Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (14)

III. Phân tích tự sự học của V.G. Tiupa

Phân tích tự sự học là một chương (chương X) trong cuốn Phân tích văn bản nghệ thuật của V.I. Tiupa[1]. Đối tượng phân tích ở đây là truyện ngắn Giáo chủ của A.P. Chekhov. Trong quan niệm của Tiupa, “Tự sự học là khoa học phân tích diễn ngôn tự sự”[2]. Cho nên, lí thuyết diễn ngôn tự sự là cơ sở phương pháp luận được ông sử dụng để phân tích truyện Giáo chủ của A.P. Chekhov.

V.I. Tiupa định nghĩa: “Tự sự là ý đồ đặc biệt (tính định hướng của ý thức) của người nói hoặc người viết. Ý đồ tự sự của lời phát ngôn là nối kết hai sự kiện – sự kiện tham chiếu (về cái được thông báo) và sự kiện giao tiếp (bản thân thông báo như một sự kiện) – vào một thể thống nhất của tác phẩm nghệ thuật, tôn giáo, khoa học hay chính luận trong “toàn bộ tính sự kiện của nó” (tr. 300-301). Ông lưu ý, nếu thiếu sự tham gia của hành vi tự sự, thì tự chúng, cả sự kiện tham chiếu (việc xẩy ra trong câu chuyện), lẫn sự kiện giao tiếp (lời tạo ra văn bản của một hình thức kết cấu cụ thể) đều chưa đủ cơ sở để phân loại thành tự sự nghệ thuật, lịch sử, hay tôn giáo. Quan điểm này không có gì mới, nó có nguồn cội từ tư tưởng của M. Bakhtin, W. Schmid, P. Ricœur và nhiều nhà tự sự khác mà chúng tôi đã giới thiệu ở các phần trước, nên không cần nhắc lại ở đây. Dựa vào quan điểm thống nhất chung của các nhà tự sự học, V.I. Tiupa xác định: sự kiện là phạm trù chìa khóa của diễn ngôn tự sự. Tổng kết ý kiến của nhiều học giả, ông nêu 4 yêu cầu tối thiểu để nhận diện sự kiện trong diễn ngôn tự sự, ở cả bình diện tham chiếu, lẫn bình diện giao tiếp, như sau:

Đón coi: phim “Ile de lumière”

Từ Thức

Cuốn phim Ile de Lumière về chiếc tàu được đặt tên là Đảo Ánh Sáng, đã cứu vớt hàng trăm ngàn boat people Việt Nam sẽ được trình chiếu trên đài truyền hình quốc gia Pháp France 2,23H05 tối hôm nay, thứ ba 20/02/2018.
Cuốn phim của điện ảnh gia Nicolas Jallot đã gây xúc động lớn khi trình chiếu trong Đại hội Quốc Tế Phim Ảnh Lịch Sử (Festival International du Film d’Histoire) tại Pessac (Pháp) tháng 11 vừa qua.
Trong 65 phút, cuốn phim đã thuật lại cuộc vượt biển hãi hùng của hàng triệu người Việt đi tìm tự do khi Cộng sản xâm chiếm miền Nam Việt Nam và phong trào cứu trợ lớn nhất trên đất Pháp
Nhiều khán giả tại đại hội đã không cầm được nước mắt, nhưng cũng đã hãnh diện vì dân tộc Pháp, trong dịp này, đã bày tỏ tinh thần quảng đại, nhân đạo đáng cảm phục.
Nicolas Jallot nói, trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh France Inter, có nước Pháp trước và sau Ile de Lumière.

Dối trá lớn nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam

Luke Hunt, https://thediplomat.com/2018/02/the-vietnam-wars-great-lie/

Phạm Nguyên Trường dịch


Làm sao những người cộng sản và Phạm Xuân Ẩn giành được chiến thắng trong cuộc chiến tranh tuyên truyền?

Trong những năm sau Tết Mậu Thân, một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, lễ kỷ niệm 50 năm được tổ chức vào cuối tháng 1 vừa qua, người Mỹ sẽ lại phải tự vấn. Làm sao họ có thể sai đến như vậy? Cuộc nổi dậy của Cộng sản trên toàn miền Nam Việt Nam đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người và điều được cho là thành công của họ đã xoay chuyển ý kiến công chúng, khoảng giữa năm 1968, theo hướng chống lại cuộc chiến tranh, một bài học trong lĩnh vực tuyên truyền và biểu hiện sau này của nó, “tin giả”.

Nhiều người quan trọng đã tham gia vào việc lập kế hoạch. Trong số đó có Phạm Xuân Ẩn, một phóng viên nước ngoài trở thành Cộng sản trong giai đoạn Thế chiến II, rồi nổi lên trong hàng ngũ của họ và trở thành một trong những điệp viên vĩ đại nhất của Hồ Chí Minh.

Cuộc “bắt cóc” đầu năm

Hạ Đình Nguyên

Bắc cóc là một từ phổ biến ở Việt Nam.

Nó không chỉ dành riêng cho giới giang hồ khốn khổ.

Nó có tổ chức và hành sự công khai, lại có tiếng vang tầm quốc tế. Nó đang là một biện pháp chính thức và hữu hiệu trong cách cai trị của nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chuyện bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại Đức là một điển hình lớn, nó đem lại tiếng tăm cho người cầm đầu đất nước, dù có thiệt hại đến mấy trong bang giao quốc tế cũng không quan trọng, miễn là được việc của mình. Đó là cách nghĩ của người cầm đầu, thể hiện cái gọi là “bản lĩnh”.

Chuyện bắt cóc trong nước đối với công dân đã trở nên chuyện bình thường. Bắt cóc trẻ em, bắt cóc con gái, để tống tiền, hoặc để bán sang Trung Quốc, để buôn nội tạng… là cách của bọn giang hồ. Chúng hành sự lén lút, và bị nhân dân lên án, theo chuẩn mực đạo lý bình thường, có khi bị pháp luật trừng trị. Còn cách bắt cóc ngang nhiên, công khai, hợp với luật pháp xã hội chủ nghĩa, là một cách bắt cóc “có lý tưởng”… Ít ra, những người đang hành sự nghĩ thế. Họ đang bảo vệ chế độ. Nếu bạo lực đã tạo nên chế độ, thì bảo vệ chế độ cũng phải bằng bạo lực, cũng là hợp lý.

Văn học miền Nam 54-75 (455): Tô Thuỳ Yên (kỳ 4)

Thi sĩ, kẻ nhuốm bệnh thời khí trước tiên và khỏi bệnh sau cùng

Phan Nhiên Hạo thực hiện

clip_image001Phan Nhiên Hạo (PNH): Trước 1975, anh là nhà thơ nổi tiếng, sống giữa lòng sinh hoạt văn chương miền Nam. Theo anh, những đặc điểm nổi bật của thơ miền Nam trước 1975 là gì?

Tô Thùy Yên (TTY): Thú thật, tôi đã phải ngần ngừ trước câu hỏi này. Trình bày những đặc điểm dù là những đặc điểm nổi bật của thơ trong cả một thời kỳ quả là việc làm không quen của một người không phải là một nhà chuyên môn nghiên cứu văn học với đầy đủ tài liệu, thống kê. Bởi miền Nam trước 1975 có nhiều bài thơ đặc sắc, nhiều thi sĩ có tài, mỗi bài thơ, một không khí, mỗi thi sĩ, một phong cách. Nên trình bày tóm lược như vậy, do chủ quan và qua hồi tưởng, chắc sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót có thể là trầm trọng. Nhưng đã được hỏi đến, thôi thì thấy sao, nhớ gì, nói nấy vậy.

Theo tôi, thơ miền Nam trước 1975, so với thơ của những thời kỳ trước đó, nhìn chung, đã đi sát hơn với thời đại mà nó phát sinh, đã biểu hiện đầy đủ hơn, trung tín hơn thực tế của thời đại đó. Ở đây, để tránh mọi hiểu lầm, tôi xin nói ra bên lề một chút về ý niệm thực tế trong thơ. Thực tế biểu hiện trong thơ, theo chỗ hiểu của tôi, không nhất thiết phải là một thực tế biểu hiện theo lề lối của chủ nghĩa tả chân xã hội mà là một thực tế gần như không cụ thể hẳn, một thực tế thường nặng phần tinh thần hơn mà tôi mạo muội gọi là thực tế tinh ròng, một thực tế không bắt buộc phải pha tạp bận bịu với những chi tiết râu ria của đời thường. Một bài thơ có tính thời đại nhiều khi đã chẳng hề nói đến những gì đang xảy ra trước ngõ nhà thi sĩ, mà lại nói về những chuyện tận đâu đâu. Tính thời đại của một bài thơ quan yếu ở tình ý, thần hồn của bài thơ đó.

Người Đô Thị tổ chức tọa đàm: Căn tính Việt

LTS: Chúng ta đã và đang cùng chứng kiến sự sa sút trong những hoạt động của người Việt Nam ít nhất ở hai cấp độ: Hành vi và Tư duy. Trong hành vi, vô vàn thói hư tật xấu (tự đầu độc nhau bằng thức ăn, ăn cắp trong nước, ngoài nước, bạo hành trong gia đình, nhà trường, dối trá, lừa đảo, tham nhũng…) tăng nhanh và ngày càng trầm trọng. Trong tư duy, đặc biệt tư duy tổng thể, hầu như chưa xây dựng được các chủ thuyết, chiến lược phát triển (cùng các mô hình vận hành) có tính quốc sách, khoa học, bền vững... Văn bản pháp luật chồng chéo, mâu thuẫn, chính sách thay đối quá nhanh, trên toàn lãnh thổ “63 tỉnh, 63 nền kinh tế” là đánh giá của ông Vương Đình Huệ (Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng) về tình trạng cát cứ, phân mảnh quyền lực, phân tán nguồn lực theo theo địa dư hành chính, theo từng ngành… đang làm suy yếu nội lực quốc gia, dân tộc.

Những yếu kém đó do đâu, căn tính “ tiểu nông” của người Việt hình thành từ xa xưa có vai trò gì? Cùng nhiều tiếng kêu trên các phương tiện thông tin: “Tại sao chúng ta lại ra nông nỗi này !”, “Chúng ta còn là người Việt không? ”… như những câu tự hỏi về năng lực thật sự của mình khi phải đối diện với các thách thức rất mạnh, cấp bách, để tìm cách vượt qua nó. Sự tự phê phán, kiểu như: người Việt ích kỷ, hay đố kỵ, thiếu đoàn kết…, hoặc ca ngợi các tính tốt: dũng cảm, yêu nước, tự trọng cao, v.v. thường được nêu có tính liệt kê như các biểu hiện của căn tính Việt, những biểu hiện ấy có thể thấy ở nhiều dân tộc, chúng tộc khác. Vậy có lẽ muốn thấy căn tính Việt, trước hết cần tìm những gì đã hình thành nên nó?

Kẻ Di Truyền Sách (kỳ 9)

Trần Vũ thực hiện

clip_image001

Tranh Terry Gilliam – The Man Who Killed Don Quixote

clip_image003

Trần Vũ: Chúng ta vừa bàn đến Siêu Thực mà Federico Garcia Lorca là tiếng thơ lớn của phái này, nên tôi muốn Ngu Yên giới thiệu những gì anh khám phá sau khi dịch gần 1400 trang thơ trong hai tập Tôi Học Được Bí Mật Của U SầuMộ Phần Tôi Ở Đâu của Lorca, mà anh vừa cho xuất bản.

Nhưng trước hết, vì sao các thi sĩ Việt không ai nhắc đến Horace và Homère, trong lúc đây là hai gương mặt chính đã ảnh hưởng sâu rộng lên thi ca Âu châu? Horace và Homère được trích dẫn thường xuyên trong văn học Pháp, thậm chí trong nhiều sách chiến tranh… Trong ký sự Phiêu lưu, Nhục nhã và Sa lầy, Lucien Bodard ghi lại giây phút Jean de Lattre xuất hiện: “Tôi chưa thấy một diễn viên nào bước ra sân khấu thành công như de Lattre ở Đông Dương. Lập tức sắm vai chính trong tấn tuồng bi kịch của Corneille – một Horace chưa luống tuổi và một đại tướng cũng đầy tàn khốc. De Lattre không diễn vai thù hận nhưng của kiêu ngạo. Giây khắc đầu tiên giẫm chân lên Đông Dương, de Lattre dành cho khinh bỉ, để chặt đứt hoàn toàn một quá khứ thảm bại, nhục nhã và tội tệ. Chưa ai biết, như de Lattre, biến nỗi yếm thế thành sức mạnh áp đảo. Khi ấy vua Jean sở hữu sự oai vệ ngạo mạn của một vương quyền.” [L’Enlissement, L’Humiliation, L’Aventure, Nxb L’Air Du Temps 1967]

Không duy nhất Tây nhắc đến Horace. Trong Nhật Ký Bá Linh, khi bị Cộng sản Nga vây hãm, để trốn thoát tuyệt vọng mỗi ngày một nhiều thêm lên dưới những thảm bom, Marta Hillers đã viết lên vách tường của căn chung cư mình sinh sống, những câu thơ La ngữ của Horace:

Si fractus illabatur orbis,
Impavidum ferient ruinae.


Vòm trời sẽ sập và những mảnh vụn sót lại,
đập vào con người không làm hắn ngạc nhiên.

(Une Femme à Berlin, Journal du 20 avril au 22 juin 1945, Nxb Gallimard, 2008)

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (13)

Lã Nguyên

II. Tiểu thuyết cổ điển Nga của N.D. Tamarchenco

Cuốn sách xuất bản lần đầu vào năm 1988, tái bản năm 1997. So với bản in lần thứ nhất, ở bản in lần thứ hai, ngoài Lời nói đầu, có thêm Lời tác giả. Trong Lời tác giảLời nói đầu, N.D. Tamarchenco trình bày rõ tư tưởng khoa học của chuyên luận. Tiền đề của tư tưởng khoa học ấy là hai giả định quan trọng:

Thứ nhất: Hoàn toàn có thể nghiên cứu tiểu thuyết hiện đại theo hướng loại hình học. Tamarchenco cho rằng, người đầu tiên nêu giả định này là A.N. Veshelovski. Ông nói, gần một trăm năm trước, A.N. Veshelovski từng nêu vấn đề về sự tồn tại của “sơ đồ loại hình truyện kể”, không chỉ trong văn học cổ đại và trung đại, mà còn hiện diện trong cả “văn học tự sự hiện đại với tính truyện kể phức tạp hơn và sự tái hiện thực tại theo kiểu nhiếp ảnh”. Đáng tiếc là nhiều nhà nghiên cứu thời ấy cho rằng cách đặt vấn đề của Veshelovski là không có cơ sở, thậm chí, sai lầm. Đáp lại sự phản đối của các nhà khoa học đương thời, A.N. Veshelovski vẫn khẳng định, sự hoài nghi của họ đối với nhận xét của ông chỉ mang tính nhất thời và rồi thời gian sẽ buộc họ phải thay đổi. Ông tiên đoán, “đến khi văn học hiện đại cũng trở nên xa xôi với các thế hệ mai sau giống như sự xa xôi giữa chúng ta với thế giới cổ đại, từ tiền sử cho tới trung đại, <…>, thì những hiện tượng sơ đồ và tính chất lặp lại sẽ hiện lên rõ nét trên toàn bộ lịch sử của nó”. Bất chấp lời tiên đoán của A.N. Veshelovski, quan niệm thống trị suốt một trăm năm qua vẫn là ý kiến cho rằng, từ thế kỉ XIX, văn học phi cách luật đã thay thế văn học cách luật và “truyện kể sơ đồ hoàn toàn nhường chỗ cho truyện kể tự do”. N.D. Tamarchenko xem đây là sự ngộ nhận tai hại, kéo dài. Ông nêu câu hỏi: Chẳng lẽ mọi ý đồ nghiên cứu loại hình truyện kể, hay loại hình tiểu thuyết đều trở vô nghĩa? Chuyên luận của ông là kết quả của những nỗ lực không ngừng nhằm hiện thực hóa giả định khoa học của A.N. Veshelovski. Ông nói rõ: “...Xác định loại hình lịch sử của một chỉnh thể nghệ thuật là mục đích cơ bản của chuyên luận <…> Nhiệm vụ của chúng tôi nằm trong dòng chảy của hệ vấn đề then chốt và các phương pháp luận của thi pháp học lịch sử”[1].

Trường Sa tuyên chiến thi

(Rút từ facebook của Bùi Chí Vinh)

Nhân ngày 17-2 giặc Tàu xâm lược Việt Nam, đưa lên mạng bài thơ TRƯỜNG SA TUYÊN CHIẾN THI để khẳng định truyền thống chống ngoại xâm phương Bắc...

BÙI CHÍ VINH

TRƯỜNG SA TUYÊN CHIẾN THI

Không ai chuẩn bị về chiến tranh
Đất nước mỗi ngày quên thời sự
Anh em một nhà nhìn nhau như thú dữ
Bà mẹ Việt Nam hơn 40 năm ăn mày

Văn hóa ẩm thực: Thế nào là một bát phở Hà Nội?

Lê Phú Khải

Giữa phố phường Sài Gòn. Bên ngoài treo biển: Phở Hà Nội. Nhưng khi người ta bưng tô phở ra, nhìn vào tô phở, tôi biết ngay không phải phở Hà Nội. Tô phở Hà Nội chính hiệu thì trên cùng bao giờ cũng phải có hai củ hành đập dập. Vì thế, vào một hiệu phở, đập ngay vào mắt khách hàng là một bó hành củ to đùng, treo ngay trước mặt người đàn ông chủ hiệu. Khi anh ta trình bày xong bát phở thì thiến hai củ hành, đập dập, đặt lên trên cùng tô phở. Nếu là phở gánh bán rong trên hè phố Hà Nội, thì lủng lẳng trên gánh phở cũng là một bó hành to đùng. Nhìn vào bó hành vơi đi, người ta biết là anh ta sắp bán hết gánh phở.

Nét Xuân Sơn

Phạm Xuân Ðài

Thanh Cẩm_0020

Bạn có bao giờ để ý đến vẻ núi mùa xuân chưa? Và đã thấy tràn đầy trong lòng một niềm vui không cội rễ khi nhìn thấy nét tươi tắn lạ lùng của núi trong một bầu trời xuân?

Tôi đã sống bảy năm trên vùng thượng du của tỉnh Thanh Hóa, bên bờ con sông Mã, và đã bảy mùa xuân chứng kiến những kỳ diệu của đất trời, núi sông và lòng mình. Ðấy là một nơi hiểm trở, trại đóng ngay trên sườn núi trông xuống sông, bên kia sông là một bình nguyên nho nhỏ, rồi lại tiếp tục núi. Hai đầu sông được chắn bởi núi, bốn phía toàn núi, gần xa đậm nhạt khác nhau.

Mùa hè núi như cận cảnh, khô và thô thiển. Núi lúc đó đơn giản chỉ là địa hình, là cao độ khác nhau của khoa địa lý và đo đạc. Ðó là tính toán của khai thác gỗ và tre nứa. Và đối với chúng tôi, đó là mơ ước và nỗi sợ hãi của chuyện trốn trại.

Mất sóng

 


Nhưng bạn không thể làm gì hơn trong môi trường mất tín hiệu, bạn không thể chuyển sang một tình huống khác…*


Ý Nhi


28. Văn - Ý Nhi


Sáng nay ông dậy muộn.


Choàng tỉnh đã thấy một tia nắng xuyên qua khe cửa, dọi thẳng vào đầu giường, đúng ngay chỗ cuốn sách ông đang đọc. Ông liếc nhìn bìa sách: Từ ánh sáng đầu tiên.


Ông dụi mắt, nhìn lại cuốn sách. Ngoài tên Ernest Hemingway và tựa đề tác phẩm được in trên một bìa sách khá màu mè, ông không nhớ bất cứ điều gì đã đọc. Ông với tay bật ngọn đèn đầu giường, mở trang sách gấp làm dấu. Trang 75: Mary đã đến bìa lùm cây nơi nàng có thể bắn, chúng tôi ngắm Charo quì gối, Mary nâng khẩu tiểu liên lên, cúi đầu. chúng tôi nghe tiếng nổ âm thanh của viên đạn cắm vào xương con thú hầu như cùng lúc thấy hình dáng đen bóng của con thú vọt lên trên không rồi nặng nề rơi xuống nằm nghiêng một bên. Những con kia nổ bùng thành một cuộc phi nước đại rào rào, chúng tôi chạy về hướng Mary, Charo và cái mô đen nơi đồng cỏ. Mary, Charo đang đứng gần con thú vừa bị hạ khi tất cả chúng tôi đều ra khỏi xe săn. Charo rất vui sướng rút con dao săn ra. Mọi người đều nói “Piga mzuri, Memsahib. Mzuri. Mzuri, sana”…

Israel Mới và Israel Cổ đại – Những lý do dân phi-Do-Thái Mỹ ủng hộ Quốc gia Do Thái

 


Walter Russel Mead


Trần Ngọc Cư dịch


Foreign Affairs, tháng Bảy/tháng Tám 2008

Dẫn nhập của dịch giả:


Balanced RockQuyết định của Chính quyền Trump chính thức công nhận Jerusalem là Thủ đô của Israel và cho dời Đại sứ quán Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ từ Tel Avi đến Jerusalem đang dấy lên một làn sóng phẫn nộ trong thế giới Hồi giáo và gặp sự phản đối từ nhiều cường quốc đồng minh Phương Tây cũng như từ Trung Quốc và Nga. Tuy nhiên, nếu đặt quyết định này trong bối cảnh chính trị Mỹ hiện nay, nó có thể là một hành động khôn ngoan của Tổng thống Trump nhằm củng cố hậu thuẫn của các lực lượng dân tộc chủ nghĩa Da trắng (White nationalists) và các giáo hội Tin Lành bảo thủ đã đưa ông vào Nhà Trắng -- một cơ sở hậu thuẫn rất cố kết (cohesive) đã và sẽ giúp ông lèo lái qua nhiều sóng gió của chính trị nội bộ. Cũng là lẽ thường, mỗi khi phải đối đầu với quá nhiều thử thách trong nước, các lãnh đạo chính trị thường mở con đường sống, thậm chí là con đường máu ở ngoài nước, chủ yếu để chuyển hướng dư luận nội bộ.


Trên thực tế Trump đang khai thác một truyền thống thân Do Thái vốn tồn tại trong lịch sử Mỹ kể từ ngày lập quốc, theo đó nhiều lãnh đạo chính trị, văn hóa, và tôn giáo hàng đầu của Hiệp Chúng Quốc đã tiếp thu cảm hứng và sức mạnh tinh thần từ Kinh thánh Cựu ước. Họ so sánh những tương đồng giữa định mệnh lịch sử của Hiệp Chúng Quốc và lịch sử của Israel cổ đại như được mô tả trong Cựu ước và thậm chí gọi nước Mỹ là một “Israel mới”.


Trong chuyến công du gần đây nhất đến Jerusalem, Phó tổng thống Mỹ Mike Pence giản dị không chơi trò chính trị rẻ tiền là nhằm thỏa mãn cơ sở hậu thuẫn của ông; ông thật sự ngưỡng mộ Israel qua đức tin tôn giáo của mình, như khi còn là Dân biểu, Pence từng trích dẫn Sáng Thế Ký (Book of Genesis) trong một cuộc phỏng vấn năm 2006: “Ta sẽ ban phước những người chúc phước ngươi và rủa sả những người rủa sả ngươi [người Do Thái].” Và quan điểm của ông phản ánh quan điểm hàng triệu tín đồ Tin Lành chia sẻ tâm tư của ông. Điều này không có gì mới lạ. Mới lạ chăng là hiện nay Mỹ có một Phó Tổng thống có hậu thuẫn vững mạnh của các giáo phái Tin Lành đứng cạnh một Tổng thống thậm chí không muốn giả vờ có thái độ công bằng trong cuộc xung đột Israel-Palestine; Trump hoàn toàn hậu thuẫn Israel.

Chúng tôi biên tập lại một bản dịch đã đăng trên trên trang mạng talawas cách đây 9 năm vì nghĩ rằng bài tiểu luận của Walter Russell Mead trên Foreign Affairs, July/August 2008, có giá trị học thuật cao, giúp chúng ta hiểu thêm về mối quan hệ gần như hữu cơ giữa Hiệp Chúng Quốc và Israel.

Trần Ngọc Cư



Tóm tắt: Chìa khóa đích thực cho chính sách thân Israel của Washington là sự hậu thuẫn lâu bền và có cơ sở rộng lớn trong công chúng Mỹ nói chung dành cho quốc gia Do Thái.


Walter Russell Mead là nhà Nghiên cứu Cao cấp Hàm vị Henry A. Kissinger về Chính sách đối ngoại Mỹ tại Council on Foreign Relations [Hội đồng Nghiên cứu Quan hệ đối ngoại] và là tác giả của cuốn sách xuất bản gần đây nhất, God and Gold: Britain, America, and the Making of the Making of the Modern World(Chúa và Vàng: Anh, Mỹ và Sự hình thành của thế giới hiện đại).


Pence in Jerusalem Old City

Phó Tổng thống Pence đặt tay lên West Wall, nơi tôn nghiêm nhất của Do Thái giáo, trong thành cổ Jerusalem ngày 23 tháng Giêng 2018 (Ronen Zvulun/Reuters)

Ngày 12 tháng Năm năm 1948, trước nội các chia rẽ của Tổng thống Harry Truman, Clark Clifford, luật sư trưởng của Nhà Trắng, đưa ra những lý lẽ biện hộ cho việc Hiệp Chúng Quốc công nhận quốc gia Do Thái. Với sự chứng kiến của một George Marshall, bộ trưởng ngoại giao lườm lườm đôi mắt và một Robert Lovett, thứ trưởng của Marshall đầy vẻ hoài nghi, Clifford tranh luận rằng việc công nhận quốc gia Do Thái sẽ là một hành động nhân đạo phù hợp với những giá trị truyền thống của Mỹ. Để chứng minh đòi hỏi lãnh thổ của người Do Thái, Clifford đã trích dẫn Đệ nhị luật của Cựu ước [Deuteronomy]: “Đây, Ta trao đất đó cho các ngươi, hãy vào và chiếm hữu đất mà Đức Chúa đã thề với cha ông các ngươi, là Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, rằng Người sẽ ban cho họ và dòng dõi họ sau này.”[1]

Trái Dưa Chuột


Vũ Thành Sơn

27. Văn-VTS

Khi Tư Thọt vừa quay lưng trở vào trong quầy thì ông già đến. Đó là một người khách quen, thường đến quán Tư Thọt đầu tiên và thường ngồi cho đến khi trời tối muộn. Nhưng hôm nay mới hơn 4g30 mà ông đã xuất hiện. Ông già kéo chiếc ghế nhựa ra, ngồi vào cái bàn mọi ngày, bên cạnh tủ cấp đông, sâu vào bên trong quán. Góc ngồi cố hữu này của ông già đã trở nên quen thuộc với Tư Thọt cũng như với nhiều người khách của quán từ mấy năm nay; nói chính xác là từ lúc Tư Thọt cho mở rộng phần sân sau để kê thêm mấy cái bàn nữa, trong đó có cái bàn mà ông già đang ngồi.

Tư Thọt hỏi, trên tay vẫn còn cầm cái vỏ chai không đem từ ngoài cửa vô:

Sao bữa nay đến sớm vậy ông?

Ông già ậm ừ, không trả lời.

Bữa nay ông ăn gì?

Thôi đem bia ra đi mày. Lấy chai lạnh vừa vừa thôi nha. Bữa trước uống lạnh đau rát hết cái họng.

Ông ngó bâng quơ ra phía ngoài cửa. Gần Tết, quán Tư Thọt bày thêm một chậu mai giả trên cái đôn đặt giữa phòng khiến cho tầm nhìn của ông hơi bị vướng víu. Một lúc sau Tư Thọt trở ra với một chai bia ướp lạnh và cái ly. Khui chai bia đặt lên bàn, Tư Thọt ngắm nghía ông già một lúc rồi hỏi, giọng bỡn cợt:

Chà chà, hôm nay ông diện quá ta. Áo sơ mi bỏ trong quần jean đàng hoàng nha. Để tôi đoán coi. Đi ăn tiệc hả?

Kẻ phản bội tổ quốc

Nguyễn Quang Thiều



Hôm nay, ngày 17 tháng 2
Tôi sẽ thành một kẻ mù lòa, điên rồ và phản bội
Nếu đưa một bài thơ tình lên facebook của mình

Hôm nay lúc gần sáng
Trong cơn ác mộng tôi thấy
Những con rắn đen từ phương Bắc
Lẻn vào những ngôi nhà ngỏ cửa
Của chúng ta

Thầy Mạnh

Thụy Khuê

Thế giới văn chương tuy bao la nhưng cũng giống như một xóm nhỏ, người viết thuộc lòng nhau. Thế giới phê bình còn bé hơn, nhiều nhà, lắm đại gia, nhưng những người đọc được đếm trên đầu ngón tay. Nghề phê bình cũng như nghề thợ chạm: phải ở trong mới biết thật, giả.

Tháng 9/1993 được gặp ông lần đầu, Nguyễn Đăng Mạnh không khác những gì tôi hình dung qua văn bản: ông rất đẹp, đẹp lối Bắc, da trắng, mắt đen. Long lanh thứ ánh sáng mà nói phỏng theo Nguyễn Du là anh minh phát tiết ra ngoài, báo hiệu một đời nghìn thu bạc mệnh. May nhờ cái miệng kéo đi: miệng khi cười, rộng, tươi. Môi như hai cánh hoa chụm, lúc không cười vẫn chúm chím như sắp nở. Thoạt nhìn có thể xếp ông vào loại trai Bắc lém, xạo, mắt có đuôi, miệng chưa cười mắt đã. Nhìn kỹ không phải thế: cặp mắt cười đánh tan cái bạc mệnh của ánh mắt anh minh phát tiết; khi nói, cảm tưởng lém và xạo tan đi, chỉ còn cái thật, cái thẳng. Thẳngthật nằm trong thanh âm tiếng nói, tiếng cười đọng lại như những yếu tố ngoài văn bản.

Bấy nhiêu ký hiệu ngoại hình xác định tư cách trí thức và văn học của một nhà phê bình.

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (12)

Chương V

TỰ SỰ HỌC ỨNG DỤNG NGA

Năm 1923, trong một bài nghiên cứu, A.P. Skaftymov nhấn mạnh sự cần thiết của việc “nghiên cứu lí thuyết” đối với các tác phẩm riêng lẻ khi nghiên cứu lịch sử văn học[1]. Năm 1924, M. Bakhtin cũng nói về yêu cầu và tầm quan trọng của “phân tích thẩm mĩ” đối với tác phẩm được nghiên cứu[2]. Từ thời ấy, trong ngành ngữ văn học Nga, việc nghiên cứu ứng dụng lí thuyết trở thành lĩnh vực khoa học độc lập, có vị trí quan trọng không kém lí luận và lịch sử văn học. M. Bakhtin và các nhà hình thức luận Nga như Y. Tynianov, B.M. Eikhenbaum, B.V. Tomashevski, V.M. Zirmunski, V.V. Shklovski có nhiều đóng góp to lớn trong việc hình thành tri thức phương pháp luận và thao tác phân tích các văn bản tự sự. Nhưng phần lớn các công trình của họ đều thuộc lĩnh vực lí thuyết văn học (thi pháp học lí thuyết). Cho nên, nói tới ngữ văn học ứng dụng, bao gồm cả tự sự học ứng dụng ở Nga, theo chúng tôi, lấy những năm 1930 làm cột mốc là hợp lí hơn cả.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 13): Mai Thảo – Lần thăm cuối cùng

Mai Thảo

Đã đúng một năm, kể từ ngày Thanh Nam không còn, tôi chưa một lần trở lại Seattle, nơi Thanh Nam đã sống gần trọn mười năm đất khách với Túy Hồng và các con, cũng là thành phố Tây Bắc tôi đã sống hơn hai mùa mưa, từ 1979 đến 1981, và cùng làm việc hàng ngày với Huy Quang, Nguyễn văn Giang và Thanh Nam ở tờ Đất Mới.

Không trở lại. Chẳng phải vì Thanh Nam mất, mọi liên hệ tình cảm gắn bó bấy lâu tôi có với Tây Bắc, vì cái chết của bạn ở đó, đã nhất loạt rời đứt. Cũng chẳng phải vì tôi chẳng còn một bằng hữu, một thân tình nào khác ở Tây Bắc ngoài Thanh Nam. Trái lại. Từ và qua Thanh Nam, Tây Bắc đã đem lại cho tôi rất nhiều bằng hữu mới.

Những người bạn này vẫn hàng tuần điện thoại về Santa Ana nói chuyện với tôi, cũng là những người đã lo toan mọi điều cho gia đình Thanh Nam lúc bầu đoàn thê tử nhà văn mới từ tiểu bang New Jersey qua, thay thế cho anh em văn nghệ ở xa, săn sóc Thanh Nam suốt thời gian mấy năm nằm bệnh, và cũng những bằng hữu chung ấy của Thanh Nam và tôi, đã là những người cùng Túy Hồng đưa linh cửu Thanh Nam đến nơi yên nghỉ cuối cùng.

Nhà nước giám sát của Trung Quốc đe dọa từng người dân

Anna Mitchell – Larry Diamond, https://www.theatlantic.com/international/archive/2018/02/china-surveillance/552203/

Phạm Nguyên Trường dịch


Trung Quốc đang hoàn thiện mạng lưới gián điệp kỹ thuật số cực kì rộng lớn, coi đấy là phương tiện kiểm soát xã hội – đang gây ra những ảnh hưởng đối với chế độ dân chủ trên toàn cầu.

Hãy tưởng tượng một xã hội, trong đó bạn bị chính phủ đánh giá về mức độ độ đáng tin của bạn. “Điểm số công dân” của bạn đồng hành cùng bạn mọi lúc, mọi nơi. Điểm số cao cho phép bạn truy cập vào dịch vụ Internet tốc độ cao hơn hoặc được cấp chiếu khán tới châu Âu nhanh chóng hơn. Nhưng nếu bạn đăng trực tuyến những bài viết mang tính chính trị mà chưa được phép, hoặc chưa hỏi hay trái ngược với quan điểm của chính phủ về những sự kiện đang diễn ra, thì điểm số của bạn sẽ giảm. Để tính toán điểm số, các công ty tư nhân làm việc cho chính phủ liên tục rà soát số lượng lớn các phương tiện truyền thông xã hội và dữ liệu mua sắm trực tuyến của bạn.

Vừa bước chân ra ngoài là hành động của bạn liền bị đưa vào mạng lưới săn lùng tội phạm: Bằng các Video Camera đặt trên từng con phố và khắp thành phố, chính phủ thu thập một lượng thông tin khổng lồ. Nếu bạn phạm tôi - hay chỉ đơn giản là qua đường một cách thiếu thận trọng – chương trình nhận dạng sẽ so sánh khuôn mặt của bạn với ảnh của bạn trong cơ sở dữ liệu căn cước công dân quốc gia. Chẳng bao lâu sau cảnh sát sẽ xuất hiện trước cửa nhà bạn.

Đọc thơ 12: Trần Nhuận Minh, lịch sử và số phận

Nguyễn Đức Tùng


image

Thơ thế sự nói về người khác, thơ trữ tình nói về mình. Trần Nhuận Minh viết cả hai, với một ngôn ngữ có khi vui tươi có khi buồn bã, nửa thương xót nửa châm biếm. Trong anh có một nhu cầu không mệt mỏi, đi tìm ý nghĩa của sự vật, ngắm nhìn, và ngẫm nghĩ về, những hiện tượng xã hội thoạt tiên dễ bỏ qua. Bài thơ Buổi chiếu bóng đã tan, viết năm 1983, trước hẳn thời kỳ được gọi là đổi mới, là một bước đi lạ như thế, và hình như ít được chú ý. Cái nhìn của anh gần gũi, thân mật đối với thế giới chúng ta đang sống.

Cống đập chặn mặn gây rối loạn hệ sinh thái và những cái giá phải trả

Water, water, every where,

Nor any drop to drink.

Samuel Taylor Coleridge [1772-1834]

Thế kỷ 21 của tỵ nạn môi sinh, đã có 2 triệu người

phải rời bỏ quê hương ĐBSCL ra đi tìm kế sinh nhai

Ngô Thế Vinh

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

image

Hình 1: Hình ảnh một dòng sông đang chết dần; cũng để hiểu tại sao đã có hai triệu người phải rời bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai; từ phải: TS Lê Anh Tuấn, Th.S Nguyễn Hữu Thiện. [photo by Ngô Thế Vinh]

XỨ SỞ CÂY THỐT NỐT VÀ NGƯỜI KHMER HIỀN HOÀ

Tới An Giang, tới hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn không thể không thấy hàng cây thốt nốt nổi bật trên những cánh đồng lúa xanh. Cây thốt nốt thuộc họ cau, tên khoa học Borassus flabellifer, có nhiều ở các nước Đông Nam Á. Cây thốt nốt sống cả trăm năm dài hơn tuổi thọ một đời người. Thân cây thẳng và cao tới 30 mét. Cây đực không trái, cây cái cho tới 60 trái mỗi cây. Trái thốt nốt có vỏ xanh đen, nhỏ hơn trái dừa bên trong có những múi trắng mềm, ngọt và mát. Hoa cây thốt nốt cho nước ngọt có vị thơm, có thể nấu thành đường, ngon hơn đường mía. Nếu Quảng Ngãi, quê hương Nghiêu Đề bạn tôi, từng nổi tiếng về đường phổi, đường phèn thì An Giang, vùng Tịnh Biên Tri Tôn nổi tiếng với đường thốt nốt. Chè đậu xanh nấu với đường thốt nốt ngọt dịu và rất thơm ngon. Hình như tất cả mọi thành phần cây thốt nốt đều có công dụng: thân làm cột nhà, lá dùng lợp mái. Trong nền văn hóa cổ Khmer, các chùa chiền còn lưu giữ được những văn bản viết trên lá cây thốt nốt. Cây thốt nốt cũng được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [Hình 2]

Để có một hội nghề nghiệp thật sự

Phỏng vấn nhà phê bình nghiên cứu văn học NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

PHÓNG VIÊN: - Từ nay tới ngày Đại hội các Nhà văn Việt Nam lần thứ IV thời gian chẳng còn bao lâu. Tháng 12 năm ngoái, Bộ Chính trị Trung ương Đảng vừa ra Nghị quyết Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới. Dưới ánh sáng của nghị quyết này chắc chắn Đại hội không thể không bàn bạc, thảo luận để định ra những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội Nhà văn. Xin anh cho biết ý kiến cá nhân về vấn đề ấy?

NGUYỄN ĐĂNG MẠNH: - Quả đã đến lúc cần thiết phải bàn bạc, thảo luận để định ra những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hội. Bởi lâu nay Hội có đấy mà cũng như không. Chẳng mấy ai có ý thức về sự tồn tại của nó trong đời sống xã hội. Hình như mãi tới khi Hội có chế độ tạm cấp sáng tác, người ta mới lờ mờ cảm thấy sự có mặt của nó. Dĩ nhiên có nhiều người phải liên đới chịu trách nhiệm về tình trạng ấy.

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (11)

III. Lí thuyết truyện kể theo hướng kí hiệu học văn hóa của Y.M. Lotman

Yuri Mikhailovich Lotman (1920 – 1993) là người sáng lập và là thủ lĩnh của Trường phái Tartus – Moskva. Trường phái này bắt đầu hoạt động vào đầu những năm 1960 và đến năm 1986 thì hoàn toàn kết thúc sự tồn tại của mình. Qui tụ vào đây là những nhà nghiên cứu ở Tartus (Estonia) và Moskva như A. Piatigorski, B. Egorov, Z. Mints, A. Chernov, V. Gasparov, V. Ivanov, V. Toporov, B. Uspenski, A. Zolkovski, E. Meletinski, V. Zhinov, Y. Sheglov, N. Tolstoi, Y. Lekomtsev… Là những nhà khoa học ở đất nước được gọi là thành trì của phe xã hội chủ nghĩa, dĩ nhiên họ không thể xa rời những tư tưởng nền móng của chủ nghĩa Mác. Nhưng từ khi mới ra đời, Trường phái Tartus – Moskva đã xa lạ với chủ nghĩa cơ hội, giáo điều và xu hướng xã hội học dung tục từng thống trị suốt một thời gian dài trong nghiên cứu văn học Xô Viết. Họ kế thừa truyền thống khoa học của Trường phái hình thức Nga, phương pháp “di truyền” của O. Freidenberg, nhân cách luận và siêu ngôn ngữ học của M. Bakhtin. Đồng thời, họ luôn nỗ lực theo sát các mũi nhọn khoa học tiên tiến nhất của thời đại để mở ra những hướng đi mới. Chẳng hạn, so với các nhà hình thức luận Nga, Trường phái Tartus - Moskva nỗ lực mở rộng đối tượng, nới lỏng biên độ của nghiên cứu văn học để biến nó thành lĩnh vực đặc biệt của văn hoá học. Văn hoá mới thực sự là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của họ. Đây là cơ sở làm nảy sinh nhận xét cho rằng, sự xuất hiện của Trường phái Tartu đã dẫn tới “cái chết của nghiên cứu văn học” như một khoa học tự trị ở nửa sau thế kỉ XX. Có nhiều cơ sở để chứng minh về sự gặp gỡ, giao cắt giữa sự tìm tòi khoa học của Trường phái Tartus - Moskva với những khám phá lí thuyết của chủ nghĩa cấu trúc và kí hiệu học hiện đại trong bước ngoặt ngôn ngữ học diễn ra ở các nước Âu – Mĩ vào nửa đầu thế kỉ XX. Nhưng cũng dễ nhận ra hàng loạt điểm khác biệt quan trọng giữa hệ thống quan niệm của Trường phái này với tư tưởng lí thuyết của các học giả Tây Âu. Sự khác biệt ấy thể hiện rõ nhất trong tư tưởng khoa học của Y.M. Lotman.

Kẻ Di Truyền Sách (kỳ 8)

Trần Vũ thực hiện

clip_image002

Historical-figures-onlookers-Middle-Ages-execution-Painting-Poster-Canvas-Art-Printing-for-Home-Decor

clip_image004Trần Vũ: Khi giới thiệu trào lưu mới Transréalisme mà anh dịch là Chuyển đổi Hiện thực trong tập Ý Thức Sáng Tác Truyện Ngắn, Ngu Yên chuyển ngữ Sơn Aint của Rudy Rucker để làm mẫu. Là câu chuyện của một nữ sinh viên Shirley Nguyễn phát minh ra một loại sơn di động đặc biệt có khả năng giao cảm với con người, một hôm say mèm Shirley đã sơn hết căn nhà của mình rồi khi thức giấc thấy bạn trai Stuart đã chết, thay vào đó là một thanh niên Á châu với ánh mắt trìu mến vừa chui từ trong lớp sơn ra, cánh tay còn dính trên tường và ngón chân dài ngoằn chưa khô. Thanh niên xưng tên Khánh Đỗ, thông báo với mẹ Shirley là anh yêu cô, đã đính hôn với Shirley và hôm nay làm đám cưới, rồi cả hai dọn đi Berkeley!

Đọc Sơn Aint, tôi cảm giác đang xem tranh Dali. Mà Dali là hội họa Siêu thực. Vậy Chuyển đổi Hiện thực khác Siêu thực chỗ nào? Rõ ràng là Sơn Aint cùng mô týp với chất huyễn của những bức họa nổi tiếng Mặt đồng hồ chảy nhão hay Lũ voi chân dài lòng thòng của Dali. Ngu Yên viết: “Nền tảng của Chuyển đổi Hiện thực là áp dụng chung các kỹ thuật phối hợp các yếu tố kỳ quái, tưởng tượng, được dùng trong khoa học viễn tưởng, với những kỹ thuật của nhận thức trực tiếp về mô tả từ chủ nghĩa Hiện thực Tự nhiên.” Tôi chưa thấy khác với Hiện thực Huyền ảo. Vì ở phái này, cũng là tưởng tượng thần kỳ kếp hợp với thực tế tự nhiên. Anh vui lòng lên bục giảng lần nữa, giải thích khác biệt căn bản giữa Siêu thực, Hiện thực Huyền ảo, Chuyển đổi Hiện thực và Quái đản (Fantastique).

Mậu Thân, Hoàng Phủ Ngọc Tường và…

(Rút từ facebook của Hoàng Hưng)


Thật sự viết gì về chuyện này cũng sẽ gặp rắc rối từ các phía. Nhưng nhiều ngày gần đây, càng đọc FB càng mất ăn mất ngủ vì đề tài này. Hơn thế nữa, còn liên tục nhận được những email từ Mỹ “truy sát” đến cả con cái của mấy nhà văn bị kết tội là “đao phủ Huế” (tôi đã phản đối, mà vẫn bị nhận tiếp). Thật đau lòng! Buộc lòng phải viết đôi dòng tâm sự ngắn gọn.
1. Việc nhà nước tổ chức kỷ niệm, ăn mừng rầm rộ 50 năm Mậu Thân quá là vô chính trị, phản lại ngay những lời đẹp đẽ “xóa bỏ hận thù, hòa giải, hòa hợp”… Trong khi “nhiệm vụ chính trị” lúc này rõ ràng là đoàn kết toàn dân lo chấn hưng đất nước, đối phó với giặc Tàu. Khơi lại “chiến thắng, căm thù Mỹ-Ngụy” làm gì? Không hiểu nổi!!!
2. Chính vì thế, càng kích động mối hận của các nạn nhân miền Nam trong vụ Mậu Thân, đặc biệt là người Huế. Tại sao đến giờ này, nhà nước vẫn chưa chịu có lời tạ lỗi về những cái chết oan do cán bộ, chiến sĩ hay “tự vệ” gây ra đã được không ít nhân vật có trách nhiệm thừa nhận (như Nguyễn Đắc Xuân và Nguyên Ngọc đã cho biết). Tại sao không tổ chức “giải oan” chung cho tất cả nạn nhân chiến tranh hai bên như thầy Nhất Hạnh và bên Phật giáo đã làm? Chính sự né tránh đó khiến nhà nước khó biện minh về “chủ trương thảm sát” nếu thực sự họ không chủ trương và thực sự không có thảm sát! (Tôi đọc các tư liệu liên quan, chưa thấy thật đủ cơ sở khẳng định có hay không).

Phê bình văn học trong tình hình mới

Nguyễn Đăng Mạnh

Thời gian gần đây, nhất là trong những ngày này, phê bình văn học nước ta dường như đang vươn lên để tự nhận thức chính xác về mình. Đấy là dấu hiệu đáng mừng của sự trưởng thành. Nó nói đến khuyết điểm là chính, đúng là như vậy, nhưng không phải vì bối rối, hoang mang, cũng không phải để phủ định thành tích của ai, chẳng qua là muốn nhìn thẳng vào sự thật, tìm ra phương hướng đúng đắn và "Những việc cần làm ngay" để khai thông cho sự phát triển của mình nhằm tác động có hiệu quả tới nền văn học đang chuyển mình.

Trước kia, mỗi lần nói đến khuyết điểm trong nội bộ của ta, người viết thường phải rào đón dài dòng. Tôi cho rằng thứ "văn phong rào đón" ấy nay nên thôi đi. Đấy là lối viết khi còn phải nghi kỵ lẫn nhau, nhất là thứ khuynh hướng quy kết, chụp mũ còn đầy uy quyền.

Văn học miền Nam 54-75 (454): Tô Thùy Yên (kỳ 3)

Thơ Tô Thùy Yên

Nguyễn Hưng Quốc


Trong hai bài “Thơ sau 1954” mới đây, tôi đi đến một nhận định chính: thơ Việt Nam, đặc biệt ở miền Nam, từ 1954 đến 1975, là dòng thơ của cái tôi ý thức với những ám ảnh khắc khoải mang đầy tính siêu hình.

Tiêu biểu nhất cho cái tôi ý thức ấy có lẽ là thơ của Tô Thuỳ Yên.

Thơ Tô Thuỳ Yên không hoàn toàn mới. Thơ Tô Thuỳ Yên là sự kết hợp hoàn chỉnh và đẹp đẽ giữa hai yếu tố mà giới phê bình lý luận văn học tại Việt Nam thường nói đến: tính dân tộc và tính hiện đại. Có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ Tô Thuỳ Yên vô số những dấu vết của truyền thống bên cạnh vô số những điểm cách tân độc đáo: cả hai hài hoà với nhau làm cho thơ ông, ở những bài thành công nhất, có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển.

Tô Thuỳ Yên, theo tôi, trước hết là một nhà thơ trí thức. Hãy đọc lại các bài thơ đầu tay của Tô Thuỳ Yên đăng trên Sáng Tạo và Thế Kỷ 20 vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 (1). Đã đành là chưa có bài nào thật xuất sắc. Song tất cả đều thể hiện hai niềm băn khoăn chính: định nghĩa thơ và định nghĩa mình với tư cách là một nhà thơ (2). Qua đó, có thể thấy một đặc điểm lớn trong phong cách Tô Thuỳ Yên: ông bắt đầu sự nghiệp làm thơ một cách đầy tự giác. Ông không cậy vào cảm hứng, vào năng khiếu, như hầu hết những người làm thơ khác.

Thơ Trương Đình Phượng

TRONG SẮC MÀU CỦA BẦY HỒNG HẠC
1.
em
có nghe
có nghe
tiếng vỗ cánh của bầy hồng hạc
trên bầu trời xanh ngắt
miên man?
em có nghe có nghe
tiếng gọi đàn của bầy hồng hạc
khi chiều buông
trên đầm nước yên bình?
em có nghe
có nghe
tiếng khóc nghẹn ngào
của bầy hồng hạc
sau bảng lảng sương buồn?

Lời cuối cho câu chuyện quá buồn

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Tôi đọc cho con gái chép một bài viết nhỏ này xin gửi tới bà con bạn bè thương mến, những ai yêu mến, quen biết và quan tâm đến tôi. Còn những kẻ luôn đem tôi ra làm mồi nhậu cho dã tâm của họ như ông Liên Thành và bè đảng của ông ta, tôi không muốn mất thời giờ đối đáp với họ. Dĩ nhiên bài viết này không dành cho họ.

Năm nay tôi 81 tuổi, và tôi biết, còn chẳng mấy hồi nữa phải về trời. Những gì tôi đã viết, đã nói, đã làm rồi trời đất sẽ chứng nhận. Dầu có nói thêm bao nhiêu cũng không đủ. Tốt nhất là im lặng bằng tâm về cõi Phật. Duy nhất có một điều nếu không nói ra tôi sẽ không yên tâm nhắm mắt. Ấy là câu chuyện Mậu thân 1968. Vậy xin thưa:

1. Mậu Thân 1968 tôi không về Huế. Tôi, ts Lê Văn Hảo và bà Tùng Chi (những người lên chiến khu trước) được giao nhiệm vụ ở lại trạm chỉ huy tiền phương- địa đạo Khe Trái (thuộc huyện Hương Trà- tỉnh Thừa Thiên)- để đón các vị trong Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế như Hoà thượng Thích Đôn Hậu, cụ Nguyễn Đoá, ông Tôn Thất Dương Tiềm… lên chiến khu. Mồng 4 tết tôi được ông Lê Minh (Bí thư Trị- Thiên) báo chuẩn bị sẵn sàng về Huế. Nhưng sau đó ông Lê Minh báo là “tình hình phức tạp” không về được. Chuyện là thế. Tôi đã trả lời ở RFI, Hợp Lưu, Báo Tiền Phong chủ nhật… khá đầy đủ. Xin không nói thêm gì nữa.

Vĩnh biệt nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh

clip_image002

clip_image004

Nhà nghiên cứu văn học, GS Nguyễn Đăng Mạnh đã chia tay cõi trần ngày hôm qua, 9/2/2018. Văn Việt xin thành kính cầu chúc hương hồn nhà nghiên cứu văn học nghiêm cẩn, trung thực, nhà giáo tận tụy được nhiều thế hệ môn sinh kính mến, siêu thăng nơi cực lạc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài viết của các nhà nghiên cứu Văn Giá và Đỗ Ngọc Thống như một nén nhang thắp trước linh cữu GS Nguyễn Đăng Mạnh.

Văn Việt

Đặc quyền quan cách mạng

Nguyễn Thông

Thiên hạ đang ồn ào về cái dự án nghĩa trang Yên Trung dành cho quan chức cấp cao định mở ở ngoại thành Hà Nội. Rộng hơn trăm mẫu tây, dự chi ngân sách tròm trèm 1.400 tỉ đồng.
Lâu nay, nhà cầm quyền đã tự mặc định chỗ chôn ông to bà lớn ở nghĩa trang Mai Dịch. Nhắc tới cái tên này, một thời đồng nghĩa với sự kính cẩn, khiếp sợ, “nội bất xuất, ngoại bất nhập” bởi đất vàng chỉ dành cho một hạng người nhất định. Nhưng rồi Mai Dịch, phần thì chật chội hết chỗ, phần kém thiêng, nên nhà nước đang tính phải có nơi thay thế, “cho ngày nay, cho ngày mai, cho muôn đời sau”.

Nếu ai còn chút lăn tăn, giở từ điển tiếng Việt thì từ “đặc quyền” được giải thích là “quyền, quyền lợi đặc biệt dành cho cá nhân, tập đoàn, hay một giai cấp nhất định”. Muốn tin cậy hơn nữa, bởi đây là từ gốc Hán Việt, thì mở thêm cuốn “Từ điển Hán Việt” của cụ học giả Đào Duy Anh thì đặc quyền tức “quyền lợi đặc biệt”. Thế là rõ.

Trong xã hội loài người, xét về lý thuyết, chỉ khi nào tiến lên tới hình thái cộng sản, khi ấy mọi người đều bình đẳng, thì mới hết đặc quyền. Ấy, cứ nghe bộ máy cai trị dóng dả tuyên truyền vậy chứ đã ai biết cái xã hội cộng sản nó mặt ngang mũi dọc thế nào. Giá có sống lâu như cụ Bành Tổ cũng chả mong nhìn thấy thiên đường “cùng làm cùng hưởng, bình quân chia đều”. Câu này thế hệ chúng tôi sinh vào thập niên 50 thế kỷ trước đứa nào cũng thuộc, khoái lắm, nhiều đứa còn mơ mộng sau một đêm ngủ dậy, ngỡ ngàng thấy sự nghèo đói đã lùi xa tít tắp, ngay cả ăn ngon mặc đẹp cũng không thèm, chả cần làm gì vẫn có ăn. Xã hội cộng sản là thế, chỉ nghĩ tới người đã tràn cảm giác lâng lâng.

Tản mạn quanh CÂU ĐỐI TẾT năm Con Chó (Mậu Tuất 2018)

Hà Sĩ Phu

clip_image002

1/ Thả hồn theo chiếc “Lò cừ” và bức tranh vân cẩu

Không biết các bạn thế nào, chứ tôi sợ Tết lắm. Cả tháng nay bạn bè đã hỏi “Có câu đối Tết chưa?”, tôi ậm ừ xin khất nhưng đêm cứ nằm xuống là lo. Lo cái năm Tuất, năm Con Chó này sao đến bây giờ vẫn chưa nảy ra một ý gì cho Câu đối cả?

clip_image004

Nực cười thay, nghĩ đến cái gì thì cái ấy hiện ra.

Đang thiu thiu ngủ thì lờ mờ hiện ra một bác “Cẩu” mang kính trắng, trông đạo mạo dễ sợ, nhe nanh hỏi: Nhà ngươi định đón ta bằng Câu đối gì đây? Hình như tôi lúng túng: Dạ thưa… đồng chí (xin lỗi, tôi quen miệng), nếu chưa nghĩ được câu gì đích đáng thì chắc cũng đành viết đại mấy câu “mừng đảng mừng xuân” để chào đón thôi…

Bác Cẩu vừa đi khuất thì cụ Bút Tre chỉ vào mặt như ra lệnh:

Câu đối Tết phải đàng hoàng!

Cũng là nhiệm vụ Cách màng giao cho!

Dạ, thưa đồng chí Bút Tre quả thực em đang rất bí ạ!

Bút Tre cười: Đến ông Tổng Bí mà người ta cũng không chịu bí nữa là, bí không dẫn độ được Xuân Thanh thì bắt cóc, bí không bắt được Vũ Nhôm về thì mua bằng 10 tỷ đô la…, cứ phải liều, phải mạnh tay mới gỡ được thế bí, chứ nhát như cậu thì cứ bí suốt đời? Thế cậu định làm Câu đối chữ Việt hay chữ Nho?

Dạ, năm nay nhà em làm tiếng Việt thôi, bí mà xoay sang cái vốn cổ chữ Nho của mình e bị hiểu lầm như những kẻ cứ bí là nhờ cậy thằng Tàu vào để nó đồng hóa nước mình thì buồn lắm bác ạ!

Tưởng đối đáp với Bút Tre thế là xong, chẳng ngờ từ phía sau một cụ già, khăn chữ nhân áo năm cúc, lại hiện ra, ôn tồn bảo:

- Thôi, này anh Phu, lão mách nước cho. Lão là đồng hương Thuận Thành với anh đây, nên lão hỏi thật:

clip_image006Thế anh không biết chuyện Cái lò của Tổng Bí thư đang làm nóng cả xứ An Nam này à? Cứ xoáy vào đấy là ra nhiều ý hay đấy. Cũng nói để anh biết: Chính anh Trọng hồi nhỏ đã từng học ở trường Phổ thông mang tên mỗ gia này đấy. Khi nhóm lò không biết anh ấy có nhớ đến cái “lò cừ” của lão già này không?

Tôi từ tốn đáp “Thưa cụ vâng, cháu cũng đã nghĩ đến cái lò của anh Tổng, nhưng Câu đối năm Tuất thì cái lò phải làm sao dính vào Con Chó cơ ạ !”. Ông Cụ không thèm trả lời chỉ ung dung cất giọng ngâm rất sảng khoái, vừa ngâm vừa lui vào trong:

Lò cừ …nung nấu (ư…a…cái) sự… đời

Bức tranh vân cẩu (í… í ) vẽ người… tang (ư…ư…) thương…

Thôi chết, hóa ra cụ già quắc thước này là Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều giời ạ, cụ chính người làng Liễu Ngạn huyện Siêu Loại Thuận Thành Bắc Ninh của tôi.

Vâng, đa tạ cụ, câu thơ của cụ vừa có Cái Lò lại vừa có Con Cẩu, trúng ý cháu rồi. Ai ngờ giữa Con Chó và Cái Lò vốn đã có duyên nợ từ xưa.

Được lời như cởi tấm lòng, tôi sung sướng như bắt được vàng. Thế là ý tứ được khơi nguồn cứ chảy tuồn tuột.

Giờ đây chính cái lò của bác Tổng cũng đã thoắt biến “Vân” thành “cẩu”, kẻ vừa lên mây chưa nóng ghế thoắt đã bị người ta lôi xuống, dùng xích sắt xích lại và dắt đi như dắt con cẩu, thế thì tang thương thật thưa cụ Nguyễn Gia Thiều!

Nhưng Tạo hóa chính là cái “lò cừ” nung nấu sự đời, cả những sự đời ở tầm rất vĩ mô như sự ra đời và kết thúc chủ nghĩa Cộng sản, trong đó cũng toàn những “lò” và “lò”! (thời Đức Quốc xã Hitler cũng toàn những lò nọ lò kia, sao Tạo hóa sinh ra lắm thứ lò như vậy, từ khi con người biết dùng lửa nấu ăn và sưởi ấm thì cũng nung nấu bao nhiêu thứ lò để “hỏa táng” lẫn nhau?).

Cộng sản Việt Nam cũng khởi nguồn từ “cái lò đun”! Thì anh Ba đã chẳng xuất dương từ công việc đun lò dưới con tàu Đô đốc Latouche-Tréville sang Pháp đó sao? Người cha đẻ của con đường ảo tưởng Việt Nam cũng đã từng muốn nhóm lò đốt sạch cả củi khô củi tươi của dãy Trường Sơn hùng vĩ để mua lấy chiến thắng trong giấc mộng Thiên đường Cộng sản, khiến cho đàn dân Việt (buộc phải) nô nức nướng hết tài sản và con cái của mình mà lao theo cái lò mơ vĩ đại ấy.

Ngờ đâu “duyên ngỡ may cớ sao lại rủi” (*), số phận dân tôi chẳng khác nào số phận nàng cung nữ ngày xưa. Nàng cung nữ tài sắc tuyệt trần được vua vời đã tưởng như “mả táng hàm rồng”, dân tôi cũng được phỉnh là đi vào con đường Cộng sản là đứng vào những dân tộc tiên phong đón đầu nhân loại, được lịch sử chọn làm điểm tựa, làm người người lính đi đầu là hạnh phúc nhất thế gian, đến mức khoái trí lên, dám coi cả cái loài người thuộc thế giới tư bản “đang giãy chết” tuyệt vời ngày nay chỉ là bọn “chưa thành người”, chỉ đáng cho ta cầm xẻng đào đất chôn đi cho khuất để nhường ngay địa cầu cho Thiên đường Cộng sản chúng tôi, thì nay, sau ngót thế kỷ nướng hết của hết người để nhóm lò nấu nung khát vọng, và giữa lúc diễn biến của chủ nghĩa chỉ ngày càng xấu đi thì chính người dẫn đầu lại bảo cái viễn cảnh tươi đẹp kia phải kiên nhẫn chờ khoảng… một thế kỷ nữa sẽ tốt, đừng có nóng ruột!

Ôi chao, biết nói làm sao, chỉ biết dân tôi quá đồng cảm và thương cho nàng cung nữ lắm, “bừng con mắt dậy thấy mình tay không” (1) phải không hỡi nàng?

Vâng, “Phong trần đến cả sơn khê, tang thương đến cả hoa kia cỏ này” (1)! Nhưng tang thương nào cũng không sánh được nỗi tang thương của cả một dân tộc vốn ngàn năm phong nhã, gái lịch trai thanh, giỏi toán vào loại nhất nhì thế giới, giặc phương Bắc đô hộ tới một nghìn năm mà không đồng hóa nổi, nhưng lại bị một thứ “Dân túy” trá hình buông lời xiểm nịnh như ngửa bàn tay cho ngồi, nên đã chui vào hầm lò tiên cảnh mà lạc đường trần thế, như Lưu Nguyễn lên tiên rồi lạc lối về. Một khi chủ nghĩa Dân túy cầm quyền đã yên vị, đã nắm thật chắc cái ngai vàng, lúc ấy cái bàn tay đã ngửa ra cho dân ngồi ngày trước nay mới từ từ nắm lại, từ từ bóp lại… một cách rất “của dân do dân và vì dân”, thì bức tranh vân cẩu tày đình này mới thật tang thương. Vậy hãy nguôi bớt nỗi tang thương riêng của mình đi, hỡi nàng cung nữ!

Mối tình duyên của nàng với đức vua chí tôn nào có khác gì tình duyên của dân tôi với cái chủ nghĩa nhân văn ảo tưởng. Lúc phẫn uất quá nàng đã căm giận cuộc tình duyên khốn kiếp ấy như sau:

Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ,
Xe thế này có dở dang không?
Giang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!
(1)

Nhưng nhi nữ ơi, chân yếu tay mềm “đạp” làm sao được cho khổ thân khi sào huyệt của bọn cầm quyền là tường đồng vách sắt?

Tuyệt vọng, cuối cùng nàng chỉ “muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm”! (1). Tiếng kêu ấy quả là dài, dài xuyên mấy thế kỷ vọng đến tận làng Đồng Tâm, đến vùng biển Hà Tĩnh ngày nay. Bởi chế độ phong kiến còn kéo dài hơn tiếng kêu của người cung nữ, vì chủ nghĩa phong kiến biết hóa thân thành cái gọi là “Chủ nghĩa Xã hội”, nhưng chẳng qua chỉ là một thứ “phong kiến biến tướng” mà chất Dân túy mị dân cứ ngày càng đậm thêm.

Phong kiến biến tướng, phong kiến một vua thành phong kiến nhiều vua tức vua tập thể, rồi vua tập thể lại thanh trừng nhau để sắp trở về vua cá nhân, cứ diễn biến lòng vòng trong đêm dài tranh giành và phân phối quyền lực.

Mối tơ duyên của dân lành với các chủ thuyết cầm quyền độc tôn là thứ dây “tơ hồng” oan nghiệt mà nàng cung nữ kia “giang tay muốn dứt” nhưng nào có dứt được. Tơ hồng tiếng Hán là “xích thằng”, nhiều khi đã thành cái “thằng” cầm “xích”, nó cầm tù nạn nhân của những mối tơ duyên áp đặt một chiều cấm được ly hôn.

Qua bao chặng đường phức tạp, đến hôm nay người Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản lại nổi hứng nhóm lò, lại cái lò đun, có người tin tâm linh thì bảo đó là một “điềm”. Điềm gì vậy, cái lò cũ của anh Ba ngày trước đã khai sinh, chẳng lẽ cái lò mới này là điềm “đang sống chuyển sang từ trần” như giọng thơ Bút Tre?

Được cụ Nguyễn Gia Thiều báo mộng và gợi hứng, miên man theo bức tranh “vân cẩu tang thương” mà cái “lò cừ” của Tạo hóa đã nấu, đã nung cả một giai đoạn Thiên đường ảo trên đất nước này, nên trong tôi phút chốc đã vụt hiện ra một Câu đối Tết cho năm Con Chó Mậu Tuất 2018 này như sau:

- Xưa anh Ba đun bếp dưới tàu,

mồi Cộng sản bén vào, rồi… bốc hỏa!

- Nay bác Tổng nhóm lò trên ghế,

gió Thiên đường /triều/ quạt mạnh, sẽ… ra tro!

Viết xong câu đối, đọc cho một bạn tôi nghe, bạn hỏi “Cái gì sẽ ra tro hả anh, hình như sự ra tro còn ẩn chủ từ, và cái ý “vân cẩu” chưa vào được Câu đối?”. Tôi bật cười: “Đun lò thì phải ra tro thôi, những tro bụi thì lại trở về tro bụi; từ chỗ “bốc hỏa” ngùn ngụt đến chỗ “ra tro” lạnh tanh vô hồn chẳng phải là chuyện vân cẩu quá rồi hay sao?”.

2/ Nội bộ “Đảng ta” tự phải đánh nhau thôi

Trước cục diện “nhóm lò” thiêu nhau nhiều người bình luận rằng khởi đầu chủ yếu là phe đảng đốt phe chính phủ. Trận chiến “ta lại đánh ta” như lời Tổng Bí thư Phú Trọng vừa nói xin thưa đã được HSP tiên đoán từ hơn 20 năm trước, bởi có gì lạ đâu, nó xuất phát rất đúng qui trình ngay từ cái nguyên tắc khôn vặt lai căng “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”!

Trong bài “Chia tay Ý thức hệ” (1995) tôi đã viết rằng “Liệu nội bộ Đảng có đoàn kết được với nhau trong đường lối nhị nguyên "Làm kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa" này không? Và tôi tự giải đáp thế này: Bây giờ không bao cấp nữa, anh nào làm anh ấy ăn. Vậy bộ phận Đảng làm Kinh tế thị trường ắt có ăn lớn. Còn bộ phận chính trị, tuyên huấn chuyên lo về cái định hướng Xã hội chủ nghĩa thì chắc thiệt thòi hơn, cái lẽ “công bằng” (thực chất là tranh giành quyền lợi với nhau – Hà Sĩ Phu nói rõ thêm) chắc sẽ phải đặt ra”. Mâu thuẫn nội bộ là chuyện thông thường, ở tổ chức nào cũng có, nhưng một khi mâu thuẫn thuộc về căn bản, đã được tiền định từ nguyên lý thì chỉ có kết cục là tan vỡ hoặc biến dạng.

Kiên trì cái “định hướng” một trăm năm nữa chưa biết có hay không ấy tiêu biểu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Tiến sĩ xây dựng đảng là người có học nên nói câu nào ra cũng thành khuôn vàng thước ngọc gợi hứng văn chương, để Hà Sĩ Phu làm CÂU ĐỐI. Xin kể vài ví dụ:

* Tổng Bí thư đã nhắc đến một nguyên lý kinh điển là quyền lực phải được hạn chế, giám sát, nếu không sẽ rất nguy hiểm, nên “phải nhốt quyền lực vào lồng cơ chế”. Nhưng “nhốt quyền lực” sao được khi Hiến pháp đã xác định Đảng Cộng sản phải giữ độc quyền lãnh đạo, không có một đảng nào được phép hình thành để chia quyền. Kết quả là Quốc hội, mang tiếng là nơi tập trung quyền lực cao nhất của nhân dân, nơi tạo ra “cái lồng” pháp luật thì cũng chỉ là nơi “cụ thể hóa, triển khai cương lĩnh, nghị quyết của Đảng” mà đứng đầu là Bộ Chính trị, đứng đầu Bộ Chính trị là Tổng Bí thư theo đúng nguyên tắc dân chủ tập trung. Nên gợi hứng để tôi có câu đối:

- Chống đa nguyên để đảng độc quyền, độc quyền ấy sinh Vua Tập thể!

- Nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, cơ chế nào nhốt Tổng Bí thư?

* Tổng Bí thư nói: “Nếu để xảy ra đụng độ gì thì tình hình bây giờ bất ổn thế nào, chúng ta có ngồi đây mà bàn việc tổ chức đại hội Đảng được không?”. À ra vận mệnh đất nước ra sao không quan trọng bằng việc ngồi bàn đại hội đảng! Chẳng trách Tàu Cộng gây đủ mọi chuyện trên vùng Biển Đông của ta mà Tổng Bí thư bảo “tình hình Biển Đông không có gì mới”!

- Ngoài Biển Đông chẳng mới gì đâu, dẫu Bắc thuộc cũng ngàn năm như cũ!

- Muốn Đại hội ngồi yên để họp, với Thiên triều phải một mực im re!

* Tổng Bí thư nói “Chống tham nhũng là ta đánh ta”. Tuyệt vời, quá chính xác nhưng phải hiểu “ta” đây là Đảng Cộng sản, là “Đảng ta” chứ không phải nước ta hay nhân dân ta đâu vì nhân dân đâu có thể tham nhũng hay đánh tham nhũng? Ngay danh xưng “Đảng ta” cũng là một sáng tạo thần kỳ, đậm đà bản sắc, xin luận bàn vào một dịp khác, ở đây chỉ xin tặng một Câu đối:

- TA độc quyền nên TA tham nhũng, tham nhũng rồi TA lại đánh TA, để TA

trọn gói độc quyền tham nhũng!

- NÓ chuyên chính thì NÓ nội xâm, nội xâm đấy nhưng NÓ toan trừ NÓ, cho NÓ

một mình chuyên chính nội xâm!

(Trước đây nhiều thủ lĩnh chuyên chính độc tài cũng dùng chữ Nội xâm để chỉ bọn tham nhũng mà không hiểu chính mình mới là Nội xâm. Vì Nội xâm là làm mất nước từ bên trong, mà dân là gốc của nước, độc tài làm nhân dân mất quyền làm chủ đất nước mình, dân vẫn bị mất nước mặc dù chưa có ngoại xâm Vậy những tập đoàn hay tổ chức độc tài chuyên chính làm cho nhân dân mất quyền làm chủ đất nước, chính họ mới đúng là giặc nội xâm, tham nhũng chỉ là một thuộc tính đương nhiên của bọn nội xâm độc tài chuyên chính đó. Hiểu rộng ra, Nội xâm là tất cả những gì làm suy yếu đất nước thì một chính thể chuyên chính tất nhiên cũng nằm trong số đó) (2).

3/ Năm Chó, hoa càng “cho sắc” (Thư giãn cùng vế xuất đối của Lý Toét

Lý Toét - Xã Xệ rủ nhau đi hội hoa xuân, thoạt vào Vườn Bích Câu uống cà phê, thấy ngay cái biển “Cấm câu” bên hồ cá, Lý Toét đã phì cười “Bích câu mà lại cấm câu?”.

Cái hứng chơi chữ nổi lên, Lý Toét bảo: Hoa thì luôn cho sắc cho hương để người đời thưởng thức nhưng “Sang năm Chó chắc Hoa càng cho sắc” đấy ông nhỉ? Xã Xệ hiểu ngay:

- Ừ, cho sắc chó. Nhưng chữ Hoa của ông chắc phải viết hoa chứ gì, đúng là thằng Tàu ngày càng ép mình, chuyện nhân sự thế nào chẳng có bàn tay thằng Tàu. Tôi còn nhớ hồi Hồ Cẩm Đào đang là thủ lĩnh bên Tàu, bên ta còn quyền ông Lê Đức Anh thì Hà Sĩ Phu đi hội hoa cũng bật ra vế đối “AnhĐào của xứ Hoa, mê mẩn vì Đào cho sắc đấy”, cũng có mấy chữ mà người đọc tự phải viết hoa.

Vườn hoa của các nghệ nhân quả là đẹp. Hoa hồng tự nhiên chỉ có ba màu đỏ, hồng và trắng. Hoa hồng bạch tưởng đã sang nhưng bây giờ đủ cả đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím, chẳng thiếu màu gì. Lý Toét say sưa nhận xét:

- Con người càng biết chơi hoa, quý trọng hoa, trân trọng hoa thì hoa càng cho hương, cho sắc, hoa lại càng sang, đúng không?

Thế rồi, trầm ngâm một lúc, Lý Toét mới ngâm nga:

- Có vế xuất đối rồi đây “Xứ này thành xứ của Hoa, Hoa cho sắc đã sang, Hoa được Trọng, Hoa càng cho sắc nữa!”, ông đối đi!

- Rắc rối và đa nghĩa thế làm sao mà đối được (theo giọng đọc của Lý Toét, Xệ đã biết những chữ nào phải viết hoa), vậy phải nhờ Hà Sĩ Phu đưa lên mục Câu đối Tết nhờ các đối sĩ cao thủ đối giúp cho!

4/ Thư giãn với mấy vần thơ Bảo Sinh

Năm Con Chó mà quên một nhân vật liên quan vô cùng mật thiết đến đời sống anh Cẩu thì thật thiếu sót: nhà thơ dân gian có giọng Bút Tre Nguyễn Bảo Sinh – Hà Nội.

Ông Bảo Sinh sống bằng nghề nuôi chó mèo cảnh, nuôi gà chọi, nhưng yêu thương chúng đến mức lập bệnh viện chó mèo, hotel chó mèo và cả nghĩa trang chó mèo nữa.

Thơ Bảo Sinh có giọng Bút Tre nhưng cao thủ và “ác hiểm” hơn nhiều. “Ác hiểm” bởi ông tỏ ra rất vô tư, sảng khoái, nhìn mọi thứ trên đời với nhãn quan đùa nghịch, trêu cợt, thấy tất cả chỉ là những nghịch lý, ngộ nghĩnh đáng để cười mà thôi.

Chính vì có kiểu “vô chính trị” như thế cho nên khi những dòng thơ bất chợt chạm vào những nghịch lý chính trị-xã hội thì trở nên thú vị và rất đáng tin cậy. Tin cậy vì người làm thơ tỏ ra không cố ý nhằm chính trị gì hết, không nhằm khen hay chê, chỉ như người khách qua đường nhìn thấy ngộ nghĩnh quá thì nói chơi cho vui, nói xong rồi thản nhiên bỏ đi, nhưng người nghe thì nhiều khi càng ngẫm càng thấm tận gan ruột. Bảo Sinh chỉ nói quy luật chung ở đời, nói thói đời, còn ai động lòng là việc của họ, thế mà nhiều người cứ phải “động lòng” mà không dám nói ra.

clip_image008Xin lấy hai ví dụ về hai trường hợp như thế.

Bảo Sinh viết:

Nếu ai ai cũng khỏa thân

Thì đứa mặc quần là đứa khiêu dâm!”

Nghe như chuyện tào lao, chuyện cười là thế, nhưng trận cười ấy cho biết vấn đề đánh giá Chính hay Tà trên đời chẳng qua ở chỗ lấy cái gì làm chuẩn, lấy chuẩn sai thì sự phán xét sẽ lộn ngược. Vâng, chẳng hạn nếu lấy cái nghịch lý, cái dối trá, phản dân chủ, phản quốc làm dường cột thì tất cả những giá trị của chân lý, của sự thật, của dân chủ, của ái quốc sẽ bị cầm tù. Quy luật chính trị ấy cũng giống như chuyện vua cởi truồng hay cởi truồng tập thể ngoài đường thôi mà.

Chẳng nói đâu xa, vụ đội bóng U 23 Việt Nam vừa rồi, mới đoạt giải Á quân (vì không trực tiếp gặp Thái Lan và Hàn Quốc), tuy mừng rỡ là đúng nhưng phấn khích đến phát điên, cởi truồng tồng ngồng trước bàn dân thiên hạ, lại có người coi đó là cuộc biểu dương lòng yêu nước, và đe mọi quân thù “hãy biết khiếp sợ trước lòng yêu nước của thanh niên Việt Nam” (!) (yêu nước bằng cách cởi truồng thì “khiếp” thật, nhưng các kẻ thù, kẻ bán nước và kẻ cướp nước, thì chúng chẳng sợ kiểu yêu nước ấy đâu, mà còn khuyến khích nữa đấy). Coi việc làm ấy là rực sáng của lòng yêu nước, chẳng trách nguy cơ Bắc thuộc lẫn sự thua kém toàn diện của người Việt hiện nay chẳng đáng quan tâm (thế giới đánh giá năng suất lao động của Việt Nam thua xa cả Lào và Campuchia) và việc rủ nhau đến trước tượng Lý Thái Tổ để trang nghiêm kỷ niệm các chiến sĩ bỏ mình vì Tổ quốc để bảo vệ Hoàng Sa thì bị coi là phản động!

Bóng đá mới đạt Á quân một lần chứ tội ăn cắp thì Việt Nam ta đã đạt vị thế Quán quân thế giới từ lâu, một cách vững chắc! Nếu yêu nước hãy biết đau lòng.

Việc hừng hực chống tham nhũng hiện nay cũng vậy. Chống “quốc nạn tham nhũng” là việc rất quan trọng và hợp lòng dân, nhưng nếu không chống cái “cơ chế độc quyền lãnh đạo” là gốc sinh tham nhũng, lại thu hút cả xã hội vào việc ấy, làm mờ đi cái quốc nạn Bắc thuộc là quốc nạn quan trọng hơn thì cần xem lại! (Thậm chí nhiều người còn bảo: Nếu ai có công chống được sự xâm lăng của Tàu thì dù có tội tham nhũng nhân dân cũng sẵn lòng tha cho. Dẹp mâu thuẫn nội bộ để có sức mạnh chống ngoại xâm mới là mục tiêu số 1, nhà Trần trước đây đã nêu cao tấm gương như thế. Nếu buộc phải trừng trị lúc này thì hãy trừng trị kẻ nội ứng cho Tàu).

Bảo Sinh viết:

Tự do sướng nhất trên đời
TỰ LỪA lại sướng hơn mười tự do!

Con người được tự mình hành động theo ý mình, không bị “mỗi chữ mỗi lời không tự chủ, để cho người dắt tựa trâu bò” thì sướng đã đành, nhưng trong những cái “tự” thì “tự lừa” mới là sướng nhất.

Trong sự tuyên truyền ảo tưởng Cộng sản thì chỉ những người đầu sỏ mới có ý thức cố tình lừa bịp dối trá, còn phần đông những tín đồ đi theo thì lúc đầu nói những điều ảo tưởng ấy một cách chân thành và tự hào - tự sướng thật sự, vì đã bị trải qua một công đoạntự lừa”. Người bị “tự lừa” lâm vào một giấc thôi miên do bị ám thị và tự kỷ ám thị, trong đầu tự lầm rầm câu thần chú “Chủ nghĩa Cộng sản là Thiên đường tươi đẹp, giải phóng cả loài người thành một đại gia đình thân yêu, với anh cả Liên Xô và chị Hiền Trung Quốc, mọi sản phẩm cứ tuôn ra như nước, được làm việc tùy theo năng lực nhưng cứ hưởng thụ thoải mái theo nhu cầu”. Trời ơi, sướng thế thì đốt cả dãy Trường Sơn chứ đốt hết cả lịch sử cha ông đi mà được như thế cũng còn rẻ. Cho nên tôi bảo số đông người Cộng sản là “dân túy trá hình” hay Dân túy tự túy vì cứ tưởng mình đang theo một “chủ nghĩa Xã hội khoa học” (ở đại học chúng tôi được học môn học có tên như vậy) nên đem nó tuyên truyền cho dân hiểu chứ có biết đâu cái điều mình tin đã là Dân túy trăm phần trăm, nó phi khoa học và phi thực tế, chẳng ai làm được, dù có nới rộng lời hẹn đến một thế kỷ nữa cũng không có thật đâu, nhưng người nhẹ dạ nghe mà mơ thì sướng, thì muốn bay lên.

Nhà thơ Tố Hữu làm những câu thơ có cánh như điên như say thì lúc đầu là do ông ấy bị “tự lừa” nên thấy trong lòng lâng lâng thật, chân thành thật, có dối trá chăng là ở giai đoạn sau, khi đã có chức có quyền và đã thấy thực tế, “nhà càng lộng gió thơ càng nhạt”, thế thôi.

Thường thì sự giả dối lộ liễu không mê hoặc được ai, nhưng khi con người bị ám thị hay tự kỷ ám thị, lâm vào thôi miên, tự sướng đến run lên thì do trái tim rung động thật nên lời thơ hay lời nói có “công năng” truyền cảm, thậm chí gây được thôi miên cho nhiều người khác, tạo cơn lên đồng tập thể xẻ núi ngăn sông. Quy luật thôi miên cho biết người có thần kinh yếu, người duy cảm thì dễ bị thôi miên. Ta hiểu lòng “chân thành” lúc đó và sức mạnh nhất thời đó, nhưng không nhầm lẫn rung động chân thành đáng thương có tính chất mê sảng ấy với chân lý khách quan.

Cơn tự sướng do ám thị ấy tất nhiên rồi cũng sẽ mau chóng tan đi trước thực tế của thế giới khách quan. Nhưng nực cười là một số người tuy thâm tâm bên trong đã tỉnh nhưng bên ngoài vẫn cố tự lừa rằng “mình là trang nam nhi minh mẫn và dũng mãnh thế này mà lừa được mình à, không bao giờ!”. Thái độ phê phán hiện tại nhưng tôn vinh quá khứ phải chăng là lại là một kiểu “tự lừa thứ phát” rất khôn ngoan vì, như Bảo Sinh tổng kết “tự lừa còn sướng hơn mười tự do”, tự lừa như thế thì được đủ mọi thứ, vừa được yên vừa được tự hào là kẻ luôn tiên phong, chứ cứ đòi tự do thật sự hay cứ truy vấn tận gốc như các vị thì chỉ có đi tù.

Tự lừa để tự sướng vốn là một trò thủ dâm, nhưng trong chính trị cũng có trò thủ dâm như thế. Trong chính trị tự sướng cá nhân (tự thôi miên) thường chỉ tự vừa lòng chốc lát, nhưng tự lừa (hoặc giả vờ tự lừa) đến mức đủ “công năng” gây rung động, gây thôi miên cưỡng bức cho cả đám đông thì sẽ được tung hô, rồi sung sướng thật sự như vua chúa, mà Mao Trạch Đông hoặc cha con họ Kim bên Triều Tiên là những ví dụ quá điển hình. Có những người không sướng được đến mức như thế, hoặc khi nhân dân thức tỉnh thì kẻ đi gây thôi miên thiên hạ sẽ bị thiên hạ cho đi đời nhà ma như Nicolae Ceaușescu bên Roumanie!

TỰ LỪA cũng không “sướng hơn mười tự do” mãi được đâu, nhà thơ Bảo Sinh nhỉ?

5/ Một số vế mời đối

Xuất đối 1: Chú “tham quyền” đánh chú “tham tiền”, hai đứa sinh đôi sao chẳng xét tình huynh với đệ!

Xuất đối 2: Xin tí “lửa nhóm lò” thui thịt Chó!

Hoặc : Xin tí “lửa nhóm lò” thui Chó… Việt!

(Như trên đã nói, anh Cẩu và cái lò vốn có duyên nợ từ lâu. Tạo hóa cũng thâm, cho năm Con Chó xuất hiện đúng lúc nước ta đang có lửa rừng rực. Dân nhậu Cầy tơ hãy chuẩn bị rơm rác cho đủ rồi đến xin lửa nơi cái lò của bác Tổng, lửa ấy mà thui là tuyệt lắm, toàn thân chó bị thui không sót vùng cấm nào đâu).

Tại sao lại chỉ thui chó Việt? Vì chó Nhật thường nuôi làm cảnh, chó Tây tức berger thường nuôi để giữ nhà hoặc đi săn, chỉ có chó ta tức chó Việt Nam, chó ăn bẩn “không từ một thứ gì”, mới thích hợp làm thịt để chế biến 7 món “Cờ tây”.

Xuất đối 3: Phấp phới bay hình tượng búa liềm, sao búa khổ mà liềm cũng khổ?

Xuất đối 4: Phú nghĩa là giàu, dù trọng dù khinh, định hướng một tay anh Phú Trọng!

Xuất đối 5: Nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, cơ chế nào nhốt Tổng Bí thư?

(hoặc: Nhốt quyền lực vào lồng cơ chế, cơ chế nào nhốt đảng độc tôn?)

Xuất đối 6: Xứ này thành xứ của Hoa, Hoa cho sắc đã sang, Hoa được Trọng, Hoa càng cho sắc nữa!

(Lý Toét xin chú thích: “sang” có thể là sang trọng, sắc hoa sang trọng)

H.S.P.

Tết Mậu Tuất 2018

(1) Những câu thơ in nghiêng có dấu * trong bài này đều là thơ trong tập Cung oán ngâm khúc của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều.

(2) Ý này đã được viết trong đoạn “Mất nước là gì” của bài “Dân tộc phải hồi sinh”.

Hai vụ kết án và bắt bớ phi lý người đấu tranh cho môi trường, dân chủ nhân quyền trước Tết Mậu Tuất

Nhân sự kiện Hoàng Đức Bình: đừng tin công lý… ngược!

Ánh Liên (VNTB) Phiên tòa sơ thẩm Hoàng Đức Bình và Nguyễn Nam Phong vào ngày 6.2.2018 đã kết thúc, với tổng hình phạt lên đến 16 năm tù, riêng ông Bình nhận 14 năm tù với tội danh ‘Gây hậu quả nghiêm trọng’ tại điểm d, Khoản 2, Điều 257 BLHS 1999; và ‘Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ tại Điều 258, BLHS 1999.

Luật sư Hà Huy Sơn, người bào chữa cho ông Hoàng Đức Bình ngay sau đó đã chia sẻ quan điểm của mình về phiên tòa, theo đó, bản án này ‘mang tính thù hận, bất chấp pháp luật, bất chấp lương tri nhằm bỏ tù bằng được Hoàng Đức Bình’.

Lý do xuất phát từ việc, mặc dù không xác định được giá trị thiệt hại do bị cáo ây ra, nhưng Tòa – thay vì áp dụng điểm d của Khoản 2 – Điều 257 BLHS 1999, thì lại áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 330 BLHS 2015.

Bàn tròn văn học Pháp

Paul-François Paoli ghi

Trần Vũ dịch thuật

“Những nhà văn đích thực đếm được trên đầu ngón của một bàn tay

clip_image001

Tranh Antoine Moreau-Dusault

Thời hoàng kim của tiểu thuyết, là thời kỳ nào? Thế kỷ 18 với Sterne, Diderot, Sade, Laclos… hay vào đầu thế kỷ 19 với Balzac và Stendhal? Hoặc cuối thế kỷ 19 khi Flaubert và Dostoïevski tung hoành? Hay giữa hai thế chiến với Proust, Kafka, Joyce? Guy Scarpetta, phê bình gia gạo cội của Le Monde Diplomatique, trả lời: Chính là hôm nay! Để chứng minh, Scarpetta cho xuất bản L’Âge d’Or du Roman/ The Golden Age of Novels/ Thời Hoàng kim của Tiểu thuyết vào năm 96, với các tên tuổi Salman Rushdie, Mario Vargas Llosa, Alain Robbe-Grillet, Claude Simon, Daniko Kis, Kenzaburô Oé, Juan Goytisolo, Thomas Bernhard, Carlos Fuentes…

Chưa đầy một thập niên sau, văn học Pháp rơi vào khủng hoảng. Chưa khi nào phẩm chất của nghệ thuật tiểu thuyết sa sút như lúc này. Là báo động của Richard Millet và Jean-Marc Roberts. Đã nhiều thập niên truyện dài tràn ngập thị trường với lượng in kinh hoàng: 581 tiểu thuyết chỉ cho riêng vụ sách mùa Thu 2017, tăng so với 560 tiểu thuyết cùng kỳ 2016, chưa tính sản lượng in trong năm. Vì đâu? Tại Sao? Là trao đổi giữa Richard Millet, nguyên thành viên trong ban giám định của nhà Gallimard và nguyên chánh chủ khảo giải văn chương toàn quốc Goncourt 2006, với Jean-Marc Roberts, giám đốc nhà xuất bản Stock. Ký giả Paul-François Paoli, phụ trách trang văn học của nhật trình Le Figaro, ghi lại đối thoại này. [Trần Vũ]

Văn Việt trò chuyện với TS Nguyễn Quang A

Văn Việt xin lưu ý: Trong bài phỏng vấn TS Nguyễn Quang A, những ý kiến của TS về một số trí thức ở Mỹ như Lê Xuân Khoa, Phùng Liên Đoàn là nhận định chủ quan của TS. Văn Việt sẵn sàng đăng tải những phản hồi nếu có về nhận định ấy.

Ngô Thế Vinh viết Vòng Đai Xanh: Giữa Núi Rừng Bất An

Phan Tấn Hải

Nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh bằng tấm lòng ưu tư với dân tộc. Trên các trang giấy, chúng ta đọc được nỗi lo của ông bên cạnh những âm vang cồng chiêng của các sắc dân Thượng, xen lẫn gần xa là tiếng súng giao chiến giữa AK-47 và M-16.

Nơi đó, hiện lên trong các dòng chữ cũng là nỗi lo của giới trí thức Sài Gòn (điển hình với nhân vật chính là họa sĩ tên Triết, xưng tôi) khi nhìn thấy 60 trại lính Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ (LLĐB Hoa Kỳ) trên vùng biên giới cao nguyên Việt Nam có thể tương lai sẽ trở thành một cõi quốc gia tân lập của người Thượng, một đất nước mới manh nha cho các sắc dân thiểu số vùng cao có tên gợi ý là Đông Sơn và viễn ảnh một cuộc chiến mới sẽ bùng nổ giữa dân tộc Kinh và các sắc tộc Thượng – nơi đó, ngòi nổ sẽ bị kích hỏa, hoặc là do chính người Mỹ hay do chính Cộng Sản Bắc Việt gây ra, hay do cả hai cùng bật lên.

Trong tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, độc giả có thể thấy phần hư cấu gắn liền với sự thực lịch sử. Nghĩa là, có thể đọc như một cuốn sách biên khảo về Cuộc Nội Chiến Quốc-Cộng trên vùng cao nguyên, nơi đó phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) được lính LLĐB Hoa Kỳ hỗ trợ, và nhiều khi phía Mỹ nắm phần chủ lực khi trực tiếp huấn luyện dân quân người Thượng.

Dalat Palace hôm nay: sự suy vong của một di sản kiến trúc?

Mai Thái Lĩnh

Vào cuối năm 2017, giữa lúc các nhà quy hoạch công bố một cách ồn ào dự án ba ngàn tỷ để “hiện đại hóa khu phố trung tâm” Đà Lạt thì ở một vị trí trung tâm khác (trung tâm của toàn thành phố chứ không chỉ là khu phố trung tâm), một sự kiện đã xảy ra một cách khá lặng lẽ nhưng chắc chắn sẽ để lại những hậu quả không thể lường trước cho tương lai của thành phố du lịch nổi tiếng này…

Dalat Palace – một di sản kiến trúc:

Cho mãi đến gần đây, Dalat Palace luôn giữ vị trí “đệ nhất khách sạn” của thành phố Đà Lạt. Mặc dù quyết định xây dựng đã có từ năm 1916 (dưới thời của Toàn quyền Roume), mãi đến năm 1922 (dưới thời của Toàn quyền Maurice Long), khách sạn mới được hoàn thành và đưa vào hoạt động với tên gọi là Langbian Palace (hình 1):

imageHình 1: Khách sạn Langbian Palace thập niên 1930

Năm 1943, dưới thời của Toàn quyền Decoux, mặt tiền của khách sạn có sự thay đổi: những đường nét cầu kỳ bị xóa bỏ, thay vào đó là một bề ngoài giản dị hơn (hình 2). Sự thay đổi này được thực hiện bởi kiến trúc sư Paul Vesseyre (1896-1963). Tên khách sạn cũng được đổi thành Dalat-Palace.

Vào thập niên 1990, khi Công ty Du lịch Lâm Đồng liên doanh với tỷ phú người Mỹ Larry Hillbloom (1943-1995) để thành lập Công ty DRI, ông này đã đổ vào đây 40 triệu $US để nâng cấp ba công trình (sân golf, khách sạn Dalat Palace và khách sạn Du Parc). Mặt tiền của khách sạn lại thay đổi một lần nữa, nhưng nhìn chung vẫn giữ lại diện mạo của lần sửa đổi trước, chỉ khôi phục lại những họa tiết trang trí ở đường viền sát mái nhà (corniche) (xem hình 3). Nhà tư bản người Mỹ xem ra cũng quý trọng thiên nhiên và đối xử với di sản kiến trúc của Đà Lạt một cách văn minh.

imageHình 2: Dalat Palace giữa thập niên 1960

imageHình 3: Dalat Palace năm 2014

Cùng với sân golf Đồi Cù và khách sạn Du Parc, số phận của Dalat Palace trôi nổi: từ sở hữu “quốc doanh” trở thành sở hữu “liên doanh”, rồi vuột khỏi tay của nhà nước để trở thành “sở hữu 100% của tư bản ngoại quốc”, cuối cùng lại trở thành sở hữu “tư nhân” của các nhà tư bản thân hữu nội địa!

Tập đoàn Hoàn Cầu và công trình “nâng cấp” khách sạn Dalat Palace:

Năm 2014, Tập đoàn Hoàn Cầu do bà Trần Thị Hường tức Tư Hường (1936-2017) sáng lập đã trở thành “đồng sở hữu” sân golf Đồi Cù, khách sạn Dalat Palace và khách sạn Du Parc. Tập đoàn thành lập công ty con có tên là Công ty TNHH Hoàn Cầu Đà Lạt để quản lý các hoạt động của tập đoàn tại Đà Lạt. Cuối năm 2014, tỉnh Lâm Đồng quyết định cho Tập đoàn Hoàn Cầu thuê Dinh 1 trong vòng 50 năm (!).

Công trình đầu tiên mà Hoàn Cầu đóng góp cho địa phương là trùng tu Dinh 1, được khai trương vào tháng 9 năm 2015. Nhân dịp này, tập đoàn hứa hẹn sẽ đầu tư thêm giai đoạn 2: xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng cao cấp trên diện tích rừng cảnh quan, với khu khách sạn đến 200 phòng, khu nhà hàng, hội nghị có sức chứa từ 500 đến 800 chỗ và 27 biệt thự tiêu chuẩn 5 sao, với số vốn 600 tỷ đồng.[1]

Hai năm sau, nhân dịp lễ hội Festival Hoa Đà Lạt 2017, tập đoàn lại cho ra đời công trình thứ hai: “nâng cấp” khách sạn di sản Dalat Palace bằng cách xây thêm một tòa nhà đồ sộ dưới danh nghĩa Trung tâm Hội nghị Dalat Palace (Dalat Palace Convention Center)!

Ngày nay, khách sạn có đến hai cổng chính. Ở phía đông, từ đường Trần Phú người ta có thể đi vào khách sạn bằng cổng cũ, nay được gắn dòng chữ “Dalat Palace Heritage Hotel” (Khách sạn di sản Dalat Palace). Ở phía tây, người ta cũng có thể đi vào bằng cổng mới, được gắn dòng chữ Dalat Palace Convention (hình 4).

imageHình 4: Cổng vào Trung tâm Hội nghị Dalat Palace

Điều đập ngay vào mắt mọi người là hai tòa nhà có hai phong cách kiến trúc hoàn toàn khác nhau lại nối với nhau một cách gượng ép theo kiểu “đem râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Vì tòa nhà mới xây gần sát khách sạn cũ, cho nên nếu nhìn từ bên kia hồ Xuân Hương, ta thấy khách sạn Dalat Palace trước chỉ có một, nay biến thành hai. Trong tấm ảnh dưới đây (hình 5), chúng ta thấy bên trái (hướng đông) là khách sạn Palace cũ, bên phải (hướng tây) là tòa nhà mới. Do đó, người dân thường gọi tòa nhà mới là “Dalat Palace mới” để phân biệt với “Dalat Palace cũ”!

imageHình 5: Khách sạn Dalat Palace từ một biến thành hai

Tòa nhà mới có hai mặt tiền. Một mặt tiền lấp ló đằng sau hàng rào sắt, còn mặt tiền thứ hai phơi lồ lộ ngoài mặt đường Hồ Tùng Mậu (hình 6 và 7).

imageHình 6: Dalat Palace mới phía sau hàng rào sắt

imageHình 7: Dalat Palace mới trên đường Hồ Tùng Mậu

Hai phần nhô cao với bốn mái vòm (dome)[2] – sáng kiến phát sinh trong quá trình thi công – là một trong những lý do khiến Tập đoàn Hoàn Cầu bị Chủ tịch UBND Thành phố là Võ Ngọc Hiệp ký giấy phạt 40 triệu đồng. Theo VNExpress, xét về diện tích xây dựng, Hoàn Cầu được cho phép xây 4.784 m2 nhưng trong thực tế đã xây 7.087 m2, dôi ra 2.303 m2, còn về chiều cao thì công trình vượt hơn 6m so với thiết kế được phê duyệt.[3]

Tất nhiên, như vẫn thường xuyên diễn ra ở Việt Nam ngày nay, “phạt” có khi chỉ là một hình thức chiếu lệ. Trong quyết định phạt có thòng thêm câu “yêu cầu chủ đầu tư lập thủ tục điều chỉnh giấy phép xây dựng và thiết kế theo quy định”. Vì vậy, sau đó thủ tục điều chỉnh được thực hiện nhanh chóng để Dalat Palace kịp khai trương đúng vào dịp lễ hội Festival Hoa Đà Lạt (hạ tuần tháng 12 năm 2017).

Trong thực tế, công trình này đã được bật đèn xanh cho phép từ lâu. Trước khi khởi công xây dựng Dalat Palace mới, Tập đoàn Hoàn Cầu đã xây một bức tường rào kiên cố để phân định ranh giới giữa cái gọi là “khuôn viên khách sạn Dalat Palace” với bên ngoài. Do đó, ngoài hai cổng phía đông và phía tây nói trên, về phía hồ Xuân Hương còn có một cái cổng đồ sộ được thiết kế một cách khá cầu kỳ nhưng có phần màu mè, diêm dúa, hoàn toàn xa lạ với phong cách trang nhã, lịch sự của người Pháp trước đây (hình 8).

imageHình 8: Cổng mới từ phía hồ Xuân Hương

Tại sao nói Dalat Palace bị biến dạng”?

Đọc đến đây, có lẽ độc giả sẽ thắc mắc: tại sao nói Dalat Palace bị biến dạng trong khi Tập đoàn Hoàn Cầu chưa động chạm đến khách sạn Dalat Palace cũ?

imageHình 9: Khách sạn Dalat Palace và hồ Xuân Hương (1971)

Nói biến dạng là vì bất cứ công trình kiến trúc quan trọng nào cũng gắn bó với không gian xung quanh nó. Ngay từ đầu, các nhà thiết kế đô thị và kiến trúc sư người Pháp đã chọn cho Dalat Palace một vị trí đặc biệt: nằm trên trục đường chính (đường Yersin, sau 1975 đổi tên thành đường Trần Phú) và nhìn xuống hồ Xuân Hương. Tấm không ảnh đăng kèm (hình 9) do các phi công lái trực thăng chụp vào thời Việt Nam Cộng Hòa giúp chúng ta thấy được khung cảnh bao quanh Dalat Palace. Trước mặt khách sạn là một thảm cỏ trải dài về phía hồ Xuân Hương, không hề có hàng rào bao quanh. Về phía tây và tây-bắc của khách sạn là cả một rặng thông xanh mướt. Phía bên kia hồ còn có một thảm xanh khác. Đó là phần công viên trên Đồi Cù [4] đã bị rào lại từ đầu thập niên 1990 để “nâng cấp” sân golf 9 lỗ thành sân golf hiện đại 18 lỗ – nay cũng lọt vào tay Tập đoàn Hoàn Cầu.[5]

Điều đó cho thấy từ thời Pháp thuộc cho đến thời Việt Nam Cộng Hòa đã có quy định nghiêm ngặt để duy trì màu xanh xung quanh khách sạn. Nói cách khác, không có cái gọi là “khuôn viên của khách sạn” như cách nghĩ hiện nay.

Màu xanh của bãi cỏ, của rừng thông và màu xanh của mặt nước hồ chính là những yếu tố tạo thành khung cảnh thiên nhiên bao quanh “đệ nhất khách sạn”. Xóa bỏ màu xanh để thay bằng xi-măng, sắt thép chính là nhát búa phá hoại đầu tiên mở đường cho sự suy vong của Dalat Palace – di sản kiến trúc hàng đầu của thành phố.

Chỉ còn vài năm nữa, Dalat Palace sẽ tròn 100 tuổi (1922-2022). “Khách sạn di sản” sẽ kỷ niệm bách niên bằng khuôn mặt nào? Bằng khuôn mặt trang nhã, lịch sự của một khách sạn nằm trong lòng thiên nhiên thơ mộng hay bằng một khuôn mặt trơ trụi, được giải phẫu thẩm mỹ và trang điểm công phu nhưng rất mực… vô duyên?

Đà Lạt, những ngày cuối năm Đinh Dậu

7/2/2018

MAI THÁI LĨNH


[1] Dinh I Đà Lạt chính thức mở cửa đón du khách, Nhân dân 19/09/2015: http://www.nhandan.com.vn/vanhoa/du_lich/item/27476902-dinh-i-da-lat-chinh-thuc-mo-cua-don-du-khach.html

[2] Báo Tuổi Trẻ gọi phần này “ụ nổi”. Xem: “Đình chỉ công trình sai phép trong khách sạn cổ Dalat Palace”, Tuổi Trẻ, 23/10/2017: https://tuoitre.vn/dinh-chi-cong-trinh-sai-phep-trong-khach-san-co-dalat-palace-20171023172621852.htm

[3] Khánh Hương, “Công trình sai phép hơn 2.300 m2 ở Đà Lạt”, VNExpress 7/11/2017:

https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/cong-trinh-sai-phep-hon-2-300-m2-o-da-lat-3666249.html

[4] Mai Thái Lĩnh, Đồi Cù Đà lạt, Bauxite Vietnam 4/10/2014:

https://boxitvn.blogspot.com/2014/10/oi-cu-lat.html

[5] Website chính thức của Tập đoàn Hoàn Cầu chỉ tự nhận là “đồng sở hữu”, ngoài ra còn có tập đoàn nào khác cũng “đồng sở hữu” thì cho đến nay vẫn còn là điều bí ẩn!!!

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 12): Mai Thảo

Image result for Mai ThảoTên thật Nguyễn Đăng Quý. Sinh ngày mùng Tám tháng 6 năm 1927 tại Quần Phương Hạ, Hải Hậu, Nam Định.

Cùng gia đình di cư vào Nam năm 1954.

1956: Chủ nhiệm tạp chí Sáng Tạo

1963: Chủ nhiệm tuần báo Văn Nghệ

1982: Chủ bút tạp chí Văn

1982 đến nay: Chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn (tục bản tại CA.)

Hiện tại đang định cư tại quận Cam, California, Hoa Kỳ.

Tác phẩm:

Trên dưới 50 tác phẩm thuộc mọ thể loại: truyện dài, tập truyện ngắn, tuỳ bút, nhận định, thơ… Trong đó có những tác phẩm quen thuộc như: Đêm giã từ Hà Nội, Tháng Giêng cỏ non, Bầy thỏ ngày sinh nhật, Sống chỉ một lần, Để tưởng nhớ mùi hương, Ôm đàn đến giữa đời, … Và một tập thơ được nhiều người biết đến: Ta thấy hình ta những miếu đền.

Bổ sung của Văn Việt: Mai Thảo làm Chủ biên tạp chí Văn đến 1996, vì tình trạng sức khỏe trao lại cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Nhà văn Mai Thảo mất tại Santa Ana, California (Hoa Kỳ) ngày 10 tháng 1 năm 1998.

Văn học miền Nam 54-75 (453): Tô Thùy Yên (kỳ 2)

Tô Thùy Yên, một trong những tiếng thơ lớn, của 20 năm văn chương miền Nam

Du Tử Lê

to_thuy_yenTô Thùy Yên, theo tôi, là một trong những nhà thơ của 20 năm văn học miền Nam, có ảnh hưởng rộng, lớn. Cái ảnh hưởng rộng, lớn ông có được, không phải vì ông cùng với Thanh Tâm Tuyền là hai “mũi nhọn xung kích” thổi bùng ngọn lửa thơ tự do ở miền Nam, như một số người ngộ nhận.

Sự thực, cùng với Thanh Tâm Tuyền, những người tận hiến tâm huyết mình, cho mục đích xiển dương thơ tự do ở miền Nam (giới hạn trong phạm vi tạp chí Sáng Tạo) là Quách Thoại, Trần Dạ Từ, Trần Lê Nguyễn, Đỗ Quý Toàn, Ngọc Dũng, Người Sông Thương (bút hiệu của Nguyễn Sĩ Tế)… chứ không phải là Tô Thùy Yên. Những bài thơ của ông, được yêu thích nhất, cũng không phải là những bài thơ Tự Do mà, lại là thơ vần, điệu. Hoặc những bài ông dung hòa được đặc tính của thơ tự do và thơ cũ (như một số tác giả cùng thời khác đã thành công. Điển hình, như cố thi sĩ Nguyên Sa.)

Hiểm hoạ mất nước không xa vời, nhưng ngay trước mắt

Đất nước không phải sẽ, nhưng đang từ từ rơi vào tay Tàu. Cuộc xâm lấn đại quy mô, có kế hoạch, đang được thực hiện từng bước, dưới mọi hình thức. Không phải chỉ ở ngoài khơi, biển đảo, nhưng ngay trên đất liền, Trung Cộng đang gậm nhắm dân đất nước. Nguy hại hơn nữa, dân Việt đang tự Hán hóa, đang từ bỏ văn hóa Việt để khoác áo Tàu.

1. Trên biển, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa, xây đảo nhân tạo, bắn giết ngư dân Việt Nam, lộng hành như chốn không người, trước sự im lặng đồng lõa của tập đoàn lãnh đạo cộng sản.

2 . Chúng ta dồn mối quan tâm tới biển đảo, nhưng cuộc xâm lăng còn nguy hiểm hơn ở đất liền.

Cựu Chủ tịch Trung Cộng Hứa Cẩm Đào nói: Chúng ta sẽ không đánh chiếm Đài Loan. Chúng ta mua Đài Loan, dễ và rẻ hơn. Điều đó sai, với Đài Loan, vì Đài Loan là một xứ dân chủ, với một giới lãnh đạo yêu nước, không để mất một thước đất.

Lí luận văn học Nga hậu xô viết (10)

Chương IV

Y.M. LOTMAN VÀ TRƯỜNG PHÁI KÍ HIỆU HỌC VĂN HÓA

TARTUS – MOSKVA

I. Trường phái Tartus – Moskva

và sự lên ngôi của các hệ thống lí thuyết phi chính thống

Nền lí luận văn học Xô viết chưa bao giờ là một hệ thống thuần nhất. Ngay cả ở thời kì hoàng kim nhất của nền lí luận toàn trị, người ta vẫn nghe thấy những tiếng nói khác lạ. Chẳng hạn, năm 1934, Đảng Cộng sản Liên Xô và Hội Nhà văn Liên Xô đã quyết định lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm phương pháp tốt nhất của sáng tác và nghiên cứu phê bình nghệ thuật. Chủ nghĩa Mác đề cao thuyết tiến hoá. Phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa đòi hỏi nhà văn phải miêu tả hiện thực “trong xu thế phát triển cách mạng”. Thế mà trong luận án Tiến sĩ Thi pháp truyện kể và thể loại, bảo về năm 1935, O.M. Freidenberg (1890 - 1955) lại chủ trương tiếp cận các hiện tượng văn hoá từ quan điểm “nòi giống”, “nguồn cội”, lấy thuyết “di truyền” để chống lại thuyết “tiến hoá”. Bà cho rằng, ở những giai đoạn phát triển khác nhau, dù hình thức biểu hiện có khác nhau thế nào, thì mọi hiện tượng văn hoá vẫn tồn tại trên nền tảng của một cái “gien” bất biết. Cho nên, khám phá quan hệ bất biến giữa “nhân tố” như là hạt nhân tiềm ẩn của mọi hình thức văn hoá, và “thực tế” như là sự biểu hiện của hạt nhân tiềm ẩn ấy trong hình thức cụ thể của các hiện tượng văn hoá - là nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà nghiên cứu[1]. Là Giáo sư, Chủ nhiệm Bộ môn Ngữ văn học cổ điển của Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Leningrad, năm 1950, O.M. Freidenberg từ chức chỉ vì không tán thành những phát biểu của Stalin chống lại quan điểm lịch sử của N.Ja. Marr (1864 - 1934)[2].