Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu (kỳ 24)

Hoàng Tuấn Công


○ “nằm đất hàng hương hơn nằm giường hàng cá Ý nói: Gần gũi nơi thơm tho hơn là gần nơi tanh tưởi”.

Giải thích quá đơn giản, nếu không nói là sai. “Gần gũi nơi thơm tho hơn là gần nơi tanh tưởi” là điều hiển nhiên quá rồi, ai còn đúc kết thành kinh nghiệm làm gì! Nghĩa đen: mùi tanh của cá rất đáng sợ, nên thà phải nằm ngủ dưới đất với mụ hàng hương thơm tho, còn hơn được nằm giường, nhưng lại nằm với mụ hàng cá tanh tưởi. Hình ảnh “nằm giường” và “nằm đất” tạo sự đối lập, so sánh giá trị của cái thơm tho và tanh tưởi. Nghĩa bóng: chịu cảnh nghèo khổ, nhưng sạch sẽ, thơm tho, còn hơn sống đủ đầy mà chịu điều xú uế. Thanh Hoá có dị bản: Nằm đất với mụ hàng hương còn hơn nằm giường với chị hàng ruốc, nghĩa đen lại có ý: mùi ruốc (mắm tôm) rất đáng sợ. Nghĩa là mắm tôm khi ăn rất ngon, hấp dẫn, nhưng nếu dây chút ra quần áo, vật dụng thì lại vô cùng khó chịu (ngon mồm, ghét mũi). Cách so sánh hàng hương với hàng ruốc, “đắt” hơn so hàng hương với hàng . Chú ý, dân gian còn dùng “mụ” (già) với “chị” (trẻ) nghĩa là thà nằm đất với mụ (già) hàng hương, còn hơn nằm giường với cô gái (trẻ) hàng ruốc.

Jean d'Ormesson và Trịnh Xuân Thuận đối thoại về vũ trụ.

Năm 2014, tạp chí « Le Point » đã kết nối nhà văn với nhà vật lý thiên văn, hai con người sáng chói suốt đời đi tìm những câu trả lời cho bí mật lớn của cuộc sống.

Thomas Mahler

Le Point.fr

Hiếu Tân dịch


Chúng tôi đăng lại bài này, xuất hiện trên Le Point ngày 3 Tháng Bảy, 2014, trong dịp Jean d'Ormesson từ trần, 5 tháng Mười Hai 2017.

Một người là nhà vật lý thiên văn xuất chúng, đã tìm ra giải thiên hà trẻ nhất được biết từ trước đến nay, nhưng không quên mang những “giai điệu bí mật của vũ trụ” đến tai những đồng loại tầm thường hơn. Người kia là viện sĩ hàn lâm hay cười, người sau những cuộc tắm biển, những đôi giày Italie và Chateaubriand, về già bỗng tự thấy mình có khuynh hướng thám hiểm vũ trụ. Trịnh Xuân Thuận và Jean d'Ormesson biết nhau từ lâu rồi, nhưng chưa bao giờ trao đổi quan điểm trong một cuộc chuyện trò trực tiếp.

Hội thảo Tám Năm Cánh Buồm

FB Thao Dinh

Ra đời năm 2009, đến nay Cánh Buồm vừa tròn 8 tuổi – bằng tuổi một bạn học sinh lớp Ba. Bạn Cánh Buồm bé nhỏ mỗi năm đã trình ra với xã hội những sản phẩm cụ thể, theo định hướng hiện đại với mong muốn góp những viên sỏi tích cực cho con đường chấn hưng nền giáo dục nước nhà.

Đó là bộ sách 10 cuốn Văn, Tiếng Việt từ lớp MỘT đến lớp CHÍN;
Đó là Tủ sách Tâm lý học Giáo dục Cánh Buồm;
Và năm 2017 này, các cuốn sách Lối sống, Khoa học, Tiếng Anh từ lớp MỘT đến lớp NĂM.
8 năm (và hơn bốn chục năm chuẩn bị) mới có chừng này!

Mời bạn đến với Cánh Buồm để đón chào những trang sách mới, để cùng tâm tình về những việc ta đang làm và cần làm để tạo nên một nền giáo dục tích cực cho con em. Mời bạn!

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1559104244143438&set=a.125142827539594.27754.100001316329106&type=3&theater

Phapxa Chan: Năm bài thơ văn xuôi

PXC


DƯỚI TRĂNG

Tôi nhận ra mình đang chạy trên những tường thành. Bằng một cách nào đấy tôi đã trốn thoát đám người dưới kia. Bỏ lại thành phố sau lưng, tôi trèo qua những tường vách để tìm đường thoát khỏi những mê lộ ngoằn nghèo. Cuối cùng tôi cũng tới được đây sau khi vượt xuống trạm gác cuối cùng.

Tôi thấy bóng mình trải dài trong đêm, nhỏ nhoi mập mờ dưới ánh trăng đùng đục, in hằn lên đồi núi niềm thao thức không thể gọi tên. Tĩnh lặng thanh thản nhưng đáng sợ vô cùng. Một mình nơi trung giới, chỉ còn tôi và núi đồi phía dưới. Bức tranh rặt một màu thủy mặc. Tôi vẫn chạy thục mạng. Chạy mà không hình dung được tốc độ và quãng đường. Chạy mà không biết mình có đang chạy không vì giờ đây mọi thứ dường như đã đóng băng trong bức tranh cổ vật. Một bức tranh thủy mặc không màu chỉ những sắc độ đen trắng. Tại sao tôi nghĩ tôi đang chạy khi chỉ có một vệt tường thành lẫn trong bóng đêm núi đồi? Quang cảnh quá lớn để những bước chân của tôi đo được dặm đường. Chỉ có trăng và bóng tôi nhập nhoè ẩn hiện.

Sự đổ vỡ nội tâm của sáng tác

(Phần hậu ký của tiểu thuyết Đinh trang mộng)

Diêm Liên Khoa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh dịch

image10 giờ sáng tháng tám năm 2005, tôi hoàn thành trang cuối của cuốn tiểu thuyết Đinh trang mộng. Khi hạ bút ở dòng cuối cùng, tôi ngồi cô độc, bần thần trước bàn làm việc. Đột nhiên trong tôi dấy lên cảm giác buồn bực bất an, không biết phải làm sao, dường như tôi cần được tâm sự với người khác về cảm xúc đang trào dâng trong tôi. Điều đó thôi thúc tôi mãnh liệt đến nỗi giống như một người nghiện ma túy cần thuốc ngay tức khắc. Nhưng thời điểm ấy, vợ tôi trở về quê hương Hà Nam, con trai học ở Thượng Hải, lại đang lúc lên lớp, bạn bè tri kỷ của tôi chỉ có vài người. Điện thoại khi đó rõ ràng không tắt máy, mà là nằm trong vùng phủ sóng. Tôi gọi liền mấy cuộc. Cuối cùng, không hiểu tại sao, tôi vứt ống nghe lên bàn, ngồi phịch xuống đất, không ngăn nổi hai hàng nước mắt rơi lã chã. Cơ thể tôi cạn kiệt sức lực như bị rút thịt xương, cảm giác cô độc mà vô vọng ghê gớm bủa vây lấy tôi, như thể tôi bị ném xuống một biển lớn không người, một hòn đảo cô độc không có cỏ cây chim chóc…

Tôi ngồi cô độc trên ghế sô pha trong phòng khách, mắt mở trừng trừng nhìn lên bức tường màu tuyết trắng xóa, cơ hồ đang nhìn vào bên trong một cuốn tiểu thuyết như “một tấm khăn tang phiêu động tựa tuyết trắng” và như “câu đố mà nhà nhà đều dán lên cửa trong các căn hẻm lâu đời”, lại phảng phất như đang nhìn vào một “đồng bằng không có người ở mà rộng lớn vô hạn”. Thứ nội tâm đau khổ, tuyệt vọng và bơ vơ không nơi nương tựa đó, tôi đã từng trải qua vào cuối năm 1997, khi viết xong Nhật quang lưu niên, và, tôi cũng từng trải qua, vẫn cảm giác đó, vào tháng 4 năm 2004, khi hoàn thành Thụ hoạt. Nhưng cả hai lần ấy, cảm giác đau đớn của tôi đều không đến mức mãnh liệt như khi viết xong Đinh trang mộng, một cảm giác rất khó diễn tả bằng lời.

Tôi biết rằng, nỗi tuyệt vọng mạnh mẽ này, không vẻn vẹn chỉ là kết quả của một lần hoàn thành Đinh Trang mộng, mà là một quá trình nghiệm sinh về cảm giác đổ vỡ tự bên trong của sự viết, là một đài tưởng niệm cho sự kết thúc của Đinh Trang mộng. Từ năm 1994, khi bắt đầu khởi bút viết Nhật quang lưu niên, tới năm 2002 viết xong Thụ hoạt, cho đến năm 2005 hoàn thành Đinh Trang mộng, đó là những năm tháng chồng chất, tích lũy bao nỗi khổ đau và mệt nhọc của tôi. Ánh sáng mặt trời từ ngoài cửa sổ nhạt dần, chiếu rọi qua căn phòng, làm cho hình ảnh của làn bụi bay trong không khí nơi phòng khách có thể nhìn thấy rõ, giống như vô số linh hồn trong tiểu thuyết đang thì thầm vào tai tôi. Sau đó, tôi ngồi ngây ra như một khúc gỗ, nước mắt đầm đìa, tâm trí tôi trống rỗng mà hỗn loạn vô trật tự.

Tôi không thể nói rõ được vì sao mình đau khổ, vì sao mà rơi lệ, tại sao lại cảm thấy tuyệt vọng và bất lực chưa từng có như thế. Là vì cuộc sống của bản thân chăng? Hay vì thế giới bên ngoài? Hay vì quên hương Hà Nam của tôi? Hoặc thậm chí, vì còn biết bao nhiêu người bị bệnh AIDS ở các tỉnh và khu vực mà tôi không biết được? Cũng có thể, do công việc sáng tác của tôi, đối diện với thời điểm hoàn thành Đinh Trang mộng, tôi đã vắt kiệt sức của mình, tưởng như đã đi đến tận cùng con đường. Vì vậy, tôi không biết mình ngồi khóc hết bao nhiêu nước mắt, không biết mình khi nào ngừng khóc, rồi bỗng trở nên câm nín, không động đậy, không thốt nên lời. Chỉ nhớ rằng, buổi trưa hôm đó tôi không ăn uống gì. Vào khoảng 1 giờ, tôi đi ra khỏi nhà, men theo phần đường của người đi bộ trên tuyến đường sắt Bắc Kinh số 13 cách nhà tôi không xa, đến một nơi hoang vắng không bóng người. Và, lại một lần nữa, cô độc ngồi bên cạnh bìa rừng, cho đến khi mặt trời lặn mới lần trở về nhà. Lúc đó, tôi mới cảm thấy ý thức dần dần hồi phục, cảm thấy mình đang sống lại, cảm thấy những nhu cầu trần tục tất yếu đối với đời sống cá nhân.

Vòng tròn ma thuật (kỳ cuối)

Arthur Koestler

Phạm Nguyên Trường dịch

3.

Tiếng động vang lên liên hồi như tiếng trống ngũ liên được gió đưa từ xa lại, ngày một gần hơn. Rubashov đứng như trời trồng. Hai chân như tê dại hẳn, có cảm giác như trọng lực đang kéo chặt chúng xuống đất, không thể nhấc lên được. Anh lê về phía cửa sổ, mắt vẫn không rời lỗ nhòm. Anh hít thật sâu rồi châm thuốc hút. Rồi anh nghe thấy có tiếng gõ nhẹ ngay bên cạnh cái giường sắt.

CHÚNG LÔI MÔI THỎ ĐI RỒI. HẮN GỬI LỜI CHÀO.

Hai chân không còn cứng nữa. Anh bước về phía cửa ra vào và dùng cả hai bàn tay đập liên hồi kì trận vào cánh cửa sắt. Thông báo cho buồng 406 cũng vô ích. Buồng ấy để không đã lâu. Anh cứ thế đập, trong khi mắt vẫn không rời cái lỗ nhòm.

Hành làng vẫn sáng mờ mờ như mọi khi. Anh vẫn nhìn thấy bốn cánh cửa, từ 401 đến 407 như mọi khi. Tiếng đập ngày càng to hơn. Có tiếng bước chân lạo xạo trên nền gạch. Rồi Môi Thỏ xuất hiện. Anh ta đứng đó, môi hơi run, hệt như lần đứng dưới ánh đèn trong phòng làm việc của Gletkin; hai tay bị khoá giật cánh khuỷu ra đằng sau. Không thể thấy mắt Rubashov đằng sau lỗ nhòm, anh ta nhìn trừng trừng vào cánh cửa sắt làm như đấy là hi vọng cứu rỗi cuối cùng vậy. Mệnh lệnh được đưa ra, Môi Thỏ quay lưng bước đi. Phía sau là tay bảo vệ cao to, súng lục kè kè ngang hông. Rồi cả hai lần lượt đi khuất hẳn.

Tiếng đập ngừng, xung quanh trở lại yên ắng như cũ. Có tiếng gõ nhẹ ngay cạnh cái giường sắt: ANH TA CÓ THÁI ĐỘ TỐT... Từ ngày Rubashov tuyên bố rằng anh đã đầu hàng, họ chưa từng nói chuyện với nhau. 402 tiếp tục:

CÒN KHOẢNG MƯỜI PHÚT NỮA. ANH THẤY THẾ NÀO?

Trong cái cũi người

Truyện Lê Công Tư


Đoạn đường từ Pleiku lên Kon Tum khá giống con đường dẫn lên đỉnh trời, liên tục có những bầu trời bị bỏ rơi lại sau lưng và những bầu trời mới liên tục xuất hiện với những khoang trời rộng, cho dù anh biết chúng vẫn chỉ là một bầu trời. Nó đã từng có trước khi anh sinh ra, đã từng thấy khi còn nhỏ và nó sẽ vẫn còn đó khi anh đã chui xuống mồ. Cho đến khi chẳng còn bầu trời lạ nào xuất hiện nữa thì trước mắt anh hiện ra một thành phố nhỏ nằm gọn giữa lòng một thung lũng với những đám khói trời. Một dòng sông mềm như một dải lụa ôm ngang thành phố. Xa xa chắn ngang đường chân trời là những dãy núi xanh mờ.

Nơi anh ở gần ngôi Nhà thờ Gỗ. Buổi sáng người lớn đi làm, trẻ con đi học. Chỉ còn một mình anh với những dải nắng im, chẳng biết làm gì. Anh đi bộ ra bờ sông Đakbla, gọi cà phê uống, rồi nhìn ngó bâng quơ. Nhìn bản đồ, anh nhận ra con sông này giống như một đứa trẻ ham chơi xa. Thay vì đổ về hướng Đông để ra biển cho gần, nó lại chảy qua Lào, hút sâu vào nội địa, mải mê, nhọc nhằn với những ghềnh thác cùng những cánh rừng sâu trước khi tìm đường ra biển xanh. Nhìn dòng sông mất hút về những dãy núi ở phía Tây. Bên kia là xứ Lào, mơ hồ, bí mật và gần gũi.

Nhìn chán con sông cùng những dãy núi, anh chui đầu vào các nhà thờ nhìn Chúa Jesus cùng mấy ông Thánh, mấy dì phước cùng mấy đứa trẻ con đang cầu nguyện. Khi thấy chẳng còn gì để nhìn, anh bâng quơ nhìn mấy cọng cỏ. Sau khi chán tất cả mọi thứ, anh chui đầu vào nhà ngục Kon Tum.

Chính sách ngu dân trong lịch sử Trung Quốc

clip_image001

Tác giả Li Zhongqin

Lâm Duyên dịch

Chỉ cần thể chế toàn trị còn tồn tại, trên dưới cùng ngu là không thể tránh khỏi. Chỉ có xây dựng được cơ chế ràng buộc quyền lực hiệu quả, nhân dân có đủ tự do ngôn luận, mới có thể hy vọng đánh bật gốc quy luật “trên dưới cùng ngu”.

Nhà văn Thuận từ chối Giải thưởng của Hội Nhà Văn Hà Nội

FB Anh Thuan Doan

Thuận"Tôi từ chối giải thưởng của Hội Nhà Văn Hà Nội vì Hội chưa làm đúng trách nhiệm - bảo vệ quyền tự do sáng tác của các nhà văn"

Hôm qua, khi được phỏng vấn nhanh, mình có trả lời rõ ràng như vậy (vẫn còn lưu trong messenger). Bây giờ nhà báo lại bảo vì "lý do cá nhân".

Thôi thì nhờ anh Phây đưa tin hộ.
(Tất nhiên đây là câu trả lời của riêng mình. Dịch giả Lê Ngọc Mai có thể có câu trả lời khác.)

Nhà văn Thuận và Lê Ngọc Mai từ chối giải thưởng HNV Hà Nội

Tác phẩm "Ngôn từ" của Jean Paul Sartre nhận số phiếu bầu cao nhất để nhận giải văn học dịch nhưng hai dịch giả Thuận và Lê Ngọc Mai đã từ chối nhận giải.

NEWS.ZING.VN

https://www.facebook.com/anhthuan.doan/posts/1544650775652903

Tuyên bố phản đối việc xóa tên LS Võ An Đôn

Cập nhật đợt 3. Trân trọng cảm ơn 16 tổ chức, 261 cá nhân. Xin ngừng thu thập chữ ký từ 11/12/2017

Hà Nội, ngày 28/11/2017

đôn 1Ngày 26/11/2017, với 2 phiếu thuận, 1 phiếu chống, Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên xóa tên luật sư Võ An Đôn khỏi Đoàn Luật sư tỉnh. Quyết định trên lập tức gây bức xúc mạnh mẽ công chúng trong và ngoài nước, truyền thông quốc tế nhất loạt phản ánh dư luận hết sức bất bình.

Một giấc mơ khác

Vũ Thành Sơn


Chuyến công tác mấy ngày vào đầu tuần sau sẽ đưa tôi trở lại thành phố Q. Lần cuối cùng tôi ở Q. cách đây đã mười năm nhưng cũng có thể lâu hơn thế. Lần đó, tôi đi cùng với nàng. Chúng tôi lấy vé tàu hỏa, ngủ một đêm trên tàu, sáng hôm sau khoảng mười giờ thì đến. Rơi đúng vào dịp hè nên khách du lịch từ các nơi đổ về Q. khá đông. Chật vật lắm chúng tôi mới tìm được một khách sạn tạm ưng ý, đối diện với một cái hồ có nhiều vịt trời. Buổi sáng, vén rèm cửa nhìn ra, chúng tôi thấy chúng bay về cả đàn đậu kín một góc hồ.

Đó là mười năm trước. Bây giờ tôi biết Q. đã thay đổi rất nhiều. Cái hồ đó đã bị lấp cũng như nhiều vạt đồi đã bị san bằng để lấy đất xây dựng khách sạn, trung tâm thương mại và biệt thự. Thỉnh thoảng tình cờ đọc đâu đó trên báo chí tin tức về tốc độ hủy hoại môi trường ở Q., tôi lại nhớ đến bầy vịt trời, tự hỏi không biết bây giờ chúng ở đâu.

Tôi và nàng cũng đã chia tay nhau. Nàng đã lập gia đình, đang có một cuộc sống hạnh phúc với chồng và đứa con nhỏ. Còn tôi vẫn sống độc thân, mệt mỏi và thờ ơ với bất cứ một sự chuyển dịch nào.

Diêm Liên Khoa – “người đến muộn” tiên phong

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Nhà văn Diêm Liên Khoa được đánh giá là một gương mặt tiêu biểu của văn học Trung Quốc đương đại. Dù thành danh muộn trên văn đàn, nhưng trong việc khai thác các vấn đề nóng bỏng của xã hội, đối diện và dũng cảm phản ánh hiện thực đời sống Trung Quốc hiện nay, Diêm Liên Khoa là một người tiên phong.

Viết trong bóng tối của Trung Quốc

clip_image002

Tinh thần phản hiện thực trong sáng tác văn xuôi Trần Vũ

Đoàn Huyền

Cái được gọi là phản hiện thực ở đây thực chất là hệ quả của nỗ lực vượt thoát khỏi áp lực phản ánh hiện thực và nỗ lực “li khai” khỏi thói quen nệ thực của các nhà văn Việt Nam (xem bài viết Thói quen nệ thực trong văn học Việt Nam và những nỗ lực vượt thoát*). Về bản chất, phản hiện thực là “phản” lại “hiện thực truyền thống” trong văn học Việt Nam, “phản” trên các phương diện từ quan niệm về hiện thực, cách tiếp cận và cách phản ánh hiện thực. Kết quả là mang đến sự đổi thay trong diện mạo của hiện thực, một diện mạo được phác họa trên một tinh thần mới, đem đến những hi vọng cho khả năng “phản ánh” hiện thực ở những “chiều kích” mới.

Trong sáng tác của những nhà văn như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp – những tài năng không dễ có của văn học Việt Nam và là những người viết có ý thức và khát vọng đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt – chúng ta không khó để nhận ra những dấu hiệu của “tinh thần phản hiện thực”. Tuy nhiên, từ quan sát của mình, chúng tôi nhận thấy, trong các tác phẩm của nhà văn Việt Nam giai đoạn sau 1986, “tinh thần phản hiện thực” được thể hiện một cách có ý thức và đặc biệt rõ nét ở sáng tác của Trần Vũ – một trong những “tác giả quan trọng” của văn học hải ngoại. Hiện thực trong sáng tác của Trần Vũ cho thấy một cảm thức, một khuynh hướng tư duy, một cách tiếp cận, và một cách phản ánh hiện thực không những mới mẻ thường xuyên va chạm không nể nang, và “giẫm đạp” không ngần ngại, lên những khuôn thước, “húy kỵ”, của hiện thực truyền thống. Trước hết, nó giúp người ta hiểu: “một câu chuyện có thể hoàn toàn chân thực mà vẫn không cần giống thực” (Madeleine L’Engle). Thứ nữa, “hiện thực phản hiện thực” trong sáng tác của Trần Vũ cho người ta thấy, câu hỏi “hiện thực là gì?”, và “sự thật là gì?” – mà trước đây người viết không phải đắn đo để trả lời và người đọc cũng sẵn lòng tin không chút nghi ngờ – thực sự là những câu hỏi trừu tượng, thậm chí “siêu thực”, vội vã trả lời hay vội vã tin đều là biểu hiện của thứ tự tin cùng một lòng tin giản đơn và đầy ảo tưởng. Và quan trọng, nó chỉ ra rằng, hy vọng cho những ngã rẽ của chủ nghĩa hiện thực cùng những chuyển động của văn học Việt Nam nằm ở khả năng tự giải phóng mình của người nghệ sĩ, khỏi những quan niệm giản đơn về hiện thực, khỏi những khuôn mẫu phản ảnh hiện thực có sẵn, và khỏi những cái khung “hiện thực có thể nắm bắt được”.

Chào một nhà thơ mới!

Gửi Phapxa Chan

FB Hoang Hung

Phapxa ChanChùm thơ đầu tiên của Phapxa Chan xuất hiện trên Văn Việt đầu năm 2017 khiến tôi sững sờ. Vì đã biết sơ thông tin về anh ngoài đời, tôi không ngờ một ngòi bút trẻ đã có được sự vững vàng, có thể nói là “chín” cũng đúng, đến thế! Cấu tứ đâu ra đấy, ý tình nhiều độc đáo, câu chữ ít khi thừa, chứa sức mạnh bên trong và tự thân, và cả năng lực tung tẩy biến hóa cấu trúc… như một tay “chơi thơ” lão luyện! Sau gần một năm, giờ đọc lại đến lần thứ ba, vẫn không đổi nhận xét. Xin ghi lại những câu, những khổ thơ đáng nể:

Tuyên ngôn nhân quyền

Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc


Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de ChaillotParis, Pháp

Điều khoản cuối cùng thuộc về bản Tuyên ngôn có viết "Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này".


TOÀN VĂN TUYÊN NGÔN NHÂN QUYỀN

Xét rằng: Sự công nhận nhân phẩm của mọi người trên toàn thế giới và các quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.

Xét rằng: Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người.

Xét rằng: Nhân quyền cần phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải sử dụng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức.

Xét rằng: Mối quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia cần được khuyến khích và mở rộng.

Xét rằng: Trong Hiến Chương, các dân tộc của cộng đồng Liên Hiệp Quốc đã lại một lần nữa xác định niềm tin vào những quyền căn bản của con người, vào nhân phẩm và giá trị con người, vào quyền bình đẳng nam nữ và cũng đã quyết định cổ vũ cho các tiến bộ xã hội và cải tiến mức nhân sinh trong bối cảnh ngày càng tự do hơn.

Xét rằng: Các quốc gia hội viên đã cam kết hợp tác với Liên Hiệp Quốc, nhằm cổ vũ việc tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản.

Xét rằng: Sự hiểu biết chung về nhân quyền và tự do là điều tối quan trọng để có thể thực hiện đầy đủ sự cam kết trên.

Do đó, Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc long trọng công bố Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền này như là một khuôn mẫu chung cần đạt tới của mọi dân tộc và quốc gia, nhằm giúp cho mọi cá nhân và thành phần của xã hội luôn luôn theo sát tinh thần của Bản Tuyên ngôn, dùng sự truyền đạt và giáo dục, để nỗ lực phát huy sự tôn trọng các quyền tự do này.

Mặt khác, bằng những phương thức tiến bộ trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế, phải bảo đảm sự thừa nhận và tuân hành Bản Tuyên ngôn một cách có hiệu lực, trong các dân tộc của các nước thành viên, và ngay cả trong những người dân sống trên các phần đất thuộc quyền cai quản của các nước đó.

Ðiều 1:
Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi người đều được phú bẩm về lý trí và lương tâm và vì thế phải đối xử với nhau trên tinh thần bác ái.

Ðiều 2:
Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản Tuyên ngôn này và không có một sự phân biệt nào, như chủng tộc, màu da, phái tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay tất cả quan điểm khác, quốc tịch hay nguồn gốc xã hội, tài sản, nơi sinh, hay tất cả những hoàn cảnh khác. Hơn nữa, cũng không được có sự phân biệt nào đối với con người sống trên một quốc gia hay trên một lãnh thổ, căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó. Cho dù quốc gia hay lãnh thổ này độc lập hay dưới sự bảo hộ, không được tự trị hay ở trong tình trạng bị hạn chế về chủ quyền.

Ðiều 3:
Mọi người đều có quyền sống, quyền tự do và an toàn cá nhân.

Ðiều 4:
Không ai bị cưỡng bức làm nô lệ hay tôi đòi. Chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ dưới mọi hình thức đều bị nghiêm cấm.

Ðiều 5:
Không một người nào phải chịu cực hình, tra tấn, hay bất kỳ hình thức đối xử, hoặc trừng phạt bất nhân, hay có tính cách lăng nhục.

Ðiều 6:
Ở bất cứ nơi nào, mỗi người đều có quyền được công nhận tư cách con người của mình trước pháp luật.

Ðiều 7:
Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và phải được bảo vệ một cách bình đẳng, không kỳ thị phân biệt. Tất cả đều được quyền bảo vệ ngang nhau, chống lại mọi kỳ thị vi phạm Bản Tuyên ngôn này, cũng như chống lại mọi kích động dẫn đến kỳ thị như vậy.

Ðiều 8:
Mọi người đều có quyền được bảo vệ và bênh vực bởi các cơ quan tư pháp quốc gia có thẩm quyền về các hành vi vi phạm các quyền căn bản, do Hiến pháp và Luật Pháp quy định.

Ðiều 9:
Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán.

Ðiều 10:
Mọi người đều có bằng nhau quyền được phân xử công khai và công bằng, trước một tòa án độc lập và vô tư, để được phán quyết về các quyền lợi và nhiệm vụ của mình, hay về những tội phạm mà mình bị cáo buộc.

Ðiều 11:

  1. Khi truy tố trước pháp luật, mọi người được xem là vô tội, cho đến khi pháp luật chứng minh là có tội, trong một phiên tòa công khai và tòa án này phải cung ứng tất cả mọi bảo đảm cần thiết cho quyền biện hộ của đương sự.
  2. Không ai có thể bị kết án khi có những hành động hay sơ suất xảy ra vào lúc mà luật pháp của quốc gia hay quốc tế không quy định đó là một hành vi phạm pháp. Tương tự như vậy, không được áp đặt một hình phạt nào nặng hơn hình phạt được ấn định vào lúc hành vi phạm pháp xảy ra.

Ðiều 12:
Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, hay thư tín, cũng như bị xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm và xúc phạm như vậy.

Ðiều 13:

  1. Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú, trong phạm vi biên giới của quốc gia.
  2. Mọi người đều có quyền rời khỏi lãnh thổ bất kỳ nước nào, kể cả nước của mình, và quyền trở về xứ sở.

Ðiều 14:

  1. Trước sự ngược đãi, mọi người đều có quyền tị nạn và tìm sự dung thân tại các quốc gia khác.
  2. Quyền này không được kể đến, trong trường hợp bị truy nã thật sự vì các tội phạm không có tính chính trị, hay do những hành vi trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 15:

  1. Mọi người đều có quyền có quốc tịch.
  2. Không một ai bị tước bỏ quốc tịch, hay bị từ chối quyền thay đổi quốc tịch, một cách độc đoán.

Ðiều 16:

  1. Nam và nữ trong tuổi trưởng thành có quyền kết hôn và lập gia đình, mà không bị hạn chế về lý do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Nam nữ đều có quyền bình đẳng lúc kết hôn, trong đời sống vợ chồng và lúc ly hôn.
  2. Hôn nhân chỉ có thể tiến hành khi cả hai đều được tự do quyết định và đồng ý thật sự.
  3. Gia đình phải được xem là một đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội, và được quyền bảo vệ của xã hội và quốc gia.

Ðiều 17:

  1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản cá nhân cũng như tập thể.
  2. Không ai có thể bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Ðiều 18:
Mọi người đều có quyền về tự do tư tưởng, nhận thức và tôn giáo. Quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như quyền tự do biểu lộ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình, với tư cách cá nhân hay tập thể, ở nơi công cộng hay nơi chốn riêng, bằng sự truyền dạy, thực hành, thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo.

Ðiều 19:
Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm. Quyền này bao gồm sự tự do quan điểm mà không bị xen vào quấy rầy và được tự do tìm kiếm, thu nhận và quảng bá tin tức và tư tưởng qua mọi phương tiện truyền thông bất kể biên giới.

Ðiều 20:

  1. Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa.
  2. Không một ai có thể bị cưỡng bách gia nhập vào một đoàn thể.

Ðiều 21:

  1. Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.
  2. Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.
  3. Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

Ðiều 22:
Vì là thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền an ninh xã hội, qua các cố gắng của quốc gia và hợp tác quốc tế, dựa theo phương cách tổ chức và tài nguyên của mỗi nước. Quyền này được đặt trên căn bản của sự thụ hưởng những quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa, cần thiết cho nhân phẩm và sự phát triển tự do của mỗi cá nhân.

Ðiều 23:

  1. Mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do chọn việc làm, quyền được hưởng các điều kiện làm việc chính đáng và thuận lợi đối với công việc, và quyền được bảo vệ chống thất nghiệp.
  2. Mọi người, không vì lý do kỳ thị nào, đều có quyền được hưởng lương bổng như nhau cho cùng một công việc.
  3. Mọi người làm việc đều được quyền hưởng thù lao một cách công bằng và thích hợp, khả dĩ bảo đảm cho bản thân và gia đình mình một cuộc sống xứng đáng với nhân phẩm, cũng như được trợ giúp nếu cần, qua các phương thức bảo vệ xã hội khác.
  4. Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia vào các nghiệp đoàn, để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ðiều 24:
Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả việc hạn chế hợp lý số giờ làm việc, và các ngày nghỉ định kỳ có trả lương.

Ðiều 25:

  1. Mọi người đều có quyền được hưởng một mức sống phù hợp với sức khỏe và sự no ấm cho bản thân và gia đình bao gồm: thực phẩm, quần áo, nhà ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, quyền an sinh trong lúc thất nghiệp, đau ốm, tàn tật, góa bụa, tuổi già hay các tình huống thiếu thốn khác do các hoàn cảnh ngoài khả năng kiểm soát của mình.
  2. Các bà mẹ và trẻ con phải được hưởng sự chăm sóc và trợ giúp đặc biệt. Tất cả mọi trẻ con, sinh có hôn thú hay không, đều được xã hội bảo vệ một cách bình đẳng.

Ðiều 26:

  1. Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và căn bản. Giáo dục tiểu học phải bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải được mở rộng và giáo dục đại học phải được mở rộng bình đẳng cho mọi người, trên căn bản tài năng xứng đáng.
  2. Giáo dục phải được điều hướng để phát triển đầy đủ nhân cách, và củng cố sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Giáo dục phải nhằm cổ vũ sự cảm thông, lòng khoan dung, và tình hữu nghị giữa mọi quốc gia, mọi nhóm chủng tộc hoặc tôn giáo, và hỗ trợ việc phát triển các sinh hoạt của Liên Hiệp Quốc nhằm duy trì hòa bình.
  3. Cha mẹ có quyền ưu tiên chọn lựa phương cách giáo dục dành cho con cái mình.

Ðiều 27:

  1. Mọi người đều có quyền tự do tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thưởng thức các bộ môn nghệ thuật, và cùng chia sẻ các tiến bộ khoa học cũng như các lợi ích của khoa học.
  2. Mọi người đều có quyền được bảo vệ về tác quyền, trên bình diện tinh thần cũng như quyền lợi vật chất, đối với các tác phẩm khoa học, văn chương, hay nghệ thuật.

Ðiều 28:
Mọi người đều có quyền đòi hỏi được sống trong một trật tự xã hội và trật tự quốc tế, trong đó các quyền và các tự do được đề cập trong Bản Tuyên ngôn này có thể được thể hiện đầy đủ.

Ðiều 29:

  1. Mọi người đều có bổn phận đối với cộng đồng nào mà chỉ trong đó mới có thể phát triển toàn vẹn và tự do nhân cách của mình.
  2. Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ.
  3. Trong bất cứ trường hợp nào, nhân quyền và những quyền tự do này cũng không được hành xử trái với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc.

Ðiều 30:
Không một điều nào trong Bản Tuyên ngôn này được hiểu và hàm ý cho phép một nước, một nhóm hay một cá nhân nào được quyền có những việc làm hay hành động nhằm hủy diệt nhân quyền và tự do được thừa nhận trong bản Tuyên ngôn này.

Liên Hiệp Quốc, ngày 10 tháng 12 năm 1948

Nguồn: Wikipedia

Thơ NP Phan

Mặt trời đen


ngày sấp ngửa chờ mặt trời gầy

ám dụ

con sói xám

mang mặt nạ người

hí hửng

chờ con tốt qua sông

bầy chim thiên di

đã một đi không trở lại

đâu đó

những đứt gãy

thành vết sẹo

ngóng mặt trời buồn

bài kinh nhật tụng đã cũ

những con chữ tội nghiệp

xác xơ

thiên đường xa lắc

nào đường quang

nào bụi rậm

khóc

mặt trời đen

Quảng Ninh và Hoàng Sa và...

(Rút từ facebook của Vũ Kim Hạnh)


1/ Hôm nay đổi kiểu viết, xin kể chuyện các bức ảnh. Các bức ảnh đều về Trung Quốc, liên quan Việt Nam, và sự việc diễn ra gần như cùng lúc.

Tấm ảnh thứ nhất. Bạn hãy xem hình cái khách sạn bên dưới, ở trên đất nước Việt Nam, mà nhóm “gian thương” Trung Quốc thuê hẳn nơi này làm trụ sở lắp giàn máy điều hành “ecommerce” trên mạng Taobao. Điều khiến ta phấn chấn và hi vọng là cách xử lý nghiêm khắc của Công An Quảng Ninh. Đầu tháng 12/2017, phòng Quản Lý Xuất Nhập Cảnh, Công An tỉnh Quảng Ninh vừa xử phạt và trục xuất 52 người Trung Quốc nhập cảnh du lịch nhưng chỉ nhằm... bán hàng online. 52 ông bà này KHÔNG khai báo tạm trú và khi bị kiểm tra thì đang say sưa điều khiển 40 máy tính cá nhân, 25 máy tính để bàn, các thiết bị mạng, phục vụ tích cực cho hàng ngàn lượt khách Trung Quốc “đi tour du lịch 0 đồng” ồ ạt vào Cửa Khẩu Quốc Tế Móng Cái gây tắc nghẽn. Khách chỉ vào các cửa hàng do người Việt đứng tên nhưng người chủ thực là Trung Quốc, mua hàng qua giao dịch trực tuyến, tiền hàng chuyển thẳng hết về Tàu. Họ “độn thổ” vào vì không hề có thông tin nhập cảnh. Vào Việt Nam, họ điều khiển đường dây thanh toán bên Tàu, bắt và trục xuất họ thì cứ như bắt cóc bỏ dĩa. Mà ở Đà Nẵng, Khánh Hòa... đều cái trò gian manh đó. Khách du lịch nào thì mình cũng trọng, cũng mừng nhưng chơi cha vậy thì không trị thẳng cánh như Quảng Ninh sao được?

Nước Pháp tiễn đưa Jean d’Ormesson

Từ Thức

imageTổng thống Pháp Macron, với hai tổng thống tiền nhiệm Sarkozy, Hollande cùng với hàng trăm khuôn mặt văn hóa, sáng nay, thay mặt cả nước Pháp, tiễn đưa nhà văn hàng đầu Jean d’Ormesson vừa từ trần.

Emmanuel Macron đặt lên quan tài một chiếc bút chì theo ý nguyện của người quá cố, một nhà văn chín mươi hai tuổi còn viết bằng bút, lúc nào trong túi cũng có bốn cây bút để sẵn sàng viết. D’Ormesson nói: “Viết văn rất khó, nhưng khó hơn nữa là ngừng viết”.

Có những người lạc quan, yêu đời đến độ người ta ngạc nhiên thấy họ cũng từ trần, như Jean d’O, mặc dù ông đã chín mươi hai tuổi.

image

image


image

Vladimir Nabokov: Mười năm khinh bỉ, mười năm trung thành, mười năm tự do

Phạm Thị Hoài 

Nhân văn-Giai phẩm thực ra là một ân huệ của số phận, nhà thơ Trần Dần ghi nhận như vậy sau ba mươi năm làm “thơ đóng chai”, ba mươi năm lừng lững cô đơn, lưu vong trên chính quê hương mình. Không có tai nạn ấy, văn học Việt Nam hẳn không có một Trần Dần như đã thấy. Không có cuộc Cách mạng Tháng Mười tròn một thế kỷ trước, chắc chắn văn học thế giới cũng không có một Vladimir Nabokov như đã thấy, “một công dân Mỹ không tiến bộ, đến từ một nước Nga không hiện hữu”, theo lời của chính ông. Lưu vong khi chưa đầy 19 tuổi, ngay sau khi những người bôn-sê-vích giành chính quyền, Nabokov suốt đời không bao giờ trở lại Nga, suốt đời giữ trọn lòng khinh bỉ “bọn Đỏ”, chủ nghĩa cộng sản và sản phẩm tinh thần của nó, văn học sô-viết. Bài viết sau đây đăng trên Rul, tờ báo của cộng đồng Nga lưu vong, xuất bản tại Berlin ngày 18 tháng Mười Một 1927, đúng dịp kỷ niệm 10 năm Cách mạng Tháng Mười. Nabokov sống tại Berlin gần 17 năm, trước khi một lần nữa lưu vong, đào thoát khỏi Đức Quốc xã rồi định cư tại Hoa Kỳ.

clip_image001Vladimir Nabokov những năm 20 tại Berlin, ảnh bìa cuốn hồi ký “Speak, Memory”

Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu (kỳ 23)

Hoàng Tuấn Công


○ “mũi cong như mũi lợn Ý chế người mũi cong”.

Mũi lợn chỉ hếch chứ đâu có cong? Không biết GS Nguyễn Lân lấy đâu ra “thành ngữ” này? Nếu thực tế đúng có câu này, thì nghĩa là con lợn háu ăn, đến bữa hai lỗ mũi mở rộng, cong hếch lên để đánh mùi rau cám. Như vậy, GS Nguyễn Lân giải nghĩa mà như không giải.

○ “mũi dòm mồm Chế người mũi cong”.

Phép xem tướng dân gian cho rằng những người “Mũi dòm mồm” tham lam, ăn tiêu, đánh chén vô độ, chứ không phải “chế người mũi cong.” Thực tế, “mũi dòm mồm” không hề cong, mà nhọn dài xuống dưới mồm, hai lỗ mũi như hai con mắt tròn, thao láo ngó xuống cái mồm mình, đó là tướng người ham ăn, háu ăn, hoang ăn. Thế nên, trong Đất l quê thói của Nhất Thanh mới có đoạn: Vốn dĩ người mình hiếu khách, lại rất xu xoà, đã quen thuộc mà đến chơi hay có việc, gần đến bữa ăn là mời nhau ăn cơm, nhiu khi ngay lúc bắt đầu bữa cơm mà có bà con bạn bè đến, cũng thường mời ngồi vào ăn cùng, chỉ là thêm đũa thêm bát, không như lối sống của người Âu Tây, mỗi suất ăn cho một người, chẳng tiện và cũng chẳng thể chia sẻ, ngay cả đối với cha mẹ ở xa đến thăm hay tìm kiếm con có việc bất thần. Ta cho rằng họ coi trọng miếng ăn quá đỗi, và sở dĩ như vậy là tại họ có tướng mũi dòm mồm.” (HTC nhấn mạnh).

Vọng

Truyện Lê Minh Hà

Xưa nàng Tô Thị lên non
Trong tay còn có đứa con bế bồng

Bây giờ người ấy tay không

Nguyễn Đức Mậu

Được buổi rỗi việc đồng, cỏ lúa làm xong rồi, còn mỗi cỏ vườn, chàng đứng đầu hồi gọi nàng, mắt vuốt dọc tấm lưng thon cúi cúi bên luống cải đang xanh. Nắng tháng ba như trêu ngươi, râm ran nóng trong từng phần da thịt. Gió xuân náu trên vòm xoan, thỉnh thoảng hẩy ngang người. Chàng rùng mình khi nàng thẳng lưng quay lại. Mắt chàng nhìn nửa dụ dỗ nửa đòi hỏi, lại đôi phần ngượng nghịu. Nàng thẹn thò, cái rổ cắp bên hông lồng bồng những lá cải sò xanh mướt vừa tỉa. Rau ấy, nàng cho ăn thêm cùng dăm ba lá kinh giới, tía tô với canh hến ngày xuân, chịu làm sao dương khí bừng bừng bốc.
Lúc xế chiều thì chàng thức. Ngoài sân, gà cục tác. Cái chậu sành nàng ngâm bồ kết nước chắc ấm rồi, bồ kết đã phai rồi. Nàng đang cúi người khỏa tay vào chậu. Chàng thắt lại giải rút cạp quần, bước tới:
- Mình gội đầu để anh dội nước cho.
Khi nói câu ấy, Tô lang không biết rằng cả hai vợ chồng đã bắt đầu một nỗi đau khổ mà dân nước này đã trải, một đời, nhiều đời, chẳng đời nào thoát được. Chàng cũng không biết, cái lúc lùa tay rẽ làn tóc ướt và ấm của vợ, ngón bất chợt thấy cái gì như vết sẹo lì tay. Nàng quay tóc ngoài sân, ngẩng mặt nhìn chồng, mắt lấp la lấp lánh:
- Thầy u em kể…
Nàng không biết thật ra nàng họ Tô.

Các thành viên Hội đồng Giải Văn Việt lần thứ Ba (2018)

BAN XÉT GIẢI THƠ:

1/ Bùi Chát, Sài Gòn, Việt Nam

Thành viên sáng lập nhóm thơ Mở Miệng. Thành viên sáng lập & Ban Đại diện Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam. Chủ trương NXB Giấy Vụn.

clip_image001

Tác phẩm cá nhơn: (NXB Giấy Vụn): Xáo chộn chong ngày (tập thơ); Cái lồn bỏ đi & những bài thơ chửi rủa [bới, lộn]; Made in vietnam (conceptual art); Tháng tư gãy súng (tập thơ); Xin lỗi chịu hổng nổi (tập thơ nghĩa địa); Bài thơ một vần (tập thơ song ngữ Việt – Anh)

Thơ dịch sang các ngôn ngữ khác: Tiếng Anh: Rock Heals, Calque, Asymptote, The Deluge: New Vietnamese Poetry Tiếng Pháp: La Revue des Resources. Tiếng Đức: Lyrikline. Ngoài ra còn có thơ dịch đăng trên một số blog tiếng Thụy Điển, Tây Ban Nha, và có mặt trong tuyển tập thơ Mở Miệng dịch sang tiếng Czech chuẩn bị xuất bản.

Giải thưởng: Giải thưởng Freedom to Publish Prize của Hiệp hội xuất bản quốc tế (International Publishers Association), 2011

2/ Chân Phương, Boston, Hoa Kỳ

là bút danh của PHƯƠNG KIẾN KHÁNH; cựu giáo chức.

Ngoài làm thơ, còn viết truyện ngắn, biên khảo văn học và dịch thuật – đặc biệt thi ca hiện đại Âu-Mỹ. Hợp tác với các trang mạng Ăn mày văn chương (Pháp); Da Màu (California); Tiền Vệ (Úc); Văn Việt (VN); Lá Xanh (VN)...

clip_image003

Thơ đăng trên các tạp chí nước ngoài: Văn Học, Hợp Lưu, Thế Kỷ 21, Việt, Diễn Đàn(Paris), VietNam Forum (Đại Học Yale), Illuminations (Đại Học Charleston), Tribuna (Rumania)…

Các tập thơ đã xuất bản: Chú Thích cho Những Ngày Câm Nín; Bản Án cho Các Vĩ Cầm; Nghĩa Đen; Bổ Túc Lý Lịch Cho Loài Di Dân; Biển là Một Tờ Kinh.

3/ Giáng Vân, Hà Nội, Việt Nam

Cựu Biên tập viên văn nghệ báo Phụ Nữ Thủ đô & cựu BTV mạng vanviet.info; cựu Trưởng ban Giám khảo Giải Thơ Lá Trầu

clip_image005

Tác phẩm đã công bố:

- Thơ: 3 tập thơ đã in, trong đó có 2 tập được Hội Văn học Nghệ thuật Hà nội trao giải: Năm tháng lãng quên; Trên những ngày buồn - Giải văn học Hà nội 5 năm 1991-1995; Đường gió (2013) - Giải thơ Hà Nội 2013.

- Dịch thuật: một số bài thơ và 1 tiểu thuyết tiếng Pháp.

4/ Nguyễn Trọng Tạo, Hà Nội, Việt Nam

Nguyên đồng Sáng lập viên và Biên tập viên tạp chí Cửa Việt, Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà văn Việt Nam, kiêm Trưởng ban biên tập báo Thơ.

clip_image007

- Các tác phẩm chính đã công bố: Sóng thủy tinh; Gửi người không quen; Đồng dao cho người lớn, 1994, 1999; Thư trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống, Nương thân, Thơ trữ tình, Thế giới không còn trăng, Em đàn bà, Ký ức mắt đen, (song ngữ Việt - Anh), Thơ và Trường ca, Nến trắng (tam ngữ Việt - Anh - Ba Lan), Con đường của những vì sao (trường ca Đồng Lộc), 1981, 2008; Tình ca người lính trường ca); Biển mặn (trường ca); Văn chương cảm và luận (tiểu luận)

- Giải thưởng: đoạt nhiều giải thưởng văn học và nghệ thuật, quan trọng nhất là Giải thưởng Nhà nước cho 2 trường ca Con đường của những vì sao & Tình ca người lính

5/ Ý Nhi, TPHCM, Việt Nam

Tên khai sinh: Hoàng Thị Ý Nhi.

Cựu Biên tập viên Thơ của Nhà xuất bản Tác phẩm mới (nay là NXB Hội nhà văn). Hiện là BTV Thơ của mạng vanviet.info

clip_image009

- Các tác phẩm đã xuất bản: Nỗi nhớ con đường (thơ, in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ); Đến với dòng sông (thơ); Cây trong phố - Chờ trăng (thơ, in chung với Xuân Quỳnh); Người đàn bà ngồi đan (thơ); Ngày thường (thơ); Mưa tuyết (thơ); Gương mặt (thơ); Vườn (thơ); Thơ tuyển (thơ); Những gương mặt-những câu thơ (chân dung); Ý Nhi tuyển tập; Có gió chuông sẽ reo (Truyện ngắn)

- Thơ dịch ra các ngôn ngữ khác: Pháp (tạp chí Europe), Mỹ (tạp chí Poetry Internationnal; sách “6 Vietnamese Poets”; sách “Black Dog, Black Night - Contemporary Vietnamese poetry”; sách “Vietnamese Feminist Poems”), Nga (tạp chí Lotus, tuyển tập các nhà thơ Á-Phi), Nhật (Tuyển tập 175 bài thơ về độc lập và tự do của Việt Nam), Thụy Điển (sách “Till:Igar. Tolv Vietnamesiska poeter (Cho ngày hôm qua-12 nhà thơ Việt Nam)

- Giải thưởng: Hội Nhà văn VN 1985; Cikada Thụy Điển 2016

BAN XÉT GIẢI VĂN

1/ Đặng Văn Sinh, Hải Dương, Việt Nam

Biên tập viên Văn của mạng vanviet.info

clip_image011

Tác phẩm đã xuất bản:

Truyện ngắn: Khúc Trương Chi, Ảo ảnh, Nước Mắt của biển, Rừng Ken Chải, Đêm trăng Tả Giàng, Kẻ chiếm dụng thời gian của thượng đế, Chuyện Hoạ sĩ Lùn

Tiểu thuyết: Người đàn bà trong lửa, Ga tàu, Hoa mận dại, Thanh kiếm Phù Tang, Bến Lở

2/ Lê Minh Hà, Berlin, Đức

clip_image013

Các tác phẩm đã xuất bản: Trăng góa (truyện ngắn in ở Mỹ); Gió biếc (truyện ngắn in ở Mỹ) tái bản và bổ sung in ở Việt Nam (Những giọt trầmNhững gặp gỡ không ngờ); Thương thế... ngày xưa (Tùy bút in ở Mỹ – tái bản nhiều lần có bổ sung ở Việt Nam); Cổ tích cho ngày mới (tái bản có bổ sung phần in chung với Lê Đạt trong Truyện cổ viết lại); Còn nhớ nhau không (tùy bút); Gió tự thời khuất mặt; Phố vẫn gió; Tháng ngày ê a

3/ Ngô Thị Kim Cúc, Sài Gòn, Việt Nam

Từng in truyện trên tạp chí Bách Khoa xuất bản ở Sài Gòn trước 1975 với bút danh Vô Ưu; và trên tạp chí Văn, báo Tin Văn với bút danh Ngô Thị Kim Cúc.

Từng là Biên tập viên văn nghệ báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ.

Hiện là BTV Văn của mạng vanviet.info

clip_image015

Tác phẩm đã xuất bản: Vị ngọt hòa bình (tập truyện); Sắc biển (tập truyện); Tam Giang thứ ba (truyện ký); Vết cháy (tập truyện); Dòng sông buổi chiều (tập truyện); Những người uống trà (tập truyện); Những biền dâu sống lại (bút ký); Thảm cỏ trên trời(tập truyện); Ngọt như cà phê (bài báo văn học); Truyện ngắn Chọn lọc Ngô Thị Kim Cúc (tập truyện).

4/ Nguyên Ngọc, Hội An, Việt Nam

Bút danh khác: Nguyễn Trung Thành. Tên khai sinh: Nguyễn Văn Báu

Từng làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện là Viện trưởng Viện Phan Châu Trinh, thành viên Hội đồng quản lý Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, Chủ tịch Hội đồng Giải Văn hóa Phan Châu Trinh, Trưởng ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam & Chủ nhiệm mạng vanviet.info, Chủ tịch Hội đồng Giải Văn Việt.

clip_image017

Các tác phẩm đã xuất bản: Đất nước đứng lên; Rẻo cao; Đường chúng ta đi; Đất Quảng; Rừng xà nu; Có một đường mòn trên biển Đông; Cát cháy; Tản mạn nhớ và quên; Nghĩ dọc đường; Lắng nghe cuộc sống; Bằng đôi chân trần; Các bạn tôi ở trên ấy…

5/ Phạm Xuân Nguyên, Hà Nội, Việt Nam

Từng là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội. Hiện là Trưởng ban Văn học so sánh Viện Văn học.

clip_image019

Các tác phẩm đã xuất bản (ngoài hàng trăm bài viết về văn học trên báo chí trong và ngoài nước):

Dịch thuật: Sự bất tử (Milan Kundera) – Bút danh Ngân Xuyên; Văn học và cái ác (Georges Battaille) – Bút danh Ngân Xuyên.

Tiểu luận phê bình: Nhà văn như Thị Nở; Khát vọng thành thực.

BAN XÉT GIẢI NGHIÊN CỨU PHÊ BÌNH

1/ Hoàng Dũng, TPHCM, Việt Nam

PGS. TS Ngôn ngữ, Giảng viên Đại học Sư phạm TPHCM. Giáo sư thỉnh giảng Đại học Hamburg (2010) và Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc (Hankuk University of Foreign Studies, Seoul, 2013). BTV Nghiên cứu phê bình và Tổng hợp của mạng vanviet.info

clip_image021

Tác phẩm: Trên 50 công trình về ngôn ngữ học ở trong và ngoài nước.

Giải thưởng về phê bình của tạp chí Sông Hương (hai lần) và Cửa Việt (một lần).

2/ Hoàng Hưng, Sài Gòn, Việt Nam

Tên khai sinh là Hoàng Thụy Hưng.

Từng làm Trưởng ban Văn hóa-Văn nghệ báo Lao Động thời kỳ Đổi mới.

BTV Tổng hợp của mạng vanviet.info. Thường trực Hội đồng Giải Văn Việt

clip_image023

Tác phẩm Nghiên cứu phê bình:

- Gần 40 bài viết và tiểu luận văn học trên các sách báo Việt Nam và nước ngoài (Pháp, Đức, Mỹ)

- Sách (tự xuất bản): Các bài viết về thơ; Viết về Mỹ thuật (HHEBOOK 2012)

3/ Trần Đình Sử, Hà Nội, Việt Nam

GS TS Ngữ văn. Cựu GS Đại học Sư phạm Hà Nội.

clip_image025

Các công trình tiêu biểu:

- Viết: Thi pháp thơ Tố Hữu; Lí luận và phê bình văn học; Những thế giới nghệ thuật thơ; Dẫn luận thi pháp học, 1998, 2004, 2017; Thi pháp văn học trung đại Việt Nam; Thi pháp Truyện Kiều; Văn học và thời gian; Trên đường biên của lí luận văn học.

- Dịch: Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc; Những vấn đề thi pháp Dostoievski; Ngôn ngữ nghệ thuật thơ Đường, 1997, 2001; Bốn bài giảng mĩ học.

4/ Thụy Khuê, Paris, Pháp

Tên khai sinh là Vũ Thị Tuệ. Viết tiểu luận văn học từ 1985. Từng là Cộng tác viên chủ chốt về Văn hóa văn nghệ của Đài phát thanh RFI

clip_image027

Tác phẩm đã công bố:

- Tiểu luận văn học trên các báo Tự Do (Pháp & Bỉ), Văn Học (Hoa Kỳ), Thông Luận (Pháp), Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), Người Việt (Hoa Kỳ), Diễn Ðàn (Pháp), Hợp Lưu (Hoa Kỳ), Phụ Nữ Diễn Ðàn (Hoa Kỳ), Văn Việt (VN)...

- Sách đã in: Cấu trúc thơ; Sóng từ trường I, II và III; Nói chuyện với Hoàng Xuân Hãn và Tạ Trọng Hiệp; Nhân Văn-Giai Phẩm & Vấn đề Nguyễn Ái Quốc; Vua Gia Long & Người Pháp (Giải Đặc biệt Văn Việt lần thứ nhất 2016); Họa trường Lê Bá Đảng.

5/ Văn Giá, Hà Nội, Việt Nam

Tên khai sinh: Ngô Văn Giá. Phó giáo sư, Tiến sĩ Ngữ văn. Chủ nhiệm Khoa Viết văn- Báo chí, Đại học Văn hoá Hà Nội.

clip_image029

Một số công trình chính đã xuất bản: Một khoảng trời văn học (tiểu luận- phê bình); Vũ Bằng- bên trời thương nhớ (chuyên luận); Đời sống và đời viết (tiểu luận, phê bình-chân dung); Vũ Bằng- Mười chín chân dung nhà văn cùng thời (Sưu tầm, giới thiệu); Viết cùng bạn viết (tiểu luận, phê bình- chân dung); Người khác và tôi (Chân dung- tiểu luận, phê bình); Một ngày nát vụn (tập truyện); Một ngày lưng lửng (tập truyện ngắn)

BAN XÉT GIẢI DỊCH THUẬT:

1/ Hoàng Hưng, Sài Gòn, Việt Nam

Tác phẩm đã công bố:

- Nhiều thơ và truyện dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh in trên các sách báo Việt Nam.

- Sách xuất bản: 100 bài thơ tình thế giới (chủ biên), Thơ Federico Garcia Lorca, Thơ Apollinaire, Thơ Pasternak (cùng dịch), 15 nhà thơ Mỹ TK XX (chủ biên), Thơ Pháp cuối TK XX, Thơ André Velter, Thơ Allen Ginsberg (chủ biên), Các nhà thơ Giải Nobel (cùng dịch), Aniara (trường ca của Harry Martinson), Bài hát chính tôi (Walt Whitman), The Jungle Book (R. Kipling), Captains Courageous (R. Kipling - cùng dịch), Un crime en Hollande (Simenon), Le chien jaune (Simenon), De guere lasse (F. Sagan – cùng dịch), Les choses (G. Perec). Một số sách tâm lý học giáo dục của J. Piaget,

- Giải thưởng: Tặng thưởng của Hội Nhà văn VN cho “Thơ Apollinaire” 2007; Giải Sách Hay 2016 của Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh & IRED cho “Sự ra đời trí khôn ở trẻ em” (Piaget)

2/ Đặng Văn Sinh, Hải Dương, Việt Nam

dịch giả tiếng Hoa

3/ Lê Quang, Hà Nội, Việt Nam

dịch giả tiếng Đức.

clip_image030

Tác phẩm đã công bố: trên 30 tác phẩm, trong đó có Người đọc (Bernhard Schilink), Tình ơi là tình (Elfriede Jelink), Vị hạt táo (Katharina Hagena), Con sóng thứ bảy, Cưỡng cơn gió bấc, Ân sủng của đờiMãi yêu em (Dainel Glattauer)…

4/ Trịnh Y Thư, California, Hoa Kỳ

Nguyên chủ bút tạp chí Văn Học (California).

clip_image032

Tác phẩm dịch đã xuất bản: Đời nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of Being), tiểu thuyết của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera, tạp chí Văn Học; Căn phòng riêng (A Room of One’s Own), tiểu luận văn học của nữ sĩ Virginia Woolf, Tri Thức, ấn bản thứ nhất 2009, ấn bản thứ hai 2016; Jane Eyre, tiểu thuyết của nữ sĩ Charlotte Brontë, Nhã Nam.

Sáng tác đã xuất bản: Người đàn bà khác, tập truyện; Chỉ là đồ chơi, tạp bút; Phế tích của ảo ảnh, thơ.

5/ Vũ Thế Khôi, Hà Nội, Việt Nam

Bút danh khác: Văn Khôi, Hà Minh Thắng

Nguyên Trưởng khoa tiếng Nga Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Đại học Hà Nội); Nhà giáo ưu tú từ 1992; sáng lập viên và ủy viên Hội đồng khoa học Trung tâm văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây; từng tham gia Hội đồng thẩm định trao giải thường văn học dịch của Hội Nhà văn VN.

clip_image034

- Các công trình nghiên cứu về văn hóa đã công bố: Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích. Khảo cứu, phiên dịch từ Hán ngữ và chú giải; Vũ Tông Phan với văn hóa Thăng Long - Hà Nội (Chủ biên)

- Các tác phẩm dịch chính: a) Nga ngữ: V.Korrolenko - Những đốm lửa - (dịch chung); V. Bưkov – Gắng sống đến bình minh; Câu chuyện một tấm bia; Tình ca trên núi Alpơ (các truyện vừa, 1983, 1987); V.Korotkevich – Đội săn của quốc vương Stăk (tiểu thuyết); Thùy dương nguyên thủy (tiểu thuyết); Truyện Kiều (sang tiếng Nga); b) Hán ngữ: Tuyển tập thơ văn Vũ Tông Phan.

Chủ nghĩa dân túy là gì?

Francis Fukuyama

Người dịch: Huỳnh Hoa

Francis Fukuyama: What Is Populism?
American Interest, 28 November 2017

Thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” (populism) đã được sử dụng rất lỏng lẻo trong thời gian gần đây. Chúng ta cần xác định rõ hơn.

Những năm gần đây đã trỗi dậy những hình thức mới của chủ nghĩa dân tộc dân túy (populist nationalism) mà ngày nay đã trở thành mối đe dọa chính đối với trật tự tự do quốc tế từng là nền tảng của hòa bình và thịnh vượng trên toàn cầu từ sau năm 1945. Chế độ dân chủ tự do đã liên tiếp bị các chế độ chuyên chế đe dọa trong suốt thế kỷ qua, ngoại trừ giai đoạn 1991-2008 khi quyền lực của Hoa Kỳ giữ vị trí gần như bá chủ. Ngày nay, một kiểu đe dọa khác đã nổi lên, các nền dân chủ ổn định đã tự thúc thủ trước các thế lực chính trị phi tự do được dẫn dắt bởi các niềm đam mê của người dân. Tuy vậy, thuật ngữ “chủ nghĩa dân túy” [nghĩa đen: làm cho người dân say sưa] đã được sử dụng rất lỏng lẻo nhằm mô tả một loạt các hiện tượng không nhất thiết dung hợp được với nhau. Do đó, chúng ta cần vạch ra những ranh giới cho khái niệm này.

Ngọ Mùi hương hội

Đặng Văn Sinh

clip_image002

clip_image004

Chúng tôi vừa tìm được cuốn ghi chép về khoa thi Hương vào năm Thành Thái thứ 6 (1894) và khoa thi Hội vào năm Thành Thái thứ 7 (1895) của triều đình nhà Nguyễn. Cuốn sách có tựa đề "Ngọ Mùi hương hội" chia làm hai phần. Phần đầu là "Hà Nam trường Hương thí văn tuyển" do tượng nhân Liễu Chàng khắc ván in. Phần sau là "Hội, Đình văn tuyển" do nhà sách Đồng Văn sao chép.

Phần "Hà Nam trường hương thí văn tuyển" gồm 3 mục. Mục 1 là danh sách Ban Giám khảo kỳ thi Hương năm Thành Thái thứ 6. Mục 2 là danh sách các cử nhân xếp theo thứ tự cao thấp, và mục 3 là tuyển chọn các bài văn sách của khảo sinh qua 3 kỳ khảo thí, trong đó có bài của những thí sinh không đỗ nhưng xuất sắc cũng được đưa vào.

Phần "Hội, Đình văn tuyển" không có mục danh sách ban giám khảo mà chỉ có danh sách các tiến sĩ, đồng tiến sĩ và phó bảng. Mục "văn tuyển", ngoài văn sách của các thí sinh trúng cách, người tuyển chọn cũng đưa vào một số bài của các thí sinh lạc đệ nhưng cũng xuất sắc qua các đợt khảo thí của kỳ thi Hội.

Vật thể bay không xác định

Vũ Thành Sơn

Trang ba tờ Tin tức Buổi chiều, mục Khám phá mới, đưa tin một chiếc đĩa bay đã được nhiều nông dân một làng quê ở Romania nhìn thấy hạ cánh trên một cánh đồng lúc chập choạng, vào lúc công việc đồng áng vừa kết thúc, mọi người đang thu xếp các thứ nông cụ cất vào trong kho và chuẩn bị về nhà; bò, dê cũng lần lượt được lùa hết về chuồng. Thoạt đầu người ta thấy một chớp sáng lấp lánh di chuyển không tiếng động trên bầu trời, chớp sáng di chuyển liên tục và khi tiến đến một khoảng cách khá gần, họ nhận ra đó là một vật thể hình chiếc đĩa, phát sáng và xoay tròn ngay phía trên đầu của họ…

Cô dừng lại nghe tôi chăm chú. Cánh tay trong thao tác đưa chiếc muỗng kem lên miệng bỗng chốc bất động như thể sợi giây thiều đã quay hết vòng và con búp bê đang múa đột ngột đứng cứng đơ ra đấy.

- Dạo này báo chí đưa nhiều tin như thế này ghê đi ấy.

Sau câu nói, cô trở lại với món kem chuối của mình với một vẻ thành khẩn và tập trung hết mức.

- Ý em muốn nói là…

- Mấy cái gì bay… bay anh vừa đọc đó.

- Vật thể bay không xác định.

- Ừ, đại khái vậy. Tên gì mà dài loằng ngoằng khó nhớ quá. Sao báo chí không gọi ngắn gọn là đĩa bay có hơn không?

Thói quen nệ thực trong văn học Việt Nam và những nỗ lực vượt thoát

Đoàn Huyền

Xuất hiện ở Việt Nam gần một thế kỉ, đến thời điểm này chủ nghĩa hiện thực tuy không còn giữ địa vị của một khuynh hướng sáng tác thống soái, nhưng điều đó không có nghĩa những người cầm bút Việt Nam đã thực sự thoát khỏi từ trường của khuynh hướng sáng tác này. Nhìn vào thực tiễn sáng tác của văn học Việt Nam không khó để thấy ám ảnh về hiện thực và quán tính phản ánh hiện thực trên những khuôn nền cũ vẫn là một trong những quán tính và áp lực mạnh nhất của văn học Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại. Từ góc độ người quan sát những chuyển động của văn học Việt Nam trong nhiều năm sau đổi mới, nhà văn Nguyễn Kiên nhân cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004 của Hội nhà văn, nhận định: “Văn học ta mạnh ở sự gắn bó với đời sống nhưng có một nhược điểm như một thói quen là thói quen nệ thực [...] tác phẩm bên cạnh cái hay, cái sâu sắc và hấp dẫn, có điều tiếc là tác giả còn trường vốn và đủ sức, sao lại dừng ở sự tái hiện, chưa vượt thoát ra(1).

Tuy nhiên, thói quen nệ thực không đơn giản chỉ là một nhược điểm và hệ lụy của nó không chỉ đem đến tiếc nuối về những tác phẩm “đáng ra còn có thể hay hơn thế”. Nếu nghiêm khắc và thành thật hơn, chúng ta sẽ thấy rằng thói quen khó dứt bỏ ấy của cả nền văn học Việt Nam là một trong những căn nguyên chính cho nhiều “thành tựu nghệ thuật bị bỏ lỡ(2) hay thậm chí cho sự luẩn quẩn, tù đọng của những vận động đổi mới trong văn học Việt Nam giai đoạn vừa qua và hiện tại.

Mười năm mất nhà ngữ học Cao Xuân Hạo (9): Người đồng hành cùng tiếng Việt

Thanh Thảo

Cách đây 4 ngày, trong khi ngồi với dịch giả Cao Xuân Tứ – người anh em họ với nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo, hai người đều gọi cụ Cao Xuân Dục là ông cố – tôi đã hỏi về tình hình sức khoẻ của thầy Cao Xuân Hạo. Anh Tứ – Việt kiều ở Hà Lan, và là người đang dịch và quảng bá văn học Hà Lan ra tiếng Việt theo một chương trình của Hà Lan – đã nói với tôi là sức khỏe thầy Hạo đang rất xấu.

Cách đó gần một tháng, khi mới từ Amsterdam về Sài Gòn, anh Tứ đã tới thăm người anh em Cao Xuân Hạo của mình, và theo anh Tứ nói, lúc ấy anh Hạo vừa vượt qua cơn nguy kịch, nhưng đã tươi tỉnh trở lại, thậm chí còn uống được với người anh em của mình vài ly rượu vang. Nhưng không ngờ, đó là lúc khỏe lại cuối cùng của học giả Cao Xuân Hạo. Mấy ngày sau, ông đã chìm vào cơn hôn mê dài cho tới hôm qua.

Chúng ta đã mất một nhà ngôn ngữ học Việt Nam tài ba, một nghệ sĩ đa tài và nặng tình với nghệ thuật, một người thầy thiết tha với tiếng Việt và với học trò, một con người hiện đại nhưng lại có phẩm chất đạo đức của một nhà Nho "Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất". Tôi có chút may mắn, khi mới vào học năm thứ nhất khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - khóa học sơ tán đầu tiên của các trường đại học miền Bắc vì chiến tranh phá hoại - tôi đã có dịp được hầu chuyện hóng chuyện thầy Hạo. Nói cho đúng, thầy Hạo chưa dạy lớp chúng tôi ngày nào, đơn giản, vì ngày ấy thầy Hạo và thầy Phan Ngọc không được đứng lớp.  Chỉ biết, với tôi lúc ấy, Cao Xuân Hạo là dịch giả bộ đại tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của văn hào vĩ đại Lev Tolstoi, và của hàng loạt tác phẩm văn học kinh điển khác.

Vòng tròn ma thuật (kỳ 13)

Arthur Koestler

Phạm Nguyên Trường dịch

Vĩ thanh

Hãy chỉ cho chúng tôi không chỉ mục đích mà cả đường đi. Vì đường đi và đích đến gắn bó mật thiết với nhau.

Đường đi đã thay đổi thì đích đến đâu còn như xưa.

Ferdinand Lassale (Franz von Sickengen)

1.

“Khi được hỏi có công nhận mình phạm tội hay không, bị cáo Rubashov đã trả lời một cách rõ ràng: ‘Có’. Trả lời câu hỏi tiếp theo của Công tố viên rằng bị cáo có phải là gián điệp của phản động quốc tế hay không, bị cáo nói: ‘Có’, nhưng nhỏ hơn lần trước...”

Cô con gái của ông Vasily đọc một cách chậm chạp và rõ ràng từng chữ một. Cô trải tờ báo trên mặt bàn và đưa ngón tay chỉ vào từng chữ đang đọc, thỉnh thoảng lại đưa tay kia lên vuốt tóc.

“Khi được hỏi có cần luật sư biện hộ hay không, bị cáo tuyên bố không cần. Lúc đó toà bắt đầu tiến hành đọc bản cáo trạng...” Ông Vasily nằm trên giường, mặt quay vào tường. Vera Vasiljovna, con gái ông, không bao giờ biết bố đang nghe hay đã ngủ. Đôi khi cô cũng nghe thấy ông lầm bầm một câu gì đó. Nhưng cô không bao giờ để ý, tối nào cô cũng đọc báo cho bố nghe, gọi là “để nâng cao trình độ”, ngay cả những hôm phải ở lại họp chi bộ, về muộn, hai cha con cũng không bỏ thói quen này.

Thiệp Giáng sinh của các em học sinh gửi Tổng thống Trump và Đệ nhất phu nhân

FB Vi Khả Hoàng

Các em học sinh trang lứa với bé Nấm viết những bức thiệp Giáng sinh gởi tổng thống Trump và đệ nhất phu nhân.

Xin dẫn lời em Melody Hà trong lớp 5 tại trường Thăng long "dù có thể các thiệp này không đem lại tự do cho họ nhưng vẫn tốt hơn là không làm gì cả" và bạn em, em Lily Nguyễn đã nhắc lại câu ca dao "bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn".

Các bức thiệp này như là những món quà nhỏ an ủi tinh thần mà các em gởi tới các con của Mẹ Nấm, của chị Trần thị Nga và những ai cùng hoàn cảnh.

clip_image002

clip_image004

clip_image006


TRIỂN LÃM NGHỆ THUẬT ĐỒ HỌA CHỮ TDC 63

Không chỉ hướng tới những người làm đồ họa chữ chuyên nghiệp hay sinh viên các ngành thiết kế, triển lãm năm nay tiếp tục mở rộng phạm vi tới những đối tượng hoạt động trong ngành quảng cáo, marketing, truyền thông đa phương tiện, xuất bản và giáo dục.

Khai mạc

Thứ sáu, 08.12.2017, 18h00

Triễn lãm diễn ra từ 09. - 12.12.2017, 9h00 – 20h00

Nhà triễn lãm Tp. Hồ Chí Minh

92 Lê Thánh Tôn, quận 1, Tp.HCM

Vào cửa tự do

Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu (kỳ 22)

Hoàng Tuấn Công


○ “mài mực ru con, mài son đánh giặc Nói các ông đồ ngày xưa ngày thường ngồi dạy học đồng thời giúp vợ làm việc vặt trong nhà, nhưng khi có giặc thì tham gia phục vụ quân sự”.

Tục ngữ nói đến kinh nghiệm, phương pháp mài mực và mài son của người dùng bút lông xưa kia, không phải chuyện ông đồ vừa dạy học vừa bế con, ru con, “giúp vợ làm việc vặt trong nhà khi có giặc thì xếp bút nghiên tham gia “phục vụ quân sự” như GS lầm lẫn!

Mực tàu đóng thành thỏi rất rắn, nhưng khi mài lại không được phép mạnh tay. Nguyên do: nếu sốt ruột, mài mạnh tay cho nhanh, mực sẽ không mịn, sinh ra lắm hạt sạn nhỏ; khi viết ngọn bút bị xơ, nét bút không đẹp. Ngược lại, nếu mài nhẹ nhàng, êm ái (như “ru con” theo cách ví von của dân gian) mực trong thỏi sẽ ngấm dần, hoà tan, quyện với nước, cho một thứ mực mịn màng, sóng sánh, khi viết đầu bút chụm lại, bút lông có độ đàn hồi tốt và nét bút không bị xơ, cứng, mặt chữ bóng, đẹp. Thế nên, việc chọn đá làm nghiên mài mực cũng rất cầu kỳ. Nếu đá nhẵn quá, khi mài, thỏi mực cứ trơ trơ, trơn tuồn tuột. Nhưng nếu đá quá thô ráp, khi mài sẽ không cho được thứ mực mịn màng, sóng sánh. Đá tốt nhất là loại đá có độ ráp vừa phải, đủ để thỏi mực bị bào mòn từ từ, đảm bảo chất lượng mực. Tục ngữ Hán: “非人磨墨, 墨磨人 - Phi nhân ma mặc, mặc ma nhân - Không phải người mài mực, mà mực mài người.”; “墨是可已磨濃的 - Mặc thị khả dĩ ma nùng đích - Mực mài lâu mới đậm”. Lại có câu “讀 書 真 事 業 磨 墨 靜 功 夫 – Độc thư chân sự nghiệp, ma mặc tịnh công phu - Học hành là một sự nghiệp; mài mực cũng cần khổ công”. Thế nên, học trò xưa đi học, việc đầu tiên là phải gò lưng mài mực cho thầy, rồi sau mới đến chuyện học chữ.

Hàn Vĩnh Diệp: Trở lại Cao Bằng, đôi điều suy ngẫm!

FB Đinh Ngọc Thu

Trước đây, do yêu cầu của công tác, chúng tôi thường xuyên đi lại một số tỉnh miền biên ải phía bắc: Lạng Sơn, Hải Ninh (Quảng Ninh), Cao Bằng, Hà Giang… Trong các chuyến đi ấy, chúng tôi thường được nghe các bạn hữu, bà con nhân dân địa phương nói chuyện về việc phía Trung Quốc di chuyển cột mốc biên giới với sự trợ lực của lực lượng võ trang lấn chiếm đất đai của nước ta.

Những vùng bị lấn chiếm ấy, họ di dời làng mạc cho dân sang cư trú, làm ăn; thậm chí họ còn chuyển cả mồ mả tổ tiên sang, các mồ mả ấy có bia mộ đàng hoàng nhưng không biết bên trong có hài cốt thực không, chẳng ai biết. Không chỉ nghe mà chúng tôi còn được bà con địa phương đưa đến một số nơi để mục kích như: Thanh Thủy (Hà Giang), Bản Giốc, Sóc Giang, Phia Un, Ngọc Khê (Cao Bằng), Trinh Tường, Pò Hèn (Hải Ninh), Mục Nam Quan, khu vực liên hoàn đường sắt - đường bộ thuộc xã Bảo Lâm (Lạng Sơn) v.v…

Ga biên giới ở khu vực biên giới TQ và tỉnh Lai Châu, dưới thời Pháp thuộc, nằm trong lãnh thổ Việt Nam, nhưng bây giờ nó đã "chạy" qua vùng đất TQ. Nguồn: Bách Việt Nhân.

Có một thời sôi động nữa không?

Trần Huy Quang

THQCó lẽ trong giới báo chí cũng như mọi người còn nhớ có một thời báo chí sôi động bởi những phóng sự văn học nói về những bức bách, nghịch lí, bất công của cuộc sống với tinh thần nhập cuộc và trách nhiệm công dân của các nhà báo. Đó không phải là những vụ việc có tính hình sự hay khêu gợi sự tò mò giết, hiếp hay hotgirl lộ hàng như thị hiếu hôm nay. Mà là những vấn đề sống còn của sự phát triển, độ vênh của lí thuyết và cuộc sống thực tại, những chính sách lỗi thời trở thành sự cản trở sự đi lên của xã hội mà chưa tháo gỡ… Phải nhớ rằng thời đó, thực tiễn cuộc sống đã đặt ra những vấn đề của sự phát triển xã hội mà các chính sách không theo kịp, không cập nhật được đã là mối quan tâm hàng đầu của dư luận. Yêu cầu đó buộc trí thức và giới truyền thông phải dũng cảm dấn thân với trách nhiệm công dân cao cả. Hơn nữa với tinh thần “cởi trói”, báo chí cũng như văn học nghệ thuật nói chung, đã tiệm cận được đến tính Chân Thiện Mĩ như trong Nghị Quyết 05 của Bộ chính trị (khóa 6)…

Làm nên một thời kì sôi động ấy, phải là nhiều tiếng nói với âm tầng cao thấp nóng lạnh khác nhau, đa thanh, đa âm, không riêng của một giai điệu nào dù nó có là giai điệu. Ở đây với sự quan sát hạn hẹp chủ quan, người viết chỉ đề cập đến sự nhập cuộc hăng hái và trách nhiệm của tờ Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam, dường như chính nó, với đặc thù vừa là văn chương vừa là báo chí, đã làm sống lại một thể loại văn học mà Văn hào Vũ Trọng Phụng khởi xướng cách đây hơn nửa thế kỉ, thể loại Phóng sự điều tra đầy chất văn học. Nhất là khi nhà văn Nguyên Ngọc về làm tổng biên tập thì nó là sự cộng hưởng của nhiều đòi hỏi đổi mới và phát triển.

Tản mạn văn hóa văn nghệ và … văn gừng (15)

Thiền – Thiền tông – Thiền học và Phật pháp – Phật giáo (4)

Nguyễn Thanh Văn

Thiền tông và Thiền học Trung Quốc trong liên quan với Phật giáo Việt (2)

VỀ MỘT LUẬN ĐIỂM CỦA NGÀI J. BACOT ĐƯỢC ÔNG NGUYỄN DUY CẦN, TÁC GIẢ “PHẬT HỌC TINH HOA” TÁN THÁN

Cụ Nguyễn Duy Cần chỉ với công trình Phật giáo tinh hoa đã có công không nhỏ trong việc quảng bá kiến thức căn bản, tối cần thiết cho người học Phật, trước hết là ở thời kỳ trước 1975 ở miền Nam. Đọc kỹ cuốn sách để thấy trong quá khứ, từ rất sớm đã có những trí thức, cư sĩ tự học thành công thế nào. Và phải nói cho tới bây giờ, cuốn Phật giáo tinh hoa vẫn là cuốn sách có nhiều điểm đáng đọc. Ngay cả sự “thiên vị” – tạm gọi như vậy – công khai với tông phái “Đại Thừa”, cụ tỏ ra minh bạch lập trường để lập luận và để người đọc rõ góc độ người viết ở đâu.

Tuy nhiên tôi phải mạn phép xin trích dẫn một đoạn từ cuốn sách vừa dẫn nhằm minh hoạ cho chủ đề đang bàn và ít nhận định chủ quan của mình. Nói chính xác là ý kiến của ông J. Bacot, một học giả người Pháp được cụ Nguyễn Duy Cần trích dẫn và tán thán.

“…Nếu ta tóm thu lại tất cả những gì mà trong các Kinh Sách cho là những lời nói của chính miệng Ngài [chỉ Đức Thích Ca – NTV] ra, như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Nhị Nhân Duyên – thì phải thú thật chỉ bấy nhiêu thôi thì quả không có gì đáng gọi là xuất sắc lắm, cũng không đủ mà chinh phục cả thế giới”.

Vòng tròn ma thuật (kỳ 12)

Arthur Koestler

Phạm Nguyên Trường dịch

6.

Rắc rối xảy ra vào ngày thứ năm hay thứ sáu: Rubashov bị ngất trong khi đang lấy lời khai. Họ vừa bắt đầu thảo luận điều khoản quyết định của bản cáo trạng, đấy là động cơ hành động của Rubashov. Trong bản cáo trạng, động cơ được xác định đơn giản là “tư tưởng phản cách mạng” và chỉ nói khơi khơi, như thể đấy là một sự kiện hiển nhiên, rằng anh là gián điệp của quốc gia đối địch. Rubashov kiên quyết phản đối qui kết như thế. Buổi thẩm vấn bắt đầu ngay từ lúc rạng đông và đến khoảng giữa buổi sáng thì Rubshov bỗng nhiên gục xuống rồi ngã lăn ra đất, bất tỉnh nhân sự.

Mấy phút sau Rubashov mới tỉnh, anh nhìn thấy một tay bác sĩ đầu bé tí, tóc lưa thưa đang cầm một chai nước tưới vào mặt, còn tay kia thì chà sát hai bên thái dương. Mùi bạc hà cộng với mùi bánh mì đen và tóp mỡ làm anh nôn thốc nôn tháo. Tay bác sĩ chửi ầm lên, giọng hắn the thé, nghe rất chói tai; sau đó hắn bảo rằng cần phải đưa Rubashov ra ngoài trời một lúc. Gletkin đứng nhìn, mặt vẫn lạnh như tiền. Hắn bấm chuông gọi người tạp vụ, ra lệnh giặt tấm thảm rồi mới bảo đưa Rubashov về buồng giam. Một lúc sau anh được người giám thị già dẫn ra sân.

Bầu không khí trong lành làm Rubashov cảm thấy ngây ngất. Anh nhận thấy mình có hai lá phổi đang hít lấy hít để khí trời. Trời quang nhưng ánh nắng rất yếu; mười một giờ đúng, ngày xưa, tức là trước khi bắt đầu chuỗi ngày đêm bất tận vừa qua, đây chính là lúc anh thường được cho ra ngoài đi dạo. Anh đúng là một thằng ngốc, lúc đó anh đâu có biết giá trị của nó. Tại sao lại không thể sống, không thể thở, không thể hưởng cái thú đi dạo trên tuyết và để cho ánh mặt trời mơn man trên gò má? Tại sao lại không tìm cách kết thúc những cơn ác mộng, kết thúc cảnh bị hành hạ dưới ánh đèn pha và sống như bao người khác?

Lần này đi bên cạnh vẫn là anh nông dân với đôi giày rách nọ. Anh ta liếc nhìn Rubashov đang ngật ngưỡng bước rồi hắng giọng hai ba lần, mắt vẫn không rời mấy người lính gác, và nói:

“Thưa ông, lâu lắm không trông thấy ông. Trông ông yếu lắm, khéo ông chẳng sống được lâu nữa đâu. Người ta bảo sắp có chiến tranh rồi.”

Rèm cửa sổ mùa đông

Trịnh Y Thư

clip_image002

Tranh Nguyên Khai

*



Rèm cửa sổ suốt mùa đông không mở
cho tôi nằm ngắm nhìn em trang điểm
     trước tấm gương tròn
     trong gương
     đôi vú màu hồng
     che giấu nét tàn phai
     dưới làn da bụng
     buồng trứng rỗng ruột
     vẫn thao thức chờ.

Văn hoc miền Nam 54-75 (456): Trùng Dương (8)

Hai người bạn


Nửa đêm, có lẽ vào khoảng một hay hai giờ sáng, Kim cũng chẳng nhớ rõ, chiếc điện thoại đặt trên bàn ngủ ngăn giữa hai chiếc giường một người nằm chợt reo vang. Hai người cùng choàng tỉnh dậy. Trước khi Kim kịp xoay người về phía bàn ngủ, Supinda đã chụp lấy ống điện thoại trong bóng tối. Kim vẫn nằm im trong chăn mặt xoay vào tường, đôi mắt còn tiếp tục ngủ nhưng tâm trí lơ mơ tỉnh thức. Khi Supinda kêu lên mừng rỡ và gọi tên người ở đầu dây bên kia, Kim hiểu rằng nàng nên để cho người bạn Thái nghĩ là nàng vẫn đang ngủ. Mà quả tình Kim cố dỗ cho mình ngủ lại để khỏi nghĩ ngợi lung tung thêm phiền muộn. Nhưng đâu dễ gì. Vì Supinda đang nói chuyện với người ở đầu dây bên kia bằng thứ tiếng mà Kim nghe, dù vô tình, cũng vẫn hiểu được.
"Ô, Krishnan! Em nhớ anh quá đi mất thôi. Em gọi anh từ lúc tám giờ tối, sao mãi giờ này anh mới trả lời?"
"…"
"Em đã ngủ được một giấc, và em mơ thấy em đang đi dạo trên đường phố Bangkok bên cạnh anh".
"…"
"Ồ, chẳng có gì thú vị cả! Toàn là gặp mấy mụ già không à! Anh phải thấy được cách họ "hành hạ" em như thế nào! Em không được ngủ trễ, không được ngủ trưa. Trễ giờ hẹn một chút xíu là họ bất bình ra mặt. Lúc nào cũng giờ giấc. Mà anh cũng biết đấy: Supinda của anh có bao giờ chịu đeo đồng hồ đâu. Cái gì mình thích thì họ cũng không chịu cho mình làm, trong khi đó lúc nào họ cũng cho mình là khách của họ! Khách gì mà như là tù giam ấy thôi! Chán quá. Em chịu hết nổi rồi. Em nhớ anh quá, Krishnan!"
"…"
"Nhưng mà họ giữ vé máy bay của em ngay khi vừa đặt chân đến đây rồi, còn đâu! Em tưởng họ giữ để xác định lại ngày về với hãng hàng không. Về sau Kim mới cho em biết là có một số người đến đây, nhớ nhà nên bỏ dở chuyến đi và tự ý về nước, nên về sau này họ quyết định giữ vé máy bay của tất cả những người được mời, chỉ trả lại khi nào đến sát ngày về".
"…"
"À, Kim là cô bạn Việt Nam cùng được mời đến đây như em. Nó dễ thương lắm. Cũng may có hai đứa cùng người Á châu với nhau…"
"..."
"Được em sẽ chuyển lời cho anh. Nó đang ngủ. Lúc nhớ anh em thường kể với nó về chuyện tụi mình".
"…"
"Em đếm từng ngày để trở về nhà. Krishnan, em nhớ anh chết được!"
"…"
"Trời ạ! Anh phải thấy cách mấy mụ ấy lúc nào cũng coi em như là con cháu trong nhà ấy thôi! Thậm chí cả những lúc họ đã trả em về khách sạn rồi mà chốc chốc lại gọi dây nói hỏi thăm như sợ mình biến mất không chừng!"
"…"
"Vâng, anh Krishnan yêu quý. Em hy vọng gặp anh ở Âu châu. Còn một tháng mấy nữa thôi, nhưng sao em thấy thời gian dài lê thê. Bây giờ ở bên nhà là mấy giờ hả anh?"
"…"
"Vâng, em chỉ mong có thế. Hôn anh. Em sẽ gọi anh ở mỗi chỗ em đến. Mốt em đi New York rồi… Vâng, hẳn là ở đó em sẽ cảm thấy dễ chịu hơn vì có gia đình anh họ em. Em sẽ gọi lại anh, anh Krishnan yêu quý. Em sẽ gọi lại anh. Anh đã nhận được cái bảng ghi những số điện thoại của những nơi em sẽ đến rồi à? Gọi cho em bất cứ khi nào có thể được, nghe anh… Anh đừng quên đấy, nghe anh… Vâng, xong rồi đây cô… Krishnan, em hôn anh…"
Âm thanh những câu cuối vội vã, đầy níu kéo vô vọng. Có tiếng gác ống điện thoại. Tiếng khăn trải giường lào xào khi người con gái chuồi thân thể nàng trở lại trong chăn ấm. Sự im lặng trở về căn phòng nhỏ. Chợt Supinda khẽ gọi:
"Kim? Kim? Mày ngủ hay thức?"
Kim nằm im, không đáp. Nghĩ là bạn đang say ngủ, nên Supinda thôi không gọi nữa.
Kim không ngủ. Nàng nghĩ bên nhà bây giờ có lẽ là rạng đông. Rạng đông. Ánh nắng mặt trời. Ôi, thứ ánh sáng có hiệu lực xua đuổi đoàn âm binh của đêm tối mênh mông… Một nỗi tủi cực đến ngự trị trong tâm hồn Kim – nỗi tủi cực đã vượt không gian đến với Kim và cùng chui vào bên trong tấm chăn phủ ấm thân thể, nhưng chẳng phủ ấm được tâm hồn. Kim thầm nhủ với mình: Ngủ đi em, mộng bình thường… Đêm tối xoá nhòa mọi hình thể, mọi kích thước. Nhưng chính sự kiện xoá nhòa đó đã ban cho mọi hình thể mọi kích thước một hình thể vĩ đại hơn, chắc chắn hơn, và một kích thước lớn rộng, dài đặc hơn. Kim nghe tiếng mình vỗ về mình. Ngủ đi em. Ngủ đi em. Chứ chẳng phải khi mày đứng đợi đến giờ lên máy bay rời quê hương – nơi mày đã sinh ra, đã lớn lên, đã hiểu, đã cảm, đã sung sướng, đã đau đớn – mày đã có cái thích thú tàn bạo vì vai trò kẻ lữ hành cô độc mà mày đang sắm, đấy sao? Chứ chẳng phải mày đã lấy làm khoái chí khi rời Guam, ngắm cái cảnh thiên hạ hôn nhau và khóc như mưa, bằng cái nhìn của một kẻ tự cho là mình vượt qua mọi thứ tình cảm luyến nhớ bình thường, đấy sao? Chứ chẳng phải những lúc đổi máy bay tại một vài phi trường, mày đã từng bước những bước thênh thang, với cái đầu ngẩng cao, với cái nhìn chứa đầy biển, hồ và với nụ cười mãn nguyện của kẻ phiêu lưu, giang hồ, chẳng một ràng buộc nào, đấy sao? Và mày vẫn thường cười nhạo những kẻ nhớ nhà là ủy mị, là mềm yếu, đấy sao? Kẻ ưa phiêu lưu và thích đi tìm những cảm giác lạ trong mày đi đâu rồi? Thì ra, hắn đã bỏ mày để đi xuống phố và la cà trong các quán rượu, bên bờ sông, trong công viên, bên sân ga, trong các xóm lao động, bên những di tích lịch sử, rồi ư? Thảo nào… Ôi cô bé tội nghiệp và yếu xịu (!) của ta ơi. Ngủ đi em. Và ngày mai mặt trời lại thức giấc để ban phát niềm yêu đời, sau khi đã đánh tan đoàn âm binh của đêm tối. Ngủ đi em, mộng bình thường. Ngày mai còn những New York, San Francisco, Los Angeles, và Paris đấy, và Rome đấy, và Tokyo nữa chi…? Hay cô bé còn muốn gì khác hơn? Một người tình ư? Ta biết cô bé quá mà. Cô bé chỉ thực sự thèm muốn có một người tình khi cô bé nhìn thấy những người khác yêu nhau thôi. Cô bé vẫn thường nói sau mỗi cuộc tình, rằng mình có cảm tưởng như bắt gặp lại chính mình đấy ư? Vậy nên, cũng đừng tủi cực, khi thấy mình đơn độc, làm gì! Cô bé ơi, cô bé xứng đáng để làm kẻ lữ hành cô độc lắm, bởi vì cô bé quá ích kỷ, đôi khi còn thích thú một cách tàn bạo về tính chất ích kỷ đó ở cô nữa. Than nỗi gì? Cô bé chưa hiểu được thế nào là sự hy sinh. Cô bé quá bận rộn với chính mình. Coi kìa, hãy chấp nhận đi chứ. Và hãy trở lại ngủ đi. Rồi hắn sẽ trở về với cô bé mà. Hắn không bỏ đi lâu đâu. Ta biết lắm chứ. Hà hà… Ta biết hắn như chính ta biết về cô bé vậy. Ngủ đi em. Ngủ đi em… Tay anh, em hãy tựa đầu. Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi.
Quả nhiên, hắn trở về thật. Kim thức giấc vào lúc ánh nắng mặt trời chiếu thẳng vào trong phòng, qua khung cửa sổ lắp kính mở rộng, tạo thành một vệt sáng dài đến tận giường ngủ của nàng. Kim nghe như có tiếng ai chào mình. Và Kim thấy khoẻ khoắn trở lại. Cuộc vật lộn với đoàn âm binh không phân thắng bại. Đã bao nhiêu lần Kim tự hỏi tại sao có những lúc, tâm hồn mình trở nên thê thiết như vậy? Kim nằm im trên giường như vậy thật lâu. Người bạn Thái vẫn ngủ vùi.
Có tiếng chuông điện thoại. Kim giật bắn người. Đã hơn một lần, nàng cảm thấy thù ghét tiếng chuông điện thoại. Người ta vẫn không thể không cần những tiện nghi vật chất, đồng thời cảm thấy thù ghét sợ hãi chính những tiện nghi đó. Kim bỏ mặc cho chuông điện thoại reo. Nàng dư biết ai gọi rồi. Từ giường bên kia, Supinda nói:
"Mày trả lời đi chứ!"
Kim uể oải nhấc ống nghe lên:
"Dạ… dạ… Chúng tôi sẽ sửa soạn ngay bây giờ…"
"…"
"Được. Chúng tôi sẽ xuống phòng đợi…"
"…"
"Vâng. Chúng tôi sẽ nhớ. Xin chào".
Kim mắc ống nghe vào máy. Supinda đã tỉnh hẳn. Nàng vươn vai ngáp dài. Kim bảo bạn trước khi vào phòng tắm:
"Họ đợi mình dưới nhà. Nửa giờ sau phải có mặt. Ta cũng chẳng buồn hỏi hôm nay họ sẽ đưa mình đi những đâu".
Kim đã bước hẳn vào phòng tắm, rồi lại chạy ra đến bên giường bạn:
"Này, Supinda. Tao đề nghị cái này. Lát nữa, sau bữa cơm trưa, tao nói dối là gặp mấy người bạn đồng hương, họ rủ tao đi chơi và ăn tối, rồi tao làm bộ rủ mày cùng đi. Mày nghĩ sao?"
Mắt Supinda sáng lên:
"Đồng ý".
Khi Kim đang đánh răng rửa mặt trong phòng, lại có tiếng chuông điện thoại. Tiếng Supinda trả lời bên ngoài, Kim nghe không rõ. Một lát, khi Kim trở ra, người bạn nói:
"Có một phóng viên muốn gặp tụi mình để phỏng vấn. Tao bảo là mình đã gọi điểm tâm, lát nữa bồi mới mang lên. Cô phóng viên xin lên gặp thẳng mình ở trên phòng".
Kim đáp:
"Tao chán ngất mấy cái trò này quá rồi. Không biết những người thường bị mình phỏng vấn trước kia, họ có tâm trạng của mình bây giờ không? Bao cho chấm dứt tình trạng này, không biết?! Chưa bao giờ tao thấy "bị xỏ mũi" như bây giờ! Mày thỉnh thoảng còn nhận được cú điện thoại của thằng bồ, cũng đỡ khổ…"
Supinda cười, nụ cười có nhuộm nắng hồng ban mai – hay nắng hồng của tình yêu?
"Đêm qua mày cũng có nghe à? Sao tao gọi mà mày không đáp?"
Kim nói, chống chế:
"Tao đoán ngay khi nghe tiếng mày nói như khóc, lúc đầu. Rồi tao ngủ thiếp đi mất, chẳng nghe biết mày đã nói gì sau đó. Mày có gọi tao à?"
"Ừ. Tao vui quá nên định gọi mày dậy để tâm sự, vậy thôi. Krishnan thật dễ thương. Hắn là người Mã Lai thường đến Bangkok chơi luôn. Hắn biết tao đã ly dị chồng, người chồng bố mẹ tao chọn căn cứ vào sự môn đăng hộ đối. Khi đứa con đầu của tao chết vì đẻ non, tao xin ly dị vì nó còn trẻ, con nhà giàu, không chịu làm gì lại chỉ ham cờ bạc bỏ bê tao, tao kể với mày rồi đó. Tao không có hạnh phúc. Rồi tao gặp Krishnan…"
Kim nhớ lại hôm đầu tiên gặp Supinda ở Washington D.C. Nàng đến trước Supinda một ngày. Sau khi đã làm một vòng thăm cái thành phố nhiều công chức và dân da đen này, trở về khách sạn, Kim được biết Supinda vừa đến cùng với cô em gái qua du học về ngành kiến trúc. Tiếng Supinda trả lời điện thoại nghe thật trẻ thơ. Sự thông cảm lúc đầu không mấy khó khăn. Với dáng cao và gầy, và với phục sức hợp thời trang, tuy vậy, Supinda giản dị, cởi mở, hồn nhiên nhờ từ bé đã được hấp thụ một nền giáo dục Tây phương. Cha nàng là một công chức cao cấp trong hoàng gia Thái Lan, dạy trẻ du học bên Hoa Kỳ, gặp và cưới mẹ nàng. Khi họ cùng đáp tàu thủy về nước, dọc đường, Supinda được sinh ra. Nàng là chị cả của bốn đứa em gái, từ năm chín tuổi đã được trở qua Thụy Sĩ học, xong ban Trung học, trở về nước làm việc. "Nếu có dịp, mày qua Bangkok chơi. Tao sẽ giới thiệu mày với gia đình, bạn bè tao. Gia đình tao vui lắm, toàn là đàn bà, gia nhân cũng toàn là đàn bà. Mỗi lần ông già tao đi công tác xa về, ông bị đàn bà vây quanh hỏi quà. Ổng đem về mấy va-li quà toàn đồ phụ nữ không. Tức cười lắm. Ổng kể có lần ổng đi công tác ở một nước Âu châu, một bà bán hàng đã hỏi ổng có mấy vợ mà sao mua nhiều đồ phụ nữ quá vậy?" Kim nghĩ: "Ở xứ mình thường trong mọi gia đình cũng chỉ toàn là đàn bà, con gái… Nhưng không khí không vui như vậy. Bởi mỗi người đàn bà hoặc có chồng, có con, có người yêu, có hôn phu, có anh, có em trai… ở ngoài trận mạc. Họ không chờ một món quà từ ngoại quốc, mà chờ một cái tin mà chẳng bao giờ họ mong là nó đến…" Bỗng dưng, Kim cảm thấy ghen với cô bạn Thái Lan hồn nhiên này. Sự ghen tuông bao hàm một lời cầu chúc tàn nhẫn. Kim lắc đầu xua đuổi ý nghĩ đó. Supinda vô tình nói tiếp: "Hôm qua đây, tao cũng có ghé phi trường Tân Sơn Nhất… phải phi trường Tân Sơn Nhất không nhỉ?... Ừ, tao ghé đó hai giờ, có thưởng thức món mì của xứ mày… Ngon tuyệt!" Kim cười, mơ màng: "Ăn mì ở Tân Sơn Nhất thì chỉ có là mì Tàu, hay là hủ tiếu. Mày phải ăn thứ "mì" chính cống Việt Nam, gọi là phở kia, thì mới ngon được! Nếu mày có dịp qua xứ tao – chắc là còn lâu – tao sẽ đưa mày đi… Bây giờ chiến tranh, chắc mày chẳng nên đến đó vội…". Supinda nói: "Tao có nghe nói về vụ Cộng sản tấn công trong dịp Tết vừa qua. Ghê quá. Tao hiểu rằng nếu nước mày rơi vào tay Cộng sản, thì Thái Lan cũng không yên…". Kim thấy có thiện cảm với cô bạn gái ngoại quốc mới quen này. Nàng tự trách mình đã ghen tuông một cách vô lối.
Sau khi tiễn cô em ra phi trường để đáp máy bay đi New York đến ở nhà một người bà con, Supinda sang phòng Kim ở. Những nhận xét thẳng thắn của Supinda về người Mỹ và cuộc sống ở Mỹ, làm Kim thấy gần với bạn hơn, không phải vì sự tương đồng trong nhận xét, nhưng vì sự thẳng thắn cởi mở của Supinda. Một lần, Supinda trách Kim: "Mày mới sống ở Mỹ có mấy ngày mà đã chịu ảnh hưởng của nếp sống Mỹ rồi, ít ra về phương diện giờ giấc". Kim cười nhạt: "Mày nhầm. Tao không muốn bị thúc hối bên cạnh. Do đó, tao muốn đúng giờ e được thảnh thơi. Chỉ có vậy. Mày vẫn có quyền trễ hẹn, tùy mày". Mà thường bao giờ Supinda cũng đến trễ hẹn từ nửa tiếng đến một tiếng đồng hồ.
Sau bữa cơm trưa tại nhà hàng trong một trung tâm thương mại nổi tiếng của thành phố Philadelphia có kèm thêm một buổi trình diễn y phục thời trang với những cô người mẫu mà từ dáng đi đến nụ cười đều như dập từ một khuôn đúc ra, Supinda và Kim được đưa đi thăm các tầng lầu với các hàng hóa có thể làm chóa mắt những người dễ dãi. Khách hàng phần lớn là phụ nữ. Supinda ghé tai Kim nói:
"Tao nghĩ làm một ông chồng Mỹ quả không có gì là thú vị cả! Ngày thì đi làm, lấy tiền cung phụng cho vợ con tha hồ mua sắm, tối về, ăn cơm xong lại xoay ra rửa bát cho bà vợ ngồi khểnh ở phòng khách xem ti-vi, hay đi họp đi hành trong các hội này, tổ chức nọ".
Dù vậy, Supinda vẫn là người bị lôi cuốn đứng lại ở các cửa hàng sáng lòa hơn ai hết.
"Ở Việt Nam của mày… có vậy không?"
Kim mỉm cười:
"Bao giờ thì họ thả mình ra, mày có biết không?"
"Không biết. Nhưng lát nữa, họ sẽ cho mình trở về khách sạn nghỉ trưa vài tiếng. Lúc đó, mày khởi sự nói dối là vừa đó. Tao sẽ phụ họa với mày".
Một cô người mẫu đứng chờ sẵn Supinda và Kim ở khu bán mũ nón phụ nữ, do lời mời, để chụp hình kỷ niệm. Supinda tíu tít chọn mũ, thử hết cái này đến cái kia. Kim lơ đãng nhìn quanh. Ngay ở chỗ để mua sắm hoặc ngắm nghía thế này, cũng có một vẻ gì vội vàng. Cô Kim từ đâu đến? Cái tên nghe như tên Đại Hàn. Không, tôi từ Việt Nam, Nam Việt Nam, ở đó cũng có sự chia cắt đất nước như Đại Hàn, như Đông và Tây Bá Linh. À, tôi nhớ ra rồi. Tôi có thằng con mười sáu tuổi, thích theo dõi tin tức chiến sự ở bên ấy. Nó cứ nằng nặc đòi bỏ học đi lính sợ ít nữa lớn hết chiến tranh! Chiến tranh làm sao mà hết được, không ở Việt Nam thì ở nơi khác lo gì. Cậu nhỏ tính lạ, phải không? Thiếu niên xứ tôi không sợ hết chiến tranh nhưng họ chán học vì biết rằng học hay không, trước sau gì cũng đến phiên họ. Cô thấy đời sống ở đây ra sao? Cứ thành thật cho biết cảm nghĩ của cô. Đời sống ở đây ấy à? Rất phong phú về phương diện vật chất, lẽ cố nhiên, nhìn chung. (Tại sao không đưa tôi đến những Harlem? Hay ít ra đến những Greenwich - ít ra, những Greenwich…? - Tại sao những trung tâm thương mại, những nhà hàng sang trọng với những kiến trúc tân kỳ, những chốn tiếp tân này kia với những phụ nữ béo tròn lúc nào cũng chỉ nói đến chuyện giữ eo, v.v.?) Cô không tính mua gì cả sao? Tôi có quá nhiều hành lý để có thể mua sắm thêm một cái gì khác. Cô đi nhiều, biết nhiều về nước tôi hơn cả. Câu nói đó tôi đã nói với một số người nước ông bà khi họ đến nước tôi. Vâng, tôi biết nhiều, quá nhiều về nước này hơn chính tôi có thể biết về nước tôi. (Mai này mốt nọ khi hòa bình về với quê hương mình… Hòa bình ơi! Ít ra, nơi đây ta sẽ thấy được mi để biết rằng mi xa lạ với ta biết chừng nào!...)
Supinda gọi Kim từ sau những khung gỗ sơn trắng đan theo hình mắt cáo có treo những chiếc mũ đủ kiểu.
Thế hai người cùng phải dùng tiếng Anh để nói với nhau à? Tôi tưởng… Vâng, vì tôi không biết nói tiếng Thái, và ngược lại, Supinda không biết nói tiếng Việt, mặc dù nước chúng tôi chỉ cách nhau có vài giờ bay phản lực. Ở đó, tôi muốn nói Á châu, những quốc gia nhỏ ở gần nhau nhưng ruộng đồng được ngăn cách bởi những con đê, mỗi khoảng ruộng đồng thuộc quyền sở hữu của một số người thuộc cùng một dòng giống, truyền thống, tập tục, văn hóa, lịch sử khác biệt nhau, với ngôn ngữ khác nhau và những trạng huống tinh thần khác nhau.
Một người mang một cái mũ đến chụp lên đầu Kim và ra hiệu cho nhiếp ảnh viên chụp hình. Tự nhiên, Kim thấy giận. Nàng gỡ chiếc mũ ra, cười gượng gạo, trả lại chỗ cũ.
Khi về khách sạn, Supinda biện minh cho mấy cái mũ vừa mua:
"Không mua, họ giận. Mày phải hiểu như thế. Để tỏ ra mình cũng thích thú về chuyến viếng thăm trung tâm thương mại nổi tiếng nhất của thành phố".
Mặc dù có thể đợi chuyến thang khác, không lâu lắc gì khi mà khách sạn được trang bị bằng những chiếc thang máy kiểu tối tân nhất, và cũng không vội vã gì khi Kim đã chính thức rủ Supinda đi ăn cơm tối với mấy "người bạn đồng hương" của nàng, nhưng cả Kim và Supinda cùng vội vã chạy băng qua phòng đợi rộng thênh thang với nền đá hoa trơn láng, để kịp nhảy vào trong chiếc thang máy vừa vặn tự động đóng cửa lại khi họ đặt chân đến vào bên trong. Kim nhấn ngón tay vào chiếc nút mang số 18. Supinda thở ra, đầu ngả vào thành thang máy:
"Cám ơn mày đã nói dối. Mình sẽ làm gì với nửa ngày tự do này?"
Kim ngáp dài:
"Đi ngủ cái đã. Từ hôm qua bên này, tao chưa được ngủ trưa trọn giấc bao giờ! Rồi sau đó, đi xi-nê, đi ăn và tìm một chỗ nghe nhạc… Và nếu trời đừng lạnh quá, mình sẽ đi dạo một lát…"
Supinda cười khúc khích, như chợt nghĩ ra một điều gì thú vị lắm:
"Tao mừng là họ không hỏi han lôi thôi về mấy người "bạn đồng hương" của mày. Tao tự hỏi nếu họ hỏi những người đó là ai, tên gì, làm việc ở đâu, nhà cửa ở đâu, mày sẽ ăn nói ra sao?"
"Tao biết họ chẳng hơi nào hỏi kỹ như vậy. Có khi họ mừng vì đã có người săn sóc giùm họ chương trình tối nay của tụi mình. Họ coi mình là bọn con nít trong khi mình coi họ là những mụ già".
Hai người chui ra khỏi thang máy. Supinda nhún nhảy với chiếc hộp đựng mũ trên tay, đi trước, với dáng người dài như chiếc hành lang trước mặt:
"Tao ưng đi thăm viếng những đài truyền hình hơn".
"Chứ không phải mày đang vui vì chọn được mấy cái mũ ưng ý à?"
"Đó là chuyện khác. Tao tưởng sẽ được làm việc tại các đài truyền hình, hay ít ra được đến các nơi đó quan sát lề lối làm việc của họ để học hỏi… Đêm qua lúc nói chuyện với Krishnan, tao thèm về nhà ghê gớm, mày biết không?"
"Tao cũng đoán thế. Tao tưởng mày khóc đến nơi rồi ấy chứ. Còn bây giờ thì sao?"
Supinda dừng lại, đợi Kim:
"Mày vừa nói gì?"
Kim lắc đầu:
"Không. Không có gì quan trọng cả".
Về đến phòng, Kim vào ngay phòng tắm vặn nước cho đầy bồn rồi bỏ quần áo chui vào nằm dài trong nước nóng. Có một lúc nàng tưởng mình ngủ được với sự thoải mái đang dần đến ngự trị trên thân thể nàng. Có tiếng huýt sáo của Supinda ở phòng ngoài. Một lát, Supinda ló đầu vào phòng tắm với chiếc mũ mới mua đội lệch qua một bên, hỏi Kim:
"Mày thấy tao đội mũ này hợp không?"
Kim ừ hử:
"Hợp. Mày vừa huýt sáo bản gì đó?"
Supinda bật cười:
"Un homme et une femme. Mày chưa xem phim đó à? Hay tuyệt".
Nói xong, Supinda lại tiếp tục huýt sáo. Kim có cảm tưởng tâm hồn bạn mình thật thanh thản, trong sáng. Mai mốt đến New York, nó sẽ không ở chung với mình nữa mà đến nhà anh họ nó. Nó rủ mình đến ở chung. Thà là ở khách sạn, còn hơn ở đó để thấy thêm một lần lạc lõng… Chịu sao thấu!…
Tao không chịu được Washington D.C. đầy không khí công chức. Tao cũng không chịu được Philadelphia sặc mùi cổ kính với những di tích lịch sử. Tao không chịu được cô Shirley không chồng, khó khăn như một bà giáo, tao trễ năm mười phút cũng đủ làm cho cô ta đã sẵn những nếp nhăn trên mặt càng nhăn hơn. Tao không chịu được mụ Fran, tuy vui tính hơn Shirley, nhưng đỏm dáng và tức cười như một con khỉ, luôn luôn bảo mình không nên hút thuốc nhiều quá sẽ bị chứng ung thư. Mấy bà ở Philadelphia cũng không khá hơn, duy có bà bác sĩ Margaret là dễ chịu, vui tính… Chắc ở New York sẽ dễ chịu hơn.
Supinda vừa hút thuốc phì phèo khi hai người đáp xe lửa đi New York. Kim nói:
"Mày không ưa Shirley, có lẽ tại mày không hiểu cô ta".
"Cũng có thể. Cô ta khô khan quá, lại có vẻ lạnh lùng nữa. Sao cô ta không lấy chồng?"
"Shirley thuộc lớp phụ nữ lớn trong kỳ đệ nhị thế chiến. Cô ta đính hôn một lần. Tao không rõ tại sao cô ta không lấy chồng. Chỉ biết sau lần đính hôn đổ vỡ, cô ta sống độc thân luôn. Có một sự can đảm nào đó trong cái quyết định sống độc thân của Shirley mà ở tuổi tụi mình chưa hiểu được. Mày xem như bà Fran, quá bốn mươi tuổi còn phải lấy chồng để như người ta, nhất là về phương diện tinh thần. Cuộc sống cần có nhiều kiên nhẫn để tìm hiểu. Dù vậy, vẫn có nhiều điều bí ẩn vượt khỏi tầm nhận xét của mình".
Supinda liếc nhìn bạn:
"Tao tự hỏi mày suy nghĩ về những điều đó để làm gì? Mày thường có vẻ tư lự. Ích gì sự tư lự đó?"
Kim khẽ nhún vai, mắt nhìn ra rừng cây bắt đầu đâm chồi non đang kéo nhau về phía sau đoàn tàu:
"Mỗi người có một số thói quen được cấu tạo do bản chất và hoàn cảnh từ đó nó được sinh ra và lớn lên… Tao cũng chẳng biết mình suy nghĩ như thế để làm gì. Chỉ biết rằng khi tao suy nghĩ về một người nào, và khi tao hiểu người đó hơn, thường tao bớt có ác cảm với người đó hơn. Chẳng hạn như đối với Shirley. Cũng có thể, mày thẳng thắn và bộc trực hơn tao".
Supinda nhìn bạn, toan nói gì, nhưng lại thôi.
Phải hai tiếng đồng hồ, chuyến tàu hai người đáp từ Philadelphia mới đến New York. Trước khi tàu vào ga New York, một người da đen phục sức theo kiểu các nhân viên làm việc cho hãng hoả xa cầm một chiếc khăn đến lau giày cho từng hành khách, mỗi lần lau giày cho một hành khách, gã lại không quên nói những lời chúc tụng. Thoạt đầu cả Supinda lẫn Kim đều bỡ ngỡ đến rụt rè. Sau hiểu ra, hai người để cho người da đen lau giày cho mình, với một vẽ bẽn lẽn, nhưng đều vờ thản nhiên.
Nhà ga nằm ở tầng hầm. Kho đoàn tàu chui vào vùng ánh sáng của những ngọn đèn điện, Supinda và Kim cùng bỡ ngỡ đứng dậy. Mọi hành khách đều có vẻ thản nhiên và bận rộn không ai buồn để ý đến hai cô gái ngơ ngác nhìn xung quanh. Có tiếng ai gõ vào cửa kính. Vài khuôn mặt phụ nữ nhìn Supinda và Kim, cười. Kim hích khuỷu tay vào người Supinda:
"Chắc mấy bà này ra đón mình?"
Họ chẳng phải vất vả với đống hành lý lỉnh kỉnh, bề bộn. Mọi việc đã được lo chu toàn. Nhưng cái cảm giác bận rộn vẫn lởn vởn với Kim. Nàng mong về đến khách sạn. Nhưng nàng chẳng được toại ý ngay. Bữa cơm trưa kéo dài trong nhà hàng bên dưới khách sạn. Họ vừa ăn vừa đề cập đến chương trình của sáu ngày lưu lại New York của Supinda và Kim. Sự bận rộn của thành phố New York phủ vây lấy Kim, một vòng vây quá chặt đến độ nàng không trông, không nhìn, không cảm được gì nữa ở xung quanh. Mỗi lần trở về khách sạn Kim như không mở nổi cửa nữa. Chiếc chìa khóa bị kẹt hoài. Tại sao? Kim hoàn toàn cảm thấy cô đơn. Đến ngày thứ tư sống trong thành phố, nàng tưởng mình điên loạn đến nơi. Mấy lần gọi dây nói cho Supinda, đều không gặp. Bỗng dưng Kim nghe một cơn giận dâng lên. Kim tự trách mình dễ dãi trong việc trao gửi tình cảm nơi Supinda. Nàng thề khi nào gặp lại Supinda sẽ làm mặt lạnh. Nàng nhủ thầm, có lẽ như Supinda lại hay: nhẹ nhõm, dễ sinh lòng yêu và bộc trực, cũng dễ sinh lòng ghét. Hoàn toàn để không vấn vương. Tại sao vẫn có một số người bạn ở bên nhà cho là nàng lạnh nhạt? Có lẽ vì sự lạnh nhạt nơi nàng chỉ là một cái vỏ để che đậy một yếu mềm, dễ dãi bên trong? Những ngày ở New York, Kim bỗng như đối diện với một tấm gương phản chiếu trung thực con người thật của nàng, khiến nàng cay đắng, và vô tình, nàng đâm thù cái thành phố đông đúc, xô bồ và vô tình này. Và cũng như Kim, cái bề ngoài vô tình đến tàn nhẫn đó của thành phố New York thực ra chỉ là một cái vỏ. New York, nơi mà Kim đã náo nức tới và nóng ruột khi đi khỏi, mà khi đã đi khỏi rồi, Kim bắt gặp một nỗi nhớ mơ hồ dành cho thành phố đó, pha lẫn một nuối tiếc vì đã chưa được nhìn rõ, nhìn hết nó.
Kim không hận được New York lâu, cũng như Kim không hận được Supinda lâu.
Sau non một tháng mỗi người đi theo một ngả theo chương trình đã được ấn định, hai người lại gặp nhau ở San Francisco. Kim đến phi trường San Francisco sớm hơn Supinda một giờ. Nàng ngồi bên đống hành lý để đợi bạn cùng lên xe ca về khách sạn đã được chỉ định (quả không hề có một sự tình cờ nào có thể xảy ra cả; mà cho là có sự tình cờ nào xảy ra đi chăng nữa, cả Supinda và Kim cũng không còn thời giờ đâu mà nghiền ngẫm về nó. Mà tất cả những bận rộn này có đáng gì đâu!?)
Một cặp vợ chồng Mỹ – Phi đến ngồi cạnh Kim trên chiếc ghế dài. Người vợ ngồi lại với mấy đứa con trong khi người chồng đi lấy hành lý. Kim mỉm cười với đứa con gái nhỏ. Những câu hỏi không đi ra ngoài những thông lệ. Bà từ đâu đến? Cô từ đâu đến? Em bé thật kháu khỉnh. Cám ơn cô.
Kim ngồi im, ngóng về phía cầu thang nơi hành khách từ các nơi sẽ xuống. Đây là lần thứ hai Kim đặt chân đến phi trường này. Trái với lần đầu ngơ ngác, lo âu, lần này Kim thấy bình tĩnh và có thể thong thả nhìn ngắm xung quanh. Bây giờ, cái không gian vật chất không còn đe dọa Kim được nữa. Nhưng cũng do đó Kim nhìn thấy rõ hơn nỗi trống vắng của tâm hồn mình. Những cánh thư từ bên nhà gửi sang Kim thường đọc đi đọc lại đến độ thuộc lòng cả nội dung, thuộc lòng cả từng chi tiết. Kim quen thuộc quá với những di chuyển, với những hành lang khách sạn, với những buổi tối nằm chèo queo trong phòng một mình, nghe như tâm hồn mình lên men hóa thành một chất rượu – rượu cô đơn – làm choáng váng tâm hồn đến tê tái. Kim phát giác ra thêm một chân lý: càng những kẻ ưa giang hồ phiêu dạt, bất cần đến những ràng buộc bao nhiêu lại là những kẻ cần một ngọn lửa gia đình, thèm có một liên hệ, dù nhỏ, cũng đủ làm ấm lòng bấy nhiêu! Dường như sự đầy đủ và chu toàn ở đây càng tinh vi bao nhiêu, cũng như những bữa ăn càng nhiều cao lương mỹ vị bao nhiêu, khiến cho Kim càng nhớ càng thương quê hương vốn lầm than, thiếu sót và những bữa ăn đạm bạc bấy nhiêu. Trong một lá thư gửi về cho gia đình, Kim đã viết: "Con đã bỏ đự định sau Hoa Kỳ, sẽ ghé lại New York vài ngày và sau đó qua thăm Âu châu một vòng. Con nôn nóng về nhà. Con sẽ về vào cuối tháng Năm, trễ lắm là đầu tháng Sáu. Mẹ nhớ muối sẵn lu cà với tỏi; có thêm được mấy quả cà bát dầm tương càng hay. Con thèm hương vị của quê hương lắm rồi. Ở nhà có ai tình nguyện ăn phở trừ cơm với con một tuần lễ không, thì sửa soạn sẵn đi…". Băng nhạc của một người bạn nhạc sĩ trẻ mang theo, Kim đã nghe đi nghe lại đến độ, không dám nghe thêm nữa… chắc Kim đã không nhớ, không thương đến thê thiết như vậy. Những đau thương thường đem con người lại gần nhau. Kim chẳng thấy gần được ai ở chốn này – hay vì thực ra, Kim chưa thể gần được những người đáng-lẽ-có-thể-gần được vì Kim chưa thực đi hết, nhìn thấy hết, cảm thấy hết.
Supinda từ trên cầu thang đi xuống, vừa đi vừa trò chuyện với một thanh niên Mỹ mà Supinda giới thiệu với Kim là quen được trên máy bay. Phải nhận là với lối phục sức hợp thời trang và sự khéo léo trang điểm, cộng thêm với dáng cao gầy như một cô gái làm người mẫu, Supinda dễ lôi cuốn sự chú ý của những người xung quanh. Đã có hơn một lần, Kim cảm thấy rõ ràng mình thua sút người bạn Thái Lan ở phương diện bề ngoài.
Sau những câu thăm hỏi chuyến đi lẫn nhau, hai người bạn lên xe ca về thành phố. Khác với mọi chỗ, ở đây không có ai ra đón Supinda và Kim cả. Kim nói:
"Càng hay. Điều đó chứng tỏ là chương trình thăm viếng ở nơi đây lỏng lẻo. Chúng mình sẽ được tự do. Vả lại, có lẽ cũng tại hôm nay là thứ Sáu, mà mình lại sẽ rời nơi đây vào thứ Hai. Ai cũng bận lo mục vui cuối tuần của họ chăng?"
Supinda nhận xét:
"Mày nói như một người Mỹ vậy!"
Kim có vẻ không bằng lòng:
"Mày không nên nói như vậy. Mày biết rõ là điều đó không đúng chứ?"
Supinda đấu dịu:
"Tao đùa có một tí mà mày đã sửng cồ!"
Kim cười nhẹ:
"Mày phải biết rằng nếu tao chịu ảnh hưởng được của người Mỹ, thì tao đã sung sướng vì không phải oán hận mày những ngày mày bỏ tao nằm một mình ở New York, và nhất là tao đã không phải hoài công tự hỏi lúc này con Supinda nó đang làm gì, ở nơi đó nơi nọ, liệu nó có khổ như dạo ở Philadelphia không? Tao không kể công. Nhưng không nói với mày điều đó, tao biết nói với ai bây giờ?"
"Coi kìa, Kim! Mày giận tao thật à? Tao đã bảo là tao đùa mà".
"Ừ, tao gận vì mày… vô tình".
"Mày tưởng tao không nhớ mày đấy chắc? Mày tưởng tao đã không tự hỏi như mày đấy chắc?"
Kim cười nhạt:
"Dù sao mày cũng là đứa sung sướng nhất trong hai đứa!"
Nói xong, Kim bước lên xe ca. Hai người ngồi chung một băng. Supinda lại hỏi:
"Tại sao khi không mày có vẻ cay đắng quá vậy?"
Kim lắc đầu:
"Có nhiều cái mày không hiểu được, dù tao có cố gắng giải thích cho mày nghe. Thôi, bỏ qua đi… Hãy nghĩ đến những ngày tự do cuối cùng ở cái thành phố San Francisco này. Supi, if you’re going to San Francisco…"
"Sài Gòn, ngày…
Supi thân,
Thấm thoát mình rời Hoa Kỳ sau chuyến đi chung ấy cũng đã một năm rồi. Tao nhớ hôm cuối cùng, sau khi đã thu xếp hành lý (không biết là lần thứ bao nhiêu từ ngày đặt chân lên đất Mỹ, đến cái độ tao tưởng có thất nghiệp xin đi làm cái nghề… xếp hành lý cũng được đó!), thanh toán tiền phòng xong, tao với mày ngồi dưới phòng khách của cái khách sạn đã đón mình đầu tiên khi đến đất Mỹ và tiễn mình khi mình rời đó, ở Washington D.C. tao nhớ đã hỏi mày có bao giờ mày giận tao. Mày đã ngẫm nghĩ một lát và nói: "Có một lần. Hôm ấy mày liệng đôi giày màu vàng kim nhũ của tao". Tao cười ngất vì cái lý do giận hờn tao của mày. Thực ra, hôm ấy, trong khi xếp hành lý cho một lần nữa lên đường, tao thấy trong gậm giường còn đôi giày của mày. Sợ mày quên nên tao đã cầm lên liệng cho mày. Vậy mà mày giận tao. Con nhỏ lạ! Sau đó, mày đã cho tao địa chỉ của mày ở Bangkok và tao cũng ghi cho mày địa chỉ của tao ở Sài Gòn. Rồi rút cục, cũng chẳng đứa nào buồn viết thư cho đứa nào. Tao nghĩ có lẽ mày đã đi lấy chồng. Còn mày thế nào chẳng có lúc mày nghĩ là chắc tao đã vùi thân trong một trong những trận "mưa pháo kích" tơi bời một dạo ở đây.
Thế mà mày đã lấy chồng thật. Hôm ấy có một người bạn Mỹ từ Sài Gòn qua Bangkok nghỉ hè, tao nghĩ đến mày nên có cho ông ta địa chỉ với lời hỏi thăm của tao kèm theo. Khi trở về, ông ta trao cho tao một gói đồ kèm theo lá thư của mày. Thì ra ông ta không được gặp mày, ngoài gói đồ mày gửi lại khách sạn nhờ ông ta trao cho tao. Đọc thư của mày, biết mày có chồng và đang hy vọng có thể có con, tao thấy mừng cho mày. Mày vẫn có lối viết ngắn, và bộc trực, như tuồng chữ của mày vậy.
Những ngày ở Mỹ, có lẽ kỷ niệm mà tao nhớ nhất là hôm chúng mình đáp tàu hoả từ Los Angeles đến Grand Canyons. Sau một đêm mất ngủ trong lòng con tàu xuyên qua không biết bao nhiêu cánh rừng, bao nhiêu đường hầm, bao nhiêu trang trại, bao nhiêu những ga xép, sáng sớm hôm sau, sau ly cà-phê Mỹ chua lè mà tao đã chỉ nhấp có một chút đỉnh vì thiếu đường, mày với tao, hai hành khách duy nhất, xuống tàu giữa một sân ga còn đẫm hơi sương với rặng thông thẳng tắp bao quanh, để từ đó đáp xe ca đi Grand Canyons. Gió trên sân ga như cắt da thịt còn nồng ấm vì giấc ngủ chập chờn trong con tàu lắc lư đêm trước. Sân ga vắng ngắt. Chỉ có người phu khuân vác lom khom đẩy chiếc xe ra đem hành lý của bọn mình chất sẵn lên xe ca. Phòng đợi của nhà ga dù không có máy sưởi, nhưng nhờ những khung cửa lắp kính, nên cũng che chở mình phần nào khỏi cái lạnh như cắt da thịt bên ngoài. Mày không biết được tao đã nhớ quê hương của tao đến độ nào khi nhìn những rừng thông bao bọc quanh sân ga. Có lẽ, từ ngày đặt chân lên đất Mỹ, đây là lần đầu tiên tao không cảm thấy vội vàng, mặc dù mình đã bị dựng dậy từ sáu giờ sáng để rời con tàu vào ngồi co ro đợi trong nhà ga. Có lẽ vì Gran Canyons không có ai đợi chờ mình, nghĩa là không có chương trình nào đang đợi mình để bắt mình lúc nào cũng phải theo sát nó. Có lẽ cũng vì khung cảnh ở nơi đây, vì sự có mặt của những cây thông tinh khiết và tràn đầy vẻ trầm tĩnh kia. Mọi người, mọi vật đều có một cái vẻ an nhàn, thanh thản. Cả cái giọng bác tài xe ca khi gọi nhóm hành khách ít ỏi ra xe khởi hành đi Grand Canyons cũng có một vẻ gì nhàn tản nữa, mặc dù xe khởi hành đi Grand Canyons rất đúng giờ, không mau không trễ, dù chỉ một phút.
Xe chạy qua rừng thông trước khi đến một miền đồng cỏ mênh mông. Tao nhớ mày đã kể về chuyến đi thăm rừng thông với Krishnan ở Phi Luật Tân, trong khi tao tưởng nhớ đến đồi thông bên xứ tao… Sau hơn một giờ xe chạy với hai đứa mình ngủ bù cho đêm thiếu ngủ hôm trước, (dù thực tình tao không muốn ngủ, vì sợ mỗi một phút ngủ, là một phút để cho cảnh vật xung quanh trôi tuột đi mất), xe vào đến Grand Canyons.
Làng Grand Canyons nhỏ, nhưng khung cảnh thật vĩ đại. Lèo tèo một vài khách sạn bằng gỗ, một vài tiệm ăn. Dân cư ít ỏi, phần lớn sống nhờ lợi tức do nhóm du khách mang lại. Nhà phần lớn làm bằng gỗ. Gió vừa khô vừa lộng.
Từ sân khách sạn chỗ chúng mình thuê phòng, có thể nhìn thấy thung lũng đá phía dưới với những thành núi đá bị dòng sông Colorado xói mòn tạo thành những bức tường thành trông xa như cả một vương quốc cổ xưa nay điêu tàn hoang phế.
Cũng chính tại đây, tao đã được đọc bài tường thuật lại trận tấn công của hai đợt Việt Cộng nhắm vào các thành phố, nhất là Sài Gòn, trên một tờ báo bán trong tiệm tạp hóa và đồ kỷ niệm của khách sạn. Nỗi sốt ruột lo âu pha với sự thay đổi khí hậu đột ngột, khiến tao không chịu nổi nữa. Rồi tao bị bệnh.
Suốt một buổi trưa tao nằm trong phòng đắp chăn vì cơn sốt hoành hành. Khi mày đánh thức tao dậy và ép tao uống thuốc, dùng bữa tối mà mày đã lặn lội, cùng với gã sinh viên người Đức đến nghỉ hè tại đó, đem về từ một nhà hàng cách khách sạn mình ở nửa cây số, tao thấy trời bên ngoài đã tối. Ra tao đã ngủ hết nửa ngày rồi kia à?
Supi ạ, sự săn sóc của mày trong thời gian ở Grand Canyons đã làm tao xúc động. Tao nhớ kỷ niệm của hai ngày ở Grand Canyons, một phần cũng vì cái tình bạn ấm cúng mà tao bắt gặp ở mày - mày, cái con bé mà tao thường cho là dễ mến nhưng hời hợt, vô tình đó - dường như đã có lúc, tao cảm thấy như mình sờ mó được sự ấm cúng của tình bạn đó, như một thứ hơi ấm đủ sưởi tâm hồn giá lạnh vì nhiều lý do của mình… Tao nhớ một lần mày đã bảo tao: "Kim à, mày trí thức hơn tao. Tao nhận thấy như vậy". Tao đã cười tự ngạo, như mỗi lần nghe ai nói thế về mình, và đáp: "…Và thua mày ở sự tháo vát, lanh lợi, bặt thiệp, Supi. Cứ tạm nghĩ là mày cần cái mà tao có mà mày thiếu, và ngược lại". Nhưng Supi, tao thương yêu mày, dù cái thời gian mình ở gần nhau không bao nhiêu.
Thực ra, chuyến đi để lại trong tao nhiều ấn tượng mãnh liệt. Nếu có những điều làm mình hận, mình thù; thì cũng có những điều mỗi lần nghĩ lại, mình cảm thấy có một cái gì êm đềm, ấm áp, dịu dàng. Chẳng biết có bao giờ mày có dịp ngồi nghĩ về những điều đó? Không, tao biết và tao cũng thương mày ở cái vẻ hồn nhiên vô tư lự đến trong sáng của mày.
Mày lấy chồng, chấm dứt một sự lựa chọn sau một lần tan vỡ. Tao tin mày không chọn lựa lầm. Cuộc đời của mày như thế là yên một bề. Còn tao… ừ, Supi, tao vẫn như độ nào… nghĩa là… tao vẫn là con Kim, một cách đơn giản lẫn phức tạp theo cách thế của nó, như dạo mày quen nó lần đầu và từ biệt nó lần cuối cùng ở Washington D.C… Muốn hiểu tất cả các mối chua chát đó, phải suy nghĩ và nhất là phải làm người Việt Nam mới cảm, mới hiểu được. Tao sẽ không nói tất cả với mày những điều tao nghĩ. Không thể nói được thì đúng hơn. Chỉ nên biết rằng đã có lần, tao tự hỏi sao tao không sinh ra làm dân nước mày, hay một nước nào khác. Lẽ cố nhiên tự hỏi chỉ để mà tự hỏi. Bởi vì, dù muốn dù không, mỗi một người ở xứ này đều bắt buộc phải tự tìm cho mình câu trả lời mà tao thường gọi là một sự giải thoát bản thân. Và mày hiểu vì sao tao dễ "sửng cồ" khi mày nhạo tao chịu ảnh hưởng của một nước nào khác, như nước Mỹ chẳng hạn.
Thôi, vài hàng thăm mày, thăm Krishnan của mày, và gia đình mày. Tao mong sẽ có dịp mình sẽ lại gặp nhau để gợi lại những kỷ niệm về một chuyến đi mà từ đó, một tình bạn đã nảy sinh giữa chúng mình.
Bạn của mày,
Kim"

Nguồn: Lập đông, tập truyện của Trùng Dương, Văn xuất bản năm 1972. G.P. số 4827/BTT/PHNT/QN, Sài Gòn ngày 13-12-1972. Giá 100đ. Bản điện tử do talawas thực hiện.