Danh Ngôn

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói:

Thấu hiểu nỗi đau của người khác là món quà to lớn nhất mà bạn có thể trao tặng họ. Thấu hiểu là tên gọi khác của yêu thương. Nếu bạn không thể thấu hiểu, thì bạn chẳng thể yêu thương

Hành động bất bạo động được sinh ra từ nhận thức về đau khổ, được nuôi dưỡng bởi tình thương, và chính là cách hiệu quả nhất để đối đầu với nghịch cảnh

Mỗi người chúng ta nên tự hỏi mình: Tôi thật sự muốn gì? Trở thành người thành công số 1? Hay đơn giản là người hạnh phúc? Để thành công, bạn có thể phải hi sinh hạnh phúc của mình. Bạn có thể trở thành nạn nhân của thành công, nhưng bạn không bao giờ là nạn nhân của hạnh phúc

Ta và Đất Mẹ không phải là hai thực tại riêng biệt. Đất Mẹ chính là ta, ta là đất Mẹ. Đất Mẹ không phải chỉ là môi trường

Hãy bước đi như thể bạn đang hôn trái đất bằng bàn chân của mình

Con đã được biểu hiện từ đất mẹ, con sẽ trở về đất mẹ để tiếp tục được biểu hiện hàng triệu lần nữa, để cùng với tăng thân con làm công việc chuyển rác thành hoa, bảo hộ sự sống và xây dựng một tịnh độ ngay trên mặt đất này

Sinh và diệt chỉ là những hiện tượng mà ta nhìn thấy trên bề mặt. Nếu ta nhìn thật sâu thì không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự tiếp nối không ngừng. Khi ta tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt thì ta không còn lo sợ cái chết

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2022

Thế giới và ‘nước Nga đích thực’ phải thắng

Lê Học Lãnh Vân

Sáu tháng trước, Nga tấn công quân sự vào Ukraine.

Người ta có thể đem quân xâm lăng một quốc gia có chủ quyền, giết người bừa bãi và tuyên bố mình là nạn nhân bị uy hiếp!

Người ta có thể xâm chiếm một phần lãnh thổ của quốc gia có chủ quyền rồi tổ chức trưng cầu dân ý sáp nhập lãnh thổ dưới mũi súng như đã làm tại Crimea!

Hai lần gặp nhạc sĩ Hoàng Vân

Hà Nhật

Có lẽ nhạc sĩ Hoàng Vân đã rất ngạc nhiên khi lần đầu nhận được thư tôi. Hoá ra tên tác giả bài thơ mà anh vừa phổ nhạc, được phát trên đài Tiếng nói Việt Nam rồi được lớp trẻ hát rầm rộ trên cả Miền Bắc, là một người có bút danh Hà Nhật!

Nói thật, nếu không có tác phẩm của Hoàng Vân, chắc không mấy ai biết bài thơ này. Thơ gì mà không có vần, không có điệu, chẳng có gì là du dương như người ta vẫn biết về thơ. Nhưng có lẽ đó chính là ưu thế của bài thơ: nó có khoảng trống cho nhạc sĩ.

Ký ức riêng và lịch sử chung – vẻ đẹp lấp lánh của nỗi bi thương

(Đọc Phải sống của Van B. Choat và The Best We Could Do của Thi Bui)

Nguyễn Hồng Anh

image_thumb2

   

Tôi dành một tuần để đọc hai tác phẩm về chiến tranh Việt Nam của hai tác giả người Mỹ gốc Việt: một viết bằng tiếng Anh, The Best We Could Do của Thi Bui (Nxb Abrams ComicArts, 2017) và một đã dịch ra tiếng Việt, Phải sống của Van B. Choat (Nxb Phụ Nữ, do Phương Nam Book ấn hành 2017). Điểm chung của cả hai là đây đều là tác phẩm đầu tay của các tác giả nữ, và đều chọn đề tài và hình thức sáng tác thường thấy với các nhà văn di dân gốc Việt: hồi ký về chiến tranh.

Ký ức riêng

Phải sống kể câu chuyện đời riêng của một bé gái bốn tuổi, trải qua nhiều sóng gió cho đến khi trở thành một người vợ, người mẹ. Cô bé ấy tên khai sinh là Nguyễn Thị Hiền, sau đổi thành Bích Vân và khi viết hồi ký lấy tên là Van B. Choat theo họ chồng. Câu chuyện trải dài qua cuộc chiến tranh Việt Nam, qua hai vùng lãnh thổ Việt - Mỹ và cuộc đời với nhiều thân phận bị/ được dán nhãn: trẻ mồ côi, con nuôi, đứa trẻ vô thừa nhận, người vợ, người phụ nữ goá chồng, Việt kiều. Đoạn đời nào cũng ăm ắp sự kiện riêng - chung, nhưng dễ nhận thấy lịch sử chỉ là phông nền, là nguyên cớ để làm nổi bật số phận bất hạnh – như rất nhiều những số phận chung khác trong chiến tranh.

The Best We Could Do được trình bày theo một cách thức hơi khác. Thứ nhất, đó không chỉ là chuyện kể bằng chữ, mà câu chuyện về một gia đình thuyền nhân được kể dưới hình thức truyện tranh, rất sống động và thay thế được hiệu quả biểu đạt của ngôn từ (đáng ngạc nhiên là tác giả tự học vẽ). Thứ hai, hàm lượng sự kiện lịch sử trong tác phẩm ngang ngửa với câu chuyện gia đình riêng vốn được phân bố thành hai tuyến chính, tuyến truyện về người cha và tuyến truyện về người mẹ, cho thấy nỗ lực của tác giả trong việc tìm tòi và nhận thức về lịch sử chiến tranh Việt Nam từ thời thuộc Pháp cho đến khi Sài Gòn sụp đổ.

clip_image002[4]

Một trang truyện từ The Best We Could Do

Sự khác nhau đó giữa hai tác phẩm cũng khá dễ hiểu: Vân trong Phải sống đã trải qua những năm tháng nhọc nhằn nhất cuộc đời ngay tại Việt Nam những năm 60-70: ba và mẹ chết trong một trận thảm sát tại đồn lính ba đóng quân, Vân cùng anh chị em mình bị hành hạ thể xác và tinh thần bởi những người bà con xem mấy đứa trẻ mồ côi giờ đây là gánh nặng, chứng kiến chiến tranh sát cửa nhà trong trận Mậu Thân tại Sài Gòn, bị lạm dụng, v.v. Ký ức về Việt Nam của Vân hoàn toàn là ký ức trải nghiệm trực tiếp, trước khi đến Mỹ năm 15 tuổi. Còn Thi Bui sinh ra vào đúng 1975, những gì cô kể lại là những “research” và ghi chép từ hồi ức của ba má mình – một tiếp nhận trung gian mà có lẽ bằng tranh vẽ mới đủ mang lại kinh nghiệm đầy xúc cảm: trải nghiệm thị giác đã khoả lấp được khoảng trống của ký ức gián tiếp.

Thêm vào đó, Vân thuộc thế hệ di dân 1.5 – tức những người trải qua thời thơ ấu/ thiếu niên tại Việt Nam trước khi đến Mỹ – nên cách kể chuyện của cô là lịch sử của một cá nhân đặt trước và trong lịch sử một cuộc chiến, cho thấy cá nhân ấy đã sống sót và vượt qua số phận như thế nào. Và vì rời Việt Nam theo chế độ có thân nhân là người Mỹ, trước thời khắc 30.4.1975, nên lịch sử chiến tranh, với Vân, cũng đã dừng lại tại điểm mốc đó. Trong khi Thi Bui thuộc thế hệ thứ 2, là con cái của gia đình thuyền nhân, sống và trưởng thành hoàn toàn trong lòng nước Mỹ, nên mang tâm thế của người “tìm về”/ “tìm biết” chứ không phải “sống với”/ “sống cùng” lịch sử, vì thế câu chuyện riêng của gia đình cô đặt song song với lịch sử chung, một số chi tiết hoàn toàn tách biệt – như những trang vẽ về tướng Nguyễn Ngọc Loan bắn một người Cộng sản vào Mậu Thân 1968 và câu chuyện về người ký giả chụp bức ảnh nổi tiếng ấy. Và vì mang thân phận “thuyền nhân”, nên chiến tranh chưa bao giờ chấm dứt khi họ rời thuyền: ½ câu chuyện của Thi Bui đặt trọng tâm vào giai đoạn hậu chiến với những nỗi sợ từ người lớn phủ bóng lên thế hệ sau, những đứt gẫy văn hoá và tình người là hệ quả của chiến tranh; chiến tranh vẫn diễn ra âm thầm giữa xứ sở tự do, một cách nào đó.

Lịch sử chung

Dù trần thuật bằng cách thức nào, thì mục đích của các hồi ức chiến tranh trong dòng văn học di dân của thế hệ 1.5 và 2 vẫn quy về điểm chung: hoà giải với quá khứ. Nhưng khoan hãy nói câu chuyện “hoà giải”, vì trước mắt ta bày biện ra quá nhiều những bi thương. Có điều, tôi sẽ gọi đó là nỗi bi thương lấp lánh, vì sau cảm xúc đau xót, ám ảnh cùng với nhân vật, tôi không thấy sự căm giận, tủi hờn, mà ngược lại là hình hài của tình yêu.

Tôi hiểu rằng đó là tình yêu lưu truyền, mà khi đã hấp thụ từ huyết thống thì dù có bị tước đoạt, vẫn mãi là di sản thiêng liêng nuôi dưỡng tinh thần. Đó là tình yêu của người mẹ đến giờ phút hấp hối vẫn cố cho đứa con ba tháng tuổi bú, vẫn hỏi bé Hiền (tức Vân) thích ăn gì mẹ mua. Đó là tình yêu của bà ngoại cưu mang đàn cháu mồ côi qua hết cuộc thăng trầm này (trầm nhiều hơn thăng) đến nỗi vinh nhục khác (nhục nhiều hơn vinh), hết sức bảo vệ mấy đứa cháu trong sự bất lực của thân phận yếu hèn, ăn nhờ ở đậu, mỗi đêm chỉ biết tự đấm ngực ăn năn tội chứ không chút nào trút nỗi bực dọc lên trẻ thơ. Và cũng như Phải sống, tình mẫu tử trong The Best We Could Do cũng là thứ di sản có khả năng biến cải tâm hồn, khiến Thi trong phút giây trở thành mẹ và những ngày chăm sóc con vất vả trong bệnh viện mới hiểu sâu sắc đoạn trường “Má” đã trải qua để giữ bốn đứa con và một cuộc hôn nhân nhiều phần rách nát đi qua chiến tranh và thời hậu chiến khó khăn. Mẹ hiện về trong đêm tân hôn của Vân và sau này khi Vân mất đi người chồng tuổi đời quá trẻ do bị ung thư, cũng như giọng nói của Má với tông giọng nhẹ nhàng, âm sắc tiếng Việt như tiếng nhạc, trở lại trong phút giây Thi bồng đứa con nhỏ trong lòng, đều là di sản về tình yêu thương vọng về từ ký ức xa xăm nhưng bền vững, giúp họ đi qua nghịch cảnh, nâng đỡ họ dậy từ nỗi đau, và từ đó họ không bao giờ gục ngã nữa. Thứ tình yêu lưu truyền ấy được khắc hoạ rất rõ qua mối dây liên kết giữa những người phụ nữ. Phụ nữ thường thuộc về phe yếu thế, bị loại trừ, bị nạn nhân hoá trong diễn ngôn chiến tranh, nhưng hình ảnh của người bà, người mẹ, người chị trong hồi ký của hai tác giả nữ hiện lên đầy nội lực và giàu nghị lực sống, nói như Vân: “Con sẽ sống bởi vì con là một người con gái và là một người chị, và ngôi mộ không phải là mục đích của con” (tr.221).

Với những thân phận đã sống qua bi kịch, đối diện với quá khứ đã là khó, huống chi là tha thứ và yêu thương. Vậy mà đoạn kết của cả hai tác phẩm đều hướng đến cái đích đó, tuy ứng xử có phần khác nhau. Vân cùng hai người con trai trở về Việt Nam, về lại Hồng Ngự nơi có đồn lính của ba, đứng bên sông Tiền nơi mẹ nằm lại và hứa rằng lịch sử của ba mẹ, của gia đình mình sẽ không bao giờ bị lãng quên, và thế hệ sau sẽ còn kể lại và ghi nhớ. Trong lúc đó, với Thi Bui, ban đầu cô nghĩ rằng bằng việc kể câu chuyện gia đình, cô có thể “thu hẹp khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại, có thể lấp đầy khoảng trống giữa bố mẹ và mình” (tr.35), và hệ quả kéo theo là cảm giác về gánh nặng từ quá khứ của họ chuyển sang vai cô, rồi biết đâu chính cô sẽ gieo “cái gen buồn thương” cho chính đứa con của mình, dù vô thức đi nữa. Nhưng lịch sử cần kể lại để khép lại nỗi buồn, chứ không phải để tiếp tục nuôi dưỡng đau thương, nên Thi đã có thể nhìn thấy “tự do” nơi đứa con trai nay đã lên mười – tự do trong một đời sống mới, không còn vương lại chút nào của mất mát và chiến tranh.

Tôi vẫn bảo lưu suy nghĩ về việc cần kể lại ký ức chiến tranh, không phải để in hằn thêm nỗi đau buồn, mà là để đoạn tuyệt với ý niệm: chiến tranh là một định mệnh của dân tộc này – như cách hầu hết người nước ngoài nhìn về Việt Nam và lịch sử Việt Nam. Thế hệ nhà văn Mỹ gốc Việt, như Van B. Choat, như Thi Bui, nhìn về quá khứ với nhận thức mới, cùng với phương tiện Anh ngữ, đã tạo lập nên diễn ngôn khác về chiến tranh Việt Nam: chiến tranh là nỗi bi thương, nhưng là nỗi bi thương lấp lánh vẻ đẹp của tình yêu và sự xoá bỏ hận thù – như lời Van B. Choat nói trong buổi ra mắt sách ở quê nhà: “Tôi không viết hồi ký về cuộc chiến, tôi viết về nỗ lực của một con người” [1]. Bằng những trang hồi ký chân thật về đời riêng, họ đã thực sự viết lại lịch sử chung, viết lại để bước qua vĩnh viễn.

N.H.A, 9/2022

------

[1] https://tuoitre.vn/dung-noi-ve-cuoc-chien-hay-noi-ve-con-nguoi-20170909135758328.htm

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2022

Du Tử Lê – Một cõi cho mình

Vũ Thư Hiên

Tôi kính trọng những nhà thơ.

Trong mắt tôi, họ là những người dũng cảm bậc nhất. Hoặc gan lì, cũng bậc nhất luôn.

Giữa thời thiên hạ tối tối dán mắt vào ti vi, sáng sáng lướt rao vặt trên báo chợ, ngốn tiểu thuyết trinh thám trên xe điện ngầm, trên máy bay... mà trong đời vẫn cứ có những người bình tĩnh làm thơ, mới lạ. Ngó vào số lượng in ở trang cuối mỗi tập thơ lại càng thêm kính phục họ.

Các nhà thơ Pháp, nhà thơ Đức, những hậu duệ của Baudelaire, Verlaine, Apollinaire, của Goethe, Schiller... đều ngán ngẩm khi nói đến tình trạng thê thảm của sự đọc thơ thời bây giờ. Đời thuở nhà ai mà một tập thơ bán được một ngàn bản đã là của hiếm trên một đất nước bảy tám chục triệu dân cơ chứ. So với họ, các nhà thơ Việt ở hải ngoại dũng cảm hơn nhiều. Và cũng may mắn hơn nhiều, nếu so số lượng xuất bản trên tỷ lệ số dân.

- Dũng cảm gì đâu – Du Tử Lê cười hiền lành – Không hề. Gàn dở thì đúng hơn, ông ạ. Bọn làm thơ chúng tôi, chạy không nổi khỏi cái nghiệp, là sự chìm đắm vừa đau đớn, vừa êm đềm, một thứ thống khoái khó hiểu đối với nhiều người, không trừ chính kẻ làm thơ...

Chúng tôi ngồi ở một bàn ngoài của một quán cà phê với một loạt ghế trên hè, rất Paris, ngay trước tượng Thần Tự Do giương cánh trên đài kỷ niệm Bastille. Quán cà phê bình dân này không phải là La Rotonde ở Montparnasse, nơi những danh nhân lịch sử của nước Pháp từng lai vãng, nhưng vào buổi chiều thu ấy cũng đông nghịt, bên trong không còn bàn trống. Du Tử Lê xuề xòa, nói ngồi ở các bàn ngoài thú hơn, giống ở Sài Gòn hơn.

Vừa nhàn nhã nhâm nhi ly expresso, ngắm cảnh xe cộ bá tính tấp nập trên quảng trường ghi dấu cuộc cách mạng vĩ đại 1789, vừa bàn về văn chương thơ phú, thật là thú vị.

Hình như các nhà thơ đều hiền lành. Tôi chưa gặp một nhà thơ dữ tợn nào. Những người dữ tợn không làm thơ, tôi nghĩ vậy.

Tôi đòi Du Tử Lê hiền lành đọc một bài thơ mà anh ưng ý hơn cả.

Du Tử Lê nhìn tôi như cách người ta nhìn một thằng cha dở hơi.

- Bài nào mình cũng thích, nhưng chỉ trong lúc đang làm ra nó thôi. Bài ưng ý nhất là bài mình sắp... làm cơ, ông ạ.

Ấy là người đã có một lượng tác phẩm đồ sộ, hơn bốn chục cuốn, nếu tôi không lầm, nói thế đấy.

Chiều tôi, Du Tử Lê đọc se sẽ vài câu:

đêm về trên bánh xe qua

nhớ tôi xa lộ, nhớ nhà Hàng Xanh

nhớ em, kim chỉ khíu tình

trưa ngoan lớp học, chiều lành khóm tre

nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè

nắng Trương Minh Giảng. Lá hè Tự Do

nhớ nghĩa trang - quê bạn bè

nhớ pho tượng lính: buồn se bụi đường.

đêm về theo vết xe lăn

tôi, trăng viễn xứ. Sầu em bến nào?...

Nhớ Sài Gòn khi Paris sống động trước mặt là trúng lắm. Chẳng có nơi nào gợi nhớ những thành phố quê hương bằng Paris.

Cách chúng tôi mấy bước là cái nắp cống bằng gang in hệt những nắp cống trên hè Hà Nội hay hè Sài Gòn, đọc những hàng chữ trên nắp cống mới biết chúng cùng một lò sản xuất. Mấy chiếc lá vàng lềnh bềnh trên dòng nước rãnh dọc hè, y như ở Hà Nội.

Người đọc biết đến Du Tử Lê không phải với tư cách nhà thơ lục bát truyền thống, hoặc thơ mới các kiểu hàng loạt.

Du Tử Lê được thiên hạ biết đến, được nhớ đến, là nhờ những bài thơ không vần với những chấm, phẩy, gạch nối, ngoặc đơn, ngoặc kép và những ký hiệu toán học.

Những cái đó là tốt, là xấu, là hay, là dở, tôi không bàn. Trong địa hạt thơ tôi là kẻ ngoại đạo. Nhưng điều tôi thấy rõ là Du Tử Lê đã và đang làm một cái gì đó chưa từng có. Anh là kẻ khai phá. Cái mà anh đang khai phá rồi đi đến đâu là chuyện về sau. Nhưng ngay bây giờ tôi đã bắt gặp đâu đó những người theo chân anh. Như thế, anh không hề đơn độc.

như / con sông / sẽ không ra biển!??

nhan sắc đi / về ngang vết thương.

thịt / da từng tấc chăm, nuông nghiệp –

mỗi ngón tay:

- thơm một nỗi niềm.

như mưa / nắng / sẽ không cư, ngụ!?!

lọn tóc xin tình mãi thiếu niên –

nuôi vai chia nhánh vào ly, biệt...

thương, nhớ nào xanh(?)

những mặt bằng!?!!!

Tôi không hỏi Du Tử Lê vì sao những dấu chéo (/) đặt giữa những chữ như / con sông / sẽ không ra biển!??; vì sao giữa từ kép ly biệt lại phải có một dấu phẩy ngăn cách để thành ly, biệt; cũng như tôi không hỏi vì sao sau câu như / con sông / sẽ không ra biển!?? lại có một dấu than với hai dấu hỏi, mà ở câu thương, nhớ nào xanh(?) (xuống dòng) những mặt bằng!?!!! sau một dấu than, một dấu hỏi, lại có đến ba dấu than nữa?

Tôi không hỏi vì không muốn Du Tử Lê phải dằn lòng cắt nghĩa cho tôi rằng thơ là cái để mà cảm, chứ không phải cái để mà lý giải. Trong sự cảm ấy, tôi thấy, hoặc lơ mơ hiểu dường như Du Tử Lê muốn dùng những ký hiệu toán học, những dấu biểu cảm ngữ nghĩa như một cách chơi nhạc, để ngắt chữ ngắt câu, để nhấn mạnh, để khêu gợi, để bắt người đọc đi tiếp con đường suy tưởng của/cùng anh (tôi dùng một dấu chéo theo cách Du Tử Lê rồi đấy).

Cái thi tại ngôn ngoại của Du Tử Lê phong phú. Nó gọi ta bước qua những chữ cụ thể để lướt đi xa trong liên tưởng, như từ một nốt nhạc nẩy lên ta nghe vang vọng một toàn hài. Cái mà người đọc cảm được, thấy được trong thơ Du Tử Lê là những cảm giác Du Tử Lê cũng là cảm giác của mình, dù đó là những suy tưởng về ý nghĩa thời gian, về tình nhân loại, về những niềm vui hồn nhiên, những phút buồn vô cớ.

rất nhiều khi tôi khóc một mình

những hạt lệ không giúp ai no

những hạt lệ không làm ai đỡ đói,

nhưng nó vẫn là những giọt lệ

chính nó,

một mình –

không có tôi đứng cạnh.

thay vì cloning cho tôi con cừu

hãy tạo sinh vô tính cho tôi buổi chiều,

‘quê cũ.

một lần trong đời nhau

đêm, nghìn sâu tiếng gọi

ngọt ngào gối, chăn đau

thịt, da gào kiếp, mới

soi mặt gương đời, sau

giọt máu còn chói lọi.

một lần thân thể nhau

tôi rạng ngời: địa ngục!?!

nuốt trộng chính mình, như ngọn lửa

cháy một tôi: kẻ tự lột da

nhìn em: chảy máu trong yên, ắng

nghe giữa bọng cây: rộ đóa hoa.

Tôi viết: Du Tử Lê không đơn độc trong sáng tạo, trong khai phá một lối đi mới cho chính anh, độc đáo trước hết cũng cho chính anh, không cần ai chấp nhận.

Cũng cái cung cách như thế ở trong nước có Dương Tường, một hồn thơ gần gụi với Du Tử Lê. Dương Tường cũng khai thác âm hưởng của những con chữ trong thơ, với những hàm ý không dễ hiểu, và chẳng cần ai hiểu. Dương Tường có những câu thơ thế này:

image

Có trời hiểu những chữ chéo in đậm nọ mang nghĩa gì. Trong tập Thơ Dương Tường (xuất bản năm 2005) có một câu “chẳng thể nào xuất” với hai gạch chéo hình chữ V nằm ngang (<) đi tiếp chỉ vào hai chữ “tinh” và “thần” để ta có thể đọc theo hai dị bản “xuất tinh” và “xuất thần”, hoặc gộp cả hai lại: “xuất tinh thần”; trông cứ như một công thức cấu tạo phân tử.

Có khác gì Du Tử Lê với những ký hiệu toán học đâu.

Trong tình hình nhiều năm mọi kênh thông tin trong ngoài bị đóng kín, hai người không đọc thơ của nhau, nhưng Dương Tường và Du Tử Lê đều có những hoài bão khai phá như nhau và lối khai phá khá giống nhau. Về sự sử dụng nhạc tính trong thơ hai người hơi khác nhau chút ít. Có thể nói nếu thơ Du Tử Lê còn là euphonic thì thơ Dương Tường thiên về cấu trúc dodecaphonic. Dù sao thì ở đây ta thấy có cái mà người ta thường gọi là những chí lớn gặp nhau.

Ở đây vấn đề muôn thuở đặt ra: ở đâu, cái cảm giác chừng mực của sự biểu cảm? Chưa tới thì không được. Một chút quá là hỏng. Nhưng với chủ thể của sự sáng tạo Du Tử Lê vấn đề trên bất thành vấn đề.

Tôi quen Du Tử Lê chưa đủ lâu để có thể nói rằng tôi hiểu anh thật nhiều. Nhưng tôi dám nói như thế từ những quan sát của mình qua những lần gặp gỡ bao giờ cũng ngẫu nhiên và hồn nhiên.

Khi tôi hỏi Du Tử Lê:

- Khi viết ông có nghĩ tới người sẽ đọc thơ ông không?

- Hoàn toàn không.

- Vậy ông nghĩ gì khi làm thơ?

- Tôi chẳng nghĩ gì cả. Một tứ thơ chợt đến, và tôi cầm lấy bút.

Thế đấy. Du Tử Lê không làm thơ, có thể hiểu như thế. Thơ tự đến với Du Tử Lê, như cái duyên số phận, có đi tìm cũng không thấy, muốn chế tạo cũng không được. Trong Du Tử Lê mọi điều kiện cần cho thơ trở thành mảnh đất phì nhiêu cho thơ nẩy nở. Cái sự khai phá mà tôi nói đến ở trên cũng nằm trong cái duyên ấy, không phải do một cố ý nào. Chính vì vậy mà Du Tử Lê làm thơ không quan tâm đến đối tượng sáng tạo, không cần biết họ hiểu được hay không hiểu được, cảm được hay không cảm được. Kệ.

Du Tử Lê làm thơ như Du Tử Lê thở, như Du Tử Lê cười, Du Tử Lê khóc.

Nói tóm lại, Du Tử Lê làm thơ như Du Tử Lê sống.

Trong cõi riêng của mình.

Dạy và học trong một nền giáo dục ký sinh

Nguyễn Hoàng Văn

Ông Bùi Đức Mỹ, nguyên là đại tá không đoàn trưởng của Không lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), kể lại một trải nghiệm thú vị khi tham dự khóa chỉ huy tham mưu cao cấp tại Maxwell Air University của nước Mỹ.

Khóa học này quy tụ nhiều sĩ quan không quân Mỹ và các nước đồng minh, trong đó có nhiều người đã có bằng cao học, tiến sĩ. Khóa học có bốn môn chính là chính trị, kinh tế, tâm lý học và quân sự, nhà trường cũng mời các giáo sư, học giả danh tiếng đến thuyết trình, trong đó bất cứ đề tài nào cũng được ba giáo sư trình bày với ba hướng khác nhau. Thí dụ đề tài về “Kinh tế Nga Sô”: ngày đầu một giáo sư thiên tả ca ngợi nó tận mây xanh; ngày hôm sau thì một giáo sư khác quay ngược 180 độ, đả kích nó thậm tệ; đến hôm thứ ba lại một giáo sư “trung dung” hơn, chê một ít, khen một ít.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2022

Vạn sắc hư vô – Một sắc tài tình

Đinh Thanh Huyền

image

Tôi gặp Vạn sắc hư vô của Nguyễn Khắc Ngân Vi một cách tình cờ. Nhưng trước đó đã xảy ra một chuyện liên quan đến tác giả này. Trên trang của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng có giới thiệu truyện ngắn Đầu hàng của Nguyễn Khắc Ngân Vi. Một số nhà văn gạo cội lên tiếng khá nặng nề. Họ nói “kinh” thứ văn chương “chỉ quanh quẩn mấy phòng trà, cà phê, phòng ngủ… để bàn chuyện ngoại tình với… kinh nguyệt”. Có người gọi truyện ngắn đó là “rác” (có lẽ mượn chính ý của Ngân Vi “Tác phẩm hoặc là kiệt tác hoặc là rác”).

Chút kỷ niệm bé nhỏ về Xuân Quỳnh

Hà Nhật

Không nhớ rõ năm ấy là năm nào, chỉ nhớ lúc ấy trường tôi đã từ Cồn Chùa về Cộn. Bên kia cầu Phú Vinh là Hội Văn nghệ Quảng Bình. Lúc rảnh tôi hay sang đó chơi, tán gẫu với Xuân Hoàng, Trần Công Tấn…

Hôm đó, tại trụ sở Hội, tự nhiên có vị khách đặc biệt: nhà thơ Xuân Quỳnh. Anh Xuân Hoàng cho biết là Xuân Quỳnh được báo Văn nghệ giới thiệu vào Quảng Bình, muốn về Bảo Ninh để viết về miền biển, nhất là viết về anh hùng Nguyễn Thị Khíu.

Chuyện này tôi biết rồi.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2022

Khi người dân tự tử, sách giáo khoa sẽ dạy gì?

Thái Hạo

Vũ Nương bị chồng nghi oan, trầm mình xuống sông mà chết, sách giáo khoa dạy rằng phải lên án “chế độ phong kiến nam quyền”. Thúy Kiều trong cơn bĩ cực đã nhảy xuống sông Tiền Đường để chết, sách giáo khoa dạy rằng phải phê phán chế độ phong kiến thối nát đẩy người phụ nữ vào bước đường cùng. Chí Phèo bi phẫn mà tự đâm dao vào người mình, nằm giãy trên vũng máu tươi, sách giáo khoa dạy rằng chế độ thực dân-phong kiến tàn bạo làm bần cùng hóa và tha hóa con người. Lão Hạc ăn bả chó mà chết, sách giáo cũng khoa lên án chế độ thực dân-phong kiến giết người...

Phiếm luận về ‘trọc phú kiến thức’

Lê Học Lãnh Vân

Dù trong tựa có hai chữ “phiếm luận”, bài viết vẫn phản ánh chuyện thật. Chỉ là được trình bày dưới dạng phiếm cho bớt nghiêm trang mà thôi!

Sau khi đọc “Trọc phú kiến thức” của anh Đinh Đức Hoàng, đọc “Suy nghĩ về trọc phú kiến thức” của tôi cùng các bài thảo luận khác, một cô cháu gái hỏi:

- Chú ơi có phải môi trường “copy & paste” tạo ra “trọc phú kiến thức” không?

- Chú nghĩ “trọc phú kiến thức” tạo ra môi trường “copy & paste”. Rồi môi trường “copy & paste” ảnh hưởng ngược lại tạo ra nhiều “trọc phú kiến thức” hơn…

- Chú ơi, người “trọc phú kiến thức” phải là người học vẹt không?

- Theo bài viết của anh Hoàng, chú nghĩ không. “Trọc phú kiến thức” là người học thiệt, có thể thích học nữa, nhưng học chưa chín, chưa “chiêm nghiệm, trải nghiệm, hấp thụ, tự phản biện, tự luận” đủ nên kiến thức họ có vẫn còn là ngoại lai, chưa là “của mình”, vẫn còn là phấn hoa chứ chưa là mật! Dù kiến thức chưa là của mình, họ vẫn đăng đàn thuyết giảng, cốt ý cho người ta biết cái khối lượng tựa sách mình đã đọc. Còn người học vẹt chưa chắc thấy điều mình học là hay, chỉ biết nhắm mắt học thuộc lòng nhằm đậu môn thi, có bằng cấp…

- À, vậy con hiểu rồi! Như vậy học vẹt là học mà hầu như không có tư duy gì hết luôn! À, mà con nghe nói lâu lâu có phong trào học tập gì gì đó, mấy người theo học thuộc loại nào? “Trọc phú kiến thức” hay “học vẹt” vậy chú?

- À, cái đó thì chú không rành lắm, có học theo phong trào đâu mà biết! Cà phê cà pháo với mấy bạn có học như vậy, chú thấy dạng người học này khác hai dạng người học trên. Giống như học vẹt, họ học thuộc làu làu từng câu, chữ. Giống như “trọc phú kiến thức” họ cũng đăng đàn thuyết giảng. Họ khác với hai dạng trên ở chỗ họ có tư duy, nhưng là tư duy ngược chiều với những gì họ học qua phong trào. Họ tư duy rằng cái tui học là để tui nói thôi, còn cái tui làm thì ngược một trăm tám mươi độ! Họ rất thực dụng đó cháu…

- Cho nên có đâu ít trường hợp hôm sau họ bị lộ tung ra vì tham nhũng mà hôm trước họ đăng đàn dạy dỗ thiên hạ cần kiệm liêm chính xịn sò luôn. Cũng như học thì phải ghét đế quốc Mỹ mà làm thì đưa cả gia đình qua đó học tập, định cư trước, xuống tiền mua nhà dân Mỹ lé mắt luôn! Phải không chú?

- Cháu nói nhiều quá! Chú chỉ nói lý thuyết, còn liên hệ thực tế chú không rành…

- Con chỉ nói cái cùng trời thiên hạ thấy, thiên hạ biết. Còn chú, chú giả bộ không biết thì có. Coi chừng người ta nói chú là mũ ni che tai, là trí ngủ, hi hi hi…

- Con ơi, phải nhớ câu ngoạ hổ tàng long, người biết trong thiên hạ nhiều lắm. Ngay cả trong những người đi học theo phong trào cũng vậy nữa, ngoài số đông là những người cam chịu, ngoài những người chỉ tham danh lợi còn những người vì hoàn cảnh họ học theo chiều này nhưng lòng ôm hoài bão phụng sự cộng đồng, quốc gia theo chiều khác. Họ chưa nói lên chưa hẳn vì hèn nhát mà vì nghĩ chưa tới thời, nhưng họ âm thầm lan truyền “kiến thức tự thân” của họ ra xã hội. Khi vận trời đã chuyển động thì mau lắm, sau một đêm “sấm vang chớp giật” (*) sáng ra sẽ thấy “núi sông đổi mới, trời đất tốt lên” (*). Sấm vang chớp giật không phải là sự gãy đổ gì lớn đâu con, chỉ một thời gian rất ngắn là núi sông đổi mới trong yên hoà bởi vì trình độ và lòng dân đã sẵn sàng đổi mới…

Ngày 24 tháng 9 năm 2022

=====================

(*): Bình Ngô Đại Cáo, bản dịch Ngô Tất Tố

Nhìn lại âm nhạc miền Nam 1954-1975 (kỳ 13)

Nguyễn Phú Yên

 

CHƯƠNG XII

PHONG TRÀO NHẠC TRẺ

Chiến tranh Việt Nam kéo dài ngày mỗi tàn khốc và bi thương khiến một bộ phận thanh niên mệt mỏi, chán chường. Thời đạn lửa tạo cho một bộ phận lớp trẻ ở các đô thị cảm giác như đời sống bế tắc và phần nào họ nhuốm tinh thần bi quan. Dù đời sống ở phần lớn các các thành thị miền Nam có phần yên bình, không nguy hiểm như vùng thôn quê và rừng núi xa xôi, nhưng tuổi trẻ vẫn mong ước có được một thứ gì bồi đắp để giữ được hy vọng dù mong manh. Nhạc trẻ được ưa thích, có thể phản ảnh một phần về tâm trạng này.

Nhân trường hợp ca sĩ Khánh Ly

Trương Huy San

Rất muốn làm một công dân lười biếng, tin tưởng vào “nguyên nhân cúp điện” trong quyết định hủy đêm diễn của ca sĩ Khánh Ly. Nhưng rồi, không thể không tự hỏi, dù những người ra quyết định có bất chấp pháp lý và đạo lý tới đâu, không lẽ họ không nghĩ đến những tổn thất của nhà tổ chức.

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

Chiếc ghế để trống

Trang Châu

 

Văn Bút Quốc Tế trang trọng

Đặt một chiếc ghế trống dành cho chị

Chị không có đó mà như có đó

Trong lòng mọi người

Làm một nhà văn bất đồng chính kiến

Làm một nhà hoạt động nhân quyền

Chị đâu mong ước gì hơn

Giúp người dân thấp cổ bé miệng của đất nước mình

Biết hơn một chút

Quyền hạn tối thiểu của con người

Biết hơn một chút

Để không phải suốt đời dưới áp bức

 Phải lặng thầm, nhắm mắt, che tai cùng câm tiếng

Về một cái chết trong giáo dục

Văn Việt: Ngày 24-9, thi thể cô giáo V.T.H.P (33 tuổi, dạy học tại TP Quy Nhơn) được tìm thấy sau 4 ngày mất tích, xác minh ban đầu cho biết, cô giáo chết vì uống thuốc tự tử. Lá thư tuyệt mệnh mà cô để lại đã gây rúng động dư luận vì nội dung giúp vén màn một bức tranh giáo dục vô cùng u ám, nó trở thành hồi chuông dài, riết róng gióng lên, và đòi hỏi những thay đổi quyết liệt, nhằm cứu vãn tình hình. Dưới đây, Văn Việt tổng hợp ý kiến của một số nhà giáo, xin giới thiệu đến đông đảo bạn đọc.

 

NHỮNG DÒNG MỊCH LA TRONG GIÁO DỤC

Thái Hạo

Một cô giáo 33 tuổi ở Quy Nhơn vừa mới tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh với những dòng dưới đây:

"Sau những áp lực công việc mà giáo viên phải làm lên lớp, giảng dạy, chủ nhiệm, kế hoạch bài dạy, ra đề thi, chấm kiểm tra, ráp phách và sau cùng so điểm, hồi hộp không biết có tên mình sai sót trong đó không. Trong khi thời gian quá ít mà lượng công việc quá nhiều. Bao nhiêu thứ giáo viên là người chịu.

Những công việc trên em đều làm được hết. Cẩn thận được hết. Nhưng có một việc mà em không thể chấp nhận được đó là điều khiến em phải ra đi hôm nay.

Em mong khi em đi rồi, tuyệt đối không cho một ai là giáo viên đến viếng em. Nếu em được sống các kiếp tiếp theo, em không bao giờ ước một cái nghề cao quý này cả, thật kinh tởm". […]

Tôi đọc được tin này trong bài đăng của thầy Lê Trần Ngọc Sơn (người đã làm đơn xin nghỉ việc vì "nạn dối trá trong giáo dục" gây xôn xao dư luận năm ngoái). Dưới bài có một người bình luận: "Chết ngu".

Tôi tin rằng các bạn, những người đang ở ngoài và ngày ngày lên án giáo dục, vĩnh viễn không bao giờ hiểu được những thầy cô giáo còn chút lương tâm và tình yêu, họ đang phải trải qua những gì đâu. Trước đây, khi nghỉ việc, tôi đã phải ruột gan mà nói với những người tôi thương yêu rằng, "Nếu không ra khỏi đó, tôi có thể trầm cảm hoặc phát điên".

Có thể nhìn nhận và cảm nhận của mỗi người là không giống nhau, nhưng với tôi, có lẽ trên mặt đất này không nơi đâu đáng sợ và khủng khiếp bằng các trường học hiện nay. Từ những áp lực vô lý, vô nghĩa, ngột ngạt, bất công, rắc rối, lạnh lẽo, nó gây nên nỗi bức xúc, buồn bã, mỏi mệt, sợ hãi, giận dữ, trộn lẫn với những ước mơ, khát vọng và vô vọng, làm thành một cái không khí mà nếu ta còn chút nhạy cảm với đời sống, nhạy cảm với con người thì ta sẽ không thể nào chịu đựng nổi.

Cầu nguyện cho cô giáo sẽ đến được một thế giới nhiều yêu thương hơn. Nếu sau này cô có đầu thai, xin đừng về lại xứ sở này, vì "đâu đâu cũng dòng Mịch La".

Tiễn biệt cô giáo. Thương cô.

T.H

308611197_3296345067273973_4148636258129265196_n

Trang giấy viết tay được cho là Thư tuyệt mệnh của cô giáo V.T.H.P

GIÁO VIÊN HỆ CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG KÊU CỨU

Văn Giá

Nhiều người đã biết câu chuyện đau lòng vừa mới xảy ra trong ngành giáo dục hệ phổ thông: một cô giáo ở Quy Nhơn đã tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh đau đớn với những dòng những này: "Sau những áp lực công việc mà giáo viên phải làm lên lớp, giảng dạy, chủ nhiệm, kế hoạch bài dạy, ra đề thi, chấm kiểm tra, ráp phách và sau cùng so điểm, hồi hộp không biết có tên mình sai sót trong đó không. Trong khi thời gian quá ít mà lượng công việc quá nhiều. Bao nhiêu thứ giáo viên là người chịu.

Những công việc trên em đều làm được hết. Cẩn thận được hết. Nhưng có một việc mà em không thể chấp nhận được đó là điều khiến em phải ra đi hôm nay.

Em mong khi em đi rồi, tuyệt đối không cho một ai là giáo viên đến viếng em. Nếu em được sống các kiếp tiếp theo, em không bao giờ ước một cái nghề cao quý này cả, thật kinh tởm".

Cái chết đau lòng này khiến mỗi người trong ngành giáo dục chúng ta, trong đó có tôi, phải nghĩ rất nhiều. Tại sao cô ấy phải tìm đến cái chết? Có phải là một nỗi oan ức lớn tại ngôi trường mà cô ấy đang phải chịu? Tại sao cô ấy cảm thấy thất vọng đến “kinh tởm” cái môi trường giáo dục này? Có phải cô ấy không được các đồng nghiệp lắng nghe, chia sẻ và bảo vệ? Cô ấy không nói rõ lý do cụ thể khiến phải tìm đến cái chết. Nhưng những gì trong bức thư cho thấy lộ ra 3 vấn đề: 1) áp lực quá lớn do phía học sinh và phụ huynh tạo ra; 2) áp lực do cách thức quản lý giáo viên và những thủ tục hành chính; 3)quan hệ giữa người quản lý nhà trường với giáo viên, giữa giáo viên với nhau có chuyện khiến cô ấy không tìm thấy ở đó sự an ủi, nâng đỡ động viên khi cô ấy hoặc mắc khuyết điểm, hoặc bị cho là mắc khuyết điểm.

Ở điểm thứ nhất, tôi thấy không cần phải nói thêm nữa. Nhiều phụ huynh chưa hiểu, chưa có cái nhìn cảm thông đối với nhà trường và đội ngũ các thầy cô giáo, nên chỉ biết hạch sách, truy vấn, buộc tội.

Tôi xin nói về hai điểm sau, những điều có phần rất đúng với thực trạng giáo viên giảng dạy ở các trường phổ thông.

Trước tiên, xét về cung cách quản lý hiện nay. Do quán tính quản lý từ trước để lại, do áp lực quản lý các cấp từ trên Bộ trở xuống, do cách kiểm tra thi đua theo kiểu máy móc, chạy theo thành tích, báo công kiếm điểm, nên cách thức quản lý ở phần lớn các trường là máy móc, chỉ biết đòi hỏi chứ không biết thúc đẩy, động viên các giáo viên làm việc. Cách quản lý này không đặt niềm tin vào giáo viên, sợ họ vi phạm vào những “luật lệ” mà toàn ngành và nhà trường tự chế ra. Các giáo viên đến trường, lẽ ra mỗi ngày là một ngày vui, nhưng thực ra mỗi ngày là một ngày đối phó, miễn làm sao được coi là hoàn thành công việc để không bị ai “động” vào, để yên thân…

Tôi lấy ví dụ, một cô giáo ở một trường cấp THCS nọ, cho biết các thầy/cô lúc nào cũng phải duy trì 9 loại sổ sách để đáp ứng công việc quản lý của các cấp quản lý trong trường, từ Ban giám hiệu đến Công đoàn, Đoàn thanh niên trường, từ tổ trưởng tổ chuyên môn cho đến Hội phụ huynh… Các loại sổ như sau: Sổ giáo viên chủ nhiệm, Sổ Lịch báo giảng, Sổ ghi đầu bài, Sổ dự giờ, Sổ mượn thiết bị dạy học, Sổ theo dõi học sinh, Sổ họp tổ chuyên môn, Sổ họp Hội đồng, và cuối cùng là Giáo án.

Yêu cầu của các sổ đó là luôn “vở sạch chữ đẹp” để kiểm tra và báo cáo cấp trên, để tính điểm thi đua. Có những cuốn sổ sai một chữ, gạch xóa một chữ cũng bị yêu cầu bắt viết lại cả trang. Riêng giáo án, mặc dù các thầy/cô soạn và dạy hằng ngày bằng giáo án điện tử, nhưng vẫn phải in ra bản cứng để nhà trường kiểm tra, hoặc nộp cho đoàn kiểm tra khi họ đến “công tác” ở trường.

Tôi nghĩ, trong khi phải lo soạn bài lên lớp, đọc thêm, lo chủ nhiệm học sinh, lo trả lời các cuộc điện thoại của phụ huynh, và hàng ti tỉ các công việc dân sự hàng ngày, việc nhớ và hoàn thành các cuốn sổ chồng chéo và lắt nhắt kia, các thầy cô không phát điên mới lạ.

Tại sao ngành giáo dục cứ tự nghĩ ra các cách để trói chân nhau thế nhỉ? Trong khi đó, làm thế nào để tạo ra một không khí vui vẻ, thân tình, hào hứng cho việc dạy, việc tự học thêm, đọc thêm, tự trau dồi kiến thức để nâng cao hiệu quả giảng dạy cho giáo viên thì không được tính đến hoặc tính đến một cái lầm lạc.

Thứ nữa, có một điều không thể không nói ra: môi trường nhà trường hiện nay bị nhiễm rất nhiều “chất độc” trong đời sống tinh thần chung của nhà trường và trong nhân cách của giáo viên. Môi trường cạn khô nhân tính sẽ sinh ra những thứ bệnh ích kỷ, ti tiện, thậm chí độc ác. Ai cũng thi nhau nịnh nọt, lấy lòng cấp trên; ai cũng tranh khôn tranh lợi để chạy điểm thành tích thì thử hỏi làm sao nhà trường trở thành một môi trường nhân văn thực sự? Có những thầy cô vốn tính tình khảng khái, giàu tự trọng, giỏi chuyên môn, không a dua theo đám đông… thì bị phê bình, kiểm điểm, trù dập. Một số họ chọn cách thúc thủ, mũ ni che tai. Một số phản ứng, chống đối, thậm chí manh động, không tự kiểm soát được. Một số phẫn chí bỏ nghề. Một nghịch lý đau lòng là lẽ ra nhà trường phải là nơi giàu nhân tính nhất nhưng lại không ít nơi rơi vào tình trạng khô kiệt nhân tính, nơi không có khả năng dung dưỡng mầm thiện, vun bồi tính thiện, mà lại có lợi cho cái xấu cái ác nảy nở, hoành hành.

Tất cả những điều vừa nói ở trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là cách quản lý giáo viên, từ Bộ trở xuống các cấp, dưới cùng là mỗi nhà trường.

Chúng ta “Xin đừng hót những lời chim chóc mãi” (Nguyễn Duy). Phải nhìn thẳng vào sự thật đau lòng đang diễn ra hằng ngày ở mỗi mái trường thân yêu và khốn khổ của chúng ta…

V.G

TÔI ĐỀ NGHỊ

Trần Đình Trợ

Theo tin từ báo chí và mạng xã hội, cô giáo V.T.H.P ở Quy Nhơn vừa tự vẫn, để lại thư tuyệt mệnh. Trong thư cô có ghi:

"Em mong khi em đi rồi, tuyệt đối không cho một ai là giáo viên được được đến viếng em. Nếu em được sống các kiếp tiếp theo, em không bao giờ ước một cái nghề cao quý này, thật kinh tởm".

Tôi tin, ai biết thì cũng xót xa về sự ra đi trong tức tưởi của một cô giáo trẻ. Và chắc ai cũng băn khoăn về lý do cô ra đi cũng như băn khoăn về những lời cô để lại.

Không ai biết được chuyện gì đã xảy ra, nhưng những dòng trăng trối đau đớn làm chúng ta cũng đau đớn trong sự băn khoăn.

Tôi không biết cô giáo có oan ức gì không, cấp trên có xử ép gì cô không, và đồng nghiệp có quay lưng với nỗi oan (nếu có) của cô hay không.

Nhưng tôi chợt nhớ tới những chuyện này:

1)Thầy Đỗ Việt Khoa, "Người đương thời" từng được tung hô, từng được bộ trưởng Bộ GD-ĐT khen ngợi vì đã dám chống tiêu cực. Nhưng sau đó liên tiếp bị cấp trên o ép trù dập, còn đồng nghiệp thì quay lưng.

2)Cô giáo Nguyễn Thị Tuất (trường Tiểu học Sài Sơn B, Quốc Oai, HN) do chống tiêu cực mà bị ban giám hiệu trù dập và nhiều đồng nghiệp cô lập.

3)Cô giáo Minh Đệ (trường THPT Lương Văn Chánh) 3 năm tố cáo các sai phạm của ban giám hiệu, 10 năm bị trù dập. Đến khi cô được xử thắng kiện, thì xung quanh cô (trong phòng xử) không có bóng một đồng nghiệp nào.

Còn nhiều lắm.

Từ những ví dụ trên, tôi thấy hiện tượng gần như phổ biến là:

- Giáo viên nào vì chống tiêu cực (hoặc vì lý do khác) mà ban giám hiệu không ưa, thì sẽ bị họ tìm mọi cách trù dập, chèn ép.

- Khi ban giám hiệu đã trù dập một giáo viên nào đó, họ sẽ ton hót lên để cấp trên “chùy” tiếp.

- Khi thấy một giáo viên bị ban giám hiệu ghét, hầu hết các giáo viên khác sẽ tự xa lánh và cô lập “con cừu đen đủi” này, vì sợ vạ lây.

- Một giáo viên khi bị cấp trên trù dập, đồng nghiệp xa lánh thì sẽ rất hoang mang. Tùy vào trạng thái tinh thần mà sẽ có những phản ứng khác nhau.

Tóm lại là do mất dân chủ nghiêm trọng trong giáo dục.

Vì vậy, tôi đề nghị ông Bộ trưởng Bộ GD-ĐT:

- Hãy cho điều tra nguyên nhân dẫn đến sự tự vẫn của cô giáo V.T.H.P. Xác thực và tìm ý nghĩa của nội dung bức thư.

- Xem xét lại trình độ và tư cách của đội ngũ quản lý, từ cấp trường đến cấp bộ.

- Mở cuộc điều tra về sự tình trạng thực hành dân chủ trong các cơ sở giáo dục, và xây dựng - hoàn thiện cơ chế dân chủ một cách thực chất trong giáo dục.

T.Đ.T

Tuyên ngôn của nhà siêu hiện đại chủ nghĩa

Luke Turner

Lã Nguyên dịch

METAMODERNIST // MANIFESTO

Cách đây năm năm Văn Việt đã đăng bản dịch Tuyên ngôn của nhà siêu hiện đại chủ nghĩa. Nay chúng tôi may mắn được nhà nghiên cứu Lã Nguyên cung cấp một bản dịch khác, tốt hơn. Hy vọng với bản dịch này, người đọc một lần nữa có cơ hội tiếp cận một xu hướng mới mẻ và quan trọng đang thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu trong và ngoài nước.

Văn Việt

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2022

Đường Về – Một kỷ niệm với Văn Cao

Vũ Thư Hiên

Đêm Việt Bắc vào mùa đông rất lạnh. Cái lạnh của rừng nguyên sinh không giống bất cứ cái lạnh nào. Trời hanh, khô khốc, mái nứa nổ tí tách.

Đã vận vào người tất tần tật quần áo, đắp cả chăn trấn thủ lẫn chăn sui lên mình rồi, thế mà chúng tôi vẫn run cầm cập.

Tác giả Đinh Đức Hoàng và ‘Trọc phú kiến thức’

Thái Hạo

Tháng 9, trong lễ khai giảng của đại học danh tiếng Fulbright Việt Nam, tác giả Đinh Đức Hoàng đã có một bài phát biểu “gây chú ý”. Trên tinh thần của người quan tâm đến giáo dục, xét thấy bài viết còn có nhiều điểm cần trao đổi một cách thẳng thắn để cùng làm rõ một số ý tưởng, tôi chia sẻ ở đây suy nghĩ của cá nhân mình.

Suy nghĩ về ‘trọc phú kiến thức’ của anh Đinh Đức Hoàng

Lê Học Lãnh Vân

Một người chia sẻ kinh nghiệm với bạn.

Nếu bạn là người bê tha, lời khuyên sẽ là: “người ta làm việc nhiều lắm, sao bạn phí thời gian quá!”. Nếu bạn là người suốt ngày lăn vào công việc, lời khuyên sẽ là: “bạn phải dành thì giờ đi chơi chứ!”

Thứ Bảy, 24 tháng 9, 2022

Của Chúa và ma quỷ

Truyện Nguyễn Viện

Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất”. Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ. Đức Chúa Trời ban phước cho loài người và phán: “Hãy sinh sản, gia tăng gấp bội và làm cho đầy dẫy đất; hãy làm cho đất phục tùng, hãy quản trị loài cá dưới biển, loài chim trên trời và mọi loài bò sát trên mặt đất”.

Đức Chúa Trời lại phán: “Này, Ta sẽ ban cho các con mọi thứ cỏ kết hạt mọc khắp mặt đất, cùng mọi loài cây trái có hạt. Đó sẽ là thức ăn cho các con. Còn các loài thú rừng, loài chim trên trời, loài vật bò sát trên mặt đất, và bất cứ loài nào có sự sống thì Ta ban mọi thứ cỏ xanh dùng làm thức ăn”, thì có như vậy. Đức Chúa Trời thấy mọi việc Ngài đã tạo dựng thật rất tốt đẹp. Vậy, có buổi tối và buổi sáng. Đó là ngày thứ sáu.

(Sáng Thế Ký, chương 1)

Chỉ là một ngày bình thường. Khi sự trống rỗng và buồn chán dường như đã không thể chịu đựng nổi, ta không thể chết như thế này. Sự bình lặng trở nên kinh khủng. Khởi nguyên của vũ trụ là ước muốn từ trong sâu thẳm của Chúa và Chúa là ước muốn của hằng hữu. Ta bước đi hay an nghỉ, cũng chỉ là một hình thái. Ta hành động hay không làm gì cũng chỉ là một động thái. Nhưng ta là sáng tạo và không thể không sáng tạo. Và ta cũng là hủy diệt và không thể không hủy diệt. Bởi thế, ta nhìn vào trong lòng mình và ta biết ta không thể mất đi cho dù ta có vong thân đến đâu vào những phù phiếm của nhân sinh. Chúa đã đến và Chúa đã chết. Con người được giao phó để tiếp tục sinh mệnh của Chúa theo cách của con người.

Vũ Bão – Đời văn đầy ắp tiếng cười

Hồ Anh Thái

Tuyển tập Vũ Bão là sự tổng kết, là thành tựu trọn đời của một nhà văn độc đáo và can đảm trước những vấn đề xã hội.

Nhà văn Vũ Bão (1931 - 2006) là một giọng văn độc đáo trong dòng văn chương thời bao cấp. Ông viết văn như ông nói, hài hước và châm biếm, không kiêng nể một đối tượng nào. Thứ văn ấy hiếm hoi và không được khích lệ giữa thời văn chương là vũ khí xung trận và là tiếng kèn ca bài ca chiến thắng. Chỉ đến thời đổi mới, thì văn Vũ Bão mới như được chắp cánh. Ông nói đã hay và ông chứng tỏ mình viết cũng hay như khi phát biểu. Một loạt truyện ngắn ra đời khiến người ta phải tìm đọc và tấm tắc truyền nhau: Người vãi linh hồn, Người chưa có chiến công, Người không có tên trong từ điển

Anh hỏi tôi

Trang Châu

                         Hồi âm cho một nhà văn trong nước.

 

Anh hỏi tôi

Sau cơn đại dịch

Nếu được sống tiếp sẽ sống như thế nào

Xin trả lời

Anh ở cái thế đang sống vòng trong

Tôi may mắn thoát được ra vòng ngoài

Đại dương không chia cách chúng ta

Tâm tư, khát vọng vẫn cùng chung một bến

Nhưng trên đầu cuộc sống của anh

Một mạng lưới giáo điều vẫn trùm lên tư tưởng

Nên đôi khi viết vẫn còn phải lách

Nghe văng vẳng đâu đây

Lời than của Nguyễn Tuân cách mấy mươi năm về trước.

Những người sống với con chữ như chúng ta

Cần không khí tự do để tiếp oxy cho não bộ

Tôi nghĩ anh ở trong chắc chỉ mong

 Được tiếp tục sống như tôi đang sống ở ngoài

Hiểu như thế

Nên không chỉ riêng anh buồn

Mà tôi cũng buồn

Những kỷ niệm với luật sư Nguyễn Mạnh Tường

Trần Trọng Vũ

Minh Tran Hop: Ông Nguyễn Mạnh Tường (1909 – 1997) là luật sư nổi tiếng, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Năm 23 tuổi (1932) ông đỗ liên tiếp hai bằng Tiến sĩ tại Pháp. Năm 1954, ông về Hà Nội, được cử làm Giám đốc Đại học Luật, Phó Giám đốc Đại học Sư Phạm, và được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Luật sư Hà Nội. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, ông chỉ làm nghiên cứu văn học nước ngoài.

- Hoạ sĩ Trần Trọng Vũ (1964), tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Việt Nam (1982–1987), École des Beaux-Arts, Paris (1989–1992). Trần Trọng Vũ là con trai út của cố nhà văn Trần Dần (1926-1997), được đánh giá là một trong những họa sỹ đương đại tài năng ở Châu Âu, được trao giải Pollock-Krasner 2011-2012, New York (Mỹ). Hiện đang sinh sống, làm việc tại Paris.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam 1954-1975 (kỳ 12)

Nguyễn Phú Yên

 

CHƯƠNG XI

NHẠC PHẢN CHIẾN

Trước khi bàn đến nhạc phản chiến ở miền Nam, chúng ta thử nhìn lại bối cảnh lịch sử của thế giới từ sau hai cuộc chiến tranh thế giới để nhận ra khuynh hướng phản chiến manh nha từ đâu và có ảnh hưởng như thế nào đến các thế hệ thanh niên miền Nam, lớp người chịu tác động mãnh liệt của cuộc chiến tranh đẫm máu đã xảy ra trên đất nước Việt Nam. Lịch sử cận đại của đất nước là lịch sử của những cuộc chiến tranh. Với hoàn cảnh chiến tranh liên miên mà dân tộc Việt phải chịu đựng, các tác phẩm âm nhạc xuất hiện ở miền Nam ít nhiều cũng mang tính chất oán ghét chiến tranh, trong số đó có một số tác phẩm mang tình cảm mãnh liệt, tích cực hơn được mang tên phản chiến. Từ đó có thể nhận ra được các tác giả tiêu biểu cho dòng nhạc này.

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2022

Thơ Louise Glück

Linh Văn dịch và giới thiệu

Louise Glück sinh ngày 22 tháng 04 năm 1943, là chủ nhân của giải Nobel văn chương năm 2020. Bà là nhà thơ người Mỹ từng đoạt nhiều giải thưởng như Pulitzer, Bollingen hay National Book Award. Trong suốt sự nghiệp của mình, bà đã xuất bản nhiều tập thơ với các chủ đề đa dạng về con người, tự nhiên và đời sống. Việc chọn dịch và giới thiệu những bài thơ tiêu biểu nhất cho sự nghiệp của bà nằm ngoài mục đích và khả năng của người dịch. Chùm thơ này, gồm những bài thơ rải rác trong các tập thơ bà từng xuất bản, được chọn dịch từ tình cảm (dĩ nhiên, có tính riêng tư và chủ quan) của người dịch đối với chúng.

Ghế trống dành cho Phạm Đoan Trang tại Đại hội Văn bút Quốc tế 2022

VOA Tiếng Việt

Tổ chức Văn bút Quốc tế (PEN International) kêu gọi trả tự do cho nhà hoạt động, tác giả Phạm Đoan Trang và sẽ dành một chiếc ghế trống tại kỳ đại hội lần thứ 88 của tổ chức này tại Thụy Điển diễn ra từ ngày 27/9/2022. Photo Facebook Pen International.

Tổ chức Văn bút Quốc tế (PEN International) kêu gọi trả tự do cho nhà hoạt động, tác giả Phạm Đoan Trang và sẽ dành một chiếc ghế trống tại kỳ đại hội lần thứ 88 của tổ chức này tại Thụy Điển diễn ra từ ngày 27/9/2022. Photo Facebook Pen International.

Ban tổ chức Đại hội Văn bút Quốc tế lần thứ 88 sẽ dành một chiếc ghế trống vinh danh nhà hoạt động, nhà báo, tác giả Phạm Đoan Trang, người đang thụ án tù 9 năm tại Việt Nam.

Bỗng nhớ một người tên Đặng Phúc Lai

Vũ Thư Hiên

Người đàn ông gầy, tóc bạc rũ rượi, nụ cười ám khói, ôm chầm tôi, giọng khao khao:

- Lai đây, Đặng Phúc Lai đây. Cậu được anh em giới thiệu về mình rồi chứ? Mình đang đợi cậu, tin chắc thể nào cũng sẽ gặp cậu nhanh nhất khi mình tới Paris – anh nhét vào tay tôi một tập giấy – Đây, tài liệu anh em gửi mình mang sang cho cậu. Phải nhờ người đi cùng chuyến bay cầm hộ chứ chúng nó khám kỹ lắm. Là khám mình ấy. Chứ người khác thì không.

Bản Thảo (kỳ 11)

Nguyễn Đức Tùng

THÁNG CHÍN

1. Đã tới, mùa thu. Đã tới, những rêu nhấp nháy nắng trên tường gạch cũ. Tôi bắt đầu loạt bài mười hai tháng này vào tháng chín, cách ngẫu nhiên. Nhưng tháng chín cũng khởi đầu của năm, mùa tựu trường, của những kỉ niệm và của tương lai. Sau hè nóng bỏng, năm nay là một năm hạn, cháy rừng, sau những chuyến đi nghỉ hè, chúng ta trở lại. Trở lại ngôi nhà của chúng ta, trẻ đến trường, người lớn những kế hoạch. Sau những ngày phía Bắc, tôi trở về, ngồi cuối vườn. Mùa thu mây, lạnh, nhưng có một điều gì khác. Sự thay đổi, khó chịu, bất an. Sự ở một mình, cái lùi lại. Sự thu liễm, đời sống thu về góc riêng biệt. Đối với tôi, đó là sự chuyển đổi, tiếc, chuẩn bị. Thiên nhiên thay đổi, kế tiếp nhau khó nhận ra, trái chín rụng, rồi đến một ngày bạn bỗng nhìn thấy khúc quanh ấy, lá vàng rào rào, mưa sầm sập, trí nhớ sáng lên trong khoảng mờ tối. Vào lúc ấy mọi hành động dừng lại, bạn cần một không gian riêng mình, một thời gian của những xúc cảm cá nhân.

Thế nào là một người trí thức?

Hoàng Mạnh Hải

Đề tài này tôi đã viết rải rác mấy lần, hôm nay muốn tổng hợp lại và post lên. Các bạn thử tham khảo và kiểm tra lại bản thân xem mình có phải là một “Chân trí thức” không, nếu xét trên ba điểm quan trọng: Kiến thức, Tư cách và Trách nhiệm với đất nước.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

Văn hoá phong bì xưa và nay

Lê Học Lãnh Vân

Hồi đó, trước năm 1975, người dân Miền Nam khi vào bịnh viện có ai dám đưa tiền cho bác sĩ, y tá, bác sĩ đâu. Không dám bởi vì sợ, không phải sợ uy vũ, không phải sợ chức tước, tiền bạc. Họ sợ hành động đó xúc phạm người trong ngành y tế. Không vị bác sĩ, y tá nào nhận tiền của bệnh nhân như thế cả. Đó là thời bác sĩ, y tá, các nhân viên y tế tận tâm nhẹ nhàng chăm sóc bệnh nhân, bệnh nhân nhìn bác sĩ, y tá đầy vẻ cám ơn và tôn trọng. Người ta đối xử nhau một cách tự trọng, cao thượng và cùng nhau giữ gìn nếp sống đó.

Nhóm Đà Lạt

Tiêu Dao Bảo Cự

Thực ra ngay người trong cuộc cũng không thể xác định “Nhóm Đà Lạt” được hình thành từ lúc nào và không phải tự đặt tên cho mình. Có thể khơi nguồn từ lúc hình thành Hội Văn nghệ Lâm Đồng và Tạp chí Langbian năm 1987 - 1988. Đó là năm Hà Sĩ Phu viết bài tiểu luận Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ và Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự thực hiện chuyến đi xuyên Việt hơn một tháng trời vận động cho tự do báo chí, sáng tác và xuất bản cùng với yêu cầu thực hiện dân chủ, công khai và đổi mới.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam 1954-1975 (kỳ 11)

Nguyễn Phú Yên

 

CHƯƠNG X

PHẠM DUY: TÂM CA & ĐẠO CA

Năm 1953, sau việc “dinh tê” (về thành), Phạm Duy quyết định di cư vào Nam, chọn cuộc sống tự do để theo đuổi con đường nghệ thuật. Ông lại tiếp tục sáng tác, đã góp phần trong việc làm giàu cho kho tàng tân nhạc trong hoàn cảnh mới sau ngày chia cắt đất nước. Thời gian ở miền Nam đã cho Phạm Duy hoàn thành những công trình về sáng tác và nghiên cứu có giá trị.

Đường dài trên quê hương

Truyện Hoàng Thu Phố

1.

Quỳ ngồi dưới giàn hoa giấy xanh thẫm vào ngày mưa, giữa con phố dài chừng trăm mét, phố nhỏ lác đác còn lại vài nóc nhà gỗ mái ngói xộc xệch bám đầy rêu thi thoảng lộ ra chút gì sứt sẹo của thời gian, buồn thiu, lay lắt. Như đôi mắt những người già buổi trưa nằm thiu thiu mà không sao ngủ được. Nếu không dừng chân lại, tìm cho mình một chỗ ngồi, giữa những tủn mủn nhỏ bé (mà không chắc cái gợi lên trong mình là bình yên hay chỉ một hơi thở giữa những bước chân của một ngày đang lặp đi lặp lại và dần trôi vào thứ gì đã cũ) mấy ai để ý thấy sự mỏi mệt già nua của nó. Quỳ hay ngồi ở quán này vào ngày mưa (cũng có thể mỗi khi Quỳ đến đây trời sẽ mưa? Làm sao biết được) quán có chỗ gửi xe, Quỳ gọi hai cốc trà, mưa bay nhẹ. Hôm nay mây nặng, tiếng kèn đồng thổi từ đầu phố, thế là đã có người chết vào đầu mùa đông. Một cô gái Quỳ nhìn không rõ mặt, váy trắng, đi dưới mưa, không ô và mũ nón. Bất chợt Quỳ muốn mời cô ngồi cùng, quán bên đường còn nhiều ghế trống - những chiếc ghế nhựa thâm thấp sắc mầu xếp không theo một trật tự nào, nhưng Quỳ nhìn không rõ mặt, khi ngước lên chỉ còn mưa, tiếng kèn đồng đã ngưng từ đầu phố, người đã chết vào đầu mùa đông.

Đọc thơ 41: Trần Quang Quý, trong nỗi đau tôi đêm nay bạn đến

Nguyễn Đức Tùng

clip_image002

Thơ hôm nay không viết về đời sống, nó viết về cái thiếu của đời sống. Cũng vậy, nhà thơ không đi tìm giải thoát ra khỏi khổ đau, họ đi xuyên qua, sống với, những đau khổ, vì chúng làm nên tâm hồn chúng ta bây giờ. Không phải sự thật nào cũng đẹp, không phải chúng ta làm điều gì cũng đúng, đôi khi trái lại. Nhưng chúng ta làm, như thể đó là con đường, và không hối hận về sau. Con người không nắm giữ tương lai trong tay mình, không biết được tình yêu nào chờ ta cuối ngày. Nhưng khi một khoảng khắc tới, bạn lập tức nhìn ra nó, như khuôn mặt trong gương. Lúc ấy, Trần Quang Quý (1955- 2022) trở nên đằm thắm:

Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2022

Trần Độ, người của sự thật

Vũ Thư Hiên

Ra tù năm 1976, sau chín năm, qua nhiều trại, tôi bỡ ngỡ, tôi ngu ngơ trước cuộc sống xô bồ.

Vắng người đàn ông trụ cột, gia đình tôi rơi xuống đáy vực nghèo khổ. Vợ tôi gày nhom, xanh rớt, mấy đứa con quần áo vá chằng vá đụp. Tôi làm hùng hục mọi việc đến tay, không dể ý đến cái gì khác.

Phải hai năm sau tôi mới gặp lại Trần Độ.