Danh Ngôn

Nhiều hình phạt lắm khi, và trong vài trường hợp, làm mất uy tín của một ông vua, cũng như nhiều đám tang làm mất uy tín của một ông thầy thuốc.

Many punishments sometimes, and in some cases, as much discredits a prince as many funerals a physician

Ben Johnson. “Of Statescraft,” Timber; or Dscoveries, 1640

Không có gì gây nguy hại trong một quốc gia hơn tệ nạn bọn láu cá được nhầm là minh triết.

Nothing doth more hurt in a state than that cunning men pass for wise.

Sir Francis Bacon. “Of Cunning,” Essays, 1625

Một quốc gia để lộ bản chất của mình không những bằng những con người nó sản sinh ra mà còn bằng những con người nó vinh danh, những con người nó tưởng niệm.

A nation reveals itself not only by the men it produces but also by the men it honors, the men it remembers.

John F. Kennedy. Diễn văn đọc tại Amherst College, Amherst, Massachusetts, 26-10-1963

Trong khi từ giã nhà vua để ra cầm quân ở chốn chiến trường, Thống chế Villars một hôm đã nói trước triều đình: “Thưa bệ hạ, tôi sắp đi đánh dẹp kẻ thù của Ngài, tôi xin giao Ngài cho những kẻ thù của tôi.

Le maréchal de Villars dit un jour au roi devant toute la cour, lorsqu’il preneait congé pour aller commander l’armée: “Sire, je vais combattre les ennemis de Votre Majesté, et je vous laisse au milieu des miens.”

Voltaire. Le Siècle de Louis XIV, 1751

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Diễn văn Nhậm chức của Donald Trump, Tổng thống thứ 45 của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, đọc trước thềm Quốc Hội Mỹ ngày 20–01–2017

Trần Ngọc Cư dịch

Chủ tịch Tối cao Pháp viện Roberts, Tổng thống Carter, Tổng thống Clinton, Tổng thống Bush, Tổng thống Obama, nhân dân Mỹ và nhân dân toàn thế giới: Xin cảm ơn quí vị.

Chúng ta, công dân Mỹ, đang đoàn kết trong một nỗ lực vĩ đại của quốc gia để xây dựng lại đất nước chúng ta và hồi phục lời hứa hẹn của quốc gia này đối với tất cả nhân dân chúng ta.

Chúng ta sẽ cùng nhau định đoạt hướng đi của nước Mỹ và thế giới trong những năm sắp tới. Chúng ta sẽ đối mặt với các thách đố. Chúng ta sẽ đương đầu với mọi khó khăn gian khổ. Nhưng chúng ta sẽ hoàn tất công việc được giao phó.

Cứ mỗi bốn năm, chúng ta lại tề tựu trên những bậc thềm này [của toà nhà Quốc hội] để thể hiện cuộc chuyển giao quyền lực trong trật tự và hòa bình. Chúng tôi xin tri ân Tổng thống Obama và Đệ nhất Phu nhân Michelle Obama về sự trợ lực tốt đẹp suốt cuộc chuyển giao này. Họ thật là cao thượng.

Nhưng buổi lễ hôm nay có một ý nghĩa rất đặc biệt. Vì hôm nay chúng ta không những chuyển giao quyền lực từ chính quyền này sang chính quyền khác, hay từ đảng này sang đảng khác – mà chúng ta còn chuyển giao quyền lực từ Thủ đô Washington để giao lại cho các bạn, cho Nhân dân Mỹ.

Trần Tuấn

Hôm qua lúc 9:39 ·

Tròn 43 năm Hoàng Sa rơi vào tay tàu cộng (19.1.1974), đăng lại bài thơ dài này, như một niềm tưởng tiếc...

NHỮNG TRÍCH ĐOẠN HOÀNG SA

• Trần Tuấn

từng con tàu bị thương từng lá cờ bị thương
mẹ đại dương băng vết thương bằng muối
Hoàng Sa của chúng ta là chúng ta như chúng ta vì chúng ta
cất tiếng thương đau nhói
con sóng khổng lồ chồm dưới chân tôi chờ đợi…
.
có nhiều đêm tôi áp mặt xuống Hoàng Sa
nghe từ phía thẳm sâu tiếng Người kể chuyện
qua ngàn tầng nước sóng âm âm
qua triệu hạt thời gian xuyên ngoài trái đất
vỏ hành tinh đáy đại dương hút xoáy đỉnh đầu

ngày xuân, gõ cửa thiên đường

Truyện

Lê Thị Thấm Vân

Cách đây không lâu, một sáng đẹp trời. Vicki, cô bạn làm cùng sở mang vào xấp hình chụp đám cưới của Ron, (Ron là đồng nghiệp). Cả phòng nháo nhào, chuyền tay coi, kèm theo lời khen nhiều hơn chê cùng tiếng cười to, nhỏ. Lẫn trong xấp hình, có tấm chụp riêng tôi (Vicki bảo chồng nó chụp lúc tôi không biết). Tấm hình chụp nửa người trên, đứng tựa bờ tường, một tay khoanh và một tay cầm ly rượu. Người hơi nghiêng, mắt đang ngước nhìn... (tôi chẳng nhớ mình đang nhìn gì?). Tấm hình trông lạc điệu giữa 36 tấm hình khác vì ai cũng tươi cười.

Lúc Vicki trao tôi tấm hình, nó nói:

“Của mày, mày giữ lấy. Chồng tao bảo mày đẹp nhưng…”.

“hơi buồn”. Tôi điền vào chỗ trống hộ nó.

“Ừ, hơi buồn. Phải chi mày chịu khó nhe răng một tí chắc đỡ hơn.”. Vicki thành thật.

“Ừ, tao cũng nghĩ thế”. Tôi nhỏ giọng.

Văn học miền Nam 54-75 (280): Nguyễn Thị Hoàng (3)

Vòng Tay Học Trò

Chương 1

Trang điểm xong, Trâm ngắm khuôn mặt mình trong gương và mỉm cười với bóng. Hai con mắt đen trong sáng long lanh như hòa điệu với đôi môi phơn phớt một lượt son hồng nhạt hé hàng răng trắng đều như bắp non. Mái tóc chải rối, vén cao, làm nhưng nét dịu dàng trên mặt Trâm có vẻ già dặn và kiêu sạ Trâm bàng hoàng sung sướng thấy mình lạ và đẹp hẳn lên như lâu ngày gặp lại một người tình lòng chưa nguôi yêu dấu. Khuôn mặt này chỉ lạ đối với những ngày tháng hiện tại, nhưng quen thuộc vô cùng với chuỗi dài quá khứ của Trâm. Đã hơn một tháng từ ngày đi dạy học, Trâm không bao giờ đánh phấn và trang điểm thế. Hàng ngày đến trường hoặc đi ra phố chợ, thăm viếng bạn bè bà con, Trâm chỉ tô một lượt phấn hồng thật mỏng đến không ai biết là nàng dùng phấn để che lớp da trắng xanh chưa quen khí hậu của thành phố sương mù này. Ngòi bút chì đen kẻ đuôi mắt để lâu không dùng nay đem gọt lại, Trâm làm mòn mất một nửa. Cái bút lông nhỏ tô môi cuốn lại vì lâu không bám hơi son phải ngâm vào nước hoa hồng một lúc mới dùng được. Đến những ngón tay của nàng khi trang điểm cũng trở nên lúng túng, vụng về. Bây giờ giở lại những "đồ nghề" thuở trước, nhìn khuôn mặt rực rỡ trở về trong bóng gương xưa, bỗng nhiên lòng Trâm chùng hẳn xuống trong một nỗi buồn man mác, một thống xót đau gờn gợn như có ai cấu vào vết thương đã lành khô máu từ lâu.

Kinh nghiệm sáng tác trong tù

Thanh Tâm Tuyền

Ở lại, tôi chấp nhận số phận dành cho kẻ bại. Không chút tiếc rẻ quãng đời cũ, cũng không ảo tưởng về những ngày sắp tới với mình.
Năm 74, trả lời một người bạn đã ra khỏi nước viết thư về hỏi thăm “cớ sao hạ sơn?”, tôi viết cho anh:

… Ta nhớ rằng ta không nhớ nữa
Như cây trút lá mùa hưu miên.

Như thân gỗ nặng thả theo nước
Bập bềnh trôi nổi ta về xuôi.
Như lau lách mọc bên bờ bãi,
Phất phơ tóc trắng lả theo trời.

Trước cái hỗn độn mờ mịt mở ra sau 73, tôi kể như mình đã sống hết đời mình, những ngày còn lại thừa dư không đáng bận tâm. Tôi vô vọng hoàn toàn. Bởi thế sau 75, đi cải tạo, tôi lại cùng những kẻ “đồng hội đồng thuyền” từ miền xuôi lên mạn ngược, phần nào thản nhiên rửng rưng – không tuyệt vọng cũng không hy vọng.
Tôi nghĩ trong chuyến đi này tôi sẽ “mất hút” không trở lại như từng ao ước, không như lần “tiền cải tạo” đi rồi về vì thấy “đâu ngọn núi nào của riêng ta?” Lần này đi “tự nhiên” hơn, không kênh kiệu lớn lối, chỉ như “rác rưởi bị cuốn trong giòng lũ của lịch sử”.
Nhưng đã không như tôi tưởng.

Thriller Bờ Bên Kia

Lưu Thủy Hương

Chương 6: Phần độc

Moni là một người đàn bà cô độc, sắc sảo và kỳ dị.

Năm tôi mười bốn tuổi, cha nuôi tôi rời bỏ ngôi nhà màu tím bên bờ hồ, để theo một người đàn bà khác, trẻ hơn Moni hai mươi tuổi. Tôi đưa cha nuôi ra nhà ga, lặng lẽ ngồi bên người đàn ông chải chuốt, nặng mùi deodorant lẫn mùi aftershave. Ông ấy vừa xem đồng hồ vừa lắc đầu thương cảm:

"Robert, mày phải rời khỏi căn nhà đó, trước khi mụ ta biến mày thằng một thằng điên loạn."

Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy ông ấy. Tôi đứng nhìn theo đoàn tàu cho đến khi nó khuất bóng sau những hàng cây đoạn. Một thằng con trai mười bốn tuổi không có nhiều sự lựa chọn. Tôi không sợ căn nhà của Moni, tôi chỉ sợ nhà thương tâm thần, nơi Moni sẽ tống cổ tôi vào. Bà ấy có thừa khả năng, thừa quyền lực để làm chuyện đó. Tôi như con muỗi nằm giữa hai lòng bàn tay của Moni. Và tôi quyết định sẽ không để bàn tay ấy nghiền nát mình.

CÉDRIC VILLANI : « HƠN LÚC NÀO HẾT, TRƯỜNG HỌC PHẢI MỞ CỬA RA THẾ GIỚI »

Nhà Toán học Pháp Cédric Villani được thế giới biết đến với những công trình nghiên cứu các phương trình vật lý thống kê mô tả trạng thái thống kê của các phân tử khí và plasma. Ông được nhận huy chương Toán học Fields năm 2010. Cédric Villani đã từng tới Việt Nam giao lưu với giới trẻ Hà Nội vào tháng 8 năm ngoái, theo lời mời của Viện Pháp tại Việt Nam.

Trong bài viết đăng trên báo điện tử Le Monde ngày 3/1/2017 mới đây, Cédric Villani chia sẻ với độc giả tầm nhìn của ông về tương lai của giáo dục và các nghề nghiệp.

clip_image002

Nguồn ảnh: PHILIPPE MATSAS/OPALE/LEEMAGE

Đối với một sinh viên Toán học, dữ liệu lớn hay trí thông minh nhân tạo phải chăng là một chốn thần tiên mới?

Có vẻ là như vậy! Trí khôn nhân tạo hay “máy học” là những từ mà người ta nghe nói ở mọi nơi. Người ta hứa hẹn đặt trí khôn nhân tạo trong những chiếc đèn, xe ô tô, tàu điện ngầm… Và thực tế là, mỗi khi người ta định thử làm việc đó, sẽ có một thuật toán xuất hiện phía sau. Đến nỗi mà việc làm quen với văn hóa thuật toán, với sự pha trộn của toán học và lập trình – thứ mà người ta tóm gọn vào một cụm từ “trí khôn nhân tạo” – không còn nghi ngờ gì nữa, là một thứ lợi tức.

Sài Gòn – Hoàng Sa, ngày 19/1

Hoàng Dũng

Đang ngồi trò chuyện thân mật trên chiếc ghế đá trước hiên nhà với một cậu thanh niên mặt thường phục, trẻ măng, khuôn mặt đẹp trai, có hơi bầu bĩnh nữa – chung quanh còn có ba cậu khác, cũng mặc thường phục – anh Lê Công Giàu bật dậy, tươi tỉnh đón cái nón bảo hiểm tôi đưa, nói với tôi: “Giới thiệu với anh đây là các cháu công an huyện Bình Chánh đang làm nhiệm vụ”. Tôi vừa rùn vai giữ cho chiếc xe máy thăng bằng trong khi anh Giàu leo lên, vừa đùa: “Tụi mình đi biểu tình đây. Khi tụi mình hô “Đả đảo Trung Quốc xâm lược!”, các cháu phải hô theo đấy nhé!”.

Đi theo sát là hai cậu an ninh, tôi len lỏi qua hàng rào bằng tôn che chắn công trình Metro, hơi ngơ ngác tìm lối rẽ đến tượng Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng. Một cậu công an vọt lên nói: “Hướng này, chú”. Quả nhiên, Tượng Đức Thánh Trần sừng sững kia rồi.

Còn 20 phút nữa là đến 9g – giờ hẹn. Quảng trường vắng ngắt anh em, chỉ lố nhố sắc phục công an và tụm năm tụm ba những người thường phục, mà chỉ cần liếc qua cũng thừa biết là nhân viên an ninh.

Đọc “Đạo quân Trung Quốc thầm lặng”, ngẫm về nghề viết phóng sự

Vĩnh Quyền

imageTôi là kẻ kiệm lời khen. Thế nhưng, suốt gần hai tháng đọc đối chiếu Anh Việt bản dịch trường thiên phóng sự China’s Silent Army (Đạo quân Trung Quốc thầm lặng)(*) trước khi xuất bản theo yêu cầu của NXB Hội Nhà văn khu vực phía Nam, trong đầu tôi thường xuyên bật lên câu tán thưởng ‘kỳ vỹ, kỳ vỹ… ’. Nôm na là lớn lao-mới mẻ-thú vị làm sao! Tôi cũng đã ngợi khen dịch giả – tiến sĩ Nguyễn Đình Huỳnh – ‘có mắt xanh’ lẩy ra một cuốn độc đáo giữa biển sách viết về Trung Quốc thời không còn giấu mình. Nhân dịp China’s Silent Army tái bản vào đầu năm 2017 tôi chia sẻ cùng bạn đọc Văn Việt những suy nghiệm về nghề viết phóng sự nhặt được từ tác phẩm báo chí bậc thầy này.

Phẩm chất và tư cách nhà báo

Tác giả China’s Silent Army là hai nhà báo người Tây Ban Nha chuyên về Trung Quốc và khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Juan Pablo Cardenal và Heriberto Araújo. Năm 2003 Juan Pablo Cardenal thường trú tại Thượng Hải cho báo El Mundo, sau đó tại Singapore rồi Bắc Kinh cho báo El Economista. Heriberto Araújo thường trú tại Bắc Kinh từ năm 2007 cho AFP trang tiếng Tây Ban Nha. Sau khi xuất bản China’s Silent Army, Juan tác nghiệp ở Hồng Kông còn Heriberto trở thành phóng viên tự do cho các báo tiếng Pháp và Tây Ban Nha.

Juan và Heriberto có điểm chung về lý tưởng nghề nghiệp. Thường trú tại Bắc Kinh, trái tim và đầu não của Trung Quốc, hàng ngày họ được tiếp xúc khối lượng lớn thông tin về đất nước đang trỗi dậy thành gã khổng lồ châu Á, chứng kiến sức chuyển động âm thầm đồng thời mãnh liệt của thời kỳ đầu vươn mình khai cuộc chinh phục thế giới bằng cách riêng của Trung Quốc. Và cả hai thấy không thỏa đáng với công việc ở văn phòng thường trú: “Trong khi đó, ngày nào chúng tôi cũng chỉ viết về GDP và các biến số kinh tế vĩ mô khác của Trung Quốc. Không thể chịu đựng nổi điều này khi chúng tôi có thể nhìn thấy lịch sử đang đổi dòng ngay trước mắt mình, ở các giếng dầu Angola, các mỏ sắt Peru và những khu chợ Trung Á ngập hàng Made in China... Hãy trở lại với nghề báo thực sự, một tác phẩm báo chí chỉ có ý nghĩa và giá trị khi được thực hiện tại chỗ. Nói cách khác, chúng tôi phải đi đến tận những nơi nhìn được rõ nhất dấu chân của gã khổng lồ Trung Quốc. Đã đến lúc rời bỏ văn phòng với điều hòa không khí và các phương tiện truyền số liệu kinh tế để đi châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, tự mình nhìn thấy, va chạm và nếm trải cách thức Trung Quốc trở thành một thế lực toàn cầu”.

Quan trọng hơn, Juan và Heriberto quyết định nghỉ việc tại nơi họ đang làm việc: báo El Economista và hãng tin AFP. Họ cũng quyết định không tìm nhà tài trợ mà dùng tiền tích lũy “đầu tư” vào hai năm di chuyển khắp thế giới và viết China’s Silent Army. Ứng xử nghề nghiệp này thường làm nóng các cuộc họp báo sau đó. Juan ngắn gọn giải thích, “chúng tôi cần độc lập tài chính để thiên điều tra được độc lập”.

Chủ nghĩa khoái lạc ở dạng dung tục nhất của nó

Vương Trí Nhàn

 

Sau 1991, đờì sống tinh thần của những người Nga hay sau 1976, người Trung Hoa đã thay đổi ra sao? Tôi thường quan tâm tới vấn đề này để hiểu người Việt thời nay, bởi lẽ tuy cái xác cũ vẫn nguyên, nhưng trong lòng mỗi chúng ta mấy chục năm nay đã biết bao đổ vỡ, chẳng khác chi dân mấy nước mà ta từng coi là mẫu. Về người Trung Hoa, có lẽ chỉ cần đọc cuốn "Huynh đệ" của nhà văn Dư Hoa là chúng ta biết hết. Còn về Nga, chưa tìm được cuốn nào tập trung, tôi chỉ mới đọc được những bài báo nhỏ. Sau đây là những ý tưởng của một nhà văn hóa Nga là Sergei Averintsev mà cũng chỉ đi vào một khía cạnh nhỏ:

Những sai lầm của quá khứ, kết quả của những nhà tư tưởng đáng giá hồi cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã bị truất ngôi cùng với những hệ tư tưởng cực quyền. Việc truy tìm gốc rễ của cái xấu ở thời xa xưa trong lịch sử tư tưởng đang được theo đuổi ráo riết.

Tuy nhiên vẫn còn những lý do để lo âu. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nhận ra những dấu hiệu của một chủ nghĩa khoái lạc rất phàm tục.

Ở một nước còn rất thiếu hàng hóa như nước Nga, cái chủ nghĩa khoái lạc này càng trở nên dữ dội vì người ta đã bị bỏ khát quá dài và giờ đây đuổi theo khoái lạc bao nhiêu cũng luôn luôn cảm thấy chưa thỏa.

Thứ đến là là sự biến mất tăm của nền văn hóa với đặc trưng là ý thức liêm sỉ hoặc thói quen biết xấu hổ.

Và cuối cùng là sự xuất hiện một chủ nghĩa phi lý hẩu lốn trộn nháo nhào các giá trị tư bản chủ nghĩa và mác xít.

Người ở trong mây

(Rút từ facebook của Vũ Thư Hiên)

Hoạ sĩ và nhà thơ Phạm Tăng, người bạn vong niên, người anh tinh thần của tôi, đã rời bỏ cõi tạm mà anh hằng gắn bó. Với tôi, anh còn, mãi mãi. Chỉ khác là không còn có những buổi tâm sự mà thôi.

NGƯỜI Ở TRONG MÂY

Một hôm, nhân có chuyện làm việc với nhà nghiên cứu văn học Thụy Khuê, tôi thấy trong phòng khách có mấy bức tranh sơn dầu. Ánh điện không đủ sáng, tôi phải lại gần mới xem được thì thấy một bức ký tên Phạm Tăng. Tôi hỏi chị:
- Tác giả bức tranh này còn sống hay mất rồi hở chị?
- Sao anh lại hỏi thế?
- Đã quá lâu tôi không nghe ai nói tới Phạm Tăng. Ở tuổi tôi khi người nào bặt tin thì mình dễ nghĩ vậy lắm.
- Anh quen anh ấy sao?
Thụy Khuê mở to mắt nhìn tôi. Chị ngạc nhiên là phải – tôi là người đến từ miền Bắc, Phạm Tăng là một hoạ sĩ miền Nam.
- Vâng – tôi nói – Chị cũng biết Phạm Tăng?
- Chúng tôi là bạn mà. Anh Tăng còn sống, anh ạ.
- Hiện anh Tăng ở đâu?
- Ở đây, ngay Paris.
Một niềm vui vỡ òa trong tôi. Tôi nắm tay Thụy Khuê, tôi vật nài:
- Chuyện chúng mình định bàn hôm nay để lại bữa khác đi, chị Thụy Khuê nhé? Mình còn nhiều thời gian mà. Hãy dẫn tôi tới gặp anh ấy. Ngay bây giờ.
Thụy Khuê chiều tôi, chị nhanh chóng mặc đồ đưa tôi đi.

Chữ An của Tào Mạt

Để nhớ Tào Mạt

(Rút từ facebook của Nguyễn Quang Lập)

Ấy là mùa đông năm 1986, tôi tới chòi ngắm sóng của Phùng Quán và gặp Tào Mạt ở đấy cùng với vài người nữa. Ở chòi ngắm sóng chỉ có hai món, đó là rượu và thơ. Có Tào Mạt, chiếu rượu thêm một món chèo. Tào Mạt hát chèo thật hay, càng say ông hát càng hay. Xong món chèo đến tiết mục Tào Mạt cho chữ. Mọi người trong chiếu rượu đều được Tào Mạt cho chữ thơ, mỗi người một bài thơ vịnh bằng chữ Hán. Thuộc hạng tép riu không dám dự phần, tôi ngồi yên một xó nhìn các đàn anh hí hửng nhận chữ thơ từ tay Tào Mạt. Cho chữ hết lượt, Tào Mạt sực nhớ ra hãy còn tôi nữa. Ông nhìn tôi như xói rồi viết chữ thật to đặt lên đầu tôi, mọi người ồ lên một tiếng, chữ An viết thảo rất đẹp.

Minh triết phương Tây (kỳ 28)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học đương đại (tiếp theo)

Ở Pháp, triết gia nhiều ảnh hưởng nhất cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 là Henri Bergson (1859-1941), người đã bài bác khoa học, và theo truyền thống tư duy Rousseau trong phong trào Lãng Mạn. Giống như những người thực dụng, ông cổ võ cho hành động trên mọi sự. Về điểm này, ông mất kiên nhẫn trước những động thái suy tư quá thận trọng và không mang dấu vết đam mê trong tư duy triết lý và khoa học mà tiêu chuẩn hàng đầu là đạt đến chính xác. Quan niệm này phát xuất từ Descartes trong “Diễn ngôn về Phương pháp luận”. Khi cố gắng nắm bắt những xung động của kinh ngiệm để diễn tả chúng trong phạm vi ngôn ngữ, chúng ta hầu như chặn dòng chảy hiện thực (flux of reality) để cấu tạo lại chúng với hình thể mờ nhạt và tĩnh lặng. Đây lại là vấn đề Heraclitus và Parmenides đã từng đặt ra. Điều Bergson nhắm là nâng dòng chảy hiện thực này lên mức sinh động để chống lại những hình thức nhại lại cứng ngắc của lý tính.

Đến đây, Bergson khiến ta nhớ đến vấn đề của Bradley. Nhưng lời giải của ông cho chúng thật khác. Với Bradley, siêu hình học gắn kết với lý thuyết Lôgíc, đặc biệt là lý thuyết nhất quán về sự thật. Về phần Bergson, chính Lôgíc là chướng ngại phải vượt qua. Trong nghĩa này, Bradley duy lý trong khi Bergson thì ngược lại.

Khác với trường phái Lý Tưởng và học thuyết Duy vật nhất nguyên của thế kỷ 19, Bergson quay trở về cách nhìn thế giới theo thuyết nhị nguyên. Sự phân chia vũ trụ tuy vậy không còn theo đúng như lý thuyết nhị nguyên có trước. Một bên, là vật chất như với Descartes, nhưng bên kia không phải là phần trí tuệ của thế giới duy lý mà là một nguyên tắc sinh động (vital principle). Hai lực chính này tham gia vào cuộc đấu tranh thường trực trong đó phần xung động của sự sống cố gắng vượt qua những trở ngại do vật chất ù lì (inert material) gây ra. Trong quá trình này, sinh lực (life-force) được đúc nặn từ điều kiện vật chất nhưng, như một đặc thù thiết yếu, nó vẫn tự phát và tự do hoạt động. Bergson phản bác lý thuyết tiến hóa truyền thống vì những tương quan thuần duy lý không cho phép có gì thật sự mới có thể xuất hiện. Ông cho rằng tiến hóa là đưa đến những cái mới, và đích thực là sáng tạo, ở nghĩa đen. Nguyên lý này được ông trình bày trong trước tác “Tiến hóa Sáng tạo” (Creative Evolution). Quá trình sáng tạo này hệt như sáng tạo nghệ thuật. Giống một nghệ sĩ tác nghiệp vì thôi thúc sáng tạo, sinh lực tác động lên Thiên nhiên cùng một cách. Những vận hành tiến hóa đều xảy ra trong sự thôi thúc thường xuyên của sáng tạo nhằm khai sinh những đặc tính trước đó chưa hiện hữu.

Nhớ Phùng Quán

Bữa ni 21 tháng Chạp, giỗ Phùng Quán.

(Rút từ facebook của Nguyễn Quang Lập)

clip_image001

Hồi bé nghe ba kể về Phùng Quán, ngồi há mồm nghe như nghe chuyện ông tiên trên trời, chẳng ngờ có ngày gặp anh. Gặp rồi vẫn thấy anh giống ông tiên, quần bà ba, áo cánh kiểu H’Mông, chòm râu trắng phơ phất, đi guốc mộc chậm rãi khoan thai, đôi mắt sáng trưng, nhìn vào ai cũng thấy ấm áp lạ thường.

Phùng Quán trở lại Huế năm 1985, từ bữa anh giải ngũ Vệ quốc đoàn rời Huế ra Hà Nội, chẵn ba chục năm anh mới quay trở lại. Năm đó đời sống văn nghệ đã thông thoáng hơn nhiều, nói như anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) đất nước đang lăm le đổi mới, nhưng mời được anh Quán vào Huế không phải chuyện đơn giản. Anh Tường, anh Vĩ (Tô Nhuận Vĩ), anh Điềm (Nguyễn Khoa Điềm) chạy rạc chân, nói gãy lưỡi tỉnh ủy mới chấp thuận Hội Văn nghệ đón chính thức Phùng Quán.

Sự kiện Phùng Quán vào Huế làm cả Huế xôn xao, riêng đám văn trẻ đã từng đọc Vượt Côn Đảo, rồi trùm chăn đọc Lời mẹ dặn, Chống tham ô lãng phí... ngưỡng mộ anh từ thủa cột quần chưa chặt, ai nấy ngây ngất con cà cưỡng. Mình đeo lấy anh suốt ngày, ba tháng anh ở Huế anh đi đâu mình lon ton theo đó, mắt tròn mắt dẹt nghe anh kể chuyện đông tây, rồi được ngủ với anh, được vuốt râu sờ chim anh… đã quá trời, he he.

Năm 1986, anh Vĩ anh Tường cao hứng sáng kiến làm cái hội thảo Văn xuôi Nguyễn Quang Lập tại Thị trấn Ba Đồn quê mình. Người ta đặt cái loa to lên cái xe tải chạy vòng quanh Thị trấn, nói a lô a lô... mời bà con đến rạp hát Ba Đồn dự hội thảo văn xuôi Nguyễn Quang Lập, đứa con của quê hương... a lô a lô! Dân tình đến chật rạp, tràn ra cả hành lang. Mình sướng củ tỉ.

Hóa ra người ta đến chỉ vì nghe tin trong đoàn văn nghệ tỉnh có nhà thơ Phùng Quán. Ai gặp mình cũng vồ vập bắt tay bắt chân nhưng chỉ hỏi Phùng Quán mô?... Phùng Quán mô?... tuyệt không ai hỏi đếm xỉa đến mình, hi hi. Ba mình và ông bố vợ thích lắm, hai bên hai ông cứ thế kè kè bên Phùng Quán suốt ngày. Mặt mày hai cụ phỡn lắm, ra cái điều ta đây quen thân Phùng Quán, he he.

Chỉ hai ngày ở Ba Đồn, anh có hai chục cuộc đọc thơ lớn nhỏ, ba mình và ông bố vợ có mặt không sót một cuộc nào. Phùng Quán đọc thơ thì hết chê. Không biết bên Nga ông Mai-a đọc thơ thế nào, chứ nước Nam mình ăn giải độc đắc về đọc thơ, không ai qua mặt được anh. Mắt rực râu dựng ngực rung tay vung chân bước, từng chữ thơ như vọt trào từ máu. Tuồng như không phải anh đọc thơ, anh đang hút hồn người khác...

Anh em thân thiết nhau từ lúc nào không biết, nghe anh kể cuộc trần ai 30 năm rượu chịu cá trộm văn chui… thật hãi quá. Nghĩ bụng mình rơi vào trường hợp của anh liệu có chịu nổi 3 năm không. Anh chỉ cho mình cái cột nhà bà bán rượu phủ kín những vạch phấn cao gần 2 mét. Cứ mỗi chai rượu chịu là một vạch phấn, có đến mấy trăm vạch phấn như vậy. Xong cột này lại xóa đi vạch cột khác, mười năm ở Nghi Tàm anh ghi nợ cả chục cột, tính ra cả chục thùng phuy rượu, kinh.

Triển lãm về Hoàng Sa ở Sài Gòn, tháng 1/1975

Ngô Thị Kim Cúc

Hôm nay, 17 tháng 1/2017, mình bỏ những hình ảnh liên quan đến Triển lãm về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà Trung cộng đã đánh cướp từ ngày 18 tháng 1/1974.

Thông tin này in trên tạp chí Bách Khoa số ra ngày mồng 4 tết Ất Mão (14/2/1975) mà bác Lê Ngộ Châu chủ nhiệm Bách Khoa đã gởi trước cho mình vào 29 tết.

Thông tin nói về Cuộc “Triển lãm về Hoàng Sa” do nhóm chủ trương Tập san Sử Địa; đoàn thể Việt Võ Đạo; và Ban vận động Dựng Đền thờ Quốc Tổ tổ chức, từ 20 đến 23 tháng 1/1975.

Tiến sĩ Nguyễn Nhã chủ nhiệm Tập san Sử Địa đã đề nghị “đem vấn đề Hoàng Sa vào chương trình học của học sinh sinh viên, và ngày 20 tháng 1 sẽ là NGÀY HOÀNG SA của Việt Nam…”…

Đọc lại bài báo nhỏ này để thấy tấm lòng những trí thức miền Nam yêu nước yêu dân tộc chưa bao giờ lung lay, dù trước bất cứ khó khăn nào, dưới bất cứ chính thể nào…

(Bạn chịu khó click vào ảnh scan để đọc nghen...)

40 Năm thơ Việt Hải ngoại (53): Tô Thùy Yên

 

clip_image002[4]Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định, là cựu học sinh Petrus Ký và Đại học Văn khoa Sài Gòn. Ông dạy học, làm báo tại Sài Gòn và mang cấp bậc Thiếu tá trong quân đội miền Nam trước 1975. Sau 1975 ông bị giam gần 13 năm, từ 1993 cùng gia đình sang Hoa Kỳ theo diện cựu tù nhân chính trị.

Tô Thùy Yên, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, cùng với các hoạ sĩ Duy Thanh, Ngọc Dũng, là những người nòng cốt của nhóm Sáng Tạo, một nhóm sáng tác đã từng được biết đến với phong trào khai sinh "Thơ tự do" trên văn đàn miền Nam vào thập niên 60.

Tác phẩm: Thơ tuyển (1995), Thắp tạ (2004).



*

Trong thời kỳ hai mươi năm của thơ miền Nam, và giai đoạn kéo dài của nó, Tô Thùy Yên giữ một vị trí rất đặc biệt.

Đó là người khởi đi từ giai đoạn khai phóng đầu tiên, những năm 60, với sự nổi loạn chống ảnh hưởng của văn học tiền chiến. Nhà thơ của chiến tranh Việt Nam, của những suy nghiệm triết học, nhà thơ của những ngày tù tội cải tạo, và cuối cùng của giai đoạn lưu vong. Đời sống của ông đầy biến động. Tô Thùy Yên lúc nào cũng chăm chú sống cuộc đời mình, để tâm hồn rung lên theo nhịp điệu của thời thế. Nhưng đó không phải là thơ thời sự hay thơ trữ tình thế sự. Đó là một loại thơ trữ tình thực sự, tuy vậy mang dấu ấn lịch sử.

Thơ Trần Huy Minh Phương

 

Chuyện 3 gã và con chuột già

 

Tôi cùng ông bạn luống tuổi và người bạn vừa gần khít tuổi tôi ở chung một xó thành phố đẹp!

đêm,

lũ chuột rít lên điệu gặm nhấm từ lòng cống

đã có lần gã chuột cố tình ngoạm ngón trỏ của tôi

 

Sáng ra ông bạn già đạp xích lô

thương hiệu

sáng ra tôi phụ bếp cho người sang

sáng ra bạn vã mồ hôi phụ hồ

mót thời gian

vét thời gian

trầm tích đêm

mang mang điệu thơ đòng đưa

CHUYỂN TẾT TA VÀO TẾT TÂY VÀ TỘI PHẠM LÀM ĐẤT NƯỚC KO PHÁT TRIỂN ĐƯỢC CHÍNH LÀ DO NGƯỜI DÂN VN VUI NGHỈ TẾT CỔ TRUYỀN?

Nguyễn Văn Phước

Việt Nam ta có bao truyền thống tốt đẹp từ ngàn đời như tinh thần yêu nước, bảo vệ biên thuỳ, hải đảo, chống giặc ngoại xâm, yêu tự do, yêu công bằng, trọng nghĩa khinh tài, nghĩa cử nghĩa hiệp bảo vệ người yếu thế, chống áp bức bất công, lá lành đùm lá rách, ý chí tiến thủ, học hỏi vượt khó, tôn sư trọng đạo, Nhân Nghĩa Trí Lễ Tín... cớ sao không giữ gìn, phát huy ? Để cho những giá trị cốt lõi đó đang dần ngày càng mai một, lụi tàn - những giá trị vật chất, phù phiếm, suy tôn hưởng thụ, bề ngoài, đạo đức giả được tôn vinh, lên ngôi - thậm chí những thể hiện chân thực, cụ thể, bày tỏ lòng yêu nước chân chính đang bị những định hướng làm lệch, làm người dân e ngại, tinh thần chống bất công lên án những cá nhân, những dự án tham nhũng, phá hoại, rút ruột ngân sách hàng ngàn tỷ đồng, hại dân hại nước vừa hé lên là bị dập tắt bởi những kẻ ỷ thế mạnh, lợi ích nhóm - làm đất nước ngày một nghèo nàn, tài nguyên, rừng biển, môi trường bị huỷ hoại tàn phá nghiêm trọng, quản lý đường xá giao thông xuống cấp, kẹt xe trầm trọng ở HN, SG chưa từng có (tổn thất thời gian làm việc vì tắc đường kẹt xe cả năm bằng mấy chục lần nghỉ Tết), đất công bị chiếm hữu, mua bán trái phép, nợ công ngút đầu, những kẻ trục quyền cậy thế làm giàu vô lương tâm, bất chính nhan nhản mặc kệ những số phận người dân oan ức, cùng cực, lầm than... 

Ngôn Ngữ, sao lại phải Ngậm Ngùi?

T.Vấn

clip_image002

Nhà văn Lê Hữu, tác giả "Âm nhạc của một thời"*, vừa cho ra mắt độc giả tác phẩm "Ngôn Ngữ Ngậm Ngùi" trong tủ sách điện tử T.Vấn & Bạn Hữu. Sách dầy 322 trang, khổ giấy thông thường 5.5x8.5, mang đầy đủ quy cách của một quyển sách khi được giao đến nhà in. Cũng như tất cả mọi tác phẩm của tủ sách TV&BH, tác phẩm ""Ngôn Ngữ Ngậm Ngùi" của Lê Hữu được phổ biến hoàn toàn miễn phí trên trang mạng văn học T.Vấn & Bạn Hữu (www.t-van.net).

Thông minh, tinh tế, khả năng nhìn sự việc đến từng chi tiết nhỏ, thêm một chút uyên bác, thêm một chút hóm hỉnh; cộng với giọng văn trong sáng, rõ ràng, mạch lạc, cách dùng chữ "chuẩn” đến độ gây cảm tưởng khó có thể chuẩn hơn được nữa nơi người đọc, cho thấy sự nghiêm túc của Lê Hữu ở bất cứ đề tài nào được bàn đến trong các tác phẩm của ông. Đó cũng là những đặc tính làm nên cái "rất riêng" của Lê Hữu, khiến người đã từng đọc ông, sẽ nhận ra ngay những đứa con tinh thần khác của Lê Hữu.

Tác phẩm "Ngôn Ngữ Ngậm Ngùi"** mang đầy đủ những thứ làm nên một Lê Hữu rất riêng nói đến ở trên. Thêm nữa, ở tác phẩm này, là sự lựa chọn các đề tài để bàn luận, một thế mạnh khác của Lê Hữu mà không phải ai cũng "dám" có những lựa chọn như ông. Đề tài mà ông chọn, “khó nhai” đã đành, mà còn dễ gây tranh cãi, kể cả ở những người có cùng chung một chí hướng.

Thương nhớ Sông Hàn

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)

Cứ nhớ về Đà Nẵng là tôi lại nhớ sông Hàn, có lẽ bởi trên con đường ven sông đó, tôi đã đi lại không biết bao nhiêu lần, và hình ảnh con sông đã làm tổ trong trái tim tôi, sinh sôi nảy nở rồi cất tiếng, y hệt tiếng cu cườm những buổi trưa hè, vừa thân thiết êm đềm vừa vọng vang một nỗi thổn thức rất dịu dàng.

Ngày nhỏ xíu, mỗi lần theo chân người lớn đi dạo bờ sông, nhìn bảng tên đường bờ sông ghi hai chữ Bạch Đằng, tôi cứ đinh ninh con sông quê mình chính là sông Bạch Đằng. Không hiểu sao tôi cứ giữ kín điều ấy trong đầu, cho đến khi được học Việt Sử và địa lý, để biết sông Hàn mới là tên con sông quê mình.

Với đứa bé gái ít được ra khỏi nhà là tôi ngày ấy, sông Hàn quả là một ranh giới khó thể vượt qua. Nó cắt chia thành phố làm hai phần, và từ bờ bên này nhìn sang bờ bên kia, tôi thấy mọi thứ sao mà xa xôi diệu vợi, tôi không hình dung được ở phía bờ vô cùng cách trở ấy có những gì.
Sau này lớn lên, biết câu ca dao “Đứng bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá/ Đứng bên tê Hà Thân ngó về bên ni Hàn phố xá nghinh ngang…”, tôi hiểu được rằng, người xưa đã từng ngóng vọng, cảm nhận về nhau rất nhiều khác biệt, chỉ bởi chiều rộng của dòng sông.

Quận Ba Đà Nẵng – vùng đất bên kia sông, dân phần lớn sống về nghề đánh cá, tiếng nói lờ lợ, chịu nhiều thiệt thòi vì luôn là người đầu tiên hứng chịu những cơn bão nhiệt đới, và đời sống của họ cũng không hơn dân ở vùng nông thôn là mấy. Cách trở đò giang là một trong những nguyên do.

Lớn thêm chút nữa, tôi khám phá thêm một bất ngờ đáng sợ: sự hung hãn của con sông và sức mạnh chết chóc của dòng nước. 

Đó là khi tôi theo chân các chị, xắn cao quần, mặc áo mưa đi lội nước lụt. Sau khi đi hết con đường Hùng Vương xuyên qua chiều dài thành phố, xuống tới bờ sông, tôi kinh ngạc nhận ra một sông Hàn sôi sục khác hẳn ngày thường.

Sông tràn bờ, sóng cuồn cuộn đập vào nhà dân, còn giữa dòng là một thác lũ cuồng bạo đang gầm thét. Trên dòng nước hỗn mang điên cuồng ấy, những trâu bò bị cuốn theo đang khốn khổ cố ngóc đầu lên bên cạnh những cây cối bị bật gốc, và đáng sợ nhất là những mái nhà đã bị bứt khỏi mặt đất, xơ xác, nát bươm… Và tất cả mọi thứ đang vun vút lao về phía cửa biển. 

Kinh hoàng nhất, trên những mái nhà tơi tả ấy vẫn còn sót lại vài người dân tận những thôn làng tít tắp phía thượng nguồn đang hãi hùng bám víu, cố quờ tay há miệng để cầu xin được cứu. Người trên bờ cuống cuồng cầm dây thừng hoặc những cây tre dài chạy tới chạy lui một cách tuyệt vọng, không biết làm cách nào để níu, vớt những đồng bào đang bị cuốn đi. Chỉ cần vài giây sau, khi trôi đến chỗ nước xoáy, những mái nhà ấy bị nhấn lộn nhào xuống dưới mặt nước đục ngầu bùn rác để rồi khi nổi lên ở đàng xa thì chẳng còn thấy người đâu nữa.

Đó là ký ức khủng khiếp trong tôi về trận lụt năm Thìn 1964, thiên tai trăm năm mới có một lần đã tàn phá tan hoang vùng đất Quảng Nam, chôn vùi dưới nước hơn 6.000 dân, xóa sổ rất nhiều làng mạc hai bên bờ các con sông Thu Bồn, Vu Gia.

Khi đã không còn bất cứ thứ gì trong tay để có thể phục hồi cuộc sống, hàng ngàn dân Quảng Nam đã phải nát lòng bỏ xứ ra đi, vào Sài Gòn lập “làng mới” ở nhiều khu vực, mà nổi tiếng nhất là làng dệt ngả tư Bảy Hiền.

Đến thời nữ sinh trung học xúng xính áo dài, ghế đá sông Hàn lại là chỗ “đóng đô” cho đám học trò tinh nghịch chúng tôi. Sau khi cúp cua những giờ học buồn ngủ, lẻn ra khỏi lớp khỏi trường là chúng tôi tếch luôn xuống bờ sông, chiếm dụng những chiếc ghế đá mát rượi có giàn hoa giấy tím buông rũ, ngồi dầm dề ở đó mút cà rem, tán phét, ngắm nước sông lững lờ trôi bên dưới và ngắm đỉnh Sơn Chà với dải mây trắng chơi vơi trên đỉnh cao…

Ngồi chán, khi nước triều lên làm sóng đập vào bờ văng nước lên người, chúng tôi đi dọc theo bờ sông không mục đích, không vướng bận, thả cái nhìn hớn hở vào những người bán hàng rong bận rộn trên mặt đường, vào những cặp trai gái chở nhau trên xe gắn máy hay đi bộ dọc bờ sông, thích thú nhận ra vẻ thẹn thùng của cô gái và sự e dè của chàng trai vẫn không át nổi niềm hạnh phúc tràn dâng trong mắt họ, trong cả con người họ. Bởi vì việc trai gái công khai xuất hiện sóng đôi giữa thanh thiên bạch nhật là một sự táo bạo đáng nể ở cái thị xã nhỏ, nơi mà mọi người hầu như đều quen biết hoặc nghe biết về nhau.

Có lần, khi đang cùng đám bạn lang thang bờ sông như vậy, bỗng một hình ảnh nổi bật đập vào mắt tôi. Một đôi mắt đen trên gương mặt trái soan và chiếc khăn voan đỏ thắt điệu đàng trên mái tóc dài. Hai tà áo dài voan nhung ép mỏng mảnh cũng màu đỏ rập rờn bay trong gió như những cánh bướm, sáng bừng lên, níu lấy những cái nhìn của người đi đường. 

Tôi cũng quay nhìn. Rồi tôi kinh ngạc nhận ra người đẹp lộng lẫy đó chính là chị Bốn của mình, bà chị mà khi ở nhà tôi chưa bao giờ thấy đẹp. Vậy mà không hiểu sao ở đây, trên con đường bờ sông lộng gió đầy người qua lại này, chị tôi bỗng trở thành một nhan sắc khiến ai cũng ngoái nhìn. Tôi cười với chị Bốn cái cười cầu tài, trong bụng thầm lo không rõ chị có để ý rằng đang là giờ học và tôi đang cúp cua không. Thật may cho tôi, buổi tối về nhà tôi không hề bị chị gạn hỏi vặn vẹo bất cứ câu nào…

Một lần khác, vào dịp gần tết tây, ba chị em tôi xuống bưu điện để gởi thiệp cho bè bạn và người thân. Đó là một thông lệ hàng năm của chúng tôi. Đồng thời với việc gởi thiệp đi, chúng tôi cũng được nhận được rất nhiều thiệp chúc tết từ mọi người ở khắp nơi gởi về.

Lúc từ bưu điện trung tâm ven bờ sông bước ra, tôi trông thấy một đám lính Mỹ đang quẩn quanh ở vạt cỏ phía trước bưu điện. Những gương mặt măng sữa tóc vàng mắt xanh của các anh lính “quân dịch” non tơ thơ dại, trông chẳng khác gì đám bạn học cùng trường. Có hai người trong cái đám tóc vàng ấy đang nằm lăn trên cỏ và… khóc. Úp mặt xuống cỏ và sụt sùi nức nở y như những trẻ con đang bị ức hiếp.

Tôi dừng hẳn lại để quan sát. Rồi tôi nghĩ ngợi một chút và hiểu ra: những anh chàng măng sữa này đang nhớ nhà, nhớ cha mẹ. Giáng Sinh là dịp gia đình sum họp, quà cáp, vậy mà họ lại ở đây, trên một đất nước xa xôi đang bị chiến tranh nghiền nát, chỉ có thể gởi về người thân tấm thiệp thay cho sự có mặt của chính mình. 

Tôi không rõ những anh chàng này, khi đi đánh nhau họ sẽ thế nào, nhưng ở đây, khi nhìn họ dâng trào nước mắt vì thương cha nhớ mẹ, tôi chỉ thấy họ gần gũi như thể bạn bè mình và chỉ muốn bày tỏ niềm thương cảm…

Nghĩ thì nghĩ vậy song tôi chẳng đủ bạo dạn để có bất cứ hành động nào. Trên đường về nhà, đầu óc tôi cứ quẩn quanh với suy nghĩ: tội nghiệp quá, họ đúng là những đứa trẻ đang phải xa lìa cha mẹ…

Và rồi cũng tới lúc tôi mười tám tuổi, lấy bằng tú tài, rời xa Đà Nẵng vào Sài Gòn học đại học.

Khi trở về Đà Nẵng vào mỗi cuối năm để ăn tết, trong mắt tôi bỗng hiện ra một Đà Nẵng quá nhỏ bé và khiêm tốn. So với Sài Gòn, Đà Nẵng chỉ bằng một quận loại trung bình. Vào những năm đầu thập niên 1970, chiến tranh Việt Nam đang bùng lên mạnh nhất có thể.

Cả hai phía đối địch đều muốn làm mọi cách để chiếm thế thượng phong trong những toan tính chiến lược, chuẩn bị cho việc chấm dứt cuộc chiến đã khiến cả thế giới rúng động và nước Mỹ vô cùng mệt mỏi.

Đà Nẵng trở nên xác xơ, tàn tạ hẳn. Đúng là khi có dịp lùi ra xa để ngắm kỹ, ta sẽ nhìn thấy một toàn cảnh rõ nét hơn, chính xác hơn và vì thế đau lòng hơn.

Một nhà văn Sài Gòn đã sử dụng cụm từ rất chua xót để mô tả thành phố của tôi: Đà Nẵng như một gái điếm về già.

Cây hai bên đường đều rụng hết lá vì ảnh hưởng thuốc khai quang, để lại những mặt đường bỏng rát trụi trơ dưới nắng. Mặt đường hầu như không còn lề và liên tục lở lói vì quá nhiều xe hạng nặng chạy qua mỗi ngày. Bụi mịt mù liên tục thốc lên sau những bánh xe nhà binh.

Là trung tâm của khu vực Bắc miền Trung, Đà Nẵng là nơi đóng quân của Bộ Chỉ huy Vùng I Chiến thuật, Bộ Tư lệnh Quân đoàn I, Cơ quan Đại biểu Chính phủ Bắc Trung phần, Nha Cảnh sát Bắc Trung nguyên Trung phần, chưa kể các cơ quan của địa phương: Toà Thị chính, Ty Cảnh sát, Bộ Chỉ huy Quân cảnh… Và còn chưa tính đến sự có mặt của binh lính nước ngoài: Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, Đại Hàn…

Xe quân sự và áo nhà binh có thể được nhìn thấy ở khắp mọi nơi, từ phố phường, chợ búa, đến quán ăn, tiệm cà phê… Trong mỗi gia đình hầu như đều có người mặc áo lính, cho dù họ có cầm súng hay không cầm súng. 

Chỉ cần ra tới ngoại ô Đà Nẵng là đã thấy bóng dáng thần chiến tranh chiếm ngự: hàng hàng lớp lớp kẽm gai vòng trong vòng ngoài ở các căn cứ quân sự Mỹ, bên cạnh đó là những khu tạm cư nhà cửa tạm bợ dành cho dân nông thôn bị bốc ra thành phố. Mái tôn lóe nắng nhức nhối chói lòa cả mắt, và trên mái tôn là vô số bao cát được chằn lên để không bị gió tốc bay khi có bão.

Đi trên những con đường Đà Nẵng ngày ấy, lòng tôi cứ đau nhói một cảm giác mất mát quá lớn. Đà Nẵng được gì trong cuộc chiến tranh này? 

Không gì cả.

Đà Nẵng chỉ bị tàn phá, là nơi dung thân cho những người dân nông thôn bị bốc khỏi ruộng đồng, là nơi kiếm sống cho những cô gái ở các vùng bị chiến cuộc tàn phá trôi dạt lên thành phố, làm những nghề mà họ không bao giờ muốn cha mẹ anh chị em của mình biết được.

Đà Nẵng như thể đang rơi tự do…

***

Giờ đây, sau hơn bốn mươi năm chiến tranh chấm dứt, tôi vẫn đang phải sống cách xa Đà Nẵng cả ngàn cây số. Lần nào về Đà Nẵng làm giỗ cha mẹ, tôi cũng tìm cách đi lại nhiều lần trên bờ sông Hàn thân yêu của tuổi thơ mình, tìm lại mình trong mỗi cơn gió biển.

Đường Bạch Đằng vẫn giữ tên cũ, đó là điều may mắn, bởi nhiều tên đường mới đặt cứ khiến người dân ngẩn ngơ tự hỏi nhân vật lạ hoắc ấy là ai. Các ghế đá ven bờ đều đã được thay mới, nhiều hơn, đẹp hơn và văn minh hơn. Những hàng cây trồng lại cũng đã có được dáng cổ thụ, để vẻ đẹp bờ sông Hàn đạt một độ dày thời gian nào đó. 

Trên bờ sông lúc nào cũng nườm nượp người đi bộ thể dục vào cả vào buổi sáng lẫn buổi chiều, là nét sinh hoạt hoàn toàn mới, trước đây chưa từng có. Nếu đi vào buổi đầu ngày, người ta có thể tranh thủ mua bán với những ngư dân đánh bắt gần bờ vừa mới trở về lúc sáng tinh mơ. Hàng của họ là những lũ tôm-cua-cá-mực tươi xanh mà buổi tối hãy còn bơi ngoài cửa biển để rồi buối trưa sẽ biến thành món ăn tươi tốt ngon lành trong một mâm cơm gia đình đầm ấm…

Giờ đây, câu ca dao “Đứng bên ni Hàn ngó qua bên tê Hà Thân nước xanh như tàu lá/ Đứng bên tê Hà Thân ngó về bên ni Hàn phố xá nghinh ngang…” có vẻ đã thật sự thuộc về thời quá khứ.
Bề rộng con sông không còn là sự ngăn cách khi đã có tới sáu cây cầu đẹp đẽ nối từ bờ bên này sang bờ bên kia sông Hàn.

Cầu Thuận Phước cho phép người ta chạy xe gần nhất đến chân núi Sơn Chà, để lên thắp hương viếng Phật Bà chùa Linh Ứng. Cầu sông Hàn ngay trung tâm thành phố mà mỗi khuya vẫn có người sẵn sàng chờ chực để xem cây cầu quay lấy chỗ cho các tàu lớn lưu thông trên sông. Cầu Rồng phun nước phun lửa buổi tối làm nao lòng những khách du lịch dễ thương, nhất là người tới từ các tỉnh trong nước. Cầu Trần Thị Lý đẹp một cách duyên dáng, thay thế cho cây cầu sắt thô ráp mà người Mỹ đã làm. Chưa kể cầu Nguyễn Văn Trỗi là cây cầu cũ, đổi từ tên Trình Minh Thế sang tên mới. Trình Minh Thế cũng là tên sau này, thay cho tên của viên tướng Pháp rất nổi tiếng trong cuộc chiến tranh Việt - Pháp: De Lattre. Và cây cầu cuối cùng, thứ sáu, mới hoàn thành gần đây: cầu Tiên Sơn, thu ngắn đáng kể quãng đường từ Đà Nẵng vào phố cổ Hội An.

Tôi vẫn thường tự hỏi: nếu không có sông Hàn, Đà Nẵng của tôi trông sẽ thế nào? Có lẽ giống một cô gái với gương mặt xinh xắn nhưng không hề có tóc, trụi lủi, trơ khấc, kém duyên…

Sông Hàn khiến Đà Nẵng hội đủ những gì cần có của một nơi sơn thanh thủy tú, sông vẽ một nét mềm mại dịu dàng lên bức chân dung của vùng-đất-mở về phía biển này, một Đà Nẵng hải cảng, phóng khoáng và thân thiện trong gió biển Đông...

Cho dù là một biển Đông đang liên tục dậy sóng…

---------------

Bài này đã in trên báo NGƯỜI ĐÔ THỊ số tết Đinh Dậu.

clip_image002

Sông Hàn, năm 2014

clip_image004

Sông Hàn, năm 1989

clip_image005

Chị Bốn Ái Kim Ngô – người đẹp của tôi

clip_image007

Sông Hàn năm 2014.
Bình minh, khi thuyền đánh cá trở về...

Thriller Bờ Bên Kia

Lưu Thủy Hương

Chương 5: Áo lụa Thượng Hải

Ba mạ tôi và những người đồng hương của họ không bao giờ biết được công việc thực sự của tôi sau những bức tường trắng. Họ chỉ biết tôi là bác sĩ, một bác sĩ theo nghĩa, luôn trả lời suôn xẻ những câu hỏi về bệnh xổ mũi, đau răng, táo bón...

Chỉ có Chấn biết rõ tôi là ai.

Thật lạ lùng. Một kẻ không nói được câu tiếng Đức hoàn chỉnh, không sao gọi đúng tên con đường mình ở, lại có một đống kiến thức đầy đặn về ngành pháp y. Lúc đầu những câu hỏi bất chợt của Chấn làm tôi ngạc nhiên, thú vị. Dần dà mối quan tâm của Chấn khiến tôi cảm thấy bất an và khó thở.

Chấn hẹn đến nhà đưa tôi đi chơi vào sáng chúa nhật. Như những lần hẹn hò trước, tôi ngồi trên ghế salon vừa ngáp vừa nhìn đồng hồ. Sau hơn nửa giờ chờ đợi, sự kiên nhẫn đã biến thành sự căm ghét. Tôi thẳng thừng gạch ngang cái hẹn của Chấn trên lịch làm việc. Vết chì đen đủi vào đúng ngày chúa nhật.

ĐỒNG HỒ BÁO THỨC

Truyện

Phùng Thị Hạ Nguyên

Thứ hai, Như lên công ty từ sớm để tránh kẹt xe. Phòng chưa có ai, Như nấu nước, pha một ly cà phê, hít thật căng lồng ngực mùi của gió sớm. Công ty Như nằm trong một con hẻm rộng của một khu chung cư cao cấp, từ ban công nhìn xuống, ngập mắt thứ màu vàng tươi sáng, dễ chịu của hoa muồng hoàng yến. Như rút điện thoại ra, định lưu giữ khoảnh khắc dịu dàng này, rồi lại ngập ngừng, chặc lưỡi, đút lại vào túi. Thầy dạy Văn cấp ba của Như hay nói về một kiểu “chụp ảnh” của con nhà nghèo: lùi ra xa, chọn điểm nhìn phù hợp, thu trọn vào ký ức mình khung cảnh ấy, chắc chắn “bức ảnh” sẽ không bao giờ mất đi, không mờ nhoè vì “độ phân giải kém”, vì không sẻ chia nên sẽ không bao giờ bị quên lãng. Như mỉm cười, thấy mình vẫn còn là một cô bé đáng yêu, “giàu có”.

Facebook của Như có nhiều tin nhắn, Như kéo chuột lướt nhanh, rồi ngừng lại ở những dòng tin lúc rạng sáng của anh Hoàng: “Em đọc báo chưa? Anh không ngủ được. Định gọi báo em biết mà sợ nếu như chính anh nói ra, thì mọi thứ sẽ thành sự thật mất. Mới 2 giờ khuya chủ nhật nó còn chat với anh”. Tin nhắn đính kèm một đường link báo mạng: “Designer trẻ tuổi đột tử tại nhà riêng”. Tim Như thót lại, tay run run nhấp chuột, từng dòng chữ và hình ảnh mờ nhoè chồng lên nhau, như một kỹ xảo ước lệ của điện ảnh. Vậy là Dương chết rồi.

Minh triết phương Tây (kỳ 27)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Triết học đương đại

Tham khảo triết học 70 hay 80 năm trở lại đây, ta gặp một số khó khăn đặc biệt. Vì quá gần, khó có thể có một cái nhìn giữ được khoảng cách với những triển khai mới. Những tư tưởng gia trong quá khứ xa hơn thường trải qua trắc nghiệm của những phê phán từ thế hệ đến sau. Thời gian đãi lọc khiến sự chọn lọc dễ hơn, và thật hiếm hoi có những kẻ không có công trình mà giữ được tiếng vang lâu dài, mặc dầu không phải thiếu người đáng quan tâm mà bị quên lãng.

Với những triết gia đương đại, sự chọn lọc rất khó, và đến được một tầm nhìn cân bằng là chuyện rất bấp bênh. Nếu như có thể nhìn toàn bộ những khai triển của tư tưởng trong quá khứ với những triết gia xưa thì hiện nay những tư tưởng mới còn quá gần để ta có thể truy ra những con đường có triển vọng tương lai với độ tin cậy mong muốn. Nhưng điều này không sao mà khác đi được. Tương đối, ta thường khôn ngoan hơn sau khi đã có sự kiện để nắm bắt tiến bộ của triết học. Nhưng tưởng tượng rằng những thay đổi đương đại có thể suy diễn với chi tiết thì đúng là thứ ảo tưởng kiểu Hegel. Điều tốt nhất khả dĩ làm được là nhìn ra những khuynh hướng tổng quát liên hệ với những sự cố gần đây mà thôi.

Văn học miền Nam 54-75 (278): Nguyễn Thị Hoàng (1)

Bà sinh ngày 11 tháng 12 năm 1939 tại Huế . Năm 1957, bà chuyển vào sinh sống ở Nha Trang rồi đến năm 1960 bà vào Sài Gòn học Đại học Văn khoa và Luật nhưng bà bỏ ngang, không học hết mà lên Đà Lạt dạy học. Đến năm 1966, bà chuyển sang chuyên tâm viết tiểu thuyết.

Cùng với văn xuôi, Nguyễn Thị Hoàng còn tham gia sáng tác thơ và từ đó bà trở thành một người nổi tiếng trong giới văn nghệ chuyên viết về những mâu thuẫn nội tại của giới trẻ Sài Gòn trong suốt thập niên 1960. Theo Phạm Chu Sa, Nguyễn Thị Hoàng là một trong những nhà văn nữ tài năng thật sự và tên tuổi đã được khẳng định ở miền Nam trước 1975. Bà có những tiểu thuyết với giọng văn trau chuốt bóng bẩy và là một trong vài tác giả có sách bán chạy nhất thời đó .

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, bà hầu như biến mất khỏi giới nghệ thuật và sống một cuộc sống yên lặng đến tận 1990, khi bà cho ra đời Nhật ký của im lặng. Vào năm 2007, bà lại xuất hiện qua một tùy bút nhan đề "Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan" được đăng trên Tạp chí Văn hoá Phật giáo (số xuân Mậu Tí, 12.2007).

Tác phẩm

Tác phẩm đầu tay của bà có nhan đề Vòng tay học trò được dưới bút danh Hoàng Đông Phương. Đây là một tiểu thuyết hiện sinh mô tả vấn đề tình yêu, tình dục giữa một cô giáo tên Tôn Nữ Quỳnh Trâm và học trò Nguyễn Duy Minh được đăng dưới hình thức nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa. Tác phẩm trở thành một trong những tác phẩm gây tranh cãi nhất thời kỳ này, và về sau được tái bản nhiều lần

Ngoài "Vòng tay học trò" (1966), Nguyễn Thị Hoàng còn sáng tác nhiều tác phẩm khác. Một số tác phẩm khác:

Bạn nghĩ có nên phá hủy một di sản còn lâu đời hơn cả Canada?

Tổng lãnh sự quán Canada tại TP. Hồ Chí Minh

 

Trước thì san bằng Chùa Liên Trì, nay lại định giật sập Tu viện và Nhà thờ Thủ Thiêm có lịch sử tới 177 năm trước cả khi thực dân Pháp đến Việt Nam, chính quyền TP.HCM đang cho thấy vì tiền họ có thể cạn tàu ráo máng với lịch sử như thế nào.

Tệ hơn, việc phá hoại có tính hệ thống như trên cũng đã gián tiếp thể hiện tầm nhìn của họ về các khu đô thị mới là hoàn toàn không có chỗ cho cơ sở tôn giáo, bất luận là chùa chiền hay nhà thờ - nơi nâng đỡ và an ủi tinh thần con người (và cũng là một trong những nhu cầu thiết yếu của công dân). Trong khi đó, không khó để bắt gặp ngay trong những đô thị hiện đại văn minh bậc nhất thế giới - New York, Sydney hay Tokyo - những nóc giáo đường, đền, chùa nằm hài hòa giữa dày đặc các cao ốc và được nâng niu gìn giữ như là những nơi nắm giữ linh hồn đô thị.

Chẳng những thế, ở phương diện tinh thần, kéo sập di sản trăm năm của người Công giáo thì khác nào thách thức lòng tự tôn của họ. Chính quyền TP. HCM rõ ràng đang vì tiền mà bất chấp, sẵn sàng phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và làm xói mòn mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo.

'Có nên phá hủy một di sản còn lâu đời hơn cả Canada?' hẳn chỉ là một câu hỏi tu từ của Tổng lãnh sự quán Canada. Họ, đúng hơn, đang muốn diễn ra sự kinh ngạc của mình trước lòng tham của những người đang điều hành quốc gia này, theo một cách ngoại giao nhất có thể mà thôi.

PS: Lẽ ra nếu có một nền pháp trị nghiêm cẩn nơi quyền sở hữu đất đai của người dân và các tổ chức tôn giáo được bảo vệ thì khi xây dựng đô thị mới ở Thủ Thiêm, chính quyền TP.HCM và nhà đầu tư sẽ phải ngồi xuống với Giáo hội để tìm giải pháp làm sao vẫn giữ lại được tu viện và nhà thờ mà vẫn hài hoà với cảnh quan đô thị mới, hướng tới lợi ích cộng đồng. Đằng này, với việc cướp lấy quyền sở hữu đất đai của người dân, chính quyền có thể muốn đập là đập, muốn chiếm là chiếm bất kỳ mảnh đất, căn nhà, giáo đường, chùa chiền nào mà họ muốn. Liên Trì hay Thủ Thiêm chưa phải là cái tên cuối cùng.

Facebooker Nguyễn Anh Tuấn

 

Theo kế hoạch phát triển khu đô thị mới Thủ Thiêm tại Quận 2, chính quyền TP Hồ Chí Minh có dự định phá dỡ Tu viện Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm và Nhà thờ Thủ Thiêm để nhường chỗ cho khu đô thị mới. Tu viện được thành lập tại Thủ Thiêm vào năm 1840, nghĩa là đã ở đó được 177 năm (trong khi Canada vừa bước sang tuổi 150 năm nay). Bạn nghĩ thế nào nếu chúng ta hòa nhập những công trình mang tính lịch sử như thế này vào các khu đô thị mới thay vì phá dỡ chúng?

Hãy cho chúng tôi biết ý kiến của bạn nhé!

Về thư ngỏ của anh Phạm Chí Dũng gửi ông Tất Thành Cang

(Rút từ facebook của Nguyễn Phú Yên)

 

Vừa đọc được bức thư ngỏ ngày 10-1 của anh Phạm Chí Dũng (PCD) gửi ông Tất Thành Cang (TTC) - phó bí thư thường trực Thành ủy TP.HCM, vừa gửi luôn cho Bí thư, Ban tổ chức, Ban nội chính, Ban tuyên giáo, Văn phòng Thành ủy TP.HCM và một số cơ quan báo đài trung ương. Anh PCD là TS kinh tế, chủ tịch Hội Nhà báo độc lập VN, đã ra khỏi đảng mấy năm trước. Thư ngỏ gửi lãnh đạo thì có nhiều trường hợp trước đây rồi, nhưng tất cả đều không có hồi âm hoặc bị vào sọt rác, nghĩa là dù có góp ý bao nhiêu đi nữa thì “mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”! Lần này chắc sẽ như vậy nhưng bức thư làm người đọc không yên tĩnh trong đầu. Chuyện thế này nè: ông TTC gọi điện cho thân sinh anh PCD là Phạm Văn Hùng - nguyên trưởng Ban tổ chức Thành ủy, nay 86 tuổi, đi phải chống nạng - triệu đến làm việc về cá nhân anh PCD. Chẳng có thư mời gì cả. Chính điều này khiến PCD đánh giá cách đối nhân xử thế của ông TTC và gọi ông là “trịch thượng và vô lễ”. Vố này hơi đau đấy nhỉ? Quan nhà ta vậy cả, anh PCD ơi! Anh đề nghị “đối thoại mặt đối mặt”. Đúng quá rồi, quan nói chuyện với dân tay đôi đi, vì anh là công dân trưởng thành, có gì phải phiền đến cụ thân sinh già yếu, bệnh hoạn? Ông TTC có biết chính vì phải làm việc trật chìa vậy nên cụ bị tăng huyết áp sau đó? Mà đâu phải một mình ông TTC, cả Ban thường vụ nữa, đua nhau “đấu tố” anh PCD trước mặt cụ. Chơi gì kỳ vậy? Sao không mời anh PCD đến để trao đổi đôi mặt một lời, danh chính ngôn thuận hơn không?
Vì sao bị đấu tố vậy anh PCD? Nghe đâu anh chỉ nói về “sự thật chế độ hiện hành, quốc nạn tham nhũng, thực chất nền kinh tế, phản kháng xã hội tràn ngập, các quyền tự do căn bản của người dân bị từ chối hoặc bị đàn áp… mà các cơ quan đảng và chính quyền từ cấp trung ương xuống địa phương đều cố bưng bít”. Ai không đồng tình thì, báo đài quá trời đó, cứ công khai cho bàn dân thiên hạ biết ý kiến phản biện, lập luận để tìm ra chân lý hầu đóng góp cho sự phát triển của đất nước đi! Có gì phải xuyên tạc, chụp mũ nhỉ? Anh PCD thách thức quan nhớn: “Ông có thể chứng minh bất kỳ một bài viết nào của tôi là xuyên tạc”? Rồi đó, hãy “song kiếm hợp bích” đi các vị! Mà đối chất với một ông TS không dễ nha, phải chữ nghĩa đầy mình mới được! Thú vị nhất là bài anh viết về Trần Phương Bình ở Ngân hàng Đông Á (bị bắt vì thất thoát hay do đổi tiền?) mà các quan cho là đụng chạm đến Thành ủy; chỉ một chuyện đó thôi thì dân đen tụi tui nghe cũng khoái lỗ tai rồi. Có thì giờ thì chơi tiếp nhiều tập khác, nhưng mà nên đối chất có học thuật chứ không “cả vú lấp miệng em” các vị nha!

Họp mặt chúc mừng nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu về công trình “Petrus Ký”

Sáng 15/1/2017, một số nhân sĩ, trí thức Sài Gòn đã họp mặt tại nhà GS Tương Lai để chúc mừng nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu về công trình “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” và mừng năm mới 2017. Có mặt tại đây là những gương mặt đấu tranh nổi tiếng một thời của Sài Gòn trước 1975 vẫn dấn thân cho công cuộc dân chủ hoá đất nước hôm nay như Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Công Giàu, Hạ Đình Nguyên, Huỳnh Kim Báu…, những cây bút “lề dân” như Kha Lương Ngãi, Tô Lê Sơn, Nguyễn Công Bình…, những nhà nghiên cứu triết học, ngữ văn, kinh tế như Bùi Văn Nam Sơn, Hoàng Hưng, Hoàng Dũng, Nguyễn Bá Thuận, Ngô Tiến Nhân,…

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu mà GS Tương Lai trân trọng giới thiệu là học giả hàng đầu của Thành phố, năm nay đã 97 tuổi trời. Sự minh mẫn, tự tại của bậc hiền giả thể hiện rõ trong những lời tâm sự chân thành, khiêm tốn xung quanh cuốn sách “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” mà ông hoàn thành bản thảo ở tuổi ngoài 95 sau 50 năm nghiên cứu về nhân vật lịch sử làm đổ nhiều mực qua các thời kỳ khác nhau này. Ông coi vụ scandal vừa xảy ra là một chuyện “vớ vẩn”, không đáng có, và tin rằng rồi mọi chuyện sẽ suôn sẻ, nếu không nói muốn rằng sự cố ngoài ý muốn lại có lợi cho cuốn sách của mình vì gây được sự chú ý với công chúng và tạo thêm không khí cho việc trao đổi học thuật rộng rãi. (Xem video clip tâm sự của ông tại https://vandoanviet.blogspot.co.id/2017/01/hoc-gia-nguyen-inh-au-noi-ve-sach.html)

Tháng mười hai đọc Tháng năm ở Đại Trại

Lưu Thủy Hương

 

Tháng năm ở Đại Trại bất ngờ xuất hiện trên văn đàn vào một ngày cuối năm dương lịch. Không ầm ĩ, không một tín hiệu báo trước, như những tác phẩm viết ngoài vòng kiểm duyệt khác, nó bình thản chấp nhận một hoàn cảnh ra đời hẩm hiu và lặng lẽ. Tác phẩm được chia làm năm đoạn đăng trên Văn Việt. Sự chia đoạn này có thể không nằm trong ý đồ viết một cuốn tiểu thuyết liền lạc của tác giả. Nhưng để tiện phân tích và theo dõi, tôi xin căn cứ vào năm phân đoạn này để trình bày.

Tháng năm ở Đại Trại là một sự chọn lựa khốc liệt của tác giả và những nhân vật trong truyện. Họ ở lại trên quê hương, tìm cách tồn tại trong cuộc sống ngục tù. Tác phẩm đã không được gửi ra những trang mạng ở Hải Ngoại, để chịu cảnh đời lưu vong (hay đi tìm tự do) thay cho người viết. Nó ở lại, ẩn nhẫn, kiên trì chờ đợi để rồi xuất hiện trên một trang mạng quốc nội, gửi đến người đời một thông điệp khác biệt:

"Giá trị của một tác phẩm nằm ở sức chịu đựng của tác giả và độc giả."

Sức chịu đựng của độc giả trong bầu không khí thriller

Đây là tác phẩm không đọc để mà tìm vui, để mà giải trí, để có những buổi chiều thanh thản bên trang sách. Giọng văn buồn bã chìm trong bầu không khí nặng nề vô vọng luôn tìm cách tấn công người đọc, làm họ hoang mang lo nghĩ rằng: tình hình và hoàn cảnh bi đát này sẽ không bao giờ dẫn đến một kết cuộc tốt đẹp. Sự sợ hãi, căng thẳng và đe dọa kéo dài suốt tác phẩm tạo nên một hiệu ứng thriller ngột ngạt tức thở, dù tôi đoan chắc rằng, tác giả không hề có ý định viết một câu chuyện thriller. Tác giả chỉ muốn đẩy những nhân vật của mình vào một trò chơi cút bắt trong bầu không khí trinh thám không có thám tử và công lý:

"Nếu tao nhắn tin trả lời, ngay lập tức họ nghĩ rằng tao tin điều họ nói. Và đó là tự mình nộp mạng cho họ. Là cùng với họ chơi trò chơi cút bắt."

"Thì tao đã nói, nghe như chuyện trinh thám mà."

Thoạt đầu "nghe như chuyện trinh thám", nhưng rồi không có yếu tố trinh thám dẫn đường.

Bốn mươi năm thơ Việt Hải ngoại

(52): Cao Tần

 

clip_image001[4]

Lê Tất Điều Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1942 tại Hà Đông. Bút hiệu khác: Cao Tần, Kiều Phong.

Lê Tất Điều vào Nam năm 1954. Ông là cựu sĩ quan quân lực Việt Nam cộng hòa. Năm 1975, ông đến Hoa Kỳ và hiện cư ngụ tại San Diego.

Tác phẩm đã xuất bản: Khởi Hành (1961), Kẻ Tình Nguyện, Quay Trong Gió Lốc (1965), Đêm Dài Một Đời (1966), Phá Núi (1968), Những Giọt Mực, Người Đá (1968), Anh Em (1970), Thơ Cao Tần (1978).

Thơ Vũ Thành Sơn (2)

giấc mơ của tôi

 

tôi mơ tưởng đến lúc giàn mồng tơi xanh um, dây leo quanh cửa sổ,

c thiên thần sẽ tới, những ý nghĩ hoàn hảo xuất hiện. Chúng tôi ngấu nghiến

đến tận cùng phần mềm mại ca chiều tà. Sẽ không có nhiều

tiếng ththan từ những va chạm. Tất cả đều nguyên vẹn bộ vó tròn trĩnh: đồng hồ treo tường,

mặt trời, biển và những người đàn bà cho ra đời những con cá màu long lanh.

Chủ nghĩa xã hội... 99999999 KM

Lý Trực Dũng

Một trong các tranh Biếm họa để đời của báo Văn nghệ thời nhà văn Nguyên Ngọc làm Tổng biên tập là cái tranh CHXH 9999999 của Họa sĩ Phan Hồng (5.1988). Mộng tưởng CHXH của các nhà lãnh đạo Việt Nam xa tít tắp mù khơi 99999999 km dốc tới 45 độ mà mà nhân vật đi tìm mộng tưởng đó lại cưỡi xe đạp với hai cái bánh xe vuông!!! Điều đáng nói là cái tranh này của HS Phan Hồng ra đời trước khi hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ mà đỉnh điểm là sự kiện bức tường Berlin đổ sụp ngày 9.11.1989. Để đăng được bức tranh, Tác giả và Ban biên tập đã phải khôn ngoan thêm chữ bảo thủ trên cái ba lô! Để phòng ngừa khi bị “Cấp trên” vặn thì có cớ trả lời: “Dạ đây là cái tranh châm biếm lũ bảo thủ chứ nếu không bảo thủ xe bánh vuông thì bánh vuông dốc 45 độ chứ dốc hơn mình cũng cứ băng băng tiến đến CHXH ấy chứ”.

IMG_2125 copy

Hậu từ - “Bảy ngày trong thế giới nghệ thuật”

Sarah Thornton

Như Huy dịch

Bảy câu hỏi

Từ lần xuất bản đầu tiên bằng tiếng Anh cuốn Hiểu thế giới nghệ thuật đương đại trong bảy ngày và sau đó là bản dịch của nó sang vài thứ tiếng khác, đã có rất nhiều báo và tạp chí vòng quanh thế giới phỏng vấn tôi. Tôi cũng có được cơ hội nói chuyện với nhiều loại công chúng khác nhau – những công chúng nghệ thuật nói chung, các sinh viên lịch sử nghệ thuật và xã hội học, cùng các nghệ sĩ tại rất nhiều trường nghệ thuật. Sau đây là câu trả lời của tôi cho những câu hỏi tôi thường gặp.

1. Sự suy thoái kinh tế ảnh hưởng ra sao đến các lãnh vực bà đề cập trong cuốn sách?

Từ khi thảm hoạ kinh tế xảy ra vào năm 2008, khối lượng tác phẩm bán được đã xuống dốc không phanh và các kỉ lục đặt giá là vô cùng hiếm hoi. Vào đỉnh điểm của thời thị trường bùng nổ, một phiên đấu giá chiều tối sẽ diễn ra như thể một bộ phim truyện kiểu Holywood với sự xuất hiện của các tỉ phú trong các vai diễn khách mời và sự xuất hiện thay nhau của những mức giá trên trời làm chóng mặt người tham dự. Ngày nay, các phiên đấu giá diễn ra buồn tẻ y như các vở kịnh truyền hình kinh phí eo hẹp.

chùm truyện cực ngắn

Phùng Thành Chủng

1.Thời

Cải cách ruộng đất. Quy thành phần, bố tôi là địa chủ! Tất cả nhà cửa, ruộng nương bị tịch thu chia cho tá điền.

Năm mươi năm sau.

Khu ruộng của bố tôi ngày xưa biến thành trang trại. Những hộ nhận khoán sản cho hợp tác xã (trong đó có tôi) được ông chủ mới đền bù tính theo đầu sào một khoản tiền mang tính tượng trưng.

Không ruộng, không biết nghề gì ngoài nghề nông, tôi thành tá điền.

Bố tôi và tôi đều không thức thời!

Bố tôi là địa chủ hơi sớm! Còn tôi, ngược lại... tôi là tá điền hơi muộn.

Thriller Bờ Bên Kia

Lưu Thủy Hương

Chương 4: Phần sâu

Không ai có thể duy trì quá khứ để đưa nó quay nguợc trở về hiện tại.

Em yêu! Chỉ có quá khứ tự duy trì chính nó, một cách tự động, và mang một quyền lực ghê gớm. Nó không ngừng tìm cách quay về và lén lút nối kết với hiện tại, như những kẻ tội phạm và đồng lõa. Nó không ngừng tái hiện trong những giấc mơ tối tăm u khốc. Cho dù anh sợ hãi và chối bỏ nó, thì nó vẫn ngang ngược trở về từ trong vùng tối đen của vô thức. Người yêu trong giấc mơ của anh! Anh muốn kể cho em nghe về những giấc mơ của mình.

*

Tôi là Nils.

Tôi là Robert.

Tôi tự bảo, tôi là Nils.

Khi lên năm tuổi, tôi không là Nils, tôi không là Robert. Tôi còn có một cái tên khác.

Không ai nghĩ rằng, một đứa trẻ năm tuổi có thể lưu giữ quá khứ trong những giấc mơ.

Minh triết phương Tây (kỳ 26)

Bertrand Russell

Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng chuyển ngữ

Từ triết thuyết Duy lợi (tiếp theo)

Ở Pháp, phong trào Bách Khoa Toàn Thư có người truyền thừa là Auguste Comte (1798-1857). Chia sẻ với nhóm triết gia Cực đoan về niềm tin khoa học và sự đối đầu với những tôn giáo, ông thiết lập bảng phân loại khoa học, bắt đầu là Toán học rồi lần lượt cứ thế đến khoa học xã hội nhân văn. Tương tự như những triết gia Anh, ông chống khuynh hướng Siêu hình, nhưng như họ, ông biết không nhiểu về trường phái Lý tưởng ở Đức. Ông nhấn mạnh rằng ta phải bắt đầu cuộc truy lùng sự thật bằng kinh nghiệm, tránh tìm hiểu mặt sau một vấn đề, và ông gọi cách nhìn của mình là Triết học Thực chứng (positive philosophy).

clip_image002 Auguste Comte

Hồ Gươm liệu có còn tư lự…

(Rút từ facebook của Ngô Thị Kim Cúc)

 

Tháng mười hai, chỉ còn vài tuần là tết dương lịch, và tôi những tưởng Hà Nội đang khá lạnh, đúng với cái-rét-Giáng-Sinh ngợp ngụa gió mùa đông bắc căm căm vào những năm tôi học ở đây, từ 1979 tới 1982, rét đến co rúm chân tay, khăn áo chẳng bao giờ đủ ấm cho dù đang đạp xe ngay giữa phố phường. Vậy mà, mùa đông Hà Nội 2016 chỉ man mát, chẳng khác là bao so với cái lạnh đang rất đẹp của Sài Gòn, với nhiệt độ chỉ từ 16 tới 26, vừa đủ để về đêm, phụ nữ sẽ khoác thêm những khăn áo điệu đà đã phải nằm chờ trong tủ cả năm trời, còn ban ngày thì vẫn tha hồ phong phanh với những bộ thời trang mùa hè.

Thì ra biến đổi khí hậu đang dần xóa đi khoảng cách thời tiết của hai miền nam bắc, mang hai thành phố lớn của Việt Nam tới gần nhau hơn trong vô vàn sắc thái chuyển động không ngưng nghỉ của thiên nhiên.

Bước đi dưới những hàng cây ven Hồ Gươm, tôi trở lại là cô sinh viên tuổi hai mươi nhớ nhà những buổi chiều ngồi lặng yên trên ghế đá hàng giờ, đưa mắt nhìn mà không thấy mặt nước, bởi bên trong cứ vang lên câu hỏi: ở cách mình gần ngàn cây số, cha mẹ và các chị em đang thế nào, có khỏe mạnh vui vẻ không, có nhớ mình không…

Mặt hồ phẳng lặng, như thể chẳng bao giờ muốn dậy sóng, có lẽ để ôm rõ nhất hình ảnh những hàng cây cứ cúi mình thật sát, giống những cặp tình nhân cứ tìm mọi cách đến gần nhau, khiến cho vẻ đẹp Hồ Gươm không bao giờ có thể ra khỏi ký ức những người đã trót tới ngồi trên những ghế đá này, đi dưới những hàng cây này, hòa trộn bản thân làm một vào cảnh quan này…

Chỉ ở đây, ngay giữa phố phường tấp nập chung quanh, bỗng có một nơi chốn mà con người và thiên nhiên tràn hết vào nhau. Bằng sự thấu cảm và cả linh giác, con người như thể nghe hiểu được ngôn ngữ của cây xanh, bóng mát, của sự bình yên êm ả không lời, và nhất là một sự Tịch Mịch tổng hòa từ tất cả.

Hai tản văn của Trần Mộng Tú

Qua Suối Đến Trường

Cây cầu qua suối đã tháo mất rồi, cây cầu mục nát cây cầu sẽ rơi, người ta tháo đi không thay cầu mới, con suối thản nhiên dòng nước cứ trôi.

Em lội qua suối tới trường còn trong mù sương, miền núi mùa đông hai bàn chân run, em lên mười hai hay em lên sáu, em là bình minh hay em là hơi sương.

Dậy sớm đi em dậy trước gà gáy, con đường đến trường con đường còn tối nhìn hoài không ra, nghe tiếng nước biết là con suối, mình dắt tay nhau trường còn thật xa.

Bà nội trên lưng cõng cháu nhỏ, tay dắt theo một cháu lớn hơn. Ba bà cháu mang nhau qua suối, trường học trường đời ướt sũng nguồn cơn.

Mẹ cũng đi qua suối này ra chợ, cha cũng quần cao nhúng chân xuống đây cha đi thật sớm trước khi em dậy, khi cha trở về con suối không hay.

Tất cả dân làng ngày ngày lội suối, hai bàn chân da có nhăn nheo, hình như có ai cúi xuống, soi gương mặt buồn vào dòng suối thân yêu.

Ở thành phố xa người ta không lội suối, những đôi dày đẹp không làm da chân nhăn nheo, người ta di chuyển bằng những chiếc xe giá nghe đâu tiền tỷ, em cúi người uống ngụm nước suối trong veo.

(*) Các em nhỏ phải lội qua con suối mỗi ngày để tới trường. Hình: Báo Tuổi Trẻ

Văn học miền Nam 54-75 (277): Nguyễn Thụy Long (8)

Loan mắt nhung (5)

Loan đi lang thang, nó không biết đi đâu. Ba ngày hôm nay, từ đêm Loan bỏ nhà chị Bảy ra đi, nó lại sống lại những ngày cũ. Những ngày không nhà, không cửa, không tương lai.

Mấy lần Loan toan trở về nhà Minh, nhưng cuối cùng khi tới đầu con đường hẻm, Loan lại trở ra. Minh đã quá tốt với Loan, vậy mà Loan vẫn không làm nổi gì để đáp lại thịnh tình của bạn. Tất cả, đối với Loan chỉ toàn thất bại, những thất bại đắng cay chồng chất những bất hạnh. Chẳng qua là tại số mạng. Loan chép miệng tự an ủi mình. Buổi chiều đã gần tàn. Con đường Lý Thái Tổ dài hun hút. Xe cộ nối đuôi nhau di chuyển như một dòng thác lũ. Bụi mù mịt, quần áo Loan bẩn lem nhem. Một ngày nữa sắp hết... Khi đi qua một căn nhà, Loan đưa mắt nhìn tấm lịch treo trên tường. Hôm nay là ngày thư sáu. Loan chợt nhớ đến cái hẹn với Thiệu vào chiều thứ bảy. Ngày mai chắc chắn Loan sẽ cỏ ít tiền để tiêu pha, không đến nỗi đói khát. Loan nhất quyết lần này mình sẽ tiêu pha một cách dè sẻn hơn để tránh tình trạng nhẵn túi.

Loan nghĩ đến khuôn mặt dễ thương của Thiệu, đôi mắt đứa em mở lớn quan sát Loan. Nó sẽ đặt tay lên bàn tay Loan, nói bằng giọng xót xa : Em thấy anh đổi khác nhiều, anh gầy hơn tuần trước. Rồi nó chăm chú ngồi nghe, miệng hơi hé mở như nuốt lấy từng lời nói của Loan. Cuối cùng Thiệu sẽ đưa cho Loan một gói tiền, trong đó toàn là bạc lẻ. Loan biết những đồng bạc đó Thiệu kiếm bằng cách nào. Thiệu phải thức từ đêm nọ sang đêm kia ngồi hầu bài cho mẹ và các bà. Số tiền đó Thiệu không dám tiêu pha, nó cất giữ chờ tới chiều thứ bảy để gặp Loan. Nhiều lần Loan cảm động, khi cầm tiền của Thiệu Loan ngượng ngùng không dám nhìn thẳng vào mặt em. Nó nói lí nhí như nói với một người lớn :

SEMINAR: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC GIÁ TRỊ CỦA F. NIETZSCHE TRONG TÁC PHẨM “BÊN KIA THIỆN ÁC”

14:00, thứ Sáu, ngày 20/01/ 2017, Hội trường tầng 3, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA),  53 Nguyễn Du, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Đơn vị tổ chức: NXB Tri Thức

Chủ trì: GS Chu Hảo

Diễn giả: Phạm Văn Chung, giảng viên Khoa Triết học,  Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội  

Giới thiệu:

          F. Nietzsche – nhà triết học, nhà tư tưởng, nhà văn Đức hiện đại (1844-1900) nổi tiếng với tư tưởng về ý chí quyền lực. Nhà bình chú hay nhất của Pháp về Nietzsche, Charles Andler đã đưa Nietzsche lên hàng triết gia nổi tiếng nhất của chúng ta ngày nay khi ông viết: “Nietzsche đã chứng tỏ, cùng với (chỉ cùng với) Henn Bergson, một hệ thống triết học có thể có của thời đại chúng ta” (Theo F. Challaye, Nietzsche – Cuộc đời và triết lý (Dịch giả Mạnh Tường) trên Việt Nam thư quán). Có lẽ vì thế mà “gần như mỗi tháng đều xuất hiện một hay vài ba sách vở của các học giả về Nietzsche, đặc biệt trong thế giới Anh ngữ. Việc viết sách về Nietzsche đã trở nên một kỹ nghệ thương mại” (Theo Nguyễn Thanh Giản, Tổng quan: triết lý của Nietzsche (Diễn đàn. Org/lasan – Vietnam / Kỷ yếu 02-03). Có thể nói, tiếng vang lớn và ảnh hưởng sâu rộng của Nietzsche không đơn giản do tầm bao quát rộng lớn các vấn đề của ông, mà căn bản ở chỗ trong ông, trong các tác phẩm của ông chứa đựng, biểu hiện nội dung tư tưởng lớn lao, phong cách, ngôn ngữ đặc sắc và cả con tim đầy nhiệt huyết và thấm đẫm khát vọng nhằm hướng đến một đời sống mới của kiếp người – đời sống bên kia thiện ác mà nhà triết học là kẻ phải đi hàng đầu trong việc minh định đời sống ấy.

Về Trương Vĩnh Ký và một số vấn đề văn bản, lối nhìn …

Nguyễn Vy Khanh

clip_image001Những năm cuối thế kỷ XX có một hiện tượng tiêu cực và đặc biệt ngày càng trầm trọng, đó là việc các nhân vật lịch sử và văn hóa Việt Nam liên tục bị hạ bệ, vẽ trấu: Nguyễn Huệ, Gia Long, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, ... cũng như một số lãnh tụ, tướng lãnh bất kể phe phái nào. Có khi là những nỗ lực đi tìm sự thực lịch sử, có khi là những đánh giá lại, có khi gián tiếp chửi bới một chế độ, phe nhóm, có khi vì kỳ thị tôn giáo hay vì mặc cảm, dị ứng, biến ứng, có người riêng rẻ, lại có những tổ chức qui mô. Sự kiện 30-4-1975 đã chứng minh vai trò của “hoả mù” tuyên truyền, phản thông tin trong cuộc chiến tranh đó! Trong một tình cảnh chung của người Việt lúc này sống chết với... lịch sử, với hiện tượng hồi ký tạp loại, nhất là tiểu thuyết lịch sử, dã sử. Dĩ nhiên đó cũng là lý do trong nước gần đây (4-2000), tại đại hội Nhà văn lần thứ 6, việc sáng tác về các đề tài lịch sử đã được Ban Chấp hành Hội Nhà văn đề ra như là một phương hướng nhiệm vụ cần thiết cho ngũ niên tới, 2000-2005 (1). “Hoả mù” cứ thế mà tiếp tục thôi! Dĩ nhiên, Trương Vĩnh Ký không thoát những đòn hỏa mù đó! Từ ngày ông qua đời đến nay và qua nhiều cuộc đổi đời, đã có nhiều công trình biên khảo và nghiên cứu về ông, khen có chê có. Trong bài này chúng tôi với chủ ý đặt lại một số vấn đề nghiên cứu căn bản, do đó chỉ xin nêu ra một số sai lầm và nghi vấn về con người và sự nghiệp Trương Vĩnh Ký, một người Việt Nam-kỳ, theo đạo Thiên chúa, làm việc cho Pháp và là người mở đường báo chí và văn học chữ quốc ngữ ở hậu bán thế kỷ XIX. Ông sống đồng thời với Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, ... nhưng mỗi người một cuộc đời khác nhau, đại diện cho các khuynh hướng người Việt lúc bấy giờ đối với thực dân Pháp thôn tính Nam-kỳ.

1. Người ta thường phê phán Trương Vĩnh Ký làm việc với kẻ thù ngoại bang tức người Pháp.

Bước đầu là làm thông ngôn cho Hải quân Pháp là những người sẽ đánh chiếm lục tỉnh. Phê phán dễ nếu không đặt vào hoàn cảnh của đương sự. Sau khi đi tu đạo Thiên-Chúa không thành và du học từ năm 14 tuổi ở Poulo Penang, ông về thọ tang mẹ năm 1858 (2), lúc đó 21 tuổi và nay mồ côi cả cha lẫn mẹ, cũng là lúc triều đình vua Tự Đức gay gắt cấm đạo, từ năm 1848 đến năm 1861 sáu lần ra chiếu cấm đạo, như chỉ dụ 13 (1860) nói rõ không cho người theo đạo làm quan chức và nếu đang làm quan phải bỏ đạo nếu không sẽ bị hình phạt (“thắt cổ chết ngay”). Có đạo là một “tội hình”, Trương Vĩnh Ký sẽ làm nghề gì nếu không làm rẫy ruộng, nhưng ông lại mồ côi, không thân thích! Năm 1860, sau khi trốn khỏi trường Cái Nhum nơi ông tá túc và dạy trẻ em, vì bắt đạo, ông phải trốn lên Sài-Gòn ở và làm việc cho giám mục Lefèbvre, nên khi người Pháp cần thông ngôn gấp vì không thể tiếp xúc với dân chúng, chính giám mục này đã tiến cử Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho trung tá Hải quân Jauréguiberry, tư lệnh Sài-Gòn. Lúc này thành Gia-Định đã thất thủ, Trương Vĩnh Ký lập gia đình năm 1861 ở Chợ Quán. Nhưng công việc này không được lâu vì Trương Vĩnh Ký đã có thái độ và quyết tâm làm theo ý nguyện của ông. Theo một tài liệu ông Nguyễn Đình Đầu mới tìm thấy, Trương Vĩnh Ký từng tỏ ra dù hợp tác với Pháp, vẫn cho họ biết ông có con đường của ông. Một bức thư của chỉ huy trưởng D’Ariès gửi đô đốc Charner đề ngày 21-5-1861 đề cử Trương Vĩnh Ký: “trong số người Nam nói được ngôn ngữ của chúng ta chỉ có một người tên là Petrus Ký là biết khá rành rẽ có thể giữ các chức vụ Ngài muốn thiết lập bên cạnh các thẩm quyền quân sự của chúng ta”, nhưng D’Ariès than phiền thái độ hợp tác lơ là của người thanh niên 23 tuổi này: “từng là nhân viên Sở Sự vụ bản xứ Sài-Gòn, ông ta đã bị sa thải vì thiếu mẫn cán và tận tụy, rất thông minh, rất có khả năng làm tốt công việc, nhưng ông ta dần dà đánh mất sự tin tưởng tạo được. Tôi không muốn chỉ định ông ta để ngài chọn làm thông dịch viên cho các hội đồng chiến tranh của chúng ta”. Dù vậy vị tổng chỉ huy Charner nói trên vẫn chọn Trương Vĩnh Ký và đưa ra các điều kiện để D’Ariès chuyển lại họ Trương “40 đồng một tháng và phải luôn có mặt tại Sài-Gòn”. Nhưng Trương Vĩnh Ký không chấp thuận điều kiện đó và nhân tiện bộc lộ tư cách của ông khiến D’Ariès bực tức trong thư sau đề ngày 28-5-1861: “Tính kiêu căng và các yêu sách của ông ta hơn tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng về ông ta [..] đòi 110 đồng với quyền làm công việc mà ông ta ưa thích và rút lui khi nào không còn thích hợp...” (3). Léonard Charner là người đã đánh hạ đồn Chí Hòa ngày 24-2-1861.

Thriller Bờ Bên Kia

Lưu Thủy Hương

Chương 3: Ngôi sao cô đơn

Tôi lớn lên trong một thế giới nhỏ hẹp và tù túng. Ba mạ tôi và những người đồng hương của họ sẽ không bao giờ hiểu được điều đó. Những buổi tối mùa hè, tôi thường ngồi bên khung cửa sổ nhìn lên bầu trời và tìm cho mình một vì sao. Ngôi sao đó không cần phải lớn, không nhất thiết phải màu xanh hay màu đỏ, chỉ cần nó nhấp nháy mời gọi, hứa hẹn cho tôi một thế giới riêng với những ảo giác quyến rũ mê hồn. Tôi sẽ đến đó bằng trí tưởng tượng của mình. Trí tưởng tượng kéo tôi đi, bay hun hút vào vùng không gian thăm thẳm nhiệm mầu.

Mười bốn tuổi, tôi chối bỏ tuổi thơ của mình, bởi vì tôi căm ghét nó. Tôi giã từ thế giới nhỏ bé tù túng bằng mối tình đầu tan nát tức tưởi. Nỗi đau theo tôi mãi. Nó thường kéo những ký ức của tuổi hoa niên trở về, trong nỗi cô đơn, trong đêm tối tĩnh lặng.

Mười bốn tuổi, tôi đánh mất thói quen ngồi bên cửa sổ tìm một vì sao trong vùng không tưởng. Tâm hồn tôi co rút dần lại trong cái vỏ ốc chật chội và câm lặng. Tôi học yêu nhưng không học cách níu giữ khuôn mặt của mối tình đầu. Gã con trai nào đó chỉ là một cái bóng mờ bên chiếc cầu chông chênh bắt qua sông, một điểm dừng ngắn ngủi trên dòng hiện thực. Tôi bước qua cầu rồi, chiếc bóng kia lùi lại phía sau, thuộc về quá khứ.