Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

Thế giới thơ mộng Đinh Cường: “Đi vào cõi tạo hình II”

 Phan Tấn Hải

Giải thích thế nào về một cảm giác lơ lửng, lâng lâng như say sau khi đọc tuyển tập Đi vào cõi tạo hình II của họa sĩ Đinh Cường (1939-2016)? Khi tôi khép sách lại và vài ngày sau lại mở ra đọc lại, và rồi lại ngưng vài ngày rồi đọc lại. Tôi bâng khuâng. Tôi lạc lối. Như đang bước trên mây. Thế giới trong sách như dường tách biệt với cõi đời đầy những xung đột thế gian quanh tôi. Cuốn sách đưa độc giả vào một thế giới cực kỳ thơ mộng và rất riêng tư của Đinh Cường.

Công lý và cứu rỗi trong một truyện ngắn của Lev Tolstoi

 Lê Thọ Bình

Trong toàn bộ sáng tác đồ sộ của nhà văn Nga Tolstoi, từ Chiến tranh và Hòa bình, Anna Karenina, Phục sinh cho đến hàng loạt truyện vừa và tiểu luận, tôi đặc biệt thích truyện ngắn Chúa biết sự thật nhưng chẳng nói ngay (Бог правду видит, да не скоро скажет).

Panorama đô thị mất tên SG, 08-2001

 (Nhân đọc một bài thơ họ Nguyễn trên VIỆT # 8)

Bùi Hoằng Vị

Bài thơ này vốn được gửi tạp chí VIỆT ở Úc 2001, nơi đã đặt nó cho ấn phẩm số 9, tuy nhiên ngay sau đó tạp chí bị đình bản nên họ đã post ở tienve.org, nơi bây giờ cũng đã ngưng hoạt động. Năm ngoái, chúng tôi có sửa lại 4, 5 chỗ (chẳng hạn, chữ “ngõa thể” thành “lõa thể”, “Bắc Cực” thành “Bắc Kỳ”,…) cho dễ dịch, và bây giờ “ký gửi” nó ở vanviet.info cùng hai phiên bản chuyển ngữ này. Về sau, nếu các văn bản có được “ký gửi” đâu khác nữa, link này sẽ luôn đính kèm để làm nguồn tham khảo. Cảm ơn vanviet.info.

Tập san Khoa học Kỹ thuật (1957-1973)

Hà Dương Tường

Lời nói đầu

Trên mặt báo này, chúng tôi đã giới thiệu bốn tạp chí phổ biến khoa học của người Việt trong thời kỳ Pháp thuộc, chính xác là trước Cách mạng tháng 8.1945. Bài viết kỉ niệm 100 năm ngày ra đời của tờ đầu tiên trong số đó, với đường dẫn về các bài giới thiệu từng tạp chí, đã nhấn mạnh hoài bão chung của những người chủ trương các tạp chí này: làm sao để những kiến thức khoa học của thời đại – hoàn toàn xa lạ với xã hội Việt Nam thời đó – được phổ biến rộng rãi và được đông đảo dân chúng tiếp nhận. So sánh lực lượng với Pháp, đây hiển nhiên là một yêu cầu thiết yếu của cuộc đấu tranh giành độc lập, đồng thời cũng là nền tảng cho những thay đổi cần thiết về cuộc sống xã hội, từ kinh tế quốc phòng tới các hoạt động văn hoá, giáo dục... trong công cuộc giữ gìn độc lập, phát triển đất nước mai sau. Thực ra, nói "hiển nhiên" là với cái nhìn của ngày hôm nay chứ ở nửa đầu thế kỉ 20 không phải ai cũng thấy cái "yêu cầu thiết yếu" ấy, và theo thiển ý, hoàn toàn không thừa khi nhấn mạnh vai trò tiên phong của những người chủ trương các tạp chí nói trên trong nỗ lực phổ biến khoa học vào xã hội Việt Nam.

Nhưng thời thế không cho phép họ đi xa hơn. Chiến tranh Thế giới lan tới Đông Dương. Và khi chiến tranh kết thúc, sự ngoan cố của các chính quyền Pháp muốn tiếp tục chế độ thực dân trên đất nước ta, dẫn tới cuộc Kháng chiến 9 năm 1945-1954. Rồi Hiệp Định Genève tiễn người Pháp ra đi, tạm chia đôi đất nước trong khi chờ đợi cuộc tổng tuyển cử được dự trù sẽ tiến hành hai năm sau. Hai năm "tạm thời" ấy rồi sẽ kéo dài hơn hai mươi năm, với nhiều lý do khác nhau mà sự phân tích không thuộc phạm vi của loạt bài viết này.

Trong hai mươi năm chia cách ấy, ở cả hai miền, những "trí thức khoa học" đều nỗ lực tiếp tục công việc của mình, ở các trường đại học, các viện nghiên cứu, các bệnh viện, xí nghiệp, v.v. Về mặt phổ biến khoa học tới quần chúng rộng rãi thông qua các cơ quan báo chí, rất tiếc chúng tôi không đủ dữ liệu để có thể viết về những gì đã được thực hiện ở ngoài Bắc (dù có biết tới một Tạp chí Khoa học kỹ thuật của Viện Khoa học Việt Nam những năm 1960). Bài viết này, về một tập san xuất bản ở Sài Gòn trong những năm 1957-1973, do đó sẽ là bài cuối cùng (ít ra trong trước mắt) về những tờ báo phổ biến khoa học của người Việt trước năm 1975. Sau đó, là đất nước độc lập, thống nhất, một thời kỳ khác mở ra...

Thật ra, do quan hệ gia đình (cụ thân sinh là một nhân vật chủ chốt của tập san, trong bài sẽ nói rõ hơn), người viết đã biết về tập san này từ lâu, nhưng khi nghĩ tới viết về nó (cụ thể là khi tưởng niệm 20 năm ngày cụ qua đời) thì mới biết đứa con tinh thần của cụ để lại sau khi di tản năm 75 hiện không biết lưu lạc nơi đâu. May mà một người quen giới thiệu mạng lưới Worldcat kết nối những thư viện trên thế giới, qua đó được biết Thư viện trường Đại học Cornell (bang NY, Hoa Kỳ) có một bản đã đóng thành sách của tập san này. Gia đình ở bên Mỹ liền tiến hành mượn về (qua hệ thống liên thư viện) và sao chụp (scan) lại toàn bộ. Nhưng, vậy mà chưa phải vậy! Bộ sưu tập của Cornell rút cục còn thiếu nhiều số (nguyên năm 1962 và vài số khác). Hỏi bạn bè ở trong nước, hi vọng có mối từ Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố HCM (TVKHTHtpHCM), mà tiền thân là Thư viện Trung ương của Việt Nam Cộng hoà, nơi trên nguyên tắc là lưu trữ (theo chế độ lưu chiểu) các ấn phẩm trong nước, nhưng cũng phải qua nhiều lần mới tìm được người nhận vào Thư viện này tìm kiếm (các tư liệu thời VNCH còn thuộc diện "hạn chế người đọc"). Kết quả là Thư viện này cũng chỉ có của tập san này các năm 57-58, 62-63 và 64-65 (đóng thành 3 tập), và sau khi được Thư viện cung cấp bản scan của 7 số năm 1962, cuối cùng chúng tôi vẫn chưa có đầy đủ tập san trong tay (thiếu các số 23, 26, 52 và 68). Người bạn làm môi giới với TVKHTH tpHCM cũng đã có nhã ý đi một vòng các nhà sách cũ ở TPHCM, và hỏi thêm bạn bè ở các thư viện ngoài Hà Nội nhưng không thấy tăm hơi nào khác. Trước tình hình vô vọng đó, người viết quyết định, thiếu còn hơn không, vẫn cho ra mắt bạn đọc bài viết này, mong rằng nó không đến nỗi vô ích - và biết đâu, một bạn đọc trong hay ngoài nước tình cờ tìm được các số thiếu nói trên!

Vả chăng, đây cũng chỉ là một bài báo, giới thiệu một tập san, và cũng như các bài viết về 4 tạp chí đã nhắc tới trên kia, nó không có tham vọng là một công trình nghiên cứu đầy đủ về loại hình báo chí còn rất ít được quan tâm tới hiện nay: các tạp chí chuyên về phổ biến khoa học tới đông đảo quần chúng nói chung, và về tạp chí này nói riêng. Một nghiên cứu cần thiết, theo thiển ý, nhưng đó lại là câu chuyện khác.

Cuối bài, bạn đọc có thể xem mục lục toàn bộ của tập san (trừ các số 23, 52 và 68(*)- tuy thiếu số 26 trong hai Thư viện nói trên, nhưng mục lục của số này được in trong tổng mục lục của năm 1961) trong hai tệp Excel, một theo tên tác giả, một theo thứ tự ngày tháng. Nếu bạn muốn đọc bản pdf các số báo của hai thư viện nói trên (đây là pdf hình ảnh, chưa qua xử lý "OCR"), xin vào địa chỉ Drive này:

https://drive.google.com/drive/folders/1cRluK3tO4HesOGsKLrNTPLyH42uGb3ze

HDT

(*) Số 68 này được nói tới trong Lời mở đầu của Số đặc biệt về Kỹ nghệ VN, tháng 8 năm 1972. Tuy nhiên, số đặc biệt này không được đánh số, cũng như Số đặc biệt về Nông nghiệp, tháng 8.1973. Trong hai bản Mục lục ở cuối bài, để tiện sắp xếp, chúng tôi đã cho hai số đặc biệt này các số 69 và 70.

1. Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam

Khác với những tạp chí tiền bối, Tập san KHKT (dưới đây, sẽ viết gọn là Tập san) ngay từ khi ra đời năm 1957 đã khẳng định mình là nội san của một hội đoàn, Hội Khoa học Kỹ thuật VN. Vậy xin bắt đầu bằng vài dòng giới thiệu hội này.

Theo Lời nói đầu của Tập san (số 1), Hội này được thành lập ngày 7.4.1953 tại Hà Nội, và đã xuất bản được số 1 KHKT vào ngày 1.7.1954, ba tuần trước Hội nghị Genève. Vào Nam, Hội được thành lập lại vào ngày 30.4.1956 với mục đích là " gây liên lạc và hợp tác giữa các ngành khoa học và kỹ thuật, khuyến khích sự học hỏi, nghiên cứu và áp dụng liên quan đến khoa học và kỹ thuật". Trong Điều lệ của Hội, mục đích này được ghi thành "Điều II" kèm theo là 4 loại công tác được đề ra để đạt mục đích ấy, trong đó hàng đầu là "Xuất bản tạp chí, kỷ yếu, tác phẩm, sách vở để truyền bá và phổ thông khoa học". Ngoài ra là "Tổ chức những cuộc nói chuyện, triển lãm, chiếu bóng... liên quan đến các ngành KHKT", "Tổ chức những cuộc đi thăm các nhà máy, phòng thí nghiệm, viện bảo tàng..." và "Thành lập những ban chuyên môn để có thể giúp sức hoặc chỉ dẫn các nhà sản xuất trong phạm vi KHKT".

Những thông tin về Hội được đăng rải rác trong các số tạp chí, bao gồm:

Danh sách hội viên, chỉ đăng một lần vào hai số 1 & 2, tổng cộng gần 100 người  được xếp theo các ngành nghề (do đó có vài trường hợp được ghi hai lần, ví dụ như ông Phùng Trung Ngân vừa có trong mục Canh nông vừa có trong mục Giáo khoa...). Bạn đọc quan tâm có thể bấm vào tên tệp Danh sách hội viên ở cuối bài để xem. Trong bối cảnh đất nước vừa chia đôi người ta có thể thấy nhiều trí thức sinh trưởng hoặc đã sinh sống ở miền Nam từ trước 1954 đã tham gia một hội đoàn vừa từ miền Bắc di cư vào, như các ông Lâm Văn Vãng, Nguyễn Quang Trình, Trần Văn Du, Phùng Trung Ngân, Lâm Tô Bông... Sau đó, danh sách này không được Tập san bổ sung, mặc dù trong bản "Tổng kết hoạt động của Hội sau 5 năm 1957-1962", đăng trên số 37 (tháng 7-8-9.1962), mục VIII, Thành phần hội viên, người ta có thể đếm thấy 188 vị ! Cũng trong số này, một bản Tin nội bộ cho biết "Kể từ tháng 3.1962 đến nay, Hội đã có thêm 39 vị Hội viên mới gia nhập, đặc biệt trong đó có giáo sư Bửu Hội". Ngoài ra, qua vài mẩu tin vui, tin buồn, người ta thấy xuất hiện một số tên tuổi, chẳng hạn như Tin buồn trong số 63 (tháng 8.1970) cho biết ba hội viên lão thành, trong đó có kỹ sư Phan Khắc Sửu một nhân vật nổi tiếng của chính trường VNCH, đã được nói tới trong bài viết về tạp chí Khoa học phổ thông 1934-1942, đã "từ trần từ đầu năm nay".

Danh sách Ban trị sự mỗi niên khóa, lần đầu tiên được đăng trong Tập san số 34 ("niên khóa 1962-1963") và từ đó thường xuyên được nhắc lại, lần cuối là trong số 65 ("niên khóa 1971")... Những ban trị sự trong các khóa từ 1957-58 tới 1961-62 chỉ được nhắc lại với các vị trí chính (Hội trưởng, Phó Hội trưởng, Tổng thư ký, Thủ Quỹ) trong bản Tổng kết đã nói trên (xem hình kèm).

Từ niên khóa 1963-64, Hội thành lập thêm một "Ban cố vấn kỹ thuật" bên cạnh Ban trị sự. Chúng tôi chụp lại hai trang báo số 40 ghi danh sách hai ban đó cùng với mục đích thành lập Ban cố vấn, trong tệp "BTS63-64" đính kèm ở cuối bài. Dưới đây là danh sách các Ban trị sự nối tiếp (1), theo mẫu của danh sách đầu (chỉ ghi lại 4 chức vụ chính). Các năm 1969-1970, 1970-1971 và 1972-1973 thiếu. Sau số đặc biệt về Nông nghiệp, ghi năm 1973, chúng tôi không thấy Hội còn hoạt động nào khác.

- Đáng tiếc là Tập san không cho đăng toàn bộ danh sách Bộ biên tập của nó trong các số báo. Người viết bài này chỉ tìm thấy một lần duy nhất, trên trang mở đầu số 59, tháng 12.1966, danh sách một "Bộ biên tập" gồm ba vị: Trần Văn Du, Hà Dương Bưu và Nguyễn Chung Tú, rõ ràng không đủ để bao quát các ngành khoa học-công nghệ mà báo đề cập. Các vị khác trong các Ban trị sự có vai trò gì trong việc biên tập tạp chí, chúng tôi chỉ có thể ghi lại (xem dưới đây) những người có bài viết thường xuyên nhất trong Tập san, như một câu trả lời gián tiếp...

Tin hoạt động của Hội và hội viên ngoài tờ báo (các chuyến đi thăm nhà máy, cơ sở sản xuất và phòng thí nghiệm, đại học trong và ngoài nước...), thường là tin ngắn trừ hai lần: Bản tổng kết 57-62 và một bài viết về "đêm tân niên 71" (số 65). Đáng chú ý là trong ba số liền (57, 58, 59), Tập san đã dành chỗ nói về các "Công trình khoa học và sáng tác của hội viên". Tiếc rằng mới chỉ có 9 nhân vật được có mặt trong loạt bài này trước khi báo đình bản.

Trụ sở của Hội, có lẽ cũng được dùng làm tòa soạn Tập san, được ghi trên trang bìa của vài số báo (không phải tất cả!), theo ghi nhận của chúng tôi có mấy lần thay đổi: 136 Yên Đổ, 58D Cao Thắng, rồi 38 Nguyễn Trãi...

2. Vài thông tin chung về Tập san

Gần một năm sau khi Hội KHKTVN được thành lập ở Sài Gòn, Tập San KHKT tái xuất, nhưng được đánh số lại từ đầu: số 1 ra đầu tháng 2.1957 và tiếp tục 2 tháng/số cho tới 1960. Đầu năm 61, Tập san thông báo sẽ xuất bản hàng tháng nhưng thực ra không giữ được nhịp độ này. Năm ra nhiều nhất là 1961, có 8 số, tiếp đó 1962: 7 số, rồi sau đó ít hơn, có năm chỉ ra một số, có năm 2, năm 6 số..., chắc chắn chiến tranh có ảnh hưởng không nhỏ tới tình trạng này. Chúng tôi không có được những con số về số phát hành cũng như doanh số quảng cáo của Tập san nhưng phần báo cáo tài chánh trong bản Tổng kết đã dẫn (xem hình chụp kèm) cho thấy khó lòng trông cậy vào tờ báo để gây quỹ cho những hoạt động khác của Hội. Việc thiếu vắng một đội ngũ ít ra vài ba nhà báo chuyên nghiệp để chăm lo tờ báo cũng dễ hiểu trong những điều kiện đó (cũng là tình hình chung của phần lớn các tạp chí chuyên ngành cho tới nay?).

Về hình thức, Tập san có khổ cố định 16,5cm x 23,5cm, đóng thành một tập sách nhỏ có bìa riêng, nhưng số trang của mỗi số báo thì thay đổi rất nhiều, chắc là theo số bài vở nhận được. Trừ số 39 là số đặc biệt về bệnh dịch hạch chỉ có 20 trang (4 bài), các số bình thường khoảng 70-80 trang nhưng có những số dài như số 40, 126 trang, số 41, 137 trang, nhất là số 42, số đặc biệt về nông nghiệp, dài tới 252 trang với 29 bài viết. Việc đánh số trang cũng không nhất quán, có năm thì mỗi số bắt đầu lại từ trang 1, có năm thì các số có trang nối tiếp nhau và có khá nhiều sai sót - đặc biệt là năm 1960, số 22 lẽ ra bắt đầu từ trang 292 (do số 21 chấm dứt ở trang 291) thì lại bắt đầu từ trang 192!

Tổng kết, trong 17 năm (1957-1973), Tập san đã ra được 70 số báo, với 620 bài viết – không kể những tin ngắn không ký tên người viết - ngót nghét 6000 trang nếu kể cả 4,5 trang quảng cáo mỗi số, với nhiều số đặc biệt như số 39 về bệnh dịch hạch, số 42 về Canh nông, ngư nghiệp và tiểu công nghiệp, số 60 gồm các bài tham luận trong cuộc Hội thảo về sử dụng Tiếng Việt làm chuyển ngữ ở đại học, hai số đặc biệt về kỹ nghệ VN (số 62, năm 1969 và số 69, năm 1972), và tiếp theo số 42, số đặc biệt thứ nhì về nông nghiệp VN, năm 1973, cũng là số cuối cùng của Tập san. Bảng dưới đây cho biết chi tiết hơn về số bài trong mỗi lĩnh vực:

Vài con số về bài vở

Chăn nuôi, thú y: 29 bài trong đó có 5 bài đề cập tới những vấn đề chính sách chung cho ngành;

Nông-lâm-ngư nghiệp: 63 bài, trong đó 14 bài về các vấn đề chính sách,

Công nghệ - công nghiệp (Kỹ thuật và kỹ nghệ): 71 bài, trong đó có 16 bài về những chính sách chung, như hiện trạng của một ngành, vấn đề tiêu chuẩn hoá, quan hệ chủ - thợ…

Giáo dục: 32 bài, trong đó có 6 bài trong một số chuyên đề (năm 1967) về dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở đại học, 10 bài về giáo dục khoa học – nói chung hoặc về một ngành nhất định, 9 bài về giáo dục kỹ thuật, dạy nghề và vai trò của các kỹ sư.

Khoa học tự nhiên cũng rất được chú trọng, trong đó Vật lý chiếm phần lớn với 60 bài, Địa chất, địa vật lý và hải dương học có 11 bài, Hóa, Sinh học mỗi ngành 10 bài

Lịch sử và triết lý khoa học: 8 bài, không kể 2 bài về chính sách khoa học.

Y khoa: 53 bài, trong đó có 3 bài về Đông y, cộng với 22 bài về các vấn đề y tế, dinh dưỡng, và 10 bài chuyên về Dược.

Thống kê này cần được kiểm lại, chỉnh sửa và bổ sung khi các số thiếu được tìm thấy.

Chưa tính những số báo thiếu, Tập san đã quy tụ được 175 tác giả, trong đó có khoảng 10 tác giả nước ngoài (không kể những bài dịch từ các báo tiếng Anh, Pháp phần lớn trong mục Tin tức), gồm có vài người Pháp làm việc ở Viện Pasteur Sài Gòn, những người nước ngoài khác là nhân viên ở một số cơ quan ngoại giao tại SG. Chung quanh hai nhân vật chủ chốt của Hội KHKTVN là kỹ sư Hà Dương Bưu và bác sĩ Trần Văn Du (cả hai từng là Hội trưởng hoặc phó Hội trưởng Hội KHKTVN), nhiều nhà khoa học, kỹ nghệ và cả một số chính khách có tên tuổi của VNCH đã cộng tác với Tập san. Có thể kể:

- Một ông Thủ tướng (Phan Huy Quát), hai ông phó Thủ tướng (Âu Trường Thanh và Nguyễn Lưu Viên);

- Một ông bộ trưởng GD kiêm viện trưởng ĐH Cần Thơ (Phạm Hoàng Hộ), một ông viện trưởng Viện ĐH Sài Gòn (Gs Lê Văn Thới), ba khoa trưởng ĐH khác (Nguyễn Chung Tú – khoa học-, Phùng Trung Ngân – đại học nông nghiệp, Lê Văn Ký, nông nghiệp), ông Tổng giám đốc Viện Pasteur Việt Nam (BS Nguyễn Văn Ái), một giám đốc Viện Hải học Nha Trang (Nguyễn Hải).

- Nhiều giáo sư các đại học KH SG, Huế, Vạn Hạnh, Phú Thọ (ông Nguyễn Duy Thu Lương, cũng là Tổng uỷ viên hội Hướng đạo VN 1959-1963)...

Chúng tôi sẽ trở lại các nhân vật này trong phần "các tác giả" dưới đây.

3. Nội dung

Tập san nhấn mạnh trong lá Thư đầu năm, số 6, tháng 2.1958,:

… ưu thế của Tập-San là có tính vinh dự được cống hiến quý bạn toàn những bài do các chuyên viên có thẩm quyền và kinh nghiệm ở mỗi ngành khác nhau viết ra. Ngoài những bài có tính cách phổ biến, có nhiều bài có thể coi như những tài liệu mà quý bạn không thấy có ở đâu khác, hoặc có những giá trị hiển nhiên và thực tế về Canh-nông, Kỹ-Thuật hay Y-Tế.

Với ưu thế đó, Tập san kiên trì đặt những vấn đề rất cụ thể nhằm xây dựng nền nông nghiệp và kỹ nghệ VN (ngày nay dùng chữ công nghiệp), từ các vấn đề thuộc diện chính sách nông, lâm tới các bài viết về phương pháp nuôi heo, nuôi gà vịt, cách phòng ngừa một số bệnh cho thú vật, v.v., từ việc cần thiết phải có một ngành bảo trì máy móc, sang tới các ngành công nghiệp mới như hoá, cơ khí, điện tử, hoặc đang trên đà công nghiệp hóa từ tiểu công nghiệp như thuộc da, tơ lụa..., và tìm hiểu những khía cạnh khoa học trong các chuyện « thường ngày » như việc làm giấm, làm ruốc, tương hay nước mắm, v.v.. Tập san cũng chú ý nhiều tới các chính sách giáo dục cần thiết để đào tạo nhân lực cho các ngành kinh tế đó.  Hai số đặc biệt về nông nghiệp (số 42, cuối năm 1963, với 29 bài viết, và số 70, năm 1973, 16 bài)  cũng như hai số đặc biệt về kỹ nghệ (số 62, năm 1969, 11 bài và số 69, năm 1972, 17 bài), bao gồm các bài viết về từng chuyên ngành với nhiều số liệu từ nhiều nguồn công và tư cho phép nhìn lại tình hình kinh tế của VNCH thời đó, hoặc những ý kiến của một chuyên gia về một vấn đề chung (như bài Một quan niệm về phát triển của Võ Sáng Nghiệp trong số 69, hay bài  Tiểu Công Nghệ ở nông thôn của Nguyễn Công Huân, số 42, bài Mức đóng góp của kỹ nghệ vào sự phát triển canh nông của Vũ Nam Triệu, số 70, bài Vấn đề kỹ nghệ hóa Việt Nam của Âu Trường Thanh, số 7, 1958...), thể hiện mối quan tâm đó của Tập san. Tất nhiên các chủ đề này còn bàng bạc trong nhiều số báo khác. Bài viết Áp dụng khoa học và kỹ thuật trong lãnh vực Nông nghiệp, dài 41 trang trong Tập san số 40, của kỹ sư Châu Tâm, bao quát từ các vấn đề chung mà tiến bộ khoa học giúp cải tiến nông nghiệp (kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, cải thiện giống má, cơ giới hóa...) sang việc áp dụng chúng vào nông nghiệp VN, với nhiều ý kiến mà ngày nay chưa hẳn là lạc hậu, là một trong nhiều ví dụ cho thấy giá trị của những đóng góp về tri thức khoa học của Tập san. Có thể kể thêm nhiều bài viết khác. Chẳng hạn, bài Nên trồng gai (ramie) hay trồng bông vải (coton) để cung cấp nguyên liệu cho ngành dệt ở Việt Nam của kỹ sư, giáo sư Tôn Thất Trình (số 10, 1958), đặt ra một vấn đề vẫn còn nhức nhối của ngành dệt may VN hiện nay: vấn đề nguyên liệu (xem bài phỏng vấn ông Vũ Đức Giang, chủ tịch Hiệp hội Dệt may VN trên VnEconomy). Hay bài Chánh sách đào tạo chuyên viên canh nông của GS Nguyễn Văn Hảo, nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng phát triển nông nghiệp (trong hai số 65 và 66, 1971), tuy những con số không còn phù hợp với hiện nay nhưng nhiều bài học có vẻ như vẫn khá thời sự!

Nhìn chung, có thể nói rằng, so với các bài viết trên các tạp chí tiền bối trước 1945, ở đây các bài viết về nông nghiệp đặt ra nhiều vấn đề sâu hơn (về các khía cạnh KHKT), và về công nghiệp thì thêm nhiều vấn đề mới hơn. Chẳng hạn, việc tiêu chuẩn hóa kỹ nghệ được kỹ sư Võ Sáng Nghiệp nêu lên trong ba bài viết (các số 45, 47 và 48), trong đó bài cuối cùng nêu ra một Dự án thiết lập Sở Tiêu chuẩn kỹ nghệ với phụ lục là một Bảng kê các sản phẩm kỹ nghệ cần lập tiêu chuẩn bao gồm hầu hết các ngành nghề. Có thể khẳng định gần như chắc chắn, đây là bài báo tiếng Việt đầu tiên nêu ra vấn đề "tiêu chuẩn hóa" vì như tác giả nêu lên ở đầu bài, trong tiểu thủ công nghệ, "phẩm chất của món hàng hoàn toàn tùy thuộc ở sự khéo léo và sáng kiến của người thợ. Ngoài ra, kích thước, tính chất, thành phần, cách trình bày của sản phẩm không được xác định rõ ràng mà thường hay thay đổi". Đòi hỏi tiêu chuẩn hóa do đó cũng dễ hiểu, tương ứng với sự phát triển kinh tế (miền Nam) từ những năm 1930-40 sang 1950-60. Mặt khác, đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học được đào tạo ở Pháp (và bắt đầu ở Mỹ) về cũng đông đảo hơn, giữ những vị trí điều hành ở các cơ quan kinh tế hay kinh doanh và từ đó đạt được tầm nhìn sâu, rộng hơn trong ngành nghề của mình, trong khi hơn 20 năm trước những người đi trước họ còn rất ít và hầu hết đều là nhân viên dưới quyền điều hành của những người Pháp.

Tình hình trên đối với các bài viết về áp dụng khoa học trong công-nông nghiệp càng rất rõ nét khi nhìn vào mảng khoa học tự nhiên (cả "khoa học thuần túy" và "khoa học ứng dụng" - bao gồm y, dược) trong Tập san, do có khá nhiều tác giả là những người đã và đang có quá trình tham gia nghiên cứu, giảng dạy ở đại học hay một viện nghiên cứu, một đặc điểm quan trọng so với các tạp chí trước 1945. Tuy Tập san chỉ chính thức yêu cầu từ số 44 các bài viết "phải có một Toát yếu (Résumé) bằng Pháp hoặc Anh ngữ và mục tham khảo thư loại (Bibliographie) xếp đặt theo kiểu quốc tế", nhưng trước đó người ta đã có thể bắt gặp nhiều bài được trình bày "theo kiểu quốc tế" như thế. Như các bài Nấm Penicillium STECKII của bác sĩ Trần Văn Du (số 4), bài Những chất hữu cơ tối thiểu cần cho sự sinh trưởng thực vật của thạc sĩ Phạm Hoàng Hộ (hai số 4, 5, 1957) v.v. Bên cạnh những bài viết nhằm phổ biến những kiến thức chung, đây là những bài giới thiệu công trình nghiên cứu của chính người viết hoặc của một nhà khoa học khác (thường là dịch từ báo nước ngoài), tuy không chiếm đa số nhưng cũng có khá nhiều trong Tập san và trong đủ các ngành nghề.

- Về y khoa. Bác sĩ Trần Văn Du ngoài bài Nấm Penicillium nói trên, có nhiều bài tường thuật về các cuộc điều tra bệnh tật ở VN, như bài Một thứ ký sinh trùng dẹp rất hiếm ở xứ ta: Raillietina hoặc Davainea (số 7), bài Những ký sinh trùng người ta ở Saigon Cholon thống kê trong bốn năm 1956 57 58 59 (số 17), hoặc một bài báo cáo kết quả 520 thí nghiệm mà ông đã tiến hành trọn năm 1959 và nửa năm 1960 để kiểm tra Phản ứng Galli Mainini hoặc cách đoán thai nhờ cóc ở Việt Nam (số 19)... Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên có một loạt 5 bài "Tìm hiểu bệnh ung thư", tổng hợp những tri thức của thời đại kết hợp với kinh nghiệm của một thầy thuốc hàng ngày theo dõi bệnh này tại Viện Pasteur Sài Gòn để trả lời một số câu hỏi thường gặp nhất về bệnh này. Loạt bài được đăng trong 5 số liền (số 32 tới 36), sau được Tập san yêu cầu xem lại và bổ túc để đăng lại thành một bài viết duy nhất của một số đặc biệt 72 trang (số 46, 1964). Bác sĩ Nguyễn Văn Ái, Viện trưởng Viện Pasteur Sài Gòn, cũng có nhiều bài viết trong Tập san về các loại vi trùng, cực vi trùng (virus), trong đó có bài Bệnh dịch hạch tại Việt Nam năm 1956 mô tả công việc của Viện Pasteur khi dịch này tái phát (tại Tây Ninh và Phan Thiết). Một nghiên cứu viên khác tại Viện Pasteur, bà Nguyễn Thị Lâu, có bài nghiên cứu về Giá trị bổ dưỡng của thịt các loài cá thông qua phân tích thành phần của 19 loài cá thường dùng ở VN, cả cá nước ngọt và cá nước mặn (số 8, 1958). Sau đó bà cũng ký chung với hai đồng nghiệp người Pháp trong Viện một bài khảo sát về Hai món ăn kiêng cổ truyền ở Việt Nam: Thịt chà bông và Cá chà bông (số 21, 1960). Bài này cũng được đăng lại trong số 42, số đặc biệt về Canh nông, ngư nghiệp và tiểu công nghiệp. Về thú y, bác sĩ Lê Thước ngoài loạt bài nói về cách nuôi từng con thú (heo, gà, vịt...) có một bài dài đăng trên hai số 27 và 28 (1961) đưa ra nhiều dữ liệu và đề nghị giải pháp cho "một nan đề vừa thuộc sinh học vừa thuộc kinh tế học":  Vấn đề dinh dưỡng súc vật tại Việt Nam. 

- Về các ngành Khoa học tự nhiên khác. Sự tham gia của nhiều giáo sư, giảng viên thuộc Đại học Khoa học Sài Gòn, Đại học Cần Thơ, các chuyên viên của Nguyên tử lực cuộc Đà Lạt hay Viện Hải dương học Nha Trang... giúp cho Tập san có được một khối lượng phong phú các bài viết trong các lãnh vực này, từ vật lý, hóa học sang khoa học trái đất, năng lượng nguyên tử... Loại bài phổ biến kiến thức chung dĩ nhiên chiếm đa số, có thể kể sơ: ba bài về Khoa Trầm tích Học và ứng dụng của nó trong cách tìm dầu hỏa đăng trên các số báo 44, 45, 47 (1964) của GS Trần Kim Thạch, trình bày khá sâu về một ngành khoa học mới chỉ ra đời từ sau 1950, bài Một biến chuyển trong nền khoa học cận đại của GS Nguyễn Chung Tú (số 3, 1957), giúp người đọc có một cái nhìn nhanh nhưng tổng quát về khoa học từ thế kỷ 17 đến nửa đầu thế kỷ 20, bài Cơ cấu hóa học của hiện tượng diệp hóa của GS Phạm Hoàng Hộ (trong hai số 24, 25, 1961), bài Dự tính ánh sáng trong một căn nhà của kỹ sư Nguyễn Duy Thu Lương (số 30, 31, 1961), bài Những chất Kháng Oxygen dùng trong thực – phẩm của GS Chu Phạm Ngọc Sơn (số 55, 1965), v.v. Hai bài Những áp dụng của Máy Tính Điện Tử tại Việt Nam (số 50, 1965) và Xử dụng máy tính điện tử trong Việc nghiên cứu khoa học (số 67, 1971) của kỹ sư Trần Bửu Chánh có lẽ là những bài viết sớm nhất trên báo chí tiếng Việt về ngành khoa học mới mẻ này.

Đáng chú ý là ngay trong những bài có tính phổ thông, nhiều tác giả đã đi khá sâu vào các khía cạnh chuyên môn của đề tài, không ngại sử dụng những công thức hóa học, toán học phức tạp, phản ánh một lựa chọn bất thành văn của Tập san hướng về khối bạn đọc có trình độ trung học phổ thông (tú tài) thời đó, nói chung đã làm quen với kiến thức khoa học kỹ thuật nhiều hơn so với bạn đọc của các tạp chí trước 1945. Tuy vậy, những bài về lịch sử khoa học (4 bài ngắn, độc lập với nhau), khoa học luận (cũng 4 bài) phải nói là khá ít đối với đối tượng bạn đọc này. Mặt khác, ngoài vài bài về các vấn đề chính sách kinh tế hay giáo dục liên quan tới khoa học kỹ thuật, số bài về khoa học xã hội và nhân văn (trong đó có vấn đề giáo dục, chẳng hạn như được nêu trong bài viết của BS Phan Huy Quát trong hai số 9 và 10 !) cũng rất ít, nhưng đó hiển nhiên là chọn lựa được phản ảnh ngay trong tên gọi của Tập san, xin không bàn thêm.

Như đã nói trên, Tập san cũng đăng vài bài viết trình bày nghiên cứu của chính các nhà khoa học tác giả, có thể kể: GS Nguyễn Chung Tú với loạt bài về hiện tượng phát huy Cadmium (với tên bài khác nhau, trong các số 10, 13, 15, 30...), GS Phạm Hoàng Hộ về công trình Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, GS Phùng Trung Ngân với bài Những thực vật thông thường có thể gặp ở Nha Trang (số 5, 1957)...

Sau cùng, các vấn đề giáo dục khoa học kỹ thuật rất được Tập san chú ý.

Ngay từ năm đầu tiên hoạt động, Tập san đã đặt "Vấn đề kỹ thuật gia" trong hai bài của Thanh Hà (số 4 và số 5, trang 1), trong đó tác giả nêu lên mâu thuẫn giữa tình trạng thiếu việc làm cho kỹ thuật gia khi kỹ nghệ chưa mở mang và ngược lại thiếu kỹ thuật gia thì làm sao mở mang kỹ nghệ (!), và đề ra hướng giải quyết gồm ba điểm: 1/ tạm mướn kỹ thuật gia ngoại quốc trong giai đoạn đầu, kết hợp với 2/ buộc các xí nghiệp nhận thanh niên tập sự có lương và 3/ tăng cường những cơ quan nghiên cứu của Chính phủ để sẵn sàng thu dụng kỹ thuật gia, vừa là giải quyết việc làm vừa chuẩn bị tương lai vì "nếu kém sự khảo cứu thì việc kỹ nghệ hóa cũng sẽ chỉ được nhất thời mà thôi". Mặt khác, cần tạo điều kiện để người kỹ sư ra trường có địa vị xã hội xứng đáng mới thu hút được thanh niên đi theo con đường khoa học kỹ thuật. Những vấn đề người ta vẫn gặp lại vài chục năm sau khi chiến tranh đã chấm dứt ! Đề tài này cũng được trở lại trong nhiều số sau, với các bài Tương lai thanh niên học các ngành kỹ sư của Lê Sĩ Ngạc (số 20, 1960), Giáo dục kỹ thuật và vấn đề kỹ thuật gia của Nguyễn Được (số 40, 1963) hay Vấn đề đào tạo chuyên viên để đáp ứng với nhu cầu của Kỹ nghệ VN của Hà Dương Bưu (số 48, 1964) v.v.

Bên cạnh đó, vai trò của các trường đại học cả về đào tạo và nghiên cứu cũng được nhiều tác giả đề cập. Bài sớm nhất là bài Khảo cứu khoa học ở VN của giáo sư Phùng Trung Ngân (số 3, 1957) mới sơ lược nêu vấn đề và vài sự kiện diễn ra từ ngày thành lập Viện khoa học Đông Dương, tháng 11.1918. Năm năm sau, trong một Đại hội KHKT VN tổ chức vào tháng 12.1962, GS Lê Văn Thới đã có một báo cáo khá dài về Hiện trạng Khảo cứu Khoa Học tại Việt Nam nêu ra những "Thành tích hoạt động của các cơ quan khảo cứu tại VN" và một số nhận xét về hiện trạng cũng như tổ chức khảo cứu trong tương lai. Bài này được đăng trong số 40, tháng 2.1963. Tiếp theo đó là bài Vấn đề Đào tạo Chuyên viên trong ngành Khảo cứu Khoa Học của GS Nguyễn Chung Tú. Vai trò của Khoa học căn bản trong giáo dục đại học chuyên nghiệp cũng được GS Tú nêu lên trong số báo 67, năm 1971.

Trong số 20, Tập san đăng liền 5 bài viết nhằm cổ vũ thanh niên dấn thân vào con đường khoa học. Ngoài bài của kỹ sư Lê Sĩ Ngạc đã nói trên, có các bài Con đường của thanh niên sắp vào trường Đại Học Khoa Học của GS Lê Văn Thới, bài Hướng về Y nghiệp của bác sĩ Phạm Hữu Chương, bài Trước ngưỡng của trường Đại Học Dược Khoa của dược sư Đào Trọng Hiếu và bài Ngành hóa học của kỹ sư Hà Dương Bưu.

Cũng trong mảng giáo dục, vấn đề Dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ tại đại học được Hội KHKT chọn làm đề tài một Hội thảo vào tháng 1.1967, và các bài thuyết trình (của các GS Nguyễn Chung Tú, Đặng Vũ Biền, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Duy Thu Lương và Bùi Huy Thục) cùng bài tổng kết thảo luận của ông Âu Trường Thanh, tổng thư ký Hội KHKT, được đăng lại trên Tập san số 60, tháng 5.1967. Trước đó, trong số 22, 1960, GS Nguyễn Chung Tú đã có một bài ngắn cho biết vài nỗ lực của ban giảng huấn trường Khoa học Đại học SG về việc soạn thảo một bộ Danh từ khoa học dùng cho tới bậc đại học.

4. Các tác giả

Trong số các tác giả VN, những người có nhiều bài nhất gồm:

- Nguyễn Chung Tú, 28 bài (chưa kể hai bài ký tắt NCT, tin ngắn về Vật Lý, gần như chắc là của ông);

- Võ Sáng Nghiệp, 27 bài (và 5 bài ký tắt VSN);

- Hà Dương Bưu, 21 bài (và 5 bài ký tắt HDB);

- Trần Văn Du, 22 bài chưa kể vài bài Tin tức mục súc, thú y, ký tắt TVD.

- Tôn Thất Trình, 15 bài;

- Nguyễn Văn Ái, 14 bài;

- Nghiêm Xuân Thiện, 14 bài;

- Lê Thước, 11 bài;

- Nguyễn Lưu Viên, 11 bài;

- Nguyễn Duy Thu Lương, 11 bài;

- Trần Kim Quan, 10 bài;

- Trần Kim Thạch, 10 bài;

- Thanh Hà(2), 10 bài.

Trong phần "Những thông tin chung", chúng tôi đã kể tên vài nhân vật từng có tên trong lịch sử chính trị của VNCH. Dưới đây là vài dòng chi tiết hơn:

4.1/ Bác sĩ Phan Huy Quát. Sinh năm 1908, ông tốt nghiệp trường Đại học Y Hà Nội và tham gia hoạt động chính trị từ trước năm 1945 trong Đại Việt Quốc dân đảng, làm Tổng trưởng Giáo dục (1949) rồi Quốc phòng (1950-51 rồi 1953) trong Chính phủ Quốc gia Việt Nam (Bảo Đại). Di cư vào Nam năm 1954, ông hành nghề bác sĩ và tham gia chính trị trong tư cách công dân (ký Tuyên cáo của Nhóm Caravelle tháng 4 năm 1960). Ông trở lại chính trường năm 1964 với cương vị bộ trưởng ngoại giao (CP Trần Văn Hương) rồi Thủ tướng VNCH (tháng 2 tới tháng 6.1965). Sau đó, ông trở lại nghề bác sĩ cho tới 1975, bị kẹt lại Sài Gòn, ông vượt biên không thành, bị bắt rồi mất trong nhà tù Chí Hòa vì bệnh viêm gan (tháng 4.1979). Bác sĩ Phan Huy Quát là anh cùng cha khác mẹ với sử gia Phan Huy Lê. Ông có 5 bài viết trong Tập san.

4.2/ Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên. Sinh năm 1919 tại Trà Vinh, thời sinh viên ông tham gia kháng chiến cho tới năm 1951 thì trở về thành, hoàn thành luận án bác sĩ tại Hà Nội khoảng năm 1952. Sau năm 1954, ông bắt đầu cộng tác với CP Ngô Đình Diệm nhưng sớm tách ra vì bất đồng ý kiến. Đầu năm 1960, ông cùng với một số trí thức đối lập soạn thảo một tuyên bố kêu gọi chính quyền nên cải tổ. Đó là Nhóm Caravelle mà ông là một thành viên chủ chốt. Sau cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm năm 1963, ông cộng tác với chính quyền "đệ nhị cộng hòa", làm tới chức phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Giáo dục từ năm 1969 đến 1971, phó Thủ tướng kiêm Trưởng đoàn VNCH tại Hội nghị La Celle Saint-Cloud (1973-74). Ông viết bài đầu tiên cho Tập san (số 30, 1961) khi đang làm việc ở Viện Pasteur Sài Gòn, tiếp đó là loạt bài " Tìm hiểu bệnh ung thư" như đã nói trên. Sau 1975, ông di tản sang Mỹ, tiếp tục hành nghề bác sĩ trong một bệnh viện tại tiểu bang Tennessee cho tới khi về hưu (1988), và mất năm 2017 tại nhà riêng, tiểu bang Virginia.

4.3/ Tiến sĩ Âu Trường Thanh. Sinh năm 1925, tiến sĩ kinh tế học tại đại học Paris, ông đã gắn bó trong nhiều năm với Hội KHKTVN mà ông đảm nhận trọng trách Tổng Thư Ký trong 7 nhiệm kỳ, từ 1960 tới 1963 rồi 1964 tới 1968. Tổng trưởng Kinh tế thời ông Nguyễn Ngọc Thơ sau đảo chính 1963, rồi phó thủ tướng phụ trách kinh tế của Nguyễn Cao Kỳ năm 1966. Năm 1967, ông dự định ra tranh cử tổng thống nhưng bị ngăn cản, năm sau ông sang định cư ở Pháp, mất ở đây năm 2009. Trong thời gian ở Pháp, ông tham gia những hoạt động "thành phần ba" nhằm tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề miền Nam Việt Nam. Vì sự cự tuyệt của Mỹ, những cố gắng đó không đạt được kết quả nào nhưng ông vẫn cố gắng cho tới cuối tháng 4.1975. Sau 1975, ông định cư vĩnh viễn ở Pháp, làm chủ tịch công ty Sanyo - France. Tập san đã đăng ba bài viết của ông về các vấn đề chính sách kinh tế liên quan tới công nghiệp, giáo dục, trong đó có bài Vai trò KHKT trong công cuộc kiến quốc, trong số 41 (1963).

4.4/ Kỹ sư Nghiêm Xuân Thiện, sinh năm 1909, cũng là một nhân vật nổi tiếng trên chính trường VN, cả trước và sau 1954. Tuy nhiên, sự tham gia của ông vào báo chí phổ biến khoa học ít được nói tới. Trong Tập san, ông ký tên dưới 14 bài viết, chủ yếu về mảng « khoa học thường thức » và vài bài dịch về "khoa học luận". Trong những năm đầu 1940, ông cũng đã viết nhiều (20 bài) cho tờ Khoa học báo của các ông Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn. Trong bài giới thiệu về tờ này chúng tôi đã viết một đoạn dài về ông kể cả về thời kỳ sau 1954 trong Nam cho tới khi ông đi định cư ở Đức năm 1979. Ngoài ra, trên mặt báo này, kỹ sư Nghiêm Phong Tuấn, con trai ông, cũng đã có vài bài về các hoạt động chính trị của ông, xin không trở lại.

Bên cạnh những nhân vật "chính trị" ấy, dĩ nhiên Tập san "sống" được chủ yếu là nhờ sự đóng góp bài vở của giới khoa học, bao gồm những người hoạt động chính ở các đại học, bệnh viện, viện nghiên cứu và những kỹ sư làm việc trong công, nông  nghiệp. Dưới đây chỉ là vài khuôn mặt tiêu biểu.

4.5/ GS Nguyễn Chung Tú. Ông sinh năm 1922 tại Hà Nội, mất năm 2014 tại TP HCM. Là khoa trưởng đại học KH Sài Gòn 1965-1973, ông được coi như người thầy của nhiều thế hệ các nhà khoa học ở miền Nam trước 1975 và cả nước sau đó. Giáo sư Nguyễn Chung Tú là tác giả của 33 cuốn sách giáo khoa và khoảng 100 bài nghiên cứu trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Về sự nghiệp khoa học và đào tạo đáng khâm phục của ông, xin bạn đọc mở xem bài viết "Giáo sư Nguyễn Chung Tú, một nhà khoa học, một người thầy" của GS Cao Xuân An, một học trò thân thiết của ông, đăng trên trang khoahocsaigon.com của một nhóm cựu sinh viên Đại học KH SG. Như thống kê trên đây cho thấy, ông là tác giả có nhiều bài viết nhất trong Tập san, bao gồm những bài về vật lý, chuyên ngành của ông, và những bài về giáo dục khoa học như bài Vai trò của Khoa học căn bản trong giáo dục đại học chuyên nghiệp (số 67, 1971) hay bài Sứ mạng Đại học  (số 60, 1967), bài Vấn đề Đào tạo Chuyên viên trong ngành Khảo cứu Khoa Học (số 40, 1963). Cùng với giáo sư Nguyễn Chung Tú, nhiều giáo sư, giảng viên khác của Đại học KHSG cũng có bài viết trong Tập san, như các ông Đặng Hồng Tiệm (toán), Đồng Sĩ Khiêm (Vật lý), Hà Ngọc Bích (hóa học), Trần Thế Hiển (Vật lý), Trần Chung Ngọc (Vật lý)... Cũng không thể quên các chuyên viên của Nguyên Tử lực cuộc Đà Lạt, các ông Phạm Trọng KhôiPhùng Liên ĐoànNguyễn Bích Như.

4.6/ GS Phạm Hoàng Hộ, tác giả của công trình đồ sộ Cây cỏ Việt Nam, mô tả khoảng 10.500 loài cây cỏ có mặt trên toàn cõi Việt Nam, cũng từng là Giáo sư Đại học KH SG, Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn (1962-63), Viện trưởng Đại học Cần Thơ (mà ông là sáng lập viên), và Bộ trưởng bộ Giáo dục trong chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ 1963-1964. Ông sinh năm 1929 tại An Bình, Cần Thơ, sang Pháp năm 1946 học bậc tú tài rồi tiếp tục học đại học ở Sorbonne, lấy bằng thạc sĩ (agrégé) năm 1956, xong trở về nước năm 1957 làm Giám đốc Hải học viện Nha Trang (1957-1962). Trong thời gian này ông đã nghiên cứu về rong  biển VN. Một phần của nghiên cứu này được dùng cho luận án tiến sĩ khoa học mà ông đệ trình năm 1961 cũng tại Đại học Sorbonne. Ông có nhiều tác phẩm nghiên cứu về sinh học, thực vật nhưng nổi nhất là cuốn Cây cỏ miền Nam (xuất bản lần đầu năm 1960, tái bản năm 1970). Sau 1975 nghiên cứu của ông được mở rộng ra toàn cõi VN, rồi sau đó, từ năm 1984 tại Paris khi ông được phép trở sang Pháp, nhận một chức vụ Giám đốc nghiên cứu trong Bảo tàng Thiên nhiên Quốc gia Pháp (Muséum National d'Histoire Naturelle, Paris, gọi tắt là Muséum), ông không ngừng bổ sung nó thành bộ Cây cỏ Việt Nam (nxb Trẻ in năm 1991, tái bản có sửa chữa và bổ sung năm 2003). Công trình này tuy viết bằng tiếng Việt nhưng được thế giới biết tới nhờ các ghi chú bằng tiếng Anh và những nét họa tinh vi của các chủng loại. Sau 5 năm làm việc tại Muséum, GS Phạm Hoàng Hộ sang định cư tại Canada, ông mất tại Montréal ngày 29.1.2017. Trong Tập san, ông có hai bài viết về thực vật học căn bản: Những chất hữu cơ tối thiểu cần cho sự sinh trưởng của thực vật (trong hai số 4 và 5, 1957), Cơ cấu hóa học của hiện tượng diệp hóa (hai số 24 và 25, 1961), và một bài về việc Bồi bổ quyển Cây cỏ miền Nam Việt Nam (số 32, 1962).

4.7/ GS Tôn Thất Trình sinh năm 1931 tại Huế, tốt nghiệp kỹ sư nông học tại Paris năm 1955, ông về Sài Gòn làm trong bộ Nông nghiệp VNCH, giữ nhiều chức vụ cao cấp từ thời phó TT Nguyễn Ngọc Thơ. Năm 1964 GS Phạm Hoàng Hộ, lúc đó là Tổng trưởng Giáo dục, bổ nhiệm ông làm Giám đốc Cao đẳng Nông Lâm Súc (sau trở thành Đại học Nông nghiệp Sài Gòn rồi Đại học Nông Lâm Tp HCM). Ông cũng được cử làm Tổng trưởng bộ Canh nông và Cải cách điền địa (hai lần, 1967 và 1973), nhưng vẫn tiếp tục giảng dạy ở trường. GS Tôn Thất Trình là một trong những người viết nhiều và đều nhất cho Tập san, 15 bài từ số 1 (1957) tới số 67 (1971), từ các vấn đề kỹ thuật (Những phương pháp trừ sâu bọ phá hoại mùa màng, Kết quả thí nghiệm về đậu phụng...), cho tới các chính sách vĩ mô trong nông nghiệp (ba bài về vấn đề dinh điền trong các số 13, 15 và 31). Di tản sang Pháp năm 1975, làm chuyên viên nông nghiệp cho Tổ chức Lương Nông Quốc tế (FAO) ở nhiều nước trên thế giới, kể cả Việt Nam tới lúc nghỉ hưu thì sang định cư ở Irvine, Mỹ, và từ trần tại đây ngày 11.7.2021. TS Hoàng Kim, thuộc trường Đại học Nông Lâm Tp HCM, có bài Chuyện thầy Tôn Thất Trình cho nhiều thông tin về ông.

Một đồng nghiệp của ông, GS Phùng Trung Ngân, GS Sinh-môi và Khoa trưởng đại học KH SG, Khoa trưởng ĐH Nông nghiệp SG, cũng có ba bài viết trong hai năm đầu của Tập san.

Ngoài ra, GS Lê Văn Ký, chuyên về Lâm học, giáo sư Nông Lâm Súc (và là Hiệu trưởng trường này trong hai năm 1974-1975), ông Nguyễn Công Huân, kỹ sư Nông nghiệp, con trai trưởng nhà khoa học Nguyễn Công Tiễu, người sáng lập và điều hành Khoa học Tạp chí ở Hà Nội từ năm 1931 tới năm 1940, cũng có nhiều bài cho Tập san.

4.8/ GS Trần Kim Thạch, sinh năm 1937 tại Đà Nẵng, ông học cao học tại Đại học Khoa học Sài Gòn rồi được học bổng của tập đoàn dầu khí Shell sang Anh du học. Ông bảo vệ tiến sĩ năm 1964 tại Viện Trầm tích học, đại học Reading và về giảng dạy tại Đại học KH Sài Gòn ngay sau đó. Năm 1972, ông trở thành giáo sư thực thụ của đại học này, và được bầu làm trưởng ban Địa chất học, tổng thư ký Hội Địa chất Địa lý Miền Nam VN. Ông tiếp tục các hoạt động khoa học - giáo dục này sau 1975 và được tái công  nhận chức danh giáo sư năm 1980. GS Trần Kim Thạch mất tại SG 2009, để lại nhiều tác phẩm về địa chất học và những ứng dụng của nó, như các cuốn Cơ bản địa chất học (1964), Khoáng sản miền Nam VN (1968), Dầu hỏa miền Nam VN (1972)... Thư viện của dòng Đa Minh, Sài Gòn, có một danh mục 12 tác phẩm của Trần Kim Thạch trước 1975, đều do Lửa Thiêng xuất bản. Một số cuốn cũng được tái bản sau này, cùng với vài cuốn viết sau này như Dấu ấn văn hóa từ đất đá (nxb Trẻ 2001), Bí mật vũ trụ (Trẻ, 2006)... Năm 1964, vừa bảo vệ xong luận án tiến sĩ và được nhận làm giảng sư tại ĐH KH SG, ông đã tham gia Tập san với một bài viết dài về Trầm tích học và ứng dụng của nó trong cách tìm dầu hỏa, đăng trên ba số báo 44, 45 và 47), giới thiệu ngành nghiên cứu mới ra đời từ hơn mười năm trước đó (Hiệp hội Quốc tế Trầm tích học thành lập năm 1952, với hội viên từ 20 nước, trong đó ông là đại diện duy nhất của Việt Nam). Ông viết tất cả 10 bài cho Tập san, trong đó có 4 bài viết chung với Lê Văn Tiết, trong đó có hai bài nói lên những quan sát của ông về khoa học kỹ thuật Nhật Bản (số 58, 1966) nhân đi dự một hội nghị khoa học Thái Bình Dương tại Tokyo.

4.9/ KS Lâm Tô Bông, kỹ sư ngành dệt và giám đốc xí nghiệp dệt lớn Sicovina Khánh Hội, nhà máy kéo sợi bông vải đầu tiên tại miền Nam của người Việt Nam. Ông cùng với kỹ sư Phạm Văn Hai (chuyên nghề nhuộm) là những doanh nhân có tên tuổi ở miền Nam trước 1975 trong ngành tơ sợi. Các xưởng Sicovina làm ra những loại vải sản xuất có phẩm chất được coi là tốt tương đương với vải của Nhật Bản và Đài Loan. Xin giới thiệu bài viết về công ty này trên trang "Chuyện xưa". Cả hai ông đều tham gia Hội KHKTVN, mà ông Lâm Tô Bông là phó Hội trưởng trong nhiệm kỳ đầu tiên (1957-1958).

4.10/ KS Võ Sáng Nghiệp: Sinh năm 1937 tại Vĩnh Long, tốt nghiệp trường Kỹ thuật Phú Thọ khoá đầu tiên (1955), kỹ sư Võ Sáng Nghiệp đã về công tác ở Nha Công Kỹ nghệ, Bộ Kinh tế VNCH từ năm 1960, và là người cộng tác lâu năm với kỹ sư Hà Dương Bưu khi đó là giám đốc Nha này. Ông viết cho Tập san KHKT từ năm 1961 về nhiều khía cạnh kỹ thuật công-nông nghiệp, từ các bài về một số ngành nghề tới các bài chung về chính sách đối với công nghiệp như ba bài viết (lần đầu tiên trên báo chí VN ?) về vấn đề Tiêu chuẩn hóa kỹ nghệ đã nói trên, hoặc bài  Vấn đề bảo trì và sửa chữa máy móc trang  bị kỹ nghệ tại VN (số 64, 1970)... Năm 1969, ông là giáo sư trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Sài Gòn. Sau 1975, ông sống ở TPHCM, và từ năm 1983 đã mở một trường tư chuyên về Đào tạo Nghiệp vụ và Kỹ thuật (trường MTC), là một trong những trường đầu tiên chuyên đào tạo về quản lý cho các doanh nghiệp. Ông cũng có một vài cuốn sách như "Vai trò của người đốc công trong tiểu kỹ nghệ" (1969), Giải pháp quản lý của bạn (nxb Trẻ 2010), và thi thoảng xuất hiện trên báo chí về các vấn đề giáo dục kỹ thuật ở VN (như trong bài này). Ông mất tại Tp HCM khoảng năm 2020.

4.11/ Bác sĩ, Giáo sư Nguyễn Văn Ái sinh năm 1920 tại Hà Nội, học đại học Y khoa Hà Nội, sang Pháp năm 1947 tiếp tục học tại Đại học Y khoa Paris và tốt nghiệp bác sĩ tại đây năm 1952, làm tại Viện Pasteur cho đến khi về nước và là Tổng giám đốc người Việt đầu tiên của Viện Pasteur Việt Nam (gồm các viện Pasteur Sài Gòn, Đà Lạt, Nha Trang) từ năm 1958 cho tới 1975. Ông cũng giảng dạy môn Vi khuẩn y học tại Đại học Sài Gòn và là Đại diện VNCH trong Chương trình Y học nhiệt đới của ASEAN. Ông bị bắt đi "học tập cải tạo" năm 1975, được trả tự do năm 1978 và được qua Pháp đoàn tụ gia đình năm 1983. Ông là một trí thức Công giáo đã góp phần xây dựng Giáo xứ Việt Nam ngay từ thời sinh viên, và khi trở sang Pháp năm 1983 đã nhanh chóng hòa nhập lại môi trường này cho tới khi từ trần năm 2015. Trong Tập san, ông có 14 bài viết chủ yếu về các loại vi trùng, vi khuẩn mà ông nghiên cứu tại viện Pasteur.

4.12/ Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Lâu là một trong số ít tác giả nữ trong Tập san (cùng với các bà Đặng Thị Yến - kỹ nghệ thủy tinh, bà Lê Quang Kim - dược sĩ, Nguyễn Thị Kim Thoa - bác sĩ, Trịnh Kim Mộng Đơn - bác sĩ và Trần Kim Oanh - canh nông). Tra tên Nguyễn Thị Lâu trên Google cùng với từ khóa Pasteur, ta thấy một số bài viết của bà trên các tạp chí khoa học như:

(i) A. Vialard-Goudou, J. Darieussecq & Nguyen Thi Lau: Les vitamines du groupe B dans les aliments végétaux au Sud Vietnam, Plant Food Hum Nutr. 3, 426-431 (1958).
(ii) Nguyen Thi Lau, C. Richard, Le poisson dans l'alimentation du vietnamien. Revue d'élevage et de médecine vétérinaire des pays tropicaux, vol. 12, N°3 (1959)
(iii) Richard C., Nguyen Thu Nghi, Nguyen Thi Lau, Litalien F., Le poisson dans l'alimentation du vietnamien. Revue d'élevage et de médecine vétérinaire des pays tropicaux, vol. 13, N°4 (1960).
(iv) C. Richard, Nguyen Thi Lau: Les oeufs de tortue de mer (Chelonia Mydas), aliment traditionnel vietnamien: Composition chimique et valeur alimentaire. Revue d'élevage et de médecine vétérinaire des pays tropicaux, vol. 14, n°3 (1961).

Trong Tập san, bà có bài Giá trị bổ dưỡng của các loài cá (số 8, 1958), có thể là một nghiên cứu sau đó đã được bổ sung, phát triển thêm thành hai bài (ii) và (iii) trên đây. Theo Google Scholar, cả hai bài được trích dẫn nhiều lần.

Một chứng từ của GS Tô Đồng, nguyên Khoa trưởng trường đại học Dược Khoa Sài Gòn, cho biết bà từng sang Pháp làm luận án tiến sĩ Dược cùng thời với GS Đặng Vũ Biền, và sau đó trở thành giáo sư, dạy hai môn Thực vật học và Ẩn hoa học tại trường này. Theo trang web của Đại học Y dược TP HCM, năm 1977 GS Nguyễn Thị Lâu được cử phụ trách "Bộ phận nghiên cứu gián phân tế bào" thuộc Ban Nghiên cứu Khoa học của Đại học này.Trong một chuyến về thăm nhà năm 1995 ông Đồng đã gặp lại bà. Chúng tôi không tìm thấy thông tin khác về bà sau đó.

4.13/ BS Trần Văn Du, như các thông tin trên kia cho thấy, là một cột trụ cả của Hội KHKT và Tập san. Ông người Hà Tĩnh, sinh năm 1916, tốt nghiệp bác sĩ thú y ở trường Thú y Quốc gia Alfort (Pháp), học thêm vi trùng học tại Đại học Y khoa Paris, sau đó làm nghiên cứu tại viện Pasteur Paris, sang Đức vào viện Robert Koch (như viện Pasteur Pháp) rồi viện Y học nhiệt đới Hamburg và trở về nước năm 1946, tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông bị Pháp bắt năm 1948, bị giam 9 tháng rồi được trả tự do trong một cuộc trao đổi tù binh năm 1949. Ông bắt lại được liên lạc với bác sĩ Phạm Ngọc Thạch ở chiến khu năm 1950, từ đó ở lại Sài Gòn chủ yếu làm chuyên môn (mở phòng xét nghiệm y khoa, nghiên cứu và giảng dạy ở trường Cao đẳng Nông Lâm Súc...). Bài viết Cha tôi của cô con gái ông, Trần Thị Vân Mai, trên mặt báo này, cho rất nhiều thông tin về gia cảnh cũng như những hoạt động của ông cho tới sau này tại tp HCM, nơi ông ở cho tới khi từ trần, năm 2007. Ông viết nhiều cho Tập san, và người đọc có thể thấy hầu hết những bài viết đó được đúc kết từ hoạt động của chính ông trong phòng xét nghiệm y khoa.

Tham gia Tập san còn có nhiều đồng nghiệp trong ngành thú y của ông: các bác sĩ Lê ThướcNguyễn Trọng TrứVũ Thiện Thái...

4.14/ Last but not least, dĩ nhiên phải nói tới nhân vật chủ chốt của cả Hội KHKTVN và Tập san, kỹ sư Hà Dương Bưu.

Kỹ sư Hà Dương Bưu sinh năm 1908 (trên giấy tờ chính thức ghi ngày 15.1.1909) tại Cấn Xá, Quốc Oai, Sơn Tây, được gia đình gửi sang Pháp năm 1927 học tú tài rồi vào trường kỹ sư hóa ở Marseille, tốt nghiệp và về nước năm 1933. Từ đó đến Cách mạng tháng tám 1945, ông đã làm nhiều việc với chuyên môn của mình ở Phòng nghiên cứu Dược quốc gia Lào (Laboratoire de Pharmacie Centrale à Vientiane 1936, 37), Viện Khảo cứu Nông nghiệp Hà Nội (Institut de Recherche Agronomique, 1942, 1944), nhà máy rượu Văn Điển (1943), nhà máy làm Xút ở Ninh Giang (đầu 1945, nhà máy xây xong nhưng chưa bắt đầu hoạt động thì có đảo chính Nhật), nhà máy làm giấm ở Kim Mã (1941-1946). Sau ngày toàn quốc kháng chiến, ông tản cư, gặp bộ trưởng Phan Anh ở Tuyên Quang và nhận giấy vào Thanh Hóa hoạt động kinh tế với mục đích tìm mỏ Pyrite ở Bái Thượng để làm acide sulfurique. Công việc chưa xong thì trong một chuyến về quê ông bị Pháp bắt đưa về Hà Nội (cuối 1948). Ông nhận làm cố vấn kỹ thuật cho hiệu sơn Thái Bình của ông Cự Hải. Đầu năm 1949, gia đình theo ông vào Hà Nội khi ông được nhận vào  Pharmacie Centrale de Hanoi. Năm sau, ông nhận lời làm công cán ủy viên ở bộ Thương mại và Kỹ nghệ, chính phủ Trần Văn Hữu. Đầu 1952, làm giám đốc Khu tiểu công nghệ Hà Đông, cuối năm kiêm thêm giám đốc Khoáng chất Hà Nội cho tới tháng 8.1954 thì di cư vào Nam. Sau mấy tháng thì được nhận trở lại vào bộ Kinh tế và từ 1956 tới 1962, làm giám đốc Công Kỹ Nghệ (ông Nguyễn Ngọc Thơ làm bộ trưởng) với vai trò thúc đẩy, giúp đỡ những dự án phát triển của công kỹ nghệ VNCH. Năm 1962, có thay đổi trong chính phủ, ông từ chức và ra Đà Nẵng làm giám đốc xây dựng nhà máy sợi Hoà Thọ (thuộc tổng công ty Sicovina của ông Lâm Tô Bông), tới giữa năm 1963 lại trở về Sài Gòn và sau cuộc đảo chính tháng 11.1963, trở vào làm ở bộ kinh tế một năm nữa theo lời mời của các ông Nguyễn Ngọc Thơ và Âu Trường Thanh. Từ 1965 tới tháng 4.1975, ông hoàn toàn làm tư doanh (công ty bột giặt Net, Việt Nam Tân hóa phẩm, thuốc đánh răng Lan Sơn...). Tháng 4.1975, ông di tản cùng gia đình (trừ ba người con trai đã lập nghiệp ở Pháp). Sau một thời gian ngắn ở Guam thì được nhận vào Pháp ở với một người con trai cho tới năm 1983 thì sang Mỹ, chủ yếu sống ở Orange County với con trai trưởng và từ trần ở đây vào tháng 9.1995.

Báo Người Việt ở Quận Cam số đề ngày 12.9.1995, có bài viết "Một tấm gương sáng của Việt Nam thế kỷ 20. Cụ Hà Dương Bưu (1908-1995)", đánh giá ông là "một trong những kỹ sư đã từng xây dựng hay giúp đỡ cho việc xây dựng nhiều nhà máy nhất ở Việt Nam", và "trong thời gian cụ làm giám đốc Nha công kỹ nghệ thì miền Nam Việt Nam đã phát triển cao nhất về số các dự án công kỹ nghệ được hoàn tất"(3).  Theo tác giả(4) bài báo, các người bạn cùng tuổi, các nhân viên bộ Kinh tế và tất cả các công kỹ nghệ gia đã có dịp tiếp xúc sẽ nhớ đến cụ trước hết là là "ở nơi nhân cách khoan dung, cương trực và rất đỗi thanh liêm của cụ".

Bên cạnh vai trò người kỹ sư với những hoạt động đa dạng và "những thành tựu đáng hãnh diện" kể trên bài báo Người Việt còn nhấn mạnh, kỹ sư Hà Dương Bưu cũng là một người say mê với khoa học và phổ biến khoa học vào xã hội. Sự say mê khoa học này, ông đeo đuổi cho tới những năm cuối đời ở California, qua sự đóng góp bài vở cho báo Người Việt và tạp chí Thế kỷ 21 với các bài viết về dinh dưỡng và sức khỏe, sau được in thành cuốn sách Ăn uống và sức khỏe, Phòng bệnh và trị bệnh. Nhưng ngay từ đầu năm 1942, ông đã vào bộ biên tập của Báo Khoa học do các ông Nguyễn Xiển và Hoàng Xuân Hãn chủ trì. Mười năm sau, ông là sáng lập viên Hội KHKTVN ở Hà Nội (1953), rồi lập lại Hội này ở miền Nam năm 1956 như đã nói, mà ông là Hội trưởng trong 5 nhiệm kỳ đầu tiên và phó Hội trưởng trong 4 nhiệm kỳ khi bác sĩ Trần Văn Du làm Hội trưởng.

Trong Tập san, ông viết hơn 20 bài, chung quanh các vấn đề sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng những tri thức hóa và sinh học, như Đường nội hóa (số 6 và 8, 1958), Giấm tây (số 10, 1958), rượu (hai bài, một nói chung về sản xuất rượu nhân cuộc viếng thăm nhà máy rượu Bình Tây, số 13, 1959, một về cách làm rượu dâu, số 54, 1965), hoặc về các vấn đề chung của kỹ nghệ, như xử lý rác (một bài trong số 2, 1957, phân tích và đề nghị cách giải quyết rác đô thành, và một bài dưới tiêu đề Khung cảnh sống đăng trên hai số 64, 1970 và 65, 1971, nêu yêu cầu làm sạch môi trường bị nhiễm độc do rác rưởi hàng ngày và phế thải của kỹ nghệ. Ông cũng đặc biệt quan tâm tới sự phát triển kỹ nghệ với các bài Hiện trạng kỹ nghệ tại VNCH (số 41, 1963)(5)Vấn đề đào tạo chuyên viên để đáp ứng với nhu cầu của Kỹ nghệ Việt Nam (số 48, 1964). Vấn đề thứ hai lại được ông nhấn mạnh trong bài Nhận định về đại học Việt Nam, thuyết trình tại Hội thảo về ĐH VN do Hội KHKTVN tổ chức ngày 18.6.1967, đăng trên Tập san số 61, 1968.

5. Tạm kết

Như đã thưa trước trong Lời nói đầu, đây chỉ là một bài báo, giới thiệu một tạp chí. Chưa phải là một nghiên cứu thực sự. Dù đã khá dài, nó không thể đi sâu vào nội dung nhiều bài viết cũng như tiểu sử các nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư tham gia Tập san, trong đó, theo thiển ý, nhiều người xứng đáng có chỗ trong lịch sử trí thức VN –  cho tới nay vẫn chỉ được ưu tiên cho các chính trị gia và văn nghệ sĩ (cũng chỉ một phần được ghi trong lịch sử chính thống), nhưng đó là một chuyện khác. Khung cảnh kinh tế - xã hội của miền Nam VN trong những năm hoạt động của Tập san, giữa hòa bình và chiến tranh, cũng chỉ được lướt qua. Dù sao, mong rằng qua bài báo chắc hẳn là có nhiều thiếu sót này, bạn đọc cũng hình dung được phần nào sự phong phú của một tạp chí tri thức vốn bị bỏ quên, và sự đa dạng (cả về chuyên môn và sự dấn thân xã hội) của những người đã làm cho nó sống được 17 năm trời trong những điều kiện không dễ dàng gì. Thành quả đáng tự hảo này, theo người viết, trước hết có được vì họ chia sẻ một hoài bão, một ước mong chung: làm sao để đưa những tri thức khoa học của thời đại vào công cuộc xây dựng đất nước. Ước mong phải nói là "cháy bỏng" ấy, họ đã kế thừa từ các bậc tiên hiền đã lập ra các tạp chí có cùng mục đích vài thập niên trước, những Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Công Tiễu, Lâm Văn Vãng, Nguyễn Xiển... Mong sao, nó được tiếp nối và nhất là nâng cao.

Hà Dương Tường

Chú thích:

(1) Trong bảng này, khi chép các thông tin từ nhiều số của Tập san, cũng như trong hai bảng Mục lục, chúng tôi đã viết các tên riêng như thể lệ hiện hành: cả họ, tên, tên đệm đều viết hoa, khác với cách viết thời đó (xem bản chụp "Những ban trị sự liên tiếp"). Đối với tên các bài viết được trích dẫn (in nghiêng), chúng tôi không sửa đổi chính tả của Tập san.

(2) Trong khi hầu hết các bài đều ký tên đầy đủ – đôi khi còn kèm theo chức tước "giáo sư" hoặc "bác sĩ", "kỹ sư"…, trừ ở vài bản tin hoặc bài dịch ngắn ký tên tắt, thì trường hợp của tác giả Thanh Hà với các bài viết về nhiều khía cạnh của kỹ nghệ Việt Nam, được đặt ở vị trí gần như xã luận của báo (trang 1 trong hai số liền 4 và 5, 1957) khiến người ta có thể nghĩ đây là một bút hiệu của kỹ sư Hà Dương Bưu, người cũng chia sẻ những quan tâm đó, và là người phụ trách chính của Hội Khoa học Kỹ thuật VN cùng với bác sĩ Trần Văn Du. Tuy nhiên, người viết không có chứng từ nào cho lời khẳng định trên, chỉ xin nêu lên với sự dè dặt thường lệ. Một tác giả khác ký biệt hiệu là Nhan Thành, viết 4 bài về Chính tả tiếng Việt, nhưng khi ông nhảy sang lĩnh vực vật lý với bài "Tương hệ giữa “Chuyển lực lý rung bức” của Nhan Thành và liên hệ e=mc2 của Einstein" thì Tập san cho đăng "với tất cả sự dè dặt" (trong LTS) và sau đó không còn bài nào khác.

(3) Khi viết bài này, chúng tôi cũng tìm lại được một bức thư đề ngày 4.10.1979 của bố tôi gửi chị tôi, Hà Dương Thị Di, trong đó ông viết: "Trong thời gian làm ở bộ Kinh tế, ba đã giúp phần xây dựng kỹ nghệ ở miền Nam khá nhiều, nhất là kỹ nghệ sợi dệt, kỹ nghệ giấy, thủy tinh, biến chế dồ plastic...".

(4) Bài báo không ký tên, nhưng ông Đỗ Ngọc Yến lúc ấy là chủ nhiệm tờ báo cho biết chính ông là người viết.

(5) Đây là bài tác giả phát biểu trong Đại hội KHKTVN, tháng 12.1962 khi ông vừa từ chức Giám đốc Công kỹ nghệ thuộc Bộ Kinh tế, sau 7 năm trực tiếp điều hành cơ quan này. Bài nói vừa bao quát vừa đi sâu vào từng lĩnh vực, thành công cũng như những vấn đề gặp phải, những con số được nêu ra thẳng thắn, thiết nghĩ có giá trị thực tiễn cho những nhà nghiên cứu về lịch sử kinh tế VNCH ít nhất cho đến năm 1962. Để phục vụ bạn đọc, chúng tôi trích nó ra từ Tập san và đăng kèm dưới đây.

Attachments

· Danh sach hoi vien.odt

· Hien-trang-ky-nghe-VCNH.pdf

· MUCLUC_Khoa hoc ky thuat_Theo-so bao.xlsx

· MUCLUC_Khoa hoc ky thuat_Theo-ten-tacgia.xlsx

Nguồn: https://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/tap-san-khoa-hoc-ky-thuat-1957-1973

Hoặc: https://www.ired.edu.vn/tu-lieu-giao-duc/ha-duong-tuong/tap-san-khoa-hoc-ky-thuat-1957-1973

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Ga xép

 Truyện kịch của Ái Điu

Thời gian: Đêm khuya. Đồng hồ nhà ga kim phút dừng ở số 12. Không có kim giờ.

Nhân vật:

- Người già: tóc bạc, cỡ trên 70 tuổi; mặc bộ đồ cũ nhưng sạch sẽ.

- Người trung niên: da trắng; áo xanh da trời, đeo kính trắng.

- Cô gái trẻ: trang điểm diêm dúa; y phục màu trắng, hở hang, lộ cả ngực, chân.

- Nhân vật phụ: các bóng ma; vừa là diễn viên, vừa là khán giả; cử động như múa hình thể; chập chờn, mờ ảo.

Bộ phim “Sheep in the Box” của Hirokazu Kore-eda

 Lê Hồng Lâm

Bộ phim mới nhất có tên Sheep in the Box của Hirokazu Kore-eda vừa tung ra poster với hình một cậu bé có gương mặt ngây thơ nhưng bàn tay của một robot. Đây là dự án điện ảnh mới nhất của đạo diễn đương đại nổi tiếng nhất của điện ảnh Nhật Bản sau Monster (2023).

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Khi sĩ phu ngoảnh mặt – bi kịch của một dân tộc

 Nguyễn Thanh Huy

Vài chục năm trước, khi đọc giai đoạn văn thơ Trung Đại, thấy nhiều bậc danh gia phải chọn lối sống ẩn dật nơi ruộng vườn hoặc tiêu dao chốn thâm sơn cùng cốc. Hình ảnh đó như một nét đặc trưng trong phong cách sống của người Á Đông, vừa cao đẹp, vừa yếm thế.

Thơ haiku của Miura Chora

 Miura Chora (1729−1780) gặp nhà thơ Buson khi ông này mới hai mươi tuổi. Cả hai đều rất ngưỡng mộ Bashō và phong cách giản dị của ông.

Tính thờ ơ và phóng túng của Chora khiến ông bị một số người ghét bỏ, nhưng ông không quan tâm đến tính thực tế hay những việc trần tục và điều này được phản ánh trong phong cách văn chương của ông.

Thơ haiku của Chora trong sáng và giản dị, nhưng tao nhã. Ông yêu thích văn học cổ điển, đặc biệt là thơ hòa ca, và một sự thấu hiểu mọi thứ thấm đẫm trong thơ ông.

Những bài dưới đây do Bạt Xứ dịch hầu hết từ bản tiếng Anh của William Scott Wilson.

                                                                                                                          - Bạt Xứ

 

                    Tranh Matsubayashi Keigetsu

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2026

“A Châu đã bảo ta giữ đường này cho bộ đội, thì ta giữ đường này cho bộ đội” (“Nhớ” và “quên”, hay là sự tương tác giữa kí ức bản địa và hệ tư tưởng quốc gia)

 Lã Nguyên

1. Giới thuyết vấn đề

Sự tương tác giữa kí ức bản địa và hệ tư tưởng quốc gia là vấn đề vô cùng phức tạp, có phạm vi nghiên cứu rất rộng, cho nên chúng tôi cần giới thuyết một số điểm mấu chốt sau đây:

Thứ nhất, chúng tôi chỉ thảo luận về kí ức bản địa ở bình diện kí ức văn hóa và kí ức văn hóa thì được tiếp cận chủ yếu từ góc độ kí hiệu học.

Kỹ thuật là ngôn ngữ của cảm xúc

 FB Nguyễn Đình Đăng

Truyện ngụ ngôn của Aesop Con cáo và chùm nho kể rằng, một ngày nọ, một con cáo nhìn thấy chùm nho chín mọng tuyệt đẹp treo lủng lẳng trên cành cây. Cáo thèm chùm nho tới mức mõm nó chảy nước dãi. Nhiều lần nó cố nhảy lên để đớp chùm nho nhưng mọi cố gắng của nó đều vô ích. Chùm nho treo quá cao, cáo nhảy kiểu gì cũng không tới. Cáo ngồi ngồi xuống và nhìn những quả nho với vẻ chán ghét. “Mình thật là ngu ngốc,” nó nói. “Mình lại phí công đến thế chỉ để lấy một chùm nho còn xanh và chua chẳng đáng để thèm muốn. Chỉ bọn ngu mới ăn những quả nho này.” Rồi nó bỏ đi với vẻ rất khinh bỉ.

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2026

Thơ có nhà thơ hay nhà thơ có thơ?

 Tiểu luận Ngu Yên

Thơ sẽ vô hình khi không có nhà thơ. Nhà thơ không có thơ cũng sẽ vô hình, chỉ còn bóng.

Có thơ và thơ như thế nào là hai điều mà hầu hết ai làm thơ hoặc yêu thơ đều muốn biết.

Nếu đời và sống cùng con người chỉ là màu đen và xám, thì thơ tự nó phải hóa thân màu sắc và người làm thơ là người biết làm sao cho thơ nở hoa – màu.

Màu gì?

Màu sáng tạo.

Những mới lạ trong “Dấu về gió xóa” của Hồ Anh Thái

 Nghiêm Lương Thành

Tiểu thuyết Dấu về gió xóa của nhà văn Hồ Anh Thái từ khi ra đời đến nay đã nhận được những luồng dư luận sôi nổi. Nhân dịp tiểu thuyết vừa được Nhà xuất bản Trẻ in lại lần thứ ba, đầu năm 2026, xin giới thiệu một bài viết về cuốn tiểu thuyết này.

Tôi đọc thơ (1): Ý Nhi và Paul Éluard

 Bảo Chân

- Bài Thơ tặng của Ý Nhi (1986)

Căn nhà của hai ta như con thuyền giữa sóng
con đường mỗi ngày ta qua như bước trên cát bỏng
gió ào ào thổi hết những đêm thâu

Ta là lũ trẻ thơ chưa biết lo âu
hay là kẻ đã qua nhiều sống chết
mà đến cùng nhau giữa thời khắc nghiệt

Nhánh cây nhỏ em sẽ trồng trên cát
sẽ canh giữ ngọn đèn qua suốt đêm sâu
và cánh cửa căn phòng mỗi ban mai em sẽ mở

Xin anh giữ lòng trắng trong, thơ nhỏ
sự can trường của kẻ đã phong sương
để cùng em đi hết một con đường

“Tư tưởng Phật giáo – Một giới thiệu toàn diện về truyền thống Ấn Độ” – cuốn sách lý tưởng để khám phá triết học Phật giáo

 Dương Thắng

1. Một trong những ý kiến phổ biến về Phật giáo mà chúng ta thường nghe thấy đó là khẳng định rằng việc giác ngộ về Phật giáo không liên quan gì đến lý thuyết, khái niệm, lập luận hay thảo luận… Nhưng chỉ cần tiến hành những khám phá đơn giản về lịch sử và quá trình tiến hóa của Phật giáo là có thể thấy ngay rằng những ý kiến kiểu như vậy là rất không xác đáng và gây mất phương hướng.

Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 2)

 Václav Havel

Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang

Chính trị và lương tâm

"Chính trị và lương tâm" (tháng 2 năm 1984): Trong phần ghi chú Havel viết: “Đây là diễn văn dành cho buổi nói chuyện ở Trường đại học Toulouse, tôi lẽ ra đã phát biểu ở đấy trong buổi lễ nhận bằng Tiến sĩ danh dự, nếu tôi đã được tham dự…”. Dĩ nhiên là Havel không có hộ chiếu và không thể ra nước ngoài được. Trong buổi lễ diễn ra tại Trường đại học Toulouse-Le Mirail vào ngày 14 tháng 5 năm 1984, ông Tom Stoppard, một nhà soạn kịch người Anh, đã đọc thay Vaclav Havel.

Chuyện làng văn: Nhà thơ trẻ bỏ viết...

 Đặng Chương Ngạn

Nhà thơ Phạm Nhật Hồng sinh năm 1946. Năm 1983, khi vừa tròn 37 tuổi, ông được xem là một trong những gương mặt thơ trẻ sung sức của vùng mỏ. Được điều về Hà Nội công tác tại Ban Thi đua Bộ Năng lượng, ông ở trong một căn phòng tập thể chật chội. Ban ngày làm công chức, tối đến, nhà thơ trẻ cày thơ, nuôi quyết tâm: phen này ra thủ đô phải cho “vua biết mặt, chúa biết tên”.

Người phiêu bạt “xé mặt nạ”

Hoàng Minh Tường

Bùi Mai Hạnh (BMH) luôn làm người ta bất ngờ. Cách đây gần hai chục năm, tôi có đọc cuốn sách BMH viết Lê Vân Yêu và Sống, tôi rất bất ngờ. Bất ngờ thứ nhất là về cuộc đời nhiều khốc liệt éo le nhiều dung mạo của Lê Vân, nhưng bất ngờ hơn nữa là về người viết, không những đã thể hiện trung thực mà còn bằng tài năng bút pháp của mình, dẫn dụ hấp dẫn độc giả, làm cuốn sách lan tỏa. Nếu không có BMH thì Lê Vân chỉ là một nghệ sĩ thôi. BMH đã làm cho cuộc đời người nghệ sĩ ấy trở thành một nỗi ám ảnh, mang thân phận của một thời cuộc đầy trăn trở, khó khăn nhất của Việt nam. Và rồi tôi đã quên đi, tôi cứ tưởng BMH, người tôi coi như một cô em cùng quê, sang làm dâu nước Úc, sống cuộc đời bình lặng nuôi con. Và thật là đột ngột, BMH ra một cuốn sách làm tôi choáng ngợp.

Thứ Hai, 2 tháng 2, 2026

Lý Tiểu Long là người kỳ thị, Đại Hán?

 Nguyễn Hoàng Văn

“Võ đạo Nhật Bản là như thế này ư?”

Đang giao đấu tay không với tốc độ vũ bão nhưng, bằng cách nào đó như xiếc, tên mật thám Hắc Long của Nhật lén lút tra bộ móng sắt vào ba ngón tay như chớp khiến chiến sĩ ái quốc Trung Hoa – tôi nhớ là tài tử Huỳnh (Hoàng) Nguyên Thân – bất ngờ ăn đòn. Đưa cánh tay với ba vệt dài rướm máu lên, chiến sĩ ái quốc Trung Hoa liếm lấy vết thương rồi cười gằn, buông lời sỉ nhục cả nền văn hóa Nhật.

Ghi chép của Nguyễn Phương Mai sau gần 4 tháng sống tại Ukraine, Nga và một số nước trong vùng đệm của hai bên chiến tuyến (kỳ 10)

 Nguyễn Phương Mai

Suốt 4 năm qua, người Ukraine đã trụ lại trong một cuộc chiến không cân sức (bài 1, bài 2, bài 3, bài 4, bài 5). Lịch sử trở thành yếu tố quan trọng để trả lời hai câu hỏi: Tại sao họ chưa bỏ cuộc (bài 6, bài 7, bài 8); và tại sao các yếu tố thù ghét Nga cực đoan tồn tại (bài 9).

Tuy nhiên, như mọi xung đột trong lịch sử, một số người Ukraine cũng nghi ngờ tính chính nghĩa của cuộc chiến. Để khách quan, bài viết kỳ này tạo không gian để họ được lên tiếng.

Quyền lực của kẻ không quyền lực (kỳ 1)

 Václav Havel

Bản dịch của Phạm Nguyên Trường & Nhóm Văn Lang

Mục lục

Giới thiệu

Václav Havel: Ước mộng và vỡ mộng................ 009

Petr Pithart

Thế kỷ hai mươi của Havel...................................021

Václav Bělohradský

Václav Havel

Bàn về ngôn từ...................................................... 033

Chính trị và lương tâm........................................ 057

Quyền lực của kẻ không quyền lực.................... 093

Thư gửi ông Husák............................................... 231

Về ý nghĩa của hiến chương 77........................... 285

Phụ lục

Tuyên ngôn Hiến chương 77 .............................. 319

Ghi chú về bản dịch ................................................. 329

 

Václav Havel: Ước mộng và vỡ mộng

Petr Pithart

Václav Havel được khắp nơi trên thế giới biết đến, nhưng có lẽ chỉ như một huyền thoại: “Nhà triết học trên ngai”; “Người tù chỉ một năm thành tổng thống”… Và chắc là những lời có cánh của ông “Sự thật và tình yêu phải chiến thắng dối trá và hận thù” cũng được biết đến.

Đã hơn một năm từ ngày ông mất và 23 năm kể từ “năm tháng kỳ diệu” (1989) và chúng ta biết chắc chắn rằng sự thật và tình yêu hiện chưa chiến thắng, thậm chí không chiến thắng, và chúng ta trở lại với những bài luận lớn của ông. Từ bây giờ tôi sẽ cùng các bạn, những người bạn Việt. Ông đã nghĩ như thế nào về tất cả những điều đó? Thời đó, chúng tôi đã đọc ông như thế nào? Và ngày nay chúng ta đọc ông ra sao? Có giống nhau không? Chúng ta đã rút được kinh nghiệm từ sự vỡ mộng? Mấy chục năm trước, chúng ta đọc những bài luận của ông trước hết như là những bài phê bình chế độ dưới thời bình thường hóa[1] , phê bình mối tương quan trong Tiệp Khắc bị chiếm đóng dưới chính phủ của Gustav Husak. Ngày nay, chúng ta giàu kinh nghiệm hơn trong những việc gì? Có phải ngay từ ngày đó Havel đã không còn niềm tin với nền dân chủ nghị viện? Với ý nghĩa của việc thành lập các đảng phái chính trị? Chúng ta vốn biết, trong các bài viết của ông có những đoạn phê bình như thế. Hôm nay chúng ta sẽ quay về chính những đoạn đó. Và chúng ta tự hỏi, sự hoài nghi của ông ngày đó vốn chỉ là những ám chỉ, phải chăng đã được khẳng định.

Ở đây tôi sẽ không tự đặt những câu hỏi to tát và quá to tát, ví dụ, liệu có phải chủ nghĩa tư bản hiện nay đang trong cơn khủng hoảng, liệu có phải nền văn minh Tây Âu đang không có lối thoát. Chính tôi cũng không biết trả lời những câu này. Những câu hỏi của tôi sẽ thực tế hơn.

Khi Havel viết những bài luận lớn của mình, chắc chắn ông không tính đến việc chủ nghĩa cộng sản, đầy mệt mỏi, thiếu thuyết phục và sáo mòn sẽ sụp đổ một cách nhanh chóng và dễ dàng đến thế, bởi vì cũng như chủ nghĩa cộng sản, người dân Tiệp Khắc cũng mệt mỏi và trơ mòn, và cũng hệt như chủ nghĩa cộng sản, họ cũng chẳng hề chắc chắn cái gì sẽ phải đến tiếp sau chủ nghĩa cộng sản. Quả thật, chúng ta còn không đặt được đúng tên cho mối tương quan mà chúng ta đã sống ở trong đó. Nó đã và vẫn đang được gọi là “chế độ độc tài toàn trị”, thỉnh thoảng còn là “toàn trị”, nhưng những người biết suy xét đều biết rõ, chế độ độc tài toàn trị, sự khủng bố đã có mặt ở đây khoảng những năm 1948 – 1953. Nhất là sau “mùa xuân Praha” và sau khi đất nước bị chiếm đóng vào tháng Tám năm 1968, chẳng một ai, thậm chí cả những người đại diện cho chế độ cũng chẳng hề tin những điều mà chính họ hô hào., nói gì đến việc thuyết phục dân chúng bằng cách khủng bố. Vì thiếu một khái niệm khác xác thực hơn, Václav Havel đã nói về chế độ “hậu toàn trị”.

Ngày nay chúng ta biết, rằng chế độ ấy đã trụ được một thời gian dài như thế cũng là do luôn được thị trường xám[2] , vốn đã qua nhiều chịu đựng, “cải thiện”, “duy trì tiếp nước” . Tôi nghĩ, người dân của tất cả các chế độ suy sụp, tự xưng là xã hội hay cộng sản chủ nghĩa, đều có rất nhiều kinh nghiệm với thị trường này. Một thị trường không được thừa nhận, luôn tìm được những kẽ hở cho mình, nhưng đó là thị trường vô nguyên tắc, không thuế má và không sổ sách chứng từ. Đó là một thị trường hư hỏng, trong bản chất là tham nhũng.

Khi chế độ sụp đổ (và cùng với Havel, tôi đã có mặt trực tiếp ở đó, chúng tôi cùng nhau thương lượng với các đại diện của bên chính quyền đang từ chức), chúng tôi ngạc nhiên bởi nhà cầm quyền rất nhanh chóng rút lui. Điều đó dẫn tôi đến một việc là tháng Giêng năm 1990 tôi đã công khai tuyên bố, rằng năm 1989, chẳng có cuộc cách mạng nào xảy ra, chẳng qua chỉ có mỗi việc chuyển giao quyền lực theo thỏa thuận. Tôi tuyên bố điều đó cũng là vì muốn làm tan bớt những chờ đợi căng thẳng. Nhưng chính trong tuyên bố đó có chứa một liều lượng đáng kể của sự vỡ mộng. Lại có lần Václav Havel đã nói về sự cần thiết phải kết thúc cuộc cách mạng, lần khác lại nói về sự cần thiết của “cuộc cách mạng thứ hai”. Cả hai chúng tôi ngày đó đã sớm bị thất vọng: những mối tương quan cũ đã lại quay trở lại trong bộ áo choàng mới dễ được chấp nhận theo kiểu lối sống tiêu thụ. Dân chủ tuy đã được thực hiện, nhưng sao đó trống rỗng.

Cụ thể việc đã xảy ra là tham nhũng “nhỏ” kiểu xã hội chủ nghĩa đã chuyển thể biến thành tham nhũng lớn tư bản chủ nghĩa. Những người vốn thành thạo trong tham nhũng nhỏ kiểu xã hội chủ nghĩa kia, đã thành công cả trong chuyện tham nhũng lớn tư bản chủ nghĩa nọ – họ có quan hệ, được đặc quyền tiếp cận thông tin, đã là bộ phận của một mạng lưới những mối quan hệ đầy thế lực.

Điều này đã hiển hiện rõ rệt trong vòng chưa đầy 10 năm từ sau tháng Mười một năm 1989, khi hai đảng phái chính trị lớn nhất – một tả và một hữu – đã thỏa thuận với nhau, rằng dù bất cứ đảng nào trong họ sẽ nắm quyền, đảng kia, về mặt hình thức nằm bên phe đối lập, sẽ không bao giờ đòi bỏ phiếu tín nhiệm trong quốc hội, có nghĩa là sẽ đảm bảo việc cầm quyền liên tục (và việc ăn cắp liên tục) cho đến tận kỳ bầu cử kế tiếp, cho dù có xảy ra bất cứ chuyện gì. Họ đã xấc xược gọi sự sắp xếp này “hợp đồng giữa các phe đối lập”, mặc dù thực chất của nó là loại bỏ phe đối lập khỏi các hoạt động chính trị thường ngày. Ngoài kỳ bầu cử (bốn năm một lần) không có điều gì có thể được thay đổi, sửa đổi, đưa vào trật tự. Ngoài các bộ máy của các đảng phái chính trị, tất cả các công dân tích cực không thuộc đảng phái và tất cả các hội đoàn hình thành một cách tự phát (như là các tổ chức vô chính phủ và nhất là tổ chức dân sự) đều bị loại khỏi cuộc chơi. “Kẻ nào không trải qua lò lửa của bầu cử, sẽ không có cách nào khác ngoài im lặng”, người lãnh đạo phe tả – đảng xã hội dân chủ – đã nói như vậy. Đó là sự đục ruỗng toàn diện nền dân chủ nghị viện. Thay vì một đảng có toàn quyền, tuy là hai đảng, nhưng che chắn lẫn cho nhau tội lỗi của những thành viên của mình, và vì thế bị buộc chặt với nhau bằng chính khả năng đảng này làm phương hại đảng kia.

Khi đó cùng với nhiều người khác chúng tôi đã bắt đầu quay trở lại với những câu viết của Havel về sức mạnh của những người dân thường và về sức mạnh của ngôn từ. Trong lần đọc thứ hai, chúng tôi đã đọc ra còn nhiều điều hơn cả vào thời điểm những bài viết đó xuất hiện và được lan truyền dưới dạng samizdat.

Chúng tôi đã được minh chứng, rằng Václav Havel chưa bao giờ bị ảo tưởng về chế độ dân chủ nghị viện kiểu “phương Tây” mà chúng tôi đã cùng ông xây đắp. Nhưng mà chúng tôi vẫn phải thử!

Ngay cả khi, sau 4 năm, vị tân chủ tịch của đảng dân chủ xã hội đã từ chối việc tiếp tục thực hiện “hợp đồng các phe đối lập” trong thực tế, chúng ta vẫn đang sa lầy trong vũng bùn tham nhũng từ những ngày ấy đến tận bây giờ: trong vòng chỉ 4 năm, khi hợp đồng có hiệu lực, đã kịp hình thành những, “hội những người anh em” bền vững (đấy là Havel gọi nó như thế) của các doanh nhân và các chính trị gia, không phụ thuộc vào việc họ đến từ đảng nào trong 2 đảng lớn. Khi đó đã hình thành một cấu trúc hầu như không đáng kể, tuy nhiên cực kỳ có thế lực mà khó lật tẩy vô cùng. Thành viên từ hai phái đảng, thay vì kiểm tra lẫn nhau như các đảng phái chính trị đối lập, họ cùng thủ thế cờ hòa: các anh biết chúng tôi có chuyện, nhưng cả chúng tôi cũng biết chuyện bên anh. Cấu trúc này đã đến tận bây giờ vẫn đang kiểm soát phần quan trọng đặc biệt là đời sống kinh tế trong cả nước. Quyền lợi kinh tế tư nhân thấm qua và ảnh hưởng tới chính trị, ngay cả khi chưa bị đe dọa bởi thế mạnh của các công ty đa quốc gia trong thế giới đang được toàn cầu hóa. Tôi luôn cho rằng, trước khi bắt đầu vật lộn với các vấn đề lớn do quá trình toàn cầu hóa mang lại, chúng ta phải thử đưa các cơ chế kiểm tra dân chủ vào hoạt động. Phải thử mặc dù ý thức được những hạn chế của công việc kiểm tra.

Chống lại chính phủ của những hội đoàn những người anh em, những người muốn thay đổi cả hệ thống bầu cử để hợp đồng của hai đảng nắm quyền sẽ không bao giờ bị điều gì phá ngang kế hoạch của họ, Václav Havel và những người thân cận với ông đã dùng những công cụ sẵn có của nhà nước pháp quyền, đặc biệt là Tòa án Hiến pháp[3]. Điều đó là nhờ Hiến pháp đã ra đời chỉ 2 năm sau khi chính quyền thay đổi, có chứa những nguyên tắc chính là bộ phanh chống lại việc đục ruỗng nền dân chủ bằng những thủ thuật theo kiểu chủ nghĩa bán-mua[4] . Tôi chưa mất lòng tin vào nhà nước pháp quyền, ngay cả khi tôi không nghĩ, rằng chính lòng tin phải bảo vệ được nền dân chủ đến cùng và dựng được một bờ đê không thể thẩm thấu đối lại với sự tham nhũng.

Václav Havel mãi về sau mới coi nhà nước pháp quyền như một lý tưởng và như một cố gắng thực hiện lý tưởng đó. Là Tổng thống, ông dành nhiều quan tâm cho Toà án Hiến pháp, thành viên của tòa án này cả hai lần đã do ông đề cử (sau mười năm) và những đề cử của ông đều rất tốt. Đến tận bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục hưởng lợi từ đội ngũ tòa án đã được ông sắp xếp rất tốt. Tuy nhiên, chẳng bao lâu nữa cả nhiệm kỳ mười năm lần thứ hai của những vị quan tòa cuối cùng do Havel đề cử sẽ kết thúc.

Hoàn toàn có thể nói rằng, Václav Havel càng ngày càng đánh giá cao các tổ chức độc lập, nghĩa là các tổ chức mà các đảng phái chính trị chỉ có thể gây ảnh hưởng một cách gián tiếp (ví dụ chính Tòa án Hiến pháp, mà thành viên của họ do Tổng thống đề cử và Thượng Nghị viện phê duyệt, chỉ chịu một phần ảnh hưởng của Thượng Nghị viện. Nhưng cả như Hội đồng Ngân hàng, Viện kiểm sát tối cao, Người bảo vệ quyền lợi cho công chúng[5] và các tổ chức khác, xuất thân từ các cơ quan được bầu ra, nhưng những quyết định của họ không phụ thuộc vào những cơ quan đó). Điều đó có nghĩa là, Havel không phủ nhận tính đa nguyên chính trị dưới hình thức các đảng phái chính trị, ông chỉ làm rõ hơn cho chính mình quan niệm về ý nghĩa, về các khả năng của các đảng phái chính trị.

Và chúng ta hãy đừng quên rằng mãi sau năm 1989, Václav Havel mới phát triển quan niệm của mình về ý nghĩa cơ bản của một xã hội dân sự được phát triển nhất một cách có thể. Thiếu nó, các đảng phái chính trị sẽ khô cằn, chết mòn và thoái hóa.

Ngay cả quãng cuối đời, thái độ nghi ngờ của Havel đối với nền dân chủ nghị viện không phải là tuyệt đối. Các đảng phái chính trị, bị kẹp trong nhà nước pháp quyền (“rule of law”[6]  và được nuôi sống bởi lớp mô dày đặc là các tổ chức dân sự, trước hết có ý nghĩa như là một cơ chế kiểm soát. Ngày nay câu hỏi sẽ là, liệu những khiếm khuyết hiển nhiên của chế độ này có thật nghiêm trọng đến mức đã đến lúc phải tìm và tìm cho ra một chế độ nào đó khác, có hiệu lực hơn và công bằng hơn. Trong bài viết thứ hai, Vaclav Belohradsky, người giới thiệu cho tuyển tập này, có suy nghĩ như vậy. Tôi vẫn luôn luôn tin vào hiệu lực của những qui tắc được đưa ra một cách thấu đáo, và những tổ chức được xây đắp một cách đáng tin cậy.

Tôi nghĩ, sau năm 1989, thái độ nghi ngờ của Havel đối với cơ chế truyền thống của nền dân chủ nghị viện, có sâu sắc hơn trong một số tác phẩm, tuy nhiên trong tác phẩm khác ông chững lại: ông hiểu ra, mặc dù nền dân chủ nghị viện là cách quản lý rất không hoàn thiện, nhưng bởi vì, cả về sau này, cần phải tính đến rằng, xã hội toàn những con người cũng rất không hoàn thiện, vì thế ít ra nền dân chủ không hoàn thiện này và những con người không hoàn thiện kia, vẫn có thể sống cùng nhau một thời gian nữa. Và ít nhất là ngăn chặn được điều xấu nhất.

Tôi những muốn nói, rằng thái độ nghi ngờ thận trọng và đồng thời mối hy vọng còn sót lại, có lẽ có thể thể hiện trong mệnh thức sau: làm sao cho mai này không phải vì thật nhiều hạnh phúc cho thật nhiều người, mà phải làm sao cho mức độ bất công và đau khổ là nhỏ nhất. Tôi nghĩ, với tất cả thái độ phê phán đối với nền văn minh hiện đại, Havel ngày nay sẽ ký tên dưới câu này.

Cuối cùng tôi muốn nói, rằng sự quan tâm của các bạn với Václav Havel của chúng tôi là niềm hân hạnh và sự động viên lớn đối với tôi.

* Về tác giả:

Petr Pithart (2.1.1941) gia nhập Đảng Cộng sản Tiệp Khắc từ năm 1960 và tự xin ra khỏi đảng vào năm 1968. Ông ký Hiến chương 77 ngay từ đợt đầu và tham gia phát hành tư liệu cấm dưới thời cộng sản (samizdat). Năm 1989 ông tham gia hoạt động và là thành viên ban điều hành Diễn đàn Công dân. Sau thông báo ứng cử chức Tổng thống của Václav Havel, tức là vào giữa tháng mười hai năm 1989, Petr Pithart đã thay thế Havel trong việc điều hành Diễn đàn Công dân. Sau đó ông làm Thủ tướng trong hai năm rưỡi (còn trong thời kỳ liên bang Tiệp Khắc) và sau nữa, ông là chủ tịch Thượng Nghị viện trong Quốc hội Cộng hòa Séc. Từ tháng mười năm 2012 ông rời bỏ chính trường và hiện đang giảng dạy tại khoa Luật trường ĐH Tổng hợp Charles Praha.

Bài được viết riêng cho tập tiểu luận Quyền lực của kẻ không quyền lực trong lần dịch và giới thiệu sang tiếng Việt bởi nhà xuất bản Giấy Vụn.

Nhóm Văn Lang dịch từ bản gốc tiếng Sec.

***

Thế kỷ hai mươi của Havel

Václav Bělohradský

Điều mà chúng ta vẫn gọi là “lịch sử phương Tây” là một cuộc xung đột không ngừng giữa những bậc tiên tri và những người chức sắc thực hiện sứ mệnh của các bậc tiên tri, giữa các ý tưởng và các bộ máy thi hành ý tưởng ấy. Chúng ta đã tạo ra các cơ cấu để có thể biến những mục tiêu của cuộc sống thành hiện thực một cách hợp lý, không phụ thuộc vào sở thích của mọi cá nhân. Tuy nhiên những cơ cấu một khi đã được tạo ra luôn tìm cách thay thế nhiều những mục tiêu khác nhau của cuộc sống bằng một mục tiêu duy nhất – sự tự tái sinh. Các cơ cấu này được thần thánh hóa, trong những cẩm nang chính thức chúng giới hạn một cách diễn giải trung thành với lý tưởng chống lại cách diễn giải dị giáo, chúng tổ chức các cuộc thẩm tra và các hội đồng chuyên môn; cơ cấu tự nó còn có ngôn ngữ riêng của mình mà Havel đặt tên la ptydepe. Những câu chữ được viết bằng thứ ngôn ngữ của cơ cấu này được công bố như “những sự thật khách quan” và được công an ngôn ngữ bảo vệ. Cả thế kỷ hai mươi là thế kỷ đậm màu sắc Kafka, bởi vì chính những cơ cấu mà chúng ta đã tạo ra nhằm giải phóng ý tưởng khỏi sự phụ thuộc vào định mệnh không thể lường trước của những người đã phát hiện và phát minh chúng cũng như khỏi sự phụ thuộc vào ý chí của họ, đã nuốt chửng các thế giới trong cuộc sống của chúng ta. Những gì còn lại chỉ là những thế giới riêng tư được trang bị đầy đủ để chúng ta trốn vào đó trước sự trống rỗng của thế giới chung. Càng ngày những thế giới riêng tư này càng giống những cabin mô phỏng, như khi chúng ta học lái ô tô: chúng ta chẳng đi tới đâu, chỉ có những cảnh quang ảo chạy trước màn hình và chúng ta xử lý các tình huống ảo.

Tất cả các cơ cấu đều có một điểm chung: chúng trấn áp câu hỏi về ý nghĩa như là một vấn đề mang tính phá hoại, bởi vì nó làm cản trở việc tự tái sinh của cơ cấu. Trong thời đại tự vận động câu hỏi về ý nghĩa lại trở về với cuộc sống của chúng ta như một ý chí được sống trong sự thật. “Sự thật” ở đây có nghĩa là “sống phù hợp với những kinh nghiệm của chính mình”, không hợp tác với sự giả dối đang chiếm lĩnh không gian công cộng – từ việc quảng cáo, đến các khẩu hiệu do các dịch vụ truyền thông và ngành công nghiệp giải trí, các bộ máy đảng phái hay do văn hóa nguồn vốn tư nhân tài trợ đặt ra.

Nhà bất đồng chính kiến chứ không phải là người chống cộng

Václav Havel – nhà bất đồng chính kiến đã không thấy trong nền dân chủ phương Tây một lối thoát nào sâu sắc hơn. Ông khẳng định rằng nó chỉ che đậy khéo léo hơn trước con người tình trạng khủng hoảng và do đó còn nhấn con người chìm trong đó sâu hơn. Và cuối cùng, chẳng phải sự ảm đạm và trống rỗng của cuộc sống trong hệ thống hậu toàn trị là bức biếm họa sắc nét của cuộc sống hiện đại nói chung và chẳng phải chúng ta…, trên thực tế, chính là lời cảnh báo cho phương Tây vạch ra xu hướng phát triển tiềm ẩn của chính phương Tây?– Ông đã viết như vậy.

Chúng tôi đã phải quay lại câu này mỗi khi thảo luận về vai trò của các nhà bất đồng chính kiến trong khối cộng sản nhân bản dịch quyển Sức mạnh của thường dân ra tiếng Ý (có lẽ là bản dịch đầu tiên ở Châu Âu). Chúng tôi không thấy họ “chỉ” là những kẻ chống cộng mà là nhóm những người cùng chí hướng chống lại một kẻ thù chung, chống lại sự tự vận động của những cơ cấu mang tính toàn cầu và những mật mã không thể phá được của những cơ cấu ấy. Quá trình toàn cầu hoá bắt đầu, các nghị viện đã biến thành chốn hậu trường, quyền lực chuyển dần đi khỏi những trung tâm có thể quan sát được của nó; những cơ cấu cấp vệ tinh và bộ máy cảnh sát kỹ thuật quan liêu của chúng đã thao túng được một hệ thống mà chúng ta gọi là dân chủ chỉ vì theo quán tính. Những thế lực không khoan nhượng với quá khứ đã nắm toàn bộ quyền lực. Chiến tranh lạnh giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã chỉ là một trong những hình thức của quá trình, trong đó chủ nghĩa tư bản toàn cầu đã thắng chủ nghĩa tư bản dân chủ.

Chúng ta đã gọi sự ảm đạm và trống rỗng của hệ thống hậu toàn trị bằng từ bình thường hoá chúng ta hãy đặt tên cho xu hướng phát triển tiềm ẩn của phương Tây, mà trong mắt của Václav Havel, bình thường hóa là lời cảnh báo cho xu hướng phát triển ấy, bằng thuật ngữ bình thường hoá cấp vệ tinh. Đó là tình trạng, khi quyền tự do của cá nhân không là gì khác ngoài một hệ thống các lối thoát hiểm dẫn về những thế giới của riêng tư vô cùng đa dạng; và trong đó quyền lực không cần phải tỏ rõ sự chính danh của mình trước những người đi tìm ý nghĩa của việc họ đang làm.

Cùng với Vaclav Havel, tôi nghĩ, chúng ta đã mai táng cả niềm hy vọng rằng bất đồng chính kiến – cuộc tranh luận trong không gian công cộng về ý nghĩa – sẽ đánh thức xã hội dân chủ bước vào một cuộc sống mới, rằng bất đồng chính kiến sẽ là một sức mạnh mới tạo nên lịch sử.

Hậu dân chủ theo kiểu Havel

Hậu quả nghiêm trọng của toàn cầu hóa là cuộc đấu tranh cho ý nghĩa đã không còn là động lực chính danh cho các quyết định chính trị. Câu hỏi về tính chính danh bị coi nhẹ dần trong xã hội, chỉ quyền lực là có thực – nó lập nên những quan hệ mới, nó len lỏi vào thế giới và làm thay đổi thế giới mà không cần chúng ta đồng ý; chính trị không còn hướng tới ý nghĩa của quyền lực mà chỉ hướng tới hiệu quả kỹ thuật của quyền lực. Nó đi tìm những vùng đất mới để tự tái sinh, nó xâm thực những lãnh địa mới của cuộc sống, nó trở thành “quyền lực sinh học”. Niềm tin của Havel rằng “khi có sự tranh giành quyền lực một cách công khai và do đó có cả sự kiểm soát quyền lực một cách công khai, một cách tự nhiên sẽ tồn tại cả sự kiểm soát một cách công khai việc quyền lực đã tự chính danh hóa như thế nào về mặt ý thức hệ” đã không còn đúng nữa. Nó đã được chứng minh qua những thất bại của các cuộc chống đối ở Châu Âu và Mỹ chống lại nền chính trị của nhóm thiểu số toàn cầu dưới khẩu hiệu – “chúng ta là 99%”. Nhưng “một phần trăm” đã thắng một cách thật dễ dàng.

“Gặp gỡ với ý nghĩa” trong mọi hình thức, là sự gặp mặt với những người mà trong cuộc sống của mình, họ đại diện cho một thế giới hợp nhất, một tổng thể mà cho đến bây giờ chúng ta luôn chỉ ghi nhận như đã bị xé nhỏ ra thành những thế giới riêng tư, bị bao kín bằng lớp rào kẽm gai và trên cơ sở của cái quyền “người lạ miễn vào”. Đối với chúng ta, thế giới hợp nhất chưa bao giờ là một vật thể có thể mô tả một cách khách quan. Nó chỉ lóe (lên) sáng trong giao tiếp giữa các thực thể sống trên trái đất, luôn gắn liền với sự đồng cảm, với sự xê chuyển của cái ranh giới giữa điều chúng ta có thể nói ra và điều chúng ta có thể thấu hiểu. Bình thường hóa cấp vệ tinh là hệ thống trong đó vấn đề về ý nghĩa không còn được nhắc đến ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào. Ở mọi nơi nó luôn luôn là thiếu phù hợp, cái tổng thể của thế giới bị thất lạc trong ma trận đặc biệt của ngôn ngữ ptydepe.

Khái niệm hậu dân chủ ngày nay được gán cho Colin Crouch, nhà chính trị học người Anh. Theo quan niệm của ông, đó là hệ thống trong đó diện mạo của tổng thể xã hội được thay thế bằng các cuộc vận động hành lang (lobby) và các tập đoàn xuyên quốc gia đảm nhiệm vai trò của nhà nước trong hệ thống. Trong “Sức mạnh của thường dân” Havel đã phát triển một khái niệm khác của “hậu dân chủ”: đó là hệ thống trong đó cuộc đấu tranh cho ý nghĩa sẽ trở lại cuộc chơi, nền dân chủ được giải phóng khỏi những cơ cấu chỉ tập trung vào kỹ thuật nắm quyền, “các cơ cấu được gắn chặt với nhau bởi có chung những chia sẻ về sự có nghĩa của các cộng đồng, chứ không phải do cùng chung những tham vọng bành trướng”, sẽ có được một trọng lượng mới trong hệ thống. Hậu dân chủ chính là cái thế giới đa nguyên của những polis song hành được tạo nên nhờ tự tổ chức lại từ dưới lên bằng sức mạnh có được nhờ chung kinh nghiệm của ý nghĩa. Ý nghĩa là Robin Hood, bị đuổi khỏi lâu đài, chiến đấu trong rừng.

Nhưng cái hậu dân chủ của Crouch chứ không phải của Havel đã đến. Nó sẽ ở lại với chúng ta vĩnh viễn chăng?

Sự cám dỗ của người trí thức

Gạt bỏ câu hỏi về ý nghĩa ra khỏi không gian công cộng có một hệ quả nghiêm trọng cho những người trí thức, tôi gọi nó là sự cám dỗ của việc thần tượng hóa các cơ cấu.

Giữa những mục tiêu của cuộc sống và mục tiêu của các cơ cấu, giữa tính chính danh và tính hợp pháp, giữa lý tưởng và các tổ chức, giữa trật tự đạo đức vĩnh cửu và những xếp đặt quyền lực tạm thời của thế giới bao giờ cũng có khoảng trống, đôi khi còn là vực thẳm. Hai thái cực này không thể gom lại làm một – sẽ không bao giờ tồn tại một sự hợp pháp hoàn toàn chính danh, sẽ không bao giờ tồn tại một đảng phái là hoá thân của tư tưởng mà nó đặt làm nền tảng. Mối quan hệ bất an và đầy chống đối giữa hai thái cực này phải được chúng ta ra sức bảo vệ như một điều kiện lịch sử không thể bị xóa bỏ của dân chủ.

Ngay cả Václav Havel, người mạnh mẽ bảo vệ mối quan hệ bất an giữa tính chính danh và tính hợp pháp trong thế kỷ hai mươi, cũng đã sa ngã trước cái cám dỗ của việc thần tượng hóa các cơ cấu, khi ông tuyên bố bộ máy quân sự của Mỹ và NATO là một cơ cấu hành xử “nhân danh quyền con người”. Trong vai trò tổng thống, ông đã từ bỏ niềm tin của nhà bất đồng chính kiến, rằng những khái niệm như quyền con người hay trật tư đạo đức luôn luôn là phi chính trị – chúng mang vào chính trị nguyên tắc “thuộc pham trù vĩnh cửu” và do đó không thể gắn nó vào các cơ cấu mang tính tạm thời.

Phi chính trị là sức mạnh quyết định trong một số hoàn cảnh lịch sử nhất định, nhưng không bao giờ phi chính trị có thể mong muốn để trở thành chính trị. Hóa thân phi chính trị vào một cơ cấu chính trị nào đó là sự cám dỗ của tất cả các “nhà trí thức”. Một cám dỗ cũ kỹ, một bi kịch cũ kỹ. Hóa thân các nguyên tắc thuộc phạm trù vĩnh cửu – sự thật và tình yêu chẳng hạn – vảo cơ cấu như NATO hay quyền lực quân sự Mỹ đã biến một nhà bất đồng chính kiến lớn của Trung Âu thành “kẻ trợ giúp” (từ của Rumsfeld!) cho một cường quốc đã tiến hành chiến tranh trong sự lừa dối, mà những kẻ thực hiện cuộc chiến ấy đã xây Guantanamo và áp dụng nhục hình tra tấn tù binh hòng “khai thác thông tin”. Sự cám dỗ của việc thần tượng hóa các cơ cấu là hậu quả của hội chứng Trung Âu do sự vô tâm của các cường quốc gây nên và sau đó là mong muốn thống nhất chính trị với lương tâm, thống nhất quyền lực với đạo đức nhân danh một thế giới an toàn hơn. Đó là những nghịch lý! – như đã nói trong vở kịch Audience của Havel.

Nhưng đã có bao nhiêu những trí thức lớn trong thế kỉ hai mươi đã tin rằng ̣đảng cộng sản thực sự muốn đem lại sự thật và tình yêu vào trong lịch sử? Và ai trong chúng ta có thể nói là đã không sa ngã dù trong khoảnh khắc trước sự hấp dẫn của các cơ cấu khác và đã không từng tin rằng sự thật và tình yêu có thể tìm được chỗ thường trú trong một số các cơ cấu đó?

Không, sự thật và tình yêu bao giờ cũng đứng đối mặt với các cơ cấu, không điều khiển chúng, mà chỉ chống lại chúng. Đôi khi cũng rất hiệu quả như đã được chứng minh trong trường hợp của nhà bất đồng chính kiến Václav Havel.  

Về tác giả

Václav Belohradský (17. 1. 1944 – Praha) là nhà triết học và xã hội học tầm cỡ đương thời của Cộng hòa Séc và được coi là người kế tiếp triết gia Jan Potocka. Từ năm 1970 ông sống ở Ý, sau năm 1989 ông làm việc cả ở CH Séc. Ông được coi là nhà tư tưởng hậu hiện đại. Ông là giáo sư khoa chính trị xã hội học ĐH tổng hợp Terst – Ý, giáo sư khoa xã hội Đại học Charles Praha – Cộng hòa Séc. Các tác phẩm của ông được xuất bản tại Ý, Séc, Anh, Mỹ và Canada.

Bài được viết riêng cho tập tiểu luận Quyền lực của kẻ không quyền lực trong lần dịch và giới thiệu sang tiếng Việt bởi nhà xuất bản Giấy Vụn.\

Nhóm Văn Lang dịch từ bản gốc tiếng Sec.

***

Bàn về ngôn từ

Năm 1989, Havel được Hiệp hội những người phát hành sách ở Đức trao tặng Giải thưởng Hòa Bình. Giải thưởng được trao khiếm diện tại Hội chợ sách ở Frankfurt vào ngày 15 tháng 10 năm 1989. Đây là bài diễn văn do Maximilian Schell[7] đọc thay cho Havel vì ông không thể có mặt tại buổi trao giải.

Thưa các bạn,

Giải thưởng mà tôi vinh dự nhận ngày hôm nay được gọi là Giải thưởng Hòa bình do những người phát hành sách – nói cách khác, là những người phổ biến ngôn từ – trao tặng. Có lẽ điều đó cho phép tôi hôm nay được nói vài suy nghĩ về mối liên hệ thần bí giữa ngôn ngữ và hòa bình, cũng như sức mạnh huyền bí của ngôn từ trong lịch sử nhân loại nói chung.

Khởi thủy là Lời, trang đầu tiên của một trong những cuốn sách quan trọng nhất mà chúng ta biết nói như thế. Cuốn sách này nói rằng Lời của Chúa là cội nguồn của mọi sự sáng tạo ở trên đời. Nhưng chẳng lẽ điều đó lại không đúng, theo nghĩa bóng, cho mọi hành động của con người? Phải chăng ngôn từ, nguồn gốc cội rễ của chúng ta ngày nay, chính là bản chất của thực thể vũ trụ mà chúng ta gọi là con người? Tinh thần, tâm hồn con người, sự tự nhận thức của chúng ta, khả năng khái quát hóa và tư duy bằng khái niệm, khả năng nhận thức thế giới như một tổng thể (chứ không chỉ như địa phương nơi ta sống), và cuối cùng, khả năng nhận biết rằng chúng ta sẽ chết và tuy biết như thế nhưng vẫn sống: chẳng lẽ tất cả những điều này không phải cũng được dàn xếp hay trực tiếp sáng tạo bởi ngôn từ?

Nếu Lời của Chúa là nguồn gốc của mọi sáng tạo của Chúa, thì một phần sự sáng tạo của Chúa, tức là giống người, tồn tại như nó đang là hiện nay, là nhờ một phép màu khác của Chúa – đấy là phép màu của ngôn từ của con người. Và nếu phép màu này là chìa khóa để hiểu lịch sử của loài người thì nó cũng là chìa khóa để hiểu lịch sử của xã hội, thậm chí có thể nó là chìa khóa để hiểu lịch sử của loài người chính bởi nó là chìa khóa để hiểu lịch sử của xã hội: vì nếu ngôn từ không phải là phương tiện giao thiệp giữa hai hay nhiều cái “Tôi” thì có lẽ ngôn từ sẽ không tồn tại.

Thật ra bằng cách nào đó chúng ta vẫn luôn biết hoặc ít nhất là linh cảm thấy tất cả những điều này; cảm giác về ý nghĩa và trọng lượng đặc biệt của ngôn từ rõ ràng đã tồn tại trong ý thức của con người từ xa xưa.

Không chỉ như vậy: nhờ phép màu của ngôn từ mà chúng ta biết, có lẽ tốt hơn các động vật khác, rằng chúng ta thật ra biết rất ít, nói cách khác, chúng ta nhận thức được sự tồn tại của huyền bí. Trực diện với điều huyền bí – và đồng thời nhận thức được sức mạnh mang tính tạo dựng của ngôn từ đối với chúng ta – chúng ta không ngừng tìm cách khám phá những điều được huyền bí che dấu và dùng ngôn từ để gây ảnh hưởng đối với chúng. Là những người có đạo, chúng ta cầu Chúa; là những nhà phù thủy, chúng ta tập trung hay xua đuổi các hồn ma, chúng ta dùng ngôn từ để can thiệp vào việc của tự nhiên và việc của con người. Là những người của nền văn minh hiện đại – dù có đạo hay không – chúng ta sử dụng ngôn từ để xây dựng các lí thuyết khoa học và ý thức hệ chính trị, dùng chúng để đương đầu với dòng chảy bí ẩn của lịch sử – có lúc thành công, có lúc không, hay chuyển hướng dòng chảy đó – có lúc thành công, có lúc không. Nói cách khác, dù nhận thức được hay không, và dù giải thích nó như thế nào, thì cũng rõ ràng là: chúng ta luôn luôn tin – một cách chính đáng, theo một nghĩa nào đó – vào sức mạnh của ngôn từ trong việc thay đổi lịch sử.

Vì sao tôi lại nói là “chính đáng”?

Ngôn ngữ của con người có thực sự đủ sức mạnh để có thể thay đổi thế giới và ảnh hưởng tới lịch sử? Và nếu khi nào đó ngôn từ đã từng có sức mạnh như thế thì ngày nay liệu nó còn có tác dụng như vậy hay không?

Các bạn sống trong một đất nước có nhiều tự do ngôn luận. Ai cũng có thể sử dụng quyền tự do đó cho bất kì mục đích gì, việc ấy chẳng làm người khác phải để ý, nói gì đến phải tìm hiểu. Vì vậy các bạn có thể có cảm tưởng là tôi đánh giá quá cao tầm quan trọng của ngôn từ đơn giản vì tôi sống trong một đất nước nơi ngôn từ vẫn còn có thể đưa người ta vào tù. 

Vâng, tôi sống trong một đất nước nơi mà uy quyền và ảnh hưởng mang tính phóng xạ của ngôn từ được chứng thực bằng những vụ cấm đoán tự do ngôn luận diễn ra hàng ngày. Cách đây không lâu, cả thế giới vừa kỉ niệm hai trăm năm cuộc Cách mạng Pháp[8], nó làm chúng ta phải nhớ tới bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền[9] nối tiếng, trong đó có tuyên bố rằng mọi công dân đều có quyền sở hữu máy in. Trong những ngày này, nghĩa là đúng hai trăm năm sau ngày ra đời của bản tuyên ngôn nói trên, bạn tôi, ông František Stárek[10], bị án tù hai năm rưỡi vì đã cho ra một tờ tạp chí văn hóa độc lập tên gọi là “Cửa sổ”– không hẳn trên một cái máy in tư nhân mà bằng một cái máy sao chép cọc cạch cổ lỗ sĩ. Trước đó không lâu, một người bạn khác của tôi, ông Ivan Jirous[11], đã bị kết án mười sáu tháng tù giam vì đã tố cáo trên một bản đánh máy chữ điều mà ai cũng biết: ở đất nước chúng tôi có nhiều án tử hình vô lí và cả ngày nay vẫn có người bị bỏ tù oan và bạo hành đến chết. Một người bạn nữa của tôi, ông Petr Cibulka[12], bị bỏ tù vì lưu hành những tác phẩm xuất bản chui và những băng ghi âm các ca sĩ và ban nhạc ngoài luồng. Vâng, tất cả đều là sự thật. Tôi thực sự sống trong một đất nước mà đại hội các nhà văn hay những bài phát biểu tại đại hội[13] có thể làm rung chuyển cả hệ thống. Các bạn có thể tưởng tượng được một cái gì tương tự như thế ở Cộng hòa Liên bang Đức hay không? Vâng, tôi sống ở một đất nước mà hai mươi mốt năm trước đã từng bị bài viết của người bạn tôi tên là Ludvík Vaculík làm cho rung động. Và dường như để khẳng định kết luận của tôi về sức mạnh của ngôn từ, ông đã đặt tên cho bài viết của mình là “Hai ngàn từ”[14]. Cùng với những sự kiện khác, bài viết này là một trong những lí do cho việc quân đội năm nước xâm chiếm đất nước tôi chỉ trong có một đêm[15]. Và hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà vào giây phút khi tôi viết những dòng này, chế độ hiện tại ở đất nước chúng tôi đang bị rung động bởi một trang giấy với tựa đề “Một vài câu”[16], dường như đấy cũng là hình ảnh minh họa cho điều tôi đang nói. Vâng, tôi thực sự đang sống trong một hệ thống mà ngôn từ có khả năng làm rung chuyển toàn bộ bộ máy cầm quyền, nơi ngôn từ có thể mạnh hơn cả chục sư đoàn, nơi những câu chữ nói lên sự thật của Solzhenitsyn[17] được coi là nguy hiểm đến nỗi tác giả của chúng bị đẩy lên máy bay và đưa ra ngoại quốc. Vâng, nơi tôi đang sống, từ “Đoàn kết”[18] có khả năng làm rung chuyển cả khối quyền lực.

Tất cả những điều đó đều là sự thật. Tất cả đã được viết đến nhiều lần, và người tiền nhiệm quý báu của tôi, ông Lev Kopelev[19], cũng đã nói về chuyện đó chính tại vị trí này.

Nhưng vấn đề tôi quan tâm có hơi khác một chút. Tôi không định chỉ nói về vai trò cực kì quan trọng của ngôn từ trong chế độ toàn trị. Tôi cũng không định minh họa sức mạnh bí ẩn của ngôn từ bằng cách chỉ ra những quốc gia, nơi một vài từ có thể có giá trị hơn là cả đoàn tàu chở thuốc nổ ở đâu đó.

Tôi muốn nói một cách tổng quát hơn và xem xét những khía cạnh rộng hơn và gây ra nhiều tranh cãi hơn của đề tài này.

Chúng ta sống trong thế giới, nơi có thể xảy ra việc một người công dân Anh quốc trở thành mục tiêu được nhắm đến bởi một mũi tên độc – hoàn toàn công khai và không hề ngượng ngùng – từ một cá nhân đầy quyền lực trong một nước khác chỉ vì anh ta đã viết một cuốn sách nhất định nào đó[20]. Kẻ đầy quyền lực kia nghe nói đã làm như thế nhân danh hàng triệu đồng bào của hắn ta. Nhưng không chỉ như vậy, có khả năng là trong thế giới này, một số trong hàng triệu người đó, hi vọng rằng đấy chỉ là số ít, sẽ đồng tình với bản án tử hình nọ. 

Đó là cái gì? Điều đó có nghĩa là gì? Đấy có phải chỉ là một làn sóng của chủ nghĩa cuồng tín, đang sống dậy dị thường trong thời đại của những hội nghị Helsinki[21], và được hồi sinh kì lạ do những hậu quả tiêu cực của sự mở rộng mang tính tàn phá của nền văn minh châu Âu sang những khu vực vốn không thiết tới việc nhập khẩu nền văn minh ngoại quốc, và do việc nhập khẩu mâu thuẫn đó mà lâm cảnh nợ nần không thể nào trả nổi?

Chắc chắn là có tất cả những chuyện đó.

Nhưng còn cái gì hơn thế nữa: Đó là biểu tượng.

Biểu tượng của sự đa nghĩa đầy bí ẩn mà sức mạnh của ngôn từ có được.

Đúng vậy, sức mạnh của ngôn từ là không rõ ràng và không dứt khoát. Đấy không chỉ đơn thuần là sức mạnh giải phóng trong ngôn từ của Walesa[22] hay sức mạnh mang tính cảnh báo của Sakharov[23]. Nó cũng không chỉ là sức mạnh của tác phẩm rõ ràng là đã bị hiểu sai của Rushdie[24].

Vì bên cạnh ngôn từ của Rushdie, chúng ta còn có ngôn từ của Khomeini[25]. Bên cạnh những ngôn từ làm cho xã hội phấn khích bằng tính chân thực và quyền tự do, chúng ta còn có ngôn từ mê mị lòng người, ngôn từ lừa dối, khích động, gây phẫn nộ, đánh lạc hướng, nham hiểm, thậm chí gây ra chết chóc. Ngôn từ như một mũi tên.

Tôi nghĩ là không cần phải giải thích dài dòng cho các bạn về ma lực của một số ngôn từ, bởi các bạn đã trực tiếp trải nghiệm cách đây không lâu những thảm họa lịch sử kinh hoàng khôn tả đến thế nào có thể xảy ra dưới hoàn cảnh xã hội và chính trị nhất định, từ những lời lẽ mê hoặc, đồng thời hoàn toàn điên rồ, của một nhân vật tỉnh lẻ trung bình[26]. Mặc dù tôi không hiểu bằng cách nào kẻ đó có thể làm cho nhiều người trong số cha mẹ các bạn bị mê hoặc, nhưng đồng thời tôi cũng nhận thức được rằng nó phải là một cái gì đó hết sức thuyết phục và vô cùng xảo quyệt thì mới có thể huyễn hoặc được, dù chỉ trong phút chốc, một thiên tài vĩ đại – người đã đưa ra ý nghĩa hiện đại và sâu sắc của những từ như "Sein", "DaSein", và "Existenz"[27].

Tôi muốn nói: ngôn từ là hiện tượng bí ẩn, mơ hồ, nước đôi và xảo trá. Ngôn từ có thể là luồng ánh sáng trong vương quốc của bóng tối, như Belinsky[28] từng mô tả vở kịch Bão tố của Ostrovsky[29], nhưng cũng có thể là mũi tên giết người. Tệ nhất là chúng có thể lúc là cái này và lúc lại là cái kia, thậm chí chúng có thể là cả hai cùng một lúc!

Ngôn từ của Lenin thật ra như thế nào? Giải phóng hay ngược lại, lừa dối, nguy hiểm và sau cùng là nô dịch? Điều đó cho đến nay vẫn tạo ra những tranh cãi nảy lửa giữa những người quan tâm đến lịch sử của chủ nghĩa cộng sản và có lẽ họ sẽ còn tranh luận trong thời gian dài nữa. Điều chủ yếu cá nhân tôi nhận thấy ở những lời lẽ đó là chúng luôn đầy giận dữ. 

Còn ngôn ngữ của Marx thì sao? Liệu chúng có chiếu rọi ánh sáng vào cả một mặt bằng bị che giấu của cơ chế xã hội hay chúng chỉ là phôi thai của những Gulag[30] khủng khiếp sau này? Tôi không biết: có nhiều khả năng chúng đồng thời là cả hai.

Và ngôn từ của Freud[31]? Liệu chúng có mở ra vũ trụ bí ẩn của tâm hồn con người hay chúng chỉ là nguồn gốc của ảo tưởng rằng có thể loại bỏ những đau khổ và sai lầm của con người bằng cách tạm gác gánh nặng ấy vào lời giải thích của một chuyên gia được trả lương cao, một ảo tưởng mà nay đang làm mê hoặc cả một nửa nước Mĩ?

Nhưng tôi thậm chí còn đi xa hơn và hỏi một câu còn có tính khiêu khích hơn: Bản chất thật sự của những lời nói của Chúa Giêsu là gì? Chúng có phải là khởi đầu của kỉ nguyên cứu rỗi và là một trong số những xung lực văn hóa mạnh mẽ nhất trong lịch sử thế giới hay chúng là cội nguồn tinh thần của những cuộc Thập tự chinh, Tòa dị giáo, sự hủy diệt nền văn hóa của người da đỏ Mĩ, và sau đó là sự bành trướng đầy mâu thuẫn của giống da trắng, cái đã mang đến biết bao thảm kịch kể cả việc dẫn đến hậu quả là ngày nay đa phần nhân loại bị đẩy xuống hàng khốn khổ dưới tên gọi là “Thế giới thứ ba”? Tôi vẫn có xu hướng nghĩ rằng lời của Ngài là cái thứ nhất, nhưng đồng thời, tôi không thể bỏ qua hàng núi sách vở chứng tỏ rằng ngay trong dạng ban đầu tinh khiết nhất, một điều nào đó vô tình đã được mã khóa vào Thiên chúa giáo và với sự kết hợp của hàng ngàn hoàn cảnh khác, trong đó có bản chất tương đối cố định của con người, có thể tạo ra không gian tinh thần cho cả những thảm họa mà tôi vừa nhắc.

Ngôn từ cũng có lịch sử của nó.

Thí dụ, có thời kì mà đối với cả mấy thế hệ những người bị chà đạp và áp bức, từ “chủ nghĩa xã hội” có sức hút đồng nghĩa với một thế giới công bằng, có thời kì mà vì những lí tưởng được thể hiện trong mấy từ đó, người ta sẵn sàng hi sinh những năm tháng thậm chí chính cuộc đời mình. Tôi không biết ở đất nước các bạn thế nào, nhưng ở nước tôi, từ “chủ nghĩa xã hội” đó từ lâu đã bị biến thành chiếc dùi cui tương đối quen thuộc để cho những quan chức vô liêm sỉ, giàu có đập từ sáng tới tối lên lưng những người đồng bào có tư tưởng tự do, dán cho họ cái nhãn là “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội” và “những lực lượng chống chủ nghĩa xã hội”. Trên thực tế: ở đất nước tôi hiện nay, từ này đã từ lâu chỉ còn là một câu thần chú đáng nguyền rủa, tốt nhất nên tránh xa, nếu ta không muốn trở thành một kẻ đáng nghi ngờ. Cách đây không lâu tôi có tham dự một cuộc biểu tình tự phát, không do bất cứ kẻ bất đồng chính kiến nào tổ chức, nhằm phản đối việc bán tháo một trong những khu đẹp nhất ở Praha cho một triệu phú người Úc. Khi một diễn giả lên tiếng phản đối đề án này và nhấn mạnh lời kêu gọi chính phủ mạnh mẽ của mình bằng cách tuyên bố rằng ông đã chiến đấu vì tổ quốc nhân danh chủ nghĩa xã hội, đám đông cười ồ lên. Họ cười không phải vì họ phản đối một chế độ xã hội công bằng mà đơn giản là vì họ nghe thấy cái từ mà bao lâu nay và trong mọi hoàn cảnh có thể cũng như không có thể, họ vẫn dùng để nguyền rủa cái chế độ chỉ biết thao túng và lăng mạ dân chúng.

Ngôn từ có thể có số phận rất trớ trêu! Có những thời khắc của lịch sử, những con người có đầu óc tự do và dũng cảm bị đẩy vào ngục tù vì rằng một từ nào đó có ý nghĩa đối với họ, nhưng ở thời điểm khác, chính những người đó lại có thể bị bỏ tù vì cái từ kia đã chẳng còn ý nghĩa gì với họ nữa, vì nó đã chuyển từ biểu tượng của một thế giới tốt đẹp hơn thành câu niệm chú của những tên độc tài ngu dốt.

Không có từ nào – ít nhất là theo nghĩa ẩn dụ mà tôi dùng từ “từ” ở đây – chỉ có nghĩa như từ điển từ nguyên gán cho nó. Mỗi từ lại phản ánh người nói ra từ đó, hoàn cảnh và lí do mà nó được nói. Cùng một từ, có thời điểm là tia hi vọng lớn lao, nhưng lúc khác, nó lại phát những tia chớp của sự chết chóc. Một từ có thể nói sự thật vào thời khắc này, nhưng lại dối trá vào thời khắc ngay sau đó, lúc này nó là ánh sáng khai minh, khi khác nó lại là những lời bịp bợm. Trong trường hợp này nó có thể mở ra những viễn cảnh tuyệt đẹp, nhưng trong trường hợp khác nó lại có thể đặt đường ray dẫn tới quần đảo của các trại tập trung. Cùng một từ mà lúc này thì là hòn đá tảng của hoà bình, trong khi lúc khác lại có thể trở thành loạt đạn súng máy với tiếng nổ rền vang trong từng con chữ.

Gorbachev[32] muốn duy trì chủ nghĩa xã hội bằng nền kinh tế thị trường và tự do ngôn luận, trong khi Lí Bằng[33] bảo vệ chủ nghĩa xã hội bằng cách tàn sát sinh viên, và Ceausescu[34] thì bằng cách hăm dọa dân tộc của ông ta. Từ này thật sự có nghĩa là gì trên môi của một người và trên môi hai người kia? Điều bí ẩn nào đã được bảo vệ bằng những biện pháp khác nhau một trời một vực như thế?

Tôi đã nhắc tới cuộc Cách mạng Pháp và bản Tuyên ngôn tuyệt vời đi kèm với nó. Bản tuyên ngôn này được một quí ông kí, ông ta sau đó trở thành một trong những người đầu tiên bị hành quyết nhân danh văn bản đầy nhân tính cao cả đó[35]. Hàng trăm mà có thể hàng ngàn người đã nối tiếp ông. Tự do, Bình đẳng, Bác ái – những ngôn từ tuyệt diệu làm sao! Và ý nghĩa của chúng mới khủng khiếp làm sao. Tự do trong chiếc áo sơ mi không cài cúc trước giờ lên đoạn đầu đài. Bình đẳng trong tốc độ rơi của chiếc máy chém xuống những cái cổ khác nhau. Bác ái trong thiên đường khả nghi được cai trị bởi Đấng chí tôn[36]!

Ngày nay, từ “cải tổ” đầy hứa hẹn đang được nói đến ở mọi nơi. Tất cả chúng ta đều tin rằng nó nuôi dưỡng niềm hi vọng cho châu Âu và cho toàn thế giới.

Nhưng tôi buộc phải thú nhận rằng đôi khi tôi chợt rùng mình, mong từ này không lại trở thành một câu thần chú khác, hay kết cục không biến thành một chiếc dùi cui nữa để cho một kẻ nào đó đập lên lưng chúng ta. Tôi không chỉ nghĩ về đất nước tôi: khi những người cầm quyền nói từ đó, nó có nghĩa tương tự như mấy từ “quốc vương của chúng tôi” trong cửa miệng anh lính Svejk[37] tốt bụng vậy. Không, tôi đang nghĩ tới việc con người dũng cảm đang ngồi trong Điện Kremlin kia, đôi khi, và có lẽ là do tuyệt vọng, cũng buộc cho những người công nhân đình công, những dân tộc nổi dậy, dân tộc thiểu số, hay những thiểu số có quan điểm quá khác thường, cái tội“đe dọa cải tổ”. Tôi thông cảm với ông ta. Nhiệm vụ to lớn mà ông gánh vác quả là một công việc cực kì khó khăn. Nó được treo trên một sợi chỉ mỏng manh và hầu như bất cứ cái gì cũng có thể làm cho nó đứt bất cứ lúc nào và khi đó tất cả chúng ta sẽ rơi vào vực thẳm. Mặc dù vậy, tôi vẫn tự hỏi là liệu cái “tư duy mới” này có chứa đựng những tàn dư đáng lo ngại của những tư tưởng xưa cũ? Có trong đó tiếng vọng của tư duy rập khuôn và những nghi thức bằng lời của chế độ trước hay không? Từ “cải tổ” có đôi khi bắt đầu tương đồng với từ “chủ nghĩa xã hội”, nhất là khi nó có lúc được kín đáo ném vào đầu chính những người đã từng bị hành hạ một cách bất công bởi từ “chủ nghĩa xã hội”?

Đất nước của các bạn đã có đóng góp to lớn vào lịch sử châu Âu hiện đại. Tôi muốn nói tới làn sóng giải trừ căng thẳng đầu tiên: Chính sách bình thường hóa nổi tiếng[38].  

Nhưng ngay cả từ đó đôi khi cũng có tính nước đôi. Dĩ nhiên nó là tia sáng đầu tiên của niềm hi vọng về một châu Âu không còn chiến tranh lạnh hay bức màn sắt. Nhưng đồng thời, thật đáng buồn thay – có những trường hợp, nó cũng đồng nghĩa với sự từ bỏ tự do, và bằng cách đó từ bỏ điều kiện tiên quyết của một nền hòa bình thật sự. Tôi còn nhớ rất rõ là trong những năm đầu 1970 một số đồng nghiệp và bạn bè người Tây Đức của tôi đã tìm cách tránh tôi vì sợ rằng liên hệ với tôi – một người không được chính phủ của mình ưa chuộng – thì có thể chọc giận chính phủ một cách vô ích và như vậy có thể đe dọa nền tảng mong manh của quá trình bình thường hóa còn trong thời kì trứng nước. Dĩ nhiên tôi không nhắc đến chuyện này vì bản thân mình và chắc chắn cũng không phải để tự thán. Nói cho cùng, khi đó tôi cảm thấy đúng hơn là tiếc cho họ, bởi vì không phải tôi mà chính họ mới là những người đã tự nguyện phủ nhận quyền tự do của mình. Tôi nhắc đến điều này chỉ để một lần nữa giải thích, từ một góc nhìn khác, rằng người ta dễ dàng phản bội mục đích cao cả của những việc làm với ý định tốt đẹp của mình như thế nào – nhờ những từ ngữ mà ý nghĩa của chúng rõ ràng không được bảo vệ một cách thấu đáo. Những việc như thế rất dễ xảy ra mà ta hầu như không để ý: nó xảy ra một cách kín đáo, âm thầm, lén lút – và cuối cùng, khi nhận ra thì ta chỉ còn một lựa chọn: sự ngạc nhiên muộn màng.

Nhưng đó chính là hình thức hiểm độc mà ngôn từ có thể phản chúng ta nếu chúng ta không luôn thận trọng khi sử dụng chúng. Và đáng tiếc là thường xuyên chỉ một khoảnh khắc thiếu cẩn trọng cũng có thể dẫn đến những hậu quả bi thảm không cứu vãn được, những hậu quả vượt ra ngoài thế giới phi vật chất của ngôn từ và xâm nhập sâu rộng vào thế giới hoàn toàn mang tính vật chất.

Cuối cùng, tôi xin nói về một từ đẹp đẽ, đấy là từ “hòa bình”.

Suốt bốn mươi năm qua tôi thường đọc thấy từ này viết trên mặt tiền các tòa nhà và cửa sổ các cửa hàng ở đất nước tôi. Suốt bốn mươi năm qua, tôi, cũng như mọi công dân trên đất nước tôi đã bị dị ứng với cái từ đẹp đẽ đó, vì tôi biết cái từ ấy có nghĩa là gì trong suốt bốn mươi năm ấy: đó là những đội quân ngày càng đồ sộ hơn dưới danh nghĩa bảo vệ hòa bình.

Bất chấp quá trình tước đoạt có hệ thống ý nghĩa của từ “hòa bình” trong thời gian dài – tệ hơn nữa, lại gán cho nó nghĩa trái ngược hẳn với nghĩa trong từ điển – một nhóm những Don Quixotes trong phong trào Hiến chương 77[39] và một số đồng nghiệp trẻ tuổi của họ trong Hiệp hội Hòa bình Độc lập[40] đã đấu tranh phục hồi lại từ này và trả lại ý nghĩa ban đầu cho nó. Vì công cuộc “cải tổ ngữ nghĩa” đó, nghĩa là đặt từ “hòa bình” trở lại trên đôi chân của nó, đương nhiên họ đã phải trả giá: hầu như tất cả những người lãnh đạo trẻ của Hiệp hội Hòa bình Độc lập đều phải chịu mấy tháng tù giam. Tuy nhiên họ đã không làm một việc vô nghĩa: một từ quan trọng đã được cứu vãn khỏi sự mất giá trị hoàn toàn của nó. Và như tôi đang cố gắng giải thích ở đây, đó không chỉ là vấn đề cứu vớt một từ. Một cái gì đó quan trọng hơn rất nhiều đã được cứu vớt.

Bởi tất cả những sự kiện quan trọng trong thế giới hiện thực, dù đẹp đẽ hay quái gở – bao giờ cũng bắt đầu trong vương quốc của ngôn từ.

Như tôi đã nói, mục đích của tôi hôm nay không phải là chuyển đến cho các bạn trải nghiệm của một người biết rằng từ ngữ vẫn còn có giá trị, khi mà bạn có thể bị bỏ tù vì chúng. Mục đích của tôi là kể cho các bạn nghe một bài học mà chúng tôi, những người sống trong góc nhỏ này của thế giới, đã học được về vai trò quan trọng của ngôn từ, một bài học mà tôi tin là có giá trị phổ quát: cụ thể là, phải luôn luôn thận trọng với ngôn từ và cảnh giác với chúng, và rằng trong lĩnh vực này, thận trọng không bao giờ thừa.

Chắc chắn rằng hoài nghi ngôn từ không có hại bằng tin cậy ngôn từ một cách thái quá.

Ngoài ra, thận trọng với ngôn từ và chỉ ra những hiểm nguy kín đáo ngủ yên trong ngôn từ – nói cho cùng phải chăng chính là thiên chức của người trí thức? Tôi nhớ đến ông André Glucksmann[41], người bạn đồng nghiệp thân mến vừa đứng trước tôi ở đây hôm nay, có lần đã nói ở Praha rằng các nhà trí thức phải như Cassandra[42]: có nhiệm vụ theo dõi chăm chú những phát ngôn của những người cầm quyền, cảnh giác với chúng, cảnh báo trước những mối nguy hiểm của chúng và chỉ ra những ngụ ý xấu mà chúng có thể gợi lên hoặc mang đến.

Chúng ta hãy để ý một việc: qua nhiều thế kỉ, chúng ta – người Đức và người Séc – đã gặp đủ loại khó khăn trong cuộc sống chung ở Trung Âu. Tôi không thể nói thay các bạn, nhưng tôi nghĩ là tôi có thể thay mặt người Séc mà nói một cách có trách nhiệm rằng, về phía người Séc, những hằn thù dân tộc, thiên kiến, và giận hờn xưa cũ, được nuôi dưỡng bằng nhiều cách khác nhau suốt hàng thế kỉ, đã tan biến dần trong vài chục năm qua. Và không phải ngẫu nhiên mà điều đó đã xảy ra khi chúng tôi bị tròng vào cái ách của chế độ toàn trị. Chế độ này đã gieo vào lòng chúng tôi sự ngờ vực sâu sắc đối với mọi sự khái quát hóa, mọi lời nói có tính ý thức hệ khuôn sáo, mọi giáo điều, mọi khẩu hiệu, mọi khuôn mẫu tư tưởng và mọi sự kích động nhắm vào những thang bậc tình cảm khác nhau, từ thấp nhất đến cao nhất của chúng tôi, nhờ đó đa số chúng tôi đã có sức đề kháng mạnh mẽ trước mọi cám dỗ ngay cả khi nó có sức mê hoặc mà những lời kêu gọi dân tộc và dân tộc chủ nghĩa vẫn thường có. Cái quan tài ngột ngạt của những ngôn từ trống rỗng từng bóp nghẹt chúng tôi trong một thời gian dài như thế đã gieo vào lòng chúng tôi mối nghi ngờ sâu sắc trước thế giới của những ngôn từ lừa bịp đến mức, bây giờ chúng tôi có thể nhìn thấy thế giới của con người đúng như thực trạng: đấy là một cộng đồng phức tạp của hàng ngàn và hàng triệu con người riêng biệt, độc đáo, với bên cạnh hàng trăm đức tính tốt đẹp là hàng trăm khiếm khuyết và những xu hướng tiêu cực, mà không bao giờ có thể dùng chiếc bàn là của những lời nói trống rỗng hay ngôn từ biến chất để là phẳng cộng đồng đó thành một khối đồng nhất - ví dụ như “giai cấp”, “dân tộc” hay “lực lượng chính trị” – để rồi tán dương hay lên án, yêu thương hay căm thù, phỉ báng hay ca ngợi như một tổng thể.

Đấy chỉ là một thí dụ nhỏ vì sao cần thận trọng với ngôn từ. Tôi chọn thí dụ này cho phù hợp với hoàn cảnh, tức là cho thời khắc khi mà một người Séc có vinh dự được nói chuyện với cử tọa đa số là người Đức.

Khởi đầu của mọi việc đều là lời.

Đấy là điều kỳ diệu mà chúng ta được hưởng bởi chúng ta là những con người.

Nhưng đồng thời đấy cũng là cạm bẫy và thử thách, thủ đoạn đánh lừa và bài sát hạch.

Ý nghĩa của nó có lẽ lớn hơn so với trong ý nghĩ của các bạn, những người được hưởng nhiều quyền tự do ngôn luận, tức là trong môi trường mà ngôn từ có vẻ không quá quan trọng đến thế.

Nhưng ngôn từ là quan trọng.

Ở đâu cũng quan trọng.

Một từ lúc này có thể là khiêm nhường, nhưng lúc khác lại là cao ngạo. Và một từ khiêm nhường có thể dễ dàng và kín đáo chuyển hóa thành cao ngạo, trong khi chuyển một từ cao ngạo thành khiêm nhường là một quá trình phức tạp và khó khăn. Tôi đã thử chứng tỏ điều đó bằng cách viện dẫn số phận của từ “hòa bình” tại đất nước chúng tôi.

Gần đến điểm cuối của thiên niên kỉ thứ hai, thế giới, nhất là châu Âu, đang đứng ở ngã tư đường đặc biệt: một thời gian rất lâu mới có từng đó lý do để hi vọng rằng mọi việc rồi sẽ kết thúc tốt đẹp, và đồng thời cũng chưa bao giờ có nhiều lí do đến thế để lo sợ rằng nếu mọi sự xấu đi thì một thảm họa có tính kết cục là không tránh khỏi.

Sẽ không khó để chứng minh rằng những mối đe dọa chính mà thế giới ngày nay đang trực diện, từ chiến tranh hạt nhân, thảm họa sinh thái đến thảm họa văn minh xã hội (ý tôi muốn nói đến vực thẳm ngày càng sâu giữa người giàu và người nghèo, nước giàu và nước nghèo), đều đang che dấu trong lòng chúng một nguyên nhân cốt lõi: sự chuyển hóa một cách kín đáo thông điệp vốn dĩ khiêm nhường thành thông điệp cao ngạo.

Con người bắt đầu tin tưởng một cách cao ngạo rằng anh ta là tuyệt đỉnh và là chúa tể của tạo hóa, anh ta đã hiểu rõ tự nhiên và có thể làm với nó tất cả những gì anh ta muốn.

Con người bắt đầu suy nghĩ một cách cao ngạo rằng nhờ có lí trí, con người có khả năng hiểu được toàn bộ lịch sử của chính mình và tạo dựng cuộc sống hạnh phúc cho tất cả mọi người, và thậm chí điều đó đã cho phép con người quyền quét sạch những kẻ không ưa kế hoạch của anh ta ra khỏi đường đi của mình – nhân danh một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người – cái tương lai mà anh ta có chiếc chìa khóa duy nhất đúng. 

Con người bắt đầu suy nghĩ một cách cao ngạo rằng khi anh ta có thể chia tách được hạt nhân nguyên tử, anh ta hoàn hảo đến mức cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân sẽ chẳng là hiểm họa đối với anh ta, nói chi đến chiến tranh hạt nhân.

Con người đã mắc sai lầm chí tử trong tất cả những trường hợp này. Thật là tồi tệ. Nhưng trong tất cả mọi trường hợp, con người đều đã bắt đầu nhận ra sai lầm. Và như thế là tốt.

Sau khi nhận được mọi bài học, tất cả chúng ta cần phải cùng chiến đấu chống lại những từ ngữ cao ngạo và thận trọng trước con vi trùng xảo quyệt của thói cao ngạo đội lốt dưới ngôn từ tưởng như khiêm nhường.

Rõ ràng đây không phải chỉ là nhiệm vụ của ngôn ngữ học. Kêu gọi trách nhiệm với ngôn từ và trách nhiệm trước ngôn từ là nhiệm vụ cơ bản mang tính đạo đức.

Nhưng nhiệm vụ như vậy đương nhiên nằm ngoài chân trời của thế giới mà chúng ta có thể nhìn thấy được, nó nằm ở tận nơi nào đó ngự trị bởi Chúa Lời, cái đã là sự khởi đầu của tất cả và cái không phải là ngôn từ của con người.

Tôi sẽ không giải thích tại sao lại như thế. Bởi tôi không thể giải thích điều đó một cách tuyệt diệu như Immanuel Kant[43] – bậc tiền bối của các bạn – đã từng làm.

Xin cám ơn sự chú ý của các bạn.

Phạm Nguyên Trường dịch từ bản tiếng Anh

[1] "Bình thường hóa" là tên gọi chính thức cho việc thanh lọc trong đảng cộng sản, việc sa thải công nhân viên, việc lập lại chế độ kiểm duyệt, và đóng cửa các hội đoàn, các tổ chức chính trị và phi chính trị, và các biện pháp gây áp lực khác, sau khi những cải cách cởi mở của mùa xuân Praha 1968 nhằm thúc đẩy nhanh quá trình dân chủ hóa, bị quân đội các nước khối Varsava đàn áp.

[2] Khác với thị trường Đen là những hoạt động kinh tế trái phép và rõ ràng là phi pháp, thị trường Xám nằm đâu đó giữa

ranh giới trắng và đen. Những hoạt động của nó vi phạm những lề thói đạo đức, luân lý thông thường, nhưng hầu như

ko thể chứng minh nó vi phạm luật pháp (theo wikipedia)

[3] Tòa án Hiến pháp là một cơ quan tư pháp để bảo vệ việc thực thi Hiến pháp. Trách nhiệm và thẩm quyền của Tòa án Hiến pháp được xác định trong chính Hiến pháp của Cộng hòa Séc

[4] Chủ nghĩa bán-mua (Clientelism), chủ nghĩa khách hàng ngày nay được hiểu là mối quan hệ, khi người chức trách và người khách hàng muốn có được hợp đồng của chính phủ cùng có chung quyền lợi riêng, họ bảo vệ lẫn nhau, và trong việc bảo vệ và được bảo vệ này, họ được lợi về mặt kinh tế. Chủ nghĩa bán-mua thực chất là một dạng tham nhũng (theo wikipedia)

[5] Ombudsman:Bảo vệ các cá nhân trước cách đối xử của các cơ quan công sở và các tổ chức khác, nếu cách đối xử này mâu thuẫn với luật pháp và không tuân theo nguyên tắc dân chủ của nhà nước pháp quyền và của một ban quản lý tốt, hoặc khi các cơ quan công quyền vô dụng (theo trang Ombudsman)

[6]  Nhà nước pháp quyền, với định nghĩa căn bản nhất là không có ai ở trên luật hay ngoài luật, mà mọi người phải tuân

theo pháp luật. Một nguyên tắc bắt nguồn một cách logic từ ý tưởng cho rằng sự thật, cũng như luật, đều dựa trên những nguyên tắc căn bản có thể được phát hiện ra như

[7]Maximilian Schell (1930): diễn viên, đạo diễn và nhà làm phim người Áo.

[8]Cách mạng Pháp (1789 – 1799): là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Pháp, diễn ra từ năm 1789 đến 1799, khi lực lượng dân chủcộng hòa đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế và kết thúc chế độ phong kiến trong xã hội Pháp. Nó được xem như là một bước ngoặt lớn của lịch sử của châu Âu, đánh dấu sự chuyển đổi xóa bỏ quyền lực tuyệt đối để thiết lập quyền công dân và tất cả mọi người dân như là một lực lượng chính trị lớn.

[9]Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền: được ban hành vào ngày 26 tháng 8 năm 1789 của Quốc hội lập hiến Pháp và bước đầu tiên để tạo ra các hiến pháp đầu tiên của Pháp. Bản Tuyên ngôn có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức châu Âu về các quyền công dân.

[10]Francis Starek (1952): nhà văn Séc và nhà bất đồng chính kiến, tham gia ký và hoạt động tổ chức, lưu hành Hiến chương 77.

[11]Ivan Martin Jirous (1944 – 2011):  nhà thơ, nhà văn, nhà báo  và nhà phê bình nghệ thuật người Séc.

[12]Petr Cibulka (1950):  nhà báo và nhà hoạt động Séc. Ông là một trong những người đã ký Hiến chương 77.

[13]Đại hội các nhà văn Tiệp Khắc lần thứ 4 tổ chức tháng 6 năm 1967 tại Praha đã bắt đầu phong trào chống đối chính sách của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc và các sự kiện tiếp theo trong năm 1968.

[14]Ludvík Vaculík – Lời hiệu triệu hai ngàn từ gửi công nhân, nông dân, viên chức, các nhà khoa học, những người hoạt động nghệ thuật và tất cả những người khác – do Phạm Minh Ngọc chuyển ngữ (talawas.blog)

[15]Cuộc xâm lược Tiệp Khắc theo hiệp định Varsava: cuộc xâm lược Tiệp Khắc bởi quân đội năm nước xã hội chủ nghĩa đứng đầu là Liên bang Xô Viết  năm 1968.

[16]Bản kiến nghị “Một vài câu”: được soạn thảo bởi Phong trào Hiến chương 77 từ năm 1989 tại Tiệp Khắc, bao gồm yêu cầu thả tù nhân chính trị, tự do hội họp, thảo luận và ngôn luận, xóa bỏ kiểm duyệt báo chí và truyền thông.

[17]Aleksandr Solzhenitsyn Isayevich (1918 – 2008) : tiểu thuyết gia, nhà viết kịch và nhà sử học Xô Viết. Các tác phẩm viết về hệ thống trại cải tạo và tù ngục của Liên Xô, trong đó nổi tiếng nhất là tiểu thuyết Quần đảo Gulag, bị cấm in. Ông đoạt giải Nobel Văn học năm 1970.

[18]Công đoàn Đoàn kết  Balan:  thành lập năm 1980, có tầm quan trọng như một phong trào xã hội góp phần vào sự sụp đổ của chế độ cộng sản ở Balan.

[19]Lev Zalmanovich Kopelev (1912 – 1997):  nhà văn và nhà bất đồng chính kiến ​​Liên Xô.

[20]Salman Rushdie (1947): nhà văn người Anh gốc Ấn-Hồi giáo. Do cuốn tiểu thuyết Những vần thơ của Satăng (The Satanic Verses -1988), Rushdie bị đe dọa tử hình, và vào tháng Hai năm 1989 bị Ayatollah Ruhollah Khomeini, lãnh đạo tối cao của Iran tuyên án tử hình Hồi giáo.

[21]Hội nghị Helsinki 1973 – 1975: hội nghị về An ninh và Hợp tác ở châu Âu. Mục đích chính của Hội nghị là xóa bỏ Chiến tranh Lạnh và thoả thuận cho hòa bình và ổn định giữa Đông và Tây Âu.

[22]Lech Wałęsa (1942):  nhà chính trị người Ba Lan, nhà đấu tranh  cho nhân quyền, lãnh đạo công đoàn Đoàn Kết, tổng thống Cộng hòa Ba Lan trongnhững năm 1990 – 1995.

[23]Andrej Dmitrijevič Sacharov (1921 – 1989):  nhà vật lýhàng đầu của Liên Xô, người bất đồng chính kiến ​​và bảo vệ nhân quyền, nhận giải  Nobel Hòa bình năm 1975, nhà lãnh đạo tinh thần để thay đổi Nga thành đất nước dân chủ.

[24]Xem chú thích 14

[25]Xem chú thích 14

[26]Adolf Hitler (1889 – 1945)

[27]Martin Heidegger (1889 – 1976) :  nhà triết học Đức,  một trong những triết gia có ảnh hưởng nhất của thế kỷ 20, nhưng cũng là người bị chỉ trích về lập trường của mình về chủ nghĩa phát xít. Người đưa ra học thuyết Bản thể luận về tồn tại con người, về cấu trúc của tồn tại con người, định nghĩa các khái niệm "Sein", "Dasein",  "Existenz":  tồn tại người, hiện hữu, tồn tại.

[28]Vissarion Grigoryevich Belinsky (1811 – 1848) :  nhà phê bình văn học, nhà báo, nhà triết học hiện thực dân chủ cách mạng, có ảnh hưởng lớn trong lãnh vực báo chí dân chủ cách mạng trong và ngoài nước Nga.

[29]Vở kịch Bão tố của nhà viết kịch Nga Aleksandr Nikolayevich Ostrovsky (1823 – 1886) là một tác phẩm phê bình xã hội, đặc biệt đối với tầng lớp thương gia Nga.

[30]Gulag:  từ ‘Quần đảo Gulag’ – tên một tác phẩm nổi tiếng của Aleksandr Solzenicyn viết theo kinh nghiệm của bản thân tác giả về các trại cải tạo ở Nga, từ sau cách mạng tháng Mười 1918 đến khi Stalin mất năm1956, dành cho tù chính trị và tù hình sự đặc biệt.

[31]Sigmund Freud (1856 – 1939):  bác sĩ về thần kinh và tâm lý người Áo. Ông được công nhận là người đặt nền móng và phát triển lĩnh vực nghiên cứu về phân tâm học.

[32]Mikhail Sergeyevich Gorbachev (1931):  tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên xô từ năm 1985 tới 1991. Những nỗ lực thực hiện cải cách của ông giúp chấm dứt Chiến tranh Lạnh, nhưng cũng góp phần kết thúc quyền uy tối cao của Đảng Cộng sản Liên xô và giải thể Liên bang Xô Viết. Ông đã được trao Giải Nobel Hoà bình năm 1990.

[33]Lí Bằng (1987 – 1998): chính trị gia Trung quốc, thủ tướng từ năm 1987-1998, người ban lệnh đàn áp biểu tình ở quảng trường Thiên An môn năm 1989.

[34]Nicolae Ceauşescu (1918 – 1989): tổng Thư ký Đảng Lao động Romania, sau này là Đảng Cộng sản Romania từ năm 1965 đến năm 1989, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước từ năm 1967 và Chủ tịch Romania từ năm 1974 đến năm 1989. Chế độ cầm quyền của Ceauşescu có đặc trưng ở sự tăng tệ sùng bái cá nhân, chủ nghĩa quốc gia cực đoan.

[35]Vua Louis XVI (1754 – 1793):  vị vua duy nhất trong lịch sử nước Pháp đã bị hành quyết, vào năm 1793, bởi chế độ Cộng hòa dưới thời Cách mạng Pháp.

[36]Napoléon Bonaparte (1769 – 1821): thống lĩnh quân đội trongthời kỳ Cách mạng Pháp. Năm 1799 Napoléon tổ chức đảo chính, lập nên chế độ tổng tài. Sự kiện Napoléon xưng Hoàng đế vào năm 1804 đã đặt dấu chấm hết cho giai đoạn Cộng hòa, thành quả tiêu biểu của Cách mạng Pháp.

[37]Josef Svejk:  nhân vật chính trong bộ sách của Jaroslav Hasek viết trong những năm 1920 về khoảng thời gian trước chiến tranh thế giới thứ nhất. Svejk tượng trưng cho một tính cách dân dã, láu lỉnh, mà dám làm, nhờ đó nhân vật chính bằng nhiều kiểu ngô nghê, đã vượt qua hàng loạt những tình huống hiểm nguy căng thẳng khác nhau, để sống sót bằng mọi giá, và được coi là tiêu biểu cho tính cách Tiệp.

[38]Chính sách bình thường hóa:  những cố gắng đầu tiên bằng con đường đàm phán nhàm bình thường hóa quan hệ giữa Tây và Đông Đức xuất hiện từ năm 1969.

[39]Hiến chương 77:  phong trào đấu tranh phi hình thức xuất hiện từ đầu năm 1977, nhằm đấu tranh đòi chính quyền tôn trọng quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp 1960 và trong các hiệp ước và công ước đã được Tiệp Khắc kí kết, bao gồm các quyền về chính trị, dân sự, kinh tế và văn hóa.

[40]Hiệp hội Hòa bình Độc lập: thành lập tháng tư năm 1988 kêu gọi giảm trừ quân bị cho xã hội, công khai hoạt động của mình ngày 21/8/1988 dịp kỷ niệm 20 năm ngày Tiệp Khắc bị quân đội các nước thuộc khối Vacsava chiếm đóng.

[41]Andre Glucksmann (1937): triết gia và chính trị gia người Pháp, người có ảnh hưởng mạnh đến triết học chính trị cánh hữu của thế kỷ 20. Năm 1968 ông đứng trong hàng ngũ của phái cực tả, có ý định lật đổ nhà nước theo phái vô chính phủ và Maoism. Từ những năm 70 ngả dần sang bên cánh hữu và bắt đầu phê phán chế độ độc tài toàn trị, phản đối chế độ cộng sản tại các nước Trung Âu và quan tâm đến các phong trào chống đối chính quyền ở khắp nơi trên thế giới.

[42]Cassandra: theo thần thoại Hy lạp là người có khả năng nhìn thấy những hiểm họa sẽ xảy ra trong tương lai.

[43]Immanuel Kant (1724 – 1804): với Học thuyết đạo đức được xem là triết gia quan trọng nhất của nước Đức, và là một trong những triết gia lớn nhất của thời kỳ cận đại.