Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2026

Musca depicta

 Nguyễn Đình Đăng

Musca depicta (tiếng Latin: con ruồi được vẽ) là một trong những motif thuộc loại thú vị nhất của hội họa châu Âu. Nhiều Bậc Thầy Cổ Điển (t.k. XV - XVII) đã chủ ý vẽ con ruồi cực kỳ chân thực như đang đậu trên mặt tranh. Chi tiết này hầu như không bao giờ là ngẫu nhiên, mà thường mang một dụng ý nghệ thuật và trí tuệ đã được tính toán kỹ lưỡng.

"Không của hoàng hôn": Bản tráng ca về khát vọng tồn sinh

Lê Thọ Bình

Đoàn Huy Giao là một “gã khổng lồ ẩn mình” của thi ca Việt. Gân guốc như chính cuộc đời một đạo diễn phim tài liệu và người sáng lập Bảo tàng Đồng Đình, thơ ông đẫm hơi đất, giàu suy tưởng. Trường ca “Không của hoàng hôn” là bản tráng ca về cuộc đời, tình yêu và khát vọng tồn sinh, cất lên tiếng nói chống lại sự tàn úa của ý thức.

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2026

"Quãng Trầm"

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Có những triển lãm được ghi nhớ bởi quy mô, bởi số lượng tác phẩm, bởi những thử nghiệm mới về hình thức. Nhưng cũng có những triển lãm không tìm cách tạo ra một biến cố, chúng chỉ âm thầm mở ra một trạng thái khác của sự nhìn. "Quãng Trầm" của Giáng Vân thuộc về trường hợp đó.

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (21)

 Mai An Nguyn Anh Tun

Phần bốn

HÀNH TRÌNH HƯỚNG NGHIỆP CHO CON GÁI

1.

Năm con gái Thế sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học quyết định thi vào một chuyên ngành điện ảnh, “theo vết xe đổ” của bố, cũng là năm ra đời bộ phim Mỹ The Fabelmans (Gia Đình Fabelman, 2022) mang nhiều yếu tố tự thuật, có thể gọi là phim “bán chân dung” của đạo diễn Steven Spielberg - một trong những đạo diễn vĩ đại nhất Hollywood, bộ phim nhận 7 đề cử ở Oscar 2023. Spielberg dành tặng tác phẩm này tưởng nhớ cha mẹ quá cố của ông. Bộ phim khai thác chủ đề về tình yêu điện ảnh trong mối quan hệ gia đình tưởng êm đềm hạnh phúc song chứa đầy bi kịch… Chú bé Sammy được nuôi dưỡng niềm đam mê điện ảnh, nảy nở năng khiếu nghệ thuật bằng chiếc máy quay 8 mm do ông bố là nhà khoa học tặng, để ghi lại những cảnh sinh hoạt của các thành viên gia đình; và thậm chí bằng cảnh quay “chộp“ tự nhiên, cậu đã phát hiện bí mật của mẹ với người bạn thân của gia đình, kiến cậu dằn vặt một thời gian dài… Nhưng chính chiếc máy quay và những thước phim được tạo ra bằng tình yêu điện ảnh cũng đã giúp Sammy vượt qua nhiều sức ép tâm lý – nhất là chuyện cậu bị các bạn học bắt nạt vì là người Do Thái, rồi sau đó bị tan vỡ mối tình đầu… Tác phẩm đã nhận "mưa" lời khen từ giới phê bình. Tờ Daily Telegraph nhận định: "Bộ phim đan xen giữa thực tế và tưởng tượng. Ở tuổi 76, Spielberg vẫn là cậu bé nâng niu tình yêu nghệ thuật trong tay…".

Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân: mê cung chữ, mê cung phận người

 Lê Thị Hường

Tiểu thuyết Hồ Anh Thái không có yếu tố tự truyện. Nhưng đọc nhiều tác phẩm của ông cảm giác về cái tôi nhà văn luôn đậm rõ.

Trong tiểu thuyết Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân*, với cấu trúc “truyện trong truyện” đa tầng, Hồ Anh Thái đã xen vào một văn bản đặc biệt là cuốn nhật ký của một người lính Việt Nam được dịch và xuất bản tại Mỹ. Chung quanh cuốn nhật ký là những sự kiện lịch sử, kể cả cuộc bàn bạc giữa bà biên tập và người dịch về những cái tên đề xuất (từ “Người sinh viên nheo mắt trái”, “Chùm hoa sữa rơi xuống đầu tôi” đến “Một bông hoa rơi xuống đầu tôi: Nhật ký và thơ của một người lính Hà Nội trong chiến tranh Việt Nam”).

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (20)

 Mai An Nguyn Anh Tun

18.

Thế được một Trung tâm Bảo tồn văn hóa mời tham dự Hội thảo khoa học: “Lê Đại Cang - Tấm gương kẻ sĩ” tổ chức tại Quy Nhơn - Bình Định. Khi tới thăm từ đường họ Lê làng Luật Chánh, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, anh rất chú ý tới bản vẽ mô hình một chiếc đòn khênh võng - kỷ vật duy nhất của cuộc đời làm quan do chính cụ Cang đem về Từ đường họ Lê. Ai cũng biết rằng: hiện vật này đang được lưu giữ tại Bảo tàng Bình Định. Nhưng không phải ai cũng biết: chiếc đòn khênh võng đó chứa đựng một lai lịch đặc biệt, có khả năng giúp mọi người hiểu rõ về sự nghiệp và thân thế của một nhân vật lịch sử cũng thật đặc biệt.

Lũ ngốc và truyền thông có trách nhiệm

 Umberto Eco (1932 – 2016, nhà triết học, nhà văn Italia)

Ngân Xuyên dịch

Tôi rất thích thú câu chuyện về lũ ngốc trên mạng. Đối với những ai không theo dõi, tôi xin nhắc: Trên các tài nguyên mạng và trên một số tờ báo có thông tin rằng dường như khi đọc cái gọi là Lectio Magistralis, tức là bài giảng nhân dịp được trao bằng tiến sĩ danh dự ở Turin, tôi đã tuyên bố rằng Internet đầy rẫy lũ ngốc. Điều đó không đúng. Bài giảng của tôi nói về một chủ đề hoàn toàn khác; nhưng sự việc này cho chúng ta thấy cách tin tức được lan truyền và bóp méo trên mạng và trên báo chí.

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (19)

 Mai An Nguyn Anh Tun

12.

Thế nhảy xuống xe, ngước nhìn con dốc dài ngoằn ngoèo, trơn lầy, ướt nhão. Thấy cậu quay phim vẻ chần chừ ngại ngần, anh giật lấy máy quay rồi hối hả chạy lên. Trước mắt anh, hơn chục xe ô tô lớn nhỏ phải dừng lại trên đường cái. Mưa phùn. Không gian vùng núi cao biên giới cuối năm càng thêm lạnh lẽo. Chỉ một chiếc Lancruzơ là leo được lên một cách vất vả, còn lại là phải rời xe đi bộ... Khi chiếc Land Cruiser chuệnh choạng lướt qua, ống kính của anh chộp được gương mặt lạnh như tượng một người ngồi trên xe: ông Tổng giám đốc lừng danh của ngân hàng X. Trước đó chưa đầy nửa giờ, tại ủy ban xã, cũng gương mặt ấy nhưng tươi cười - cái tươi cười hớn hở của một người đi ban phát tài trợ biết chiếu cố đến sự sùng kính và biết ơn cao độ của nhân dân và cán bộ xã…

Nhà văn chép sử

 Thái Kế Toại

 

Văn Việt xin đăng bài sau đây của anh Thái Kế Toại, như một nén hương tưởng niệm nhà văn Phạm Viết Đào.

Phạm Viết Đào là nhà văn, một trong số ít người dịch văn học Rumani đã được Tổng thống Cộng hòa Rumani tặng Huân chương danh dự. Ông có trang web Phạm Viết Đào với nhiều bài phản biện xã hội sắc bén và rất nhiều tư liệu về mặt trận Vị Xuyên cùng cuộc chiến chống Việt Nam của quân đội Trung Quốc sau 1979. Tên tuổi của ông còn nổi tiếng một thời trong và ngoài nước vì ông đã bị bắt, bị ra tòa và ngồi tù 15 tháng vì chính kiến của mình.

Ông đã tập hợp nhiều tư liệu, bài viết trực tiếp phỏng vấn các tướng lĩnh, sĩ quan, chiến sĩ trực tiếp chỉ huy, chiến đấu tại chiến trường Vị Xuyên và in cuốn Vị Xuyên và thế sự Việt Trung. Với 717 trang sách khổ 17- 24cm, cuốn sách là một pho sử lớn về Cuộc chiến Vị Xuyên, một cuộc chiến đẫm máu nhất, hy sinh nhiều nhất của quân đội Việt Nam sau cuộc chiến 1979 nhưng trong rất nhiều năm gần như bị giấu kín, không được công khai, không được kỷ niệm, không được giới sử học nghiên cứu.

Để gìn giữ Vị Xuyên mảnh đất chiến lược thiêng liêng địa đầu Tổ Quốc không chỉ hàng ngàn chiến sĩ đã hy sinh mà còn có cả xương máu của gia đình Phạm Viết Đào. Người em trai của ông Phạm Viết Tạo, Trung đội trưởng thuộc Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 876, Sư đoàn 356, đã chiến đấu anh dũng và hy sinh cùng gần 600 cán bộ chiến sĩ tại cao điểm 772 trong ngày 12-7-1984. Cho nên những trang hồi ức về mặt trận Vị Xuyên sau vẻ dữ dội khốc liệt đều phập phồng nỗi đau, nỗi day dứt ánh lên màu máu mà không một trang văn xuôi nào khác có thể thay thế.

Trong một vài số liệu tổng kết hôm nay người ta thừa nhận có khoảng 5000 chiến sĩ hy sinh ở Vị Xuyên nhưng còn 3000 liệt sỹ chưa tìm được hài cốt. Đó là món nợ rất lớn mà những người chỉ huy quân đội, cán bộ chính sách, những chính khách đàm phán biên giới với Trung Quốc phải trả nợ vong linh của các chiến sĩ đó. Chắc rằng cũng như các gia đình liệt sỹ, các cựu chiến binh Vị Xuyên, như chúng tôi, họ không thể ngủ yên hoặc nhắm mắt làm ngơ.

Tôi mong rằng trong số chúng ta, hoặc ít nhất làng FB này mỗi người nên biết đến trang lịch sử bi hùng này, nên đọc cuốn sách của Nhà văn - Người chép sử thay các nhà sử học của đất nước Phạm Viết Đào.

Hà Nội 7-2019

Người dẫn đường đến những bầu trời văn chương

 Lê Huỳnh Lâm

Văn chương như một món ăn tinh thần cho con người. Đối với những người đam mê, các tác phẩm văn chương như máu thịt. Văn chương ngoài việc là món ăn tinh thần, nó còn là thước đo cho nền văn minh văn hóa của một vùng đất, của một thời đại. Mỗi tác phẩm văn chương là một con đường vươn ra để nối kết, giao thoa giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa vùng miền văn hóa này với vùng miền văn hóa khác, tạo nên những vườn hoa tỏa hương thơm cho cuộc sống này. Và cũng chính văn chương ngoài ngợi ca cái đẹp, cái thiện còn có sứ mệnh vạch trần điều xấu và cái ác để các thế hệ tiếp nối nhìn ra sự thật...

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (18)

 Mai An Nguyn Anh Tun

8.

Hôm nay, ĐẠI HỘI ĐẢNG diễn ra, xin trân trọng gửi tới Đại Hội một đề nghị thống thiết: cần có những chính sách thiết thực và hữu hiệu nhằm bảo vệ & cứu lấy rừng bị đang hủy hoại, thú hoang dã bị truy đuổi, góp phần chấm dứt cảnh THIÊN NHIÊN bị tàn phá, để những thảm cảnh Miền Trung vừa qua và một em bé bị gấu hút lấy mật cắn đứt hai tay trở thành quá khứ... Xin đưa lại bài viết về một sự kiện thảm khốc sẽ tiếp tục tái diễn, nếu như Thiên Nhiên còn bị tận diệt:

Thơ Haiku của Taneda Santoka

 Taneda Santoka (1882−1940) viết cho tạp chí văn học So’un và là một nhân vật chủ đạo trong cộng đồng thơ haiku ở Hofu. Nhưng ngay sau khi ông trở thành chủ bút So’un năm 1916, nhà máy rượu sa-kê của cha ông và ông bị phá sản khiến ông phải trốn đi.

Santoka có tính chất bất an và điều này thể hiện trong mọi khía cạnh cuộc sống của ông. Không thể sống như một người chồng có trách nhiệm, ông bỏ cả vợ con để trở thành sư trụ trì một ngôi chùa nhỏ. Trong những chuyến lang thang không ngừng nghỉ, đôi khi ông ngủ ngoài trời hoặc tạm trú với bạn bè. Những am thất nhỏ do những người hâm mộ và đệ tử cung cấp cũng bị bỏ hoang sau một thời gian. Có những lúc hàng xóm hoặc cảnh sát phải đưa ông về nhà khi họ tìm thấy ông say túy lúy. Santoka vui vẻ thừa nhận rằng lang thang, làm thơ và yêu thích rượu sake là nghiệp của ông và ông đã sống trọn vẹn nghiệp ấy cho đến cuối đời.

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2026

Tiếp xúc và giải mã thơ đương đại như thế nào? Trường hợp Nguyễn Đình Thi

Nguyễn Phượng

Nguyễn Đình Thi là một khuôn mặt quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện/đương đại. Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền lịch sử văn học đất nước, từ những cuộc tranh đấu giành chủ quyền, đến hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước.

Nguyễn Đình Thi hiển nhiên được coi là một nghệ sĩ tài hoa và tài năng qua nhiều bộ môn sáng tác: nhạc, thơ, tùy bút, bút ký, lý luận, truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch. Ðồng thời ông cũng đảm nhiệm nhiều trọng trách văn nghệ: Ủy viên chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam từ 1948, Tổng Thư ký Hội Văn Nghệ từ 1956 rồi Hội Nhà văn hơn ba mươi năm (1958-1989), làm Chủ tịch Ủy ban Liên hiệp các hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam.

Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh niên Cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa Cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc dân Ðại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I.

Nguyễn Đình Thi là Thủ khoa thi Tú tài toàn Đông dương năm 1941.

Từ 1942, khi còn rất trẻ ông đã viết hàng loạt sách triết học. Có thể liệt kê: Triết học nhập môn, Siêu hình học, Triết học Aristote, Descartes, Kant, Nietzsche, Darwin, Einstein ...

Đó có thể là lý do, trong tư duy thơ Nguyễn Đình Thi có những “nề nếp và nền nét riêng” khiến ông như tách hẳn thành tiểu phái và độc hành.

Thời kỳ sau độc lập và đầu kháng chiến ông sáng tác nhạc, nổi tiếng nhất là bài Diệt Phát xít, Người Hà Nội, về mặt trận Hà Nội đầu 1947. Thời chống Pháp, ông tham dự hầu hết các chiến dịch lớn, Tây Bắc 1948, Biên giới 1949, Trung du 1951, Hòa Bình 1952. Ở mặt trận Ðiện Biên 1954, ông làm chính trị viên phó Tiểu đoàn, đánh lên đồi A1, sau đó làm công tác tù binh.

Có thể thấy cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Đình Thi cháy sáng trên nhiều lĩnh vực và thể loại sáng tác. Tuy nhiên, đóng góp lớn nhất của Nguyễn Đình Thi vẫn là thơ với vai trò người đi tiên phong cho một loại hình thơ hiện đại thoát khỏi từ trường của thơ mới mà ngày nay nhiều người đã định danh là thơ tự do không vần.

I. Bối cảnh xuất hiện thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi

Dù thế nào, cách mạng tháng 8/1945 trên thực tế đã chấm dứt phong trào Thơ Mới và tạo điều kiện cho một cách tân trong thi ca.

Một phong trào cách tân trong thi ca đương nhiên cần một sự thay đổi lớn từ gốc rễ về thời đại, xã hội và môi trường nghệ thuật cùng sự tiếp sức của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.

Nguyễn Đình Thi dù khoảng cách tuổi tác không lớn với các thi sĩ thơ Mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… nhưng dường như ông không dính líu gì với cuộc cách mạng trong thi ca trước 1945 có tên thơ Mới và ông cùng với thế hệ mình có đủ những điều thuận lợi cũng như thử thách để tiến hành một cuộc chạy tiếp sức trong thi ca Việt Nam khởi hành từ thơ Mới.

Chính Nguyễn Đình Thi cũng đã nói lên điều đó: “Nhịp sống chúng ta, từ sau cách mạng, đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ra ào ạt. Chúng ta không còn sống khoan thai như một thời nào trước. Nhịp điệu cũ, theo tôi, không còn đủ cho thơ của chúng ta. Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhưng lúc nào cũng là một sức đang lên như thổi”.

Thực tế kháng chiến, những cảm hứng của một thời đại mới, tư thế phát ngôn nghệ thuật mới đã khiến Nguyễn Đình Thi nỗ lực viết mới và viết khác.

Sự xuất hiện của những bài thơ không vần như Không nói, Sáng mát trong như sáng năm xưa, Đường núi, Đêm mít-tinh…của Nguyễn Đình Thi, bên cạnh Nhớ máu của Trần Mai Ninh, Ðèo Cả của Hữu Loan, Ngoại ô Mùa đông 46 của Văn Cao… có thể xem như một dấu hiệu khá đặc biệt của một sự lên đường mới của thơ Việt.

Tuy nhiên, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi cũng gần như ngay lập tức bị cản trở được đánh dấu bằng Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (từ 25 đến 28 tháng 9 năm 1949) trong đó có cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi, với sự lên tiếng khá sôi nổi và gay gắt của nhiều tên tuổi lớn của phong trào thơ Mới như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, cùng đương kim lãnh đạo văn nghệ kháng chiến: Tố Hữu. Tư liệu về cuộc tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi hiện còn lại là bài tường thuật đăng trên tạp chí Văn nghệ số kép 17-18, cũng gọi là số tranh luận (tháng 11&12/1949). Một buổi chiều tranh luận (thời gian dành cho tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi: chiều 28/9/1949) được đăng tải trên 14 trang tạp chí (khoảng 5 ngàn chữ) cho thấy tường thuật khá kỹ lưỡng.

II. Những đề xuất mỹ học và thi pháp mới qua thơ tự do không vần

Trước khi nói về những đóng góp về mỹ học và thi pháp của thơ tự do không vần xin nói vắn tắt những điểm quan trọng về mỹ học và thi pháp của thơ luật vần. Như đã biết, các yếu tố cơ bản tác động sâu sắc vào thể loại cụ thể với thơ bao gồm: một là cái Tôi, hai là cấu trúc, ba là thi ảnh, bốn là nhịp điệu, nhạc điệu và cú pháp và năm là ngôn ngữ. Theo đó, trong thơ truyền thống và thơ theo luật Đường thi cái Tôi thường bị phi ngã hóa, nó tuân thủ luật ”thuật nhi bất tác” hạn chế sáng tạo cá nhân do đó, thơ truyền thống ít để lại các dấu ấn cá tính. Cũng vậy, cấu trúc thơ truyền thống đặc biệt là thơ luật Đường do sự khống chế của luật thơ nghiêm ngặt thường theo mô hình song hành, đối ngẫu. Các yếu tố còn lại như thi ảnh thường mang tính ước lệ, tượng trưng, nhịp điệu thường cổ kính, mang tính ấn định, ngôn ngữ thường trang nhã, hoa lệ.

Với các đặc điểm trên, thơ truyền thống, thơ theo luật Đường và kể cả thơ Mới giai đoạn đầu thường mang tính khả đoán, khiến nó tự hạn chế thi tính của chính nó. Chẳng phải ngẫu nhiên, Lê Đạt lại nhận xét: “Trong một bài thơ cổ điển, nghĩa thường đến đúng hẹn, trong một bài thơ hiện đại nghĩa thường đến trễ giờ”.

Như đã nói, thơ có vần khi bước vào nhịp sống hiện đại mà cụ thể ở đây là đời sống kháng chiến ở Việt Bắc bộc lộ những hạn chế của nó. Chính Nguyễn Đình Thi trong khi bị phê phán vì làm thơ tự do không vần đã nhận xét rất chính xác về thơ truyền thống theo luật vần.

Ông nói:

Có vần là một lợi khí rất đắc lực cho sự truyền cảm. Nhưng không phải hết vần là hết thơ… Những bài thơ cũ, cùng một nhịp đều đều, tôi không chịu được”.

Đây là lý do chính khiến Nguyễn Đình Thi quyết định viết thơ theo cách thức mới.

II.1 Cái Tôi (le moi) trong thơ tự do không vần

Một hình thức thơ mới trước hết cần có một cái Tôi mới.

Cuộc kháng chiến gian khổ, cam go không ngăn cản thế hệ Nguyễn Đình Thi đề xuất một thế cách nhìn cuộc đời không theo những kinh nghiệm cũ. Với tinh thần phóng túng của những người sở hữu tự do, các nhà thơ sau 1945 muốn giải thể các lối viết trước đó bằng việc tạo ra những hình ảnh độc đáo, đôi khi khá xa lạ với hiện thực, sắp đặt những thực thể dường như không có bất cứ một mối liên hệ nào cạnh nhau tạo nên tính phi lí cao độ gây ngạc nhiên đối với công chúng. Tuy vậy, nếu đọc một cách chủ động và cởi mở cũng như suy ngẫm kĩ người ta sẽ thấy tính phi lí lui dần, nhường chỗ cho những gì có thể chấp nhận được. Và thực ra, những hành động sáng tạo có vẻ “ngược đời” ấy, suy cho cùng lại chứa đựng một nỗ lực đáng trọng bởi họ muốn phản ánh thực tại ở chiều sâu. Nghệ thuật mới chứa đựng niềm mong mỏi của con người hiện đại, khao khát được thâm nhập sâu vào nội giới của vật thể, do đó, nó tích cực khai thác các tiềm năng của vật liệu nhằm đề xuất một hướng tiếp cận mới, hữu hiệu hơn. Nhờ chủ trương này, chủ nghĩa siêu thực đã thúc đẩy những tiến bộ khá đáng kể trong văn học nói chung và cho thơ nói riêng.

Riêng đối với thơ, có thể thấy, thơ hiện đại dòng tự do không vần tạo nên sự khác biệt với thơ cổ điển và lãng mạn ở việc thể hiện vai trò của "cái tôi". Trong quan niệm thông thường, cái tôi (le moi) vẫn được coi như là yếu tố trung tâm, khơi nguồn sáng tạo. Nhưng đối với các nhà thơ tự do không vần, vị trí của "cái tôi" đã không còn như trước nữa: nó đã mất địa vị độc tôn, bị lu mờ và bội phân, thậm chí lũy thừa để trở thành cái tôi đa ngã (le moi multiple). Không dừng lại ở đó, kẻ sáng tạo trong thơ tự do không vần còn muốn đi xa hơn, coi cứu cánh của động tác thi ca nằm ở sự biểu lộ, phát giác cái tôi chưa biết (le moi inconnu).

Tóm lại, thi ca hiện đại, đặt lại vấn đề cái tôi, xây dựng một cái tôi mới với cấu trúc đa bội như có người đã gọi bằng thuật ngữ đa ngã (le moi multiple) và cả nỗ lực tìm kiếm và khám phá một cái tôi chưa biết (le moi inconnu) với khát vọng tạo lập mối quan hệ tương giao giữa con người nhất thời với con người muôn thuở nhằm kiếm tìm những kinh nghiệm mới trong quan sát và cảm nhận để diễn đạt những điều không thể hay rất khó diễn đạt của thế giới hiện đại.

Ở trường hợp Nguyễn Đình Thi, đó là cái tôi dấn thân phát huy năng lực trải nghiệm trực tiếp, mở rộng năng lực cảm giác để hướng tới diễn đạt một thời đại mới như nó là.

II.2 Cấu trúc thơ tự do không vần

Về cấu trúc, theo nhìn nhận của nhiều nhà nghiên cứu, thơ tự do không vần rời bỏ hình thức thẳng (forme linéaire) chuyển sang hình thức nổi (typographique), hay hình thức âm thanh, đi vào cấu trúc không gian, không vần (non vers), đảo lộn ngữ pháp cổ điển: cắt chữ, phân câu theo một trật tự mới, sáng lập ra ngôn ngữ cách tân, dựa trên ngữ căn học. Phong cách này bắt nguồn từ quan niệm thẩm mỹ và triết lý gián đoạn, đối lập với quan niệm thẩm mỹ đối ngẫu, song song hay tuyến tính, liên tục hiện diện trong thơ truyền thống và cả thơ Mới trước đó.

Với Nguyễn Đình Thi ông nói giản dị:

"Tôi mong đi tới những câu thơ như lời nói thường mà đạt tới độ cảm xúc mãnh liệt, nếu cần nói hơi dài, dùng những câu dài. Nếu hơi ngắn, nói ngắn. Những hình ảnh thơ mới bây giờ tôi tưởng nó cần phải khoẻ, gần gụi, xù xì, chất phác, chung đúc tự nhiên”.

Đây chính là quan niệm niệm sáng tạo gần với bản chất đích thực của thơ. Nó là một mong mỏi mỗi hành ngôn thơ thật sát với một hành ngôn đời thường nhưng phải mang trong nó một cảm xúc thật mãnh liệt.

Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm

Ngây ngất sương mây

Lối mòn không dấu chân

Gió nổi

Ta nghe ta hát một mình

Ôi cánh đồng

Chiều nay rung rinh lúa ngả

Giải lụa đào bay múa

Tiếng hát ai lênh đênh

Bờ tre xôn xao ánh lửa

Bếp hồng trang giấy trắng khuya

Mịt mùng súng vẳng

Một mảnh trăng

dốc ngả chập chùng

Bước chân bóng động nghiêng bờ núi

II.3 Thi ảnh thơ tự do không vần

Trong tiểu luận Mấy ý nghĩ về thơ, Nguyễn Đình Thi quan niệm:

Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nẩy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hay trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hằng ngày, tâm hồn tự nẩy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa tóe lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng”.

Quan niệm đó được ông thể hiện đầy đủ và đặc sắc trong thơ viết giai đoạn đầu kháng chiến.

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

(Sáng mát trong như sáng năm xưa)

Hà Nội nát người trong gai sắt

Máu chảy hồng tươi bất khuất

(Hà Nội đêm nay)

Ôi nắng dội chan hòa

nao nao trời biếc

Nắng nhuộm hương đồng ruộng, hương rừng chiến khu

Tháp rùa lim dim nhìn nắng

(Sáng mát trong như sáng năm xưa)

Chính Nguyễn Đình Thi nói rõ: “Những hình ảnh tươi nguyên mà nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng. Vì nhà thơ nhìn bằng con mắt của người đầu tiên. Đó là những hình ảnh mới tinh, chưa có vết nhòa của thói quen, không bị dập khuôn vào những ý niệm trừu tượng định trước. Mượn câu nói của một nhà văn Pháp, nhà thơ bao giờ cũng là ngôi thứ nhất. Nhưng những hình ảnh mới lạ ấy đều ở trong đời thực, chúng ta đều thấy, hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta tự bao giờ. Câu thơ đột ngột làm cho ta nhận thấy những cái gần gụi nhất với chúng ta. Trước kia, ta vẫn gặp mà không biết nhìn”.

Đúng vậy.

II.4 Nhịp điệu thơ tự do không vần

Ezra Pound cho rằng nhịp điệu cần nương theo chuỗi nhạc tiết (sequence of the musical phrase), không phải những âm tiết, thể hiện cảm xúc và trí tuệ phức tạp trong khoảnh khắc[1], tuy nhiên, T.E. Hulme lại khẳng định thơ gần với điêu khắc hơn âm nhạc, thị giác hơn thính giác, tức không cho âm thanh là yếu tố căn bản của thơ[2].

Những trao đổi trên trong thơ phương Tây diễn ra khoảng giữa thế kỷ XX và, trong hoàn cảnh kháng chiến, chắc khó mà đến được với Nguyễn Đình Thi. Tuy nhiên, những nỗ lực cách tân thơ của ông thì rất gần với những nỗ lực trong thơ phương Tây thế kỷ XX.

Đỗ Lai Thúy khi nói về nhịp điệu trong thơ Nguyễn Đình Thi cũng nhấn mạnh một đóng góp mới mẻ của riêng ông: nhịp điệu của hình ảnh. Nhịp điệu của hình ảnh, theo Nguyễn Đình Thi, không phải là nhịp điệu sinh học (hơi thở ngắn dài), cũng không phải là vần điệu (lên bổng xuống trầm), cũng không phải là nhịp điệu cú pháp, mà là thứ nhịp điệu chỉ nghe được bằng mắt. “Đó là nhịp điệu hình ảnh của những cảm xúc, hình ảnh, liên tiếp hòa hợp, mà những tiếng và chữ gọi ra những ngân vang dài, ngay giữa khoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động”.

Hãy đọc:

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

Ôi nắng dội chan hoà

Nao nao trời biếc

Gió đượm hương đồng rộng

Hương rừng chiến khu

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng

Những cánh chim non

Trông vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người

Hung hăng một buổi

Tháng Tám về rồi đây

Hôm nay nghìn năm gió thổi

Trời muôn xưa

Đàn con hè phố

Môi hớn hở

Ngày hẹn đến rồi

Các anh ngậm cười bãi núi ven sông

Hà Nội

Ơi núi rừng.

Cũng có thể nói, về phương diện nhịp điệu, thơ tự do không vần chủ trương tạo nhịp điệu mới với lý do nhằm diễn đạt trạng thái mới của thời đại. Dĩ nhiên nó từ chối sao chép lại nhịp điệu cũ vì cho rằng đó chỉ là lặp lại những âm vang của trạng thái cũ và, nhịp điệu mới còn có nghĩa là chuyên chở được những ý tưởng mới.

II.5 Ngôn ngữ thơ tự do không vần

Trong thơ tự do không vần, ngôn ngữ được nới lỏng do các nguyên tắc vần cuối dòng bị phá bỏ, các nguyên tắc tạo nhịp và nhấn theo luật dường như cũng bị giải thể. Thơ viết theo điệu ngâm truyền thống cũng từ đó mà nhường chỗ cho thơ điệu nói.

Ngôn ngữ thơ Nguyễn Đình Thi quả thật rất giản dị, ngôn từ được cất lên tự nhiên và hồn nhiên. Có thể thấy ông dường như chỉ dùng những từ thuần Việt. Hành ngôn thơ của Nguyễn Đình Thi gần một hành ngôn đời thường. Về đặc điểm này, Đỗ Lai Thúy đã nhận xét chính xác: “Tính chất trực tiếp này do nhà thơ hoàn toàn dựa vào thực tại, không tìm kiếm thi liệu ở sách vở. Nó ứ đầy chất sống, nó là sự sống, là cuộc đời”.

III. Những ảnh hưởng của thơ tự do không vần với các thế hệ tiếp nối

Cũng chính ở đặc điểm đã nói ở II.5, thơ tự do không vần của Nguyễn Đình Thi dễ lan tỏa và tạo sức ảnh hưởng lớn đối với các văn nghệ sỹ miền núi trong các thế hệ tiếp nối do chỗ, các thế hệ văn nghệ sỹ ở các miền đất này trong quá trình sáng tạo của mình không có xu hướng xích gần tới các khuynh hướng nặng tính hàn lâm, kinh điển hoặc sính các mã nghệ thuật thời thượng và tân kỳ.

Có thể thấy điều đó qua một số gương mặt thơ xuất hiện từ sau 1975 ở Tuyên Quang qua các hình thức lập tứ phóng khoáng, tìm kiếm những hình ảnh chân mộc, nỗ lực kiến tạo những hành ngôn thơ gần với những hành ngôn ngày thường rời xa những ràng buộc về vần, luật.

Chẳng hạn với Gia Dũng:

Đêm nay ta đi, Trường Sơn lộng gió

Trời vắng trăng sao nhưng trong tim rực lửa

– Đi ta làm ngọn sóng giữa trùng dương

Quật xuống đầu thù bằng sức mạnh Trường Sơn!

Ở Mai Liễu với Ta mãi còn đi, còn đến Tân Trào:

Tôi muốn hôn lên tảng đá cạnh lều

Từ vô tri đã hoá thành huyền thoại

Ngấm vào thớ đá, chân rêu:

Đây chỗ Bác ngồi viết lời kêu gọi

Toàn dân đứng dậy cướp chính quyền.

Nơi Bác đọc công văn và tiếp các nhà cách mạng

Nơi nhận nắm xôi, gói thuốc của đồng bào

Nơi Người tựa lưng khi vừa lui cơn sốt

Cây rừng tròn bóng ô xanh…

Ở Nguyễn Đức Hạnh với Bài ca xứ sở:

Không phải nắng cuối mùa sao đã nhạt

Tuyên Quang lặng lẽ một miền đồi

Em mười tám tóc buông ngày trễ nải

Ta về thanh thản chút buồn riêng…

Ở Tạ Bá Hương:

Tôi như hạt thóc mẹ gieo ngoài đồng

Cứ hồn nhiên cứ âm thầm

Tự thân tách vỏ đội mầm lớn lên.

Và khá đặc biệt ở Đoàn Thị Ký

Một nền trời

Độ bút

Một trái tim

Trái tim đập ngoài chuẩn mức

[…]

Cung hồng thắm

Nảy nòi

Trả trắng

Một ngày chơi.

(Độ giấy)

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. Đặng Tiến: Nguyễn Đình Thi và tiếng chim từ quy. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003.

2. Đỗ Lai Thúy: Nguyễn Đình Thi – cánh én bay qua mùa xuân. Tạp chí Sông Hương, số 172 (tháng 6), 2003.

3. Hoài Anh: Nguyễn Đình Thi – Vai trò nhà văn tiên phong trong văn học cách mạng. 2010. https://trieuxuan.vn/nguyen-dinh-thi-nha-van-di-tien-phong-trong-van-hoc-cach-mang

4. Hulme, T. E. A Lecture on Modern Poetry, 1908. In lại trong Michael Roberts: T. E. Hulme. London: Faber and Faber, 1938.

5. Lê Đạt: Thơ Lê Đạt (1929 - 2008). https://tienphong.vn/tho-le-dat-1929-2008-post120815.tpo

6. Pound, Ezra. A Retrospect. Trong Pavannes and Divisions. New York : Knopf, 1918. In lại trong Literary Essays of Ezra Pound, T. S. Eliot ed., New Directions Publishing, 1968.

7. Nguyễn Đình Thi: My ý nghĩ v thơ. Viết từ năm 1949, đăng lại trên Tạp chí Tác Phẩm Mới, số đặc biệt về thơ, số 3-1992.

PHỤ LỤC:

Các bài thơ không vần của Nguyễn Đình Thi viết ở Việt Bắc thời kỳ đầu kháng chiến

Không nói

Dừng chân trong mưa bay

Ướt đầm mái tóc

Em em nhìn đi đâu

Môi em đôi mắt

Còn ốm đây (*)

Nhìn em nữa

Phút giây

Chiều mờ gió hút

Bắt tay

Đồng chí

Em

Bóng nhỏ

Đường lầy

Sáng mát trong như sáng năm xưa…

Sáng mát trong như sáng năm xưa

Gió thổi mùa thu hương cốm mới

Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

Phố dài xao xác heo may

Nắng soi ngõ vắng

Thềm cũ lối ra đi

Lá rụng đầy

Ôi nắng dội chan hoà

Nao nao trời biếc

Gió đượm hương đồng rộng

Hương rừng chiến khu

Tháp Rùa lim dim nhìn nắng

Những cánh chim non

Trông vời nghìn nẻo

Mây trắng nổi tơi bời

Mấy đứa giết người

Hung hăng một buổi

Tháng Tám về rồi đây

Hôm nay nghìn năm gió thổi

Trời muôn xưa

Đàn con hè phố

Môi hớn hở

Ngày hẹn đến rồi

Các anh ngậm cười bãi núi ven sông

Hà Nội

Ơi núi rừng

Đường núi

Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm

Ngây ngất sương mây

Lối mòn không dấu chân

Gió nổi

Ta nghe ta hát một mình

Ôi cánh đồng

Chiều nay rung rinh lúa ngả

Giải lụa đào bay múa

Tiếng hát ai lênh đênh

Bờ tre xôn xao ánh lửa

Bếp hồng trang giấy trắng khuya

Mịt mùng súng vẳng

Một mảnh trăng

dốc ngả chập chùng

Bước chân bóng động nghiêng bờ núi

Đêm mít-tinh

Muôn ngàn đêm hẹn nhau họp đêm nay

Yên lặng nép ngồi

Tia vàng vút bay

Tung lên hoa lửa

Lên lên mãi

Một vầng sao ngời muôn vầng sao

Bụi ngọc ngập trời

Rơi rơi trên đầu trên cổ

Trên ngón tay

Triệu triệu sao

Rừng Việt Bắc

Trời sao đây là của chúng ta

Núi rừng đây là của chúng ta

Những xóm đồng thơm mát

Những ngả đường bát ngát

Những dòng sông đỏ nặng phù sa

Nước chúng ta

Nước những người chưa bao giờ khuất

Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

Những buổi ngày xưa vọng nói về

Ngàn sao phơi phới đang bay

Dạt dào mắt không thấy nữa

Dưới kia Hà Nội nhìn lên

Phố phường nín thở

Những lề đường mòn cũ

Lành lạnh mưa phùn

Hà Nội

Một mình buồn xé ruột

Ngày ngày thức dậy

Quay mặt đi đâu ngày hôm nay

Gió mùa đông trong lá chưa đi

Còn đến bao giờ bao giờ

Đêm nay trời sao trắng bạch

Cháy trùm đất nước

Đêm loè sáng

Đi lên đi lên

Ta lớn ta khoẻ

Súng ta rợp đồng

Ngàn sao chào múa

Trời nắng bỏng

Bao nhiêu tường chói loá

Những lùm cây cháy cả lên

Rừng Phan Lương dữ dội reo hò

Đỏ đỏ trôi đường phố

Hà Nội phố hè ngực đập thình thình

Tiếng hát reo cười cuốn trào nước mắt

Sao ơi núi rừng ơi nức nở.


[1] "As regarding rhythm: to compose in the sequence of the musical phrase, not in sequence of a metronome." (Về nhịp điệu: hãy sáng tác theo chuỗi nhạc tiết, chứ không phải theo chuỗi âm của một máy gõ nhịp.). Literary Essays of Ezra Pound, tr. 5.

[2] “This new verse resembles sculpture rather than music; it appeals to the eye rather than to the ear. It has to mould images, a kind of spiritual clay, into definite shapes.” (Câu thơ mới này giống như tác phẩm điêu khắc hơn là âm nhạc; nó hướng đến thị giác hơn là thính giác. Nó phải nhào nặn những hình ảnh, một loại đất sét tinh thần, thành những hình dạng nhất định.). In lại trong A Lecture on Modern Poetry, tr. 269-270.

Chris Yên, đạo diễn gốc Việt từ chối $1 triệu của Hollywood

 Kalynh Ngô/Người Việt

SAN JOSE, California (NV) – Với một người có tư duy sáng tạo, thì thật khó để nói chính xác một ý tưởng thường bắt nguồn từ đâu, bởi vì đôi khi nó bất ngờ như từ trên trời rơi xuống. Tuy nhiên, một khi ý tưởng đã hình thành, họ nhìn lại, hiểu ra nguồn gốc cũng như điểm khởi đầu của nó, thì họ quyết tâm bảo vệ bản chất nguyên thủy của ý tưởng đó bằng mọi giá. Cho dù đó là lời mời hấp dẫn trị giá $1 triệu của Hollywood để mang kịch bản phim lên màn ảnh rộng.

Trần Đức Thảo là ai? Cuộc đời và sự nghiệp của một triết gia người Việt

Alexandre Féron, Qui est Tran Duc Thao? Vie et œuvre d’un philosophe vietnamien – Contretemps, CONTRE TEMPS tháng 2/2014
Hoàng Lan Anh
dịch

 

Phần 1: Cuộc đời học thuật dấn thân ở Pháp

 

Nhìn lại dự án trí tuệ đầy tham vọng và cuộc đời đầy biến động của triết gia Marxist người Việt Nam này: quá dấn thân dưới mắt các nhà triết học, quá triết học đối với các nhà hoạt động, và ông bị cuốn vào những mâu thuẫn của thế kỷ. (ND: Vì bài quá dài, chúng tôi tách làm hai phần để dễ đọc. Sau đây là phần 1 liên quan đến những hoạt động triết học ở Pháp).

Thơ của một người đạp xích lô ở Huế

 Mai Văn Hoan

Ở Huế, nói đến Nguyễn Văn Phương rất ít người biết nhưng Phương Xích Lô thì trong giới văn nghệ sĩ và những người hành nghề đạp xích lô hầu như ai cũng biết. Không chỉ ở Huế mà một số người làm thơ ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Đà Lạt... cũng biết tiếng anh. Phương từng là “đệ tử” của Bùi Giáng. Lối sống bụi bặm, hoang dã, tự nhiên, thực ảo, say tỉnh và phong cách cuồng ca của anh ít nhiều chịu ảnh hưởng thi sĩ họ Bùi. Huế vắng bóng anh có phần yên tĩnh hơn nhưng cũng có vẻ như đơn điệu hơn bởi đã mất đi một giọng thơ đầy bản năng, đầy chất thi sĩ.

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (16)

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Phần ba

HÀNH TRÌNH TÌM ÂM BẢN II

1.

Thế đang làm phim trên Tây Bắc được một tháng thì có điện của Ban Giám đốc VFC (Hãng phim Đài Truyền hình) gọi về giao nhiệm vụ: anh phải thực hiện gấp một phim truyện về Tỉnh Bình Phước, trên cơ sở kịch bản tự lo liệu lấy, nhằm kịp thời “ủng hộ” một nhân vật VIP của Đài ứng cử Đại biểu Quốc hội tại tỉnh này.

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Về mối quan hệ giữa Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Ái Quốc và Lê Hồng Phong

 Nguyễn Ngọc Giao

Trong chính sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, người ta chỉ viết vắn tắt Nguyễn Thị Minh Khai (1910-1941) và Lê Hồng Phong (1902-1942) đã kết hôn năm 1934 ở Thượng Hải (một vài văn kiện lại viết 1935 ở Moskva). Ông Lê Hồng Phong (tên thật là Lê Huy Doãn, bí danh Litvinov, Hải An, rồi La Anh) được cử làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1935, về nước năm 1936, bị giam và chết trong tù). Nguyễn Thị Minh Khai (tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, bí danh là Duy, Phân Lan, Năm Bắc, Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn) bị bắt năm 1940, kết án tử hình và xử bắn ngày 28.8.1941.

Ông Phủ Thành Chương

 Hoàng Minh Tường

Lẽ ra Việt Phủ Thành Chương không ở địa chỉ vùng đồi Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội gần 40 cây số như bây giờ. Ý tưởng thành lập Việt phủ đầu tiên của họa sỹ Thánh Chương, bắt đầu từ khi báo Văn Nghệ xin được bãi đất lò gạch xã Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội (khu phố Ngụy Như Kon Tum ngày nay), làm khu cư xá cho các văn nhân.

Thực đơn dĩ vãng

 Truyện ngắn Văn

1.

Hà Nội, ba giờ sáng.

Phố cổ giờ này vắng bóng người. Ngoài tiếng nước nhỏ giọt từ máng xối, tưởng như còn nghe thấy tiếng chân mèo đi trên mái ngói. Khói bụi của ngày đã lắng xuống, nhường chỗ cho mùi ẩm của tường gạch thấm mưa toả ra. Sương xuống thấp, bám vào những tấm biển hiệu đã tắt đèn, bám vào tóc và mặt một người đang đi giữa lòng phố, bước chân chậm như kẻ lang thang không nhà.

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

Thác là thể phách, còn là tinh anh

 Lê Học Lãnh Vân

 

Nghe tin các tờ báo giấy tại Thành phố Hồ Chí Minh bị đóng cửa, nhiều người bồi hồi, tiếc nuối… Nhưng cũng có người nói những tờ báo Hèn thì nên Chết đi! Và thậm chí có người còn gom chung rằng nhà báo Việt là những nhà báo bất xứng danh!

Cám ơn đất nước Hoa Kỳ / Thank you, America

Trần Kiêm Đoàn

Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Cái chết không có con người hay cuộc hóa thân bất tử (Đọc tập truyện ngắn Cái chết không có con người của Hoàng Trọng Định)

Lê Huỳnh Lâm

Như một tiên nghiệm trầm mặc, cái chết thường xuyên tạo nên không khí văn chương đầy ám tượng trong từng nhịp thở của ngôn ngữ. Có lẽ đây là tập truyện ngắn gợi mở những bi kịch lớn nhất của con người trước thế giới đầy ngập những nguy kịch. Văn phong mang âm hưởng huyền ảo, ẩn ngôn những triết lý siêu nghiệm của tác giả dẫn dắt người đọc đi trên con đường độc đạo, không có lối thoát… Màu đêm như tấm khăn choàng che gương mặt thiếu phụ, khiến chúng ta cảm tưởng sự dẫn dắt đó sẽ rơi vào bế tắc. Nhưng, tia sáng bắt đầu lộ diện khi tưởng chừng mọi sự đang bị hút vào hố đen của vũ trụ.

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (14)

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

17.

Biết ông thầy sẽ quyết giữ kín những tư liệu phim chưa/ không có lợi cho Sự nghiệp của Ban như lời hứa, Lò Mai Cư vui lắm, và vui hơn nữa bởi những gì thầy kể lại về mường Thái bên Quỳnh Nhai đang chuẩn bị di dời, nhất là những giọt nước mắt của bao người phụ nữ già trẻ bên một đoạn sông Đà sẽ vĩnh viễn biến mất để làm lễ “Lung ta” lần cuối, “nếu được dựng lại sẽ là một trường đoạn phim xúc động nhất trong điện ảnh xưa nay” - Thế tự tin khẳng định… Trong bữa rượu cá nhân chiêu đãi thầy cũ “chúc mừng đợt công tác thành công”, Cư đã kể cho Thế nghe mấy chủ trương mới do Cư đề xuất, đặc biệt là chủ trương: “Dân yêu cầu làm mới thì xây, nếu dân tự tháo dỡ nhà cũ và vận chuyển đến nơi ở mới thì hỗ trợ tiền di rời, tiền bổ sung vật liệu để hoàn thiện nhà mới. Mỗi hộ tự tháo nhà di rời sẽ hỗ trợ thêm 50 triệu đồng để đầu tư sản xuất, ổn định đời sống...”. Thế trầm ngâm: “Vậy là Ban di dân tái định cư đã thấu hiểu nguyện vọng của đồng bào. Giá như chủ trương này có sớm hơn, sẽ đỡ khổ nhiều cho cả người đã đi lẫn người còn ở lại…”. Rồi Cư kể cho thầy cũ nghe một câu chuyện khá ly kỳ trong công việc gian nan suýt thì đổ máu người, có liên quan đến tính mạng của anh ta; câu chuyện có thực này được thông qua trí tưởng tượng và trải nghiệm của “nhà báo bất đắc dĩ” - “nhà điện ảnh ẩn dật” suốt hai tuần qua trên vùng lòng hồ, đặc biệt là có liên quan đến tác phẩm sưu tầm dịch thuật tác phẩm Thái cổ “Mo Khuôn” (Mo hồn) do nhà văn lão bản Vương Trung tặng cho đàn em năm nào đã kịp ngấm vào Thế:

Hai giờ chiều, để thực thi một nhiệm vụ tối đặc biệt, Cư bỏ xe con công vụ, một mình nhảy xe ôm đi một chặng đường dài, rồi xuống đò tới một trong những bản cuối cùng còn vướng mắc giải tỏa: bản Púng Lầm.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2026

Sóc Nâu của ngày tháng dại

 Truyện ngắn của Đa Mi

 

I

Thôn nói Thôn phải đi khỏi đây vì có quá nhiều chuyện buồn. Những chuyện buồn ám ảnh đêm đêm, Thôn không ngủ được. Chú Lầu không hiểu có biết gì không, cứ líu lo: “Này, con dzoi nó phá kinh lắm!”. Tôi gật chiếu lệ: “Voi mà phá thì thôi...”. Chú Lầu không tha: “Dưới rẫy tôi có một bầy dzoi, nó phá...”.

Bóng tròn: Khi chạy theo banh là hạnh phúc

 Phan Tấn Hải

Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè.

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (13)

 Mai An Nguyễn Anh Tuấn

13.

Sau mấy năm làm phim dài ngày trên Tây Bắc cùng ông Đạo Chúc, Thế lại được ông mời lên Gia Bình - Bắc Ninh, lúc này ông đã là Hội trưởng “Hội yêu kính Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ”. Ở đó, trong khu di tích Vườn Vải (Lệ Chi Viên) - nơi từng xảy ra một vụ án thảm khốc cách đây sáu thế kỷ, ông Chúc đã hưng công xây dựng Đài Giọt Lệ và Đền thờ Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ...

Thứ Bảy, 4 tháng 7, 2026

Văn chương là sự đồng cảm với thân phận con người.

Xin đừng chính trị hoá, hình sự hoá văn chương viết về thân phận con người.

 Phạm Đình Trọng

Dù là người sáng lập ra Đảng Cộng sản đang ngạo nghễ cầm quyền ở nước ta, dù đã đưa đất nước Việt Nam từ không có tên trên bản đồ thế giới đến danh xưng vang dội như ngày nay thì Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh cũng là con người có thực trong cuộc đời. Không phải người Trời ở cõi linh thiêng trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh với các Vua Hùng huyền thoại. Cũng không phải thần thánh ở trong mây trắng trên đỉnh Ba Vì với thần Tản Viên hư ảo.

Ký họa của Bùi Xuân Phái vẽ Nguyễn Huy Tưởng

 Nguyễn Huy Thắng

Có những ngày bất ngờ nhận được món quà vô giá. Như tối nay, cơm nước xong, mở điện thoại ra xem có thư, có bài gì mới không, thì thấy có tin của ông anh Trần Chính Nghĩa. Anh Nghĩa là con của nhà nhiếp ảnh Trần Văn Lưu, người đã chụp những bức ảnh văn nghệ sĩ nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp. Nối nghiệp cha, anh cũng cầm máy, và trở thành một trong những người chụp họa sĩ Bùi Xuân Phái thành công nhất. Hai anh em mình đã cùng nhau biên soạn cuốn sách ảnh về cha anh – Văn nghệ & Kháng chiến qua ống kính Trần Văn Lưu – mà theo chủ quan mình là rất được...

Nhà văn, dịch giả Phùng Khánh (Thích Nữ Trí Hải) – một vườn hoa tràn ngập ý đạo

 Lê Huỳnh Lâm

Cố đô Huế quả thật nhiều hạnh vận khi sản sinh ra một nữ danh sĩ Phùng Khánh, tức cố Ni trưởng Thích Nữ Trí Hải (1938-2003). Bà gọi Tuy Lý Vương là tằng tổ phụ (cố nội), thuộc dòng hoàng tộc chánh hệ vua Minh Mạng. Dù xuất thân danh gia vọng tộc, sống một cuộc sống đầy đủ vật chất, nhưng theo truyền thống gia đình nhiều đời thâm tín đạo Phật, Phùng Khánh đã sớm chọn cho mình con đường xuất gia. Bà vừa là một nữ tu sĩ, vừa là nhà văn, là một dịch giả tài hoa, và là một nhà hoạt động xã hội tích cực.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Nghệ sĩ lớn và khả năng nhìn thấy phẩm giá ở người khác

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Có một điều mà càng đọc sâu vào lịch sử nghệ thuật, mình càng thấy đúng đó là những nghệ sĩ lớn thường không phải là những người giàu có nhất nhưng rất nhiều người trong số họ lại là những người hào phóng nhất. Tuy nhiên, lòng tốt của nghệ sĩ không nhất thiết nằm ở việc họ làm từ thiện hay hy sinh bản thân. Ở một ánh nhìn sâu sắc hơn, lòng tốt của nghệ sĩ nằm trong cách họ nhìn thế giới.

Tiểu thuyết Âm bản và dương bản (11)

 Mai An Nguyn Anh Tun

7.

Giữa lúc lúc Hãng phim truyện lớn nhất nước bắt đầu vào giai đoạn “chết lâm sàng”, đạo diễn Khải học trước Thế vài khóa, đương phụ trách một mục văn hóa của Đài Truyền hình Việt Nam đã đề nghị Cơ quan ông cho thành lập một Trung tâm Nghe - Nhìn với mục đích để xây dựng các bộ phim truyện mà trước đó Đài chỉ thực hiện các chương trình Truyền hình, phim tài liệu, tiểu phẩm sân khấu và quảng cáo... Ông Khải đã kêu gọi các thành phần sáng tác và kỹ thuật bên Hãng phim truyện sang làm phim với ông, mới đầu là hợp đồng lẻ tẻ theo vụ việc, sau nhiều người của Hãng phim truyện Việt Nam đã ào ạt “di cư”, đầu quân chính thức cho Trung tâm để sau đó nhanh chóng thành Hãng phim Truyền hình (VFC). Ông Khải bảo Thế: “Cậu còn tiếc rẻ gì cái nơi đã coi cậu như cục đất thó vậy? Về đây đi, tớ biết cậu có nhiều kịch bản lý thú, cậu sẽ được làm nghề phim truyện hẳn hoi, sẽ có khán giả riêng của cậu!” Không đợi đến lời mời thứ hai, Thế “khăn gói” chuyển hẳn biên chế sang VFC, và mặc nhiên anh trở thành Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam, bởi thực chất các bộ phim truyện được thực hiện tại đây nhằm cái đích cao nhất của Đài là Tuyên truyền cho các mục tiêu Chính trị - Xã hội, bằng nghệ thuật điện ảnh!