Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Để kỷ niệm 100 năm sinh Bùi Giáng (1926 – 2026) & 205 năm sinh Baudelaire (1821 2026) (1)

Bùi Vĩnh Phúc

Bùi Giáng qua nét vẽ Đinh Cường.

.1.

Công phu và đóng góp của Bùi Giáng hiển lộ trên cả ba mặt: thơ ca, triết lý và dịch thuật. Nhưng, có lẽ, người đọc thường nhìn thấy “thể tính” của Bùi Giáng, rõ nhất, trong thơ.

Nhưng, trước khi nói về thơ, có lẽ ta phải công nhận rằng, Bùi Giáng đã tung hoành ở nhiều lĩnh vực khác nữa, như dịch thuật, triết lý, biên soạn sách giáo khoa, bình luận văn học, v.v.. Và ở lĩnh vực nào, ông cũng có những đóng góp tốt đẹp. Dù sao, nếu cần phải đánh giá một cách kỹ tính, ta có thể nhận thấy là ở giai đoạn thập niên ’50 và (có lẽ) đến giữa thập niên ’60, chữ nghĩa Bùi Giáng có nhiều phần thiết tha, nghiêm cẩn hơn giai đoạn sau đó (cho dù lúc nào thì ta cũng có thể thấy ở ông môt phong cách rất khác người: trong lối suy nghĩ, diễn ý, và trong cách thế hành từ, sử dụng ngôn ngữ nói chung). Khuôn mặt tinh thần của Bùi Giáng trong giai đoạn ’50 – ’60 vừa nói, với sức khoẻ thể lý và tinh thần của tác giả còn tương đối sung mãn, cũng cho thấy nhiều nét tài tuấn hơn.

Bàn về thơ văn của Bùi Giáng, dĩ nhiên là có thể có nhiều giác độ khác nhau, nhiều cảm thụ khác biệt. Trong quan điểm riêng, tôi nghĩ không nên xé lẻ từng bài thơ, từng câu thơ của ông ra mà xét định, bình giá là dở hay hay. Đặc biệt để phán xét một cách tiêu cực. Tôi nhìn cõi thơ của Bùi Giáng, nói riêng, và cả những công trình, những đóng góp khác của ông, nói chung, là một khu rừng nguyên sinh, mà chính sự rậm rạp, tràn lan, phong nhiêu và chằng chéo của nó, trong cả những nét tích cực và tiêu cực, đã làm nên cái phong cách độc đáo, có một không hai của ông. Trong cái nhìn của tôi, nếu chúng ta cắt bỏ đi những cành cây rậm rạp, những dây leo bò tràn lan trên mặt đất, những tàng lá rậm rịt trên cao, vốn làm nên cái quang cảnh phong nhiêu rậm rạp kỳ bí của khu rừng nguyên sinh ấy, nghĩa là nếu chúng ta thử (hoặc cố gắng) làm cho nó trở nên phong quang để… gió và ánh ngày có thể chiếu sáng, bay lượn một cách đẹp tươi trong đó, khu rừng ấy sẽ mất đi cái sức hút mang tính “huyền bí và ma quái” của nó.

Đọc Bùi Giáng, nhất là đọc thơ Bùi Giáng, tôi nghĩ, là phải đọc trong cái tâm thức toàn thể và “xuyên suốt” này. Có lẽ cứ nên để cái phong nhiêu, kỳ bí, tràn lan kia lan toả trong tâm thức ta khi đi vào “cuộc chữ” của ông. Hãy cứ để cái phong khí “nguyên sinh” của khu rừng mịt mùng ánh lục kia phong toả lấy ta. Và cảm nhận toàn vẹn sự trình hiện ấy của con người nhà thơ. Cho dù ta tiếp cận ông từ bất cứ mặt cắt nào của khối đá đen, đầy rêu phong ẩm ướt, và đầy những lồi lõm và méo mó này. Trong thơ, trong văn. Hay trong dịch thuật, sáng tác.

Hãy cứ để ông được . Được ông như thế. Đừng bắt ông phải là. Thế này hay thế khác. Hãy cứ để ông được “thì”. Như trong câu “Thơ văn của Bùi Giáng thì rậm rạp, quái dị.”. “Thì”, như “Bầu trời thì xanh” (“Der Himmel ist blau”), theo lối đặt vấn đề một cách đầy tính triết học, mang hướng truy vấn bản thể luận qua con đường hiện tượng luận của Martin Heidegger, để nhìn lại tận mặt “hữu thể”. Và nhìn như Heidegger thì: Ist (Is, tiếng Anh; Là, Thì, tiếng Việt) [trong câu “Der Himmel ist blau”] chính là Sein (Being, trong tiếng Anh; Hữu Thể, Tồn Thể, Vĩnh Thể, Tồn Tại, trong tiếng Việt). Hay, thích đáng hơn, hãy để Sein kết hợp với Da (ở đó). Ở ngay trong đời. Dasein. Hiện Thể (Hữu-thể-tại-thế/Tại-hữu). Bùi Giáng là ông chính ở cái sự Dasein, Hiện Thể đó. Hãy cứ để Bùi Giáng như thế với khuôn mặt lồi lõm, méo mó, rêu phong của ông. Đừng cố gắng làm hay đòi hỏi nó phải phẳng phiu, cân đối, phong quang, sáng sủa như ta muốn.

“Bầu trời”, tự nó, đồng nghĩa với “xanh”. Bản chất của nó “xanh”. Như Bùi Giáng chính ông. Hiện hữu. Lồi lõm. Méo mó. Rêu phong. Quái dị. Rậm rạp. Tràn lan. Kỳ bí. Đó là bản chất của Bùi Giáng. Như cách thế ông đã sống, đã viết, đã là, và đã tồn tại ở đời.

Hãy cứ thử để những con chữ, những ý tưởng của nhà thơ bay múa trong ta, dù ta đến với ông qua những trang văn hay những dòng thơ. Hãy đừng mặc định một thể thức mà ta nghĩ là nên có trong sự diễn tả của Bùi Giáng. Hãy trì ngự trong “cuộc chữ” đó. Và mỉm cười. Và thán phục. Ở những chỗ ta thấy đó đúng là cảm nhận của mình.

Hãy đi vào và giáp mặt với khu rừng nguyên sinh đầy ánh lục kia.

Và hãy chạm tay vào cái khối đá đen đầy rêu phong, lồi lõm, hoang quái nọ.

Rồi hãy thử

“nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không”.

.2.

Trước khi bàn tiếp về Bùi Giáng và tài hoa của ông, đặc biệt trong lĩnh vực dịch, riêng trong bài này là chuyện dịch thơ, ta hãy thử tìm hiểu một bài thơ nổi tiếng của Baudelaire. Vì đây là bài thơ đặc biệt, nói lên một khía cạnh về tinh thần “phản kháng” của Baudelaire trước cuộc sống nói chung, và trong lĩnh vực văn học nói riêng. Và cũng vì Bùi Giáng đã dịch nó, rồi trang trọng đặt bài thơ dịch ở đầu sách “Con Người Phản Kháng” (dịch tác phẩm “L’Homme Révolté” của Albert Camus) của mình (nhà xuất bản Võ Tánh, 1968). [1]

Charles Baudelaire. Bản vẽ của Henri Matisse cho sách Poésies của Stephen Mallarmé

Charles Baudelaire qua nét vẽ của Gustave Courbet, c. 1848–49

Bài thơ của Baudelaire nói ở đây là bài “La Géante” (“Người nữ khổng lồ”), một trong sáu bài thơ trong tập Les Fleurs du Mal” (Hoa Ác / Hoa Khổ Đau) vốn bị kiểm duyệt trong lần in đầu tiên vào năm 1857. Qua thời gian, “Les Fleurs du Mal” càng ngày càng được người Pháp nói riêng, và thế giới văn học toàn cầu nói chung, vinh danh và đọc đi đọc lại. Chủ đề chính trong đa số các tác phẩm của Baudelaire là sự sầu u, chán nản (Spleen); thế nhưng tuyên bố nổi tiếng của Baudelaire, nhấn mạnh và đề cao sự hoà hợp của các cảm giác, qua bài thơ “Correspondances” (Giao Ứng), viết theo thể sonnet, in trong tập “Les Fleurs du Mal”, trong cái nhìn của riêng tôi, đã tạo nên danh tiếng của Baudelaire, ảnh hưởng đến nhận thức và cảm quan của giới thưởng ngoạn, đặc biệt những người cầm bút. [2] Hãy để tâm hồn và trái tim của những kẻ ở trọ chốn trần gian này rung động và bay múa theo những đường nét của âm thanh, hương vị và màu sắc của đời sống, qua cảm nhận của ông:

[…] Màu sắc, hương thơm cùng âm thanh khẽ giao hòa.

Có hương thơm mát lành tựa da thịt trẻ thơ,
Dịu ngọt tựa tiếng kèn, xanh rờn như đồng nội,
Và có hương nồng nàn, suy đồi nhưng mời gọi,

Mang sức mạnh lan tràn của vạn vật vô biên,
Như hổ phách, xạ hương, nhựa thơm và trầm hương,
Hát khúc ca ngất ngây của thể xác, tâm hồn.

Với hương thơm, màu sắc và âm thanh, ánh sáng của trần gian ấy, Baudelaire, cũng như Apollinaire, là một trong những nhà thơ được người đọc và giới văn học Pháp đặc biệt yêu mến. Cho dù sự yêu mến ấy, đối với cả hai, hướng đến những tình cảm và phong cách khác nhau của hai nhà thơ.

Năm 1911, sáu bài thơ bị cắt bỏ trong tập “Les Fleurs du Mal” từ những lần in bắt đầu từ năm 1857 được tái thẩm định. Và khôi phục lại. Và vào năm 2007, khi nước Pháp kỷ niệm 150 năm in “Les Fleurs du Mal”, một ấn bản của tập thơ đã được đấu giá và bán với giá kỷ lục, 603.000 euro, một cái giá cao nhất, ít nhất là cho đến thời điểm đó, cho một tập thơ. Cuốn sách có chữ ký đề tặng của chính Baudelaire dành cho hoạ sĩ Eugène Delacroix.

Nói về Baudelaire và vị thế văn học của ông, Paul Valéry đã viết trong "La Situation de Baudelaire" (1924), ngay ở phần mở đầu: “Cuốn sách nhỏ Les Fleurs du Mal, chưa đến ba trăm trang, có vị thế quan trọng hơn cả những tác phẩm lẫy lừng và đồ sộ nhất trong văn chương. Nó đã được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ ở châu Âu […]. … [V]ới Baudelaire, thơ Pháp đã vượt xa biên giới [nước Pháp]. Nó được đọc trên khắp thế giới; nó được nhìn nhận là thứ thơ đặc trưng của Hiện đại; nó làm người ta muốn bắt chước…”

Đúng là như thế. Phong cách, sự rung động trước cuộc sống và nghệ thuật, cũng như thi pháp trong thơ Baudelaire đã mở đường cho thơ hiện đại thế giới. Ở Việt Nam, nhìn một cách chung, ta có thể thấy, vào thời Thơ Mới, ít nhất là các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Bích Khê, Hàn Mặc Tử – và cả Đinh Hùng sau này nữa – cũng, trong một góc cạnh nào đó, đều đã đón nhận ảnh hưởng của Baudelaire. Dĩ nhiên, với những mức độ và sắc độ khác nhau, kết hợp với phong cách và tài năng riêng của mỗi người.

Bây giờ, hãy nói về bài thơ “La Géante”.

Đó là một bài sonnet gồm 14 câu, mỗi câu 12 chân (pied), gọi giản dị là 12 âm tiết. Bài thơ được chia làm 4 khổ: hai khổ đầu mỗi khổ 4 câu; hai khổ sau mỗi khổ 3 câu. Tổng cộng là 168 âm tiết. Bài thơ “Correspondances” (Giao Ứng) mà ta đã nhắc cũng được viết theo thể sonnet này.

Bài thơ ấy nguyên văn như sau:

La Géante (trích từ tập Les Fleurs du mal, bài số XIX)

Du temps que la Nature en sa verve puissante
Concevait chaque jour des enfants monstrueux,
J’eusse aimé vivre auprès d’une jeune géante,
Comme aux pieds d’une reine un chat voluptueux.
J’eusse aimé voir son corps fleurir avec son âme
Et grandir librement dans ses terribles jeux ;
Deviner si son cœur couve une sombre flamme
Aux humides brouillards qui nagent dans ses yeux ;
Parcourir à loisir ses magnifiques formes ;
Ramper sur le versant de ses genoux énormes,
Et parfois en été, quand les soleils malsains,
Lasse, la font s’étendre à travers la campagne,
Dormir nonchalamment à l’ombre de ses seins,
Comme un hameau paisible au pied d’une montagne.

Tạm dịch xuôi ra tiếng Việt là:

Người nữ khổng lồ

Vào thời kỳ mà Thiên Nhiên, trong niềm khát khao mãnh liệt của mình,
Mỗi ngày đều mang thai và sinh ra những đứa con quái dị,
Tôi đã ước được sống bên cạnh một người nữ khổng lồ trẻ tuổi,
Như một con mèo dâm dật nằm dưới chân một nữ hoàng.
Tôi đã ước được ngắm nhìn cơ thể cùng tâm hồn nàng nảy nở
Và lớn lên một cách tự do trong những trò chơi dữ dội
[Tôi đã ước được] đoán xem liệu trái tim nàng có đang ấp ủ một đốm lửa u tối nào chăng
Qua những làn hơi sương ẩm ướt đang bơi trong mắt nàng;
[Tôi đã ước được] thong thả dạo bước khắp những đường nét thân thể tuyệt mỹ của nàng
Bò trườn trên sườn dốc của đôi đầu gối khổng lồ;
Và đôi khi vào mùa hè, khi những ánh mặt trời độc hại
Khiến nàng mệt mỏi nằm dài ra khắp cánh đồng,
[Tôi sẽ] thảnh thơi thơi ngủ dưới bóng râm từ bầu ngực nàng
Như một ngôi làng bình yên nằm dưới chân một ngọn núi.

Nhìn trên bề mặt cạn cợt, bài thơ này cho thấy một “mơ mộng hoang dại”, phần nào có vẻ không bình thường, cái ước mơ của một con người có lẽ có tâm hồn thơ mộng nhưng pha với một nét libido có phần ẩn ức về mặt dục tính. Đó là một bài tụng ca dành cho một người phụ nữ có vóc dáng to lớn, người vừa được nhà thơ ngưỡng mộ vừa khiến ông sợ hãi. Nhìn sâu hơn một chút, ta có thể nhìn ra các chủ đề chính của bài thơ. Trước hết, đó là sự vĩ đại của người phụ nữ. Baudelaire miêu tả người phụ nữ này như một người nữ khổng lồ, với một hình tượng uy nghi chiếm ngự và thống trị cả cảnh quan. Nhà thơ sử dụng các hình ảnh của thiên nhiên để nhấn mạnh kích thước và sức mạnh của nàng. Sau đó là sự ngưỡng mộ và nỗi choáng sợ. Nhà thơ vừa bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với người phụ nữ, vừa thể hiện nỗi choáng sợ trước sự vĩ đại của nàng. Ông bị thu hút nhưng cũng bị choáng ngợp bởi nàng. Và, chủ đề cuối cùng, đó là nỗi hoài niệm tuổi thơ. Baudelaire gợi nhớ về tuổi thơ như một giai đoạn của sự an toàn và thoải mái. Người nữ khổng lồ đại diện cho hình bóng một người mẹ, gợi nhà thơ nhớ về thời thơ ấu của mình.

Nhìn ở mức sâu hơn nữa, ta thấy Baudelaire đã nhắc đến Tự nhiên, với hình ảnh được nhân hoá và mô tả là đầy quyền năng và sáng tạo. Tự nhiên, ở đây, được xem như một người nữ, một người mẹ sinh ra những đứa con phi thường. Ông khao khát được sống bên cạnh người mẹ thiên nhiên khổng lồ ấy và tự ví mình như một chú mèo nằm nghỉ ngơi dưới chân “nữ hoàng”. Hình ảnh đó gợi lên một mối quan hệ phụ thuộc và đầy cảm giác dễ chịu và hạnh phúc. Và, thơ mộng hơn, ông xem mình như hình ảnh một ngôi làng bình yên nằm dưới chân ngọn núi. Ngọn núi này lại là một hình ảnh đáng yêu mang tính biểu tượng của một vài đường nét, thân thể người nữ khổng lồ.

"La Géante", như thế, là một bài thơ khám phá các chủ đề về sự vĩ đại, sự ngưỡng mộ, nỗi choáng ngợp và niềm hoài nhớ. Baudelaire đã sử dụng những hình ảnh mạnh mẽ và các phép ẩn dụ, so sánh để miêu tả người phụ nữ khổng lồ cũng như những cảm xúc của ông dành cho nàng. Bài thơ vừa là một sự ca ngợi người phụ nữ, vừa là một sự khám phá tính chất phức tạp trong thế giới cảm xúc của nhà thơ.

Nhìn ở một góc cạnh khác, chênh đi một chút, và đào sâu vào ý tứ, nội dung sâu sắc của bài thơ hơn, ta có thể nhìn thấy bài thơ như một bức thư tình gửi đến hành động sáng tạo. Đây không phải là “tình thư một bức phong còn kín / Gió nơi đâu gượng mở xem”, như Nguyễn Trãi đã viết trong bài thơ “Ba tiêu”/”Cây chuối”. [3] Baudelaire không mang cái tâm hồn phương Đông, nhẹ nhàng, ẩn kín như phong cách của Nguyễn Trãi. Ông nhìn thẳng vào Thiên nhiên, hạnh phúc được sống bên cạnh và hoà mình vào cái thiên nhiên ấy. Và Thiên nhiên này là Hành động sáng tạo. Cái quyền lực tối cao của Thiên nhiên, hay hành động sáng tạo, ở đây, tuy không nhất thiết phải mang một nội hàm tôn giáo, nhưng, nếu muốn, người ta vẫn có thể tìm thấy nó trong bối cảnh ấy. Cái quyền lực tối cao này chủ yếu được thể hiện qua kích thước vật lý, qua chiều kích của không gian. Bài thơ cho thấy hình ảnh của ngôn từ, như một thân cây rậm rạp, xanh tươi, mơn mởn và đầy cành lá, hoa trái, tưng bừng nở rộ, phát triển. Cái ngôn ngữ ấy nhấn mạnh vào vẻ đẹp của sự sáng tạo những cái mới. Dù sao, Thiên nhiên, hay Tự nhiên (hay sự Sáng tạo) cũng có thể mang lại những nguy hiểm. Bài thơ mở ra với hình ảnh những “quái vật”. Tựa đề “Người nữ khổng lồ” cũng mang chứa trong nó cảm giác rằng sự sáng tạo có thể mang đến một sức mạnh làm choáng ngợp con người.

Dù sao, như một con người sáng tạo nói riêng, và như một con người sống trên cõi đất nói chung, Baudelaire, qua bài thơ, cũng cho thấy nhu cầu được bảo bọc bởi tình mẫu tử và được chăm sóc bởi một thế lực cao hơn. Thế lực ấy, ở đây, được đặc tả là phái nữ, là một nàng thơ, với ý niệm rằng nàng là nguồn cội của Cảm hứng và sự Sáng tạo. Và, bằng việc biến nàng thành một "người nữ khổng lồ" và mang nét kỳ dị (grotesque) như thế, Baudelaire đã đảo lộn những quan niệm truyền thống về vẻ đẹp nữ tính.

Trong những đóng góp mang tính văn học nghệ thuật của Baudelaire, ta được biết, ngoài thi ca ra, ông còn là một nhà phê bình hội hoạ tài năng. Để tưởng nhớ ông, hoạ sĩ siêu thực nổi tiếng René Magritte, đã vẽ mấy bức tranh với cùng tên ‘La Géante’ [được đặt tên là ‘La Géante, 1926 -1930; ‘La Géante II, 1935; ‘La Géante III, 1936, v.v.] theo tinh thần sáng tạo của Baudelaire qua bài thơ ‘La Géante’ mà ta đang xét.

Chỗ này, tôi xin phép người đọc để tạm rẽ, rất nhanh và gọn, vào một vùng đất nghệ thuật khác, nhưng có phần liên quan đến Baudelaire, trước khi ta trở lại với bài thơ của ông.

Trong một bức thư gửi cho André Breton, chủ suý của phong trào siêu thực, vào năm 1934, Magritte đã thảo luận về những mầm mống ý tưởng dẫn đến việc tạo ra ‘La Géante (Người nữ khổng lồ)’ của riêng ông.

The Giantess II (La Géante II) 1935, được đặt tên và đề năm là 'LA GEANTE MAGRITTE 1935'

Ông cho biết rằng ông muốn khám phá “điều [hiển lộ] ở một cái cây [vốn] thuộc về nó một cách đặc biệt, nhưng lại trái ngược với khái niệm của chúng ta về một cái cây” (Magritte, thư gửi Breton, trích dẫn trong ed. D Sylvester, tập II, trang 194). Theo tài liệu của Michèle Sato, “đây là một phần trong những cuộc phiêu lưu tiên phong của Magritte vào bản chất của thế giới và nhận thức của chúng ta, phá vỡ những kỳ vọng tuyệt đối mà mọi người có về bản chất của các vật thể cụ thể. Vì vậy, với cái cây, Magritte đã tìm kiếm yếu tố đặc trưng, ​​độc đáo mà ông có thể phá vỡ để mang đến cho người xem một cái nhìn mới mẻ về cái cây. Ông đã thực hiện điều này bằng cách biến tấu các yếu tố liên quan đến đối tượng – trong trường hợp đang nói là cái cây – buộc người xem phải đánh giá lại những điều mà họ quen thuộc. Giải pháp này đơn giản đến bất ngờ: ‘Cái cây, với tư cách là chủ thể của một cái mà ta đang xét, đã trở thành một chiếc lá lớn mà cuống của nó là một thân cây được cắm thẳng xuống đất. Tôi gọi nó là "Người nữ khổng lồ " để tưởng nhớ một bài thơ của Baudelaire’ (Magritte, được trích dẫn trong ấn bản D. Sylvester, tập II, dẫn ở trên). Bằng cách này, một đặc điểm không thể thiếu của cái cây ở đây trở thành đặc điểm nổi bật của nó, khi cái cây hoàn toàn bị bao trùm bởi chính yếu-tính-lá của mình. ‘La Géante’ là ví dụ đầu tiên về chủ đề này trong tác phẩm của Magritte, mặc dù đó là một hình ảnh mà ông thấy rất hiệu quả đến nỗi nó sẽ xuất hiện lặp đi lặp lại, với nhiều hiệu ứng khác nhau, trong suốt sự nghiệp của ông.”

Magritte đã viết rằng, "Đối với tôi, đó không phải là vấn đề vẽ "thực tại" như thể nó dễ dàng tiếp cận với tôi và những người khác, mà là miêu tả thực tại bình thường nhất theo cách mà thực tại tức thời này mất đi tính chất thuần hóa hoặc đáng sợ của nó và tự thể hiện mình với sự bí ẩn riêng". Từ những bức ‘La Géante’ này, giới thưởng ngoạn nhìn ra sự hài hước và tính phi lý hòa quyện trong cái nhìn độc đáo của Magritte, buộc người xem phải nhìn ngắm thế giới theo một cách mới mẻ và trân trọng hơn.

Ta có thể xem một bức tranh khác của René Magritte để thấy phong cách sáng tạo này nơi ông. Đây là bức ‘The Clairvoyance (Sự thấu thị)’.

The Clairvoyance 1936

Tác phẩm này là một trong những tác phẩm nổi tiếng hơn cả của Magritte, và có lẽ là bức chân dung tự họa xuất sắc nhất của ông. Bằng khiếu hài hước độc đáo của mình, ông đã nắm bắt được ý nghĩa đặc biệt của việc một quả trứng biến thành thứ gì đó khác biệt một cách đầy thú vị.

Phong cách sáng tạo trong nghệ thuật của Magritte chia sẻ nhiều nét độc đáo, đặc thù với Baudelaire. Đó là việc nhìn ra cái mới, cái đặc thù, cái khác lạ, bí ẩn và bất ngờ trong những cái bình phàm, những cái tầm thường.

Trở lại với bài thơ của Baudelaire. Có thể có nhiều lối tiếp cận khác nhau. Ở đây, để thử nhìn ngắm, xem xét nó, tôi muốn giới thiệu qua lý thuyết đọc của nhà nghiên cứu-phê bình Michael Riffaterre. Trong quyển “Ký hiệu học [về/của] Thơ” (Semiotics of Poetry), Riffaterre đã trình bày những khái niệm cốt lõi của lý thuyết đọc thơ của minh như sau:

Bước đầu tiếp cận một bài thơ, người ta bước vào lối đọc biểu nghĩa, tức đọc ký hiệu học bậc một (heuristic reading). Ở tầng đọc này, ta đọc theo nghĩa đen của bài thơ, theo dõi ý nghĩa ngôn ngữ và ngữ pháp cơ bản. Người đọc vận dụng năng lực ngôn ngữ thông thường để hiểu bài thơ theo nghĩa đen, nghĩa từ vựng, cú pháp và ngữ pháp. Mục đích của bước này là nắm bắt luồng thông tin bề mặt của văn bản. Tuy nhiên, vì thơ ca thường chứa các yếu tố "bất thường ngữ pháp" (ungrammaticalities) như ẩn dụ, nghịch lý, hay các cách kết hợp từ kỳ lạ, việc đọc hiểu theo nghĩa đen ở bước này sẽ bị tắc nghẽn hoặc cho ra những kết quả vô lý, rời rạc. Từ sự "bất thường" này, người đọc bị thúc đẩy phải chuyển sang bước đọc thứ hai. Ở cấp độ đọc này, người ta đi vào lối đọc thông diễn, tức đọc hồi cố và diễn giải (hermeneutic reading). Đây là giai đoạn đọc thứ hai (bậc cao hơn) mang tính chất suy ngẫm, kết nối và đọc ngược lại văn bản. Người đọc không nhìn các từ cô lập theo nghĩa từ điển nữa, mà nhúng chúng trong hệ thống ký hiệu và văn cảnh văn học. Ở bước này, những điểm "bất thường vô lý" ở giai đoạn đầu sẽ được giải mã để tìm ra nghĩa đích thực của bài thơ. Người đọc tìm kiếm các manh mối cấu trúc, biểu tượng và mạng lưới dấu hiệu sâu hơn. Việc đọc thế này liên hệ đến các khái niệm Ma trận và Văn bản nền (hay Khuôn mẫu ngầm).

Theo Riffaterre, một bài thơ không bao giờ được sinh ra từ hư vô, và nó thực chất là sự triển khai biến hóa của một hạt nhân ngữ nghĩa bất biến nằm ẩn bên dưới. Hạt nhân này chính là Khuôn mẫu ngầm. Nó có thể là một từ, một cụm từ, một câu ngạn ngữ, một huyền thoại, hoặc một hệ thống biểu tượng đã có sẵn trong văn hóa đại chúng/văn học (mang tính liên văn bản). Nhà thơ đã thực hiện các thao tác mở rộng, chuyển đổi hạt nhân ngầm này để tạo ra toàn bộ cấu trúc bài thơ. Nhiệm vụ của người đọc ở bước đọc diễn giải này là phải lột bóc các lớp ngôn từ để phát hiện ra Khuôn mẫu ngầm, từ đó hiểu được mạch nguồn tạo sinh thực sự của tác phẩm. Ý tưởng trừu tượng cốt lõi, câu (thơ) hoặc văn bản nền được mở rộng và chuyển đổi thành bài thơ thực tế (ma trận).

Như thế, ta phải xét đến Ý nghĩa gián tiếp trong thơ. Khái niệm này cho rằng thơ không truyền đạt sự bắt chước, mô phỏng hoặc sự thật trong thế giới thực một cách trực tiếp, mà nó bóp méo, vặn xoắn và dịch chuyển ý nghĩa thông qua ẩn dụ, nghịch lý, phép đồng chấp/phép kết hợp bất đối xứng (xét về mặt ngữ nghĩa/ngữ pháp). Tất cả những biện pháp đó, tạo nên những sự chơi chữ, chơi ý, chơi hình ảnh mà nếu ta giải mã được chúng, ta có thể đi sâu vào ý nghĩa của một bài thơ.

Bây giờ, trên hướng lý thuyết vừa trình bày của Riffaterre, ta sẽ thử phân tích bài thơ "La Géante" của Baudelaire.

1. Mã hóa cảnh quan (Landscape Code)

Bài thơ "La Géante" như một ví dụ kinh điển cho việc chuyển đổi hệ thống ký hiệu thành một mã đặc biệt. Ở cấp độ đọc biểu nghĩa (Heuristic reading / Mimesis), bài thơ tả thực một người phụ nữ có kích thước khổng lồ, sừng sững giữa thiên nhiên. Nhưng ở cấp độ ký hiệu học (Hermeneutic reading / Significance), ta có thể thấy rằng Baudelaire đã dùng "mã cảnh quan" (landscape code) để miêu tả cơ thể người phụ nữ. Thân hình người nữ khổng lồ không còn là một thực thể sinh học, mà đã hòa quyện, biến thành các đại lượng địa lý: những ngọn đồi, thung lũng, bóng râm trập trùng.

2. Sự dịch chuyển từ nghĩa thực sang nghĩa biểu trưng

Theo lý luận của Riffaterre, thơ ca luôn nói một đằng nhưng ám chỉ một nẻo. Trong "La Géante", việc biến cơ thể phụ nữ thành một vùng đất/cảnh quan phục vụ cho một cấu trúc biểu cảm sâu hơn: Cơ thể khổng lồ của người phụ nữ đóng vai trò như một "vực thẳm đầy hoa". Đó là biểu trưng cho một người tình đầy nhục cảm, một người mẹ vĩ đại mang tính che chở, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn sự rợn ngợp, nuốt chửng. Nơi đó, người thi sĩ có thể tựa vào và ngủ một cách bình yên dưới bóng râm của bộ ngực khổng lồ như một ngôi làng “nằm ngủ” dưới chân núi.

3. Phá vỡ tính tả thực để đạt đến Tính thơ

Ta có thể thấy rằng nếu người đọc chỉ dừng lại ở việc cố gắng tưởng tượng một người phụ nữ cao hàng chục mét ngoài đời thực (mimesis), bài thơ sẽ trở nên vô lý hoặc quái dị. Nhưng khi người đọc nhận ra cái văn bản ngầm/mô-típ gốc về khát vọng được che chở, sự nhỏ bé của cái tôi trước dục vọng và thiên nhiên mẫu tính, toàn bộ hệ thống từ ngữ miêu tả thiên nhiên-cơ thể lập tức ăn khớp với nhau để tạo ra nghĩa tổng thể (significance) cho bài thơ.

Như thế, bài thơ "La Géante" của Baudelaire chuyển đổi mô-típ giải phẫu học cơ thể người phụ nữ thành mã địa lý cảnh quan, tạo ra cấu trúc ký hiệu học kép giữa dục vọng và mẫu tính. Tiến trình này biến sự phi lý khi đọc hiểu thông thường (Heuristic Reading) thành sự chân thực tuyệt đối thông qua việc đọc diễn giải (Hermeneutic Reading) nhằm tìm ra văn bản nền (Matrix/Hypogram) của tác phẩm. Sự phi lý về mặt tả thực được chuyển hóa thành ý nghĩa thẩm mỹ, nơi khát vọng nhục cảm hòa quyện với nhu cầu được che chở trong hình tượng Đại địa mẫu.

Khác với cách đọc mô tả (mimetic reading) coi bài thơ là bức tranh vẽ một người phụ nữ khổng lồ kỳ dị, cách đọc ký hiệu học (semiotic reading), theo lối của Riffaterre, tìm kiếm tính thống nhất của văn bản thông qua sự giải trình các mã (codes), trường mô tả (descriptive fields), và việc khôi phục Khuôn mẫu (Matrix).

______________

Chú thích:

[1] Về lý do đưa bài thơ dịch “Nương Tử Khổng Lồ” vào sách “Con Người Phản Kháng” (dịch “L’Homme Révolté” của Albert Camus), ở ngay dưới bài thơ dịch, đặt ở những trang đầu cuốn sách, Bùi Giáng ghi: “Để ý: Đưa bài thơ nầy vào tập L’Homme Révolté vì hai lẽ: 1- Bàn tới Baudelaire, ở phần Phản Kháng Siêu Hình, Camus thú nhận là không thể bàn rốt ráo tới thiên tài Baudelaire. 2- Nếu ta nghĩ rằng Thuý Kiều cũng là một Nương Tử Khổng Lồ nằm duỗi dài trên Sử Lịch Việt Nam, thì lập thời bài thơ La Géante của Baudelaire mang đầy đủ ý nghĩa của Một Vùng Tương Ứng bốn biển. Nói riêng ra, nó còn giúp bạn đọc thể hội một cách thâm hậu những trang Camus bàn tới Phản Kháng và Nghệ Thuật.

[2] Nguyên văn bài thơ Correspondances (Giao Ứng) và phần dịch nghĩa:

Correspondances

La Nature est un temple où de vivants piliers
Laissent parfois sortir de confuses paroles;
L’homme y passe à travers des forêts de symboles
Qui l’observent avec des regards familiers.


Comme de longs échos qui de loin se confondent
Dans une ténébreuse et profonde unité,
Vaste comme la nuit et comme la clarté,
Les parfums, les couleurs et les sons se répondent.


Il est des parfums frais comme des chairs d’enfants,
Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,
Et d’autres, corrompus, riches et triomphants.


Ayant l’expansion des choses infinies,
Comme l’ambre, le musc, le benjoin et l’encens,
Qui chantent les transports de l’esprit et des sens.

Dịch xuôi:

Giao Ứng

Tự nhiên là một ngôi đền thiêng, những cột sống ngàn năm,
Đôi khi chợt thốt lên bao lời mơ hồ, bí ẩn;
Người lữ khách đi qua rừng biểu tượng vô tận,
Chúng dõi nhìn ta bằng ánh mắt thân quen.

Như tiếng vọng ngân dài từ cõi thẳm xa xăm,
Hòa quyện vào một thể nhất nguyên, sâu và tối,
Bao la tựa đêm dày, mênh mông như nắng mới,
Màu sắc, hương thơm cùng âm thanh khẽ giao hòa.

Có hương thơm mát lành tựa da thịt trẻ thơ,
Dịu ngọt tựa tiếng kèn, xanh rờn như đồng nội,
Và có hương nồng nàn, suy đồi nhưng mời gọi,

Mang sức mạnh lan tràn của vạn vật vô biên,
Như hổ phách, xạ hương, nhựa thơm và trầm hương,
Hát khúc ca ngất ngây của thể xác, tâm hồn.

Cũng như bài “La Géante”, bài này cũng tuân thủ nghiêm ngặt thể thơ sonnet cổ điển của Pháp với các đặc điểm là đúng 14 câu. Mỗi câu là một câu thơ Alexandrin tiêu chuẩn gồm 12 chân (pieds/syllabes), tức 12 âm tiết. Chúng được chia làm 4 khổ gồm hai khổ bốn (quatrains) và hai khổ ba (tercets). Tổng số âm tiết là 168 cho toàn bài thơ.

Điểm khác biệt duy nhất về mặt hình thức giữa hai bài thơ này nằm ở cấu trúc gieo vần (schéma de rimes) cả ở hai khổ đầu (hai khổ bốn) và hai khổ cuối (hai khổ ba). Trong “Correspondances”, hai khổ đầu đều sử dụng vần ôm (ABBA ABBA); còn trong “La Géant” thì là vần gián cách (ABAB ABAB). Ở hai khổ cuối, trong "Correspondances", đó là CDC DEE (Vần ôm rồi đến vần liên tiếp); ở "La Géante" thì cấu trúc vần hai khổ cuối lại là CCD EDE (vần giao thoa kiểu Pháp tiêu chuẩn).

[3] Nguyên văn bài thơ Cây chuối/Ba tiêu của Nguyễn Trãi:

Tự bén hơi xuân tốt lại thêm,
Đầy buồng lạ màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu gượng mở xem.

Nguyễn Trãi đã có một liên tưởng vô cùng táo bạo và tinh tế khi ví đọt lá chuối non đang cuộn chặt như một "bức thư tình" (tình thư) còn niêm phong kín đáo. Nhà thơ nhân hóa ngọn gió xuân giống như một người tình phong lưu, lãng tử. Ngọn gió lướt qua như đang "gượng mở" – vừa e ấp, nhẹ nhàng, vừa tò mò muốn khám phá bí mật bên trong bức thư tình của thiên nhiên.

Hai câu thơ được trích ra không chỉ tả thực vẻ đẹp của cây chuối lúc sang xuân mà còn phản chiếu một tâm hồn yêu đời, trẻ trung, nhạy cảm và tràn đầy sức sống của nhà thơ Ức Trai.

V. N. Trà mi PINK-A-BOO Camellia sasanqua ‘MonDel’ Có những buổi sáng, một người bạn gửi cho ta một tấm ảnh hoa. Thoạt tiên, ta chỉ thấy đó là chuyện nhỏ. Một bức ảnh chụp mấy bụi cây trong vườn, vài đóa hoa đang nở, vài chiếc lá xanh. Nhưng rồi, như một sợi chỉ nhỏ được kéo ra khỏi cuộn chỉ, câu chuyện cứ dài dần. Từ một đóa hoa có thể đi đến một người bạn. Từ một người bạn có thể trở về một thành phố cũ. Từ một thành phố cũ lại có thể tìm thấy tuổi thơ mình, nằm đâu đó giữa những giò phong lan ở Đà Lạt. Câu chuyện của tôi về Pink-A-Boo bắt đầu như thế. Người gửi ảnh là chị Hảo, một người bạn vong niên của tôi ở Seattle. Tôi có khá nhiều bạn vong niên. Có lẽ tại tôi vốn mang cái tính “cụ non” từ bé. Người ta lớn tuổi thì thường tìm bạn trẻ để nghe cho đời mình trẻ lại; còn tôi, từ hồi còn nhỏ, hình như đã thích ngồi nghe chuyện của những người lớn tuổi hơn mình. Có lẽ vì vậy mà trong đời, tôi có cái may mắn được quen biết nhiều bậc đàn anh, đàn chị, rồi từ chỗ quen biết trở thành chỗ thân tình. Ở Seattle, những người bạn vong niên của tôi có chị Trần Mộng Tú, anh Nguyễn Tường Thiết, anh Lê Hữu, và chị Hảo. Chị Hảo lại là một trường hợp khá đặc biệt: chị là người duy nhất trong số những người bạn ấy mà tôi chưa từng có hân hạnh diện kiến. Thời buổi này, nghe cũng hơi lạ. Người ta có thể quen nhau qua email, đọc bài của nhau, trao đổi chuyện sách vở, thơ văn, cây cỏ, đôi khi biết khá nhiều chuyện về nhau, vậy mà chưa từng ngồi đối diện nhau một lần để uống một tách trà. Thật ra, chúng tôi đã suýt gặp nhau. Có lần chị Trần Mộng Tú, chị Trùng Dương và chị Bùi Bích Hà hẹn nhau đến nhà tôi dùng một bữa trưa, rồi nói chuyện sách vở, thơ văn. Một cuộc họp mặt như thế, đối với những người mê chữ nghĩa, thường không cần chương trình gì cả. Chỉ cần một cái bàn, vài món ăn, một bình trà, rồi ai đó nhắc đến một cuốn sách là đủ nói từ trưa sang chiều. Chị Hảo lẽ ra cũng có mặt. Nhưng đến giờ chót, tôi được tin chị phải đi thăm một người bạn ở Riverside, hay đâu đó vùng phụ cận, nên đành kiếu hẹn, để lại lời hứa: “Dịp khác nhé.” Dịp khác ấy, cho đến nay, vẫn chưa xảy ra. Nhưng cũng chẳng sao. Bạn bè đâu phải cứ gặp mặt mới là bạn. Có những người ngồi cạnh nhau mỗi ngày mà chẳng bao giờ nói được một câu thật lòng. Lại có những người ở cách nhau cả một bờ biển, thỉnh thoảng gửi cho nhau vài hàng email, thế mà vẫn thấy quen thuộc như người hàng xóm. Tôi quen chị Hảo cũng rất tình cờ. Chuyện bắt đầu bằng một email chain giữa những người bạn yêu văn chương, trong đó mọi người đang bàn tán – hay nói đúng hơn là đoán mò rồi debate – về một loài lan xuất hiện trong truyện ngắn “Lan Rừng” của Nhất Linh. Nhất Linh lại là thân phụ của anh Nguyễn Tường Thiết. Thế là từ một truyện ngắn, người ta bàn sang hoa lan. Từ hoa lan lại sinh ra đủ thứ ý kiến. Và tôi, vốn không phải chuyên gia thực vật học, lại thấy mình có chút vốn liếng để chen vào. Không phải vì tôi học ngành thực vật. Mà vì hồi nhỏ tôi từng sống ở Đà Lạt. Ông dượng rể của tôi khi ấy có một vườn hoa lan khá nổi tiếng. Không phải hạng nhất Đà Lạt, tôi nghĩ vậy, nhưng hạng nhì hay hạng ba thì có lẽ cũng đáng kể. Đà Lạt ngày ấy là thành phố của thông, của sương, của những khu vườn, và của những người có thể dành cả đời để chăm sóc một thứ cây mà người không yêu hoa nhìn vào chỉ thấy… mấy cành lá lủng lẳng. Ông dạy tôi cách phân biệt và chăm sóc những giò phong lan, những chậu địa lan. Những bài học ấy, trẻ con thường không nhớ như một bài học. Chúng chỉ nhớ bằng hình ảnh. Tôi nhớ những giống lan có thân nhìn đen sì như một nhúm trà khô. Trông chúng khô quắt, tưởng như đã chết từ lâu. Nhưng đem tưới nước sôi đúng nhiệt độ vào, một thời gian ngắn sau chúng lại tỉnh dậy. Những mầm xanh bỗng trở mình rồi cả giò lan hồi sinh. Một thứ cây có thể nằm im như đã chết mà vẫn còn giữ trong mình một mùa xuân chưa đến. Có loại hoa tím biếc, đẹp mà quái dị, nhìn như mặt một con nhện quỷ. Có loại khác, những cánh hoa, vòi hoa, nhánh hoa chĩa ra, khiến một đứa trẻ nhìn mãi mà thấy như một con bò cạp cát đang phe phẩy trên bụi cây. Có lẽ chính những năm tháng ấy khiến tôi không bao giờ nhìn hoa chỉ như… hoa. Mỗi loài cây đều có một câu chuyện. Và đôi khi, câu chuyện ấy dài hơn cả đời một người. Hôm nay, chị Hảo lại gửi vào email chung mấy tấm ảnh chụp những bụi trà mi trong vườn nhà chị. Trong số ấy có một giống mang cái tên rất dễ thương: Pink-A-Boo. Cái tên nghe như tiếng trẻ con chơi trò trốn tìm:  – Peek-a-boo!  –  Tôi đây! – Pink-A-Boo!  –  Hồng đây! Chị Hảo nói rằng chị chưa có dịp tìm hiểu sâu về giống trà mi này. Điều ấy làm tôi hơi buồn cười. Bởi trong nhóm chúng tôi, nếu có người xứng đáng mang danh hiệu “nhà nghiên cứu hoa cao cấp nhất”, tôi nghĩ chị Hảo là một ứng viên rất sáng giá. Thế mà tôi, vốn chỉ có chút ký ức về những giò lan Đà Lạt và một ít kiến thức góp nhặt, lại nhanh nhẩu:  –  Để tôi tra xem! Rồi tôi dùng search engine. Và search engine trả lời rất tự tin. Tự tin đến mức… sai bét. Nó bảo: “Pink-A-Boo là tên thương mại của một dòng hoa cẩm tú cầu, Hydrangea macrophylla; một giống cẩm tú cầu lùn…” Tôi đọc xong mà suýt nữa tin luôn. May thay, tôi còn đủ tỉnh táo để nhìn lại tấm ảnh chị Hảo gửi. Cẩm tú cầu gì mà lá trà mi? Hydrangea gì mà nhị vàng, hoa đơn, mọc giữa những chiếc lá xanh thẫm bóng loáng như thế? Đâu có giống… mâm xôi. Thế là tôi phải vội vàng đính chính, và hứa với chị:  –  Lần này để tôi tra cứu cho đàng hoàng. Không “nhanh nhẩu đoảng” nữa! Đó cũng là một bài học nhỏ của thời đại chúng ta. Ngày xưa, muốn biết một loài hoa, phải tìm sách, mở tự điển thực vật, hỏi người làm vườn, có khi đi đến tận nơi xem cây. Ngày nay, chỉ cần gõ vài chữ. Nhưng cái nguy hiểm là: máy trả lời quá nhanh thường làm ta tưởng rằng mình đã biết quá nhiều. Một câu trả lời sai, nếu được trình bày bằng giọng điệu quả quyết, rất dễ đánh lừa người đọc. May mà hoa không biết nói dối. Chỉ cần nhìn kỹ một chút, ta sẽ biết. Sau khi tra cứu lại cho cẩn thận, tôi mới biết Pink-A-Boo® mà chị Hảo trồng chính là một giống trà mi mùa thu, có tên thực vật Camellia sasanqua ‘MonDel’. Giống này là một “sport” – một biến dị tự nhiên – xuất  hiện từ giống trà mi nổi tiếng ‘Yuletide’. ‘Yuletide’ vốn có hoa đỏ rực với nhị vàng, rất quen thuộc trong những khu vườn mùa đông ở California. Giữa những cây ‘Yuletide’ ấy, tại vườn ươm Monrovia ở Azusa, California, người ta phát hiện một cây biến dị cho hoa màu hồng. Từ đó giống mới được tuyển chọn, nhân giống và đặt tên thương mại là Pink-A-Boo®. Tên giống ‘MonDel’ cũng có một câu chuyện nho nhỏ. Theo tư liệu của giới trà mi Nam California, chữ “Mon” gợi đến Monrovia, còn “Del” được đặt theo tên người con gái của người phát hiện giống cây này. Một đóa hoa, thế là cũng mang theo trong tên mình một mảnh ký ức gia đình. Pink-A-Boo có hoa màu hồng tươi, nhị vàng rực, thường có bảy cánh, lớn và nổi bật hơn người cha tinh thần ‘Yuletide’. Hoa lại có một mùi thơm nhẹ, điều khiến nó đặc biệt quyến rũ trong số những giống trà mi. Lá xanh đậm, bóng; cây thường xanh, mọc khỏe, có thể dùng làm bụi hoa, hàng rào, cây viền hay trồng trong chậu. Mùa hoa rơi vào khoảng từ cuối thu sang mùa đông. [*] Tôi đặc biệt thích cái chuyện Pink-A-Boo là một biến dị của ‘Yuletide’. Cùng một gốc, mà một ngày nào đó, thiên nhiên bỗng làm ra một điều khác. Yuletide sports into Pink-a-boo Từ màu đỏ thành màu hồng. Không phải lai tạo trong phòng thí nghiệm. Không phải con người ngồi tính toán xem phải pha bao nhiêu phần đỏ với bao nhiêu phần trắng. Chỉ là một nhánh cây nào đó, vào một lúc nào đó, đã quyết định… khác đi. Hay đúng hơn, thiên nhiên đã khác đi trong nhánh cây ấy. Và người làm vườn tinh mắt đã nhận ra. Tôi nghĩ, đời người cũng vậy. Nhiều khi trong cùng một gia đình, cùng một hoàn cảnh, cùng một thế hệ, lại có một người đi theo một con đường hoàn toàn khác. Một người đọc sách, một người trồng cây. Một người đi làm kỹ sư, một người làm thơ. Một người thích ồn ào, một người thích ngồi một mình bên cửa sổ. Ta thường nghĩ mọi thứ phải giống nhau vì cùng một gốc nhưng thiên nhiên không nghĩ thế. Nó cho phép những “sport” xuất hiện. Và có khi, chính những khác biệt ấy lại làm khu vườn đẹp hơn. Nghĩ đến Pink-A-Boo, tôi lại nghĩ đến những người bạn vong niên của mình. Có lẽ tình bạn cũng giống như hoa. Không ai biết chính xác nó bắt đầu từ lúc nào. Tôi quen chị Hảo từ một email chain. Nếu ngày ấy không có người nhắc đến truyện Lan rừng của Nhất Linh, nếu không có cuộc tranh luận về một loài lan, nếu không có anh Nguyễn Tường Thiết, nếu tôi hồi nhỏ không từng lang thang trong vườn lan của ông dượng ở Đà Lạt… thì có lẽ hôm nay tôi đã không ngồi đây, nhìn ảnh một đóa Pink-A-Boo ở Seattle và viết những dòng này. Đời sống được dệt bằng những ngẫu nhiên như thế. Một email. Một cuốn sách. Một loài lan. Một thành phố sương mù. Một người bạn chưa từng gặp mặt. Một đóa trà mi màu hồng. Có những tình bạn bắt đầu bằng những cuộc gặp lớn lao. Có những tình bạn chỉ bắt đầu bằng một câu hỏi rất nhỏ:  –  Hoa này là hoa gì? Rồi từ đó, người ta nói chuyện. Nói chuyện về hoa. Rồi nói chuyện về sách. Rồi nói chuyện về những người quen chung. Rồi một ngày nào đó, chợt nhận ra mình đã quen nhau từ bao giờ. Tôi vẫn chưa gặp chị Hảo. Cái bữa trưa năm nào, với chị Trần Mộng Tú, chị Trùng Dương và chị Bùi Bích Hà, vẫn còn nằm đâu đó trong danh sách những cuộc gặp “để dịp khác” của đời người. Nhưng tôi không thấy sốt ruột. Hoa có mùa của hoa. Bạn bè cũng có mùa của bạn bè. Có những cuộc gặp phải đợi đúng lúc mới xảy ra. Biết đâu một ngày nào đó, chị Hảo lại đến Nam California. Hoặc tôi có dịp lên Seattle. Chúng tôi sẽ ngồi xuống, và chắc chắn chuyện đầu tiên sẽ không phải là những chuyện lớn lao của thế giới. Có thể tôi sẽ hỏi:  –  Cây Pink-A-Boo năm nay còn nở đẹp không? Và chị sẽ cười. Tôi sẽ nhắc lại vụ search engine từng biến một cây trà mi Camellia sasanqua ‘MonDel’ thành một bụi cẩm tú cầu Hydrangea. Chúng tôi sẽ cười thêm một lần nữa. Rồi biết đâu, từ Pink-A-Boo lại đi sang Nhất Linh. Từ Nhất Linh sang Lan rừng. Từ Lan rừng trở về những giò phong lan Đà Lạt. Từ Đà Lạt lại đi sang một câu thơ nào đó. Những người yêu hoa và yêu sách thường có cái tật ấy. Không bao giờ nói hết chuyện. Một đóa hoa chỉ là cái cớ. Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy cái lỗi “nhanh nhẩu đoản” của mình cũng có ích. Nếu hôm ấy search engine trả lời đúng ngay từ đầu, có lẽ tôi chỉ gửi cho chị Hảo một dòng ngắn:  –  Pink-A-Boo là Camellia sasanqua ‘MonDel’. Hết. Nhưng vì nó trả lời sai, tôi phải tra lại. Vì tra lại, tôi biết thêm câu chuyện về ‘Yuletide’. Biết Pink-A-Boo là một biến dị tự nhiên. Biết nó được tìm thấy ở một vườn ươm tại Azusa, California. Biết một đóa hoa hồng có thể mang trong mình cả một lịch sử của những người làm vườn. Và rồi, từ một lần sửa sai, tôi lại có thêm một cái cớ để nhớ đến chị Hảo. Có lẽ đó mới là điều đáng quý. Trong đời, đôi khi biết mình đã nói sai còn tốt hơn là nói đúng mà chẳng học thêm được điều gì. Hoa Pink-A-Boo, vì thế, đối với tôi từ nay không chỉ là một giống trà mi màu hồng. Nó là một đóa hoa ở Seattle. Là một người bạn vong niên tôi chưa gặp. Là một chuỗi email về Nhất Linh và hoa lan. Là vườn lan của ông dượng ở Đà Lạt. Là những thân lan đen như trà khô nhưng gặp nước sôi lại xanh. Và cũng là một lời nhắc nhở cho một người vốn đôi khi vẫn còn cái tật “nhanh nhẩu đoảng”: Trước khi nói cho người khác biết một điều gì, hãy nhìn kỹ đóa hoa thêm một lần nữa. Bởi hoa vẫn ở đó. Lặng lẽ. Không tranh luận. Không debate. Không gửi email phản bác. Nó chỉ nở. Và nếu ta chịu khó nhìn cho kỹ, đôi khi chính một đóa hoa có thể dạy ta nhiều điều hơn cả một search engine. [*] https://www.monrovia.com/pink-a-boo-camellia.html

 V. N.

Trà mi PINK-A-BOO Camellia sasanqua ‘MonDel’

Có những buổi sáng, một người bạn gửi cho ta một tấm ảnh hoa.

Vũ Thất & Đời Thủy Thủ

 Trần Thị Nguyệt Mai

Tháng 5/2026 vừa qua, nhà văn Vũ Thất đã hoàn thành cuốn 3 cũng là cuốn cuối cùng trong bộ truyện Đời Thủy Thủ của ông. Nếu kể từ cuốn đầu tiên, phát hành vào năm 1969, cho đến khi cuốn này hoàn thành, ông đã trải qua 57 năm ròng rã. Giữa khoảng thời gian đó, là những chuyến hải hành, giữ gìn biển đảo miền Nam cho đến thời điểm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 4/1975. Tiếp đó là 9 năm “lao động vinh quang” trong những trại tù với mỹ danh “học tập cải tạo” từ Bắc chí Nam cho đến khi được phóng thích. Nhờ chuyến hải hành cuối cùng bằng ghe tắc ráng, ông đã đến trại tỵ nạn Pulau Bidong ở Mã Lai vào cuối năm 1984. Sau hơn 6 tháng, ông được đoàn tụ bên vợ và hai con tại Hoa Kỳ năm 1985. Tiếp nối là những ngày “làm lại cuộc đời”: đi học, đi làm không ngơi nghỉ để lo cho cuộc sống gia đình. Đến lúc nghỉ hưu, ông mới có dịp quay về với niềm vui chữ nghĩa để viết tiếp Đời Thủy Thủ 2 – tháng 3/2023 và hoàn tất Đời Thủy Thủ 3 vào tháng 5/2026.

Chủ Nhật, 30 tháng 8, 2026

Vì sao cả một nhánh tư pháp phải lên VTV chạy tội cho ông nghị hết thời phạm hai tội hình sự không thể chối cãi

 CHẠY TỘI CHO CHỒNG, GIỮ SẠCH LÍ LỊCH GIA ĐÌNH ĐỂ VỢ THĂNG QUAN TIẾN CHỨC

Phạm Đình Trọng

Im lặng suốt mười lăm tháng trời, bỏ mặc gia đình nạn nhân, con gái chết thảm, cha gãy xương chân trong tai nạn kinh hoàng ở phố Nguyễn Huy Tự, Hà Nội từ ngày 30.5.2025, cũng là sự im lặng đồng loã với pháp nhân gây tai nạn chết người thê thảm mà trốn tránh trách nhiệm pháp luật.

Lính già mau nhớ lâu quên – anh Nguyễn Minh Châu và Yuri Bondarev

 Tô Hoàng

Bìa tiểu thuyết Trò chơi, Đoàn Tử Huyến và Vũ Việt dịch, NXB Lao động 1987

…Một tối mùa hè nóng bức, tháng 7 năm 1986. Mới ở Nga về, đến thăm anh Châu và chị Doanh. Còn nhớ vào thời gian ấy gia đình nhà văn vẫn sống tại khu tập thể Bệnh viện 354 tức gần phố Đốc Ngữ bây giờ.

Hoạ sĩ Nguyễn Thái Tuấn – Dâng hiến tình yêu cho nghệ thuật

 Trần Ngọc Trác

 

Hoạ sĩ Nguyễn Thái Tuấn sinh năm 1965 tại Quảng Trị, định cư ở Đà Lạt, từng công tác tại Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Lâm Đồng, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Lâm Đồng, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, nhưng đã sớm quyết tâm rời đi để dành thời gian tâm huyết cho sáng tạo nghệ thuật.

Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

GenZ trong sáng hơn ta tưởng…

Thái Hạo

Thời gian vừa qua từ khóa “GenZ” đã trở thành một chủ đề lớn trong xã hội Việt Nam. Kéo theo đó, có nhiều cái nhìn về thế hệ này. Những “người dân chủ” thì bày tỏ sự “ân hận” vì đã nhìn nhầm và đã từng tỏ ra thất vọng với GenZ, và họ bắt đầu cho rằng đây chính là thế hệ sẽ thay đổi lịch sử. Phía kia thì liên tục đưa ra các quy chụp và cảnh báo, rằng GenZ đang bị lợi dụng, bị kích động, và “hãy cẩn thận đấy”. Một số khác thì cho rằng, đó chỉ là sự xốc nổi, lửa rơm, không có gì đáng kỳ vọng…

Mừng đội tuyển Việt Nam Vô địch

 Nguyễn Quang A

Thật mừng đội tuyển bóng đá Việt Nam đã đạt vô địch tại sân nhà!

Tuy nhiên, biết mình là điều tối quan trọng. Trong hai trận chung kết giải Asean Hyundai cup Thái Lan đá vào gôn 4 quả, đá trượt một quả penalty; Việt Nam đá vào 2 quả và đội tuyển Việt Nam nhận chức vô địch tại sân nhà Mỹ Đình. Sự trớ trêu, bất định và hấp dẫn của môn thể thao vua này là thế: việc đá trượt quả penalty là điểm bước ngoặt dẫn đến đội Thái mất đà, đội Việt Nam tăng áp lực khiến tuyển Thái Lan đá phản lưới nhà 2 quả trong thời gian còn lại (chúng ta không bàn đến những vấn đề tác động tâm lý và khán giả ở đây).

Dương Thu Hương trong Ký 2 của Đinh Quang Anh Thái

 Tino Cao

Hai tuần trước, nhà báo Đinh Quang Anh Thái tặng tôi bộ tác phẩm của ông. Riêng Ký 2, ông dặn rất rõ rằng cuốn này chỉ cho mượn, đọc xong phải trả. Tôi đoán ngay nó hẳn có một giá trị đặc biệt nào đó. Mang sách về nhà, tôi đọc trước Ký 2. Ký 2 khắc họa nhiều chân dung nhân vật. Đến phần viết về nhà văn Dương Thu Hương, lí do ấy hiện rõ ngay trên những trang sách. Xen giữa phần chữ in của sách là bút tích mực đỏ của Dương Thu Hương, chỗ sửa năm sinh 1948 thành 1947, chỗ chỉnh tên người, bổ sung địa danh, gạch bỏ một chữ, thêm một câu, có đoạn viết dài ra ngoài lề. Cuốn sách mang tư cách của một văn bản đã được nhân vật trực tiếp đối thoại và hiệu đính. Đinh Quang Anh Thái dựng lại hình ảnh Dương Thu Hương từ kí ức, tiếp xúc và quan sát riêng của ông, còn Dương Thu Hương quay trở lại văn bản để xác nhận, sửa chữa hoặc bổ sung những gì liên quan đến chính cuộc đời của bà. Sự có mặt của hai lớp chữ làm cho Ký 2 có giá trị đặc biệt về phương diện thể loại. Người viết và người được viết cùng tham gia vào quá trình kiến tạo chân dung, nhưng từ hai vị trí khác nhau, một bên là kí ức của người quan sát, bên kia là ý thức tự nhận diện của nhân vật. Chính sự giao cắt ấy làm nổi rõ tính chất phức tạp của kí, một thể loại nằm giữa chứng thực, hồi ức và nghệ thuật khắc họa nhân vật. Với Dương Thu Hương, những nét mực đỏ cho thấy một phẩm chất nhất quán trong con người bà, sự cẩn trọng đối với sự thật của đời mình và nhu cầu tự bảo vệ quyền diễn giải về chính quá khứ.

Bùi Chát – Khi hội họa là một động từ, nhưng động từ ấy đi về đâu?

 Ngô Lực

Tôi đã nhiều lần viết về Bùi Chát. Trong những lần ấy, điều tôi muốn ủng hộ không hẳn là một phong cách, một thủ pháp hay một kết quả hội họa cụ thể, mà trước hết là thái độ sáng tạo của anh: sự dấn thân, tinh thần thử nghiệm, khả năng nghi ngờ chính những gì mình vừa tạo ra và đặc biệt là ý thức không muốn biến nghệ thuật thành việc lặp lại một công thức đã thành công.

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Phong trào Gen-Z có bất ngờ không?

 Nguyễn Quang A

Trong tháng Tám 2026 từ Gen-Z (chỉ thế hệ những người sinh từ khoảng 1997-2012, tức là hiện nay 2026 họ ở độ tuổi 15 đến 29) có lẽ là một trong những từ được nhiều người nói đến nhất liên quan đến sự lên tiếng của Gen-Z về vụ cấm một số bài hát của Album HVL của rapper MCK (cuối tháng 7/2026) và sự im lặng khó hiểu của chính quyền trong vụ ông cựu Phó Chủ tịch UB Đối ngoại của Quốc hội tông xe gây ra cái chết của một nữ sinh từ cuối tháng 5/2025. Phong trào “cây công lý,” “cây 55,” của Gen-Z được giới nhà báo, nghệ sĩ và đông đảo dân chúng theo dõi, cổ vũ, ủng hộ bằng nhiều cách từ tham gia, phân tích, cổ vũ,… và được báo chí quốc tế đưa tin rộng rãi.

Án văn (7)

 Nguyễn Thông

Chính trị áp đặt, tính đảng trên hết

Tôi những kỳ trước đã lược lại một số vụ “án văn” nổi cộm trong đời sống văn nghệ lẫn đời sống xã hội xứ này, như Nhân văn - Giai phẩm (nhiều văn nghệ sĩ bị đi tù, cải tạo, tước quyền sống, quyền sáng tác), Việt Phương với Cửa mở, Hoàng Cát với Cây táo ông Lành, Hữu Loan với Màu tím hoa sim, Quang Dũng với Tây tiến, Bùi Ngọc Tấn với Chuyện kể năm 2000

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

Ngu Yên và cuộc phiêu lưu của chữ

Tino Cao

Đọc Ngu Yên, tôi thường gặp một cảm giác vấp. Mắt đang đi theo câu thơ bỗng khựng trước một chữ lệch nghĩa, một tổ hợp trái thói quen, một câu vừa mở ra đã lập tức đổi hướng. Độ vấp ấy là dấu hiệu đầu tiên của thi pháp Ngu Yên. Chữ trong thơ ông hiếm khi chấp nhận như một thứ phương tiện trong suốt để chuyên chở ý tưởng. Chữ giữ lại âm sắc, lịch sử sử dụng và khả năng liên tưởng riêng; khi đứng cạnh nhau, những con chữ ấy có thể đẩy câu thơ sang hướng mới. Suốt gần nửa thế kỉ, Ngu Yên liên tục thử sức chịu đựng của tiếng Việt, xem cú pháp có thể co giãn đến đâu, một từ quen thuộc có thể gợi thêm bao nhiêu cách hiểu, nhạc tính sẽ nảy sinh thế nào khi khuôn vần được tháo ra. Người đọc phải chậm lại, quay về đầu câu, tách một tổ hợp rồi ghép theo lối khác. Trật tự truyền thống quen thuộc bị xáo động để tri giác lấy lại độ nhạy trước chữ.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Khi các nhà thơ ra giữa phố đọc thơ

Phan Tấn Hải

Đọc thơ, theo truyền thống và thói quen, thường là lặng lẽ, đơn độc. Bạn pha xong tách trà hay cà phê, ngồi đơn độc nơi bàn giấy, mở ra trang giấy để đọc bài thơ ghi vội, được ghi nháp để rồi đọc tới, đọc lui và sửa chữa chút đỉnh. Đôi khi mở ra một thi tập của một tác giả bạn mới nhận qua bưu điện, bạn cẩn trọng đọc kỹ, suy nghĩ, tham khảo và khởi tâm muốn viết một bài giới thiệu tập thơ này. Đọc thơ như dường là chuyện riêng, đơn độc. Tuy nhiên, đọc thơ trước đám đông lại là chuyện khác.

Ý Nhi và Eavan Boland

 Bo Chân

Người đàn bà ngồi đan

Ý Nhi

Giữa chiều lạnh
Một người đàn bà ngồi đan
bên cửa sổ
Vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã
Nhẫn nại như thể đó là việc
phải làm suốt đời
Vội vã như thể đó là lần
sau chót

Không thở dài
không mỉm cười
Chị đang giữ kín đau thương
Hay là hạnh phúc
Lòng chị đang tràn đầy niềm tin
Hay là ngờ vực

Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên
Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt
Hay sau buổi chia ly
Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu
Trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng

Giữa chiều lạnh
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
Dưới chân chị
Cuộn len như quả cầu xanh
Đang lăn những vòng chậm rãi

Is it Still the Same

Eavan Boland

young woman who climbs the stairs,
who closes a child's door,
who goes to her table
in a room at the back of a house?
The same unlighted corridor?
The same night air
over the wheelbarrows and rain-tanks?
The same inky sky and pin-bright stars?
You can see nothing of her, but her head
bent over the page, her hand moving,
moving again, and her hair.
I wrote like that once.
But this is different:
This time, when she looks up, I will be there.

 

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

Thế hệ Gen Z là ai, và tôi cần nói điều gì trước hết với thế hệ này?

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Tôi là một phụ huynh có hai con gái trong thế hệ Gen Z, hiện đang làm công tác giáo dục (hướng nghiệp & dạy nghề) và là nhà làm phim độc lập chuyên về đề tài giáo dục thế hệ trẻ, theo định hướng phát triển Công nghiệp văn hóa của Đảng và Chính phủ… Cần có “xưng danh” theo lối giáo đầu của Chèo cổ, Tuồng cổ như thế để phòng xa rào chắn những cuộc “ném đá” phũ phàng chắc chắn sẽ diễn ra…

Mở xưởng Họa hoằn Họa xá

 Bùi Chát

Tôi ở xưởng nhiều hơn ở nhà.

Nghĩ kỹ thì cũng không biết nên gọi đó là xưởng hay nhà. Tôi ăn uống ở xưởng, nhậu ở xưởng, đọc, viết ở xưởng, thỉnh thoảng ngủ ở xưởng, và làm hội họa đương nhiên cũng phải ở xưởng. Tranh chất quanh mình. Khô, ướt ngổn ngang. Có bức lâu đến mức tôi quên mất nó tồn tại. Đôi khi tôi thấy mình chỉ là người ở ké. Hội họa mới là chủ xưởng.

Gen Z có thật sự là một thế hệ cô đơn?

 Tino Cao

Ta đang nói về Gen Z như thể đó là một con người khổng lồ có cùng kí ức, nỗi sợ và cùng một cách chịu đựng thế giới. Truyền thông rất ưa kiểu nhân cách hóa ấy. Gen Z được gọi là thế hệ kết nối nhất trong lịch sử, rồi gần như ngay trong cùng phông diễn ngôn ấy, họ được định dạng là thế hệ cô đơn nhất. Cách mô tả ấy nghe rất thuyết phục, bởi hai hiện tượng tưởng như đối nghịch này đều đang được nhìn thấy khá rõ trong đời sống người trẻ. Người trẻ sống với smartphone suốt ngày trong tay, có thể liên lạc với nhau ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, thế mà vẫn than cô đơn. Bề ngoài, câu chuyện dường như đã tự nó giải thích xong. Nhưng chính ở chỗ mọi thứ dường như quá rõ ràng ấy, hoài nghi có lẽ nên bắt đầu.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

Còn có ai tin VTV không nhỉ

 Phạm Đình Trọng

Ngày 30.5.2025 xảy ra vụ tai nạn giao thông kinh hoàng ở phố Nguyễn Huy Tự, Hà Nội gây tai hoạ thảm thương cho một gia đình. Tai nạn thảm khốc ngay giữa thủ đô đất nước mà mười lăm tháng sau, ngày 17.8.2026, đài truyền hình quốc gia mới thông tin. Mười lăm tháng sau mới có tiếng nói chính thức của truyền thông chính thống về một nỗi đau của người dân.

Nhân quả của một xã hội khi kỷ cương và niềm tin vào công lý bị bào mòn

 Nguyễn Thị Hậu

1.

Mới đầu tháng bảy âm lịch mà đã có quá nhiều chuyện buồn! Nhiều người đã lên tiếng vì bức xúc, nhiều người đã vịn vào “nhân quả” để tìm cho mình chút hy vọng vào công lý. Những ngày này mình nghĩ nhiều về “nhân quả”: nếu chỉ hiểu như chuyện một người làm ác rồi một ngày nào đó nhận quả báo thì chưa đủ. Hiện trạng còn có một dạng “nhân quả xã hội” đáng sợ hơn: khi những hành vi sai trái được lặp lại, được dung thứ, được biện minh, hoặc được xử lý bằng một thứ pháp luật méo mó, thì cái giá không còn do riêng người gây ra trả nữa.

Triển lãm Van Gogh Timeless

 Lê Hồng Lâm

Tôi từng có cơ hội đứng trước một vài tác phẩm nguyên bản của Vincent Van Gogh trong các bảo tàng ở châu Âu và Mỹ. Đó luôn là những khoảnh khắc đặc biệt, khi tôi cũng như bao người xem khác, lặng lẽ giữ một khoảng cách nhất định với bức tranh, vừa chiêm ngưỡng kiệt tác, vừa như để tôn trọng một tâm hồn nghệ sĩ “Chúa sinh nhầm thời” đã đi qua hơn một thế kỷ.

Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

Loa & lỗ tai

Thận Nhiên

Ông là một họa sĩ lỡ vận. Lỡ vận đương nhiên sẽ kéo theo tình trạng tồi tệ về tài chính. Một sáng nọ thức sớm, trên đường đi ra khu công viên để làm vài động tác thể dục, khi bước dưới tấm bảng Phố Phường Văn Minh và nghe tiếng loa phát những thông tin hằng ngày, ông đột nhiên cảm nhận được nguồn cảm hứng cho những bức tranh sắp vẽ của mình. Nhưng nguồn cảm hứng ấy không hiện rõ cho ông một ý tưởng gì cụ thể, ông chỉ biết nó hiện diện đâu đó, chìm khuất trong vô thức.

Kẻ giết thời gian

 Truyện ngắn Văn

Trong tiệm sửa đồng hồ của ông, không có phút nào hoàn toàn yên ắng. Nhất là những khi vắng khách, tiếng tích tắc của hàng chục chiếc đồng hồ râm ran như tiếng côn trùng trong đêm. Nhưng trong cái mớ âm thanh tưởng như đều nhau ấy, chỉ có ông nghe ra chiếc nào đang đi nhanh hơn nửa nhịp, chiếc nào chậm hơn một nhịp.

Bước ngoặt vai trò của Bộ Ngoại giao ở Việt Nam (kỳ 4)

 Tác giả: Đại sứ Thomas J. Corcoran

Người dịch: Phan Văn Song

PHẦN IV

Hoa Kì kết thúc can dự (1968-1975)

 

Khi viết về cuộc bầu cử sơ bộ tổng thống năm 1968, Richard M. Nixon nhận thấy rằng chiến tranh Việt Nam là vấn đề nổi bật nhất trong cuộc bầu cử sơ bộ ở New Hampshire và vẫn giữ nguyên như vậy trong suốt chiến dịch tranh cử. Về phần mình, ông nói rằng ông muốn chiến tranh kết thúc, nhưng theo cách “sẽ cứu Nam Việt khỏi thất bại quân sự và sự lệ thuộc vào chế độ Cộng sản Bắc Việt.” Ông nghĩ rằng vẫn còn một số cách thức chưa được thử nghiệm để xem xét và tìm cách chấm dứt chiến tranh. Ông cũng cho rằng Hoa Kì có thể sử dụng sức mạnh quân sự của mình hiệu quả hơn nữa để thuyết phục Bắc Việt rằng một chiến thắng quân sự đối với phía họ là chuyện bất khả. Ông cho rằng chúng ta chưa khai thác hết các nguồn lực ngoại giao đáng kể của mình và rằng “trọng tâm của vấn đề nằm ở Bắc Kinh và Moscow hơn là ở Hà Nội.” Chúng ta có thể huấn luyện và trang bị cho người Nam Việt để nâng cao khả năng tự vệ của họ. Ông không có kế hoạch cụ thể nào để đưa ra và ngay cả khi có ông cũng sẽ không đưa ra cho công chúng biết.[1]

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Khi đài truyền hình quốc gia biến nỗi đau của nạn nhân thành câu chuyện an ninh

 Hoa Qunh Nguyn

Trong báo chí truyền thông hiện đại, ranh giới giữa việc phản ánh sự thật và kiến tạo khung diễn giải để định hướng dư luận thường rất mong manh. Phóng sự mới đây xung quanh vụ tai nạn giao thông liên quan đến nguyên đại biểu Quốc hội khóa XIV Nguyễn Sỹ Cương không chỉ dấy lên những tranh luận pháp lý mà còn phơi bày một câu hỏi lớn về đạo đức nghề nghiệp: Khi báo chí đưa nỗi đau riêng tư của nạn nhân lên sóng truyền hình quốc gia, họ đang phục vụ lợi ích công chúng hay đang biến sang chấn của người yếu thế thành công cụ biện hộ cho quyền lực?