Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2026

Niềm tin công lý và trách nhiệm cải cách tư pháp qua vụ án Hồ Duy Hải

 Tô Văn Trường

Gần hai mươi năm đã trôi qua kể từ ngày vụ án Hồ Duy Hải được tuyên bản án tử hình đầu tiên. Hai thập kỷ không chỉ là một mốc thời gian; đó là một quãng đời của một con người và cũng là khoảng lặng đủ dài để một bản án trở thành nỗi day dứt trong tâm thức xã hội. Khi một vụ án không thể khép lại sau chừng ấy năm, vấn đề không còn dừng ở số phận của một cá nhân, mà đã trở thành câu hỏi về độ tin cậy và tính chính xác của hệ thống tư pháp.

Công bằng xã hội ở đâu? Bình đẳng công dân ở đâu?

 Phạm Đình Trọng

Tan học, học sinh Vũ Văn Thành đi xe máy chở theo ba bạn học Nguyễn Bá Thịnh, Vũ Thanh Hùng, Vũ Văn Lộc. Tuổi trẻ nghịch ngợm, tốp nam sinh đi xe máy liền giật chiếc mũ vải và chiếc nón lá của hai nữ sinh đi bộ cùng chiều. Nữ sinh tố cáo với công an bị giật mất mũ nón, bốn nam sinh liền đến công an giao trả lại nguyên vẹn tài sản đã giật.

Yêu Dostoevsky, ngưỡng mộ Putin?

 Tino Cao

Có không ít người Việt, vì yêu văn học Nga, yêu những áng văn tuyệt vọng, những trang tiểu thuyết được viết dưới bóng tối chuyên chế, mà sinh lòng yêu mến nước Nga, rồi yêu mến luôn cả chính thể đã tạo ra bóng tối ấy. Họ yêu Bác sĩ Zhivago, yêu thơ Mandelstam, yêu Dostoyevsky, yêu những bản trữ tình dở dang của Tchekhov, nhưng lại không thấy rằng tất cả những tài năng đó, không ít thì nhiều, đều bị nghiền nát trong guồng máy đàn áp của nhà nước Nga hậu Xô viết và Liên Xô trước đây.

Đời sống tăng đoàn ở Nalanda (Ấn Độ) vào thế kỉ 7 theo Nghĩa Tịnh: hai loại bình đựng nước

 Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về chương hay mục 6 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh, tựa đề chương 6 là 水有二瓶 thủy hữu nhị bình (~ nước có hai bình): người viết phỏng dịch là hai loại bình đựng nước. Chương này có tất cả 483 chữ Hán, khi dịch ra tiếng Anh thì có khoảng 775 chữ (bản dịch của Takakusu, sđd), hay khoảng 772 chữ (bản dịch của Li Rongxi, sđd); hay số chữ tiếng Anh dùng tăng 60% so với nguyên bản Hán văn. Khi dịch ra tiếng Việt hiện đại cho tạm thời rõ nghĩa thì cần khoảng 753 chữ (xem phần sau) hay số chữ tiếng Việt dùng tăng 56% so với nguyên bản Hán văn. Tuy nhiên, cần thận trọng khi đọc các tài liệu cổ đại vì Hán văn vào thời trung cổ có khác hơn ngày nay, có lúc ý nghĩa không rõ ràng hay tối nghĩa, không như ý của tác giả, dẫn đến cách hiểu khác nhau: td. ít người biết xúc 觸 còn có nghĩa là dơ dáy, hay xem mục 3.3 phần dưới về các câu khó hiểu/tối nghĩa. Ngoài ra, tiếng Hán trung cổ cũng phản ánh thời kỳ phát triển khác biệt: td. âm vận thời nhà Đường so với âm vận thời nhà Hán, thời nhà Minh; đây là chưa kể đến việc soạn giả dịch lầm hay tam sao thất bản: thí dụ trong chương 6: chữ duy 唯 viết thành chuẩn 准 (bản thời Tống, Nguyên, Minh); chữ ủng 擁 viết thành quán 罐; chữ quải 掛 viết thành quải 挂... Một kết quả quan trọng là giao lưu văn hóa/tôn giáo và ngôn ngữ với Phạn ngữ đã làm vốn từ Hán gia tăng vượt bực, cũng như ngữ pháp cùng các tài liệu âm vận học mà ít người biết đến, không chỉ giới hạn trong thuật ngữ Phật giáo như niết bàn, nghiệp, kiếp, Giác Thụ (cây Bồ đề)… Thí dụ như trong chương 6 ngắn ngủi, Phạm tăng và Tây phương tăng được dùng để chỉ nhà sư Ấn Độ, phản ánh mức độ phong phú của ngôn ngữ khi dùng các từ phiên âm trực tiếp từ tiếng Phạn hay phiên nghĩa trong tiếng bản địa. Người đọc sẽ thấy các dữ kiện này xuất hiện thường xuyên trong bài viết này. Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật giáo), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), A (tiếng Anh) NHKQNPT (Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện).

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2026

Về Giải thưởng Văn Việt

Thái Hạo

Vài ngày tới Văn Việt (CLB Văn đoàn Độc lập Việt Nam) sẽ công bố giải thưởng của năm 2025. Vì vài năm nay tôi được Văn Việt mời làm giáo khảo cho giải Thơ, thấy cách làm việc của họ khá hay bởi tính khách quan và vô tư, đáng để tham khảo, nên xin chia sẻ dưới đây.

Khi công lý cần được soi lại: Vụ án Hồ Duy Hải sau 18 năm

 Tô Văn Trường

Có những bản án khép lại một hồ sơ tố tụng, nhưng không khép lại những trăn trở trong lương tri xã hội. Mười tám năm đã trôi qua kể từ đêm xảy ra thảm án tại Bưu điện Cầu Voi, nơi hai nữ nhân viên trẻ bị sát hại dã man. Nỗi đau ấy là sự thật không gì bù đắp được. Công lý, trước hết, phải dành cho các nạn nhân và gia đình họ.

Những dấu hỏi trong truyện-thơ Ái Điểu

 Nguyễn Lệ Uyên

Ngoài truyện, Ái Điểu còn làm thơ. Thơ cô không mới, không thuộc các trường phái Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực, Tân hình thức… mà hầu hết gần như là những câu chuyện kể như khi cô viết truyện; chỉ khác hơn chút là những truyện-thơ ấy cô không mấy chú ý đến thẩm mỹ (esthestique) trong tu từ và hơi thiếu một chút nhạc điệu, màu sắc kiểu “thi trung hữu họa” vốn thường thấy các nhà thơ thời trước vận dụng. Những bài thơ này, nếu thêm vài chữ, bớt vài câu nó sẽ trở thành truyện và ngược lại.

Cánh chim đỗ quyên gieo chữ giữa hai bờ đại dương

 Lê Bảo Nhi

Đỗ Quyên – cái tên như một ám ảnh thi ca, gợi nhớ hình ảnh con chim lưu lạc kêu tiếng nhớ nước thương nhà. Có lẽ, chẳng bút danh nào phù hợp hơn với một người con Hà Nội mang theo hành trang văn chương đi qua nửa vòng trái đất, để rồi giữa lòng Vancouver lạnh giá hay bên bờ biển Cabo nắng cháy, vẫn không ngừng viết về một quê hương thao thức trong từng nhịp thở.

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2026

Tiệc tất niên của loài bò sát

 Ái Điểu

Ba Mươi Tết năm nào tôi cũng chỉ mở tiệm đến 10 giờ sáng, có bán cũng ít khách. Dù có gì đi nữa, mọi người cũng muốn trở về nhà mình, trở về với nguồn cội, với những quá vãng, với tâm linh.

Trưa nay tôi cúng tất niên, mời đám đàn bà không chồng dự.

Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Hiện tượng mờ hoá trong tập truyện ngắn "Mình nói chuyện gì khi mình nói chuyện tình" của Raymond Carver

 Nguyễn Hồng Anh

Raymond Carver là nhà văn Mỹ nổi lên từ thập niên 1970, bước sang những năm 1980, tên tuổi và sức ảnh hưởng của ông đã lan tỏa trên khắp thế giới. Ông được tôn xưng là bậc thầy truyện ngắn của thế kỷ XX và là chủ soái của trường phái cực hạn. Phong cách viết của R. Carver mang dấu ấn đậm nét từ sự kế thừa hai nhà văn lớn thế giới mà ông xem như những bậc tiền bối của mình: Ernest Hemingway và Anton P. Chekhov. R. Carver đã học tập từ Chekhov quan niệm về lối viết: “Trong các truyện ngắn, nói không đủ thì tốt hơn là nói quá nhiều” (dẫn theo [6]), và học tập từ Hemingway cái gọi là “lý thuyết bỏ quên” (theory of omission): “Anh có thể bỏ đi bất kì điều gì nếu anh nhận ra anh đã bỏ quên nó và phần bị bỏ đi sẽ củng cố thêm câu chuyện và khiến người đọc có thể cảm nhận nhiều điều hơn là những gì họ hiểu” (dẫn theo [4]).

Thử tìm cách đối lại vế ra của cụ Nguyễn Khoa Vy

 GS. Nguyễn Tài Cẩn

Con gà trống đã ra thủ đô ăn Tết

Từ khi công bố câu đối thách cách nửa thế kỷ của nhà thơ Nguyễn Khoa Vy, tòa soạn đã đi từ trạng thái hồi hộp, lo lắng đến... bối rối.

 

Lúc đầu cứ sợ không ai hưởng ứng và "số phận" con gà trống chắc vẫn phải quẩn quanh trong vườn nhà chị Bội Lan, con gái của nhà thơ, ở Vỹ Dạ, (điều mà chắc chị Bội Lan cũng sẽ rất buồn lòng). Nhưng đến khi đón nhận sự hưởng ứng quá sức nồng nhiệt của bạn đọc từ khắp nơi trong nước (nồng nhiệt đến nỗi cả nhà văn Phó tổng biên tập của SH cũng lén lút nhảy vào cuộc thi bằng cách dấu tên nhưng không may bị tòa soạn lật "tẩy" qua nét chữ, thì tòa soạn đâm ra hết sức bối rối. Bối rối bởi lẽ là: Câu đối hay thì nhiều, quá nhiều mà gà thì chỉ có một! Đến nay, nghĩa là khi người Sông Hương viết những dòng này, tòa soạn đã nhận được tất cả 352 câu được gửi đi từ khắp các địa phương trong cả nước, từ thủ đô Hà Nội đến miền sông nước Cửu Long xa xôi và cả tận bên Pari. Thực tình đã có lúc Người Sông Hương tính đến nước liều, đề nghị tòa soạn thôi thì... lờ đi cho đỡ nặng gánh, có nghe phê bình thì đành chấp nhận thương đau vậy. Tất nhiên là không ai dám công khai cái chước mười mươi gian lận này, thế nhưng xét chọn câu hay xứng đáng nổi bật trong số câu hay thì người nào cũng... líu lưỡi. Cuối cùng may mắn làm sao, trong một ngày cuối năm đẹp trời (có lẽ là một ngày đẹp trời nhất trong những ngày đẹp trời ở Huế), đối với Người Sông Hương tòa soạn nhận được một lá thư kèm với một bài viết dài 5 trang đánh máy của một nhà ngôn ngữ học quen biết, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, từ Hà Nội gửi vào. Bài viết có nhan đề: Thử tìm cách đối lại vế ra của cụ Nguyễn Khoa Vy và cả lá thư thân tình cụ cũng bảo là chỉ dám "thử" thôi, chứ không tham gia vào cuộc thi, vì câu thách của nhà thơ quá "đắt" còn con gà trống của nhà thơ thì cụ đề nghị hãy cứ để cho nó nhảy tung tăng trong vườn nhà chị Bội Lan. Đọc xong lá thư và cả bài viết của nhà ngôn ngữ học nổi tiếng vốn đã đọc câu thách đối từ nửa thế kỷ trước, Người Sông Hương và cả tòa soạn thở ra nhẹ nhõm. Thế là tai qua nạn khỏi! và dù giáo sư Nguyễn Tài Cẩn không muốn, Người Sông Hương cũng xin được thông báo với toàn thể bạn đọc tin vui: Con gà trống của nhà thơ Nguyễn Khoa Vy đã lên tàu Thống Nhất ra thủ đô Hà Nội ăn tết, đồng thời xin gửi đến tất cả các bạn đã hưởng ứng cuộc thi lời cám ơn chân thành của tòa soạn và của chị Bội Lan, con gái của nhà thơ.

Dưới đây xin giới thiệu với bạn đọc một số câu đối hay tòa soạn đã nhận được và bài viết của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn mà Người Sông Hương hy vọng rằng các bạn đã sẽ rất đồng tình với quyết định của Sông Hương.

NGƯỜI SÔNG HƯƠNG

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Kịch bản lỗi

 Ái Điểu

 

*MÀN MỘT

Em đĩ nhỏ lùa đàn bò qua cánh đồng cát lầy

tóc em vàng nắng cháy

màu  mặt trời xích đạo

không phải màu ánh đèn hộp đêm.

Bụi xương rồng đơn độc

có đủ bóng che phận đời em?

Thành phố, em đã bỏ lại

có phòng lạnh, nệm êm.

Liệu đời có bình yên

dưới mặt trời mù loà, đảo điên?

(Tiếng vang từ hậu đài: Có, có, có!

Có hạnh phúc, có tương lai)

Nghệ thuật và sáng tạo: hành trình nội tại của nghệ sĩ

 Nguyễn Man Nhiên

Diễn ngôn từ các bậc thầy

Nghĩ về nghệ thuật, người ta hay tưởng tượng đến những khoảnh khắc “bừng sáng” của thiên tài: một ý tưởng độc đáo xuất hiện bất ngờ, rồi tác phẩm hoàn thành như “phép màu”. Nhưng thực tế hoàn toàn khác.

Một bất ngờ của cha tôi

 (Hồi ức của con gái về người cha – nhà văn Kim Lân)

Nguyễn Thị Hiền

 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đất nước thống nhất. Do tôi làm báo nên ngay ngày 1 tháng 5 năm 1975 tôi lập tức lấy giấy đi công tác vào Sài Gòn. Tôi muốn tận mắt xem chế độ tư bản sống như thế nào. Tôi cũng muốn đi tìm em Đức của tôi. Em đi bộ đội và em đã cùng đoàn bộ đội tiến vào giải phóng Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử.

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

Phan Thanh Giản – bi kịch của lương tri và hành trình minh oan trong ký ức dân tộc

 Tô Văn Trường

Năm 1975, khi tôi vào Nam thăm mẹ sau 21 năm xa cách, con phố nơi mẹ sống vẫn mang tên Phan Thanh Giản; sau đó không lâu được đổi thành Điện Biên Phủ. Có lần một người bạn trẻ hỏi tôi vì sao tên phố lại thay đổi, nhưng khi ấy tôi chưa có đủ tư liệu để giải thích. Câu hỏi tưởng chừng đơn giản ấy lại mở ra một hành trình suy ngẫm về lịch sử, về cách hậu thế nhìn nhận quá khứ và về số phận của những nhân vật từng gây nhiều tranh luận.

Một tai nạn thương tâm

 James Joyce

Trịnh Y Thư dịch

Ông James Duffy cư ngụ ở Chapelizod[1] vì ông muốn sống càng xa càng tốt thành phố nơi ông là một công dân, và trong mắt ông, tất cả các vùng ngoại ô khác của Dublin đều chẳng dễ chịu, yên ả tí nào, trông nó mới mẻ một cách lố bịch, lại còn để lộ bộ mặt khoa trương một cách giả tạo. Phòng ông thuê nằm trong một ngôi nhà cũ kỹ, u ám. Từ cửa sổ phòng, ông có thể nhìn thấy khu nhà máy chưng cất rượu đã bỏ hoang từ lâu, hoặc phóng tia mắt ra xa về phía con sông cạn nước mà thành phố Dublin được xây dựng lên trên. Trên những bức tường cao của căn phòng không trải thảm, chẳng có tranh ảnh nào được treo. Ông tự mua sắm mọi đồ đạc trong phòng: một chiếc giường sắt màu đen, một bệ rửa mặt cũng bằng sắt, bốn chiếc ghế mây, một giá treo quần áo, một thùng đựng than, một tấm chắn và những thanh sắt cời lửa lò sưởi, một chiếc bàn vuông vức trên đó là bàn làm việc của ông. Mấy kệ gỗ trắng ăn vào hốc tường làm thành tủ sách. Giường ngủ được phủ bằng vải màu trắng, một tấm khăn hai màu đen đỏ phủ chân giường. Một chiếc gương nhỏ treo trên bệ rửa mặt. Ban ngày, một chiếc đèn chụp màu trắng đứng như món vật trang trí duy nhất trên bệ lò sưởi. Những cuốn sách trên kệ gỗ trắng được sắp xếp từ dưới lên trên theo khổ sách từ lớn đến nhỏ. Bộ Wordsworth Toàn tập[2] nằm ở một đầu kệ dưới cùng và một bản sao Sách giáo lý Maynooth, được khâu vào bìa vải một cuốn sổ tay, nằm ở đầu kệ trên cùng. Các vật dụng dùng để viết luôn ở trên bàn. Trong ngăn kéo bàn có một bản dịch ở dạng bản thảo vở kịch Michael Kramer của Hauptmann, những chú thích hướng dẫn dàn dựng sân khấu được viết bằng mực tím và một tập giấy nhỏ được ghim lại bằng một chiếc ghim bằng đồng. Trên những mảnh giấy rời này, lâu lâu một hàng chữ được biên xuống và, trong một khoảnh khắc trớ trêu, tiêu đề một quảng cáo cho Bile Beans được dán lên tờ đầu tiên. Khi nhấc nắp bàn lên, một mùi hương thoang thoảng tỏa ra – mùi của những cây bút chì làm bằng gỗ bách hương còn mới, hoặc mùi một lọ keo, một quả táo chín nẫu bị bỏ quên.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 13)

 Nguyễn Phương Mai

LỜI KẾT CHO LOẠT BÀI VỀ CUỘC CHIẾN TẠI UKRAINE

Cuộc chiến ở Ukraine chạm mốc 4 năm vào ngày 24-2-2026. Và suốt 9 tháng qua, từ khóa “Ukraine” trở thành trung tâm năng lượng trong cái vũ trụ nhỏ bé của tôi.

Lời kết này là một chút chia sẻ để độc giả hiểu hơn về bối cảnh phía sau những trang viết.

Hồ Anh Thái giữa hai bờ mới – cũ

 Minh Phúc

Liên tục có tác phẩm mới trong những năm qua, nhà văn Hồ Anh Thái tiếp tục cho thấy nội lực mạnh mẽ với cuốn tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân (Nhã Nam và NXB Hà Nội ấn hành 2026). Với cuốn sách này, ông cho thấy sự sáng tạo vượt trội trong cách viết và các chủ đề bản thân khai thác.

Hai câu chuyện về vị thầy tôi yêu kính

 Lê Học Lãnh Vân

Giáo sư Nguyễn Thanh Khuyến vừa thất lộc ngày 21 tháng 2 năm 2026 tại Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Thanh Khuyến và người em là thầy Nguyễn Xuân Nguyên là hai vị Thầy tôi rất thương yêu và kính trọng. Gia đình thầy Khuyến thầy Nguyên có mối thâm tình với gia đình tôi từ đời trước, và trong đời hai Thầy có tới mấy thành viên trong gia đình là bạn học, bạn thiết với anh chị tôi. Do đó, tôi biết khá nhiều chuyện về Thầy, chuyện nào cũng khiến tôi thêm lòng kính trọng. Tôi gọi thầy Khuyến là Thầy và gọi thầy Nguyên là anh.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 12)

 Nguyễn Phương Mai

DANH TÍNH – NỘI CHIẾN VĂN HÓA

Kỳ cuối cùng của loạt bài này tập trung vào vấn đề ngôn ngữ. Học giả Phạm Quỳnh từng nói: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”. Chính vì vậy, ngôn ngữ là thách thức gây chia rẽ lòng người lớn nhất trong cuộc CÁCH MẠNG DANH TÍNH ở Ukraine.

Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

Những hứa hẹn và hiểm họa của Hiệp định sông Mekong năm 1995 sau 30 năm

  

Phạm Phan Long, P.E.

Tháng Hai 2026

Giới thiệu: Ba mươi năm Thịnh vượng trong hiểm họa

Hiệp định Mekong năm 1995 là nền tảng của sự hợp tác cho Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam – qua đó các quốc gia thành viên long trọng hứa hẹn sẽ tôn trọng công bằng, không gây tổn hại cho nhau và cùng chung quản lý sông Mekong. Ủy hội sông Mekong, MRC là cơ quan được lập ra với nhiệm vụ quản lý, quan trắc kiểm soát dòng nước, chia sẻ dữ liệu, điều hợp tham vấn các dự án trên sông và bảo vệ sự lành mạnh cho lưu vực. Nhân dịp Lễ Kỷ Niệm 30 Năm ngày thành lập, tháng 11 năm 2025, MRC mô tả cho lưu vực một thành tích vẻ vang là đạt được: "Thịnh vượng chung“. Các quan chức MRC nhấn mạnh khả năng cảnh báo lũ lụt, nghiên cứu môi trường, lập quy hoạch phát triển, và cả những nhượng bộ (bất đắc dĩ) của Đối Tác Trung Quốc về việc chia sẻ dữ liệu dòng chảy của sông Lạn Thương, thượng nguồn sông Mekong trên Vân Nam.

Nói chuyện Ăn trong Đời sống, Tâm thức, và Ngôn ngữ Việt

 Bùi Vĩnh Phúc

Tranh của Bùi Xuân Phái (1920-1988)

.1.

Ăn uống, nói chung, là chuyện bình thường. Ta nhớ trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều viết “… Máy huyền vi mở đóng khôn lường! / Vẻ chi ăn uống sự thường / Cũng còn tiền định khá thương lọ là…” Như thế, ăn là một chuyện bình thường, như việc đi đứng, nói năng, hít thở. Nó là chuyện sống. Cho dù trong cuộc sống ấy, đôi khi ta vẫn được nhắc bảo là “Ăn để sống chứ không phải sống để ăn”. Cả Đông và Tây đều có những cái nhìn sâu sắc và ý nghĩa khi nói đến chuyện ăn uống này. Khái niệm “ăn” không chỉ nói đến hành động sinh tồn mà còn là một hiện tượng văn hóa, triết học và xã hội sâu sắc. Cách nhìn nhận về việc ăn uống khác biệt rõ rệt giữa phương Đông và phương Tây, phản ánh những giá trị cơ bản, cốt lõi của mỗi nền văn minh.

Dương Thu Hương: Mĩ học của sự không thỏa hiệp

 Tino Cao


Bài viết này tôi xin được kính tặng nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một trong số rất ít nhà báo có cơ hội trực tiếp chuyện trò cùng nhà văn Dương Thu Hương và đón nhận từ bà những chia sẻ hiếm hoi, chân thành về hành trình sáng tác và những khúc quanh nhiều thử thách trong đời viết văn của bà. Trong khi Dương Thu Hương luôn giữ sự tiết chế trước báo chí và công luận, gần như dè sẻn từng lời phát biểu, thì văn chương của bà lại dấn thân với một sức mạnh hiếm thấy, trở thành một trong những tiếng nói quyết liệt nhất cho tự do tư tưởng và phẩm giá con người. Vì vậy, bài viết này không chỉ là một thử nghiệm suy tư của tôi về văn chương của bà mà còn là lời tri ân dành cho cuộc đối thoại đã trao cho tôi một nguồn cảm hứng sâu sắc, nơi một người làm báo với hơn nửa thế kỉ trong nghề luôn biết lắng nghe để mang đến những phát hiện sắc sảo, và một nhà văn với gần năm thập niên cầm bút chọn để tác phẩm của mình phát ngôn thay cho những tuyên bố trực tiếp.


Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn Đinh Quang Anh Thái

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Câu đối Tết

 Hà Sĩ Phu

1- CẢM HỨNG TRƯỚC ĐI HA CỦA DÂN TC

Cuối năm con Rắn Ất Tỵ, Thiên tai bão lụt hòa với Nhân tai xả lũ, cuốn đi mấy nghìn sinh mạng, bao nhiêu làng mạc, cơ man nào là tài sản cùng gia súc gia cầm. Đại họa đã đến đúng lúc thời cuộc chính trị khẩn trương, các cán bộ cao cấp bị hút vào cuộc phân chia quyền lực trước Đại hội 14 của đảng, việc cấp cứu trước đại họa khiến dân phải tự lo cho nhau là chủ yếu.

Tìm hiểu tục thờ "Thổ công ông Táo"

 Hoàng Tuấn Phổ

Nước ta, nhà nào cũng thờ “Thổ công ông Táo”, nhưng ngoài quan niệm tín ngưỡng chung nhất, cách thức thờ cúng, nhiều nơi, thậm chí từng nhà cũng có những nét khác nhau, do cách hiểu “Hai ông một bà” chỉ theo cửa miệng nhân gian.

Hằng năm, đến khoảng giữa tháng chạp âm lịch, dân ta, nhà nào cũng mua tranh, tượng giấy, gọi tắt là “ông công” về thờ để thay tranh, tượng cũ, sẽ đốt đi vào chiều 23 tháng chạp. Tranh, tượng nào cũng theo công thức: Một bà ngồi giữa mũ áo chỉnh tề, hai ông ngồi hai bên cũng nghiêm trang áo mũ. Chân bà đi hài, chân ông đi hia, chỉ thiếu cái váy cho bà, cái quần cho ông! Người ta vẫn đặt câu hỏi: Tại sao? Nhưng không thấy ai trả lời! Thực ra, thời phong kiến, theo điển lệ ghi chép các đời chỉ thấy vua ban: Áo, mũ, đai, hốt, thẻ bài, hia... không hề có váy, quần hay cái xiêm phủ ngoài quần đối với đại thần. Có lẽ mấy thứ thông thường ấy các vị phải tự túc, tín chủ không cúng thì cũng chẳng sao đã có cái áo dài, rộng thùng thình che lấp kín...!

Việc thờ cúng nghiêm túc hóa thành “Hai ông một bà” mang vẻ hài hước, tuy hài hước mà vẫn nghiêm túc bởi đã là tục lệ dân gian truyền lại từ ngàn xưa chẳng ai dám bỏ. Nguyên nhân do hiểu sai ý nghĩa tục lệ từ một cổ tích dân gian.

Ngày xưa, chị vợ lấy anh chồng đôi bên đẹp duyên phải lứa. Người chồng nghe lời rủ rê của bạn bè, nay rượu chè, mai cờ bạc phải bán hết nhà cửa, ruộng nương. Hai vợ chồng đành chia tay mỗi người một ngả. Chị vợ đi lấy một anh chàng nghèo, tính tình hiền lành, siêng năng, thức khuya dậy sớm, hà tằn hà tiện. Nhờ vậy, hai vợ chồng làm ăn chẳng mấy chốc nên cửa nên nhà, có ruộng sâu trâu nái. Anh chồng cũ không còn gì để ăn chơi, đói quá đành bị gậy đi ăn mày, trước kiếm ăn xa, sau kiếm ăn gần. Cứ thế, đã qua mấy năm trời, anh không nhớ. Một hôm anh vào một gia đình cửa cao nhà rộng có vẻ giàu có, để xin ăn. Bà chủ nhà nghe tiếng nói quen quen, nhìn kỹ, nhận ra người chồng cũ. Bà lấy mấy bát gạo ra cho, cả quả cà muối và gói mắm. Ăn mày quen ngõ, ít bữa sau ăn hết gạo, người chồng cũ lại mò đến và người vợ xưa thương tình lại đem gạo ra cho. Rồi anh ta cũng nhận ra... ôm mặt khóc hu hu, bây giờ biết hối đã quá muộn!

Hôm ấy người chồng đi cày, bắt được con cầy hương, mừng quá tha trâu về sớm để làm thịt nó cho kịp bữa ăn trưa. Chị vợ sợ lộ, giấu anh ta trong đống rơm. Anh chồng lấy rơm đốt để thui cầy, chẳng may lửa cháy lan ra cả đống rơm. Người ăn mày sợ không dám chui ra. Đống rơm cháy bùng lên rất nhanh. Người vợ thấy anh chồng cũ đang quằn quại trong đống lửa cũng nhảy vào để cứu, nào ngờ bị cháy luôn. Người chống thấy vợ bị nạn lửa, không làm gì nổi, cũng nhảy luôn vào đống lửa, chết theo! Thế là chết cả ba mạng người và con cầy hương!

Trong đống lửa bùng bùng có mùi khói xạ hương thơm ngào ngạt bay xông lên tận thiên đình. Ngọc hoàng ngó xuống trần gian biết chuyện chết thê thảm, oan ức cũng thương tâm, cho ba người được làm thổ công ông bếp, soi xét công việc hay dở, thiện ác trong gia đình, đến ngày 23 tháng chạp lên trời tâu bày với Ngọc hoàng để ngài trị tội. Bởi thế, nhà nào cũng phải lập bàn thờ hai ông một bà... cúng vái chu đáo. Chiều 23 tháng chạp, lễ tiễn các vị lên thiên đình chầu Ngọc hoàng, lễ vật càng phải trọng thể, cúng cả ba con cá chép làm “ngựa” cưỡi để ba ngài nói toàn điều tốt cho chủ nhà. Lễ tục này rất trọng, nên người ta thường gọi “tết ông táo”, “tết ông công”.

Chung quanh lễ “tết ông Táo”, “tết ông Công” người ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi: 1. Các vị lên trời bao giờ mới trở về? 2. Trong thời gian các vị vắng mặt, ai ở nhà để giám sát mọi việc, bảo vệ đất đai cho gia chủ? 3. Các ngài sẽ trở về chỗ cũ hay Ngọc hoàng thay vị mới? 4. Ngày nào sẽ có các vị mới thay? 5. Có lễ tiễn, tại sao không có lễ đón? 6. Do sự tích gì, cá chép lại thành ngựa cưỡi của thổ công ông bếp?... Tục lệ từ dân gian mà ra tất nhiên câu hỏi, lời đáp cũng từ dân gian mà có.

Không có ngày đón “ông Công ông Táo” riêng. Các vị từ trên trời xuống hạ giới nhận nhiệm vụ mới vào đêm giao thừa. Còn thời gian các vị vắng mặt ở hạ giới từ chiều 23 đến chiều 30 thì không biết! Người này nói năm mới sẽ có thổ công ông bếp mới, người kia bảo vẫn hai ông một bà cũ, nếu họ ăn ở không bị Ngọc hoàng khiển trách. Phương tiện giao thông kỳ diệu của ba vị là cá chép thì lại mượn chuyện “cá chép hóa long”. Trời cho phép các loài cá thi nhảy, nếu loài cá nào bay nhảy cao qua được 9 bậc “Vũ môn” thì hóa rồng, chỉ có cá chép bay tài nhất nhưng chưa đủ 9 bậc, mới hóa được hai cái râu bị đuối sức rơi tõm xuống nước! Cá rô cũng hăng hái thi tài. Nó không bay, không nhảy được thì gằn ngược, nhưng ăn thua gì so với 9 bậc Vũ môn cao vòi vọi. Vì thế có câu ca chế giễu:

Năm nay mưa gió dồi dào

Cá rô rạch ngược lên đầu Vũ môn!

Nói về tín ngưỡng dân gian rất phức tạp, càng đi sâu vào các vùng miền càng thấy vô cùng phong phú. Quan niệm “đất có Thổ công, sông có Hà bá” xưa nay ở đâu cũng lập bàn thờ, đắp nền, đặt bát hương. Nhân dân miền Bắc phổ biến cách thờ thổ công ông táo chỉ cần cái bàn nhỏ nhưng phải treo cao, vừa tỏ ý tôn kính vừa gọn gàng. Nhưng treo bàn thấp không đẹp, treo cao quá dễ bị ngã. Nhà văn hóa tài năng họ Trần quê Nam Định, ngụ Hà Nội, bắc ghế đứng thắp hương bàn “ông công”, chẳng may bị ngã què chân! Đừng oán thổ công ông bếp. Hãy kiến thiết lại bàn thờ cho vừa tầm. Gần đây, một số người Thanh Hóa đi làm ăn xa (miền Nam) về lập bát hương ở góc nhà. Họ thờ ai? Không ai biết! Hoặc người này nói thờ thần tài, người kia bảo thờ ông địa. Đã thờ “ông Địa”, “ông Tài” (Tài, Lộc) thôi không thờ “thổ công ông bếp”, vì “thổ” là đất, đất là địa mà bếp cũng nặn từ đất, tất cả đều ở đất, do đất, thì phải thờ dưới đất. Cái lô-gíc dân gian ấy cũng có lý. Còn thần tài, thì tài hay lộc đều cũng sinh ra từ đất, do đất cả! Có người giải thích với tôi như vậy. Đa số do bắt chước nhau mà thờ!

Nhìn chung lĩnh vực tín ngưỡng dân gian đã nói là khá rắc rối, phức tạp. Riêng việc thờ thần linh ở góc xó nhà dưới nền đất hay nền lát, khó chấp nhận, vì đi lại bụi bặm, quét lau trở ngại, mất sự tôn kính và vệ sinh tối thiểu. Phong tục người Việt, ban thờ thổ công ông táo tuy nhỏ nhưng phải treo cao, còn cao hơn cả ban thờ gia tiên, chứng tỏ vị trí quan trọng của ba vị, nhất là Táo quân.

Táo quân, Thổ công, Long mạch là ba vị thần trong gia đình mỗi nhà, mỗi vị phụ trách một việc: Bếp lửa, đất cát, long mạch. Tam vị hợp nhất, cùng thờ chung một chỗ, bởi ba việc do 3 vị phụ trách. Ba việc khác nhau nhưng đều có quan hệ với nhau trong một gia đình: Bếp núc, thổ cư, long mạch. Long mạch là mạch nước ngầm chảy dưới mặt đất. Đất ta ở phải có mạch nước ngầm cây cối mới tươi tốt, nhà cửa mới mát mẻ. Long mạch nói ở đây là thủy mạch không phải sơn mạch, cũng không phải địa mạch của địa lý phong thủy.

“Hai ông một bà” theo cách hiểu của dân gian có hàm ý hài hước, mặc dù theo tục lệ, họ rất được tôn kính, thờ cúng chu đáo.

Thời nay, người ta khấn vái linh tinh, quên cả bài văn khấn, tuyệt nhiên không có chuyện cổ tích dân gian thế sự đáng thương của hai người chồng và một người vợ, cũng như chuyện cưỡi cá chép lên thiên đình.

Tôn hiệu ba vị thần ấy là gì? Là “Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân”, “Thổ công”, “Long mạch”. Ba vị này tôn hiệu Táo quân dài nhất đứng thứ nhất, Thổ công thứ hai, Long mạch thứ ba.

Quy định một ngôi nhà ở, nhà bếp phải đặt phía Đông (Đông trù) để thần hướng về mặt trời lặn mọc. Nơi đó là tòa phủ riêng của thần (Táo phủ) được tôn gọi là “vua Bếp” (Táo phủ thần quân). Vai trò tối ư quan trọng của thần bếp có nguồn gốc do tục thờ thần lửa từ thượng cổ, nếu không phải từ tối cổ. Vấn đề phát minh ra LỬA vô cùng quan trọng, nó là nguồn gốc của văn minh. Do đó, vai trò người giữ lửa cũng vô cùng quan trọng. Đánh mất lửa là đánh mất mạng sống. Nhân vật Viếng Ku linh trong sử thi Đẻ đất đẻ nước đánh mất lửa bị Nhà Lang bắt phải chết hóa làm con bọ hung. Gần đây người Việt còn có tục đêm ba mươi tết phải giữ lửa để sáng mùng một không được xin lửa và dẫu có xin lửa hàng xóm cũng không ai cho, vì cho lửa sẽ bị mất vận đỏ, vận may. Tháng một, chạp nhà nào cũng lấy đất sét nhào luyện với một ít trấu pha lẫn chút tro bếp nặn ba ông núc đội nồi, nặn cả một ông ne để đè tro than giữ lửa. Sau thời gian phơi nắng, ông núc, ông ne khô xếp cất vào trong góc nhà, đến 23 tháng chạp đem ra thay ông núc, ông ne mới, còn hai ông cũ đem bỏ ngoài bụi tre.

Ngày 23 tháng chạp, ngày tết ông Táo, tiễn ông Táo cũ, đón ông Táo mới, nên phải thay ông núc mới. Ông Táo cũ về trời để Ngọc hoàng sai đi nơi khác, cho ông Táo mới xuống thay. Tết ông Táo là tết tiễn Táo cũ, đón Táo mới, các thần đi mây về gió, không cần cá chép làm ngựa, vì chuyện cá chép vượt Vũ môn có vượt nổi đâu, dĩ nhiên nó không thể hóa rồng để bay lên trời.

Trước kia, người ta vẽ tranh 3 con cá chép dưới chân ba vị thổ công, ông bếp. Ngày nay, người ta cúng cá chép thật, có con chỉ to bằng ngón tay cái, lẫn cả cá giếc. Cá chép thật có năm giá đắt quá không mua được, vì hiếm hoi phải thay bằng cá vàng, không biết các ngài có cưỡi nổi hay đành cuốc bộ vậy! Chuyện tín ngưỡng nghiêm túc hóa ra hài hước, chữ tục đi liền chữ lệ, cái lệ hóa thành cái tệ!

HTP. Tết Tân Sửu (2021)

---------

Ghi chú của Hoàng Tuấn Công:

Bài đã đăng mục “Văn hoá - giải trí”, báo Thanh Hoá, 01/02/2021. Đây là bài Tết cuối cùng của Tiên nghiêm tôi.

René Magritte và triết học của cái phi lý (2)

 Nguyễn Man Nhiên

 

Bản chất của sự Đồng nhất và Che giấu

 

Magritte nhiều lần trở lại với hình ảnh người đàn ông đội mũ quả dưa (bowler hat) như một ẩn dụ cô đọng cho con người hiện đại – đặc biệt là con người trong xã hội tư sản, nơi cá nhân vừa hiện diện như một chủ thể tự do, vừa bị hòa tan trong những chuẩn mực vô hình của đời sống tập thể. Trong tác phẩm Golconde (1953), vô số người đàn ông ăn mặc giống hệt nhau lơ lửng giữa không trung, rải khắp không gian đô thị. Tính chất siêu thực của bức tranh không nằm ở sự biến dạng hình thể hay cảnh tượng kỳ dị, mà ở chính sự lặp lại rợn ngợp của cái bình thường: mỗi nhân vật đều rõ ràng, cụ thể, nhưng tổng thể lại khước từ mọi dấu hiệu của cá tính hay khác biệt. Sự đồng nhất hóa ở đây không phải là một tai nạn, mà là một trạng thái tồn tại.

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

“Quốc mẫu”?

 Thái Hạo

Vì thấy tấm ảnh dưới đây hôm nay được dân tình chia sẻ tràn ngập mạng xã hội, tôi dứt khoát không tin là ảnh thật (làm sao có thể tin nổi?!), nên cách đây 1 giờ đã lên bài cảnh báo bạn bè. Nhưng sau đó, bên dưới bình luận, do được nhiều người cung cấp nguồn ảnh, tôi mới biết là mình lạc hậu quá! Ảnh thật 100%, và sự kiện này cũng thật 100%.

Bình tâm lại, tôi viết xuống đây vài dòng, với nội dung khẳng định: không thể gọi mẹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “quốc mẫu”. Vì sao?

Để “đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp”, cần một nền kinh tế đủ sức hấp thu

Lê Học Lãnh Vân

Tiến sĩ thông thường là nhà nghiên cứu, và kèm theo đó, thầy giảng dạy. Là nhà nghiên cứu, người tiến sĩ có thể đi làm cho công ty sản xuất hoặc, nếu có đầu óc kinh doanh, có thể mở doanh nghiệp. Chú ý rằng một tiến sĩ có thể có kiến thức khoa học chuyên ngành cao nhưng chưa chắc nghiên cứu ứng dụng sản xuất giỏi hơn các nhà khoa học có bằng cấp thấp hơn!

René Magritte và triết học của cái phi lý (1)

 Nguyễn Man Nhiên

 

Khám phá chiều sâu triết học và mỹ học trong thế giới hội họa đầy nghịch lý của René Magritte (1898–1967), họa sĩ người Bỉ và là một trong những nhân vật trung tâm của Chủ nghĩa Siêu thực (Surrealism). Tuy gắn bó về mặt lịch sử với phong trào này, Magritte đồng thời cũng là một trường hợp đặc biệt: ông không chỉ mở rộng biên giới của hội họa, mà còn sử dụng hình ảnh như một phương tiện tư duy, nhằm chất vấn những giả định nền tảng về tri giác, ngôn ngữ và thực tại.

Hauntology và vấn đề “bóng ma” trong "Spectres de Marx" theo Colin Davis

 Tino Cao

Năm 1993, khi Jacques Derrida công bố Spectres de Marx, bối cảnh trí thức châu Âu vừa trải qua cú sốc của năm 1989. Bức tường Berlin sụp đổ, Liên Xô tan rã, và luận đề “kết thúc lịch sử” của Francis Fukuyama được lặp lại như một chân lí của thời đại. Chủ nghĩa Marx bị tuyên bố là đã chết, đã bị lịch sử vượt qua, đã trở thành một di tích của thế kỉ 19. Chính trong bầu không khí ấy, Derrida mở đầu cuốn sách của mình bằng việc trở lại với câu nổi tiếng của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản: “Un spectre hante l’Europe: le spectre du communisme”, được Karl Marx và Friedrich Engels viết vào cuối năm 1847 và được xuất bản lần đầu, tháng 2 năm 1848, tại London. Nhưng thay vì xem câu này như một khẩu hiệu cách mạng, ông nhìn nó như một cấu trúc thời gian. “Bóng ma” ở đây không phải là linh hồn người chết mà là một hình thức tồn tại lạ lùng của cái đã qua nhưng vẫn chưa qua, của cái chưa tới nhưng đã tác động. Từ đó, Derrida đề xuất một thuật ngữ gây nhiều tranh luận: hauntology, một cách chơi chữ với ontology, nhằm chỉ một kiểu bản thể học bị ám.

Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

"Xuyên qua mọi chiến tuyến" – khi lịch sử trở thành văn chương đương đại

 Bảo Chân

Có những cuốn sách chúng ta đọc để giải trí, nhưng có những cuốn sách khi đọc xong, chúng ta phải định nghĩa lại những gì mình từng biết. Xuyên qua mọi chiến tuyến của Nguyễn Xuân Thọ chính là cuốn sách như thế bởi lẽ, nó xuất hiện như một nhắc nhớ, giản dị nhưng khiến lay động người đọc vốn lâu nay vẫn thường đọc lịch sử đóng khung trong những diễn ngôn chính thống, những văn bản tường thuật khô khan hoặc những huyền thoại tập thể. Ở đây, lịch sử, trước hết, là câu chuyện của những con người cụ thể.

Phá Tam Giang, nơi hẹn với tử thần

 Liễu Trương

Thi ca miền Nam thời 54-75 đã hình thành trong một bối cảnh lịch sử mới, với một tâm thức mới, và đã trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Có cả một khoảng cách lớn lao giữa Thơ Mới thời tiền chiến và thơ miền Nam, nhân sinh quan, cách nhìn thế giới, cách nhìn tương lai của hai thời kỳ hoàn toàn khác hẳn nhau. Về tình yêu chẳng hạn, tình yêu trong Thơ Mới là thứ tình yêu ngây thơ, lãng mạn, vô tư, tình yêu trong thơ miền Nam là thứ tình yêu rắn rỏi, biết rõ thân phận mình và tự biết mình ngắn hạn trước lịch sử, trước cái chết. Cho nên thi ca miền Nam một mặt rời bỏ cái quá khứ quá yên bình, thiếu trưởng thành, mặt khác phản kháng chiến tranh gieo bao hiểm họa, đau thương. Đó là về nội dung, về hình thức thi ca miền Nam tuy còn duy trì phần nào các thể thơ truyền thống, nhưng đã hiển nhiên nghiêng về thơ tự do và thơ văn xuôi.

"Nơi trăng không hắt bóng" là một thế giới người tù khác lạ

 FB Sương Nguyệt Minh

“Không phải ai bị giam cũng có tội, và không phải ai mặc sắc phục cũng thực thi công lý”. Là tội phạm bị giam dữ, cải tạo nhưng họ lặng lẽ, âm thầm nghĩ ngợi và rất ít khi nói bằng lời. Ngôn ngữ tục tằn, thô lỗ, “hổ báo” tranh giành sát phạt vắng thiếu trong tác phẩm này. Nhiều tình huống bất ngờ xót xa gây sang chấn và dư âm buồn thương kéo dài cho bạn đọc.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 11)

 Nguyn Phương Mai

"LÃNH THỔ", "SINH MẠNG", HAY "VĂN HÓA"?

Thời gian đầu ở Ukraine, bộ câu hỏi phỏng vấn của tôi luôn có đoạn: “Lãnh thổ hay sinh mạng quan trọng hơn?”

Càng ở lâu, tôi càng hiểu đó vẫn là một câu hỏi đúng, nhưng thiếu.

Thơ Ngô Nguyên Dũng

 

Ngũ Ngôn Ngô Nguyên Dũng

 

Tranh Đỗ Quang Em

1.

lần cuối

 

tôi ôm tôi dậy muộn

điểm tâm với bóng mình

vụn bánh mì luống cuống

bàn ghế những lặng thinh

 

            nỗi gì như gợi nhớ

            thuở mười tám ra đi

            mồ hôi trên lưng áo

            mưa ngơ ngác dậy thì

 

tôi gọi tôi khản tiếng

người đi biền biệt xa

lời trong đêm lặng gió

sao rụng đốm mắt lòa

 

            tôi treo tôi lên vách ([1])

            thời gian vết sẹo buồn

            tôi hỏi người có nhớ

            chỗ tôi giấu vết thương

 

tôi hư cấu ngôn ngữ

không chấm phẩy xuống hàng

đợi nắng lên phơi chữ

chim nhặt sạch nghìn trang

 

            tôi nhìn tôi lần cuối…

 

2.

chốn cũ

 

lâu rồi không nhớ mặt

một lặng lẽ một tôi

chừng mười năm không gặp

hương tóc mưa rã rời

 

            hoa úa tàn bên cửa

            lá phủ kín sân ngoài

            chim quên về lần nữa

            nắng cũng biết thở dài

 

cửa một lần khép lại

người ngoảnh mặt biệt tăm

hoàng hôn ai khóa trái

chăn gối nhớ chỗ nằm

 

3.

mộ sách

 

tôi gấp sách lên kệ

thắp ngọn gáy sách buồn

thác sau nhà Võ Phiến ([2])

vẫn âm ỉ tang thương

 

            còn đó mùa biển động ([3])

            ngựa đã nản chân bon ([4])

            trường thiên Nguyễn Mộng Giác

            mộ sách giấc mưa tuôn

 

đi trong nghĩa trang sách

không thấy miếu lẫn đền ([5])

những trang chữ nhàu rách

nằm đó mỗi cái tên

 

(01.2026)

 

([1]) Cảm ý "Tôi Nhìn Tôi Trên Vách" - Tiểu thuyết của cố văn sĩ Túy Hồng.

([2]) Cảm ý "Thác Đổ Sau Nhà" - Truyện ngắn của cố văn sĩ Võ Phiến.

([3])"Mùa Biển Động" - Trường thiên tiểu thuyết của cố văn sĩ Nguyễn Mộng Giác.

([4]) Cảm ý "Ngựa Nản Chân Bon" - Truyện ngắn của cố văn sĩ Nguyễn Mộng Giác.

([5]) Cảm ý "Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền" - Tập thơ của cố văn sĩ Mai Thảo.