Danh Ngôn

Hình như... các nhà trí thức mang số phận của những kẻ hoặc là nguyền rủa vì bị loại khỏi giới giàu có, thành công, và danh vọng, hoặc là bị dày vò vì mặc cảm tội lỗi khi họ vượt qua được rào cản này. Họ cảm thấy bức bối, chẳng hạn, khi giới quyền lực coi thường các khuyến nghị của trí thức; song vì họ sợ bị biến chất, họ thậm chí cảm thấy bức bối hơn khi giới quyền lực tìm đến với trí thức… Người trí thức hoặc là bị cho ra rìa hoặc là bị bán đứng.

(It appears … to be the fate of intellectuals either to berate the exclusion from wealth, success, and reputation, or to be seized by guilt when they overcome this exclusion. They are troubled, for example, when power disregards the counsels of intellect, but because they fear corruption they even more troubled when power comes to intellect… The intellectual is either shut out or sold out.)

Richard Hofstadter (1916-1970), Giáo sư Lịch sử Mỹ. “Anti-Intellectualism in American Life” (Xu hướng phản trí thức trong đời sống Mỹ), 15.6, 1962

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Biểu tượng điêu khắc trong kiến trúc thuộc địa ở Sài Gòn

Hà Vũ Trọng

Quy hoạch đô thị và kiến trúc ở Đông Dương hiện thân cho quyền lực chính trị, kinh tế và văn hoá của Pháp thời thuộc địa. Những công trình kiến trúc quan trọng và tráng lệ này trong thời kì ban đầu từ những năm 1880 cho tới 1900 đều du nhập những phong cách thiết kế từ ‘mẫu quốc’, như Beaux-Arts, Chiết trung, hoặc Tân Cổ điển, qua hai kiến trúc sư trưởng là August-Henri Vildieu (ở Hà Nội) và Alfred Foulhoux (ở Sài Gòn) đã tạo nên hình hài một kinh đô Pháp thu nhỏ ở Đông Dương. Cho tới những năm 1920, mất 60 năm, vớiErnest Hérbrard mới thực sự hình thành một phong cách mới gọi là Indochinois hay ‘Đông dương’ bắt kịp chủ nghĩa hiện đại trong kiến trúc thế giới nhưng độc đáo hơn qua sự phối hợp những yếu tố kiến trúc Âu Tây với những mẫu thiết kế bản địa theo triết học phương Đông; phong cách Indochinois đã tiên đoán cho phong cách đa nguyên văn hoá hiện nay trên thế giới để giải toả trung tâm châu Âu. Tất cả di sản to lớn trong quy hoạch và kiến trúc thời thuộc địa, mà riêng Đông Dương được xem như cuộc đầu tư mạo hiểm cho ‘sự hùng vĩ điên rồ’ của chính quyền Pháp với những dự án và kinh phí khổng lồ cũng như mất rất nhiều thời gian và sự tranh cãi.

Bài thơ về Cải cách ruộng đất của Văn Cao

Nguyễn Trọng Tạo

Văn Cao, 1993 - Ảnh: Nguyễn Đình Toán

NTT: Giữa quá nhiều bất trắc cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng. Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ngòi bút kim cương chứ không phải bút lông bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ , Văn Cao rất vui lòng ủy thác cho Nguyễn Thụy Kha, Thanh Thảo và tôi tuyển chọn. Hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói: “Ba thằng mày bảo được là được!”. Dù là trong thời kì “đổi mới” rất mạnh mẽ, chúng tôi vẫn thấy ông có một bài thơ mà nhà xuất bản khó lòng chấp nhận, đấy là bài Đồng chí của tôi viết năm cải cách ruộng đất (1956). Bài thơ tràn đầy lòng tin vào chủ nghĩa xã hội mà cảnh tỉnh những sai lầm của hiện tại, nó là tiếng lòng thống thiết của người cộng sản bị xử bắn oan gửi tới các đồng chí của mình. Không trung thực với Đảng, không có lòng can đảm của một đảng viên, không chan chứa một trái tim nhân đạo… không thể viết được một bài thơ rớm máu như thế. Nhưng 30 năm và hơn thế nữa, nó vẫn chỉ là bài thơ của riêng ông. Chúng tôi biết điều đó, và đề nghị ông “để lại”, ông đồng ý ngay. Đầu năm 1995 này, tôi nhắc lại với ông bài thơ ấy, và thấy đã đến “thời” bài thơ có thể in được rồi, nhưng ông nói sau khi nhấp một ngụm rượu: “Thôi, cứ để sau khi mình chết rồi in cũng chưa muộn”. Ngày ông qua đời, tôi bỗng mở sổ tay xem lại bài thơ ấy, và tôi đã khóc.

Trò chuyện cuối tháng 11

Hoàng Đăng Khoa – PGS.TS La Khắc Hoà

(Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 905 (cuối tháng 11/2018)
Thứ tư – 14/11/2018 12:31)

Là một chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu, dịch thuật, giới thiệu lí thuyết văn học, nhưng mỗi khi ứng dụng, thực hành lí thuyết, ông đặt lí thuyết ở chế độ ẩn, chỉ để hiển lộ những diễn ngôn phê bình hào sảng, sáng, sang. Những hiện tượng văn học Việt Nam, cũ hay mới, dưới lăng kính phê bình kí hiệu học của ông, ngôn ngữ của chúng đều được tái thiết, trở nên năng sản vô cùng. Một ngày giữa tháng 10, tại Tuyên Quang, trong không gian Trại viết 2018 do VNQĐ tổ chức, ông đã dành cho bạn đọc tạp chí những chia sẻ nghề nghiệp thú vị. Ông là nhà giáo, dịch giả, nhà nghiên cứu phê bình Lã Nguyên – bút danh của PGS.TS La Khắc Hoà.

Hãy kể câu chuyện này

Nguyễn Ngọc Tư

Tôi thường đọc sách trong sự ồn ào. Nhiều tiếng nói vang lên, và không dễ chịu chút nào, khi đó là những lời thẳng thắn.

Rằng:

“Lúc mi chưa sinh ra thì những Honoré de Balzac, Frank Kafka, William Faulkner, Henrich Boll, Patrick White, Gabriel Garcia Marquez cùng rất nhiều nhà văn khác đã vĩ đại rồi, và những trường phái văn chương đã định hình, hoàn thiện khi mi tập đi bên những hố bom. Văn chương thế giới đã rực rỡ trước khi mi trở thành đốm lửa”.

Bâng quơ mỗi ngày (kỳ 2)

Trần Tiến

…dừng bước nghĩ bâng quơ, rồi lại đi, lại đi

28-7-2018

11. Bạn hỏi không gian âm nhạc của tôi ư? Có lẽ nó là con đường bất tận của kẻ lang thang đi tìm giấc mơ chính mình. Có thể là những cánh đồng dài và những dòng sông rộng. Có thể chỉ là cái trần nhà loang lổ dấu bao mơ mộng. Là cái ngõ hẻm chật chội, bốc mùi của người nghèo khổ. Là bàn tay chơi đàn của nàng tiểu thư. Hay chỉ đơn giản là một đêm sóng vỗ. Ngôi nhà có tiếng guitar bập bùng, giọng hát khê nồng và mùi thuốc lá rẻ tiền của tôi. Là nơi tụ tập những cán bộ, công nhân nghèo thời bao cấp, những người lính già hoặc những thức giả cô đơn thường ghé qua. Ở đây lạc lõng những âm bản của một thời quá khứ, không có gì hấp dẫn ngoài sự thấu hiểu và sẻ chia. Những kẻ sống hời hợt không đến. Những kẻ muốn kiếm chác lại càng không. Cũng có vài ca sĩ có chút máu điên mới tìm đến nơi này. Có lẽ chúng ngửi thấy mùi rượu ủ lâu, chúng thoáng thấy đâu đó vẻ bí ẩn của một thời đã mất, những vỉa kim cương quí bỏ quên trong những ngọn núi lửa tưởng chừng đã nguội lạnh.

Văn học miền Nam 54-75 (517): Nguyễn Xuân Hoàng (kỳ 5)

Không Một Ngọn Nến Nào Cho Ngày Sinh Nhật

Có phải là em đang ngồi nghe tôi nói đây không? Có phải chính là em đã lắp băng nhựa này vào máy? Có phải là em đã hồi hộp ngồi chờ đợi nghe xem nốt nhạc nào sẽ mở đầu cho cuộn băng bởi vì em đã tìm kiếm khắp nơi, lật qua lật lại mặt trước mặt sau chiếc hộp bằng bìa cứng mà không thấy được tờ mục lục ghi những bài hát tựa là gì và sẽ do những ai trình bày.

Thư bày tỏ quan ngại về các cáo buộc đối với Giáo sư Chu Hảo và Nhà Xuất bản Tri Thức / Statement of Concern over Accusations Directed at Chu Hảo and the Knowledge Publishing House (Nhà Xuất Bản Tri Thức)

Kính gửi: Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

Ông Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam

Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

Đồng kính gửi: Các Đại sứ quán nước ngoài tại Hà Nội

Kính thưa quý vị,

Chúng tôi, những người ký tên dưới đây, là các học giả, các giáo sư và nhà nghiên cứu, những người đã dành phần lớn sự nghiệp và cuộc sống của chúng tôi cho việc nghiên cứu Việt Nam. Đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu trên khắp thế giới, chúng tôi thường đi đầu trong việc thúc đẩy sự hiểu biết về Việt Nam, cũng như việc học tiếng Việt và hợp tác giáo dục quốc tế. Là một phần của công việc này, chúng tôi thường xuyên tìm kiếm nguồn tài trợ và các cơ hội khác cho sinh viên và học giả Việt Nam đến thăm, học tập và làm việc tại các trường đại học, các khoa và các viện nơi chúng tôi nghiên cứu và giảng dạy.

Sách mới: Tôn giáo học từ nhiều cách tiếp cận

NXB Tri thức trân trọng thông báo tới Quý vị sách mới tháng 11/2018:

Tôn giáo học từ nhiều cách tiếp cận

Tôn giáo học từ nhiều cách tiếp cận

I. THÔNG SỐ SÁCH

Tên sách: Tôn giáo học từ nhiều cách tiếp cận ­­

Tác giả: Peter Connolly (chủ biên)

Dịch giả: Chu Tiến Ánh

Số trang:  440 trang

Khổ sách: 16 x 24 cm

Loại sách: bìa mềm

Giá bìa: 130.000 VNĐ

II. GIỚI THIỆU SÁCH

1. Các tác giả

Peter Connolly đã giành nhiều văn bằng về nghiên cứu tôn giáo tại Đại học Lancaster (Cử nhân (BA), Cao học (MA), Tiến sĩ (PhD) và văn bằng đại học khoa học tâm lí (BSc) tại Đại học Mở). Ông hiện là giảng viên chính về khoa học tôn giáo tại Viện Cao học Chichester, phụ trách giảng môn Tâm lí học tôn giáo, Tôn giáo và đạo đức Ấn Độ tại Viện này. Trong số các xuất bản phẩm gần đây của ông, có “Vitalistic antecedents of the Atman - brahman concept” đăng trong P. Connolly and S. Hamilton (eds) Indian Insights: Buddhism, Brahmanism and Bhakti (1997), và “Hypnotic drinensions of religions worldviews” DISKUS 3, 1995. Ông đang nghiên cứu các đặc điểm thôi miên của thể nghiệm thực tiễn tôn giáo và tín ngưỡng tôn giáo của các nhà khoa học Anh. Ông đã kết hôn và sinh được hai con gái.

Clive Erricker là giảng viên và Hiệu trưởng Trường Tôn giáo và thần học trực thuộc Viện Cao học Chichester. Ông là tác giả và chủ biên nhiều công trình nghiên cứu tôn giáo và giáo dục tôn giáo. Trong số các xuất bản phẩm gần đây nhất của ông, có The Education of the Whole Child (1997); Buddhism, Teach Yourself Series: World Faiths (1995); (chủ biên và tác giả) Teaching Christianity: A World Religions Approach (1994); và (chủ biên và tác giả) Teaching World Religions (1993).

Rob Fisher là chỉ đạo viên Đại học thần học tại Westminter College, Oxford, tại đây ông giảng triết học và thần học. Ông quan tâm nghiên cứu ba lĩnh vực: thuyết biện thần (theodicy) với vấn đề cái ác và nỗi khổ; con người và bản sắc con người; hành động của Thượng đế tại thế giới. Ông là tác giả sách Becoming Persons (1995) và Persons, Identity and Suffering (1998). Ông cũng là người sáng lập Hiệp hội nghiên cứu con người.

David N. Gellner là giảng viên chính về nhân học xã hội tại Đại học Brunel, London. Các xuất bản phẩm của ông bao gồm Monk, Householder, and Tantric Priest: Newar Buddhism and its Hierarchy of Ritural (1992); (đồng chủ biên với Declan Quigley) Contested Hierarchies: A Collaborative Ethnography of Caste among the Newars of the Kathmandu Valley, Nepal (1995); và (đồng chủ biên với J. Pfaff - Czarnecka và J. Whelpton) Nationalism and Ethnicity in a Hindu Kingdom: The Politics of Culture in Contemporary Nepal (1997). Ông đã cho công bố nhiều bài viết về nhiều khía cạnh tôn giáo, nghi lễ, xã hội và sắc tộc ở Nepal. Đợt khảo sát điền dã chủ yếu của ông tiến hành hơn hai năm từ 1982 đến 1984, và sau đó ông nhiều lần quay lại Nepal. Năm 1991, ông thực hiện công trình nghiên cứu khảo sát về giới tăng lữ Phật giáo tại Nhật Bản.

Sue Morgan đã bảo vệ học vị tiến sĩ (PhD) tại khoa Thần học và nghiên cứu tôn giáo Đại học Bristol và đang giảng môn lịch sử nữ giới tại Viện Cao học Chichester. Bà đã cho xuất bản nhiều bài viết về thần học nữ quyền và nhiều chương sách tiền phong về lịch sử nữ giới và lịch sử tôn giáo, trong đó có “The power of womanhood: religion and sexual politics in late - Victorian moral reform” (Quyền năng của nữ giới: chính sách tôn giáo và giới trong cuộc cải cách tinh thần thời hậu kì nữ hoàng Victoria) đăng trong Women of Faith in Victorian Culture: Reassessing “the Angel in the House” (1998) do Anne Hogan và Andrew Bradstock chủ biên; và “Knights of God: Ellice Hopkins and the White Cross Army, 1883-1895”) (Các hiệp sĩ của Thượng đế: Ellice Hopkins và đoàn quân Chữ Thập trắng thời gian 1883-1895) đăng trong Gender and the Christian Religion: Studies in Church History (1998) (Giới với đạo Cơ Đốc: nghiên cứu về lịch sử giáo hội). Bà đang nghiên cứu về ý nghĩa giá trị của diễn ngôn tôn giáo trong bản sắc giới thời hậu kì nữ hoàng Victoria.

Michael S. Northcott là giảng viên chính tại khoa Đạo đức Cơ Đốc giáo và Thần học thực hành tại Đại học Edinburgh. Ông đã giảng dạy xã hội học tôn giáo ở Đại học Sunderland tại Kuala Lampur, Malaysia, ở Đại học Edinburgh, và đã cho xuất bản nhiều báo cáo và chuyên đề về tác động qua lại giữa tôn giáo với xã hội tại Anh và Đông Nam Á, trong đó có khảo sát thực nghiệm về tình hình các mục sư làm việc tại các khu công nghiệp và giáo xứ nông thôn Đông Bắc nước Anh, dưới nhan đề The Church and Secularisation (1989) (Giáo hội với thế tục hóa). Chuyên đề gần đây nhất của ông là The Environment and Christian Ethics (1996) (Môi trường với đạo đức Cơ Đốc giáo). Ông đang tham gia nghiên cứu đạo đức tôn giáo toàn cầu và kinh tế toàn cầu.

Frank Whaling là giáo sư tôn giáo học ở Đại học Edinburgh, tại đây ông bắt đầu giảng dạy từ năm 1973. Ông được đào tạo về sử học ở Christ’s College và Wesley House tại Cambridge, về tôn giáo so sánh ở Đại học Harvard. Ông giành học vị tiến sĩ ở các Đại học Cambridge và Harvard. Tính gộp lại, ông đã biên soạn và chủ biên 12 sách, trên 70 báo cáo và hơn 80 tổng quan đề cập tới các lĩnh vực: tôn giáo Ấn Độ, tôn giáo so sánh, thần học của tôn giáo, phương pháp luận nghiên cứu tôn giáo, lịch sử tôn giáo và nghiên cứu về đạo Cơ Đốc. Ông cũng rất lưu ý tới các lĩnh vực đối thoại giữa các đức tin, giáo dục tôn giáo và các vấn đề toàn cầu hiện nay.

2.Tác phẩm

Đây là cuốn sách giáo khoa đầu tiên về Tôn giáo học ở bậc đại học tại các nước nói tiếng Anh. Nó trình bầy Tôn giáo học như một bộ môn đa phương pháp (Polymethodic discipline). Người nghiên cứu phải làm quen với những phương pháp tiếp cận của các bộ môn khoa học chủ yếu có liên quan đến việc nhận biết bản chất của Tôn giáo như cách tiếp cận nhân học, nữ quyền, hiện tượng học, triết học, tâm lí học, xã hội học và thần học.

Các tác giả giới thiệu từng cách tiếp cận trên đây, làm rõ lịch sử phát triển của mỗi cách tiếp cận, những đặc điểm của nó, những giải pháp mà nó đem lại, cùng những bất đồng và tranh cãi.

Cuốn sách không đóng lại, mà mở ra nhiều viễn cảnh, nhiều con đường tìm tòi, nghiên cứu về đời sống tâm linh, góp phần xây dựng một thế giới quan mới cần cho mọi sinh linh trên Trái Đất này.

3. Mục lục

Tôn giáo học trong giáo dục đại học hiện nay

Về các tác giả

Lời nói đầu

Dẫn luận                                                                                          

Peter Connolly

1. Những cách tiếp cận nhân học                                     

David N. Gellner

2.  Các cách tiếp cận nữ quyền                                            

Sue Morgan

3. Những cách tiếp cận hiện tượng luận                   

Clive Erricker

4. Những cách tiếp cận triết học                                      

Rob Fisher

5. Những cách tiếp cận tâm lí học                                  

Peter Connolly

6. Những cách tiếp cận xã hội học                                  

Michael S. Northcott

7. Những cách tiếp cận thần học                                    

Frank Whaling

--

Lien he: NHA XUAT BAN TRI THUC
Ban Truyen thong - Tang 1 - Toa nha VUSTA - 53 Nguyen Du - quan Hai Ba Trung - Ha Noi - Viet Nam
Dien thoai: (+84 4) 3944 7280 - Fax: (+84 4) 3945 4660
Email: nxbtrithuc@gmail.com, lienhe@nxbtrithuc.com.vn
Website: www.nxbtrithuc.com.vn - www.facebook.com/nxbtrithuc

Lên Fây

Trần Kiêm Đoàn

clip_image002

Hai cô đi chợ miền quê. Sau những chuyện trò nồi niêu soong chảo về mùa màng, làng nước cho đến khi rẽ vào hai đầu xóm chia tay, còn hẹn với:

- Tối về, lên “phây” gặp tao sẽ biết hết “mặt mày” của tụi nó!

Những ghi chép ở tầng thứ 14 (kỳ 1)

Những ghi chép ở tầng thứ 14 là tiểu thuyết gồm 15 chương của Thận Nhiên, với nhân vật là những người trẻ sinh ra/ lớn lên/ sống ở Hoa Kỳ nhưng đang có cuộc nghiệm sinh trên đất Việt Nam. Những gì tiếp nhận trong mỗi ngày sống của mình khiến những ký ức được truyền lại từ người thân đã rời bỏ Việt Nam được gọi dậy trong họ. Không có mặt và can dự vào quá khứ nhưng những người-Việt-một-phần này vẫn không thể ra khỏi những gì thuộc quá khứ bởi những gì đang xảy ra trong hiện tại…

Văn Việt xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

VĂN VIỆT

Bâng quơ mỗi ngày (kỳ 1)

Trần Tiến

…dừng bước nghĩ bâng quơ, rồi lại đi, lại đi

19-6-2018

1. Ngoài kia, những con sóng nhấp nhô, trông như những cái đầu của kẻ đắm tàu đang cố bơi vào bờ…

2. Ta sinh ra, như sóng sinh ra trên đại dương. Cố xô vào đá để chứng tỏ mình. Dẫu dịu dàng, mơn trớn. Hay bão tố thét gào, thì rồi cũng phải tan ra… như bọt bèo.

Giới thiệu sách mới: tiểu thuyết châm biếm “Đẻ sách”

Thông tin về sách

image

image

Đầu tháng Năm vừa qua, tiểu thuyết ĐẺ SÁCH đã được Người Việt Books (California) xuất bản và đang được phát hành toàn cầu qua mạng Amazon.com

https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8HYPERLINK "https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1525472277&sr=8-1&keywords=Do+Quyen+DE+SACH"&HYPERLINK "https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1525472277&sr=8-1&keywords=Do+Quyen+DE+SACH"qid=1525472277HYPERLINK "https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1525472277&sr=8-1&keywords=Do+Quyen+DE+SACH"&HYPERLINK "https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1525472277&sr=8-1&keywords=Do+Quyen+DE+SACH"sr=8-1HYPERLINK "https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1525472277&sr=8-1&keywords=Do+Quyen+DE+SACH"&HYPERLINK "https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1525472277&sr=8-1&keywords=Do+Quyen+DE+SACH"keywords=Do+Quyen+DE+SACHHYPERLINK "https://www.amazon.com/Sach-Vietnamese-Quyen-Do/dp/1987613554/ref=sr_1_1?ie=UTF8&qid=1525472277&sr=8-1&keywords=Do+Quyen+DE+SACH"

Nguyễn Hữu Liêm phác thảo một triết học về lịch sử nhân loại

Thuận Thiên

Lịch sử có một chủ đích tối hậu nào không? Đâu là quy luật vận hành cho lịch sử? Đây là hai câu hỏi siêu hình cơ bản mà con người ngày nay đã ngưng suy nghẫm về chúng. Khi mà Chúa Trời đã chết, khi mà cứu cánh luận chỉ là một dự phóng không tưởng, khi mà siêu hình học đã bị thay bằng triết học ngôn ngữ và phân tích luận, khi mà chân lý chỉ là những “siêu tự sự,” liệu triết học có còn dũng khí để thử đi tìm lại những nguyên lý cơ bản cho hiện hữu, cho lịch sử con người?

Hãy ngồi xuống đây! (kỳ 34)

NGÀY 11-9-2014

Những cái nhìn về “Đèn Cù

Hạ Đình Nguyên


Mỗi người đọc một cuốn sách đều phải đọc bằng con mắt sẵn có của mình, do đó, Đèn Cù cũng được đọc dưới những cặp mắt kính khác nhau.

Tôi nghĩ về câu chuyện “Người mù sờ voi”.

Đây là câu chuyện xa xưa, đã có từ rất lâu đời của nhiều dân tộc khác chứ không riêng của Việt Nam ta. Nó có cả trong sách kinh của Phật giáo, tức là rất lâu. “Người mù sờ voi” không phải câu chuyện có ý nghĩa tiêu cực, nhằm phê phán ai đó là thiển cận, là dốt nát. Nó có ý nghĩa rất tích cực và trung tính, không nhằm khen chê, phê phán. Nó nêu lên một chân lý khách quan, nói lên một cách nghiêm túc rằng, không ai có thể nhìn thấy được đích thật một sự vật, mà chỉ thấy một mảng nhỏ của sự thật qua nhãn quan của mình, giống như một người mù sờ vào một phần thân thể con voi.

Kiểm duyệt nghệ thuật

Vũ Viết Tuân

Nhà báo, VnExpress

Cách đây vài năm, họa sĩ Thành Chương vẽ bìa cho một tờ báo xuân ở Hà Nội, là bức tranh cô gái ngậm bông hoa, bay trong gió. Nhưng ngay khi phát hành, một quan chức văn hóa yêu cầu thu hồi toàn bộ số báo ấy, với lý do thành phố đang thực hiện nếp sống văn minh, tại sao lại đưa cô gái đầu tóc bù xù lên báo như vậy? Hơn nữa, cô gái ngậm hoa thế khác gì ngậm cỏ, ý nói đất nước khó khăn, nghèo đói, nên phải ăn cỏ à?

Phê bình kí hiệu học – Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ (kỳ 15)

Lã Nguyên

NGUYỄN MINH CHÂU VÀ NHỮNG TRĂN TRỞ

ĐỔI MỚI TƯ DUY NGHỆ THUẬT

1. Số phận văn chương của Nguyễn Minh Châu gắn liền với những bước đi cơ bản của nền văn học Việt Nam ở nhiều thời điểm lịch sử cụ thể. Nguyễn Minh Châu vào nghề rồi trở thành người bạn tinh thần tin cậy của đông đảo bạn đọc vào quãng những năm sáu mươi. Ở thời điểm ấy, nền văn học Việt Nam đã vượt qua một chặng đường dài, như mạch nước qua bao ghềnh thác nay đã hoá thành sông, có dòng chảy ổn định. Cùng với Cửa sông, Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi nhà, Nguyễn Minh Châu thả con thuyền văn chương của ông xuôi theo cái dòng chảy đang có sức cuốn hút mạnh mẽ ấy.

Là con đẻ của cách m

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 87): Mai Ninh – Ô-liu hoàng thổ

Chẳng ngờ tôi trở về với vườn ô-liu cằn cỗi mau chóng thế. Những cành cây toả tím trong ráng chiều đỏ sậm chiếu mặt biển, tím như bao nhiêu cặp mắt chong đứng nhìn tôi thẫn thờ xách hành lý bước lên chiếc cầu gỗ ở bến. Bà tôi trong tấm áo đen từ thuở nọ giơ cả hai cánh tay ra đón. Tôi lách người tránh né trước vẻ ngạc nhiên lẫn đăm đắm xót thương của từng ấy bộ mặt già nua nhập choạng lên nhau, gấp từng làn sóng lăn tăn lấn vào bờ. Rồi ngần ấy cái miệng viền vành môi nhăn nhúm, đã teo mỏng theo thời gian cùng mở ra thốt kêu: - Ô, Man, con bé Man. Đứa bé gái tám chín tuổi nắm tay mẹ đứng ở đầu tàu, nước mắt ròng ròng, nức nở: - Man không muốn đi, Man ở lại đảo với bà. Bây giờ thực ra nó chẳng lớn hơn bao nhiêu, chỉ vừa ngoài hai mươi. Nhưng với hai tròng mắt dã khô, nó biết, lần trở về này không hề để chạy nhảy trong khu rừng rậm rì bọc núi hay vẫy vùng lặn tìm san hô trong lòng biển.

Nỗi sợ quan trên

(Rút từ facebook của Đỗ Ngọc Thống)

Theo ông Bá Dương (*), Trung Quốc có lịch sử 5.000 năm. Trong 5.000 năm ấy, lực lượng phong kiến chà đạp lên phẩm giá, nhân tính con người ngày một gia tăng.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, vua và quan còn gần như cùng ngồi ngang hàng nhau, có thể nói nằm cùng giường, ăn cùng mâm. Đến thời Tây Hán, thế kỷ thứ II trước Công nguyên, nghi lễ triều đình được đặt ra, biến đế vương thành một thứ quyền uy, không những rất trang nghiêm, cung kính mà còn làm cho mọi người khiếp sợ.

Tại sao Chu Hảo?

Lê Phú Khải

Vừa ngồi xuống chiếc ghế đối diện với tôi trong một quán bia hơi gần trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam ở đường Nguyễn Đình Chiểu - Hà Nội, đạo diễn nghệ sỹ nhân dân Trần Văn Thủy liền đập tay xuống bàn quát lớn:

- Tại sao (là) Chu Hảo? Tại sao Chu Hảo?!! Tôi và ông còn “phản động” hơn Chu Hảo nhiều chứ?!...

Đọc trước mộ cha Alexandre de Rhodes ở Isfahan, Iran

Hoàng Minh Tường

(nhà văn)

Ngày 5/11/2018

Thưa Cha,

Ở Việt Nam có một đường phố mang tên Ngài, đường Alexandre de Rhodes, ở trung tâm Sài Gòn, tức thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. Trước đó cả thế kỷ, ở trung tâm Hà Nội, thủ đô của nước Việt, có một tấm bia vinh danh Ngài bên Hồ Gươm, tiếc rằng, do giặc giã, đã bị thất lạc.

Thơ Nam Nguyên

CÔ ĐƠN


Giá như có một cây cầu nổ tung
Để tôi đi qua, rơi xuống
Phía dưới đầy loài cá ăn thịt
Một con to khỏe chờ ngoạm cái đầu
Và đàn bé xíu đua nhau rỉa thân thể
Đáng sợ hơn là tôi không hề chết
Phải từ từ cảm nhận cơn đau
Nhìn cơ thể con cá lớn kia, qua cuống họng nó
Tay vùng vẫy liên hồi, nước xộc đầy mũi
Tôi gọi tên cha mẹ mình
Tôi gọi tên người yêu tôi
Gọi tên gã trai vừa leo lên người tối qua, với đủ mọi tư thế
Tôi gọi tên thầy giáo, bạn bè cũ
Không ai đáp trả
Sau cùng, tôi nhìn lên bầu trời
Phía dưới cây cầu sụp đổ, một đàn chim bay ra
Một con màu đen, một con màu trắng
Một con cất tiếng kêu xé lòng nhìn tôi
Một con khóc thương, một con ngất xỉu
Tuyệt nhiên, không con nào bay đến đây cả

Văn học miền Nam 54-75 (516): Nguyễn Xuân Hoàng (kỳ 4)

DƯỚI TÀN CÂY TRỨNG CÁ

CHIẾC G.M.C. THẢ CHÚNG TÔI XUỐNG Ở MỘT NGÃ TƯ. Buổi sáng nắng đã gắt. Phố xá chói chang trong lớp bụi mủ. Chúng tôi dùng cà-phê ở một quán cóc góc đường. Biên và Đồng đứng lên trước chia tay tôi một cách vội vã sau khi đã hẹn giờ và địa chỉ gặp nhau để trở về doanh trại. Tôi thấy Đồng chặn chiếc tắc-xi từ xa và cả hai ngồi trên xe đi ngược chiều con đường dẫn đến nơi làm việc. Đồng lái một người ít nói, hai con mắt nhỏ của anh nằm dưới lớp kính cận để Iộ cái nhìn ngơ ngác của một người lạc lõng, khó thích ứng với hoàn cảnh mới, với bầu khí còn lạnh lẽo chưa đủ độ nóng ấm cần thiết của sự thân thuộc. Những đường nét mù mờ ở cặp chân mày, sống mũi, chiếc miệng và cả khuôn một anh, cùng với dáng đi hơi chậm chạp, nặng nề (dù anh gầy, khá gầy để có thể gọi là ốm yếu) vai phải bị lệch hằn một bên, đầu chúi về phía trước, giọng nói chậm hơi mắc quãng ở những chữ giữa câu... làm như có một cái gì đó nơi anh còn đang tạo thành, chưa xong, chưa dứt. Đồng lái một họa sĩ, Biên cũng vậy (nhưng tôi là người không thấu được vẻ đẹp của những bức tranh). Tôi thấy cả hai dầm mình trong công việc vẽ và viết như những tín đồ đam mê quá độ Thượng-đế của mình. Nhưng ở Biên có nhiều điểm khác biệt với Đồng, nơi mái tóc anh, nơi cái nhìn soi mói của đôi mắt một mí anh, nơi những sợi râu cứng trên mép anh, nơi điệu bộ quá nhanh nhẹn đến có phần lấc cấc của anh, cùng giọng nói nửa Bắc nửa Trung của anh, cái gì cũng đậm, cùng rõ, củng đến, cũng tới, cũng phân minh mạch lạc, anh ưa châm chọc người này, đùa cợt kẻ khác bằng một thứ ngôn ngữ đảo ngược, bẻ quắp, thả bung như một mũi tên. Tôi nghĩ có lẽ anh là một trong số rất ít những người trong thành phố chúng ta ngày nay còn có thể biết cười và làm cho kẻ khác cười (hay giận?) được trong một hoàn cảnh chẳng đấng cười (hay đáng giận ?) bao nhiêu. Còn lại mình tôi đứng trên lề dường, giữa đám xe cộ ngược xuôi, người ngợm qua lại. Tôi nhìn xuống mũi giày tôi và thấy mình lẻ loi. Bộ quần áo kaki màu rêu trên người, chiếc bảng tên may sát vào túi ào bên mặt, một chiếc bảng khảc ghi danh số bên túi trái, cả hai đều màu vàng — một thứ màu vàng lưng chừng, không tối không sáng, làm nền cho những chữ và số màu đỏ chói, tất cả đều có vẻ buồn cười, khi nằm chồng lên nền áo màu rêu xanh. Tôi cúi xuống, buộc lại dây giày, nắn lại cổ áo, vuốt lại nếp túi, phủi những bụi bán trên quần, và không một dự định nào trong đầu, tô gọi chiếc tắc-xi trống vừa trời tới. Tôi sẽ làm gì với số giờ nhỏ nhoi còn lại trong tay? Đi đâu bây giờ? Người tài xế cho xe chạy chậm dò hỏi, và mãi một chập sau tôi mới nói được với ông ta cái địa chỉ mà tôi muốn tới (chứ không phải cái địa chỉ mà tôi phải tới, phải tạt qua trong khoảng thời gian bốn giờ đồng hồ còn lại cho một ngày xuất trại).

Bầu cử Mỹ: Ai thắng? Ai bại?

Tạp bút Từ Thức

Phòng phiếu đã đóng cửa ở Mỹ. Cả hai phe Cộng Hòa, Dân Chủ đều cho mình đã thắng. Sự thực, kết quả không phải là “một thắng lợi ngoài sức tưởng tượng”  như Trump quả quyết, cũng không phải là “làn sóng xanh” (màu tượng trưng cho đảng Dân Chủ) như phe đối lập mong đợi. Hạ viện rơi vào tay Dân Chủ. Thượng Viện vẫn ở trong tay Cộng Hòa.

Mỗi phe có lý do để nói mình thắng, hay có lý do để thất vọng.

Hai ngộ nhận về Nhật Bản

Phạm Nguyên Trường


Ngộ nhận 1: Cho rằng Nhật Bản và Việt Nam là những nước đồng văn.

Đúng là trong một thời gian dài người Việt Nam và người Nhật Bản đều học Hán văn và dùng chữ Hán để ghi chép.

NHƯNG:

Fujiwara Masahico, trong tác phẩm Phẩm cách quốc gia, viết: “Chỉ cần nhìn vào văn học, nơi thể hiện mức độ trưởng thành của văn hóa cũng không đếm hết được các tác phẩm như Vạn diệp tập, Cổ kim tập, Makura no Soshi, Câu chuyện Genji, Tân cổ kim tập, Phương trượng kí, Tsurezuregua… Tôi nghĩ rằng nếu so sánh các tác phẩm văn học ra đời trong 10 thế kỉ này thì số lượng và chất lượng của các tác phẩm văn học do một nước Nhật sản sinh ra còn có ưu thế về số lượng và chất lượng hơn cả các tác phẩm do toàn bộ châu Âu cộng lại”( trang 16-17). Số tác phẩm do người Việt Nam làm ra ít đến nỗi chẳng muốn thống kê.

Nguyễn Xuân Hoàng: những bước đi trần gian/những nhịp đập thời gian

Bùi Vĩnh Phúc

Nguyễn Xuân Hoàng đang đồng hành cùng bệnh tật và những cơn đau. (Sarcoma, cái tên quái quỷ đó. Cái tên quái quỷ đang vật lộn với người bạn của ta, và ngươi có vẻ như đang nắm chắc phần thắng!). Cuộc đời của mỗi người và của mọi người, nhìn ở một góc cạnh nào đó, đều là những cuộc đồng hành như thế. Những cơn đau và những thử thách. Chúng như những con dấu đóng xuống tấm thông hành của con người. Con người, như một hữu-thể-tại-thế/một hữu-sinh-tại-thế (Dasein/Être-au-monde), bước vào đời như bước xuống tầu. Để ra khơi lớn. Để đón lấy gió bão và mưa sa quất đập trên mặt mày và thân xác nó. Nếu là một con người quả cảm, hắn sẽ vươn ngực chống đỡ. Và bắt tay với định mệnh mình. Mà không phải những gió bão và mưa sa ấy chỉ quật đập trên mặt mày và thân xác ta, chúng còn dồn dập thổi những hơi dài buốt lạnh trong tâm hồn. Lúc ấy, những sức mạnh tâm linh trong con người sẽ bùng dậy, như một tấm áo tơi giúp hắn che chắn phần nào những gió rét và mưa giông. Và có những con người, lúc ấy, đã dùng văn và thơ, những sức mạnh mà Trời Đất trao ban cho hắn, để đứng vững trước cuộc vây khổn của đời. Tôi lại nhớ đến Phùng Quán: Có những phút ngã lòng / Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy. Câu thơ ấy có thể khúc khuỷu, sần sùi, già nua, nứt nẻ, và đen bóng mầu thời gian, nhưng nó vẫn là một câu thơ nâng ta đứng dậy.

Thông báo tạm hoãn buổi seminar "Trí thức và Trí thức nhân dân"

Quý vị thân mến!
Như chúng tôi đã thông báo, buổi seminar "Trí thức và Trí thức nhân dân" được tổ chức vào 14h ngày thứ Sáu 16/11/2018. Tuy nhiên, số người đăng kí tham dự nhiều hơn so với dự kiến, NXB Tri thức cần thu xếp địa điểm phù hợp với nhu cầu và điều kiện cho buổi seminar, vì vậy chúng tôi xin tạm hoãn.

Hà Nội

Song Thao

Tôi xa Hà Nội năm tôi 16 ngơ ngác như một con ngỗng đực. Hà Nội mà tôi mang theo khi rời xa chỉ là những thứ vụn vặt cùng mằng.

Năm đó tôi đang học lớp Đệ Tứ trường Dũng Lạc, ngay bên hông nhà thờ chánh tòa mà dân Hà Nội ngày đó gọi là nhà thờ Lớn. Hà Nội của tôi nằm trên con đường từ nhà ở bên hông chợ Hôm tới trường và vùng phụ cận. Dọc đường tới trường có đường tàu điện mà chúng tôi thỉnh thoảng quá giang không mất tiền. Không phải đây là loại tàu thí mà vì chúng tôi gian! Tàu có vài toa, mỗi toa có người bán vé đi dọc trong toa. Người này cầm một tấm bảng lớn hơn tập vở trên đó có cái thanh giữ những tập vé dày cộm. Vé nhỏ bằng hai đốt ngón tay có nhiều màu trông rất vui mắt, mỗi màu là một chặng đường. Khi mua vé, người bán sẽ xé vé đưa cho người mua, cùi vé vẫn dính vào thanh ngang. Thường thì ba mẹ tôi vẫn cho tiền mua vé tàu đi học mỗi ngày nhưng ngày đó chúng tôi đã biết quý đồng tiền nên chẳng dại gì mà đưa tiền cho người bán vé. Chúng tôi đi tàu quịt bằng cách tử tế nhất là xin những chiếc vé còn giá trị cho đoạn đường kế tiếp của những hành khách xuống tàu hoặc, bặm trợn hơn, nhảy tàu đang chạy, hay truyền từ toa tàu này qua toa khác để tránh ông soát vé. Tiền đó chúng tôi làm văn hóa bằng cách đưa cho cô hàng sách để nhận một tập giấy 32 trang, khổ sách in, truyện kiếm hiệp như Long Hình Quái Khách hoặc Hỏa Thiêu Hồng Liên Tự hoặc truyện trinh thám của Phạm Cao Củng hay truyện đường rừng của Lê Văn Trương được in cóc nhẩy vài ngày một tập, mỗi tập chỉ đúng có 32 trang. Đọc vèo một cái là xong, mong chờ từng ngày để đọc tiếp. Ngày nào cũng phải tạt qua tiệm sách, chăm chú đọc tấm bảng đen viết bằng phấn trắng thông báo truyện mới ra ngày hôm đó. Tôi khá Việt văn chắc là nhờ những tập giấy 32 trang này. Đọc xong, đóng thành tập bằng cách dùng chỉ khâu lại. Tập sách này giúp chúng tôi làm thương mại bằng cách cho bạn bè thuê. Bạn bè cùng lớp toàn những thứ đứng hàng thứ ba sau quỷ và ma nên việc buôn bán này luôn bị trục trặc gây nên những cuộc cãi vã chửi bới và có khi trầm trọng hơn phải vận dụng tới chân tay. Nhiều khi chúng tôi xa rời văn chương để dùng tiền mon men tới những tấm truyện bằng hình tarzan hoặc zorro, chữ thì ít, hình thì nhiều nhưng có thể dùng làm đơn vị tiền tệ trong những trận đánh quay, đánh khăng hoặc bắn bi, đánh đáo.

Cho thời gian đã mất

Sáng tác & trình bày: Tuấn Khanh

Có khi / tôi / sẽ không quay trở lại / Sài Gòn
Linh hồn tôi / đã bay / theo / quá khứ
Có khi / tôi / sẽ không quay trở lại / ngày thường
Lối nhỏ / mặt người / đã mờ trong trí nhớ

Hãy ngồi xuống đây! (kỳ 33)

NGÀY 12-6-2014

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trở thành thái hậu Dương Vân Nga, tại sao không?

Hạ Đình Nguyên


Đây không phải là cách nói đùa về chuyển hóa giới tính, mà là chuyện nghiêm túc về một hành vi cao cả có thật, lưu truyền muôn đời trong lịch sử dân tộc Việt của Thái hậu Dương Vân Nga, rất đáng cho hậu thế noi gương.

Thái hậu Dương Vân Nga

Khi vua Đinh Tiên Hoàng cùng người con trưởng là Đinh Liễn đột ngột băng hà vì bị Đỗ Thích ám sát sau một cuộc rượu, thì triều đình rơi vào rối loạn, quần thần ngơ ngác, chia rẽ, chỉ còn Thái hậu Dương Vân Nga là đại biểu quyền lực cao nhất.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 86): Mai Ninh – mây một ngày

Mai Ninh-001[4]

Tên thật là Nguyễn Mai Ninh, sinh và lớn lên ở Sài Gòn. Được học bổng du học của chính phủ Pháp năm 1968. Mười năm sau lấy bằng Tiến sĩ Kỹ sư và năm 1982 lấy bằng Tiến sĩ quốc gia về Vật lý.

Làm nghiên cứu viên khoa học, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Khoa Học Quốc Gia Pháp (CNRS).

Mai Ninh đã viết một số bài khoa học đăng trên các Tạp chí trong và ngoài nước. Bắt đầu cầm bút sáng tác văn chương khoảng những năm 1990. Cộng tác với các tạp chí: Kiến Thức Ngày Nay, Tia Sáng, Sông Hương, Hợp Lưu, Văn, Văn Học, Diễn Đàn...

Đã xuất bản:

Hợp Âm trong vùng sân khuất (NXB Thời Mới, Canada, 2000)

Ảo Đăng (NXB Hội Nhà Văn, 2003)

Cá Voi trầm sát (NXB Trẻ, 2004)

Dậy đi Rối ơi (NXB Phụ Nữ, 2010)

Tất cả những tác phẩm của Mai Ninh được tập hợp lại trong www.amvc.free.fr và có một số hiển thị trên E.E - Emprunt Empreinte - Mượn Dấu Thời Gian phannguyenartist.blogspot.com

mây một ngày

Ba hồi chuông ngân dài đánh thức tôi vào năm giờ sáng. Mây vẫn ngủ say, nằm nghiêng người, đầu gối lên cánh tay tôi không biết tự lúc nào. Đỡ nhẹ đầu Mây đặt xuống nệm, tôi tìm chiếc áo rơi trên sàn mặc vào, rồi bước khỏi giường. Cánh cửa ra hiên vẫn mở suốt đêm, hôm qua trời vô cùng nóng bức và mãi về đêm, mưa xuống.  Hương gió man mát thơm thơm mùi trầm quen thuộc thường thoảng qua căn phòng này vào sáng sớm. Cánh tay Mây đã gối đầu đâm nhưng nhức và một cảm giác hâm hấp ướt từ bụng kéo dính làn áo lụa mỏng manh. Ngoài hiên, bụi mưa còn đậu lại trên những thành gỗ ban công, tôi hít thở thứ hơi ẩm dịu dàng. Chỉ mới vài ngày về ở căn phòng vợ chồng người bạn cho mượn, tôi đã có thói quen dậy sớm vào lúc chuông chùa đổ lần thứ nhất.  Không gian khi ấy tĩnh mịch, hương nhang lẫn mùi cây lá từ vườn dưới đưa lên mê hoặc tôi ngay tự buổi đầu. Trước mắt tôi, một ngôi chùa cũ xưa giữa một thành phố ồn ào hỗn độn từ đường xá, kiến trúc tới cách sống với con người là một điều lạ. Chắc cũng chẳng ai thấy chướng ngại gì khi có chiếc ban công ngang nhiên vô lễ nhìn xuống các tượng Phật trầm tư trong sân chùa như vậy. Tôi dựa vào khung cửa, cây bàng cạnh hàng rào vươn tới tận tầng lầu tôi đứng với những chiếc lá to bản đã xanh mướt đi nhờ tắm đẵm sạch sẽ sau cơn mưa. Một cành xòe ngang góc mái chùa ngói phủ kín rêu xanh, như thể lá đã che không cho nắng lọt xuống đấy bao giờ. Tất cả lắng im, chưa tiếng rao hàng, chưa tiếng honda bình bịch trong khu xóm chung quanh, cơ hồ có thể nghe ra cả hơi thở Mây đều đều sau tấm màn the phơ phất, cùng với nước róc rách trong hòn non bộ giữa sân chùa. Mọi thứ ở đó đều cũ kỹ đều mọc rêu nâu, xanh ủng, từ hòn núi nhỏ tới những chùm cây, thỉnh thoảng mới hé ra vài ánh sứ sành xanh ngọc hay trắng ngà của màu áo tiên ông hay ngư nhân thả thuyền câu cá. Xa hơn, sau hòn non bộ, qua mấy thước gạch tàu đỏ đã mòn trũng là những cánh cửa gỗ đưa vào chính điện, chúng hãy còn khép kín. Vậy mà nơi bốn góc sân, những miễu thờ đã bốc khói nhang.

Mùi hoa sứ nhè nhẹ dâng lên cùng cảm giác mệt mỏi, tôi định trở vào với Mây, bỗng cánh cửa nhỏ phía trái gần gốc cây bàng kèn kẹt. Một ni cô vắt chiếc khăn trắng trên vai, tay xách cái chậu đi đến vòi nước cạnh hòn non bộ. Tôi nhìn sững vào màu áo vải nâu nổi bật cần cổ trắng, mắt tự nhiên hoa lên, tôi ngoảnh vào phòng, hơi thở nghẹn. Mây đã nằm ngửa lại, một cánh tay thả lỏng bên thành giường, ngực nàng thênh thang tốc khỏi tấm ra xanh đậm. Mây, Mây ơi, ra coi cô Ba, cô Ba đã ngủ dậy đang giặt đồ trong sân. Tôi gọi Mây rối rít, hình như có tiếng xe gắn máy của người đàn ông vừa ra khỏi nhà cô Ba bằng ngõ sau, khuất hẳn tầm nhìn từ chiếc ban công này. Cây gòn sừng sững trước ngõ nhà cô tới kỳ nở hoa, những đám bông trắng bay lùng bùng theo gió, lọt vào tận căn gác phòng tôi, bám trên bệ cửa. Nụ bông to, trắng tròn điểm hột gòn như ngực Mây với núm vú đang phơi bày bung mở. Mây không dậy ra xem, Mây ú ớ dùi mặt vào gối, tay quờ quạng tìm kiếm. Mây không ra nhìn cô Ba vò quần áo trong cái chậu nhôm đầy bọt xà phòng, mái tóc cô vừa gội ướt rượt đen nhánh. Mây vẫn thích ngó cô Ba những lúc ấy, Mây cười nháy mắt, hai lúm đồng tiền xoáy hẳn vào, vành môi trễ xuống. Sao chỉ một ngày mà cổ xài nhiều quần lót thế hở mày? Ừ, phải, trên giây phơi, tôi và Mây cùng đếm ba bốn sáu bảy chiếc quần nhỏ đủ màu ren rua đong đưa. Cô Ba đứng dậy rũ rũ mớ áo quần vừa vắt. Ni cô rửa mặt xong lê tiếng guốc, cánh cửa nhỏ lại kèn kẹt khép. Cô Ba đã vào nhà và sắp sửa trang điểm. Chiều chiều, có khi cô trở ra sân, điếu thuốc lá hững hờ trên ngón tay. Giữa ánh nắng cô khác hẳn, rực rỡ hơn với mái tóc bới cao bỏ rớt lại vài sợi trên cần cổ, vẫn trong bộ quần áo đen muôn thuở nhưng môi son và móng tay đỏ chót. Tối tối nhìn sang, cô đã đóng chặt cửa liếp, kéo cả màn che, nhưng ánh đèn vẫn lọt ra ngoài vừa mang vẻ thân mật quyến rũ lẫn bí ẩn. Tôi còn quá ngây thơ, chưa hiểu mấy chuyện gì sau cánh cửa, Mây chẳng lớn hơn nhưng tỏ vẻ rành rẽ, thầm thì vào tai khiến tôi đỏ mặt.

Tôi nhắm mắt lại rồi mở ra. Không còn sân nhà cô Ba, chỉ là vườn chùa ươm màu quá khứ u uẩn. Hoa gòn, cô Ba và thời gian mất bóng. Tôi thở ra, vào nằm cạnh Mây. Như thấy hơi người, Mây quay sang ôm chầm lấy tôi nhưng rồi bất động. Gương mặt Mây đằm thắm hiền hòa hơn đêm qua, hơn cả hôm tôi về gặp Mây lần đầu. Không hiểu Mây mơ gì mỉm cười vu vơ. Tôi cúi hôn rèm mi Mây cong vút, hai hạt nước trào ra từ khóe mắt.

***

Khi chiếc taxi đưa chúng tôi vào đến thành phố, Mây đã có vẻ mệt. Thủ-Đức Sàigòn có vài cây số nhưng ngang Hàng Xanh, chẳng biết bao nhiêu ngả mà xe cộ quay mòng, tưởng không bao giờ có được lối ra. Trước đó, trên đường về Mây ngồi không yên, chồm người ra trước, nhỏm nhìn sang bên. Thỉnh thoảng xe chạy sát những chiếc honda, Mây ngó chăm chăm vào mặt người đàn ông đang lái, rồi lắc đầu. Khi thì gần như sự thất vọng dịu dàng. Không phải ảnh, ảnh không đeo kính như ông này! Lúc Mây nổi cáu than phiền. Không giống hắn chút nào, sao ít đàn ông coi được như hắn vậy Vân? Tôi chỉ biết ậm ừ cho qua. Nhưng Mây xem vậy chẳng vừa, ngoảnh lại giương mắt bĩu môi. Sao Vân không thèm nói gì, từ ngày đi Tây đâm mềm èo như cọng nui! Tôi bật cười trước câu véo von của Mây. Mà cũng lạ, sau bao nhiêu năm xa cách, tôi đã thay đổi những gì để đến nỗi một người như Mây tự nhiên đổi cách xưng hô, không còn mày tao như hồi trẻ dại.

Sau khi ăn xong bữa cơm của bà cụ dưới lầu mang lên, Mây có vẻ tỉnh người, ngồi đong đưa chân trong chiếc ghế bành kê cạnh cửa. Từ trưa, trời oi và đứng gió, ấm ức mãi một cơn mưa chưa hả được. Chiếc quạt trần đẩy xuống hơi mát gượng gạo, thỉnh thoảng lay nhẹ hai tấm màn vải the thành lượn sóng. Mây đưa lưng bàn tay vuốt theo đùa nghịch. Mây cười. Tôi đem đến chiếc khăn ướt chùi mặt, Mây lẳng lặng cầm rồi vụt ném cao, chiếc khăn bay qua ban công rơi độp xuống sân chùa. Tôi vội vàng khép cửa. Mây dãy nảy nóng nóng, hai tay nắm ngay vạt áo giựt mạnh, hai hàng nút bóp bựt ra, Mây không có sú chiêng, lộ tung nửa người. Tôi qùi xuống cài áo, Mây bỗng chụp lấy bàn tay tôi áp vào ngực mình xoa xoa. Tôi rút tay ra nhưng Mây càng giữ chặt rồi cầm lên mân mê tròn tròn từng ngón, từ ngón cái tới ngón đeo nhẫn. Không khí hầm hập chùng nặng hơn như hơi thở Mây, trong khi tôi nghe rõ từng tiếng đập trong ngực mình. Cuối cùng Mây chọn ngón tay trỏ của tôi, vuốt ve quanh đầu ngón rồi cúi xuống cho vào miệng, đôi môi chụm lại, vẫn đầy nét như năm xưa. Sao lại thế, sao thế được Mây ơi. Người tôi vừa run mà bầu ngực căng cứng, hai đầu gối qùi trên sàn như muốn vỡ vụn. Tôi mất thăng bằng chúi người vào Mây, nàng không để ý, mắt vẫn mở nhưng chẳng biết thấy gì chăng. Vài sợi tóc mai vương vấn hai bên thái dương đập phập phồng, Mây mải mê chậm rãi đẩy lưỡi vẽ quanh ngón tay tôi những đường tròn âu yếm. Từ bụng Mây bốc lên một thứ mùi nồng ngái không định được, mùi cỏ, mùi xà phòng rẻ tiền, mùi mây tre hay của đất bùn nắng gió ngoại ô.

Tôi vùng giật tay ra, đứng dậy kéo Mây theo. Tối rồi, đi tắm. Mây thảng thốt chùn lại. Tôi dỗ dành. Đi tắm rồi đi ngủ.  Mây chợt nghe ra gục gặc đầu, dựa dính người và ôm sát cổ tôi, dịu dàng ẻo lả, nói như hát. Ngủ đi ngủ đi, ngủ sau cơn mưa ướt đẫm đời, sau cơn mưa móc. Vào tới phòng tắm, tôi giúp Mây cởi áo, nàng để yên ngoan ngoãn. Vừa vặn vòi nước, Mây ra dấu chỉ về phiá cửa xua tay, ý đuổi tôi. Mây tắm một mình được chứ? Nàng gật gật và đẩy mạnh tôi ra. Lòng chẳng yên, tôi bật chiếc truyền hình, đã tới giờ tin tức. Bên kia, thế giới của tôi đang bừng bừng sôi động, Gorbatchev tuyên bố perestroïka, nơi bức tường Bá Linh người ta tiếp tục reo hò đập ra từng hòn gạch. Bên này, vài hình ảnh chớp qua mau chóng quá, như những lằn sét loé nhanh ngoài trời. Tôi bước ra ban công, hy vọng tìm ngọn gió để dịu đi những bứt rứt kỳ lạ trong người. Một đường chân trời hẹp, đỏ ối đằng xa, cắt ngang bầu mây đen chùng thật thấp trên những khu xóm nhấp nhổm quanh đây. Cạnh ngôi chùa, vài cái cửa gỗ bong sơn cao thấp mở ra một con ngõ không rộng hơn một thước. Mấy mái tôn rỉ sét gập ghềnh chồng chất, chúc xuống con hẻm cùng những mảng ngói chênh vênh hỗn độn. Hẻm quá chật nên vắng người qua lại. Ngọn đèn vàng lù mù lơ lửng đong đưa trên sợi dây điện trần trụi, giăng ngang giữa hai cọc cây. Một người đàn bà mặc áo vải hoa ló ra từ một trong những cái cửa nhỏ, quẹt quẹt đôi dép nhựa vào hòn gạch ở thềm rồi đội chiếc nón lá lên đầu che mấy hột mưa. Dáng bà lẹt đẹt đi hàng hai, gầy thó giữa không gian vừa thấp vừa hẹp, không khác gì hình ảnh bà mẹ Mây tôi mới gặp hôm nào.

Căn nhà ấy thấp hơn cả mặt đường, tối tăm tưởng chừng có bước hẳn vào với cặp mắt cú cũng không thể nhìn ra vài thứ đồ vật lỏng chỏng bên trong. Người đàn bà đang nằm lặng im trên chiếc võng giăng giữa nhà nhỏm dậy tiến ra cửa, khi thoáng thấy bóng tôi. Bà lấy tay che ánh sáng hắt từ ngoài đường đất, mắt hiêng hiếng nhìn, rồi bất ngờ sụp xuống oà khóc dưới chân tôi. Hốt hoảng tôi lùi ngay lại đưa tay đỡ lên. Mẹ Mây đó, người đàn bà cách đây hơn hai mươi năm còn điệu hạnh duyên dáng bây giờ ra đến thế này. Dưới những sợi tóc xơ xác là đôi tròng mắt bạc. Hai bàn tay nhăn nhúm khô đét, chắp lại vái vái. Bất giác không gian trước mặt tôi khoanh gọn, hút lại thành một mảnh vuông thẫm tối mang một đốm nâu ở giữa nhòa nhòa, là căn nhà và khuôn mặt lạc thần già nua ấy.

Mấy đứa trẻ đang đá banh bên vệ đường thấy tôi dáng dấp kẻ lạ, xúm lại chung quanh xì xào. Việt kiều, Việt kiều da trắng nhỡn. Chà, cái túi xách coi bộ nặng dữ, chắc Việt kiều sắp cho bà già đô la. Trật lất mày, tiền việt nam mới nặng, đô la nhẹ hều. Tôi không thể nào thở nổi được nữa. Cơn giận dữ lẫn hổ thẹn nhói tim và mắt cay sè. Bỏ bà cụ lại đó, tôi bước vội lên mặt đường, vừa đi vừa chạy về chiếc taxi còn đợi cách đấy một quãng. Tới được chiếc xe, thấy anh tài xế còn ngồi trong đó, tôi mới dừng lại nhìn trở lui. Bà mẹ Mây cũng đã leo lên đứng giữa đường, ngó về tôi trân trân. Đám trẻ con tiếp tục hò hét trêu chọc. Mấy chiếc xe gắn máy chạy ngang. Giữa đám bụi mù tôi chợt nhìn thấy Mây, nàng dang tay quay vòng, áo mở tung, quần phất phới. Mây đang lượn múa theo một điệu vũ, chân bước, miệng đếm, một hai ba. Tóc Mây dài, dài quá. Bao nhiêu năm tóc chảy hầu đã chấm chân, theo vòng múa tung ra như những nhành bạch tuộc. Không rõ bằng tay hay bằng tóc, Mây chụp lấy một gã thanh niên trên xe gắn máy, hắn né người hất mạnh, nàng chạy theo, chới với.  Hàng xóm hai bên đổ ra, mấy người đàn bà xúm lại ôm Mây, kéo áo quần cho nàng. Bọn đàn ông hai bên chõ mắt rồi nhìn nhau tủm tỉm. Lũ trẻ vỗ tay reo hò. Còn mẹ Mây, vẫn đứng yên, ngó sững vào những bụi nắng lung linh, hay có thể vào một điều gì không có hình ảnh. Tôi chui tọt vào xe, hối người tài xế. Chạy đi, chạy mau đi. Anh ta quay lại nhìn tôi, ngơ ngác.

Vài giọt mưa nặng đột nhiên độp xuống mái tôn, kéo theo tràng sấm ùng ùng chuyển ngang trên đầu cùng tiếng đồ vật rơi loảng choảng trong phòng tắm. Chết rồi, Mây. Tôi vội vàng chạy vào, đẩy cửa. Những chai lọ mỹ phẩm của tôi cùng thuốc gội đầu, cục xà phòng... bị Mây hất xuống sàn, tung toé trong vũng nước. Chiếc khăn tắm dầy cuộn tròn, kẹp giữa hai đùi, Mây đứng dưới làn nước, đang với với cái vòi sen trên cao. Mây không thèm để ý đến tôi, buông vòi sen, hai tay miết cuộn khăn chầm chậm lên xuống giữa đùi, nhắm mắt cong người theo động tác. Tôi đứng lặng ở cửa nhìn nàng trân trối. Chẳng ngờ thân hình Mây còn đẹp thế, những đường cong từ ngực xuống bụng uốn lượn cân đối. Bao nhiêu sức sống như muốn bứt ra khỏi làn da căng hồng. Thảo nào, Mây đau khổ. Hồi xưa, tôi chỉ biết một Mây dậy thì tươi mát, thích ghé học bài với tôi và nhất là tò mò về cô Ba, người đàn bà ba mươi ở sau căn gác nhà tôi với những người đàn ông của cô vào ra dưới bóng cây gòn. Bây giờ Mây đàn bà, tràn đầy bức xúc đến thất thần đảo loạn.  Đột nhiên, Mây quăng cuộn khăn vào góc phòng rồi ngồi bệt xuống vũng nước, đập đầu vào tường, hai tay vò tóc, rít giọng cười.

Lúc tôi choàng chiếc áo ngủ của mình cho Mây rồi đưa nàng vào giường thì trời sập tối nhưng mưa vẫn chỉ lộp độp vài hạt cầm hơi. Sau khi khóc xong, Mây như mệt mỏi, thụ động. Điện đã bị cúp như thường lệ. Tất cả chìm trong một thứ bóng tà thinh lặng. Tôi nằm xuống cạnh Mây, ngó mông lung ra khung cửa để mở. Trời thiếu gió, tấm màn đứng yên thõng thượt, nhưng hồn tôi không ngừng xao động ray rứt. Tôi quay sang Mây, nàng mở mắt ráo hoảnh, hai tay và chân duỗi dài trên nệm, gương mặt thật buồn và lạnh. Một nỗi xúc động dâng lên nghẹn ngực, tôi luồn những ngón tay vào mái tóc ngắn còn hơi ẩm, thơm mùi dầu tôi đã gội cho Mây. Ngày xưa Mây để tóc dài giống cô Ba, tóc một dòng chảy mượt sau lưng. Tôi hay nghịch cuốn quanh tay, búi thành lọn. Mây ghét ai sờ tóc mình nhưng với tôi, Mây làm ngơ. Tôi thầm thì. Tội Mây quá Mây ơi. Nàng như nghe thấy, quay sang, hai tay choàng qua cổ tôi từ từ thả xuống rờ rẫm bờ vai rồi luồn vào sau làn áo. Mây bây giờ đẫm mùi quen thuộc, mùi của chính tôi, của kem thoa da và nước hoa táo xanh tôi yêu thích. Cả người Mây rướn cong, áp sát, bàn tay dồn từng làn sóng từ lưng tôi ra trước ngực. Sóng trào dâng vươn lên phủ trùm đồi ngực rồi dừng lại ở đỉnh điểm cao nhất bằng những xoay tròn vuốt ve ngầy ngật. Tôi nhỏm dậy đẩy nhẹ Mây nằm ngửa, chầm chậm hôn sâu lên đôi mi khép, vành tai, viền môi rồi lút vào cổ nàng, trườn người lên Mây. Như chạm phải luồng điện Mây rung người, hai tay giật tung quai áo của mình rồi cấu chặt hông tôi qua làn lụa mỏng. Tôi lần xuống sâu hơn, mềm môi trên làn da căng ấm và đầu vú cứng tròn. Mây lấy tay tốc áo tôi, hai chân co lên ghì níu. Từ đấy, lúc Mây thảng thốt, lúc rền rĩ, và tôi đã nấc lên với nàng tiếng kêu sau cùng òa vỡ với cơn mưa.

***

Sáng nay tôi đã trả Mây về nơi nàng ở. Trên đường xa lộ, anh tài xế ngừng xe ở một quán phở có hồ sen còn sót lại vài bông màu đã nhạt quá mùa. Gần trưa mà quán chật ních, tôi và Mây ngồi đầu bàn, nửa kia dành cho hai người đàn ông đến sau. Một trong hai có cặp mắt dài xoáy vào tôi rồi quay sang Mây. Người kia hay cười, hàm răng vàng nhựa thuốc lá, nhưng mắt nhìn thẳng ra ngoài hồ sen, tỏ vẻ không chú ý đến hai người đàn bà lạ ngồi bên. Tôi, trong quần jean và áo thun ngắn, khác Mây, với bộ bà ba vàng nhạt. Tôi vắt chanh vào hai tô phở, Mây lùa đũa vài ba lần, liếc gã đàn ông mắt dài làm tôi đâm bực, giục ăn đi. Mây bỗng đẩy ngang bát phở qua bên, giọng gọn lỏn. Không ngon bằng phở bà Lùn. Tôi bật cười. Sao không bằng. Mây chẳng đáp, cúi xuống mân mê cọng giá trắng muốt. Đột nhiên nàng nói to. Phở bà Lùn năm trăm một tô, mẹ bảo Vân gửi cho Mây một ngàn, Mây ăn năm trăm, còn để dành cho cu Tuấn. Rồi tự dưng Mây trợn mắt giận dữ. Mấy người nói láo, lường gạt, ta biết nó chết, nó chết lâu rồi phải không? Người đàn ông răng vàng không cười nữa, gã mắt dài ngó sững chúng tôi. Đặt vội mớ tiền lên bàn, tôi kéo Mây đứng dậy đẩy đi. Mây vẫn nhùng nhằng chưa nguôi. Tôi van xin. Đừng hỏi nữa Mây ơi. Tôi muốn ôm nàng vào lòng như buổi trưa hôm ấy, giữa sân đất đầy nắng và gió khi tôi đến tìm Mây sau nhiều năm trời.

Nắng hắt từ ngoài cánh đồng, chiếu sáng những mái tôn của hai căn nhà trệt thấp lè tè nằm thẳng góc, chừa ra một khoảng sân loang nắng dưới dàn mướp còm cõi. Thấy tôi vừa bước xuống honda vừa bỏ cặp kính mát, Mây đang ngồi đan giỏ tre trên chiếc chõng gần gốc cây đã toét miệng cười. Không có nụ cười này làm sao tôi nhận ra đứa bạn gái thân thuộc của mình ngày xưa. Tôi ngỡ ngàng chầm chậm bước đến gần Mây, nàng gọi nhỏ. Vân đã về.  Chẳng ngờ Mây còn biết cười và nhìn ra tôi. Điều lạ, trong cảnh sống thiếu thốn mọi thứ nhưng Mây trông mập mạp hơn hồi con gái. Nước da hồng quân thủa nọ giờ càng đậm đà. Chung quanh nàng những lạt mây tre ngổn ngang. Một cô gái nhỏ mặt ngờ nghệch cũng ngồi đan ở đấy thấy tôi, nhe răng cười, đầu đẩy đưa như quả lắc đồng hồ.

Tôi ngồi xuống cạnh Mây, nàng xoè bàn tay trầy sát những lằn tre cứa vò vò bâu áo trắng của tôi. Nụ cười đã tắt. Tôi cảm động chưa biết nói gì, Mây bỗng hỏi. Sao Vân đi học không mặc áo dài. Rồi nghiêng đầu về phía người bạn đã chở tôi đến đó, đang châm điếu thuốc cạnh chiếc xe, nàng trách. Bữa nay gan bằng trời rồi nghe, mà hắn là ai sao chưa gặp. Mây cứ tự nhiên nhìn ngắm anh ta. À, không mặc đồ lính, ư, đừng thèm yêu lính. Thời này yêu lính đầu quấn khăn tang nhanh lắm Vân à. Tôi nghẹn ngào kéo ôm vai Mây. Hết chiến tranh, hòa bình rồi Mây ạ. Nàng ngả đầu, mái tóc đã vương dăm sợi bạc. Chẳng còn phân định thời gian, Mây lùi lại từ thủa tôi mặc áo dài trắng mỗi sáng đến trường, đứng đợi Mây dưới gốc cây ngâu nở từng chùm hoa li ti thơm ngát, ở cổng nhà nàng. Mây xách cặp bước ra yểu điệu than thở. Đêm qua nóng quá tao ngủ không được. Chị người làm đang bới tóc cho bà mẹ Mây ở hiên cười hinh hích. Cô Mây thức đêm viết thư tình, anh chàng mặc áo lính trây-di bữa nọ kia tề. Mây nguýt dài, kéo tuột tôi đi. Mẹ nàng dặn với. Này con Mây lo mà học như con Vân, đừng có lúc nào cũng mơ với mộng!

Gió nóng ngoài ruộng lốc lên làn bụi cỏ, lá khô và những vụn tre họp nhau chạy tròn trên sân đất. Mây bỗng đứng dậy, đi thoắt ra giữa cánh đồng chỉ toàn là cỏ may mọc cao. Ống quần bà ba rộng lất phất tới đâu, muỗi mòng bốc bay lên, cào cào bị động nhảy loi choi. Tôi sợ, gọi to. Đi đâu Mây ơi, cỏ may chích chân đau lắm. Mây tiếp tục bước, tay xua xua. Tôi mở lớn mắt. Ruộng cỏ đang dâng cao dần lên, cao mãi và Mây sắp ngập chìm mất hút trong dòng sông xanh dập dềnh bọt nước bạc. Hai bà sơ từ trong nhà nghe tiếng động chạy ra, một bà còn trẻ cùng người bạn tôi xông vào kéo Mây lại. Nàng vừa dằng co vừa hét. Khi Mây bị đưa trở lại chiếc chõng tre, nàng sừng sộ, giựt mạnh cánh tay khỏi sự kềm giữ, nhưng sau đó ngoan ngoãn ngồi xuống bên tôi. Mây lại hiền từ như trước, vẻ suy nghĩ đăm chiêu, cất giọng trầm trầm quan trọng. Này Vân, nghĩ xem, cu Tuấn học giỏi thật, nhưng mới mấy tuổi đầu mà đã được nhà nước cho đi du học rồi à, vô lý, ngày Vân đi, đã mười tám. Tôi sững người trước câu nói rành rẽ của Mây. Bà sơ già đứng ở ngưỡng cửa chắc lưỡi. Lúc này lúc khác. Tôi nói ngày mai trở lại đón Mây. Bà sơ ngần ngừ, rồi than phiền về hai căn nhà dột tứ tung cần thay mái, giỏ đan bán không đủ chi tiêu. Rất ít người được mẹ thăm nuôi như Mây, còn để lại tiền cho ăn phở quán bà Lùn, ở ngay đầu lối rẽ. Tôi đứng lên mở túi xách. Bà sơ lấy khăn chặm chặm cặp mắt lem nhem. Mây ngồi co chân cặm cụi gỡ những bông cỏ may bám đầy hai ống quần, trán lấm tấm mồ hôi. Tôi cúi xuống xiết nhẹ vai nàng. Ngày mai mình về, đi phố. Mây ngửng lên, lặng thinh, rồi mắt mênh mông hướng ra cánh đồng cỏ vẫn sáng rực. Bất chợt tôi nhớ và thèm hình ảnh hai đứa đèo nhau trên solex, trong chiều Sài Gòn cuối năm khô và gió.

***

Gom nốt vài món đồ cuối trong tủ áo vất vào chiếc vali mở toang trên giường, đầu óc tôi lãng đãng. Bó cúc vàng một tuần qua cắm trong bình tàn quá mức, những cánh hoa rụng xuống mặt bàn cũng đã khô quăn. Không ngờ từ hôm gặp lại Mây, tôi bập bềnh trong chuyến về quê hương. Chủ tâm đón nhận những cảm xúc, suy tư khách quan bị đẩy lui, mất biến. Tâm thức trôi giạt vào dòng sông ký ức, và hiện tại bị xoắn bện những sợi dây cước cứa rát vô hình. Mấy bộ áo quần mỏng manh đem về mặc xứ nóng, dăm ba món quà gom được trên con đường phố chính thướt tha nhộn nhịp những chiều thứ bảy năm nào, giờ vừa thân thuộc vừa lấn cấn như một người tình cũ. Tôi cúi xuống cầm lên xấp bưu ảnh quê hương, kỹ thuật in ấn còn lèm nhèm màu mè xanh đỏ. Trong đó lẫn một phong thư mang dấu bưu điện cách đây hơn ba năm, lúc bà mẹ Mây còn khá tỉnh để viết cho tôi về những năm tháng ấy. Ở phiá bên kia đời sống, tôi làm sao mường tượng nổi giông gió nào đã thổi giạt cả hai người đàn bà đài các vào vùng mây mù lạc hướng. Trong sương trời dầy đặc, Mây mềm mại xưa có lúc chìm đắm, có khi bưng bưng bức xúc đoạn trường tới thênh thang thân xác giữa phố phường như một phản kháng tuyệt vọng. Như thể những cơn động đất này đã phá vỡ nhưng vẫn chưa đủ tan hoang sự sống nàng.

Sau tờ thư ấy, thỉnh thoảng mẹ Mây chỉ còn viết được dăm hàng, rồi bặt hẳn cho đến lúc tôi về, để thấy hiện tại và quá khứ nhập nhoạng chất chồng lên nhau như mảnh vuông u tối mang đốm tròn nâu chờn vờn chuyển động. Không gian vừa lung linh những bụi hoa cỏ may vừa tung hê từng mớ bông gòn trắng bung năm cũ. Ký ức bị cắt ngang bởi thực tại bằng những lạt mây tre chuốt sắc, Mây ngồi đan từng chiếc giỏ nơi căn nhà mái tôn nhòe nắng. Tôi xé toang bức thư ra làm hai, trọn gói trong phong bì, đứng dậy vào phòng tắm tìm sọt rác. Ánh sáng giữa trưa từ cửa sổ nhỏ rọi vào tấm gương cùng khuôn mặt tôi trên cái cổ cao gầy. Đôi mắt Mây nâu mơ màng có đuôi, trong khi mắt tôi đen hạt nhãn tròn. Bây giờ màu mắt Mây đã bàng bạc khói sương, còn tôi, vẫn mở to nhìn mình cùng mọi điều trước mặt. Nhưng hôm nay, tôi thấy được những gì, từ tôi, đột nhiên đã khác. Kéo chiếc áo tuột khỏi đầu, bất chợt đưa tay mân vòng khoanh bụng và khuôn người trắng trần mỏng mảnh. Mây đã xa rồi nhưng màu da và bộ ngực Mây thắm và đầy, rưng rưng nỗi sống còn dấy niềm rạo rực quanh đây. Lại khoác áo vào. Những lược gương, mỹ phẩm còn lỉnh kỉnh trên kệ. Bỏ tất cả lại hay đem đi. Từ hôm có Mây, tôi không còn trang điểm, phấn son tựa tuồng tích bên cạnh Mây tự nhiên bồng bềnh. Chỉ có mùi hoa táo xanh vẫn là một nỗi gì gần gũi. Liệu Mây biết chăng, tôi đã bỏ hương thơm đó vào túi quần áo nhỏ cho Mây khi đưa nàng về với cánh đồng cỏ may trưa ấy.

Tôi ra đóng hai cánh cửa ban công. Lung linh bóng lá trên sân gạch vườn chùa. Mấy chậu mai chiếu thủy thả đầy những bông hoa trắng. Màu hoa sứ thắm hơn giữa nắng ban ngày. Hai ông Thiện và Ác mặc áo xanh đỏ, sừng sững đứng dính vào hai bờ tường bên ngoài chính điện. Ông Ác giương đao trợn trừng như sẵn sàng chém xuống người thế gian trần lụy. Ông Thiện dáng chừng bất lực, mắt buồn bã trầm ngâm trên chiếc chiếu hoa trải ra tận thềm. Hình như sắp là giờ khóa lễ, thấp thoáng những ngọn đèn hoa sen cháy đỏ và vài bóng người qùi gối sau khung cửa. Tôi loay hoay tìm dáng ni cô nhỏ nhắn. Có phải chính cô đã đổ những hồi chuông gióng dài trong hồn tôi một quá khứ. ‘‘Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông’’. Bây giờ mới hai giờ trưa, không phải là đêm cuối cùng xưa, khi tôi và Mây đã vào giường bỗng nghe tiếng kẹt cửa vọng lên, vội tung mùng chạy ra. Bắt gặp cô Ba sắp bước vào căn nhà tắm nhỏ trong góc sân, tấm áo cô khoác lơ lửng trên người không cài nút. Ánh trăng lóng lánh trong vại nước và trên da thịt cô màu sữa đọng. Đã đôi lần, chắc không còn ai chờ đợi trong nhà, cô nhẩn nha đứng dựa gốc cây, thản nhiên phơi trần nửa người trong đêm hâm hấp. Khuôn mặt khuất trong bóng tối cành lá, chỉ có đầu điếu thuốc chập lên từng đóm sáng ma trơi. Bao nhiêu năm trời đã qua, hình ảnh cô Ba vẫn dậy trong tôi những cảm giác rộn rạo, nôn nao cùng bất an, lẫn lộn. Chẳng hiểu Mây còn nhớ gì về người đàn bà đã từng mê hoặc Mây không. Chỉ ngày rằm, mùng một, cửa nhà cô mở rộng. Cô thong thả ra sân bày hoa quả thắp hương, dưới ngọn đèn treo trên cành trứng cá. Khói nhang bay tỏa khuôn mặt cô thành khẩn. Cô nào biết rằng trên căn gác tắt đèn có cửa sổ xanh đối diện, hai đứa con gái đang nhìn cô khấn khứa.

Mây đứng sau lưng, phà hơi thở nóng vào gáy tôi, thỉnh thoảng ngưng lại như đang hồi hộp đợi chờ một điều gì bất chợt sẽ xảy ra. Hai bàn tay Mây dịu nhỉu xoa vai tôi rồi vuốt lần xuống cánh tay trần. Sao vai mình không tròn như cô Ba mày nhỉ. Rồi Mây tiếp tục suýt xoa. Giá cô Ba mặc quần áo trắng dưới trăng chắc ma quái lắm. Tôi gật đầu, trong bóng tối. Cổ mà thành ma sẽ bắt hồn mày trước. Mây bấu vai tôi cười khúc khích. Tao đi trước rồi mày theo sau. Tôi phản đối. Theo mày làm gì. Mây tỉnh queo. Thì, cho biết vậy mà. Tự nhiên tôi thấy lạnh người. Thôi đi, nghe mà sợ, mày làm tao tưởng nhà này ở phố Đạm Tiên. Mẹ tôi dưới nhà gọi lên. Hai đứa không ngủ đi, ngày mai con Vân ra phi trường sớm đó nghe. Mây bỗng thả lỏng bàn tay, im lặng bất ngờ. Tiếng cô Ba xối nước từng đợt rào rào trong đêm khuya. Đồng hồ bên nhà hàng xóm thong thả điểm hai hồi rõ rệt, buồn bã.

Không gian mòn cũ rêu phong và hai cánh cửa căn phòng này rồi cũng như quá khứ, phải khép lại. Nhưng ngọn suối trên hòn non bộ sẽ đổ mãi xuống dưới chân cầu dòng nước thời gian. Mây đã qua đây một ngày. Những gì chúng tôi vừa chợt sống với nhau Mây có nhận biết chút nào chăng, trong khi nhiều chuyện ngày xưa vẫn rõ ràng tựa hồ hiện tại. Nếu có, Mây sẽ sống ra sao với cảm giác sâu hút lẫn tan tành, dấu vết của đêm mưa ấy, trong những ngày còn lại. Nhưng dù thế nào thì tôi cũng sẽ đi, bỏ Mây trôi mãi một mình trong chập chùng ẩn ức. Tất cả đã đóng chặt. Tôi lê chiếc vali tới gần cửa ra vào cạnh cầu thang, để chốc nữa người tài xế xách xuống cho tiện. Giờ, tôi đi chào một vài người thân trước khi ra phi trường. Không phải để rồi bay đến một thành phố, một xứ sở hoàn toàn xa lạ, như ngày mười mấy tuổi, lần đầu ra đi, có Mây mong manh vẫy tay tiễn biệt, mà để trở về nơi cư ngụ. Chẳng mấy chốc, tôi sẽ bỏ mình cuốn đi băng băng vào một dòng đời khác, như đã từng.

Khoá hai vòng cửa, đi xuống cầu thang rồi băng qua con hẻm nhỏ, tôi bước ra đường phố. Nắng bỗng dịu đi, những cuộn mây cuốn tròn trên đầu và một làn gió nhẹ hong khô mấy giọt mồ hôi rịn ướt trên trán. Con đường này khá yên tĩnh, buổi trưa càng thưa vắng. Anh taxi thường đón tôi đến muộn. Bên hè phố, gánh đu đủ đỏ cam, từng miếng cong cong xếp đều trên hai thỏi nước đá đầy vết trấu. Người đàn bà ngồi bán đang cúi đếm xấp tiền mỏng với hai bàn tay sạm cháy, nhác thấy bóng người liền ngửng lên chào mời. Một giọng nói thanh và nhẹ. Tôi giật mình hơn trước nụ cười tươi với hai lõm tròn sâu trên má. Chiếc xe đã trờ tới sát bờ, tôi mở cửa bước vào, ngoảnh nhìn cô thêm lần nữa. Anh tài hỏi đi đâu, tôi buột miệng thốt một câu rồi buông đầu vào thành nệm.

Mây mặc áo cánh trắng, đang lúi húi tưới rau với bà sơ trẻ trên mấy luống cải ở hông nhà. Mọi thứ nơi đây hầu như khô, trống. Ngay cả những vồng cải cũng chẳng đủ sức mọc cao, chỉ có đồng cỏ may xem chừng hớn hở. Bà sơ lăng xăng bên Mây, cười nói lép chép, nhưng Mây không trả lời, lặng lẽ rê cái gáo dừa rót từng sợi nước, rồi lại đến thò vào cái lu dưới ống máng nghiêng vẹo, thõng xuống từ mái nhà. Thỉnh thoảng Mây đưa tay vén tóc ra sau tai. Tôi xót xa lặng nhìn, cử chỉ này thân thuộc quá. Bỗng Mây ngửng lên ngó ra đường nắng. Tay vẫn cầm gáo dừa, nàng trân trối. Rồi tôi chỉ kịp nhận ra một bóng trắng ập tới, bao quanh, xiết chặt lấy mình. Tôi chới với dang tay ôm lấy vòm mây, dúi mặt vào một điều rất thực. Nào ngờ, từ đó, mùi táo xanh rưng rưng, trên da thịt Mây nó đã hấp hương đằm thắm. Những ngón tay cuống quít níu chân tóc tôi, môi Mây lần quanh cổ gậm nhẹ vành tai. Bỗng dừng lại, thì thầm. Vẫn có điều kỳ diệu trên đời, tao tưởng sau đêm mưa, mày không đến nữa. Tôi sững sờ, đẩy Mây ra, nắm lấy hai bàn tay mềm nhưng ram ram vết cứa. Vẻ bàng bạc ngờ dại trong mắt đã bay đi, Mây nhìn suốt qua tôi. Có những giọt nước của cơn mưa đang rừng rực bốc hơi trong tia nắng cháy.

(tháng năm 99, với ND và TV)

Ký của Đinh Quang Anh Thái (kỳ 3)

Bác Năm Tường ‘Phi Lạc Náo Chí Hòa’

Hồ Hữu Tường 1

Hồ Hữu Tường 2

Những người muôn năm cũ

Hồn ở đâu bây giờ?

(Vũ Đình Liên)

Tháng Giêng, 1979, trại giam T 20 Phan Đăng Lưu ồn lên những lời đồn đãi, là Cộng Sản Tàu đang động binh ở vùng biên giới mạn Bắc để đánh Cộng Sản đàn em Việt Nam. Tù nhân trong trại xì xầm bàn tán. Người thì hy vọng tình hình sẽ sớm thay đổi để thoát cảnh tù đày; người thì lo ngại Tàu mà thắng thì đất nước sẽ còn bi đát hơn; người thì dửng dưng phản ảnh tâm trạng chẳng còn trông mong gì nữa.

Sách của nhà xuất bản Tri thức ảnh hưởng xã hội Việt Nam hiện nay ra sao?

Kính Hòa RFA

Hình minh họa các đầu sách của Nhà xuất bản Tri Thức

Hình minh họa các đầu sách của Nhà xuất bản Tri Thức. Courtesy nxbtrithuc.com


Nhà xuất bản Tri thức ảnh hưởng xã hội Việt Nam hiện nay đến đâu?

Ngày 25/10/2018, ông Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ và môi trường, giám đốc nhà xuất bản Tri thức bị kỷ luật đảng, một tuần lễ sau đó Ban kiểm tra trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra thông báo, liệt kê chi tiết lý do ông bị kỷ luật. Điều đầu tiên và quan trọng nhất được thông báo này nêu ra là những quyển sách mà ông Chu Hảo chịu trách nhiệm xuất bản đi ngược lại với quan điểm đường lối của Đảng Cộng sản.

Nguyên Hồng – ngôi sao sáng của văn học hiện thực

Nguyễn Quang Thân

Nhớ một lần, từ miền Nam ra thăm miền Bắc, đầu những năm 1980, trong một bữa cơm có rượu ngon ở một khách sạn Hải Phòng, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường nâng ly với Nguyên Hồng và chúng tôi, nói bằng một giọng Huế quyến rũ của một ông thầy dạy văn và một nhà thơ: “Thưa anh Nguyên Hồng, hồi nhỏ tôi đọc Bỉ vỏ, vào trường tôi học Bỉ vỏ, sau này thành giáo viên trung học, tôi lại dạy Bỉ vỏ cho học trò. Sách của nhà văn cộng sản Nguyên Hồng vẫn có trong chương trình trung học miền Nam. Suốt cả thời gian đó, tôi chỉ khát khao có một lần trong đời, được nhìn thấy Anh, nhà văn Nguyên Hồng, đứng xa anh dăm bước chân, ngả mũ chào anh rồi đi cũng là quá mãn nguyện. Không ngờ hôm nay tôi còn được hơn thế, được nâng ly chúc mừng sức khỏe của anh…”.

Kiểm soát và quân bình quyền lực

(Rút từ facebook của Trần Ngọc Cư)

Mối đe doạ độc tài, độc đảng trong sinh hoạt chính trị Mỹ đã bị lá phiếu của người Dân chặn đứng hôm 6 tháng 11 vừa qua. Cuộc thao diễn chính trị giữa kỳ, như Trump thú nhận, là một trưng cầu dân ý về nhiệm kỳ Tổng thống của ông. Nổi bật trong cuộc bầu cử là nhiệt tình tham gia sinh hoạt chính trị của phái nữ ở các vùng đô thị và giới trẻ chuyên môn hoặc có trình độ đại học. Cuộc bầu cử cho thấy quan tâm của người dân được xếp theo thứ tự ưu tiên: (1) các vấn đề y tế, (2) nhập cư, (3) kinh tế, (4) súng ống.

Văn học miền Nam 54-75 (515): Nguyễn Xuân Hoàng (kỳ 3)

Vài hồi ức về Nguyễn Xuân Hoàng

Phạm Chu Sa

Tuần trước Du Tử Lê điện bảo anh vừa đi đám ma Nguyễn Xuân Hoàng ở San Jose về lại Santa Anna, tôi không bất ngờ vì biết anh Hoàng lâm trọng bệnh đã lâu và bệnh viện đã “chê” và trả về nhà từ vài tháng nay. Tôi chỉ buồn là đã đi “thăm hụt” anh hai lần. Hồi tháng Sáu, qua Mỹ thăm con, được biết anh Hoàng bệnh nặng, tôi cùng con trai đón xe đò Hoàng từ Santa Anna lên San Jose thăm anh. Đến nơi, tôi gọi điện thoại cho Huỳnh Phan Anh, hẹn cà phê và nhờ anh đưa đi thăm anh Nguyễn Xuân Hoàng, bởi họ là bạn cố tri với nhau từ hơn nửa thế kỷ trước, nay đến xứ người lại ở chung một thành phố. Nhưng Huỳnh Phan Anh bảo, Nguyễn Xuân Hoàng mới dọn nhà mà không báo cho bạn bè hay biết. Huỳnh Phan Anh lại không biết lái xe, đi đâu cũng nhờ vợ chở. Huỳnh Phan Anh và tôi thay nhau gọi cho anh Hoàng, điện thoại reo nhưng anh không bắt máy – có lẽ anh mệt. Ăn sáng cà phê xong, chia tay vợ chồng Huỳnh Phan Anh, tôi chợt nhớ một người bạn cũ trước kia cùng làm việc tại báo Thanh Niên ở Việt Nam là Lê Đình Bì, tức Lê Vinh, đang làm tại đài truyền hình Vietoday ở San Jose có quen biết với chị Hoàng. Tôi phone nhờ Bì đưa đi thăm anh Hoàng, nhưng bạn lại đang bận lo tổ chức cuộc họp mặt đồng hương Quảng Trị của anh đúng thời điểm tôi lên đây. Đành quay về lại Santa Anna, hẹn hôm nào sẽ trở lên thăm anh và nhờ người chở đi thăm một bạn cố tri là Hà Thúc Sinh ở Sacramento luôn. Đã hơn 34 năm chưa gặp mặt Hà Thúc Sinh. Hôm vừa qua, gọi điện, nghe tiếng bạn vừa mừng vừa buồn. Sinh bảo sống một mình, phải ngồi xe lăn, chỉ loanh quanh trong nhà, không thể lái xe đón tôi được. Còn tôi mới qua Mỹ, không biết đường sá, không biết lái xe !... Mấy hôm sau, một buổi tối, Phan Nhật Nam điện thoại bảo: Cậu chuẩn bị, sáng mai moa ghé đón đi San Jose thăm Nguyễn Xuân Hoàng, bà xã ổng vừa gọi báo bệnh viện đã “chê”, trả về nhà rồi. Nhưng rồi sáng mai, anh Nam gọi lại báo là huyết áp tăng cao quá do đêm trước thức “cày“ trả nợ bài cho báo và đài truyền hình để rảnh tay đi San Jose. Vậy là lại lỗi hẹn đi thăm Nguyễn Xuân Hoàng, vì vài hôm sau tôi lại phải về Việt Nam. Đành gửi lời thăm anh Hoàng qua Huỳnh Phan Anh vì anh ấy vừa báo tin đã tìm được nhà Nguyễn Xuân Hoàng…

Phê bình kí hiệu học – Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ (kỳ 14)

Lã Nguyên

THƠ TỐ HỮU – KHO “KÍ ỨC THỂ LOẠI”

CỦA VĂN HỌC TỪ CHƯƠNG

I. MỞ

Trong rất nhiều công trình nghiên cứu, thơ Tố Hữu mặc nhiên được xem là “lá cờ đầu” của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thế tức là chắc chắn đặc trưng của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sẽ được bộc lộ rõ nhất trong sáng tác của ông. Cho nên, tôi sẽ phân tích thơ ông để nhận biết những đặc điểm của hiện thực xã hội chủ nghĩa như một phương pháp sáng tác. Xin nói ngay, tôi xem thơ Tố Hữu là một thực tiễn diễn ngôn. Tôi hiểu diễn ngôn là phát ngôn, một hành động tạo sinh văn bản giữa người nói và người nghe, đồng thời là “sự kiện tương tác văn hóa” (Van Djik) giữ chủ thể (tác giả, người sáng tạo), khách thể (người nghe, người tiếp nhận) và đối tượng được nói tới (ai, cái gì, nhân vật). Hiểu như thế, để rút ra nhận xét về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, tôi sẽ tiếp cận thơ Tố Hữu từ ba góc độ: 1) Chiến lược diễn ngôn, 2) Ngôn ngữ thế giới quan và các bức tranh thế giới bằng ngôn từ, 3) Mô thức tu từ.

Lã Nguyên và phê bình kí hiệu học*

Trần Đình Sử


Lã Nguyên và phê bình kí hiệu học*

Mặc dù kí hiệu học đã được giới thiệu và ứng dụng vào Việt Nam từ những năm 70 thế kỉ trước, song phải đến Phê bình ki hiệu học của Lã Nguyên, chúng ta mới có thể coi là một thành quả đáng kể của việc vận dụng lĩnh vực tri thức này vào  nghiên cứu văn học, nghệ thuật Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành và triển vọng của ngành nghiên cứu kí hiệu học nước nhà.

Mười năm khinh bỉ, mười năm trung thành, mười năm tự do

Vladimir Nabokov

Phạm Thị Hoài dịch

Nhân văn-Giai phẩm thực ra là một ân huệ của số phận, nhà thơ Trần Dần ghi nhận như vậy sau ba mươi năm làm “thơ đóng chai”, ba mươi năm lừng lững cô đơn, lưu vong trên chính quê hương mình. Không có tai nạn ấy, văn học Việt Nam hẳn không có một Trần Dần như đã thấy. Không có cuộc Cách mạng Tháng Mười tròn một thế kỷ trước, chắc chắn văn học thế giới cũng không có một Vladimir Nabokov như đã thấy, “một công dân Mỹ không tiến bộ, đến từ một nước Nga không hiện hữu”, theo lời của chính ông. Lưu vong khi chưa đầy 19 tuổi, ngay sau khi những người bôn-sê-vích giành chính quyền, Nabokov suốt đời không bao giờ trở lại Nga, suốt đời giữ trọn lòng khinh bỉ “bọn Đỏ”, chủ nghĩa cộng sản và sản phẩm tinh thần của nó, văn học sô-viết. Bài viết sau đây đăng trên Rul, tờ báo của cộng đồng Nga lưu vong, xuất bản tại Berlin ngày 18 tháng Mười Một 1927, đúng dịp kỷ niệm 10 năm Cách mạng Tháng Mười. Nabokov sống tại Berlin gần 17 năm, trước khi một lần nữa lưu vong, đào thoát khỏi Đức Quốc xã rồi định cư tại Hoa Kỳ.

Thơ Nguyễn Man Nhiên

Tranh Nguyễn Man NhiênTranh Nguyễn Man Nhiên

nghịch đạo

chúng ta sống trong đám mây lớn của vô minh
nhà dưỡng lão những linh hồn héo trắng
bầu trời luyện ngục đúc bằng kim loại
ngày theo nhau trên cánh điên cuồng
khóc và ngã như cây liễu

Tộc Kinh và Cộng đồng người Việt nam Hải ngoại

Nguyễn thị Cỏ May

Vụ Tộc Kinh đang trở thành thời sự. Văn Việt đăng lại bài sau đây (giữ nguyên cách viết của tác giả) cung cấp cho bạn đọc thông tin để hiểu thêm một âm mưu liên quan đến việc thành lập một nước Việt Nam hải ngoại dưới ngọn cờ của Trung Hoa lục địa.

VĂN VIỆT

Luật An Ninh Mạng thách thức uy tín chính trị của Thủ tướng & Chủ tịch Quốc hội

Huy Đức


Chính phủ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có thể sẽ đi vào lịch sử nếu như Nghị quyết 112 có hiệu lực trên thực tế. Cũng như việc bãi bỏ hàng nghìn điều kiện kinh doanh, Nghị quyết này là một trong những hành động thiết thực dân cần chứ không phải là những tuyên bố cải cách to tát nói rồi để đấy. Tuy nhiên, Dự luật An Ninh Mạng có thể sẽ nhận chìm uy tín chính trị của ông (và cả Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân), đặc biệt, là uy tín trước cộng đồng quốc tế.

Chiêm nghiệm giữa Sống và Chết

Tạp bút Trần Mộng Tú

Cô cháu tôi (con út của em gái tôi) chỉ còn hai tháng nữa được ba mươi chín tuổi bỗng một ngày như mọi ngày, khám phá ra bị ung thư gan ở giai đoạn cuối. Một loại ung thư gan, bác sĩ nói không chữa được. Cái ngày đó không còn như mọi ngày nữa. Đất trời như lật ngược, cả nhà, rồi cả họ, rơi vào tình trạng hoảng hốt chạy chung quanh cô như đèn kéo quân. Ngoài cha mẹ, chồng con, anh chị em ruột, cô dì chú bác các anh em họ hai bên nội ngoại, còn thêm bạn học, bạn nơi làm việc. Tất cả cộng vào thành một số người không nhỏ cùng chạy đua với căn bệnh hiểm nghèo của cô.

Hãy ngồi xuống đây! (kỳ 32)

NGÀY 26-5-2014

Ông Lê Trương Hải Hiếu hãy giải thích cho nhân dân thành phố rõ: Bà Lê Thị Tuyết Mai tự thiêu do “bế tắc về cuộc sống”?

Hạ Đình Nguyên


Sáng ngày 23-5-2014, lúc 6 giờ, một ngọn lửa bùng cháy trước cửa Dinh Thống Nhất, đến 8 giờ tôi đã xem clip trên mạng facebook quay cảnh lửa cháy từ một người tự thiêu. Hết sức bàng hoàng và không rõ lý do.

Sau đó, tại trụ sở UB P. Bến Thành, ông Lê Trương Hải Hiếu, Phó Chủ tịch Quận 1 – con trai của ông Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính Trị, Bí thư Thành ủy – đã có ngay một cuộc họp báo.

Một thời chúng tôi đã sống

(Thi sĩ Pháp Louis Aragon trả lời phỏng vấn Jean-Jacques Brochier Tạp chí Magazine litéraire, No.10, tháng 9 năm 1967)

Phạm Anh Tuấn dịch

HỎI: Trước Thế chiến II nổ ra, năm 1914, ông đã viết văn và đang học ngành y. Có mối liên hệ nào giữa hai hoạt động này?