Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Việt Nam: Thực tiễn giáo dục và vai trò của Phật giáo

 Đỗ Kim Thêm

 

 

  1. Thực tiễn giáo dục Việt Nam

Nhìn chung, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay đang đứng trước nhiều thách thức về chất lượng, công bằng trong tiếp cận giáo dục, áp lực học tập và thi cử, nguồn lực, quản trị nhà trường, cũng như khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội và công nghệ.

Doãn Quốc Sỹ - Doãn Nho: chia cắt và di sản

 Tino Cao

Sắp tới ngày giỗ đầu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Ông qua đời ngày 14 tháng Mười năm 2025 tại California, hưởng thọ 102 tuổi. Ở Hà Nội, người em ruột của ông, nhạc sĩ Doãn Nho, 93 tuổi, sống gần hồ Ba Mẫu, vẫn chơi dương cầm và tiếp tục sáng tác. Hai anh em sinh cách nhau mười năm, trưởng thành từ cùng một gia đình ở làng Cót, từng cùng tham gia hoạt động Việt Minh từ rất sớm, nhưng sau năm 1954 lại thuộc về hai môi trường thể chế chính trị và văn hóa khác nhau. Tiểu sử của họ cung cấp một trường hợp đặc biệt để khảo sát sự phân li của giới trí thức và văn nghệ sĩ Việt Nam trong thế kỉ 20, khi những lựa chọn chính trị, chiến tranh và sự phân chia lãnh thổ can dự trực tiếp vào đời sống gia đình, đồng thời tạo nên hai hệ thống văn hóa với những chuẩn mực, thiết chế và diễn ngôn riêng.

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Mở xưởng Họa hoằn Họa xá – Hội họa như một lát cắt của quá trình vẫn đang tiếp diễn

 Ngọc Hoan

Từ ngày 16 tháng 8 đến ngày 30 tháng 9 năm 2026, Studio mới của nghệ sĩ Bùi Chát giới thiệu Mở xưởng Họa hoằn Họa xá, triển lãm cá nhân mới nhất của Bùi Chát, gồm 37 tác phẩm sơn dầu trên canvas cùng không gian sáng tác nơi các tác phẩm được hình thành.

Serenata – Những buổi chiều còn ở lại

 Trương Thị An Na

Năm mười lăm tuổi, bố tôi được nghe Serenata của Enrico Toselli chơi bằng violon.

Tôi không biết buổi nghe đàn ấy diễn ra ở đâu, người chơi đàn là ai. Tôi chỉ biết bố nhớ mãi. Sau này, khi học tiếng Pháp, bố và những người bạn thường ngồi với nhau hát những bài hát Pháp, và Serenata là một trong những bài họ hay hát.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam - Tập 1 (kỳ 1)

 Nguyễn Phú Yên

LỜI NGỎ

Do hoàn cảnh lịch sử, chúng ta đã mất đi rất nhiều giá trị văn hóa mà cha ông để lại, trong đó có những giá trị âm nhạc. Theo thời gian những giai điệu dịu dàng đó sống dậy sưởi ấm những con tim, những tâm hồn biết hoài niệm. Bỏ lại đằng sau những vướng bận buổi giao thời, bước qua những lời phê phán hoặc chê bai, rũ bỏ tâm lý thù hận, phân ly nhất thời thì đó là lúc người ta nhận ra giá trị vàng son bắt đầu lấp lánh. Những trang sách, những dòng nhạc bắt đầu hồi sinh và bừng lên như những đóa sen thơm ngát.

Những dòng chữ của cuốn sách này bắt đầu khởi đi từ trong bầu khí của một xã hội biết lắng nghe cái đẹp trong những giai điệu vang lên từ trong quá khứ. Thử chắp nối những mảng hồi ức, những lóe sáng của hoài niệm, một thế giới quá vãng của tâm tình đã được phục dựng khiêm tốn, thầm lặng dù chưa hoàn chỉnh, dù chỉ là những nét phác họa nhưng có thể nhìn vào đó để thấy lại những tình tự thân yêu làm nên thế giới tâm hồn của một thế hệ đã qua.

Khi đọc một cuốn sách nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của nền tân nhạc Việt Nam đã xuất bản, chúng tôi thấy các tác giả đã để lại một khoảng trống rất lớn khi nhận diện về một giai đoạn của nền âm nhạc của chúng ta hoặc chỉ đề cập một phần nhỏ bé và thiếu sót. Với mong muốn bổ sung cho sự khiếm khuyết ấy, chúng tôi đã liều lĩnh nhận lấy một công việc đáng ra là phải của một tập thể hơn là của một cá nhân, để nhìn lại di sản âm nhạc của chúng ta, nói riêng về tân nhạc, bằng những trang viết tổng quan về các hoạt động, các khuynh hướng và phong trào âm nhạc đã từng hiện diện. Với chút đam mê đó, chúng tôi ước mong bạn đọc xem đây như là một viên gạch trong hàng ngàn viên gạch để xây dựng lại ngôi nhà di sản mà các thế hệ sau cần biết tới. Mong có sự chung tay trong nỗ lực bảo tồn một giá trị tinh thần mà thế hệ trước đã xây dựng được để sau này những người khác có thể hoàn chỉnh công trình nghiên cứu lịch sử âm nhạc Việt Nam.

Khi chúng tôi nhắc lại thời điểm chia cắt đất nước, điều này chỉ là tạm thời về mặt thể chế chính trị, không có nghĩa là một sự đứt gãy văn hóa với những giai đoạn trước đó. Nói khác đi, đối với chúng ta - những thế hệ nối tiếp - vẫn duy trì tính liên tục lịch sử về mặt văn hóa. Có nghĩa văn hóa dân tộc, nền nghệ thuật mà tổ tiên, cha ông ta đã xây dựng bao đời sau này vẫn được tiếp nhận, bảo lưu một di sản sáng giá cần để lại cho đời sau. Do đó độc giả sẽ tìm thấy trong tập sách này những cứ liệu từ bước khởi đầu cho đến những thành tựu của nền tân nhạc Việt Nam qua mấy mươi năm tồn tại. Những giá trị sáng tạo của bao lớp nghệ sĩ tiên phong được tôn trọng và phát triển, vẫn được tiếp tục hiện diện trong đời sống tinh thần của chúng ta. Do đó dòng ca khúc lãng mạn trong nền tân nhạc vẫn được quan tâm, được biểu diễn trong sinh hoạt ca nhạc và giữ vai trò đặc biệt trong tâm thức những người yêu nhạc.

Ngoài những giá trị nghệ thuật từ thời tiền chiến, trong hoàn cảnh và bầu khí mới, các khuynh hướng sáng tác âm nhạc, các phong trào, hoạt động âm nhạc được phát triển rực rỡ. Âm nhạc của chúng ta chính là tiếng lòng của người dân trước hoàn cảnh xã hội, trước biến cố nhân sinh được tự do bày tỏ, khi tươi vui, khi ngậm ngùi… nhưng đều là tiếng nói của con tim chân thực, của một giai đoạn lịch sử.

George Jellinek, giám đốc âm nhạc Đài phát thanh WQXR của thành phố New York, đã từng nói: “The history of a people is found in its songs” (Lịch sử của một dân tộc được tìm thấy trong các bài hát của họ). Thật vậy, những giai điệu biểu lộ tình cảm, tư tưởng trong các bài ca được viết trên đất nước chúng ta đều mang trọn vẹn tâm tình chân thực, đầy tính nhân văn với cá tính sáng tạo đặc thù và phong phú. Độc giả sẽ vô cùng ngạc nhiên và thích thú khi được bước vào vườn hoa âm nhạc đầy những kỳ hoa dị thảo, tuy chúng có những số phận khác nhau nhưng vẫn muôn màu muôn vẻ, tỏa đầy hương thơm và rực rỡ sắc màu.

Với tấm lòng của một người yêu nhạc muốn gìn giữ những giá trị âm nhạc một thời, chúng tôi mong độc giả lượng thứ cho những thiếu sót trong quá trình tìm lại tài liệu hoặc do ký ức không trọn vẹn. Mong được các bậc thức giả góp ý để chúng tôi có thể hoàn chỉnh tập sách nếu có điều kiện xuất hiện trong tương lai.

                                                                                                           TÁC GIẢ

CHƯƠNG I

BỐI CẢNH LỊCH SỬ GIAI ĐOẠN 1954-1975

 

         Lịch sử không là gì hơn ngoài màn kịch của tội lỗi và bất  hạnh

    (History is nothing more than a tableau of crimes and  misfortunes)

                                                                                                        Voltaire

  1. NHỮNG DIỄN BIẾN TRƯỚC NGÀY CHIA CẮT

ĐẤT NƯỚC

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ e ngại sự bành trướng của cộng sản ở Đông Nam Á nên đã giúp Pháp tái chiếm Việt Nam. Đó chính là tinh thần của bị vong lục NSC-64 ngày 27-2-1950 và NSC-124/2 ngày 25-6-1952 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ.

Năm 1946 Mỹ đưa tàu chở những nhóm lính Pháp đến Việt Nam kiểm soát nhiều thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn. Ngày 7-10-1947, quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Cạn. Đây là chiến dịch lớn nhất đến nay (chiến dịch Léa) trong chiến tranh Việt Pháp với 12.000 quân Pháp tấn công vào Việt Bắc để tiêu diệt chủ lực quân của Việt Minh và hòng bắt sống toàn thể nhân viên chính phủ lúc bấy giờ. Pháp thất bại trong việc bắt giữ các bộ trưởng, ngoại trừ Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội và là Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nguyễn Văn Tố. Những năm 1940, lực lượng bộ đội chống Pháp đã lên đến hàng trăm ngàn. Cuối năm 1945, Việt Nam giải phóng quân trở thành lực lượng vũ trang lớn mạnh; tháng 9-1945 đổi thành Vệ quốc đoàn. Ngày 22-5-1946, Vệ quốc đoàn chính thức trở thành quân đội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH).

Năm 1949, Pháp tuy thừa nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập nhưng vẫn sử dụng lá bài Bảo Đại. Ngày 8-3-1949, Bảo Đại và Tổng thống Pháp Vincent Auriol ký thỏa ước Elysées biến Việt Nam thành một quốc gia độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 7-2-1950, Hoa Kỳ và Anh cùng công nhận nước Việt Nam độc lập và thiết lập quan hệ ngoại giao với chính quyền Bảo Đại. Phái bộ ngoại giao Hoa Kỳ được thành lập ngay tại Sài Gòn từ tháng 2-1950 với đại biện lâm thời Edmund A. Guillion và chính thức được nâng lên hàng đại sứ vào tháng 6-1952 với vị đại sứ đầu tiên là ông Donald R.Heath, một nhà ngoại giao kỳ cựu.

Cuối năm 1950, sau khi bị đánh bại nặng nề ở Cao Bằng, ngày 6-12 Pháp bổ nhiệm tướng Jean De Lattre de Tassigny làm tổng tư lệnh quân đội kiêm Cao ủy Đông Dương để mong cứu vãn tình hình ngày càng nguy ngập. Đầu mùa thu năm 1952, tổng số lính Pháp bị tử trận, thương vong và mất tích tại Đông Dương lên đến hơn 90.000 người. Đến 7-5-1954 Điện Biên Phủ thất thủ, Pháp phải ký Hiệp định Genève, chấm dứt gần 100 năm thống trị ở Đông Dương, nhường lại vai trò ở đây cho Mỹ. (Thật ra Mỹ đã dính líu sâu vào Việt Nam và Đông Nam Á trong 28 năm kể từ 1945 mà mười năm sau là cuộc chiến tranh thật sự). Tính đến năm 1954, Mỹ cung cấp cho Pháp 513 máy bay, 300 tàu chiến, 1.400 xe thiết giáp, 20.000 xe ôtô và nhiều phương tiện chiến tranh khác, chiếm đến 70% tổng chi phí cho chiến tranh ở Đông Dương (lên tới 7 tỉ USD). Ngày 16-6-1954, Bảo Đại ký sắc lệnh bổ nhiệm Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Mười ngày sau Ngô Đình Diệm từ Paris về nước chấp chính sau năm năm ở nước ngoài. Hiệp định phân chia Việt Nam làm hai miền Nam - Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Mỹ và Quốc gia Việt Nam từ chối ký hiệp định. Người Mỹ coi cuộc chiến tại Việt Nam là một phần của cuộc xung đột toàn cầu mới chống lại chủ nghĩa cộng sản, trong khi VNDCCH xem cuộc chiến này là giai đoạn mới nhất của một cuộc đấu tranh giành độc lập (1). Ngày 12-5-1954, Tổng thống Mỹ Eisenhower phát biểu: "Thế giới tự do không thể bỏ Đông Dương". Walter Robertson, trợ lý ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề Viễn Đông lúc đó, tuyên bố mục tiêu sự can thiệp của Mỹ là giữ Việt Nam trong hai năm để Mỹ huấn luyện 300.000 người Việt Nam nhằm chống lại chủ nghĩa cộng sản.

 

  1. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ Ở MIỀN NAM
    1. Nền Đệ nhất Cộng hòa

 

Ngày 1-10-1954, Eisenhower gửi thư cho Ngô Đình Diệm hứa sẽ chi viện. Ngày 8-11, Eisenhower cử tướng Lawton Collins sang Sài Gòn làm đại sứ đặc biệt có quyền hạn rộng rãi, lập phái đoàn quân sự Mỹ (MAAG) do tướng O'Daniel cầm đầu. Ngày 13-12-1954, tướng Ely của Pháp và tướng Collins ký hiệp ước qui định Mỹ thay thế Pháp về quân sự ở miền Nam Việt Nam. Năm 1955 Mỹ để Ngô Đình Diệm thay thế Bảo Đại, với sự giúp đỡ đắc lực của hồng y Spellman, giáo sư Buttinger và đại tá CIA Lansdale. Được Mỹ khuyến khích và hỗ trợ, Ngô Đình Diệm từ chối tổng tuyển cử vì điều này không có trong hiệp định mà chỉ có trong phụ lục ngày 21-7-1954 không có nước nào ký tên nên không có tính chất bắt buộc. Thay vào đó, ông cho trưng cầu ý dân ở miền Nam. Ngô Đình Diệm thắng với 98,2% số phiếu và trở thành tổng thống (TT) nền Đệ nhất Cộng hòa. Những số liệu chính thức của miền Nam biên soạn tháng 10-1955 cho thấy rằng những người di cư từ Bắc vào Nam bao gồm 676.348 người Công giáo (76,3% toàn bộ người miền Bắc di cư), 209.132 Phật giáo (23,5%), và 1.041 Tin Lành (0,2%) (2). TT Diệm đặt tên nước là Việt Nam Cộng hòa (VNCH), lấy Sài Gòn làm thủ đô. Đây là một thực thể chính trị và hành chính hợp pháp về mặt công pháp quốc tế và đương nhiên là một nước có chủ quyền. Từ đây Mỹ khởi đầu chiến lược nhằm chặn đứng sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á. TT Diệm vẫn mời vào chính phủ những người đã từng cộng tác với Pháp, đặc biệt đối với người Công giáo - dù chiếm 10% dân số nhưng theo chủ trương của TT Diệm muốn Công giáo hóa dân miền Nam nên được nhiều ưu đãi và chiếm lĩnh hầu hết các chiếc ghế trong chính phủ.

Năm 1955, sau khi ra sức dẹp các tổ chức quân sự của Bình Xuyên và của các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo ở Nam bộ, TT Diệm tổ chức bộ máy chính quyền từ trung ương đến cơ sở; nắm chắc bộ máy quân đội, cảnh sát; tiến hành quốc sách tố Cộng (từ mùa hè 1955, khoảng 50.000 đến 100.000 người bị nhốt vào trại tập trung, trong số này đa số không liên hệ gì với cộng sản), truy nã những người kháng chiến, bức hại gia đình họ; gom dân vào các ấp chiến lược (một chương trình do sáng kiến của ông Thompson người Anh, cố vấn du kích chiến của Nhà Trắng, đã đưa 10 triệu dân vào 17.000 ấp chiến lược) để dễ bề kiểm soát. Để thanh lọc những người theo Cộng sản, TT Diệm ra sắc lệnh số 49 bỏ tù tất cả những người chống lại chế độ cộng hòa và luật 10/59 là đỉnh cao của quốc sách này, thiết lập ba tòa án quân sự đặc biệt ở Sài Gòn, Huế, Ban Mê Thuột chỉ xét xử ở hai mức tử hình và chung thân.

Cùng với việc dựng nên chế độ, Mỹ lập ra quân đội VNCH, thành lập SEATO (South East Asia Treaty Organization, gồm ba nước châu Á và năm nước phương Tây), trở thành công cụ để Mỹ bảo trợ cho miền Nam Việt Nam, đồng thời bảo vệ miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia. Đến năm 1958, Mỹ không chỉ trả tất cả chi phí quân đội mà còn trả 80% các chi tiêu của chính phủ TT Diệm nữa.

“Ngày 25-1-1963, Tổng thống Kennedy tuyên bố ông muốn biến Lào thành ‘một nước độc lập, hòa bình và không liên kết’. Averell Harriman, Thứ trưởng Ngoại giao về vấn đề chính trị, được coi là người có quyền hành lúc đó tại Tòa Bạch Ốc, cho rằng phải trung lập hóa Lào để ngăn chận miền Bắc dùng đất Lào xâm nhập vào miền Nam. Ngày 16-5-1961, Hội nghị Quốc tế giải quyết vấn đề Lào được triệu tập tại Genève. Chính phủ Ngô Đình Diệm phản đối rất mạnh, nhưng Harriman cứ tiến tới. Ngày 23-7-1962, Hiệp ước Hòa bình tại Lào đã được ký kết, kết quả 666 cố vấn Mỹ và toàn bộ quân đội của VNCH phải rút khỏi Lào. Bắc Việt cũng cam kết như thế. Nhưng thực tế không như Harriman tuyên bố”. (3)

Tháng 11-1963, tướng Dương Văn Minh đảo chính, lật đổ Diệm - Nhu với sự đồng ý của CIA và đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge. Sau cái chết của J. F. Kennedy, Johnson lên làm TT Mỹ. Ông ta tin rằng chìa khóa thành công trong chiến tranh Việt Nam là làm cho lãnh đạo VNDCCH sợ rằng Mỹ sẽ can thiệp bằng cách leo thang chiến tranh Việt Nam. Cũng chính trong năm này, cảnh giác với một quan chức Mỹ về việc Mỹ dấn sâu vào chiến tranh Việt Nam, Thủ tướng Liên Xô lúc đó là Nikita Khrushchev nói: "Nếu các ngài muốn, hãy cứ đi mà chiến đấu trong rừng rậm Việt Nam. Người Pháp đã chiến đấu ở đó 7 năm và cuối cùng vẫn phải ra đi. Có lẽ người Mỹ sẽ trụ lại được ở đó lâu hơn một chút nhưng rồi họ cũng sẽ phải ra đi thôi". (4)

Tuy là chế độ do Mỹ hỗ trợ, TT Ngô Đình Diệm tự thấy mình cũng phải tìm kiếm những giá trị tinh thần nào đó để làm nền tảng cho quốc sách chống Cộng và để xác lập một chủ thuyết nhằm chống lại lý tưởng của cuộc đấu tranh của nhân dân. Chúng ta biết Ngô Đình Nhu - cố vấn chính trị của Ngô Đình Diệm, là một người Thiên Chúa giáo từng du học ở nước ngoài - đã cùng một số linh mục như Bửu Dưỡng, Nguyễn Văn Thích, Lý Văn Lập... quyết định chính trị hóa giáo hội mà khởi đầu là hình thành một chủ thuyết vừa mang tính triết lý vừa mang tính chính trị, gọi là chủ nghĩa cần lao nhân vị, dựa trên triết thuyết le personalisme (chủ nghĩa nhân vị) của Emmanuel Mounier (1905-1950) và Jacques Maritain (1882-1973) - những trí thức Thiên Chúa giáo Pháp.

Chủ nghĩa nhân vị là một hệ thống triết học, đồng thời là một chủ thuyết về đạo đức và xã hội, đặt cơ sở trên giá trị tuyệt đối của con người, trên sự cao cả và tôn trọng nhân phẩm. Theo đó, khi nói con người là nói đến ý thức, đồng thời con người được xem trước hết như một chủ thể và là một chủ thể tinh thần. Quyền con người dựa trên ý tưởng có một phẩm giá nổi trội của con người mà ta không thể mua bán hoặc chối bỏ, đó chính là quyền của nhân vị. Vì lý do này, từ con người có ý nghĩa khác với từ cá nhân để chỉ một thành viên trong xã hội, hay trên lĩnh vực sinh học, là một nhất thể có sự sống. Nhà xã hội học nhìn xã hội như một tập hợp các cá nhân, còn nhà triết học nhìn thấy ở đó như một quần thể các nhân phẩm. Nhân phẩm là một hình thế tâm lý cá nhân của con người, trong đó có tính tình, tính cách, lịch sử cá nhân...- tất cả những gì làm nhân phẩm là một nhất thể luôn khác biệt với người khác, đó là một nhân vị. Theo quan điểm đạo lý, chúng ta đều là những con người đồng nhất, nhưng theo quan điểm tâm lý chúng ta là những nhân phẩm rất khác nhau. Vấn đề nhân phẩm là vấn đề tâm lý. Trong cách tiếp cận theo tâm lý học, cần phải hiểu tính riêng biệt của mỗi con người. Chúng ta là sản phẩm của quá khứ, của những liên hệ với điều kiện môi trường và xã hội chung quanh. Điều khiến chúng ta trở thành, với tư cách là nhân phẩm, tùy thuộc vào nhiều điều mà chúng ta đã sống và đã trải nghiệm. Nhận biết nhân phẩm chính là khám phá một phức hợp hoàn toàn duy nhất. Con người phải được xem như một cứu cánh nội tại và không bao giờ là một phương tiện; nếu nhìn nhận ngược lại tức là vô luân.

Trên cơ sở triết lý này, ông Nhu khi về nước đã thêm vào ý niệm về cần lao làm vế thứ hai trong học thuyết của ông rồi cho phổ biến trên tuần báo Xã Hội do ông chủ trương (sau đó còn tiếp tục trên tạp chí Quê Hương). Tuy nhiên học thuyết này không phát sinh từ thực tiễn lịch sử nên không phù hợp với hiện trạng xã hội, từ đó không có được một sử quan nhất quán để vận dụng vào điều kiện của xã hội lúc bấy giờ. Thực tế vì tham vọng củng cố quyền lực của gia đình, ông Nhu đã đi ngược lại những gì mà ông đã học được từ chủ nghĩa nhân vị khi còn ở La Mã. Năm 1953, nhờ sự yểm trợ của khối Thiên Chúa giáo La Mã và Hoa Kỳ, ông Nhu quyết định năng động hóa chủ thuyết của mình bằng cách xin phép Thủ tướng Bửu Lộc thành lập một lực lượng thợ thuyền lấy tên là Tổng liên đoàn Lao công dựa theo mô thức tổ chức và lãnh đạo của lực lượng thợ thuyền Thiên Chúa giáo Pháp và tháng 9-1953 tổ chức hội nghị đại đoàn kết đòi hỏi hòa bình cho Việt Nam. Song song hai việc này, ông Nhu bí mật hoạt động cho ra đời đảng Cần lao nhân vị. Tuy vậy không ai thấy cương lĩnh, nội quy của đảng như thế nào, song qua những bài báo trên tuần báo Xã Hội và qua những bài giảng tại Trung tâm Nhân vị ở Vĩnh Long sau đó, người ta thấy học thuyết của ông Nhu là một thứ tư tưởng pha trộn và chắp vá từ giáo lý Thiên Chúa giáo, chủ nghĩa nhân vị của E. Mounier, thuyết nhân ái của Khổng Tử cộng thêm một ít nét của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa duy linh chống Cộng... Vào những năm đầu của chế độ TT Diệm, tại miền Nam đi đâu cũng nghe nói đến thuyết nhân vị nhưng sau đó thuyết này lại chìm vào quên lãng. Đảng Cần lao nhân vị đã biến thể thành đảng Cần lao Công giáo tiếp tục hiện diện ở miền Nam.

Tiến trình hoạt động của đảng Cần lao nhân vị có thể gồm ba giai đoạn. Giai đoạn 1 từ năm 1953 khi Ngô Đình Nhu bí mật khai sinh đảng này với cấp lãnh đạo trung ương là người ngoài Công giáo như Trần Văn Đỗ, Huỳnh Kim Hữu, Trần Chánh Thành..., có lẽ ông Nhu muốn lập một tổ chức như các đảng Dân chủ xã hội Thiên Chúa giáo châu Âu. Sở dĩ ông Nhu muốn kết nạp người ngoài Công giáo vào đảng vì nghĩ rằng khối Công giáo bấy giờ không có những nhân vật chính trị tên tuổi. Giai đoạn 2 kể từ năm 1955 khi ông Diệm đã chấp chánh và củng cố được quyền lực nên ông Nhu kết nạp người Công giáo làm nòng cốt vì bấy giờ hầu hết người Công giáo di cư và Công giáo miền Trung đã là hậu thuẫn vững chắc của chế độ TT Diệm. Giai đoạn 3 từ cuối năm 1957 khi hai ông Diệm Nhu tin rằng chế độ đã vững chãi nên cần phải có một chủ lực trung kiên để đi đến việc Công giáo hóa miền Nam - mục đích tối hậu của nhà Ngô. Đảng lấy yếu tố tôn giáo làm cơ sở cho mọi chính sách, vì vậy đảng viên gồm toàn tu sĩ và giáo dân. Từ đó những đảng viên không Công giáo bắt đầu bỏ đảng, nhiều nhân vật nổi tiếng cũng xa lánh rồi chống đối nhà Ngô.

Đảng Cần lao nhân vị trở nên nguy hiểm vì cho tôn giáo của mình là độc tôn nên kỳ thị các tôn giáo khác (về mặt nhân văn) và độc tài, khống chế sinh hoạt quốc gia (về mặt chính trị). Với tham vọng đó, đảng Cần lao nhân vị biến thành đảng Cần lao Công giáo, trao cho một số chức sắc trong hàng giáo phẩm những đặc quyền siêu chính phủ. Trong chín năm cầm quyền, TT Diệm và đảng Cần lao Công giáo đã có nhiều chính sách ưu tiên cho một sách lược quan trọng là "Công giáo hóa nhân dân". Vì vậy TT Diệm đã đưa người Công giáo vào giữ các vị trí quan trọng trong chính phủ, quốc hội, các tỉnh miền Trung và cao nguyên. Tuy là người yêu nước thương dân nhưng TT Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu đã tự gieo mầm mống suy yếu từ trong nội bộ và như vậy dễ đi đến cáo chung.

  1. Nền Đệ nhị Cộng hòa.

 

Sau khi hai ông Diệm Nhu bị lật đổ ngày 1-11-1963 (và bị bắn chết ngày hôm sau), đảng Cần lao Công giáo bị thất thế song đảng viên vẫn tìm mọi cách để phục hồi vai trò của mình. Sau ba năm rối ren vì các tướng tá tranh giành địa vị, quyền lực, từ nội các quân sự sang chính phủ dân sự, năm 1966 nền Đệ nhị Cộng hòa được hình thành dưới sự lãnh đạo của TT Nguyễn Văn Thiệu. Lực lượng hậu thuẫn cho chính quyền mới cũng chính là người Công giáo và đảng viên đảng Cần lao Công giáo. Theo Đỗ Mậu (5), giúp việc cho TT Thiệu là bốn người Công giáo được gọi là "tứ trụ triều đình", đó là cố vấn an ninh tình báo kiêm cố vấn quân sự Đặng Văn Quang, cố vấn kinh tài Nguyễn Cao Thăng rồi Nguyễn Văn Ngân, cố vấn chính trị linh mục Cao Văn Luận, cố vấn tình báo chiến lược Huỳnh Văn Trọng. Ngoài ra còn có linh mục Bửu Dưỡng, cố vấn bí mật đặc trách văn hóa giáo dục cho chính quyền TT Thiệu, người được Mỹ giúp đỡ thành lập Đại học Minh Đức. Một giám mục nổi tiếng khác là Nguyễn Văn Thuận (gọi ông Diệm bằng cậu ruột) có tham vọng xây dựng khối Thiên Chúa giáo thành một lực lượng để nắm quyền ở miền Nam; ông được Thiên Chúa giáo quốc tế giao chức tổng thủ quỹ Caritas, một tổ chức bề ngoài thì làm việc từ thiện nhưng mục đích cũng là để lôi cuốn người dân theo đạo Thiên Chúa.

Bên cạnh các nhân vật này là một số người khác như linh mục Nhuận và nhóm Nguyễn Đức Xích chuyên theo dõi các đảng phái, tôn giáo và thành phần đối lập. Ngoài ra TT Thiệu cũng nắm lấy Thượng viện thông qua ba, bốn liên danh Công giáo giữ các chức chủ tịch, phó chủ tịch và nắm Hạ viện với đa số là người Công giáo, đặc biệt với khối Độc lập gồm toàn thành phần Cần lao Công giáo. Với một quốc hội như thế, Thiệu đã dễ dàng thông qua các dự luật như luật báo chí, luật ủy quyền, hợp thức hóa cuộc bầu cử tổng thống độc diễn...

TT Nguyễn Văn Thiệu không chỉ gây ảnh hưởng trên ngành lập pháp mà cả trong ngành hành pháp, cho giữ chức bộ trưởng những tay chân trung thành với nhà Ngô như Cao Văn Tường, Trần Chánh Thành, Trần Văn Lắm, Vương Văn Bắc, Ngô Khắc Tỉnh... Về phía quân đội, TT Thiệu dàn xếp chức vụ cao cấp cho Cao Văn Viên (tổng tham mưu trưởng), Đồng Văn Khuyến (tổng tham mưu phó), Trần Văn Trung (Tổng cục Chiến tranh chính trị), Bùi Đình Đạm (Nha Động viên)... Ở các quân đoàn, sư đoàn vẫn là tướng tá Cần lao hoặc chế độ cũ như Ngô Du, Phạm Quốc Thuần, Đỗ Cao Trí, Trần Văn Minh, Phạm Văn Phú, Nguyễn Văn Toàn, Lữ Lan... Phía công an có Nguyễn Mâu, Nguyễn Khắc Bình...

Việc điều hành đất nước của nhà Ngô với đảng Cần lao trong quân đội và ngoài dân sự vẫn được TT Thiệu duy trì. Hai chính sách đặc thù của ông Diệm vẫn được TT Thiệu cho hồi sinh: kỳ thị tôn giáo và kỳ thị địa phương. Đó chính là mối nguy hiểm nội bộ làm suy yếu bộ máy cầm quyền của nền Đệ nhị Cộng hòa.

Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng không bao lâu, nhất là sau ba lần đi Sài Gòn (tháng 10-1965, tháng 7 và 10-1966), Kissinger đã phải thừa nhận: "Tôi đã nhận thấy ngay chúng ta đã tham gia một cuộc chiến tranh mà chúng ta không biết làm thế nào để chiến thắng mà cũng không biết làm thế nào để kết thúc". (6) Sau đó, trên tập san Foreign Affairs, Kissinger đã rút ra kết luận: "Nguyên tắc chủ yếu của chiến tranh du kích là khi người ta không thua là thắng, trong khi đối với quân đội chính qui, không giành được thắng lợi là thua". (7)

Johnson quyết định không ra tranh cử năm 1968. Richard Nixon lên làm tổng thống với lời hứa sẽ chấm dứt được chiến tranh Việt Nam, khẳng định lại mục đích như vị tổng thống tiền nhiệm là không để miền Nam rơi vào tay Cộng sản, tuy nhiên điều đó không thể bảo đảm được nếu không tiếp tục theo đuổi chiến tranh. Nixon đề ra chủ trương Việt Nam hóa chiến tranh, tuyên bố có một kế hoạch bí mật để chấm dứt chiến tranh.

Johnson đã từng bàn đến chuyện thương thuyết sau vụ tấn công Tết Mậu Thân. Ngày 13-3-1968 cuộc nói chuyện tại Paris đổ vỡ do chính quyền VNCH từ chối thương thuyết. Tháng 10-1968, trong cuộc tranh cử tổng thống Mỹ, Hubert Humphrey kêu gọi thương thuyết, Nixon thuyết phục Nguyễn Văn Thiệu nhưng ông này không chịu. Trong khi đó Hà Nội đòi Mỹ rút quân, còn Mỹ thì đòi Hà Nội đưa quân trở lại miền Bắc: cuộc thương thuyết thất bại.

Thời gian này, sinh viên Mỹ bắt đầu biểu tình phản đối. Phong trào phản chiến bắt đầu với việc tự thiêu của Norman Morrison ngày 2-11-1965 trước Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Đã có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh ở khắp các bang ở Mỹ, Ngày 15-11-1969, bốn năm sau đó, một cuộc tuần hành 250.000 người diễn ra ở đại lộ số 5 trung tâm New York, chỉ cách quảng trường Times Square vài dãy phố. Cùng lúc là hàng loạt các cuộc xuống đường ở nhiều thành phố lớn tại cả bờ Đông và bờ Tây nước Mỹ (8). Ở Đại học Kent (bang Ohio), bốn sinh viên bị giết và chín người khác bị thương ngày 4-5-1970 (9). 16 triệu trong số 27 triệu thanh niên Mỹ đến tuổi quân dịch đã chống lệnh quân dịch, 2 triệu người Mỹ “gây thiệt hại bất hợp pháp” vì chống chiến tranh Việt Nam, 75.000 người Mỹ bỏ ra nước ngoài vì không chịu nhập ngũ và đấu tranh chống chiến tranh Việt Nam (10).

        Chiến tranh đã làm Nixon mệt mỏi nên vào ngày 25-4-1972, Nixon từng nảy ra ý kiến ném bom nguyên tử xuống Bắc Việt Nam. Theo CNN, chi tiết này được tiết lộ ngày 28-2-2002 khi Cơ quan Lưu trữ quốc gia Mỹ công bố cuốn băng dài 500 giờ về các cuộc thảo luận của Nixon trong sáu tháng đầu năm 1972. Câu nói chính xác của Nixon: "Tôi thiên về lựa chọn dùng một quả bom nguyên tử". Cố vấn an ninh Kissinger trả lời: "Theo tôi, điều đó sẽ là quá mức". Trong buổi thảo luận vào tháng 6-1972, Nixon thẳng thừng nói với cố vấn Charles Colson: "Chúng tôi muốn phá hủy cái nơi quái quỷ đó... Miền Bắc Việt Nam phải được tái thiết trật tự. Đây là lúc phải làm và đó là điều lẽ ra phải làm từ lâu". Song điều đó không xảy ra và Nixon chỉ còn ra lệnh tiến hành leo thang chiến tranh tại Việt Nam. Sau bầu cử năm 1972, Kissinger xem lại thỏa thuận về thương thuyết mà ông ta đã soạn trước. Việc xem xét này bị phản đối và Kissinger đe dọa lại sẽ ném bom miền Bắc nếu điều kiện mới mà ông đưa ra không thực hiện được. Giáo sư John Mc Alister - Đại học Princeton và Stanford, chuyên gia cố vấn Thượng viện Mỹ, từng có mặt ở miền Nam Việt Nam - đã sớm báo trước cho nước Mỹ rằng chiến tranh mà Mỹ đang can dự vào Đông Dương là vô vọng, không thể thắng nổi một xã hội nông thôn có thể chế truyền thống đặc biệt, được vũ trang bằng một chủ nghĩa yêu nước sâu sắc và mãnh liệt. Từ sau hiệp định Paris 1973, Quốc hội Hoa Kỳ lại mạnh tay cắt giảm viện trợ kinh tế và quân sự khiến cho miền Nam phải sụp đổ mau chóng hơn cả kế hoạch dự liệu của các chiến lược gia Hà Nội.

Tổng chi phí quân sự của riêng Mỹ tại cuộc chiến tranh tại Việt Nam từ 1965-1975 là 111 tỷ đôla, quy đổi theo thời gian năm 2008 thì bằng 686 tỷ đôla. Cao điểm của cuộc chiến là năm 1968, chi phí quân sự của Mỹ vào cuộc chiến tại Việt Nam bằng 2,3% GDP của Mỹ (11).

Nói tóm lại, các hoạt động chính trị của cả hai chế độ TT Diệm và TT Thiệu đã không tạo được sự đoàn kết mạnh mẽ để đương đầu với chủ nghĩa cộng sản. Cùng với việc Mỹ cắt giảm viện trợ vào đầu năm 1975 và sự triệt thoái của quân đội Mỹ thì sự sụp đổ của chế độ miền Nam vào ngày 30-4-1975 là điều có thể dự đoán được.

_________

CHÚ THÍCH

(1) Mitchell K.Hall, The Vietnam War, Pearson Education, 2007, tr. 3. (Trích: American viewed the struggle in Vietnam as part of a new global conflict against communism, while the Vietnamese saw the war against the United States as the latest phase of a long fight for independence). Dẫn theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-Chi_vien-69.

(2) Peter Hansen - Bắc di cư: Dân Công giáo tị nạn từ miền Bắc Việt Nam và vai trò của họ tại Cộng hòa Miền Nam, 1954-1959. Nguồn: Journal of Vietnamese Studies, Volume 4, issue 3, Fall 2009. http://www.talawas.org/?p=19371.

(3) Lữ Giang, Khi Mỹ vẽ lại lịch sử cuộc chiến Việt Nam, https://www.danchimviet.info/khi-my-ve-lai-lich-su-cuoc-chien-vn/10/2017/6840/

(4) Bruce Kennedy, Việt Nam cuộc chiến không quên, NXB Quân Đội Nhân Dân, Hà Nội, 2001, tr. 11.

(5) Hoành Linh Đỗ Mậu, Tâm sự tướng lưu vong, NXB CAND, Hà Nội, 1995, tr. 331.

(6) Kissinger, Những năm tháng ở Nhà Trắng, hồi ký, trích dẫn theo Mai Văn Bộ, Từ Genève đến Paris, NXB Trẻ, TP.HCM, 2002, tr. 224.

(7) Hoành Linh Đỗ Mậu, Tâm sự tướng lưu vong, NXB CAND, Hà Nội, 1995, tr. 224.

(8) Bruce Shapico, Salon News, 2-5-2001.

(9) http://www.sggp.org.vn/hosotulieu/nam2005/thang4/45576/

(10) Báo Sài Gòn Giải Phóng, Nhìn lại “cuộc chiến trong lòng nước Mỹ”, 15-4-2005.

(9) http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_Vi%E1%BB%87t_Nam#cite_note-H.E1.BB.93_Khang-8

(10) Neil Sheehan, Sự lừa dối hào nhoáng, NXB CAND, Hà Nội, 2003, tr. 887 và 899.

(11) Stephen Daggett, CRS Report for Congress. Costs of Major U.S. War. Dẫn theo Lạc Văn - Tính chính đáng của các bên trong cuộc chiến tại Việt Nam 1945- 1975.  http://www.x-cafevn.org/node/91.

Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2026

Tiếng Việt từ TK 17: các truyền thống tang chế (phần 52)

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về các tục lệ tang chế truyền thống ở Việt Nam từ thời LM de Rhodes và các giáo sĩ Tây phương sang Á Đông truyền đạo. Đây là lần đầu tiên cách dùng này hiện diện trong tiếng Việt qua dạng con chữ La Tinh/Bồ (chữ quốc ngữ), điều này cho ta dữ kiện để xem lại một số cách đọc chính xác hơn cùng với chữ Nôm, cũng như một số tục lệ không còn hiện diện nữa. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là các tài liệu chép tay của LM Philiphê Bỉnh (sđd) và bốn tác phẩm của LM de Rhodes soạn: (a) cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), (b) Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), (c) Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài 1627-1646 và (d) tự điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra tự điển này trên mạng, như trang http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Các chữ viết tắt khác là Nguyễn Cung Thông (NCT), Hán Việt (HV), Việt Nam (VN), ĐNA (Đông Nam Á), LM (Linh Mục), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), VNTĐ (Việt Nam Tự Điển/Hội Khai Trí Tiến Đức 1931/1954), TNNL (Thiên Nam Ngữ Lục), v.v. Kí còn viết là ký (tên người, tên sách), kị - kỵ và trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để người đọc tiện tra cứu thêm. Tương quan Hán Việt ghi nhận trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc của các từ liên hệ (có gốc Việt cổ hay Hán cổ).

Hữu Loan - cây gỗ lim màu tím

 Phạm Xuân Nguyên

(Tôi được tin ông mất khi đang dự một hội thảo khoa học quốc tế về văn học tại TPHCM. Báo "Tuổi Trẻ" đặt tôi viết bài ngay. Bài viết ngắn này được viết nhanh khi tôi bật nẩy trong đầu cái ý gọi Hữu Loan là "cây gỗ vuông màu tím". Mấy năm cuối đời ông, tôi đã mấy lần về thăm ông, có những khi còn đưa cả bạn bè ở Hà Nội và TPHCM cùng đi, tại ngôi nhà của ông ở quê Vân Hoàn (Nga Sơn, Thanh Hoá). Nay biết tin tỉnh Thanh có đặt một đường phố mang tên Hữu Loan trong một khu đô thị ở tỉnh lị và dân làng vừa sửa sang lại ngôi mộ ông ở quê, tôi đưa lại bài báo này để nhớ nhà thơ. - PXN).

Sinh tử và những vết chân cát xóa

 Nguyên Giác Phan Tấn Hải

Tôi mang một bệnh từ nhiều thập niên. Có thể gọi đó là bệnh nghề vì bệnh này gắn liền với công việc của một nhà báo. Hay gọi là bệnh nghiệp cũng được, nếu muốn nói theo kiểu Phật học nghiêm và buồn. Đó là chú ý tới thời gian. Tức là bệnh xem lịch. Cuối tuần là phải khác với ngày trong tuần. Đầu năm là phải dòm ngó tới các lễ hội mùa xuân. Nghề phóng viên luôn gắn liền với thời sự và cộng đồng, nên người làm báo cứ phải theo dõi lịch và ngày tháng. Cũng là dịp để thấy tóc mình mỗi ngày thêm nhiều sợi bạc.

Chuyện gì đến sẽ đến

 Phạm Viêm Phương

Trong một video năm 2013, Julian Assange, người sáng lập trang WikiLeaks năm 2006, nói rằng, "Bằng cách loại bỏ hồ sơ giấy và thay thế chúng bằng các tệp kỹ thuật số, người ta có thể xóa sạch lịch sử. Hôm nay, bạn có thể chỉ thấy thông báo ‘trang này không tìm được’, nhưng hôm sau, bạn có thể thấy họ khẳng định rằng sự việc đó chưa từng xảy ra.”

Những bức tranh tự giới thiệu mình là ai

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Có một loại câu giới thiệu bản thân đang lan rất nhanh trong giới họa sĩ mới và nó thường có cấu trúc giống nhau đến mức có thể đoán trước. Một cái tên lớn của phương Tây, thường là Monet, Van Gogh, Renoir, Cezanne, Gauguin, Dali, Matisse đôi khi là Gustav Klimt hay Picasso toàn những cái tên đại danh họa và được rất nhiều người biết đến trên toàn thế giới, đã được nhắc đến như nguồn cảm hứng lớn nhất đời mình. Ngay sau đó là tên của một trường phái, được gắn vào như một cái mác bảo chứng chất lượng. Và ở giữa hai vế đó, phần lớn không có gì kết nối cả ngoài việc cả hai đều nghe sang hẳn ra.

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

Sự trở lại của bóng ma “đọc kiểu xã hội học dung tục”

 Đinh Thanh Huyền

Ai cũng biết, thời gian này văn chương và sách giáo khoa Ngữ văn đang bị đấu tố dữ dội, người ta lôi hết tác phẩm nọ đến tác phẩm kia ra “tế”. Lời lẽ kết tội thì nhiều lắm, nhưng vun lại thì tập trung vào mấy ý: tác phẩm này bôi nhọ cái này cái kia, chống lại tư tưởng này tư tưởng khác; tác phẩm kia dạy trẻ con bạo lực, dạy trẻ con hư hỏng; tiêm nhiễm thói này thói khác vào đầu óc trẻ con; thiếu bài học đạo đức, thiếu tính giáo dục;… Tóm lại là cách đọc xã hội học dung tục một lần nữa bùng nổ, tạo thành những “đám cháy” đấu tố được mạng xã hội tạo điều kiện để lan truyền, nhân lên với cường độ khủng khiếp.

Đi, đọc và viết – những chuyến đi xa và những cuộc trở về của Phạm Xuân Đài

 V. N.

Có những người đi để đến một nơi nào đó. Có người đi để chụp vài tấm hình, mua vài món quà, rồi trở về kể rằng mình đã từng đến nơi ấy. Lại có người đi để sau khi trở về, nhận ra rằng cái mình tìm thấy không phải ở nơi đã đến, mà ở chính trong mình.

Nobel Văn chương 2026, ai sẽ bước qua cánh cửa Stockholm?

 Tino Cao

Chỉ còn 15 ngày nữa, Viện Hàn lâm Thụy Điển sẽ công bố Giải Nobel Văn chương 2026. Năm ngoái, trong ba cái tên tôi đem ra bàn bên tách cà phê, László Krasznahorkai cuối cùng đã bước lên bục nhận giải. Đoán trúng một lần cũng chẳng đủ để lên mặt tiên tri, cùng lắm chỉ khiến ly cà phê năm nay có lí do pha đậm thêm một chút. Stockholm vẫn kín như bưng. Hồ sơ đề cử, ý kiến thảo luận và biên bản xét giải bị niêm phong suốt 50 năm. Thành thử, mọi danh sách lưu truyền bên ngoài đều thuộc thế giới của suy đoán, còn bảng cá cược thường nói chính xác hơn về độ nóng của một cái tên trên truyền thông chứ ít khi cho ta biết 18 viện sĩ đang nghĩ gì sau cánh cửa đóng kín của Viện Hàn lâm Thụy Điển.

Đọc TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm – Cuộc lữ đi tìm bản thể con người

 Lê Thọ Bình

 

Với TA LÀ – Những khúc mắc siêu hình học (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.

Vạn sắc hư vô bản tiếng Trung 《万色虚无》 vừa được chọn vào Top 10 tiểu thuyết dịch hay nhất tháng 8/2026 của 探照灯好书.

 Nguyễn Khắc Ngân Vi

探照灯好书 có thể dịch là “Bảng sách hay Ngọn đèn pha”, do Hiệp hội các nhà phê bình sách Ngọn đèn pha tổ chức. Đây không phải bảng bán chạy hay danh sách quảng bá của nhà xuất bản, mà là một bảng tuyển chọn chuyên môn trong ngành sách Trung Quốc. Các tác phẩm được giới phê bình và những người làm sách đọc, đề cử, bỏ phiếu. Kỳ này có sự hỗ trợ truyền thông của Tencent News và QQ Reading.

Từ Washington DC nhỏ nghĩ về Hà Nội “to”

Giang Công Thế

Hà Nội chúng ta từng có hình vuông. Washington DC cũng có hình vuông. Hai thủ đô cách nhau nửa vòng trái đất, từng là “thù địch”, nay đã thành đối tác.

Chỉ có kiến trúc là vẫn còn một cuộc chiến khá âm thầm, một bên cố giữ cái cũ để làm nên bản sắc, một bên hình như càng nhìn thấy cái cũ càng muốn “hạ giải”.

Từ Washington DC, một anh chàng IT nghĩ về Hà Nội.

Cái đêm hôm ấy… đêm gì?

 Tino Cao

Gần nửa thế kỉ sau Tắt đèn, văn học Việt Nam lại chứng kiến một người mẹ già quỳ lạy những người đến lấy thóc, những đứa trẻ khóc vì đói và sợ hãi, một gia đình phải nộp cả số lúa dành cho đám tang của người sắp chết. Ngô Tất Tố viết về nông thôn Bắc Kỳ thời Tonkin dưới chế độ thuộc địa vào cuối thập niên 1930. Phùng Gia Lộc viết từ chính tai họa giáng xuống gia đình mình ở Thanh Hóa năm 1983, sau cách mạng, sau cải cách ruộng đất và sau nhiều thập niên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Khoảng cách gần năm mươi năm ấy khiến Cái đêm hôm ấy… đêm gì? trở thành một trong những chứng từ văn học - báo chí dữ dội nhất về nông thôn Việt Nam trước Đổi Mới. Một chế độ từng xác lập tính chính danh bằng lời hứa giải phóng những người nghèo khổ, đặc biệt là nông dân, rốt cuộc đã có lúc dựng nên một cơ chế cưỡng thu có thể đưa công an, dân quân và cán bộ địa phương vào tận nhà người dân giữa đêm khuya để vét thóc và tịch thu tài sản. Những hình ảnh từng làm nên bản cáo trạng của văn học hiện thực thời thuộc địa đã trở lại trong một xã hội tuyên bố rằng cuộc cách mạng đã chấm dứt thời đại của chúng. Bi kịch lịch sử là chỗ ấy.

Cơn sốt The Odyssey ở Hàn Quốc

 Lê Hồng Lâm

Dân Hàn chắc cuồng The Odyssey vào hạng nhất thế giới. Quốc gia có 50 triệu dân mà có gần 11 triệu khán giả (tính đến hôm qua) vào rạp xem phim này. Phim còn xếp loại R nữa, tức tính trung bình, khoảng ba người Hàn trưởng thành thì có một người vào rạp xem The Odyssey. Doanh thu phim này ở thị trường Hàn xấp xỉ 90 triệu USD và có thể tiến tới con số 100 triệu USD khi về đích.

Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Hợp tác Lancang-Mekong: Từ quan hệ bất đối xứng đến đối tác công bằng và trách nhiệm

 Những điều Cơ chế Hợp tác Lancang-Mekong cần có trong thập kỷ thứ hai

Phạm Phan Long
19 tháng 9 năm 2026

 

Thành tích tăng trưởng của LMC trong thập niên đầu

Trong mười năm đầu của Hợp tác Lancang-Mekong (LMC), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Trung Quốc tăng từ khoảng 11,2 nghìn tỷ USD năm 2016 lên 19,5 nghìn tỷ USD năm 2025 – tăng khoảng 74%. Việt Nam và Campuchia tăng nhanh hơn, trên 250%. Thái Lan tăng chậm hơn, khoảng 42%. Myanmar chỉ tăng khoảng 21%. Lào gần như đứng, vì kip mất giá mạnh che mất phần tăng thực trong nước.

Ngựa trên đất Việt – từ con vật ngoại nhập đến người bạn của miền sơn cước

 V. N.

 

 

Trong lịch sử văn minh Việt Nam, có một nghịch lý khá thú vị: ngựa hiện diện rất đậm trong văn chương, truyền thuyết, nghệ thuật và lịch sử quân sự, nhưng lại chưa bao giờ thực sự là con vật chủ lực của nền kinh tế Việt Nam.

Người Việt có thể nói đến “tuấn mã”, “chiến mã”, “mã đáo thành công”, có Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt, có Nguyễn Huệ dùng kỵ binh, có những đoàn quân cưỡi ngựa trong sử sách; nhưng trong đời sống nông nghiệp, hình ảnh căn bản vẫn là con trâu đi trước cái cày, chứ không phải con ngựa.

Sự khác biệt ấy bắt nguồn từ chính địa lý và phương thức sinh tồn của cư dân Việt.

Tiểu thuyết của các nước đồng văn thời phong kiến

 Trần Quốc Anh

Lục Vân Tiên truyện, bản Duy Minh Thị, năm Giáp Tuất 1874


Nếu đem văn học tự sự của bốn nước Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam – những quốc gia từng nằm trong không gian văn hóa Hán quyển – ra so sánh, ta sẽ thấy một điều khá thú vị: cùng sử dụng chữ Hán trong nhiều thế kỷ, nhưng mỗi nước lại phát triển thể loại tiểu thuyết theo một con đường rất khác nhau.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2026

Câu chuyện thị trường nghệ thuật: "con nhà giàu" cũng không thể hiểu nổi...

 Nguyên Hưng

Trên thị trường thời trang cao cấp, người ta không tìm kiếm cái “đẹp”, mà tìm kiếm cái “độc”. Họ không cạnh tranh bằng giá rẻ, mà cạnh tranh bằng giá cao. Những người mang tư duy bình dân bước vào thế giới này hầu như không hiểu được điều đó. Thị trường nghệ thuật cũng vận hành đúng theo quy luật tương tự.

Trí tuệ Phật giáo trước thách thức của trí tuệ nhân tạo

 Trần Kiêm Đoàn

Trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay, 2026, chúng tôi – một nhóm Phật tử cao niên U70, U80 và U90 từ nhiều vùng miền Hải ngoại và Việt Nam – có dịp thăm viếng, gặp gỡ và chia sẻ với chư tôn đức, quý đạo hữu và thế hệ Phật tử tuổi trẻ mang tính kế thừa về những vấn đề Phật sự; đặc biệt là những thách thức trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình tu học và hoằng pháp. Vô hình chung, vấn đề nổi cộm và tiêu biểu nhất là sự hiện hữu với những tác dụng và thách thức chưa từng có tiền lệ về Trí Tuệ Nhân Tạo (AI).

Tháng Chín

 Nguyễn Đức Tùng

Tháng Chín, rừng đã cháy.

Thế giới trở nên im lặng.

Im lặng là điều tôi nhận ra trước hết khi đi qua vùng rừng núi vừa bị lửa tiêu hủy. Không có tiếng chó sủa, không nhìn thấy những con chồn chạy băng qua đường khi bạn lái xe trên xa lộ lên phía Bắc. Không tiếng chim hót. Bây giờ là mùa thu, những đàn ngỗng trời Canada sẽ bắt đầu bay về phương Nam, tiếng của chúng kêu vang mặt nước. Mới đây thôi, năm ngoái, năm kia, bây giờ tôi không nhìn thấy chúng. Không nhìn thấy nai và hươu, mèo rừng và gấu, không nhìn thấy sự sống ở đâu cả. Sau những cuộc cháy rừng lớn, tôi thường lái xe dọc bờ biển phía Đông của Mỹ và Canada, thăm rừng đã cháy, nghĩ về chúng, về ký ức của những vòng cung tươi đẹp.

Chủ Nhật, 20 tháng 9, 2026

Nhân Đất trắng tái bản, nhớ và ghi lại vài điều về cha tôi, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh

Giáng Vân

Gửi sách của ông già đi cho một số bạn bè, chợt khựng lại. Có lẽ có nhiều điều cần nhìn lại, những điều tôi từng băn khoăn nhưng rồi cuộc sống trôi đi, cộng với quan niệm, mọi thứ không có gì quan trọng, nên đã bỏ qua.

Hữu Loan – Người thơ bận việc làm người

 Nguyễn Duy

 

Nhớ, năm 1988, sau khi được "phục hồi" quyền được viết cùng với tư cách tư cách hội viên (sáng lập) Hội Nhà văn Việt Nam, "thi sỹ xe thồ" này đã làm cuộc "Nam tiến" bằng xe lửa và xe đạp vào Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ. Ông đến thăm tôi và sau đó tôi đã mấy lần về quê thăm ông, tại xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn. tỉnh Thanh Hóa. Nay tôi rất vui nhận được tin Thanh Hóa vừa đặt tên đường phố HỮU LOAN. Xin chúc mừng tỉnh nhà và gia đình thi sỹ. Nhân sự kiện văn hóa này tôi post lại bài viết về lần đầu gặp gỡ giữa hai người thơ Thanh Hóa tại Sài Gòn, tháng Tám năm 1988. (Bài viết vào dịp tang lễ cụ Tú Loan, 2010, đã được đăng trên vài tờ báo hồi đó và in trong GHI & NHỚ – tuyển tập bút ký của Nguyễn Duy (nxb Hội Nhà văn).

Khi diễn ngôn thay thế cho cái nhìn – Chút lời chia sẻ về hiện tượng "diễn ngôn giả"

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

 

"Đứng trước tác phẩm, người xem như bước vào một vùng sâu của tâm thức, nơi những bất an, cô độc và khát vọng được hiện hữu cùng tồn tại trong một trạng thái vừa dữ dội vừa mong manh. Đó là tiếng vọng từ sâu thẳm bản thể, một cuộc đối thoại lặng lẽ giữa ánh sáng và bóng tối, giữa hữu hạn và vô cùng để rồi khép lại bằng một sự thanh tẩy tâm hồn."

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

Đừng bắt người nghèo phải trở thành anh hùng mới được đi học

Tino Cao

Mỗi mùa tuyển sinh đại học, báo chí trong nước lại mang đến những câu chuyện khiến người đọc xúc động, trong đó có tôi. Một học sinh lớn lên trong gia đình nghèo, cha mẹ đau yếu hoặc mất sớm, ngày đi học, tối làm thêm, có em vừa học vừa chăm người thân, thiếu thốn từ chiếc máy tính đến tiền học thêm, cuối cùng vẫn đạt điểm rất cao và trúng tuyển vào một trường đại học danh tiếng. Sự cảm phục dành cho các em là hoàn toàn xứng đáng. Trong một hoàn cảnh mà việc học mỗi ngày đã đòi hỏi nhiều sức lực hơn người khác, các em vẫn giữ được ý chí, khả năng học tập và niềm tin vào con đường phía trước, thì nghị lực ấy là hết sức đáng trân trọng, cũng như mọi sự giúp đỡ của cộng đồng dành cho các em là điều đáng quý. Nhưng sau những lời khen, những bó hoa, học bổng và bài báo kể lại hành trình vượt khó, còn một câu hỏi khác cũng nên được đặt ra. Tại sao một học sinh nghèo khó lại thường phải chứng minh một nghị lực gần như phi thường mới có thể tiếp tục đi học? Và nếu xã hội cứ lấy những trường hợp thành công ấy làm bằng chứng rằng khó khăn nào cũng có thể vượt qua bằng ý chí, chúng ta liệu có thể đang lẫn lộn giữa phẩm chất của một con người với trách nhiệm của một hệ thống giáo dục?

Làm sao để AI phục vụ con người trong một tương lai không biết trước

 Phạm Phan Long

*Tháng 9, 2026*

Lời giới thiệu

Chúng ta đang bị nhấn chìm dưới dòng thác thông tin về hiểm họa của AI đối với nhân loại – phần lớn đầy thuật ngữ chuyên môn mà người ngoài ngành khó lòng hiểu nổi. Tôi từng hoang mang, tự hỏi liệu mình có đang bị bỏ lại phía sau một thế giới mà AI đang dần chiếm lĩnh. Để hiểu rõ, tôi đã đọc các nguồn tin ấy và từng bước đặt câu hỏi với Claude, một dịch vụ AI, yêu cầu giải thích đi giải thích lại cho tới khi người ngoài như tôi có thể nắm được vấn đề. Quá trình này khá vất vả, vì phải phá vòng an toàn bước vào vùng đất lạ, nên tôi ghi lại hành trình để chia sẻ cùng các bạn.

Thị trường nghệ thuật không vận hành như một “chợ cá”

 Nguyên Hưng

Với những món hàng thông thường như rau củ hay quần áo, sự lẫn lộn giữa hàng tốt và hàng xấu cùng với cạnh tranh về số lượng sẽ giúp người mua dần dần định ra được giá cả dựa trên giá trị sử dụng thực tế. Nhưng tác phẩm nghệ thuật là HÀNG HOÁ TÂM LÝ VÀ VĂN HOÁ. Giá trị của nó được quyết định bởi sự khan hiếm, tính nguyên bản và sự công nhận từ những định chế có uy tín như bảo tàng, người giám tuyển và nhà phê bình.

Thử nghĩ về câu hỏi của Võ Tấn Cường: “Bùi Chát đã đem đến cho hội họa đương đại Việt Nam điều gì?”

 Hoàng Luận

Sau bài viết của Ngô Lực1 về Mở xưởng Họa hoằn Họa xá, Võ Tấn Cường có một comment2 khá là đáng chú ý. Anh cho rằng cách nhìn về cơ chế, phương thức và tâm lý sáng tạo của Bùi Chát là hay, mới, nhưng “ở góc độ người thưởng ngoạn hội họa bình thường” thì lại cần hơn những bài viết khám phá về phong cách hội họa, về cái mới, cái lạ mà Bùi Chát đem đến cho thế giới hội họa qua các tác phẩm. Người thưởng ngoạn, theo anh, “không quan tâm đến thế giới tù mù của cơ chế sáng tạo và quan niệm nghệ thuật này nọ”. Và cuối cùng, anh chốt lại bằng một câu hỏi: “Bùi Chát đã đem đến cho hội họa đương đại Việt Nam điều gì?”.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2026

Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tibet

Khi khoa học lần bước theo một chuỗi thảm họa từ băng đá trên nóc nhà thế giới

Ngô Thế Vinh

 

Lời Giới thiệu: “Ba tuần sau thảm họa Nepal–Tây Tạng ngày 26 tháng 8 năm 2026, bài viết này điểm lại những gì khoa học đã làm rõ và những câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ về chuỗi tai biến khởi đầu từ sườn bắc Langtang Lirung. Đây không phải tường thuật cứu nạn, mà là một tổng thuật khoa học–môi sinh với ba nhận định chính.Thứ nhất, đây không phải một trận Lũ do Hồ Băng Vỡ / GLOF điển hình, mà là chuỗi liên hoàn: sườn đá–băng sụp đổ => thác lở đá–băng => dòng bùn đá => lũ đậm đặc trầm tích.Thứ hai, khí hậu nóng lên, băng hà thoái lui và permafrost suy thoái tạo bối cảnh bất ổn lâu dài; nhưng những nghiên cứu mới cũng chỉ tới yếu tố cấu trúc địa chất và sự suy yếu của khối đá. Nguyên nhân trực tiếp của vụ sụp đổ vẫn chưa được xác định dứt khoát. Thứ ba, điều con người còn có thể chủ động là cảnh báo sớm và hợp tác xuyên biên giới, bởi nước lũ không cần sổ thông hành. Từ tín hiệu địa chấn lúc 08:37 giờ Nepal đến “ký ức địa hình” / landscape memory của trận GLOF năm 2025, bài viết của BS Ngô Thế Vinh cho thấy tai biến Himalaya không dừng lại trên Nóc Nhà Thế giới. Tính tương thuộc ấy cũng gợi một cái nhìn xuống Mekong và Đồng bằng sông Cửu Long.

KS PHẠM PHAN LONG
Chair, Viet Ecology Foundation

Cuộc đời vô nghĩa?

 Lê Nguyên Phương

Cách đây vài tối, trong buổi AMA (Ask Me Anything) của chương trình Psychology for Transformation (PTC), một học viên đang theo học mô-đun Chuyển hóa Hiện sinh–Tâm linh đã chia sẻ sự bối rối của mình trước khái niệm “vô nghĩa” trong triết học hiện sinh. Theo em ấy, em có thể hiểu được ba khái niệm hay ba mối quan tâm còn lại nhưng đến “vô nghĩa” thì chịu “bất khả tư nghì”. Có lẽ vốn xuất thân từ một nền văn hóa và giáo dục nơi tập hợp những ý nghĩa hiếu để, trung quân ái quốc, chẳng hạn là nền tảng cho sự tồn tại, chúng ta cũng khá bối rối khi tiếp cận khái niệm này. Sự bối rối ấy hoàn toàn dễ hiểu, bởi khi nghe rằng đời sống không có sẵn một ý nghĩa khách quan hay tối hậu, chúng ta rất dễ diễn giải điều đó thành một kết luận bi quan: cuộc đời này chẳng có giá trị gì, mọi nỗ lực đều vô ích, và con người không còn lý do để sống hay hành động. Nhưng có phải các nhà hiện sinh thực sự muốn nói như vậy? Hay “sự vô nghĩa” không nhất thiết là điểm kết thúc của hy vọng và chỉ dẫn đến tuyệt vọng mà có thể chính là điểm khởi đầu cho tự do, trách nhiệm và khả năng kiến tạo một đời sống đích thực?

Đất nước tràng hạt (kỳ 5 - hết)

  Trường ca du ký

Đỗ Quyên

Chương 6

Trường Ca Trường Chinh

 

   

Bất độc (đáo) bất trường ca[1]                                                                                        (mà cái trường ca tạng này dễ bị gọi là chán chường ca)                                                                                                                                                                     

Bất đáo trường ca phi hảo hán[2]                                                                        

(mà cái trường ca dạng này thường bị coi là chướng ca) 

Thứ Năm, 17 tháng 9, 2026

Đoàn Huy Giao: Người đi tìm những miền ký ức

 Lê Thọ Bình

Đoàn Huy Giao. Ảnh: Dương Minh Long

Đoàn Huy Giao người “lật đá vá trời”

Từ một chàng trai xứ Quảng làm báo phản chiến, Đoàn Huy Giao bước vào truyền hình, rong ruổi qua những cánh rừng Tây Nguyên, dựng Bảo tàng Đồng Đình và cuối cùng tìm thấy sự “cứu rỗi” trong trường ca. Một đời đi qua nhiều biến động, nhưng những miền ký ức về đất, người và nghệ thuật vẫn âm thầm kết tinh trong ông.