Danh Ngôn

Nhân Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21.6, đọc lại lời của chính K. Marx

1. “Báo chí nói chung là sự thực hiện Tự do của con người. Do đó ở đâu có báo chí ở đó có tự do báo chí”.

(Mác – Ăngghen – Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, t. I, tr. 84)

2. “Bản chất của báo chí tự do, đó là bản chất dũng cảm, có lí tính, có đạo đức của tự do. Tính cách của báo chí kiểm duyệt – đó là sự quái dị không có tính cách của sự thiếu tự do, đó là quái vật được văn minh hóa, cái quái thai được tắm nước hoa”.

(Mác – Ăngghen – Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, t. I, tr. 89),

3. ”Báo chí tự do – đó là con mắt sáng suốt của tinh thần nhân dân, là hiện thân sự tin cậy của nhân dân đối với bản thân mình, là những dây liên hệ biết nói gắn liền các cá nhân với nhà nước và với toàn thế giới; nó là hiện thân của nền văn hóa đang biến cuộc đấu tranh vật chất thành cuộc đấu tranh tinh thần và lý tưởng hóa hình thức vật chất thô bạo của cuộc đấu tranh đó. Báo chí tự do, đó là sự sám hối công khai của nhân dân trước bản thân mình, mà lời thú nhận thật tâm như mọi người đều biết thì có khả năng cứu rỗi. Báo chí tự do, đó là tấm gương tinh thần, trong đó nhân dân nhìn thấy bản thân mình, còn sự tự nhận thức là điều kiện đầu tiên của sự sáng suốt. Báo chí tự do, đó là tinh thần cuả quốc gia, mà mọi túp lều tranh đều có thể có được với những chi phí thấp hơn là phương tiện thắp sáng. Báo chí tự do là toàn diện, nơi nào cũng có mặt, cái gì cũng biết. Báo chí tự do là cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực và lại chảy trở về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí dưới hình thức của cái tinh thần ngày càng dồi dào...”.

(Mác – Ăngghen – Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, t. I, tr. 100),

4. “Luật kiểm duyệt không phải là luật, mà là biện pháp cảnh sát, thậm chí còn là biện pháp cảnh sát tồi [….] Tệ lớn nhất – tệ giả dối gắn liền với báo chí kiểm duyệt, tệ xấu nhất căn bản này của nó là nguồn gốc của tất cả những thiếu sót khác của nó, trong đó cả mầm mống của mĩ đức cũng không có. Tệ đó – tệ đáng ghét nhất… Điều đó dẫn đến cái gì? Chính quyền chỉ nghe thấy tiếng nói của chính mình, duy trì sự lừa dối và cũng đòi nhân dân phải ủng hộ sự lừa dối đó. Còn nhân dân, hoặc sẽ rơi vào tình trạng mê tín chính trị, hoặc hoàn toàn quay lưng với cuộc sống quốc gia biến thành đám người chỉ sống với cuộc đời riêng tư, làm cho nhân dân quen coi cái phạm pháp là tự do, coi tự do là phi pháp, coi cái hợp pháp là cái không tự do”

(Mác – Ăngghen – Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, t. I, tr. 98, 105)

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Gần 30 năm trước, Lao Động Chủ Nhật đã làm cuộc “cách mạng báo chí cách mạng” (kỳ 1)

Nhân 21/6, ngày được gọi là “ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam”, tôi nhớ lại những ngày sát cánh với các đồng nghiệp trong tờ báo đầu tiên đã làm “cuộc Cách mạng nền báo chí Cách mạng” vào tháng 12 năm 1989. Tuy bị đánh quỵ vào năm 1993 từ một quyết định của Bộ Chính trị ĐCS VN do e sợ tác động “diễn biến hoà bình” của tờ báo, chỉ trong ba năm tung hoành với một ê kíp được nhà báo Lý Quý Chung (cây bút thể thao nổi tiếng Sài Gòn trước 1975) nhận xét là “đội hình đẹp như mơ” (gồm một số cây bút tên tuổi Sài Gòn cũ, một số nhà báo tài năng của miền Bắc, có cả hai “tên” vừa đi tù về, hihi), báo LĐCN đã tạo bước chuyển không thể quay lui của báo chí “chính thống”: có phần bám sát thực tế xã hội, dám nói thật một số điều (tuy còn xa sự thật), phần nào nói tiếng nói của dân chứ không phải chỉ của “lãnh đạo”.

Văn học miền Nam 54-75 (571): Nguyễn Mộng Giác (kỳ 5)

Mẹ và con
Từ văn phòng xuống lớp, tôi phải qua một khoảng sân nắng còn bốc bụi mù mịt. Học sinh đã vào lớp, nhưng những bước chân chim nhảy nhót đùa giỡn mấy phút trước đó, vẫn còn lưu dấu trong không khí. Tôi ngửi thấy mùi hăng hăng của cát nóng, mùi ngai ngái của lá me khô, và thoang thoảng đây đó mùi khét nắng của những mái đầu tóc hoe. Tôi cười một mình. Cát nhỏ rào rạt dưới chân. Gót guốc cắm sâu vào lòng đất, cắm thật sâu, nhưng ăn thua gì, khẽ nhấc một chút, chiếc guốc đã nhẹ hẩng. Giơ lên cao hơn lệ thường, tôi ấn mạnh guốc xuống cát lún chút nữa. Nhưng tôi vẫn bước. Đôi gót lãng du. Vì, đúng là đôi gót lãng du, thích chạy nhảy quanh co, đùa cợt, quên hết cả giờ giấc như lũ học trò của tôi. Nắng thêu hoa lên mặt sân. Cát ươm nồng không khí. Bụi bay lãng đãng nhẹ nhàng... Tôi chợt vui vô cớ. Tôi hát, tôi hát nho nhỏ, một bài gì đó đầu Ngô mình Sở nhưng chắc là một khúc vui vì nhịp nhanh và ríu rít như tiếng chim sẻ trên cành bàng phía trước văn phòng. Lũ học trò đang lao xao trong kia. Cái lũ quỉ. Đã dặn không biết bao nhiêu lần là khi cô chưa kịp tới, phải ngồi vòng tay lại, không ai được nói chuyện, không ai được đập bàn xô ghế. Liên toán trưởng phải có phận sự lên đứng trên bục cao nhìn xuống phía dưới lớp ghi hết tên đứa nào không cho đôi môi kịp làm da non. Cứ biên hết tên lũ quỉ đó cho cô. Nhiều lần thằng liên toán trưởng phân vân. Nhưng thưa cô tụi nó không sợ em. Em mới mở miệng, tụi nó đã ê xuống đi. Tôi đã mách nước cho thằng liên toán trưởng: "Thế này nhé, em được cả lớp bầu lên chứ phải chuyện chơi đâu. Em được cô tin cậy, như vậy em phải cho tụi nó thấy cái oai của em chứ. Em đứng thế này này. Đứng thật thẳng. Hay tay chắp sau lưng. Ngực hơi trỡn tới một chút. Em nhìn đăm đăm không chớp mắt xuống phía dưới, ráng đừng có nhảy. Em nhìn quét một lượt từ phía phải qua phía trái, rồi lại nhìn từ trái qua phải..."

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 145): Nguyên Nhi – Bão tuyết ở Literville

Trong lịch sử Literville chưa có một mùa đông nào tệ hại đến vậy.
Tuyết bay như xối, từng lớp, từng lớp, chất thành đụn ngất ngưỡng trên nóc những thư viện, giáo đường, viện bảo tàng và những kiến trúc cao tầng khác. Không còn dấu vết của những công viên, nghĩa trang và bến cảng. Cơn bão bất ngờ chụp lưới những con tàu đang chờ ra khơi, giờ chỉ còn được nhận biết qua những cột khói lười nhác và, giây lâu, một hồi còi rụt rè buồn bã. Người ta có thể lẩy bẩy đi bộ băng qua con sông cạn chia đôi thành phố. Hàng cổ thụ năm trăm năm tuổi trước tòa thị chính chỉ còn là những bụi rậm nhỏ nhoi trên nền trắng bạt ngàn.

Bộ Y tế Việt Nam nên tự kiểm điểm

Lê Hiệp

MD, FACP

Diplomate American Boards in Internal Medicine and Nephrology.

Tôi xin tự giới thiệu là một bác sĩ về ngành thận (Nephrology) đang hành nghề tại Hoa kỳ và cũng đang đảm trách bác sĩ chỉ đạo (medical director) của hai trung tâm lọc thận ngoài bệnh viện (dependent dialysis unit) và một trung tâm lọc máu thuộc bệnh viện (inpatient hemodialysis).

Học trò Pháp thi tú tài triết

Nguyên Ngọc

Sáng 17/6, tất cả học sinh cuối cấp phổ thông trên toàn nước Pháp bắt đầu kỳ thi tú tài 2019, theo đúng truyền thống, bằng môn triết.

Mỗi thí sinh phải chọn một trong ba đề sau đây: viết luận trả lời một trong hai câu hỏi, hoặc bình một đoạn trích tác phẩm, trong bốn tiếng:

Đẻ sách (kỳ 3)

Tiểu thuyết của Đỗ Quyên

Chương 2

Theo chân những người tỵ nạn

2.7

Minh Rô-lăng như một con quái vật của dân thiết kế xe hơi ở vùng biên giới Pháp-Đức. Công ty nào trong vùng anh ta cũng làm vài năm rồi ra đi để lại trong giới chủ sự thèm thuồng và tức tối, lưu trong đồng nghiệp cái thèm muốn và ngưỡng mộ. Tiền kiếm được phải nói là bội. Anh nuôi hai người “đàn bà”: xe hơi và đạo phái. Mà không đủ.

Chuyện làng Tào

Truyện Thái Sinh

Thằng Thụ

Dòng họ Trần Đình ở làng Tào có bốn chi, tôi ở chi thứ hai. Bố tôi là con trưởng nên gọi là trưởng chi. Chi của chúng tôi ban đầu chỉ có bốn anh em, đến đời chúng tôi thì có tám anh em, hiện giờ thì có ngót hai chục gia đình. Năm nào cũng vậy, từ ngày 15 đến 23 tháng Chạp, các chú ở nhà chọn một ngày họp mặt toàn thể các gia đình trong chi, tổ chức rẫy nội ngoài đồng rồi làm cơm cúng tổ tiên, sau đó thì ăn uống. Tôi đi làm ăn xa, khi kể lại những chuyện của làng, bạn bè tôi thường bảo: Đúng là chuyện của làng Tào… lao.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 144): Nguyên Nhi – Mạn ngược

Nguyên Nhi sinh 1950 và mất ngày 18 tháng 10 năm 2013 tại Dallas-Texas, tên thật là Nguyễn Văn Nhiều, nguyên Hải quân Trung úy VNCH đã từng theo học khóa huấn luyện OCS Trần Hưng Ðạo tại Hoa Kỳ và tham gia trận chiến bảo vệ Hoàng Sa trên khu trục hạm HQ-4 Trần Khánh Dư. Nguyên Nhi còn là phu quân nhà văn Phạm Chi Lan (1961-2009), sáng lập kiêm Chủ biên tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, tạp chí Internet đầu tiên của người Việt tỵ nạn.

Một nét đẹp cần khai thác thêm khi dạy học thơ Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám

Lê Hồ Quang

1. Nói về thơ Huy Cận, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét: “Có người sẽ bảo thơ Huy Cận già. Già vì buồn, già vì hay kể lể những chuyện xưa. Nhưng trong đời người ta có tuổi nào hay buồn hơn tuổi hai mươi. Còn có tuổi nào hay vẩn vơ hơn. Tôi thấy thơ Huy Cận trẻ lắm” [7;128]. Nhận xét ấy thực chính xác, nó chỉ rõ điểm cốt yếu của tiếng thơ Huy Cận - ấy là tiếng thơ của một con người “trẻ tuổi và nhất là trẻ lòng”[1]. Ta cũng có thể diễn đạt sự “trẻ lắm” ấy theo cách khác, đó là tươi mới trong xúc cảm và hiện đại trong thi pháp. Sự xác lập vị trí nhanh chóng và vững bền của Huy Cận trong phong trào Thơ Mới chắc chắn xuất phát từ chính sự trẻ trung, hiện đại này. Nhưng theo quan sát cá nhân tôi, ở trường phổ thông, khi nói đến thơ Huy Cận ở giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám, cụ thể là trong tậpLửa thiêng, người ta thường quan tâm chú ý và đề cao phần “già” (nỗi sầu nhân thế - vũ trụ, vẻ đẹp cổ điển, tính chất tượng trưng, phổ quát…) hơn là phần “trẻ” (sự mới mẻ, hiện đại, thanh tân)[2]. Điều này càng được nhấn mạnh khi trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, Huy Cận được dạy học cùng (và thường được đặt trong mối liên hệ so sánh, đối chiếu) với Xuân Diệu, người bạn thơ thân thiết của ông, cũng là một tác gia hàng đầu thời Thơ Mới. Đành rằng, việc định danh thơ Huy Cận thời Lửa thiêng bằng các định ngữ như “hàm súc, giàu suy tưởng, triết lý”, “cái tôi cô đơn trước thiên nhiên”, “vẻ đẹp cổ điển”, “họa điệu giữa hồn người và tạo vật”, “lòng yêu nước thầm kín thiết tha”, “sầu nhân thế” [3] là hoàn toàn đúng (và những đặc điểm này thể hiện rất rõ qua Tràng giang, bài thơ được chọn dạy học trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành). Nhưng thơ Huy Cận thời kỳ này không chỉ có vậy. Nhiều bài trongLửa thiêng rất tươi mới và giàu xúc cảm cá thể, chỉ có điều chưa đến được với rộng rãi bạn đọc. Điều này khiến nhiều độc giả trẻ trong nhà trường thường có ấn tượng không đầy đủ, nếu không nói là khá phiến diện về thơ Huy Cận. Do đó, họ chủ yếu đọc/ nghĩ về ông như một tác giả thơ tuy giàu triết lý, có vẻ đẹp cổ điển và tao nhã nhưng khá xa cách với tuổi trẻ.

Quê hương ngày trở lại (kỳ 6)

Thụy Khuê

Dòng họ Nguyễn Tường ở Hội An

Hội An nay đã khác xa hơn hai mươi năm về trước, khi tôi đến lần đầu. Lúc đó, Hội An chỉ là một phố thị nhỏ, bên bờ sông Thu Bồn, với một con phố chính, lác đác nhà cổ và dăm ba cửa hàng bán đồ tơ lụa, kỷ niệm, nhưng rất thơ mộng vì những chiếc đèn lồng Nhật Bản treo trước cửa hàng, dư âm của một thời xa xưa còn đọng lại.

Một chương hồi ký “Hòa bình khó nhọc”

Công bố lần đầu tiên một chương hồi ký của nhà văn Nguyên Ngọc


Đôi lời cùng bạn đọc

Diễn Đàn xin đăng dưới đây, lần đầu tiên, toàn văn một chương hồi ký của nhà văn Nguyên Ngọc. Bắt đầu từ năm 1978, khi ông được cử làm phó tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam, bí thư Đảng đoàn Hội nhà văn, viết bản "Đề dẫn" đọc trước hội nghị đảng viên – bản "đề dẫn" cho đến nay chưa hề được công bố ở trong nước, và đã gây sóng gió một thời – chương hồi ký kết thúc ở thời điểm cuối năm 1988, khi tác giả phải chấm dứt công việc Tổng biên tập báo Văn Nghệ – độc giả còn nhớ mãi những số báo Văn Nghệ "thời Nguyên Ngọc".

Một thời trăn trở đổi mới

Hoàng Tuỵ

Trong buổi gặp mặt mừng Thầy Hoàng Tuỵ 88 tuổi tại Toà soạn tạp chí Tia Sáng, Thầy đã kể lại một số trăn trở của Thầy trước hiện trạng của đất nước và mối quan hệ của Thầy với một số lãnh đạo Đảng và Nhà nước trước thời Đổi mới. Dưới đây là lược ghi chuyện kể của Thầy.

Văn học miền Nam 54-75 (570): Nguyễn Mộng Giác (kỳ 4)

Gió hú
Vi đã lên tới chóp núi chỗ có cây thánh giá trước, hai tay giữ chặt lấy vạt áo nên phải để mặc cho gió thổi tung mái tóc mềm. Nàng mặc quần áo trắng, tóc thả dài trên chiếc vai tròn, da mặt hồng hào vì cố gắng leo dốc nhanh để lên trước Tuấn. Gió thổi từ cánh đồng xanh màu mạ non làm cho tóc che khuất một nửa khuôn mặt nàng, còn nửa bên kia bị một vài mảng tóc rối che mờ. Tuấn thầy nàng linh thiêng mờ ảo, bất giác dừng lại ngước nhìn. Chàng nói:
"Vi hãy đứng tựa vào cây thánh giá đi".

Đất Chà Bàn

Tùy bút Trần Quốc Toàn

Tranh Minh Họa của Trần Quốc Toàn

Khi lũ chim trời đã đến mùa làm tổ trên những tán cây gai quýt, khi cơn mưa mùa đông rơi lạnh lẽo, là lúc tôi cùng mẹ ở ngoài vườn, mảnh vườn được nới rộng dưới chân núi Tình Giang. Cha tôi vắng nhà đã lâu chưa về, vắng cha thì mẹ làm lụng vất vả hơn. Cha tôi đi làm công nhân đường sắt từ năm cha vừa tròn mười chín tuổi, lúc hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định còn chưa chia tách, được gọi chung là tỉnh Nghĩa Bình.

Biện hộ cho BS Hoàng Công Lương: Tôi chưa tin ba điều

Nguyễn Ngọc Lanh

Trước hết, tôi chưa tin Viện Kiểm sát tỉnh Hòa Bình có đủ chứng cứ xác đáng để buộc BS Hoàng Công Lương vào tội "Vô ý làm chết người".

Xin mọi người hãy đọc tóm tắt cáo trạng ở tòa sơ thẩm và phúc thẩm với những chứng cứ (kết tội BS Lương) đã từng bị bác bỏ. Nay, chẳng thêm chứng cứ nào mới.

Về chữ “bậu”

Nguyên Lạc

“Bậu” là tiếng dân dã, tiếng thân yêu của vùng Tây Nam bộ chúng tôi. Mỗi lần nghe ai nói, hoặc gặp trong thơ văn là lòng tôi cảm thấy bồi hồi. Tiếng “bậu” nầy hình như bây giờ trong nước ít ai dùng, ít ai nhắc đến! Tại sao? Vì quê mùa? Tôi xin được tìm hiểu và giới thiệu đến các bạn vài bài thơ có liên quan đến chữ “bậu” thân yêu nầy.

Đẻ sách (kỳ 2)

Tiểu thuyết của Đỗ Quyên

Chương 2

Theo chân những người tỵ nạn

2.1

Từ đây nhà văn ăn tim – ông Thomas Stone – hầu như trở thành một người quan sát, không là người viết sách nữa. Ở chương này, ông hành nghề của mình, một nhà báo chuyên làm phỏng vấn.

Với số phát hành không cao so với các báo chí ở tiểu bang Victoria, tuần san văn nghệ - giải trí The Kangaroo chọn độc giả là tầng lớp phụ nữ trung lưu, coi gia đình là trọng.

Đổi mới chính trị để hòa giải dân tộc

Nguyễn Quang Duy

Gần đây có hai sự kiện đáng để chúng ta suy ngẫm:

(1) Thủ tướng Lý Hiển Long tuyên bố Hà Nội “xâm lược” và “chiếm đóng” Campuchia; và

(2) Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn được vinh thăng Phó Đề đốc, trở thành vị tướng [người Mỹ gốc Việt – Văn Việt] thứ 4 của Quân lực Hoa Kỳ, cho biết gia đình ông gồm 7 người, nhỏ nhất chỉ 2 tuổi, bị cộng sản xử tử trong biến cố Mậu Thân 1968.

Văn học miền Nam 54-75 (569): Nguyễn Mộng Giác - Ngựa đá sang sông

Thôi, vậy là yên phận em. Thật ra trừ thuở em còn nhỏ, lúc mẹ giao chị việc cho em bú và tắm rửa, còn thì chưa lúc nào chị được ôm em trong lòng, trọn vẹn chiếm hữu em như bây giờ. Em đã chịu khó nằm yên nghe chị kể lể tâm sự, không như thời trước em vừa biết chạy nhảy và nói năng, mỗi lần chị sơ ý quệt vào em một tí là em khóc nhè, và đòi thầy me đánh đập trừng phạt chị mới chịu nín. Em biết không, những lúc ấy chị trốn ra sau vườn, một mình lấy tre gai đâm vào tay để tự đày đọa. Nhà chỉ có hai chị em, thầy me lại thường nuông chiều cậu con trai quí, nên chị cảm thấy thừa thãi bơ vơ. Chị vẫn ao ước được ôm vai em, vuốt tóc dỗ em nín khóc như những bà chị khác, đóng trọn vai trò kẻ trìu mến khoan hoà.

Quê hương ngày trở lại (kỳ 5)

Quy Nhơn

Thụy Khuê

Quy Nhơn có bề dày trọng đại của lịch sử.

Đến Quy Nhơn, chúng tôi ở khách sạn M.T. trên bờ biển. M.T. là tên một chuỗi khách sạn mọc trên toàn thể đất nước, ông chủ có lẽ là người gốc dân tộc (ngày trước gọi là người thiểu số) hay ông sinh ra ở miền núi rừng M.T. Bây giờ ông trở thành triệu phú. Ở nước ngoài thì người ta ca tụng ông tay trắng làm nên sự nghiệp (như Bin Ghết) còn ông ở Việt Nam, nên ông bị coi là tư bản đỏ, nhờ “đút lót” bọn “tham nhũng” mà nên. Du khách đến miền duyên hải nước ta gần như đương nhiên được ở khách sạn trên bờ biển, nhưng khách sạn M.T. thường có địa điểm tốt, thức ăn ngon và nhân viên tiếp đón lịch sự, vì thế mà thành công.

Khách sạn của chúng tôi nhìn chéo vào cửa đầm Thị Nại. Điều thật bất ngờ. Bởi đầm Thị Nại là nơi tôi ao ước được đến ít nhất một lần trong đời, để xem bề thế của nó, nơi đã xảy ra bao nhiêu cuộc chiến ác liệt trong lịch sử, từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX do vị trí chiến lược hiểm yếu nhất vùng Bình Định. Và Bình Định, tức Quy Nhơn hay Đồ Bàn là cột trụ của cuộc di dân mở nước từ Bắc xuống Nam của dân tộc ta.

Sách in lậu, sách giả giá cao hơn sách thật để lừa bạn đọc!

Nguyễn Văn Phước

Những ai đang bảo kê, bao che Quốc nạn In lậu, sách giả ở Việt Nam?

Sau 2 tuần cảnh báo có tang chứng vật chứng cho tất cả các Công ty bán sách Online ở Việt Nam tiếp tay buôn bán, phát hành sách giả vi phạm pháp luật, trốn thuế, đánh lừa bạn đọc, các cửa hàng trên các sàn Shopee, Sendo, Lazada...và các trang khác bất chấp tiếp tục bán sách giả, sách in lậu cho bạn đọc đặt hàng. Qua kiểm tra 128 đơn hàng được Sendo, Shopee, Lazada... chuyển giao đã xác định 100% là sách giả, sách kém chất lượng đã chuyển giao các cơ quan chức năng và tiến hành lập vi bằng thừa phát lại tại chỗ để chuẩn bị cho các bước tiếp theo.

Gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã

Truyện Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

Chuyện chữ nghĩa vừa có tính nghiêm túc vừa có thể không cần quá nghiêm túc tới mức nghiêm trọng, buộc phải đứng nghiêm 24/24 giờ. Bởi chữ nghĩa/văn chương là do con người nghĩ ra/tạo ra, nên con người có thể “tác động” trở lại, theo nhiều cách khác nhau.

Truyện dưới đây của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng là một trong những cung cách ấy.

Vừa nghiêm trang, đầy tôn trọng nhưng đồng cũng vừa trào lộng, hài hước, khiến người đọc có thể cười mỉm, tự hỏi nên tin/không tin những lời lẽ/thông tin này đến mức nào…

Rất thú vị, vì giữa thời buổi nhiễu nhương, nhiều thứ giả hình, đóng tráo vai, người ta cần tĩnh tâm/định tâm trước bất cứ điều gì, thì chuyện chữ nghĩa cũng vậy: chuyện-tưởng-thiệt mà hóa ra đùa, và chuyện-như-đùa mà té ra là thiệt…

VĂN VIỆT

Ai chả hay biết làm văn phải có chữ, một tác phẩm hay phải có câu, có chữ. Chỉ một dúm chữ không thôi nhưng có hồn, có cốt tráng qua nét văn chương, có khi chỉ phẩy vài nét mà túm tó được thần thái, lột được hết hồn vía của con chữ. Thế mà gã không hay. Chuyện đắp chữ vá câu gã cũng cắc củm được một vốc chữ đấy, nhưng gã lại mắc bệnh từ ám, nôm là mê muội với chữ. Thế nên gã biết chữ nhưng chữ không hề biết gã. Vì vậy mỗi lần gã đi tìm chữ,... chữ lại làm như không có mặt trong cõi nhân gian này.

Đẻ sách (kỳ 1)

Tiểu thuyết của Đỗ Quyên

Tặng mẹ và sách

Cám ơn những tác giả của các trích dẫn

và những bạn văn đã đọc bản thảo

Văn học và sứ mệnh hòa giải dân tộc

Tạ Duy Anh

Mỗi dịp 30 tháng Tư, tôi lại trở nên trầm tư bởi vô vàn ý nghĩ cứ cuốn lại với nhau. Tình trạng này chỉ xảy ra với tôi cách đây khoảng hai mươi năm, khi tự cảm thấy mình đã đủ chín chắn để suy tư về lịch sử. Với tôi và những chàng trai sắp thành niên như tôi hồi 1975, thì ngày 30 tháng Tư là một cơ may sống sót vĩ đại. Quá sợ hãi và chán ngán cảnh cứ phải lẩn trốn bom đạn trút xuống từ trên trời bất cứ lúc nào, chúng tôi bỗng trở thành những kẻ yêu hòa bình nhiệt thành nhất thế giới. Vì thế vào hôm đó chúng tôi chạy nhảy và hát váng từ làng trên xuống làng dưới, từ trường học ra cánh đồng. Nhiều bậc cha mẹ, trong đó có cha mẹ tôi, đã khóc vì sung sướng. Nỗi sung sướng lớn nhất là những đứa con của họ từ nay sẽ không phải cầm súng vào chiến trường như cha anh chúng để rồi rất nhiều người trong số đó đã vĩnh viễn nằm lại. Không còn nghi ngờ gì nữa, ngày 30 tháng Tư là dấu mốc để từ đó người Việt không còn phải đổ máu vì chiến tranh ngay trên đất nước của mình. Với tôi, đó là ngày Hòa bình, ngày nước Việt Thống nhất.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 142): Đặng Thơ Thơ - Đi Tìm Bản Kinh Thánh Cuối



Tôi

Tôi là thầy tu dòng Tín Giáo xuất thân từ chủng viện lâu đời nhất thế giới. Tôi là người chép kinh thánh, viết bằng tay, cuốn kinh dầy cộm đi từ Cựu ước đến Tân ước. Cửa sổ chỗ tôi ngồi viết nhìn xuống quảng trường thành phố nơi có những tượng thánh đang tắm nắng. Phòng tôi ngồi viết ngay sát tháp chuông nhà thờ, ngọn tháp cao vút như một thanh gươm xuyên thủng màn trời. Đây là giáo đường trung cổ lâu đời nhất châu Âu. Cuốn kinh thánh tôi chép nguyên thủy là bản xưa nhất mà loài người còn nhớ.

Lan man với trang phây của Lý Thủ tướng...

Lê Học Lãnh Vân

Ngày 31/5/2019, trên trang Facebook của mình, trong một status về thủ tướng Thái Lan, ông Prem Tinsulanonda, thủ tướng Lý Hiển Long viết: “Thời điểm ông ấy (Prem Tinsulanonda) làm thủ tướng trùng với thời điểm năm nước thành viên ASEAN cùng nhau chống lại sự xâm lược của Việt Nam vào Campuchia và chính phủ Campuchia sau đó đã thay thế chế độ Khmer Đỏ" (https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-48555379). Ông Lý viết tiếng Anh, “xâm lược” được dịch từ chữ “invasion”.

Tôi đã học được gì khi lãnh đạo các cuộc biểu tình ở Thiên An Môn

Tôi đã trả một giá quá đắt cho việc biểu tình ba chục năm trước. Nước Trung Hoa cũng vậy.

Vương Đan, The New York Times ngày 1/6/2019

(Vương Đan là lãnh tụ sinh viên trong thời gian họ biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn)

Bùi Xuân Bách dịch

Những người phản kháng trên chiếc thiết giáp ngay bên ngoài quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh ngày 4 tháng Sáu, 1989. Ảnh: Jeff Widener/Associated Press

Tôi được biết rằng, mình là kẻ tội phạm bị truy nã gắt gao nhất trên toàn quốc, trong khi đang cắt tóc trên một con tàu hơi nước cũ rích, đầy người, chạy trên sông Dương Tử. Hệ thống loa phóng thanh công cộng trên tàu đang oang oang thông báo rằng, Văn phòng Công an Bắc Kinh đã công bố lệnh bắt 21 sinh viên phạm tội xúi giục “các cuộc bạo loạn phản cách mạng” trên quảng trường Thiên An Môn. Tên tôi đứng đầu bảng danh sách.

Văn học miền Nam 54-75 (568): Nguyễn Mộng Giác (kỳ 2)

Tên đào ngũ
Chiếc GMC chở quan tài đậu sát vào mái tôn, quay đít vào gần cửa ra vào. Lá quốc kỳ bị gió bay, nên lệch sang một phía, để lộ hông quan tài gỗ tạp sơn một lớp dầu bóng đỏ ối. Người tài xế mở xe nhảy xuống, nói trỏng vào phía buồng lái:
"Xuống đi! Phải ở lại đây tối nay rồi. Trời tối, ai dám qua truông".

Điều gì có thể sẽ xảy ra, nếu nhà văn Mỹ gốc Á quyết định không thỏa hiệp? Chất trữ tình của Vương Đại dương (Ocean Vuong) mang hình nước Mỹ trong cuốn tiếu thuyết mới ra mắt.

Trên mặt đất chúng ta huy hoàng trong chốc lát, cuốn tiểu thuyết ra mắt hôm nay cho thấy nhà văn đoạt giải [giải Thơ T. Eliot 2017 – V.V.] thăm dò những hình thức mới và viết về chủ đề quen thuộc.

Anderson Teppe, Vanity Fair, 4 tháng Sáu, 2019

Hiếu Tân dịch

Ocean Vuong in New York Ocean Vương ở New York. Anh của CELESTE SLOMAN/THE NEW ​YORK TIMES/REDUX.


Trên mặt đất chúng ta huy hoàng trong chốc lát (On Earth We’re Briefly Gorgeous), cuốn sách mới ra mắt của Ocean Vuong (Vương Đại dương) nhà thơ Mỹ gốc Việt 30 tuổi mở ra trong những ánh chớp lóe của ngôn từ và kí ức. Lấy cảm hứng từ chính cuộc sống của anh, cuốn tiểu thuyết theo chân nhân vật Cún (Little Dog), đến Mỹ năm 1990 khi còn là một đứa trẻ và bây giờ chừng 20 tuổi, với những mối quan hệ chằng chịt trong quá khứ – với người mẹ không biết chữ của cậu đang sống tằn tiện trong một tiệm “neo” (nail); đất nước cưu mang cậu, với di sản cuộc chiến Việt Nam của nó; và một gã choai choai bất trị tên là Trevor, mà một mùa hè nào đó cậu đã đụng độ khi còn làm trong một trang trại trồng thuốc lá ở Hardford, Connecticut. Tôi nói chuyện với Vương qua điện thoại về khám phá bản sắc Mỹ và tính đàn ông từ những điểm nhìn mới.

Vanity Fair: Trong lời cám ơn, anh đã nhắc chuyện anh bắt đầu viết cuốn sách trong một vụ mất điện ở Italy và chuyện ấy cho một cảm giác thần diệu. Tại sao anh quyết định cấu trúc quyển sách xung quanh bức thư không gửi cho mẹ của Cún?

Ocean Vương: Tôi muốn viết một cuốn sách có những khúc ngoặt và những đoạn chệch hướng, nhưng trong một hội thảo về sáng tác người ta khuyên nên có một cốt truyện mạnh và những xung đột. Vì tôi đang dạy ở Umass (Đại học Massachusetts) tôi làm một chuyến hành hương đến ngôi nhà của Herman Menville, cách đây không xa, và đọc lại Moby Dick. Tôi cho rằng nó vẫn còn là một kiệt tác của Mỹ, bởi ở đây một nhà văn đã quyết định không thỏa hiệp gì hết. Nó là một tiểu thuyết xúc động và hấp dẫn, một khảo sát thần học và một suy tưởng về các chính sách về người da trắng – trong quan hệ với cuộc sống rộng lớn và dân da trắng ở Mỹ.

Tôi nghĩ, điều gì sẽ xảy ra khi một nhà văn Mỹ gốc Á quyết định không thỏa hiệp? Do đó bức thư là phương tiện tuyệt vời bởi vì cốt truyện chính là bức thư. Khi tôi kiếm được một chỗ ngồi để viết ở Italy, tôi mang laptop ra và sẵn sàng để bắt đầu. Thế rồi bốn ngày liền mất điện. Tôi nghĩ chẳng hi vọng có ai sẽ sớm đến giúp mình, tốt nhất là cứ bắt tay vào việc. Tôi lấy sổ tay ra và bắt đầu viết bằng tay. Và một điều kì diệu đã xảy ra: khi ta viết bằng tay, ta phải ngồi im lặng lâu hơn khi viết bằng máy tính, do đó tôi thấy mình nhìn rõ hơn cái thế giới mà tôi đang viết về.

Anh biết anh muốn tập trung vào mối quan hệ phức tạp, đôi khi gay gắt giữa Cún và mẹ cậu ấy?

Vâng điều này được dạy nhiều bởi Roland Barthes – một nhà lý thuyết văn học kì quái – và những trang viết về mẹ của ông, về tình yêu được dàn xếp và sự xa cách của ông với người mẹ. Đây cũng là điều quan trọng đối với tôi, có một quyển tiểu thuyết trong đó một người da vàng nói với một người da vàng, khiến cho bất cứ ai đọc nó đều phải nghe trộm câu chuyện trung tâm.

Cả mẹ và bà của Cún đều bị ám ảnh bởi những trải nghiệm trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Nhưng những người đàn ông trong sách dường như thậm chí còn được định hình rõ hơn bởi bạo lực.

Tôi muốn viết một cuốn sách xoay quanh những người phụ nữ này, và qua đó làm nổi bật những người đàn ông đã gây ra và tham dự cuộc chiến tranh. Thường thì chính những người phụ nữ là người gột rửa, cả về tâm lí, cảm xúc và thể xác.  Đặc biệt trong bối cảnh Mỹ, có những quy tắc nhất định cho đàn ông, và mất tính đàn ông là mất cảm giác về bản ngã. Theo một cách nào đó, chúng ta đạt đến nam tính độc địa khi quá nhiều nam tính sẽ tước mất nhân tính khỏi những người đàn ông con trai lớn lên trên đất nước này.

Trong khi đó Trevor, mặc dù hùng hổ, “cơn thịnh nộ Mỹ bị khuất phục” lại rất dịu dàng với Cún – gần như từ bi trong một khung cảnh đầy uy quyền.

Tôi nghĩ khoảnh khắc này giữa họ khá then chốt với tôi bởi vì khi tôi bắt tay vào viết cuốn tiểu thuyết này, tôi đã không muốn có một nạn nhân hay một tên  khốn kiếp nào. Và cái mà ông thấy ở Trevor là một cậu trai mười lăm tuổi đứng giữa ngã ba đường, tại đó cậu ta phải quyết định tiến lên như thế nào trong cái thân xác ấy, và liệu cậu có thể biến cái địa vị đặc quyền đặc lợi của mình thành một địa vị đầy ân cần chu đáo hay không. Và cậu ta đã làm được.

Cả Trevor lẫn Cún đều đến từ khu vực nghèo của Hardford, và dường như họ đã cùng nhau có mặt ở khắp ngang cùng ngõ hẻm của thành phố này.

Vâng, với tôi đó là một cách để tỏ lòng tôn kính với nơi đã cho tôi trí tưởng tượng. Để nói rằng ở đây có tầng lớp nhân dân lao động, và họ rất khác nhau. Có một dòng giống lâu dài những người nhập cư ở Connecticut, và tôi nghĩ Connecticut thật sự là một vũ trụ thu nhỏ của đất nước nói chung. Tôi muốn tái tạo một mẩu nhỏ bản sắc của giai cấp công nhân New England.

Đối với bà của Cún, kể chuyện là một cách trốn chạy khỏi những kí ức đau buồn của bà. Nhưng Cún thì không chắc chắn về sức mạnh của những gì cậu ta viết ra, mà cậu biết rằng mẹ cậu sẽ không bao giờ có thể đọc được.

Vâng, theo nhiều cách đây là một cuốn tiểu thuyết về thất bại – thất bại của giao tiếp, thất bại của ngôn ngữ, thất bại của giấc mơ Mỹ, thất bại của một lí tưởng về tính đàn ông. Và nó thật sự hỏi “Liệu nó có đáng không?” Tôi đã viết phần lớn cuốn tiểu thuyết này trong chiến dịch bầu cử đã dẫn đến sự đăng quang của Trump. Tôi là một thầy giáo và tôi cần phải nói với sinh viên của tôi “Thơ ca thì đáng .” Và tôi không biết liệu nó có phải là bản thân tôi không. Trở lại với những lời cảm ơn của anh, anh gửi lời cám ơn đến những nhà văn mà anh nói anh đã học được ở họ – Maxine Hong Kingston, James Baldwin, Nguyễn Thanh Việt, và nhiều người khác. Anh có cảm thấy có mối liên hệ đặc biệt với những nhà văn này, những người cũng đang khám phá những vấn đề của lịch sử và bản sắc Mỹ theo những cách mới và cá nhân?

Nhất định rồi, nhất định rồi! Trở về đến tận Melville, Salinger, Hemingway, Annie Dillard – tất cả các vị này đã hỏi, “bản sắc Mỹ là thế nào?” Chúng ta đã và đang nhìn Mỹ như một bức tượng trong gần 250 năm, và chúng ta đã có một góc nhìn. Nay chúng ta có những giọng khác hơn bổ sung vào dàn đồng ca ấy. Tôi thật sự tự hào được là một bộ phận của nó.

Và anh cảm thấy tiểu thuyết chứ không phải thơ là cách tốt nhất để tiếp cận những câu hỏi ấy?

Với thơ anh có thể viết một bản nháp rồi cất vào ngăn kéo và anh kệ nó đấy. Tôi đã không muốn kệ nó nữa khi hỏi về bản sắc Mỹ trong mối quan hệ với bạo lực. Và ông thấy đấy, tôi đã được nhiều hơn tôi hỏi xin! Cuốn sách này thật sự ám ảnh tôi. Dù tôi làm gì trong ngày – rửa chén đĩa, tắm cho con chó của tôi – thì cuốn sách vẫn ở ngay đây, tôi có thể cảm thấy hơi thở của nó trên má tôi.  Nói thật nếu tôi biết nó kích thích đến mức này, chắc tôi đã không thể làm nó.

Có lẽ đó là lí do vì sao tôi viết rất nhiều về đêm. Đó cũng là một biểu tượng: Ta bắt đầu trong đêm tối và ta đến với ánh sáng của ngày mới. Không phải là những người Mỹ trong khoảnh khắc này phải chịu số phận.  Đúng hơn chúng ta có thể nhìn vào những nguồn gốc bạo lực của chúng ta và nói, “Tại sao chúng ta làm thế và nó có nghĩa gì? Và chúng ta làm gì với nó trong tương lai?” Do đó việc tính đến bạo lực vốn đã làm nên bản sắc của chúng ta chính là một phương tiện để tự hiểu mình. Và tôi nghĩ câu hỏi khi đó sẽ là: Làm sao chúng ta có thể tìm thấy niềm vui mặc dù có chuyện đó? Làm sao chúng ta có thể tìm thấy niềm vui với chuyện đó?

Nụ cười Thái Thú

Truyện Hoàng Nga

Anh từ miền Bắc vào thị xã tôi khoảng giữa năm bảy lăm, lúc Sài Gòn vừa mới mất chưa đầy bốn tuần lễ. Đúng ra phải gọi là anh về, bởi bác tôi tập kết, mang anh theo lúc anh chỉ độ một tuổi. Khi bác tôi trở về, anh trở về cùng. Và lẽ ra tôi phải dùng chữ hồi hương cho trường hợp của anh mới đúng. Nhưng trông anh chẳng có gì là về. Cũng không là trở lại. Cái vẻ ngơ ngác, lạ lẫm với tất cả mọi thứ, từ khung cảnh quê nội quê ngoại, đến bầu không khí anh chưa từng được nhìn thấy, chưa từng được trải qua trong đời, không xuất hiện nhiều lắm trên mặt anh, trong ánh mắt anh, nhưng trong những lời nói dè dặt, nhỏ nhẻ, trong những ngại ngần khoảng cách của anh khi tiếp xúc với chúng tôi lần đầu, khiến chúng tôi nhận ra, quê hương của anh chẳng phải là nơi này.

Đoàn tàu Việt Nam và định vị quốc gia

Nguyễn Quang Dy

Trong bài này, tôi mượn hình tượng “đoàn tàu Việt Nam” để dễ hình dung và chia sẻ, với những ẩn ức và ám ảnh trong tâm thức người Việt. Đã lâu tôi không đi tàu, nhưng những kỷ niệm khó quên về tàu hỏa vẫn còn đọng lại từ thời niên thiếu và thời chiến tranh. Nay tôi ngại đi tàu không phải chỉ vì nó chạy quá chậm, mà còn vì những ám ảnh trong tâm thức.

Đại hội 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đổi mới toàn diện để Việt Nam có thể trở thành một nước phát triển vào năm 2030

Vũ Trọng Khải

Có nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nói, đại ý: Không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông. Điều đó có nghĩa là vạn vật luôn luôn thay đổi theo những qui luật tất yếu khách quan mà ý chí chủ quan của con người cần phải thuận theo; còn đi ngược lại qui luật thì con người sẽ lãnh đủ mọi hậu quả khôn lường. Theo chủ quan, con người luôn nghĩ rằng hoạt động của mình là tạo ra những thay đổi vì mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trong thực tế, sự thay đổi luôn diễn ra theo cả hai chiều hướng: tiêu cực và tích cực. Chỉ những hoạt động phù hợp với qui luật khách quan mới tạo ra thay đổi tích cực, được coi là đổi mới. Hơn thế nữa, trong tiến trình phát triển, con người luôn luôn phải đối mặt, xử lý, giải quyết những vấn đề do chính sự đổi mới tạo ra, để vươn lên tầm cao hơn. Nếu không, sự đổi mới của ngày hôm qua lại trở thành sự lạc hậu, cản trở sự đổi mới của ngày hôm nay. Như Albert Einstein đã dạy: Người ta không thể giải quyết được những vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra những vấn đề đó.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 141): Ðặng Thơ Thơ - Khi phong linh vỡ

Sinh năm 1962 – Sang Hoa Kỳ năm 1992 – Hiện sinh sống và làm việc tại Orange County – California.

Đồng chủ trương và hoạt động trong ban biên tập tạp chí Da màu www.damau.org từ tháng 8/2006. Cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Gió Văn, Chủ Đề. Tác phẩm đã xuất bản: Phòng Triển Lãm Mùa Đông, tuyển tập truyện ngắn (Văn Mới 2002). Tác phẩm mở: Khi Phong Linh Vỡ – truyện dài.

Lễ tưởng niệm thi sĩ Tô Thùy Yên

Tô Thẩm Huy

5:00 - 8:00 PM, MAY 31, 2019

Houston, Texas, USA

Kính thưa quý vị và quý thân hữu của cố Thi Sĩ Tô Thùy Yên,

Thay mặt cho Bà quả phụ Tô Thùy Yên là chị Huỳnh Diệu Bích, các cháu Đinh Quỳnh Giao, Đinh Kinh Tuệ, Đinh Kinh Hiệt, và gia đình, tôi xin chắp tay kính chào tất cả chư vị đang có mặt tại căn phòng này, từ gần xa các nơi đang đến đây trong buổi chiều ngày hôm nay, thứ Sáu 31 tháng 5, để tiễn đưa vong linh Thi Sĩ TÔ THÙY YÊN trở về nơi thường được gọi là cõi vĩnh hằng, là thiên đường, là Niết Bàn, là bên kia thế giới, bên kia cái gọi là Suối Vàng, là Hoàng Tuyền, là giòng sông Styx, v.v.. Cõi ấy thưa quý vị, Thi Sĩ Tô Thùy Yên thích dùng những tên khác để gọi, như “Ngôi Nhà Lớn”, “Hiu Quạnh Lớn”, “Im Lặng Lớn”...

Thơ Quảng Tánh Trần Cầm

lòng như mê lộ

khi chiều về miên man

khi lòng như mê lộ

nàng xa cách

nàng khóc tức tưởi vô duyên cớ

nàng ghét lâu thù dai

nàng xao động

nàng co giật

tựa hồ khoác & thoát xiêm y

nhập vai đông phương hoàng hậu

lặp đi lặp lại & tiếp nối

vở kịch vời vợi một thời

khi những giọt nước mắt vắn dài sau cơn đng kinh

lăn ngập ngừng trên má trên môi

còn in vết hằn của tháng ngày trm luân

ngậm ngùi

ma mị

choáng ngợp

chơi vơi

như dư vị phiêu bạt chốn điêu linh

khi chiều về miên man

khi lòng như mê lộ

tóc bềnh bồng theo cơn gió ngược xuôi

nàng ngẩn ngơ đứng cuối chân mây

Các bài thơ đại tự báo

Phan Tấn Hải
Tuần lễ này là tưởng niệm 30 năm trận thảm sát Thiên An Môn ở Bắc Kinh, khi Quân đội Cộng sản Trung Quốc tràn vào Thiên An Môn ngày 4 tháng 6/1989 với xe tăng và súng máy, giải tán cuộc biểu tình vì dân chủ của sinh viên, công nhân và trí thức.