồi chỉ chốc lát là cái đầu cứ quay quay muốn té.


Tác giả (phải) và Trần Tuấn Kiệt, ngồi trước cửa nhà, 2013.

Người tình – Bài thơ giã biệt Du Tử Lê

Nguyễn Đức Tùng

clip_image002[4]



Năm giờ sáng

Em nhắn tin

Từ trong vùng tối

Sương mù bay đầy trời

Anh Du Tử Lê vừa mất

Sau những ngày thật im lặng

Điện thoại sáng lên như vầng trăng

Dưới gối

Gọi người về

Anh vẫn nghĩ về cái chết nhưng tin hãy còn lâu

Như ngực em vẫn thơm mùi hoa bưởi hoa ngâu

Mùi cỏ cây mục nát bên đường

Khi em nói cùng anh

Gió thổi mênh mang ngoài bãi cát

Em lại muốn ôm anh thêm một lần

Chiếc thuyền máy tắt

Thùng dầu cuối cùng phụt lửa

Mùa bắp chín trong làng

Khói đốt cỏ ngoài đồng nhòe mặt em

Nếu phải chết

Chúng ta sẽ chết trước mùa đông lạnh giá


Anh ngồi xuống sàn ghe khi nghe tin làng cũ

Chỗ ngồi lạnh lẽo, khói giăng mờ mặt nước

Mới đây, Nguyễn Trọng Tạo mất

Anh Lê bảo, rồi đến lượt chúng ta

Liệu còn ai đưa tiễn?

Không ai biết khi người thi sĩ ra đi

Chỉ có mùa thu tiễn biệt

Mùa thu Canada

Em biết rồi

Chỉ có lá phong vàng ối

Màn hình dưới gối anh sáng mờ

Lời tỏ tình bí mật

Em nghĩ đến anh, lúc anh mất

Em không biết nói cùng ai nữa

Một vì sao đổi ngôi, gốc cây vạm vỡ

Ngã trong xóm nghèo

Mặc thêm áo khoác, anh ngồi ngoài trời thêm dăm phút

Nhớ người đi về Biển Đông

Cuối cùng rồi những Thị Nghè, Tự Do

Trăng viễn xứ, nghĩa trang xưa, lại được chôn cất thêm lần nữa

Nhớ những chuyến đi cùng anh tở mở vào Nam ra Bắc

Sài Gòn Mừng Vui Còn Có Hôm Nay

Vui thế mà lại buồn ngay

Bạn bè tụ rồi lại tán

Ghét chán rồi ôm nhau

Em phải về Hà Nội

Anh bảo

Dịu dàng, bắt buộc

Em phải gặp Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Dương Tường

Em phải gặp Mai Thảo, Nguyên Sa, Nguyễn Chí Thiện, Trần Dạ Từ

Ôi tấm lòng ở với văn chương

Em phải viết về họ

Nguyễn Trọng Tạo cười chen ngang: lịch sử giao cho chú mi nhiều thứ quá

Em phải đến Hồ Tây

Hà Nội phải nhìn từ phía ấy

Như Mai Thảo nhìn từ trên xuống

Một người yêu Sài Gòn đến thế

Nhớ Hà Nội vô cùng

Em phải làm nhiều chuyện

Phải đi Yên Tử, phải xuống Cẩm Giàng

Về Quảng Ngãi của Thanh Thảo, vào Hà Tiên của Đông Hồ

Hai chúng tôi đi dọc Hồ Gươm

Đi ngược chiều những cặp tình nhân cũ, mới

Vầng trăng chín vội bên trời

Ly cà phê đắng chát

Anh kêu nhầm

Tôi bảo cà phê Hà Nội kỳ kỳ

Anh thì cố bào chữa

Nhưng cái đẹp đã bào mòn chúng ta

Cái đẹp ngày càng hững hờ mà không chết

Tháp Rùa quàng khăn mỏng

Đêm lập lòe ác mộng

Sương mù ùa vào những con đường Hà Nội

Vào lồng ngực bàng hoàng hổ phách

Của Tr. Dương Huệ

Nguyễn Thụy Kha nói: đây là gác trọ Xuân Diệu, Tự lực Văn đoàn

Anh bảo mình đứng lại một lát, vội gì, cho anh hút điếu thuốc

Bức tường mưa ngăn hết lối về

Em có nghe không, anh bảo

Sự tàn tạ cuối cùng

Cội nguồn tự do đã chết

Sẽ khai sinh trở lại ở Thăng Long này

Anh muốn ngồi lâu hơn bên Hồ Tây, với Nguyễn Thế Hoàng Linh, Phạm Xuân Nguyên

Mượn trái tim về thăm tuổi trẻ

Mượn giấc mơ về thăm hàng gạch phong rêu

Trước ngõ Hoàng Cầm

Em, ngậm hạt muối tình yêu

Nhả ra toàn ngọc

Câu chuyện ngày xưa rưng rưng

Hai chúng ta đi dọc đường Tự do

Nối ruồi đen chúm chím

Lên ngã tư Hàng Xanh, xuống Đại học Vạn Hạnh

Hỏi tin Thích Minh Châu, tìm hiểu thêm lịch sử

Nhà thờ Ba Chuông ngày chạy loạn

Con gà trống giương cánh hót cuối đường Nguyễn Du

Nhang trầm la liệt

Chiều ba mươi tết

Anh không sợ chết, anh bảo



Bao nhiêu lần chúng ta khóc người ra đi

Bao nhiêu lần chúng ta gọi phone cho nhau

Tìm đến phút giây lạ kỳ

Những đám tang chung

Lê Đạt, John Ashbery, Minh Đức Hoài Trinh mất, M.S. Merwin,  Nguyễn Trọng Tạo, Mary Oliver, Nguyễn Thanh Giang mất, Marie Ponsot

Bao nhiêu cánh cửa nước mở ra, khép lại

Em đi đi

Một góc sim chiều muộn

Phòng thủ những con đường

Phòng thủ cái chết

Cơn giông sáng mặt người thương

Em ơi, chúng ta từ giã một con người

Yêu đã lắm

Khổ nhục vô cùng, anh nói, cười xòa

Gà gáy sang canh

Lối đi trước bệnh viện Phủ Doãn mờ cỏ dại

Nguyễn Đặng Mừng thấy bóng người lướt đi

Mảnh chăn đơn khoác chéo trên vai

Lời thì thầm che khuất

Hãy để anh đi trở vào giấc mơ

Trăng ngoài kia mây che mịt mờ

Em, đêm qua anh nhìn thấy một người

Rẽ trái vào linh hồn

Con bướm trắng đậu ngoài tường

Em bảo lúc anh mất em không biết nói cùng ai nữa

Chim gõ kiến ngoài vườn anh gõ mãi

Mở một cánh cửa thật khó khăn

Mở ngàn cánh cửa

Dễ gì qua được, vậy mà chúng ta đã qua

Ngàn tự do bị giẫm đạp

Những mùa cỏ hoa tan nát

Linh hồn người chết nhẹ như sương

Thời nhỏ anh muốn bơi qua Hồ Tây

Khi đọc bài thơ Tương biệt dạ

Nhất Linh minh họa

Em ngồi xuống đây

Khách sạn Trà hoa nữ

Hoàng Ngọc Hiến bảo: anh cứ mê chuyến đi Bắc Ninh của anh em mình quá

Này, những bức tường rêu sẽ sụp đổ

Nguyễn Trọng Tạo bảo: dải lụa hồng anh mang về cho em đó

Kinh Bắc hề, quan họ

Sông Đáy vào thu như chiếc thắt lưng

Thêu, lấm láp tình yêu cũ

Anh rủ tôi về Cẩm Giàng

Thăm Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam

Chuyến tàu lửa ào ào chạy qua

Hoa gạo đỏ bao lần

Bóng con nai băng rừng

Mở một con đường máu

Sự sống không bao giờ bị từ chối

Người tốt đi quá vội

Anh Nguyễn Văn Dũng vội

Phùng Nguyễn, Phạm Toàn cũng vội

Tình yêu không khổ nhục

Tôi cãi anh

Chỉ phút giây không vững vàng

Làm chúng ta khổ nhục mà thôi

Phật lòng chút đỉnh, vẫn rủ rê nhau về thăm lần thứ hai

Khói thuốc lào xanh chiều nghiêng đổ

Lả tả mưa dầm

Gác Hoàng Cầm

Nối ruồi son thánh thót

Hạt cơm nguội ngậm trong miệng

Thành mưa bay

Thôi cứ để cho người ta khóc

Khi buồn lo, khi hạnh phúc, đời sống tất bật bao điều

Lon gạo mốc khi tình yêu cập bến

Anh em chúng ta về trước hàng rào kẽm gai

Trại lính, cuộc chiến tranh chưa bao giờ qua, nghĩa trang Biên Hòa

Một người già chống gậy

Người cựu chiến binh bán vé số vừa qua đây

Anh bảo

Vết máu trên ngực chưa tan

Khoảnh khắc giữa hai cuộc chiến tranh

Trong hai mươi năm chúng ta làm nên tự do

Trước đó dân tộc chưa từng có

Chúng ta sáng tạo ra những nhu cầu chưa ai biết

Ăn cầm chừng nhịn đói nhịn khát

Chỉ thèm khí trời

Trong sạch

Làm tình dưới những ngôi sao và hát

Em biết không khoảng trống giữa hai câu thơ

Là không gian gió bão

Tóc người nhảy múa

Em, anh không ngủ được, thức dậy nhiều lần trong đêm

Nhìn đăm đăm bức tường vôi trắng

Nhớ bến Bạch Đằng

em về môi hãy còn son

cây kem mùa hạ có còn trên tay


Ngoài cửa sổ, mưa bay ngày càng nặng hạt

Dưới vườn ngọn lửa bé nhỏ

Như chiếc thuyền ra khơi ngày càng xa

Em gởi cho anh liên tiếp nhiều bài thơ

Chiếc thuyền bây giờ đang tách bến

Chiếc thuyền về Biển Đông

Trên sàn thuyền dưa hấu chín

Mùi mít thơm lừng

Sóng bọt trắng ào ào thả trôi ác mộng

Biển Đông, bất trắc

Biển là nơi chạy trốn cuối cùng

Phương Nam, cơ nghiệp một đời mang theo thả hết

Xin cho chúng ta một lần về lại

Trong chiều hôm khói sóng

Tha thứ cho nhau

Lỗi lầm trời biển

Không ma nào hiểu được

Một thời cuồng điên

Lao vào chém giết những vầng trăng

Những chuyến xe ầm ĩ lao đi trong đêm

Chở gạo và súng

Chở sự sống và cái chết

Tủi lòng gái quê

Mấy cuộc chiến tranh hiểu lầm chồng chất

Những cửa liếp thì thầm ngọn lửa

Giữa tình yêu và tội ác

Đừng nói chuyện dễ dàng

Xin cho anh một chỗ ngồi đàng hoàng thong thả đọc thư em

Nhòe nước mưa, bụi thời gian hai mươi năm, bốn mươi năm

Một hợp xướng buồn

Ký âm pháp là chút tình sót lại giữa chúng ta

Như trâm cài trong tóc mây

Trời sương sa bội bạc

Cho anh ôm em vào lòng

Những cuộc đời không có gương soi

Những tình yêu không có cặp có đôi

Hãy về trong thơ anh

Hãy để em ra vườn hái trái ổi xanh

Chấm muối

Má lúm đồng tiền, dằn dặt ngày vui

Anh muốn qua cầu Ga để dành trong túi cho em viên kẹo xóc tuổi nhỏ

Giữa đường giật mình lời cám dỗ

Mưa nhảy tí tách hoài trên lá sen

Như mười hai đứa trẻ

Ngọn đèn khuya mất ngủ

Ly cà phê ngã ba chợ Sặt Biên Hoà chống lại giấc mơ

Anh lặn lội đi tìm

Chân trần, cỏ nát, phí hoài tuổi trẻ

Nhà cũ, vách xiêu, tường vôi loang lổ

Sao em không về

Đứng dưới mưa mà khóc

Một người hát nghêu ngao đi qua trần gian

Dăm câu tình ái bẽ bàng, nhà quàn, gạch chéo, hàng me, sông núi

Bây giờ trở lại

Núi cũ, trăng non, rừng tre dại, ngón chân son

Vây quanh hồn người

Hai mươi bốn con sông, mười hai châu thổ, nắng biển, suối rừng

Em còn thương tiếc nữa không

Rau diếp, cần tây

Ngày xưa mưa cũ

Tiếng vợ hiền ngoài sân

Đứng sững trong mây cánh diều im lặng

Từ tạ một người

Đã vượt qua bầy ác thú

Một hồn đầy tủi hờn

Một hồn đầy sự thật

Một hồn đầy khổ ải

Tha thứ cho anh

Xin cho anh bắt đầu lại từ tình yêu chúng ta

Em về

Mặt đất chim quyên

Sóng dập dềnh vang mạn thuyền

Quỳ hai chân vẫn ngã

Mây trắng xóa bay qua đầu

Bay ngoài quê hương

Xa tắp cửa bể chiều hôm

Tiễn người thi sĩ ra đi

Này một cuộc chia ly

Cái kiến con ong còn thương tiếc mãi

Huống chi tâm hồn thơ mộng

Huống chi ngực em phập phồng hương bưởi

Hương cau, rau mùng tơi bến nước mịt mờ

Khói sóng

Huống chi thơ anh

Làm sao không trở lại

Với em

Em chờ anh mặc thêm áo khoác

California mùa này lạnh buốt

Xe đò Huế Quảng Trị thơm mùi bắp rang

Thóc rơi rào rào bên cối xay

Tóc em xõa ngang vai, bờ mông em thương quá

Làm sao anh không sa ngã

Tắt hình, tắt tiếng, về qua

Anh em chúng ta càng đi xa

Lại càng về gần, anh Lê nói

Như mùa xuân trở lại sau mùa đông

Chiếc áo mỏng còn dính ngực em tơi tả

Chị T. kể mối tình đầu trong thư

Chờ đợi tương tư

Hoa khế tím rụng vào đâu

Dòng nước mát qua cầu Tràng Tiền vào bến lạ

Dấu răng bàn tay, một ngày hạnh phúc đã qua đây

Không ai tin, nhưng anh tin điều ấy

Em thấy không

Đây là cánh cổng

Có lần anh tưởng mọi thứ đều có linh hồn

Bây giờ anh biết chỉ những cỗ bài tới, bài chòi mới có

Những con nọc nượn, con bạch tuyết

Cỗ bài xóc trong đêm em sốt mê mệt trời trở gió

Cầm tay bạn bè đã chết

Từ xa lắc về uống rượu

Cười hiền trên chiếu, thầm thì, ngẫm nghĩ

Những lý tưởng vật vờ

Ném vào một xó

Những công và tội vứt vào sọt rác

Những đúng và sai bay theo gió mặn

Nước đục, nước trong

Một dân tộc suốt đời lận đận dây dứt mãi

Tiễn anh về Biển Đông

Hát bài ca phổ thơ anh lần cuối

Trong K. khúc của Lê 2

Em, đêm đầy sương muối

Những người mất tích về đâu

Xác trên sông Đáy trôi về đâu

Kẻ thù chúng ta ở đâu

Hoa lục bình nở mãi

Trái bàng khô không rụng

Những thánh thần đứng mãi ngã ba đường

Lịch sử hề, ngơ ngác

Bài hát phương Đông, ta tặng em nhành nguyệt quế

Ngày tiễn nhau đi

Em ngồi chờ anh trong Thảo Cầm Viên

Nhưng anh đến ngã ba Lê Đại Hành Trần Quốc Toản

Ngày ôm ngực ho khan

Mùa thu đi lạc bước

Anh hôn em mặt khô nứt nẻ

Ngàn giọt sương trên lá sen

Không bằng một giọt lệ trên má em


Có gì đâu mà quê hương

Phương Nam biển mặn vô cùng

Em đừng để mất

Vầng trăng dưới gối vẫn thức

Vẻ đẹp không giấu được

Người đưa nhau tiếng guốc đêm dài

Đặt hết tình yêu xuống đất

Thi sĩ về cõi khác

Những dòng sông không ngừng chảy

Bí mật suối nguồn

Trong ngực em mùa thu giấu mùi hương

Của rơm rạ ngày mùa

Khói bếp chiều xưa

Chúng ta về làm con của mẹ

Anh yêu em, nhưng em muốn anh nói khẽ

Đi nhẹ nhàng thôi trước sân đình, con tắc kè đăm đăm nhìn chúng ta

Chú tiểu băng qua sân rộng

Đến bên hồi chuông vang ngân

Dừng lại xích sắt điên cuồng của thời gian

Mo cơm hiếm hoi

Bầy chim sẻ mang anh về trời

Chúng ta đặt xuống tình yêu nơi này trên cỏ ướt

Chiều đầy hương

Tiễn nhau một đoạn

Ngày hạnh ngộ

Hôn nhau ngoài sân lâu quá nồi cơm cháy thành than

Giấc mơ dai dẳng không tàn

Hối hả chiều quê kỉ niệm

Tiếng vĩ cầm vang trên sóng bạc

Đưa chiều nay một thi sĩ qua sông

Khăn tay nhàu nát nụ hôn người

Mười tám bậc lên chùa khấn vái

Nhành hương cong vòng không rụng

Bờ tre sương khói phập phồng

Những linh hồn như ngọn đuốc

Ngày sẽ tàn như hoa

Nhưng tình yêu còn lại

Anh sẽ trở về

Bay mãi dưới mưa tan vào mặt trời

Chảy theo ngọn nước

Một đời nương tựa

Vào em.



Mùa lễ Tạ ơn Thanksgiving 2019


(photo by Lena Nguyen)

Chùm thơ Thái Sinh


MẸ TÔI - ĐẤT NƯỚC


Mẹ tôi còng như dáng hình đất nước
Hái sao trời cấy lúa bên bờ biển Đông
Những bông lúa lấp lánh cầu vồng bảy sắc
Mang niềm vui mỗi vụ mùa vàng

Văn học miền Nam 54-75 (594): Phạm Công Thiện (kỳ 3)

Ý thức mới trong văn nghệ và triết học

Chương hai
Ý thức giải phóng – Hình ảnh thanh niên thời đại trong tác phẩm của Henry Miller

Chúng ta đã vượt qua giai đoạn thú vật, nhưng hiển nhiên chúng ta chưa là những con người thực sự.
(Henry Miller, Dimanche après da guerre, tr. 33)
Như vậy con người chính là siêu thể.
(Heidegger, Qu’appelle-t-on penser, tr. 54)

Chế độ dân chủ mong manh

Dani Rodrik, Project Syndicate ngày 9/10/2019

Phạm Nguyên Trường dịch

Không bảo vệ được quyền của các nhóm thiểu số là hệ quả dễ hiểu của logic chính trị của quá trình hình thành chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ tự do là hiện tượng tương đối hiếm, nhưng đấy không phải là điều cần giải thích mà cần giải thích vì sao nó vẫn tồn tại được.

rodrik165_GettyImages_statuebluesky

Trong tiểu thuyết Red Birds (Những con chim màu đỏ) của Mohammed Hanif có đoạn nói về một máy bay ném bom Mỹ rơi trong sa mạc Ả Rập và viên phi công bị kẹt lại cùng với dân chúng địa phương trong một trại tị nạn gần đó. Viên phi công nói với một chủ cửa hàng về những tên trộm. “Chính phủ của chúng tôi là thằng kẻ trộm lớn nhất”, anh ta giải thích. “Nó ăn cắp của cả người sống lẫn người chết”. Người bán hàng trả lời: “Lạy Chúa, chúng tôi không có vấn đề đó. Chính chúng tôi ăn cắp lẫn nhau”.

Phiên tòa

Truyện Vũ Thành Sơn

Họ ở trước mặt tôi. Hẳn nhiên là như vậy. Họ có mười người, năm mươi hay năm trăm người, tôi không biết nhưng nhất định phải hơn một người. Tôi đã cảm nhận được điều đó qua sức nóng hừng hực của bầu không khí chung quanh bằng cảm xúc của mình ngay khi được tên lính canh dẫn ra quảng trường này. Bóng tối ở đây cũng dày đặc như những lần tôi bị lấy khẩu cung trong căn phòng nhỏ nóng bức, nhung nhúc chuột, dán.

Giếng cạn (kỳ 4)

Tiểu thuyết của Nam Dao

BỐN

GIÁN ĐIỆP

Sáng tinh mơ, lão Bạ tiếp một vị khách mà lão biết từ khi vị ấy còn để chỏm. Đó là Nguyễn Tán Thành, ủy viên Thường Vụ Huyện, con trai của bác Thuận. Tên vận vào người, các cụ ta dạy thế. Trường hợp Tán Thành thì các cụ chí lý. Gốc gác quan lại phong kiến, lại địa chủ, và sau có cống hiến ruộng vườn để hưởng sự khoan hồng đánh xuống trung nông thì vẫn chẳng thành giai cấp vô sản được. Không vô sản, làm sao len được vào thành phần lãnh đạo công-nông? Thế mà Thành làm được, nay là ủy viên trách nhiệm trong việc điều hành kinh tế-tài vụ cho cả huyện.

Nền dân chủ đem lại lợi ích rất lớn cho Việt Nam

Lê Học Lãnh Vân

Trong bài Trao đổi nhanh về Biển Đông, sau khi khẳng định quyền làm chủ quốc gia thuộc về Nhân Dân, ông Vũ Ngọc Hoàng tuyên bố: “Dân chủ hóa là con đường nhất định phải tiếp tục tiến lên”. Bài viết này đồng ý với ông Hoàng và xin thảo luận thêm những cái lợi vô cùng lớn của Việt Nam khi trở thành một đất nước Tự Do, Dân Chủ.

Bên Kia Đường

(Gửi tiễn Du Tử Lê)
Trần Mộng Tú


Mùa Thu đến thật rồi
thêm một người bỏ đi
đuổi theo những chiếc lá
sang bên kia con đường

Du Tử Lê, Đêm nhớ trăng Sài Gòn

In Memoriam Du Tử Lê (1942- 2019)

Nguyễn Đức Tùng

clip_image002

(Du Tử Lê, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Tùng, Lê Đạt)

Con người có nhiều khả năng hành động hơn khi mối quan hệ với người khác trở nên tốt đẹp, bền vững. Trong một xã hội ngày càng bận rộn, đông đúc, ít người nhận ra, như khi chỉ một mình và trong hoàn cảnh nguy hiểm, đời sống thực ra rất mong manh. Khởi đầu, gắn bó với người mẹ, lớn lên chúng ta xa rời cuống rốn, càng độc lập càng dễ mất dần cảm giác cần đến người khác. Cần thiết và sở hữu: bản chất của tình yêu. Vị tha, đánh mất, chỉ là những khuôn mặt khác. Thơ tình Du Tử Lê cố gắng nói về điều ấy. Nhưng anh không chỉ viết về sự mất mát, mà còn chúc tụng, bình phẩm, thương tiếc, hồi phục. Sống hai lần cho một tình yêu. Không ai lấy văn chương làm mục đích của kinh nghiệm sống, nhưng có những số phận đặc biệt ở đó dường như mọi diễn tiến của đời sống đều nghiêng một phía, về hướng vecteur của sáng tạo. Chữ đẹp và lạ, hình ảnh đặc sắc, nhạc điệu mới hoặc biến đổi, hầu hết trong thể thơ quen thuộc bảy chữ hay lục bát. Vì vậy thơ Du Tử Lê phổ biến. Nhiều tuyển tập thơ Anh ngữ có mặt anh. Thơ tình mà đầy lòng trắc ẩn, bạn bè, chiếu rọi ánh sáng vào giấc mơ, vào thân xác, vào nhục cảm. Đôi khi tình yêu nam nữ vượt qua chính nó, trở thành câu chuyện về đất nước. Quả thật anh viết nhiều đề tài, chiến tranh, sự khó nghèo, quê hương, bạn hữu, thậm chí những đề tài thân mật và ít gặp trong thơ Việt như gia đình, con cái, chi tiết lặt vặt. Vì sống là nhớ lại. Một người biến mất khỏi trí nhớ của một người khác, tức là đã chết.

Văn Hải ngoại sau 1975 (177): Đỗ Lê Anh Đào

Như Tâm Thần Hoang Tưởng

Sinh năm 1979 tại Hố Nai. Định cư ở Hoa Kỳ từ 1992. Ngoài việc viết truyện làm thơ và viết báo, Đỗ Lê Anh Đào còn trình diễn ảo thuật ở “Thành Phố Tội Lỗi” Las Vegas. Như Tâm Thần Hoang Tưởng là truyện tình tay ba, đồng tính, lưỡng tính được trình bày theo cấu trúc một bài thơ... Văn của Đỗ Lê Anh Đào phóng túng, đẹp và quyến rũ. [Trần Vũ]

Tổ quốc lâm nguy, hành động hay không hành động?

(Lược thuật một cuộc tọa đàm hết sức sôi nổi và cảm động)

Đào Tiến Thi

Không kể những cuộc gây hấn trên biển trong thập niên thứ nhất thế kỷ XXI mà không mấy ai biết đến, kể từ mùa hè 2011, với hai lần cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam, giới chóp bu cầm quyền trong Đảng Cộng sản Trung Quốc (gọi tắt là Trung Cộng) đã lộ nguyên hình bộ mặt xâm lược, bành trướng đầy tham vọng và đầy tàn ác. Cũng từ đấy, ngoài những vụ lẻ tẻ trong năm, không có mùa hè nào Trung Cộng không gây sự nghiêm trọng trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Và song song với những cuộc gấy hấn ấy, đã bùng lên phong trào chống xâm lược Trung Cộng trong nhân dân Việt Nam, kể cả đồng bào Việt Nam ở hải ngoại.

Văn học Miền Nam 54-75 (593): Phạm Công Thiện (kỳ 2)

Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ VÀ TRIẾT HỌC (KỲ 1)

Image result for "Phạm Công Thiện"

Tặng Phạm Trung Cang, Phạm Thế Hùng, Phạm Hoàng Dũng, Phạm Quốc Khanh, Phạm Ngọc Hoa, Phạm Ngọc Thanh, Phạm Ngọc Bích

GỬI MỘT NGƯỜI ĐỌC KHÔNG QUEN
CÙNG CHÁY MỘT THỨ LỬA THIÊNG NHƯ TÔI
CÙNG ĐƯỢC NUÔI BẰNG MỘT THỨ NƯỚC ĐIÊN NÀO ĐÓ CHẢY TRÔI NHƯ TÔI
CÙNG SỐNG NHƯ TÔI ĐANG SỐNG
CHÁY
VÀ CHẢY
CHÁY VÀ CHẢY KHÔNG NGỪNG…

Du Tử Lê, một cõi cho mình

Vũ Thư Hiên

Tôi kính trọng những nhà thơ. Trong mắt tôi, họ là những người dũng cảm bậc nhất. Hoặc gan lì, cũng bậc nhất luôn.
Giữa thời thiên hạ tối tối dán mắt vào ti vi, sáng sáng lướt rao vặt trên báo chợ, ngốn tiểu thuyết trinh thám trên xe điện ngầm, trên máy bay… mà vẫn cứ có những nhà thơ, những nhà thơ này vẫn bình tĩnh làm thơ được, mới lạ. Ngó vào số lượng in ở trang cuối mỗi tập thơ lại càng thêm kính phục họ. Các nhà thơ hậu duệ của Beaudelaire, Verlain, Apollinaire, của Goethe, Schiller… đều ngán ngẩm khi nói đến tình trạng thê thảm của sự đọc thơ thời bây giờ - đời thuở nhà ai mà một tập thơ bán được một ngàn bản đã là của hiếm trên đất nước đông đúc bảy tám chục triệu dân cơ chứ. So với họ, các nhà thơ Việt của chúng ta ở hải ngoại còn dũng cảm hơn nhiều. Và cũng may mắn hơn nhiều, nếu so số lượng xuất bản trên tỷ lệ số dân.

KÊU GỌI NHÀ CẦM QUYỀN VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TOÀ ÁN QUỐC TẾ VÀ ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC PHÒNG VỚI CÁC NƯỚC CÓ CHUNG QUYỀN LỢI HỢP PHÁP TRÊN BIỂN ĐÔNG (Cập nhật đợt 15 với 10 tổ chức, 1109 cá nhân đã ký)

I. Tình hình

Đầu tháng 07 năm 2019, nhà cầm quyền Trung Quốc đưa tàu Hải Dương 08 và các tàu hộ tống ra vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam như vào nơi vô chủ. Mới đây nhà cầm quyền Trung Quốc lại đưa tàu cần cẩu Lam Kinh vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, có lúc chỉ cách bờ biển Việt Nam 90 km. Cho đến nay những tàu ấy vẫn còn quấy phá vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đây là lúc thuận lợi nhất để kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế. Vậy mà, chính quyền Việt Nam vẫn tự hạn chế trong những phản ứng yếu ớt không xứng tầm của một dân tộc từng được coi là tấm gương bất khuất cho các nước nhỏ yếu. Thái độ ấy của chính quyền gây ra sự nghi hoặc và bất bình rất lớn trong nhân dân và khiến các nước hữu hảo không thể tích cực giúp đỡ Việt Nam bảo vệ chủ quyền.

Tôi đã học làm con tắc kè có thể đổi màu da

Ocean Vương

Phỏng vấn: Khuê Phạm (ZEIT ONLINE Team)

Người dịch: Tôn Thất Thông

ND: Xin giới thiệu với độc giả một cuộc phỏng vấn lý thú. Trước hết, người được phỏng vấn là Ocean Vương, một người Mỹ gốc Việt thế hệ hai, vừa xuất bản cuốn sách trong năm nay, trở thành một bestseller của New York Times và nhanh chóng được dịch ra 24 thứ tiếng. Thứ hai, người phỏng vấn là nhóm ký giả của ZEIT ONLINE ở Hamburg, được hướng dẫn bởi Khuê Phạm, một người Đức gốc Việt thế hệ hai. Thứ ba, nội dung phỏng vấn xoay quanh chủ đề nhập cư, và dường như có một sự đồng cảm sâu sắc giữa người phỏng vấn và người trả lời. Điều đáng mừng là cộng đồng trí thức Việt Nam hải ngoại không chỉ có chuyên gia trong các ngành nghề truyền thống, mà đã có những who-is-who trong văn học và truyền thông đại chúng.

Chùm thơ mùa thu

Phan Đắc Lữ

LÁ THU 

Nhàn cư ngồi đếm lá bàng rơi
Đợi đếm trăm năm chiếc lá đời
Lặng lẽ thu về qua ngõ vắng
Hồn ta nhòa nhạt nắng vàng phơi.

Chiếc lá đời ta tuổi cuối thu
Tuổi mùa đông đợi nẻo thâm u
Đêm đêm tiếng vạc lưng trời vọng
Xô xát hồn ta giữa thực hư.

Em ở chân trời – ta ở đây
Tìm em qua ngả gió heo may
Em như chiếc lá rơi đầu ngõ
Là mảnh hồn thu lây lất bay!

Tàn thu 2006


ĐÀ LẠT TÀN THU

Này em:
        Đà Lạt tàn thu
Xuân Hương sương phủ – đồi Cù gió bay
Dã quỳ vàng nắng hây hây
Ngàn thông dóng ngọn đợi ngày mai lên.

Nỗi buồn gọi mãi không tên
Cam Ly thác đổ gập ghềnh đá rêu
Chim kêu sườn núi cheo leo
Mai về rừng núi trông theo ngậm ngùi!

Ở đâu hoa cũng mỉm cười
Hương hoa phản phất hồn người ngắm hoa
Chuông chùa Thiền viện ngân nga
Đường mây nẻo gió quyện tà áo bay.

Theo em khấn nguyện cầu may
Nhịp tim đồng vọng tiếng chày niệm kinh
Khói hương mờ cõi u minh
Rủi may thì cũng tử sinh một lần.

Mây vờn đỉnh Lang-bi-an
Sương giăng màn lụa bạch vân chập chùng
Núi và mây rất thủy chung
Chia phôi đầu hạ trùng phùng cuối thu.

Cảm ơn gió lạnh sương mù
Cảm ơn cả ánh trăng lu cuối trời
Buồn vui chăn gối thay lời
Mai xa Đà Lạt vị đời còn vương.

Đà Lạt cuối thu 2005


VÀO THU

Mùa thu về trọ chân trời
Đêm nghe tiếng lá bàng rơi bồn chồn
Heo may vò rối chăn đơn
Lưng trời tiếng vạc đổ dồn cầm canh.

Ngày mây xô dạt trời xanh
Voi lồng gấu đẩy mây thành Thiên Thai
Em về sương đẫm hai vai
Vui chưa kịp hát chiều phai nắng vàng.

Sông Thu chở nắng Trường Giang
Câu thơ mất ngủ gió trăng mất mùa
Hồn ta lá rụng sân chùa
Lang thang tìm cội nguồn xưa đi về.

Tàn thu sực tỉnh u mê
Theo đàn đom đóm lập lòe vườn hoang!

Mùa thu 1997


TƠ VƯƠNG

Mùa thu vừa mới đi qua
Dấu chân giũ bụi trên tà áo em
Lá thu trải lối cỏ mềm
Lòng anh làm mảnh chăn êm em nằm.

Tóc em giờ đã hoa râm
Chỉ riêng đôi mắt lá răm vẫn huyền
Một đời được mấy lời nguyền
Đêm nay bến cũ con thuyền thả neo.

Mười lăm năm chẵn trôi vèo
Nợ duyên đọng lại chín chiều tơ vương
Con tim bến đỗ yêu thương
Đêm nay trở gió đừng giương cánh buồm.

Xa em cháy đượm nỗi buồn
Anh thành sương khói đầu non ngóng chờ!

Cuối thu 1997

Thư ngỏ của Giáo sư Tương Lai gửi Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII

THƯ NGỎ

Kính gửi HỘI NGHỊ lần thứ 11 BCHTƯ khoá XII

Tôi là Tương Lai, đảng viên Đảng Lao Động Việt Nam, vào Đảng ngày 6.1.1959 và ngày 2.9. 2017 tuyên bố dứt bỏ mọi liên hệ với Đảng bị Nguyễn Phú Trọng thao túng để tiếp tục chiến đấu với tư cách đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, Đảng của Hồ Chí Minh như đã từng giữ đúng phẩm chất và nhân cách của một đảng viên trong suốt 58 năm qua, kính gửi đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN lần thứ 11 những ý kiến dưới đây:

Sợ

Từ Thức

Một bên là những người tay không. Một bên là một lực lượng đàn áp hùng hậu, tàn bạo hơn thú dữ. Trước cái can đảm phi thường của dân Hong Kong, người ta đặt câu hỏi: Họ có biết sợ không?

Denise Ho, một trong những lãnh tụ Hong Kong trả lời: Trước đây, chúng tôi đã sợ hậu quả của sự im lặng, ngày nay chúng tôi không biết sợ nữa.

Có một người tên V. Huy

Truyện Đỗ Duy Ngọc

Hắn tên là V. Huy, thật ra tên đầy đủ của hắn là Nguyễn Phúc Vĩnh Huy, vốn là con cháu dòng họ vua chúa triều Nguyễn. Bố hắn là giáo sư tiến sĩ, từng chữa bệnh cho Cụ Hồ. Ông nội hắn là Thượng thư bộ Lại trong triều vua gì đó của nhà Nguyễn. Mẹ hắn cũng là giáo sư nhưng hình như bên ngành luật, tốt nghiệp từ bên Tây, nghe lời dụ dỗ của Cụ Hồ về nước tham gia đánh giặc. Lý lịch của hắn quá ư là đẹp, vừa quí tộc vừa cộng sản, không chê vào đâu được.

Nguyễn Xuân Xanh – Một đời cùng sách

Đăng Nguyên

Ông mê toán học từ thời học trung học và ĐH Khoa học Sài Gòn. Sau khi học xong ĐH, con đường đi du học Pháp bị tạm tắt, ông chuyển qua đi Đức làm công tác giảng dạy và nghiên cứu 6 năm.

Phóng viên Thanh Niên đã có cuộc trò chuyện với ông để thấy được ông mê sách đến chừng nào...

Đoàn kết Dân Tộc hay là mất Biển Đông?

Lê Học Lãnh Vân

Tại phiên giải trình và trả lời chất vấn kỳ họp thứ 6, Quốc hội khoá XIV, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói:

Nếu tất cả 63 tỉnh thành, tất cả chúng ta ngồi đây, cùng toàn thể hệ thống chính trị cùng chung khát vọng đó, trong mọi hoàn cảnh, trên từng chặng đường phát triển của đất nước, thì chắc Việt Nam sẽ tiến một bước rất dài đến con đường thịnh vượng” (Chinhphu.vn, 01/11/2018)

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 176): Phạm Hải Anh qua Thụy Khuê

Phạm Hải Anh, Huyết đằng

Trong những tác giả trẻ trội lên vài năm gần đây tại hải ngoại, Phạm Hải Anh là một trường hợp đáng chú ý: khuôn mặt văn học tuy có vẻ như chưa thật sự định hình, nhưng đã có vài nét chấm phá rất rõ: Phạm Hải Anh có thể xoay từ thực tại này sang thực tại khác, từ nhân vật này sang nhân vật khác, khá dễ dàng. Tức là Hải Anh có khả năng đóng nhiều vai "tuồng" khác nhau, nếu như chị là diễn viên. Và đó là tính chất hiếm hoi trong văn học cũng như trong kịch nghệ.

Hải Anh có một ưu điểm (và cũng là nhược điểm): viết rất dễ. Vì viết dễ dàng nên người đọc có cảm tưởng tác giả chưa khai thác hết khả năng của mình, chưa đi đến tận cùng của nhận thức, để tạo ra một sản phẩm văn học "tới nơi tới chốn". Một cảm giác tiếc nuối chen lẫn chờ đợi Hải Anh viết kỹ hơn, bởi vì ngay từ cái "jet", cái "phóng" đầu tiên, Hải Anh đã có những tia nhận xét sâu sắc với một giọng văn chắc nịch, tự tin, bình chân như vại.

Ví dụ lối vào truyện Cửa sổ (dựng trên bối cảnh khu tập thể Hà Nội), nhân vật chính, kẻ xưng tôi, là một anh cán bộ nghiên cứu, đứng ở cửa sổ nhà mình nhìn xuống mái ngói của một tầng đối diện. Cách mở truyện mạnh bạo và trực tiếp làm cho ta nghĩ đến hai nhân vật của Mai Thảo đứng trên từng chót một tòa cao ốc, nhìn xuống cuộc đời ở dưới chân, hoặc liên tưởng tới Fenêtre sur cour (Cửa sổ nhìn ra sân) của Hitchcock. Tất nhiên đây chỉ là cảm tưởng chứ không hề có ý so sánh Hải Anh với Hitchcock hay Mai Thảo. Tóm lại, mạnh bạo và trực tiếp, đó là lối vào truyện của Hải Anh.

Lần theo nét bút, người đọc dần dần khám phá ra những bản phác thảo chân dung nhân vật vừa nổi vừa chìm, ít lời mà ngụ ý, của tập thể "hàng xóm" anh cán bộ nghiên cứu trong cái tầng trước mặt. Họ sống quây quần nhưng xa lạ nhau, thuộc lòng những cử chỉ, thói quen của nhau, nhưng căm ghét nhau. Họ phả ra những thói tật, những phiền hà, những ganh tị nhỏ nhoi trong cuộc sống hàng ngày.

Ðó là một tập thể bốn hộ gồm gia đình ông Mỹ, bán thịt lợn, có người con gái "cô Bích Liên" đang chờ lấy chồng; gia đình vợ chồng Tâm, cán bộ nhà nước, có đứa con gái ốm nhom; nhà bà Ðịnh chuyên môn làm phiền hàng xóm vì khói than và mùi nước gạo, và "nàng", cái đinh của câu chuyện, nàng cũng là đối tượng yêu của nhân vật xưng tôi, tức anh chàng ngồi bên cửa sổ nhìn sang những cuộc đời đối diện. Dùng "cửa sổ" để phóng cái nhìn sang tập thể, là một ý niệm độc đáo và có dụng ý: "Nàng mơ một ngôi nhà có nhiều cửa sổ", chị nàng "mơ một ngày nào đó được tặng một ôm hoa hồng màu đỏ chói lọi. Nhưng bạn trai chị ấy không thích hoa, chỉ thích gà. Sinh nhật chị, lần nào anh ta cũng vác đến một con gà luộc. Hai người chấm muối chanh ớt, liên hoan với nhau. Rồi chị ấy lấy anh-gà-luộc ấy. Bây giờ hai người ở một cái nhà to, có rất nhiều cửa sổ." (trang 30-31).

Lúc đọc đến đoạn này, tôi đã phì cười: cô này hóm lắm, bịa y như thật, nhưng chỉ vài ngày sau, tình cờ có cô em họ ở Hà Nội sang Paris thăm con, cũng thấy lễ mễ trong hành lý ba con gà luộc (giấu  hải quan), thì ra chuyện này có thật, không bịa tí nào: sự thật vượt ngoài trí tưởng tượng, một sự thật hài hước mà xót xa: ám ảnh ẩm thực thay chỗ cho tất cả các thứ quà xa xỉ khác, đã vượt mọi giấc mơ, vượt cửa... hải quan để đến cư ngụ trong lòng người. Tình yêu, dù là tình trai gái hay tình mẫu tử, đều chịu áp lực của ẩm thực, chứng tỏ con người khi phải ăn đói quá lâu ngày, thì không thoát ra khỏi khát vọng ẩm thực nữa mặc dù bây giờ họ đã giàu có, đã có điều kiện cho con du học và thừa tiền xuất ngoại du lịch thăm con.
Khát vọng ẩm thực dẫn đến phăng-tát ăn uống, nó đè bẹp những phăng-tát khác, khiến chúng trở thành những nạn nhân, một loại công dân hạng nhì. Nạn nhân ở đây hiện ra dưới dạng phăng-tát ước mơ. Với phăng-tát này, Phạm Hải Anh quẹt một nét khác: Chân dung con bé gầy đét, con vợ chồng Tâm, cán bộ nhà nước:

"Ngày Tết, tôi sang chơi, cả nhà đi vắng, con bé pha trà, mời nước như người lớn rồi chúc tôi "Mạnh khỏe, công tác tốt!" Tôi cười bảo: "Thế cháu muốn chú chúc lại gì nào?" Nó nói: "Tùy chú. Ai cũng chúc cháu ngoan, học giỏi. Thế thôi!" Tôi hỏi: "Thế cháu không ước có cái gì khác à? Ví dụ được thưởng đi nghỉ ở biển chẳng hạn...?" Con bé đáp: "Cháu chưa đi biển bao giờ. Nhưng chả cần. Ước làm gì cho mệt. Chú có chúc cháu cũng không được đi cơ mà!"" (trang 28)

Thế là rồi đời mơ ước. Một bút pháp tàn nhẫn, có khả năng đưa lên đoạn đầu đài tất cả những tơ tưởng ngoạn mục của con người qua vài dòng chữ li ti.

Nhưng ở dưới cái nét phũ phàng ấy là một bản ngã văn chương: Những nhận xét thoáng qua mà lại tỉ mỉ, chính xác và đau đớn ấy chứng tỏ Phạm Hải Anh có thể tạo dựng được những gì đằng sau ngôn ngữ, tạo được những khoảng trống ngôn ngữ. Và đó là mục đích của Hải Anh. Tạo được khoảng trống ngôn ngữ, làm bật lên những điều không nói cũng là sở trường của Nguyễn Huy Thiệp.

Một số người viết trẻ chịu ảnh huởng của Nguyễn Huy Thiệp, muốn làm như Nguyễn Huy Thiệp, nhưng không phải dễ. Thường thường họ chỉ bắt chước được cách đặt câu ngắn gọn, cộc lốc, mà không tạo được khoảng trống ở những điều không nói. Phạm Hải Anh làm được. Truyện ngắn Cửa sổ là một truyện chịu ảnh hưởng Nguyễn Huy Thiệp trong chiều hướng đẹp của hai chữ ảnh hưởng: Hải Anh, trong vài câu ngắn gọn, cộc lốc, đã vẽ nên chân dung một con bé già trước tuổi, cử chỉ như người lớn, hỏi đáp như bà cụ non, nó đã hiểu hết những điều mà người ta gọi là "cay đắng" của cuộc đời. Nó biết có ước cũng chẳng được. Nó lõi đời hơn hai thiếu nữ: chị nàng ước được tặng bó hồng lại phải lấy anh chàng-gà-luộc. Nàng ước ngôi nhà có nhiều cửa sổ, nàng có người yêu là "tôi", nhưng chẳng may, một hôm cái anh "tôi" ấy, bắt gặp nàng đang "chọn một miếng thịt lên cân và cười", khiến hắn phải "chạy ra khỏi chợ." Nụ cười "thịt" của nàng đã xua đuổi hắn. Rút cục, nàng với những giấc mơ "cửa sổ" cũng không thoát khỏi ám ảnh ẩm thực. Và chính ám ảnh ẩm thực ấy đã giết chết tình yêu.

Qua một truyện rất ngắn, Phạm Hải Anh đã dẫn người đọc vào cái không khí nghẹt thở của một "chung cư tập thể". Chung cư của những giấc mơ chết yểu. Tập thể của những ước muốn tự lột xác thành những miếng thịt, miếng mỡ, miếng tim gan phèo phổi, để tìm được chỗ đứng trong lòng người. Chung cư tập thể khép lại với hình ảnh cuối cùng: Sau khi nàng đi lấy chồng, mẹ chàng cán bộ nghiên cứu dự định sẽ quây quách cái ban công sau lại, tức là bít nốt cửa sổ để làm thành chuồng cọp chứa đồ, tiện lợi hơn, bởi vì bà nghĩ: nhà có một cửa ra vào là đủ, thời buổi này ai cũng quay ra đường lớn, bao nhiêu người sống không cần cửa sổ.
Hình ảnh cuối cùng này như nhát búa chót gõ vào mảnh ván quan tài, vĩnh viễn đóng lại "cõi nhìn" của kẻ xưng tôi. Ðể lại cho hắn cái thế giới duy nhất mà hắn độc quyền sở hữu: Thế giới không cửa sổ.

Huyết đằng tập hợp 25 truyện ngắn, mỗi truyện một bối cảnh khác, một loại nhân vật khác, một thứ ẩn ý khác.

Trở về không còn một chút gì ảnh hưởng Nguyễn Huy Thiệp nữa. Hải Anh bước sang bút pháp lãng mạn, kể chuyện một anh Việt kiều về nước. Sự trở về này, giở lại dĩ vãng đau thương của một tuổi thơ kinh hoàng, đầy chất bi kịch (kiểu anh em nhà Karamazov). Hải Anh dùng biểu tượng để chồng chất những lớp lang khác nhau, khiến độc giả có thể đọc Trở về như một truyện ngắn bình thường, "hồn nhiên" viết về hoàn cảnh éo le của một Việt kiều, nhưng cũng có thể đọc Trở về dưới nét khác thường của một gia đình, một dân tộc có một dĩ vãng âm u, khốc liệt, với những người con xâu xé, tranh giành, hãm hại nhau (kiểu anh em nhà Karamazov). Với Trở về cũng như với hầu hết những truyện ngắn khác, độc giả vẫn có một chút luyến tiếc: tại sao tác giả không chịu khó đẩy tâm lý các nhân vật sâu xa hơn nữa, để chúng ghi tạc lâu và mạnh hơn nữa vào tâm cảm người đọc. Chắc chắn Phạm Hải Anh có thể làm được việc đó.

Thương lá rách là một truyện hiện thực "cổ điển" mà thời sự: lá lành đùm lá rách. Ở đây, tác giả vạch ra những "con sâu", "con bọ" trong đám lá rách, chúng nằm trong hệ thống "sâu bọ" hút tủy những cơ hàn, đói khát, liệt nhược của trẻ mồ côi. Những "lá lành", trong cuộc hành hương nhân đạo, mỗi ngày một lạc thêm vào mê lộ của cuộc đi, tự hỏi về hành trình chính mình, mình có đi lạc ngay từ đầu không? Mình có tiếp viện cho bọn mafia trưng dụng tình thương, dùng viện tế bần, trại mồ côi như những dụng cụ để làm tiền không cần xuất vốn. Ðây là câu chuyện một anh sinh viên vừa ra trường tìm được việc làm ở một tổ chức cứu trợ nhân đạo nước ngoài. Anh ta làm thông ngôn cho Eric, một nhân viên của cơ quan cứu trợ. Eric muốn đến thăm những nơi mà tổ chức cứu trợ này đã hoặc sẽ cho tiền.

Cuộc đi của hai thanh niên dẫn đến những ngõ ngoặt không ngờ, mà mục tiêu đầu là một khám phá: phỏng vấn một em bé đánh giày (đã được chỉ định) để lên chương trình tài trợ các trẻ em lang thang. Câu chuyện loanh quanh, hỏi qua hỏi lại, thì được biết "em bé đánh giày" này làm ở khu có nhiều Tây, nên kiếm khá, lương em hơn cả lương hưu của cả hai cha mẹ cậu sinh viên làm "ghít" cộng lại, em bé tuy người nhỏ thó nhưng năm nay đã 21 tuổi và sắp về quê cưới vợ, v.v. Chưa hết, Eric lại đòi dẫn đến một trung tâm nuôi và dạy trẻ mồ côi ở Hà Nội mà tổ chức đã trợ cấp. Tới nơi, đòi thăm phòng ăn: chẳng thấy, té ra ở đây không cần phòng ăn vì đã phát tiền cho các cháu đi ăn cơm bụi. Tìm đến lớp học: trống không bởi đang nghỉ hè, các cháu đi bán sách rong, chưa về. Hỏi: Vậy số tiền mà tổ chức gửi lần trước, được dùng vào việc gì? Trả lời: Ðể xây xưởng mộc và nuôi gà. Xin xuống thăm chuồng gà: không một mống. Hỏi tại sao? - Gà mới toi cả. Tìm đến xưởng mộc, chỉ thất mấy cái cưa đục hoen rỉ, vất bừa bãi trong căn phòng mái thủng toác hoác. Người phụ trách rưng rưng nước mắt, giải thích: "Gỗ thì đem làm củi đun hết cả rồi anh ạ. Các anh xem... giọng người phụ trách trở nên buồn rầu xúc động, mái thì thủng lỗ chỗ, cái tường nứt toác thế kia, nhỡ đang học nó sụp xuống thì nguy hiểm chết người... Kinh phí như gió vào nhà trống, đắp chỗ nọ hở chỗ kia, khổ quá anh ạ!" (trang 65)

Cứ từ tốn, thản nhiên như thế, Phạm Hải Anh dẫn người đọc vào những hoàn cảnh không thể tưởng tượng được mà lại rất thật, bởi sự thật ngoài đời đôi khi vượt quá giới hạn của tưởng tượng. Một chuyến đi "thực tế" vào những phũ phàng, gian lận, với những nhân vật được huấn luyện để nói lời thành tâm, chân thật, để phục vụ công tác cướp giật giữa đường; những nhân vật cái bang này có đủ khả năng tạo ra những giọt lệ làm tiền không tốn một xu, dùng việc thiện để giết chết việc thiện.
Dạo phố Hà Nội như Thạch Lam, Hải Anh dừng lại ở một tiệm giày, hàng "Xuân Phương Shoes Shop", có lời quảng cáo hoa mỹ "Ðến với Xuân Phương bạn sẽ hài lòng", rồi nghe chuyện đời ly kỳ của ông chủ, bạn sẽ thấy đó là cả một lịch sử lẫy lừng của dân tộc: Cụ thân sinh ra ông, nhờ có mỗi cái nghề bán dép lốp, dép râu mà mua được cả ti-vi, tủ lạnh. Một nửa dân Hà Thành xài dép lốp Xuân Phương, và trong cảnh giàu sang ti-vi tủ lạnh, cụ đã từng mơ một giấc mơ triệu phú, có tầm cỡ quốc gia, quốc tế, đó là ngày cụ trang bị dép lốp cho toàn thể phi công Việt Nam "chân dép lốp bay vào vũ trụ" (trang 89).

Nhưng rồi cụ mất mà chưa được phỉ nguyện, con cụ, ông Xuân Phương ngày nay vẫn chỉ là chủ tiệm Xuân Phương shop và kiêm chức vụ quý hóa thứ nhì: Ông là một nhà thơ đầy triển vọng trong sinh hoạt câu lạc bộ thơ phường, với những chủ đề đầy ý nghĩa như "Khuyến khích sinh đẻ có kế hoạch". Tiệm ông luôn luôn chào đón khách quốc tế, hạng người mù chữ bản địa, cho nên cứ thấy bảng "oen khăm", "oen khiếp" là chúng nhào vô và dĩ nhiên là ông dành ưu tiên cho loại khách quý, không mà cả nhì nhằng bần tiện.

Xuân Phương vừa pha trộn những hóm hỉnh rất Thạch Lam, lại vừa có những mỉa mai châm biếm rất Vũ Trọng Phụng, là một truyện ngắn đặc sắc của Hải Anh về con người Hà Thành ngày nay, và cũng là người Việt nói chung trong bối cảnh kinh tế thị trường. Về những ảo ảnh của khẩu hiệu, về những khôi hài của sự học mót, đua đòi, của sự dốt nát hồn nhiên, về bệnh nan y vọng ngoại.
Tôi, anh, nàng và đức Phật là một thành công khác. Nàng trong truyện này là một nhân vật ảo, là cái bóng của nhân vật xưng tôi, một cô gái. Nàng là phăng-tát của tôi. Và tôi là một kẻ có khuynh hướng đồng tính nhưng lại muốn chối bỏ "tội lỗi" của mình bằng cách niệm Phật để diệt những đòi hỏi rối rắm đang phát triển trong lòng mình, diệt cái mà người ta cứ gọi trắng ra là "tà dục".
Nhưng cả "tôi" lẫn "nàng" đều bất lực trong việc mưu sát này, cho nên dù chỉ có "một mình" anh bên "tôi", cái ả "nàng" vẫn cứ trơ trẽn chêm vào nằm cạnh, đến cả đức Phật trên đài có cao chứng, có mở lượng từ bi, cũng không "cứu vãn" được.
Huyết đằng nổi trội như một cấu trúc chặt chẽ trong đó Phạm Hải Anh tạo được không khí truyện rất riêng biệt, một cái gì như mờ ảo, bí mật, liêu trai xung quanh mối tình giữa Hùng và Mận. Một tình yêu đến chết. Một sự đầu thai trong luân hồi. Tất cả được mở ra với biểu tượng huyết đằng, như một câu hỏi: Huyết đằng là gì? Hai chữ huyết đằng dấy lên như một ngư tiên bí mật và huyền bí, gợi âm, gợi hình, như một phù thủy của âm thanh, mời gọi mọi người tìm đọc Huyết đằng. Tất cả những nhân vật trong truyện đều có tính nửa người, nửa ma, có giọng âm, giọng dương như thể có đó mà không ở đó. Hải Anh đã vẽ được những nét bí mật của nỗi đam mê phi lý, vô tận trong tình yêu. Tuy vậy vẫn tiếc: Hải Anh viết ngắn quá, chưa đủ "thì giờ" đào sâu các nhân vật, tạo nên những tình huống, những hình ảnh gây dấu ấn lâu dài trong lòng người. Ðòi hỏi như vậy có quá chăng? Ðối với một ngòi bút mới viết được vài năm nay? Chắc là không, bởi vì qua tập truyện ngắn đầu tay, Phạm Hải Anh đã cho thấy tài năng của chị, nếu chỉ nhấn thêm lên một tý, là người đọc khi gấp cuốn sách lại, sẽ còn lưu trữ những ấn tượng lâu dài về cô Mận, về ông Xuân Phương, về cái cửa sổ, về con mèo có tên Culi và cô chủ nó, v.v. Phải làm sao cho những người và vật đó ám ảnh người đọc mạnh hơn nữa, lâu hơn nữa. Chính cái ám ảnh là một trong những đích cao nhất của truyện ngắn. Nếu truyện dài là chạy marathon trong cuộc đời, thì truyện ngắn là soi kính hiển vi vào một khúc, một dòng marathon ấy, và phải tìm được những cận ảnh độc đáo nhất để làm đứng tim độc giả.

Thụy Khuê
Paris, thu 2002

Nguồn: http://thuykhue.free.fr/stt/p/phanh00.html

Giếng cạn (kỳ 3)

Tiểu thuyết của Nam Dao

BA

LÒNG GIẾNG

Cửa màn khẽ vén lên và có tiếng người gọi. Nguyện tươi cười:

- Chú dậy ăn điểm tâm nhé! Muộn rồi…

Nobel năm nay, liệu về tay một nhà thơ?

Nguyễn Quốc Trụ

Nobel năm nay, thực khó đoán. Liệu Bei Dao được?

Hãy mở giùm tôi cánh cửa này...(*)

Vào một ngày thứ Năm, tháng Mười, một người đàn ông tên là Sture Allen sẽ cử hành một nghi lễ nho nhỏ. Liền sau buổi trưa, ông ngồi trước cái bàn thời Louis thứ XV, trong một văn phòng với những đồ vật vốn thuộc hoàng gia Thụy-điển. Và khi chiếc đồng hồ bằng vàng của ông gõ một tiếng, ông mở cánh cửa thông qua Đại sảnh, Viện Hàn Lâm Thụy-điển.

KÊU GỌI NHÀ CẦM QUYỀN VIỆT NAM KIỆN TRUNG QUỐC RA TOÀ ÁN QUỐC TẾ VÀ ĐẨY MẠNH HỢP TÁC QUỐC PHÒNG VỚI CÁC NƯỚC CÓ CHUNG QUYỀN LỢI HỢP PHÁP TRÊN BIỂN ĐÔNG (Cập nhật đợt 14 với 10 tổ chức, 1060 cá nhân đã ký)

I. Tình hình

Đầu tháng 07 năm 2019, nhà cầm quyền Trung Quốc đưa tàu Hải Dương 08 và các tàu hộ tống ra vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam như vào nơi vô chủ. Mới đây nhà cầm quyền Trung Quốc lại đưa tàu cần cẩu Lam Kinh vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam, có lúc chỉ cách bờ biển Việt Nam 90 km. Cho đến nay những tàu ấy vẫn còn quấy phá vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Đây là lúc thuận lợi nhất để kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế. Vậy mà, chính quyền Việt Nam vẫn tự hạn chế trong những phản ứng yếu ớt không xứng tầm của một dân tộc từng được coi là tấm gương bất khuất cho các nước nhỏ yếu. Thái độ ấy của chính quyền gây ra sự nghi hoặc và bất bình rất lớn trong nhân dân và khiến các nước hữu hảo không thể tích cực giúp đỡ Việt Nam bảo vệ chủ quyền.

Thơ Trần Duy Trung


Siêu thực

Những ngôi mộ bay, những ngôi nhà bay
những khu vườn bay

người đàn ông bay, người đàn bà bay
những đứa trẻ bay

nhưng không phải trong tranh của chàng Marc Chagall.

họ bay trong tưởng tượng
của những kẻ

vừa cướp đi,

và luôn nghĩ chúng ta có thể sống
mà không cần

một nơi nào trên mặt đất

Văn học miền Nam 54-75 (592): Phạm Công Thiện (kỳ 1)

Phạm Công Thiện (1941-2011) là một thi sĩ, nhà văn, triết gia, học giả, và cư sĩ Phật giáo người Việt Nam với pháp danh Nguyên Tánh. Tuy nhận mình là nhà thơ và phủ nhận nghề triết gia, ông vẫn được coi là một triết gia thần đồng, một hiện tượng dị thường của Sài Gòn thập niên 1960 và của Việt Nam với những tư tưởng ít người hiểu và được bộc phát từ hồi còn rất trẻ. Bút danh khác: Hoàng Thu Uyên.

Phạm Công Thiện sinh ngày 1 tháng 6 năm 1941 tại Mỹ Tho trong một gia đình Công giáo. Từ tuổi thiếu niên ông đã nổi tiếng thần đồng về ngôn ngữ, năm 15 tuổi đã đọc thông viết thạo năm ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật, Hoa, và Tây Ban Nha, ngoài ra còn biết tiếng Sanskrit và tiếng Latinh.

Năm 1957, 16 tuổi, ông xuất bản cuốn tự điển Anh ngữ tinh âm, nhưng từ vài năm trước đó cho đến khi rời Việt Nam vào năm 1970, ông đã cộng tác với các báo và tạp chí Bông Lúa, Phổ Thông, Bách Khoa, Văn, Giữ Thơm Quê Mẹ. Từ những năm cuối thập niên 1950 ông đi dạy Anh ngữ tại một số trường tại Sài Gòn. Năm 1960, ông khởi sự viết cuốn Ý thức mới trong văn nghệ và triết học khi chưa được 19 tuổi.

Tập tranh cãi chuẩn bị tranh cử tự do

Nguyễn Quang Duy

Ở Việt Nam chính trị là chuyện quốc cấm, càng cấm bà con ta càng tụm năm tụm bảy, người nói, người nghe thường tâm đắc nên tranh cãi chính trị ít khi xảy đến.

Ở hải ngoại có tự do ngôn luận trăm hoa đua nở, tranh cãi chính trị bùng nổ mọi nơi, bất đồng chính kiến sinh sôi nẩy nở, rồi đi đến bất hòa, gây gỗ, thậm chí đánh nhau, đưa nhau ra tòa.

Mạng toàn cầu phát triển, tranh cãi chính trị như rơm gặp lửa bùng lên trên mọi diễn đàn và trên từng Facebook cá nhân.

Việc bảo vệ rừng

Hai bài phỏng vấn cùng một chuyên gia và cùng một đề tài, bài trước đăng vào đầu tháng 7 năm 2013, còn bài sau đầu tháng này. Sự cách biệt sáu năm không cho thấy một mảy may tiến bộ nào trong công việc bảo vệ rừng. Vẫn những vấn đề nhức nhối: số liệu điều tra không đáng tin, nhóm lợi ích, sự xung đột giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường, … Bảo vệ rừng là một góc nhìn cho thấy xét về tổng thể, việc giải quyết vấn đề không phụ thuộc vào phẩm chất cá nhân của người có trách nhiệm, mà là một bài toán thể chế. Chừng nào còn duy trì cách quản lý như thế này, thì chừng ấy rừng còn bị phá hoại, kéo theo những hệ lụy đau đớn có thể thấy trước nhưng không thể tránh khỏi.

Và đâu chỉ là chuyện bảo vệ rừng.

Văn Việt

Người tù

Truyện Hà Thúc Sinh

Chỉ có ba nhân vật, thuộc hai phe: phe bị tù và phe quản tù.

Chỉ có ít đối thoại cực ngắn, đến mức không thể ngắn hơn.

Chỉ có rất ít không gian và thời gian, rất ít chuyển biến của sự việc.

Chỉ có hơn 1.000 từ tiếng Việt, để người đọc Việt nào cũng có thể hiểu đúng câu chuyện.

Tưởng mọi thứ sẽ trở nên căng thẳng, xấu xí, tàn tệ, thù hận… Nhưng không, cái kết không thể đẹp hơn, nhân văn hơn, cao cả hơn: “Biết đâu có người cai tù vừa hiểu ra ngọn lửa không tàn ác của một người tù”…

Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn Người tù của Hà Thúc Sinh đến các bạn…

VĂN VIỆT

Giáo dục phải là quốc sách hàng đầu

Hoàng Quốc Hải

Nền giáo dục Việt Nam đến nay vừa tròn 75 năm, bằng tuổi thọ trung bình cao của một đời người.
Trong 75 năm qua, xã hội Việt Nam đã thâu nhận được những gì từ nền giáo dục đó đem lại?
Giang sơn mà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có được từ năm 1945, thật là thê thảm. Nó vừa trải qua nạn đói thiên niên kỷ, làm chết hơn hai triệu người ở ngay chính vựa lúa đồng bằng Bắc Bộ. Đó là tội ác ghê tởm của thực dân Pháp và phát xít Nhật.
Cả dân tộc chưa hoàn hồn, đã phải nhận 20 vạn quân Tàu Tưởng (thực chất là đội quân ốm đói) rải suốt nửa nước ta, với sứ mệnh do đồng minh sai vào tước khí giới của năm vạn quân Nhật đã đầu hàng.
Đội quân này nhũng nhiễu không giới hạn. Chúng cướp của dân từ mớ rau, củ tỏi, con gà, quả trứng cho tới của cải quý hiếm. Nghĩa là chúng không từ một thứ gì. Chúng là đội quân đói khát đúng nghĩa. Có khi chỉ qua một bữa ăn, cả đại đội chết tới quá nửa vì bội thực.
Tuy nhiên, bọn tướng lĩnh cao cấp của đội quân này, có âm mưu muốn ở lại làm lực lượng chiếm đóng.
Trong khi đó, năm vạn quân Pháp đang rập rình ngoài khơi Hải Phòng, lăm le đổ quân vào cùng với âm mưu xâm lược nước ta.
Một bất hạnh nữa, là với chính sách cai trị ngu dân của thực dân Pháp, khiến trên 90% dân số Việt Nam bị mù chữ.
Nên nhớ, cả Đông Dương gồm Việt Nam, Lào, Campuchia, chính quyền thực dân Pháp chỉ cho mở một trường cấp III, tức trường Bưởi, nay là trường Chu Văn An. Và sau đó, cũng chỉ có một trường đại học.
Nhiệm vụ nặng nề của ngành giáo dục lúc này được Nhà nước giao cho, là phải mau chóng xóa nạn mù chữ, để khai dân trí.
Trước muôn vàn khó khăn, nhưng Nhà nước xác định có ba thứ đang vây bủa, được xem như ba loại giặc. Đó là: - giặc đói - giặc dốt - giặc ngoại xâm.
Không giải quyết được nạn đói còn âm ỉ, thì dân sẽ tiếp tục chết. Nhưng nếu sống mà dốt nát thì có khác gì đã chết. Vì vậy coi dốt nát là một thứ giặc, cần phải thanh toán cấp bách.
Chính quyền cách mạng bắt đúng mạch của xã hội, phù hợp lòng dân. Vì chỉ có chữ nghĩa mới khai được dân trí.
Khai trí là nâng tầm nhận thức. Từ nhận thức đó mới phân biệt được đúng sai, tức là khai minh.
Cho nên khoảng cuối 1945 sang 1946, từ thành thị tới nông thôn, nơi nơi đều mọc lên các lớp học “Bình dân học vụ”. Trường học, công sở, đình chùa và các gia đình có nhà cửa rộng rãi, đều biến thành lớp học.
Công sở vừa hết giờ làm việc, là bà con ùa vào học. Tất cả những người biết chữ đều trở thành thầy giáo. Trong đó, từ giáo sư, giáo viên, công chức, viên chức, sinh viên, học sinh, bộ đội… đều là giáo viên “Bình dân học vụ”. Lớp học mở mọi lúc, mọi nơi. Ngay cả khi cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp bùng nổ, sự nghiệp “Bình dân học vụ” vẫn không hề gián đoạn. Vì thế trong thời gian rất ngắn, khoảng 1950, tại các vùng do chính quyền cách mạng kiểm soát, hầu hết các thanh niên nam nữ, kể cả trung niên và một số người cao tuổi đều đã biết đọc, biết viết.
Việc nhiều người biết chữ, đã nâng các thành tựu kháng chiến lên ghê gớm. Cho tới năm 1960, thì Bộ Giáo dục đã công bố xóa xong nạn mù chữ trong cả nước (thực chất là miền Bắc).
Đó là thành tựu vĩ đại của ngành giáo dục Việt Nam, không phải trên thế giới đã có nhiều nước làm được việc này chỉ trong vòng 15 năm (trong đó đã có tám năm kháng chiến).
Ngành giáo dục còn mở hệ phổ thông các cấp tại vùng tự do rất sôi nổi. Nhiều nhân tài tiếp nối sau này, đều được đào tạo cơ bản từ nguồn giáo dục phổ thông thời kháng chiến.
Ngành giáo dục Việt Nam đã có một khởi đầu tốt đẹp như thế, tại sao bây giờ nó lại rối như canh hẹ và nát như tương Bần?
Chắc chắn có nhiều nguyên nhân làm cho nền giáo dục Việt Nam suy thoái, nhưng nếu nói cho sát với thực trạng, phải dùng từ “suy đồi”.
Đương nhiên, có nhiều nguyên nhân, song tôi tạm đưa ra hai nguyên nhân chính:
1/ Ngành giáo dục Việt Nam phát triển quá nóng.
2/ Ngành giáo dục Việt Nam đã đi chệch hướng.
Vào cuối thập niên 50 đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, Nhà nước nôn nóng phát triển giáo dục theo bề rộng, nên thiếu giáo viên trầm trọng.
Lúc đó, học sinh tốt nghiệp cấp II, vào học trường sư phạm trung cấp, 18 tháng sau ra trường, được dạy toàn cấp II. Hoặc học sinh lớp 8, lớp 9 học một khóa sư phạm cấp tốc trong dịp hè độ hai tháng cũng ra dạy toàn cấp II. Học sinh tốt nghiệp cấp III, học hai năm đại học, hệ sư phạm ra dạy cấp III.
Ngoài ra còn lấy giáo viên cấp I cấp II lên dạy các năm đầu của cấp II, cấp III, rồi cho học bổ túc qua vài kỳ hè, thế là đủ tiêu chuẩn dạy toàn cấp.
Tới năm 1958, hệ thống trường tư thục bị sáp nhập vào hệ công lập do Nhà nước bao cấp. Tất cả các giáo viên tư thục và giáo viên lưu dụng dạy các môn xã hội, đều phải chuyển sang ngành khác.
Vậy là chất lượng giáo dục cứ suy giảm theo từng năm. Các thế hệ thầy giáo không được đào tạo bài bản, học sinh của họ sẽ trở thành những đứa trẻ khiếm khuyết về tri thức. Lại đến lượt học sinh khuyết hãm về tri thức ấy, trở thành các thầy cô đứng lớp.
Và từ khi xuất hiện hệ bổ túc văn hóa các cấp học phổ thông, và hệ đại học tại chức. Bằng cấp của hai hệ này có giá trị như bằng cấp học hệ chính quy, cùng với việc ưu tiên cộng điểm cho các thí sinh thuộc diện chính sách như: con em thương binh liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, học sinh miền núi, học sinh là dân tộc thiểu số, v.v. Lại có những năm bỏ thi đại học, chỉ xét tuyển qua lý lịch và học bạ.
Tới đây thì chất lượng đào tạo của ngành giáo dục từ phổ thông đến đại học sa sút hết phương cứu chữa.
Tiếp đến thời kỳ mở cửa, giáo dục cũng là mặt hàng kinh doanh béo bở, thì sự sa sút không chỉ là chất lượng tri thức mà lan sang cả phần phẩm hạnh, đạo đức nhà giáo.
Ngành giáo dục trở nên hoang mang, kể như đã mất phương hướng từ đây. Chính sự mất phương hướng này là hệ quả trực tiếp của sự phát triển nóng. Mà sự phát triển nóng lại chính là bệnh thành tích, bệnh duy ý chí.
Chẳng biết có phải là triết lý không, nhưng vào thập niên 60 của thế kỷ 20, người ta hay nhắc tới phương châm giáo dục là đào tạo con người toàn diện gồm: Trí - Đức - Thể - Mỹ.
Sau này, không thấy ai nhắc lại nữa. Nhưng với hiện trạng giáo dục khiến toàn dân hoang mang. Và dường như không còn mấy ai đặt niềm tin vào nền giáo dục nước nhà nữa. Các tầng lớp trung lưu đã tìm hướng khác cho con cái học hành. Từ mẫu giáo đến các cấp I, II, III, họ gửi con vào các trường tư thục danh tiếng hoặc trường quốc tế mở tại Việt Nam. Còn tầng lớp giàu có như quan chức cấp cao hoặc thương gia, lại gửi con du học tận Hoa Kỳ hoặc Tây Âu. Có nghĩa là họ chạy trốn khỏi nền giáo dục nước nhà.
Hiện nay, trong lòng thành phố Hà Nội, có gần 40 trường phổ thông tư thục các cấp, từ chối giảng dạy theo chương trình giáo khoa của Bộ Giáo dục, mà họ giảng dạy bằng chương trình giáo khoa của các nước tiên tiến. Vì vậy thu hút khá đông con em các nhà không có khả năng cho con cái đi du học.
Đó là thất bại nhãn tiền ngay trên sân nhà, ngay trước cửa Bộ Giáo dục, ngay tại trung tâm văn hóa tiêu biểu của cả nước.
Những chuyên gia giáo dục giỏi, cỡ như các giáo sư: Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm, Hoàng Tụy, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Phạm Huy Thông, Hoàng Xuân Sính, v.v. trên thế giới cũng không có nhiều đâu. Nhưng họ cứ bị loại dần ra khỏi ngành hoặc không được sử dụng đúng chức năng. Và tất cả những đề xuất tâm huyết của họ cho cải cách giáo dục, không ai thèm nhìn nhận, để rồi công việc lãnh đạo ngành trao vào tay những kẻ bất tài, bẻm mép, vô đạo đức.
Những ai còn ngồi trên ghế các trường đại học ngày nay, hầu hết thuộc lớp con nhà nghèo hoặc cận nghèo. Cũng có một số người học giỏi, tạm nán học năm thứ nhất, thứ hai tại các trường Đại học trong nước, chờ săn được học bổng nước ngoài, sẽ lập tức rời khỏi xứ sở mà họ vô cùng yêu mến.
Suy cho cùng thì mọi người đều phải lo cho bản thân mình. Vì rằng một người tốt nghiệp cử nhân, là phải học ròng rã ít nhất 15 năm, có ngành tới 17, 18 năm. Để rồi ra trường đi xin việc, phải giấu nhẹm tấm bằng suốt đời mình phấn đấu gian nan vì nó. Bởi những nơi tuyển dụng lao động hoặc nhân viên, đều yết bảng từ chối “Ở đây không tuyển những người có bằng cử nhân”.
Có một thực tế phũ phàng: các cử nhân không được trang bị một chuyên môn nào khả dĩ đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng. Đơn giản, là người ta không đào tạo nghề cho các cử nhân. Hầu hết các nhà tuyển dụng, nếu nhận các cử nhân vào làm việc, họ đều phải đào tạo lại.
Sự thật đau lòng này đã kéo lê thê nhiều chục năm, nhưng ngành Giáo dục Đào tạo vẫn cứ thản nhiên cho qua.
Cấp Đại học đã vậy, còn cấp phổ thông lại bỏ qua những môn chính yếu để giáo dục con người trở thành con người có đạo đức, biết yêu Tổ quốc mình; có khiếu năng mỹ cảm, có khát vọng vươn tới cái đẹp, biết sống vị tha và cao thượng. Đó là hai môn lịch sử và văn học.
Đáng tiếc, nhà trường, mà cụ thể là chương trình giáo khoa và cách truyền đạt tri thức, đã làm con em chúng ta chán ngấy hai môn học này.
Về lịch sử, có năm có trường chỉ có vài ba em đăng ký thi môn lịch sử. Số điểm thi môn lịch sử có năm trên 80% đạt dưới mức trung bình, phần lớn trong số này chỉ đạt điểm 1, điểm 2.
Báo chí phàn nàn, ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo lúc đó là Phạm Vũ Luận, trả lời hết sức nhẹ nhõm: “Trên 80% số điểm thi môn lịch sử dưới trung bình là chuyện bình thường”.
Nhân chuyện này nhớ đoạn ghi nhật ký năm 1941 của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng: “Người không biết lịch sử nước mình, chẳng khác một con trâu đi cày; nó cày với bất cứ ông chủ nào, trên bất cứ thửa ruộng nào cũng thế thôi”.
Lại kỳ thi năm nay, niên khóa 2018 - 2019, kết quả môn ngữ văn có tới 27, 84% số bài thi có điểm dưới trung bình. Và số điểm liệt môn này chiếm 45% số điểm liệt trong toàn bộ 9 môn thi; cao gấp 2, 5 lần năm 2017, gấp 1, 6 lần năm 2018.
Vậy là hai môn học, giúp người ta biết yêu giang sơn, nòi giống, yêu Tổ quốc mình và biết ước mơ, biết nuôi khát vọng vươn tới đỉnh cao trí tuệ, đều rơi vào điểm liệt; hèn chi đạo đức xã hội không xuống cấp trầm trọng. Tiêu biểu cho sự xuống cấp này, đáng buồn nhất nó lại diễn ra trong trường học.
Ta còn nhớ năm nào, báo chí lên tiếng gay gắt việc thầy Sầm Đức Xương, Hiệu trưởng trường cấp III xã Việt Lâm, huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, mua dâm học trò vị thành niên, và môi giới bán dâm học sinh vị thành niên của trường minh cho cấp trên. Việc môi giới mua bán dâm, sau Tòa xử kín, bác tố cáo vì không đủ chứng cứ.
Tệ hại hơn là việc đương kim Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo Phùng Xuân Nhạ, lại tiêu chuẩn hóa việc bán dâm. Theo như Bộ trưởng nói thì: “Các nữ sinh viên đại học chỉ bị kỷ luật khi đã bán dâm tới lần thứ ba”.
Còn việc thầy trò giết nhau ngay trong trường học, phụ huynh làm nhục thầy cô giáo không phải chuyện hiếm.
Thử hỏi có ở đâu trên thế gian này, tồn tại một nền giáo dục vô luân như vậy?
Nguyên nhân nào khiến ngành giáo dục của chúng ta suy sụp? Tạm nêu vài nguyên nhân mà ai ai cũng nhìn thấy:
- Trong nhiều chục năm ngành giáo dục mất dần vai trò là quốc sách hàng đầu.
- Không đặt mục tiêu đào tạo cụ thể cho từng cấp học, và không thường xuyên kiểm tra kết quả đào tạo.
- Bệnh thành tích. Và từ bệnh này đẻ ra bệnh dối trá kinh niên.
- Những người quản lý ngành ngạo mạn, không chịu nghe sự góp ý của các chuyên gia giáo dục đầu ngành, không đếm xỉa đến phản ứng xã hội.
- Trong việc sản xuất bộ đề luyện thi đại học và xuất bản sách giáo khoa, cùng việc viện cớ tái bản hằng năm, gây lãng phí lớn cho xã hội và đau khổ cho người nghèo, đã tạo ra lợi ích nhóm, tạo tiền đề xấu, khiến kìm hãm sự phát triển lành mạnh của ngành giáo dục.
- Đặt người không đủ chuyên môn, không có khả năng quy tụ nhân tài, không đủ phẩm hạnh của một nhà sư phạm vào vị trí lãnh đạo ngành giáo dục đào tạo.
Do đó, họ chỉ loay hoay công việc xử lý nội bộ, về những vấn đề vụn vặt, không đủ khả năng bao quát toàn ngành, không đủ trình độ nhìn ra thế giới và tiếp thụ tinh hoa giáo dục của nhân loại.
- Tới nay cần phải chấm dứt ngay nạn lạm thu của nhà trường; nạn bạo lực học đường và nạn gian lận trong thi cử.
- Sau rốt là lương giáo viên quá thấp, không đủ chi trả cho mức sống tối thiểu, khiến họ phải làm đủ các công việc khác (kể cả buôn lậu) để đắp đổi cho cuộc sống thường ngày. Vì vậy, họ không có thì giờ tự học để nâng cao nghiệp vụ, không có cơ hội dù rằng rất khiêm tốn, để thể hiện vai trò sư phạm và gìn giữ nhân cách một người thầy, v.v.

Thiết nghĩ, nếu ta khắc phục được những lỗ hổng khổng lồ trên, có nghĩa là ta đã bước đầu tìm ra giải pháp đổi mới triệt để công việc cải cách giáo dục về thực chất.

Hà Nội, ngày 02 tháng 9 năm 2019
H. Q. H.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 175): Phạm Hải Anh – Huyết đằng

Sinh năm 1970 tại Hà Nội. Tiến sĩ Ngữ văn chuyên ngành Văn học Trung Quốc. Giảng viên Đại học Sư phạm Hà Nội 1991 – 1998. Hiện sống tại Hà Lan.

Đã xuất bản: Huyết đằng (Truyện ngắn NXB Văn Mới, Hoa Kỳ 2001), Đi hết đường mưa (truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn 2002), Tìm trăng đáy nước (truyện ngắn, NXB Văn mới 2003), Sâm cầm (truyện ngắn cùng Lê Minh Hà, NXB Hội Nhà văn 2004), Kiến lửa (phim ngắn, Giải nhì Liên hoan phim ngắn Việt Nam 2005)

Ký sự Noumea (New Caledonia) – tháng 7 năm 2019

Nguyễn Cung Thông[1]

Vào đầu tháng 7 năm 2019, người viết (Nguyễn Cung Thông/NCT) và bà xã có dịp ghé thăm thủ đô Noumea của xứ New Caledonia (tiếng Pháp Nouvelle-Calédonie). Bài viết này ghi lại vài nhận xét ngắn trong khoảng 11 ngày ở Noumea, chú trọng đến tiếng Việt dùng trong cộng đồng Việt Nam và nhận xét thêm về một số nhà ái quốc bị đày sang đây. Người viết xin cảm ơn các bạn địa phương đã giúp đỡ, trao đổi và chở đi gặp gỡ các gia đình người Việt ở Noumea: anh Roland Phạm Ngọc San, anh Phong Pascal Chu cùng gia đình anh Tình chị Thanh, gia đình anh Nguyễn Văn Miện, gia đình anh Diệm (Đinh Ngọc Riệm, Lãnh Sự Danh Dự) và rất nhiều gia đình khác nữa ở Noumea mà chắc cần hơn trang giấy này để ghi lại các chi tiết, nếu có sai sót gì thì xin các bạn đồng hương thông cảm và ‘nương tay’ cho, hay có thể liên hệ trực tiếp để làm bài viết chính xác hơn. Một tài liệu tham khảo quan trọng cho bài viết này là cuốn từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Các từ viết tắt trong bài này là VN (Việt Nam), TQ (Trung Quốc), VNTĐ (Việt Nam Tự Điển), TK (thế kỉ), A (tiếng Anh), P (tiếng Pháp), TTG (Tân Thế Giới, hay New Caledonia/A – Nouvelle Calédonie/P), HV (Hán Việt).