Danh Ngôn

Chúng tôi khác với các thế lực đầu sỏ trong quá khứ ở chỗ chúng tôi biết mình đang làm gì... Đức Quốc xã và Cộng sản Nga đã đến rất gần chúng tôi theo phương pháp của họ, nhưng họ không bao giờ có đủ can đảm để nhìn nhận động cơ của mình. Họ giả vờ, có lẽ họ thậm chí còn tin rằng họ đã nắm quyền một cách miễn cưỡng và trong một khoảng thời gian có hạn, và ngay gần đó là một thiên đường nơi con người sẽ được tự do và bình đẳng. Chúng tôi không như vậy. Chúng tôi biết rằng chưa từng có ai nắm quyền với ý định từ bỏ nó. Quyền lực không phải là một phương tiện; nó là một cứu cánh."

"We are different from the oligarchies of the past in that we know what we are doing... The German Nazis and the Russian Communists came very close to us in their methods, but they never had the courage to recognize their own motives. They pretended, perhaps they even believed, that they had seized power unwillingly and for a limited time, and that just around the corner there lay a paradise where human beings would be free and equal. We are not like that. We know that no one ever seizes power with the intention of relinquishing it. Power is not a means; it is an end."

Người ta không thiết lập một chế độ độc tài để bảo vệ một cuộc cách mạng; người ta làm cuộc cách mạng để thiết lập chế độ độc tài”.

“One does not establish a dictatorship in order to safeguard a revolution; one makes the revolution in order to establish the dictatorship.”

George Orwell (1903-1950), nhà văn Anh. “Nineteen Eighty Four,” do Secker & Warburg xuất bản năm 1949

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Một đảng chỉ thật sự mạnh khi nhìn đâu trong Dân cũng thấy Bạn chứ không phải cũng thấy Thù

Lưu Trọng Văn

Phó trưởng Ban Tuyên giáo trung ương Bùi Trường Giang cho biết năm 2020 diễn ra đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng.

"Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đã và đang tăng cường hoạt động chống phá, tấn công chia rẽ nội bộ, đặc biệt tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng; xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, nhất là công tác chuẩn bị nhân sự và việc tổ chức lấy ý kiến của các giai tầng xã hội góp ý vào các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng".

Người Mỹ không mang lại tự do cho Hàn Quốc – người Hàn đã tự làm điều đó

Kap Seol, Jacobin ngày 25/6/2020

Trường An dịch

Lời trước bài:

Cuộc nổi dậy Gwangju (Gwangju: Quang Châu “Thành phố Ánh sáng”) là một cuộc đấu tranh dân chủ diễn ra từ ngày 18 đến ngày 27 tháng 5 năm 1980. Mặc dù quân đội dưới sự chỉ đạo của Chun Doo-Hwan đã đàn áp đẫm máu những người biểu tình với hơn 2000 người bị tàn sát, người dân Gwangju vẫn chiến đấu kiên cường và giành được quyền làm chủ thành phố trong năm ngày. Khác với các cuộc biểu tình đấu tranh dân chủ ở nhiều nước, nơi giới trí thức và sinh viên đại học là nòng cốt, trong cuộc nổi dậy ở Gwangju hàng chục ngàn người lao động bình thường nhất đã tích cực tham gia và hy sinh. Mặc dù với quy mô và ý nghĩa rất to lớn, do các yếu tố chính trị, chủ yếu do các chính quyền Hàn Quốc và chính quyền Mỹ muốn ỉm đi sự kiện, cuộc nổi dậy ở Gwangju không có được chỗ đứng xứng đáng của nó như Thiên An Môn năm 1989. Tháng 5 năm nay là kỷ niệm 40 năm cuộc nổi dậy (và thảm sát) ở Gwangju. Bài viết của Kap Seol vừa có ý nghĩa tri ân những con người dũng cảm đã ngã xuống vừa mang tính cảnh tỉnh cho mọi người trong xã hội hiện đại: Ai có thể mang lại công bằng và dân chủ cho chúng ta ngoại trừ chính chúng ta? (ND)

Văn học Miền Nam 54-75 (693): Y Uyên (kỳ 3)

Dáng thú

Lưng khom dáng thú, bụng phơi hình người
Viên Linh

Tiệm ăn ở trên một gò đất cao cây cối xum xuê sát bên con đường chạy xuống tỉnh. Trời nắng, trong suốt và hơi lạnh. Những bụi tre bao quanh tiệm ăn sau những ngày giá rét trở thành màu đỏ úa, cành lá xoăn xeo. Tiệm là một căn nhà ba gian lợp lá, phía trước có một giàn dưa tây đã khô chết. Ở ngay trên hiên, phía đầu nhà là một cái giếng thành xi măng cao có trục quay kéo nước. Từ ngoài đi vào, gian đầu là chỗ mọi người ăn uống, gian giữa, chỗ ở của vợ chồng chủ tiệm, gian cuối, chỗ chứa gái điếm cửa đóng thường xuyên. Máy ra-dô mở lớn. Tiếng cười nói ồn ào. Khách đa số là người trong quận. Chủ tiệm đang đắc ý kể chuyện. Hồi hôm một bọn lính biết con Hoàng Mai ngủ ở đây, gõ cửa nhiều lượt, một mực đòi xét sổ gia đình. Lúc đầu, chủ tiệm còn chối, sau hắn liều, cười nhạt nói Hoàng Mai đang ngủ với một trung uý biệt động, muốn vô cứ vô. Bọn lính nghe nói hoảng hồn làm bộ dậm doạ một lát rồi rút êm. Chị Tấm đã ăn xong, kêu nước uống rồi trả tiền, kéo cô Khê ra ngoài hiên.

Thuật ngữ chính trị (77)

Phạm Nguyên Trường

247. G8 – Các nước nhóm G8. G8 (viết tắt tiếng Anh: Group of Eight) là nhóm 8 quốc gia có nền công nghiệp hàng đầu trên thế giới: (Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, Hoa Kỳ (G6, 1975), Canada (G7, 1976)) và Nga (gia nhập từ năm 1998 nhưng đến năm 2014 thì bị loại khỏi G8). Năm 2012 các nước G8 chiếm tới 50,1% GDP toàn cầu. Điểm nhấn của G8 là hội nghị thượng đỉnh về kinh tế và chính trị được tổ chức hàng năm với sự tham dự của những người đứng đầu nhà nước và các quan chức quốc tế. Việc tước tư cách thành viên G8 của Nga là đòn đáp trả từ các nước phương Tây, sau khi Nga sáp nhập bán đảo Krym ở miền Nam của Ukraina. Từ đó G8 chỉ có 7 nguyên thủ quốc gia tham gia các hội nghị thượng đỉnh.

Những tháng năm cuồng nộ (kỳ 7)

Tiểu thuyết Khuất Đẩu

LÃO TIỀN BỐI

6

Nữ chủ tịch ủy ban quân quản huyện được tin cha mình về lúc đang ngồi ăn cơm bằng đũa hai đầu với hai cán bộ thông tin và giáo dục được tăng cường từ miền bắc. Câu khẩu hiệu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam muôn năm vừa mới kẽ xong hãy còn ướt sơn đỏ chói như đít chim chào mào. Đưa cái đám con cái ngụy quân ngụy quyền đi chỗ khác, bà nói với chủ tịch ủy ban quân quản xã tên KhấuThẹo (được đổi thành Hùng Tiến), cho người dọn dẹp sạch sẽ, bố trí cho đồng chí ấy ở tạm rồi sẽ tính. Trên này nhiều việc cần giải quyết gấp, danh sách ngụy quân ngụy quyền đưa đi cải tạo cần rà soát lại để không bỏ sót, ít bữa tạm ổn tôi sẽ về. Cứ thế nhé, chào thắng lợi!

Điếm đỏ

Truyện Nguyễn Thanh Văn

Dạo đó, như nhiều người ở quê tôi vẫn còn nhớ, đĩ thì gọi là đĩ, điếm thì gọi là điếm. Đơn giản rứa thôi. Không có vụ điếm vàng, điếm đỏ hay đĩ trắng, đĩ xanh gì ráo. Nhưng chuyện tôi đang kể có chút màu sắc đặc biệt – không thì ghi lại làm chi. Phải sau sự kiện tháng tư năm bảy lăm, mới có sự lạ là nhạc được nhuộm thành nhạc đỏ, nhạc vàng – chính tai tôi có nghe một cán bộ văn hoá cấp thành còn tỉ mỉ xếp thêm các loại nhạc vàng vàng, nhạc đo đỏ nữa kia. Nói hơi có mùi thiếu văn hoá, cứ ngờ ngợ như đang nghe tham vấn của các thầy thuốc về các món lỉnh kỉnh liên quan chứng rối loạn tiêu hoá.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 277): Bể dâu – Nam Dao (14)

MÙA RỪNG ĐỘNG (14)

*

Tiếng lộc cộc trên con đường làng khiến bụng Duyên thắt lại. Không nói không rằng, Duyên tung cửa chạy ra đồng tìm Thành, miệng reo, anh Dân về rồi. Vắng Dân cả tháng, Duyên khám phá ra là mình thấp thỏm chờ đợi một điều gì chính nàng cũng không biết chắc. Rửa hai bàn chân đầy bùn, Thành xỏ đôi dép Bình-Trị-Thiên, tất tả đi về. Xồng xộc đẩy cửa vào nhà Dân, Thành gọi thì Dân ở sau vườn bước lên.

- Chuyện làng xã có gì mới không? Dân hỏi.

Thuật ngữ chính trị (76)

Phạm Nguyên Trường

241. Free trade area – Khu vực thương mại tự do (FTA). Khu vực thương mại tự do là một nhóm các quốc gia, ví dụ, Khu vực tự do thương mại Bắc Mĩ (Canada, Mexico và Hoa Kì) hứa rỡ bỏ tất cả các rào cản đối với hàng hóa của nhau, mặc dù không rỡ bỏ rào cản đối với dịch chuyển tư bản và lao động. Mỗi nước tiếp tục tự quyết định quan hệ thương mại với các nước không phải thành viên của nhóm, cho nên FTA khác với liên minh thuế quan (customs union), vì liên minh thuế quan áp đặt mức thuế nhập khẩu chung cho tất cả các nước thành viên.

Văn học Miền Nam 54-75 (692): Y Uyên (kỳ 2)

Ngày về của bọn họ
Ngưỡng đi như lẩn vào những gốc cây um tùm. Trên núi, tiếng những người kiếm củi vọng xuống, nhỏ, lơ lửng giữa thinh không. Qua một vùng đất quang bóng cây, Ngưỡng ngước nhìn lên rồi lại cắm cúi đi. Hồi mới tới đây, từ xa, nom ngọn núi thật trần trụi, như chỉ có cỏ phủ trên đất. Ngưỡng đã nghĩ giá có người đứng trên sườn núi, chắc nom rõ cả từng bước đi, cả từng cái dáng khom người. Bây giờ, trên núi có người, nhưng phải để ý mới thấy một cái nón, một bóng người quần áo đen nhỏ bé lẫn lộn với cây cối. Có người đeo giỏ củi đi trên con đường mòn vòng quanh núi, trông thiếu hẳn bề cao lẫn bề dầy, chỉ còn là một khối nhỏ di chuyển chầm chậm, câm lặng. Tiếng trao đổi của họ chỉ còn âm thanh xào xạc, rời rạc, không còn hơi hướng tiếng nói. Trời lạnh, đi lâu dưới bóng cây, Ngưỡng thấy rùng mình. Hai tay thọc sâu trong túi nhưng bước chân Ngưỡng có vẻ dồn dập. Buổi sáng gió ít, có nắng, những người trên kia chắc đỡ lạnh hơn. Ngưỡng nghĩ, giá mình với Diệu có một bãi cỏ trên sườn núi phơi nắng, thật tuyệt.

Không sống bằng những sự giả dối: Lời kêu gọi lòng can đảm và sự thật trong thời đại ngày nay

Alexander Solzhenitsyn

Nguyễn Trung Kiên dịch

[*Solzhenitsyn viết bài tiểu luận này vào năm 1974 và nó đã lan truyền trong giới trí thức Moscow vào thời điểm đó. Nó được đề ngày 12 tháng Hai, cùng ngày mà cảnh sát mật đột nhập vào căn hộ của ông và bắt ông. Ngày hôm sau, ông bị trục xuất sang Tây Đức. Bài tiểu luận này là một lời kêu gọi lòng can đảm về đạo đức và là ánh sáng cho tất cả chúng ta – những người luôn coi trọng sự thật.*]

Những tháng năm cuồng nộ (kỳ 6)

Tiểu thuyết Khuất Đẩu

LÃO TIỀN BỐI

4

Đứng trên boong tàu Ba Lan nhìn rặng núi Phương Mai ở cảng Quy Nhơn mờ dần, chút tình quê hương vẫn khiến cho ông ngậm ngùi. Ai đâu tưởng rằng đang đi về cõi thiên đường trên mặt đất, nơi làm nhiều ăn nhiều, làm ít ăn ít, ngay cả không làm cũng có ăn, nơi lúc nào cũng ngập tràn ánh sáng và tiếng ca, ai tin mặc kệ, chứ ông thì tin rằng cả bọn chen chúc nhau ra bắc là để đi trốn những cuộc trả thù khi chính quyền bù nhìn của tụi Pháp từ Sài Gòn ra tiếp thu. Và điều sâu kín khiến cho ông yên tâm bỏ làng ra đi là thoát khỏi tai mắt của bọn mật thám. Cái tội ăn cắp tiền, chứ không phải được tiền (nói ai tin) dù đã mấy chục năm rồi vẫn cứ phải ra chết già ở đảo Côn Lôn.

Mẹ tôi

Từ Dung  (con gái út Hoàng Đạo)

Bà Hoàng Đạo

Tôi không biết phải bắt đầu ra sao khi viết về mẹ tôi, vì có rất nhiều điều để nói. Cũng có thể dưới con mắt chủ quan, tôi nghĩ bà là một trong những người phụ nữ phương Đông tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Người mẹ dịu hiền mà tôi được may mắn biết đến, với đầy đủ những đức tính về công, dung, ngôn, hạnh của một người đàn bà Á Đông, đã hy sinh cả một cuộc đời mình cho chồng, cho con và cho những nghĩa cử từ thiện ngoài xã hội với nụ cười luôn trên môi cùng chiếc răng khểnh duyên dáng.

Thư góp ý với Đảng Cộng sản Việt Nam

KÍNH GỬI CÁC VỊ LÃNH ĐẠO ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

Trên mạng lưới báo chí và truyền thông đại chúng đã đăng dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII và kêu gọi đảng viên, nhân dân góp ý.

Hưởng ứng lời kêu gọi đó, chúng tôi trân trọng góp đôi điều với Đảng như sau:

1. Đại hội Đảng 13 đang được tiến hành từ cơ sở trở lên theo nguyên tắc tập trung dân chủ được ghi rõ trong Điều lệ Đảng. Dõi theo tiến trình Đại hội từ cấp cơ sở lên đến tỉnh, thành phố, chúng tôi thấy nguyên tắc đó bị vi phạm nghiêm trọng. Ví dụ nổi bật nhất là việc điều động khá nhiều đảng viên về tham gia cấp ủy và nói rõ những đảng viên này sẽ là Bí thư Thành ủy, hay Tỉnh ủy để rồi đại hội sẽ bầu như trường hợp Đảng bộ TP Hồ Chí Minh và Đảng bộ tỉnh Đồng Tháp là ví dụ.

Nước mội, rừng xanh, và sự sống

Nguyên Ngọc

Câu chuyện này nói vào đầu xuân có thể hơi buồn, nhưng nghĩ kỹ lại có lẽ cũng có chỗ thích hợp, bởi vì đây là câu chuyện về màu xanh, màu của mùa xuân xanh. Của sự sống.

Quê tôi ở vùng Nam Trung bộ, đúng cái đoạn mà một nhà thơ từng thống thiết gọi là "dằng dặc khúc ruột miền Trung". Ở đấy, miên man mấy trăm cây số ven biển là những cồn cát lớn, nơi trắng phau một màu trắng tinh khiết đến khó tin, nơi vàng rộm ngon lành trong nắng cháy. Làng cũng là làng trên cát; con người sống trên cát, tử sinh cùng với cát. Tôi có đọc một ít lịch sử và tôi biết, lạ vậy, toàn cát vậy, nhưng đấy vốn không phải là một vùng đất nghèo. Từng có cả một vương quốc thịnh vượng trên dải đất này. Một vương quốc nông nghiệp và hải dương. Có lẽ một trong những bí quyết thịnh vượng của vương quốc ấy là nước, mà thiên nhiên đã rất thông minh giữ và dành cho dải đất thoạt nhìn thật khô cằn này, và con người thì cũng thật thông minh hiểu được món quà quý của đất trời, biết tận dụng lấy cho mình.

Đàn bà xấu và chính quyền

Nguyễn Hoàng Văn

Đem đặt một phụ nữ cực xấu bên cạnh một phụ nữ cực đẹp thì dẫu vô thần hay vô tâm đến đâu đi nữa, ít hay nhiều, chúng ta cũng phải chạnh lòng trước sự bất công của tạo hóa, ông Trời, Trời kia đã bắt làm người có thân. Nhưng khi đó chỉ là hai thân… chữ, như hai nhân vật văn học hay sử học, cái sự bất công này sẽ bị hoán vị, thay ngôi. Gọi là một hiệu ứng mỹ học cũng được, mà gọi là một hiệu ứng tâm lý hay, thậm chí, một hiệu ứng tiếp thị cũng được nhưng, gì thì gì, người đẹp bằng chữ luôn luôn thiệt thòi so với người xấu.

Ngày này, hai năm trước – vụ Chu Hảo

Ngày 25/10/2018, Ủy ban Kiểm tra Trung ương công bố đề nghị kỷ luật Chu Hảo do ông đã viết bài, phát ngôn trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Ngày 26/ 10/2018, Chu Hảo xác định Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản) mà ông gia nhập 45 năm trước "không có tính chính danh", "có nhiều khuất tất, ngày càng thoái hóa, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại" và đề nghị chi bộ "xóa tên tôi trong danh sách Đảng viên". Để ủng hộ Chu Hảo, có ít nhất 13 người tuyên bố bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có Phó Giáo sư, Tiến sĩ Mạc Văn Trang, 54 năm tuổi đảng, và nhà văn Nguyên Ngọc, 62 năm tuổi đảng.
Văn Việt đăng một loạt bài sau đây, như là tư liệu để nhớ vụ việc này.
Văn Việt

QUAN ĐIỂM CỦA CLB LÊ HIẾU ĐẰNG SAU PHIÊN TÒA XÉT XỬ VỤ ÁN ĐỒNG TÂM VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẢI CÁCH CHÍNH TRỊ ĐẶT RA TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG XIII

Phiên tòa xử vụ án Đồng Tâm mở ra ngày 7.9.2020 và kết thúc ngày 14.9.2020 nhưng chỉ làm việc vỏn vẹn trong 3 ngày đầu, thay vì theo dự kiến thì phải kéo dài lâu hơn. Chiều ngày 14.9, Hội đồng Xét xử TAND Hà Nội đã tuyên án tử hình Lê Đình Công và Lê Đình Chức (hai con trai cụ Lê Đình Kình) về tội giết người với cáo buộc họ “chủ mưu, cầm đầu vụ giết người”. Cùng tội danh trên, tòa tuyên Lê Đình Doanh (cháu nội cụ Lê Đình Kình) án chung thân. Bị cáo Bùi Viết Hiểu lãnh 16 năm tù, Nguyễn Quốc Tiến 13 năm tù, Nguyễn Văn Tuyển 12 năm tù. 23 bị cáo còn lại lãnh các mức án từ 15 tháng tù treo đến 6 năm tù giam đều về tội chống người thi hành công vụ.

Đốt sách

Truyện Lê Học Lãnh Vân

Khoảng cuối tháng 5/1975, chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy được phát động. Lệnh ban ra từ trung ương, các đài phát thanh phường ra rả loan tin: “Tất cả các sách vở, tài liệu in ấn trước ngày 30/4/1975 phải đem nộp cho nhà nước”.

Chiến dịch này được nhiều người trong giới trí thức cảm nhận là cú đấm trực diện vào mặt họ. Bởi sách chính là cơm tinh thần của giới trí thức, là phương tiện tối quan trọng để phổ biến, duy trì hiểu biết và đạo đức của xã hội. Ban đầu một số người vẫn chưa tin…

Những tháng năm cuồng nộ (kỳ 5)

Tiểu thuyết Khuất Đẩu

LÃO TIỀN BỐI

1.

Nằm ở tận cuối vườn, dưới bóng một lùm tre lúc nào cũng có lá rơi và bên cạnh những cây sầu đông suốt cả một mùa đông dài cứ lặng lẽ thả xuống từng chiếc lá vàng như kén, cái giếng hình vuông nép mình trong bóng râm như con cháu của Chế Bồng Nga đang co cụm dấu mình đâu đó dưới chân những rặng núi khô cằn của nam Trường Sơn. Giếng xây bằng đá ong, một thứ đá có những lổ hổng bí mật ăn thông với nhau khiến cho người ta có cảm giác như đá có thể thở được và nhờ vậy nước trong lòng giếng lúc nào cũng trong và tinh khiết như nước mắt.

Khuôn mặt chiến tranh trong tác phẩm Y-Uyên

image

Hình bìa tạp chí VĂN, Sài Gòn, số 129, số đặc biệt thương nhớ Y Uyên

(Hình: THT)

Không nỗi ngây ngất nào rực rỡ như nỗi ngây ngất chiến tranh,
phía sau có lửa, phía trước có máu của mình.”
(Y-Uyên)

Trần Hữu Thục

Lúc bây giờ, cái chết nào cũng đột ngột, đột ngột như đóm lửa tàn thuốc chợt tắt ngúm khi vứt vào vũng nước trong bóng đêm. Vừa sáng lóe lên đó và hết. Bốn viên đạn, và Y-Uyên đã chết như thế. Chết bên một giòng suối. Y-Uyên chắc không buồn, nhưng dòng suối, những đám cỏ lơ thơ, xơ xác ở đó buồn. Những người quen anh buồn. Những người không quen anh cũng buồn. Những người không quen anh, nhưng biết anh – không sống trực tiếp bên cạnh anh, nhưng sống những cái nhìn của anh, những cảm nghĩ của anh, những xao xuyến của anh, và như thế có liên hệ với anh, những liên hệ có lẽ thật tình cờ. Tác phẩm của anh đã móc nối những liên hệ đó. Cái chết của anh không cắt đứt chúng và có lẽ trái lại, lên hệ càng sâu sắc, càng thâm trầm. Tác phẩm đã làm lớn, làm rộng hiện thân của anh. Tác phẩm đã đưa anh gặp gỡ loài người, gặp gỡ thật nhẹ nhàng, kỳ vĩ. Tác phẩm đã thuần hóa những khúc mắc của không gian, thời gian. Anh đã chết bên bờ suối, nhưng tác phẩm đã làm anh không chết giữa đời sống. Một Nguyễn Văn Uy, cũng như một ai trong chúng ta đó, quả thật tầm thường. Nhưng một Y-Uyên nhà văn đã phá vỡ sự tầm thường đó. Có thể nhà văn khi viết lên để bày tỏ một thực tại, hắn ta đã thất bại, vì thực tại để sống, im lặng sống – viết lên nói ra là bóp méo cái sinh động, ảo diệu của nó. Có điều, loài người đã yêu mến sự thất bại đó như một thực tại. Vì thế mà không còn thất bại nữa. Y-Uyên nhà văn cũng thế, đã không thất bại qua những công trình của anh, kể cả lúc anh đã chết.

Trường hợp Thủy Tiên và Chương trình cứu trợ quốc gia

Tạ Duy Anh

Thôi, đừng ai èo xèo, thị phi, ghen tức khi Thủy Tiên kêu gọi được hơn 100 tỷ đồng cứu trợ lũ lụt chỉ trong vài ngày. Ở đất nước này, trong thời điểm này, ngoài cô ấy ra, không ai, không tổ chức nào làm được điều phi thường đó. Bi kịch thảm thương của dân tộc là đấy chứ đâu. Qua chuyện này, cả thiên hạ biết rõ (chứ không phải phản động, thế lực thù địch tuyên truyền) niềm tin của người dân vào các cơ quan nhà nước, cụ thể là vào đội ngũ cán bộ mang rất nhiều danh vị, học qua rất nhiều trường, bộ sưu tập huân huy chương, bằng khen giấy khen cực kỳ đồ sộ…hóa ra không có gì để so được với một cá nhân chả bao giờ diễn thuyết về đạo đức cách mạng. Bởi sự tử tế của Thủy Tiên là tử tế thật, sự tử tế mang tinh thần đồng bào, chứ không đầu môi chót lưỡi, giả tạo như của những cái miệng chỉ quen với “nịnh và cạp”, để rồi viết một cái băng rôn cho đúng ngữ pháp cũng không xong!

Thảm kịch

Trương Vũ

Tôi xuất thân từ miền Nam, lớn lên trong chiến tranh. Gần nửa đời sống trên quê hương, trải nghiệm hay chứng kiến bao thảm kịch kinh hoàng của đất nước. Nửa đời còn lại, sống tha hương. Nhìn lại cả khoảng đời dài, bỏ qua bên bao mất mát, bao tàn phá, bao cay đắng từ cuộc chiến cùng cách kết thúc của nó, tôi vẫn thấy mình có nhiều may mắn, như rất nhiều đồng bào khác đang sống ở Mỹ. Một trong những may mắn lớn nhất là đã được hưởng một nền giáo dục có tính khoa học và tính nhân văn cao của miền Nam Việt Nam, và sau đó, ở Mỹ. Rồi, sống và làm việc trong một xã hội nhân bản và đa sắc tộc.

‘Đi, Đọc Và Viết’ tác phẩm mới của Phạm Xuân Đài

Trần Doãn Nho

Mặc dù viết nhiều, viết mạnh, nhưng mãi đến Tháng Mười, 2020, hai mươi sáu năm sau tác phẩm đầu tiên, “Hà Nội Trong Mắt Tôi,” Phạm Xuân Đài mới cho ra đời tác phẩm thứ hai, “Đi, Đọc và Viết,” do nhà xuất bản Văn Học Press xuất bản.

Phạm Xuân Đài (trái) và Trần Doãn Nho, hình chụp năm 2019. (Hình: Trần Doãn Nho)

Đây là một tác phẩm dày dặn, gần 400 trang, trình bày giản dị, nhẹ nhàng, trang nhã. Tạo sao lại có khoảng cách 26 năm? Trong lời nói đầu, nhà văn mà cũng là nhà hoạt động văn hóa tiêu biểu này của Orange County, giải thích: “Những bài tôi viết trong vòng một phần tư thế kỷ qua đều đã được đăng trên báo giấy hoặc báo mạng, có nghĩa là phần nào đã được ra mắt độc giả rồi. Bây giờ gom lại in trong một quyển sách thì cũng tạm coi như một tuyển tập nho nhỏ của tôi vậy.”

Từ Nguyễn Năng Tĩnh, Phạm Đoan Trang đến Nguyễn Đình Quý: Đi tìm một tương nhượng về nhân quyền Việt Nam

Nguyễn Hữu Liêm

Cứ mỗi lần nhà nước Việt Nam bắt giam và truy tố một nhân sĩ theo Điểu 117 hay trước đó Điều 88 của Luật Hình sự Việt Nam thì thế giới và chính phủ Việt Nam lại tung ra những tố cáo lẫn nhau. Gần đây nhất là vụ Phạm Đoan Trang, Nguyễn Năng Tĩnh, hay Nguyễn Đình Quý – phía quốc tế lần nữa lên tiếng chỉ trích, lên án; phía Việt Nam thì phản đối và phủ nhận các cáo buộc vi phạm nhân quyền.

Một tài liệu về phiên tòa xử vụ Nhân Văn - Giai Phẩm

Hồi đầu năm 1960, các báo ở Hà Nội đã loan tin về phiên tòa ngày 19.1.1960 của Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội xét xử 5 bị cáo gồm Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại, Lê Nguyên Chí, liên quan đến việc xuất bản tờ báo “Nhân văn” và các tập sách “Giai phẩm”, nhóm người trên được tòa mệnh danh là “bọn gián điệp phản cách mạng phá hoại hiện hành”. Ngoài mấy bản tin về phiên tòa mà các báo đã đăng, hầu như trên sách báo công khai không thấy công bố tài liệu gì khác về phiên tòa ấy.

Mùa hè năm 2014, trong khi đọc tài liệu tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III ở Hà Nội, GS.TS. Peter Zinoman, hiện là trưởng khoa Lịch sử của Đại học California ở Berkeley, Hoa Kỳ, đã tìm thấy một văn bản liên quan đến phiên tòa năm 1960 kể trên. Đó là một bản tổng kết kinh nghiệm đánh án của viên chánh án tòa án Hà Nội nhiệm kỳ 1955-1965 Nguyễn Xuân Dương, người đã ngồi ghế chánh án tại phiên tòa ngày 19.1.1960, nêu kinh nghiệm triển khai vụ án, từ lúc tiếp nhận hồ sơ do công an chuyển giao, đến các công đoạn bổ sung hồ sơ, xét hỏi các bị cáo, lên kế hoạch phiên tòa, rồi tiến hành phiên tòa, và cuối cùng sơ bộ nhận xét về kết quả phiên tòa.

Đây là một tài liệu hiếm về phiên tòa 19.1.1960. Tuy không phải là văn bản luật pháp chính quy, mà chỉ thuộc loại tài liệu nghiệp vụ trong ngành tòa án, song tài liệu này cũng rất đáng kể có thể giúp người ta hiểu thêm về vụ án mà tòa Hà Nội đã xử ngày 19.1.1960, hiểu thêm về việc giới lãnh đạo thời ấy xử lý vụ Nhân văn - Giai phẩm.

Nguyên văn tài liệu là một bản đánh máy. Tại phòng đọc trung tâm lưu trữ cũng có nhân viên làm scaner hoặc photocopy, nhưng không phải tài liệu nào cũng có thể được phép sao chụp, vì vậy Peter Zinoman đã dành thời gian ngồi chép chậm rãi từng chữ một! Năm 2016, P. Zinoman công bố tiểu luận “Nhân Văn Giai Phẩm ra tòa: Vụ Truy tố Nguyễn Hữu Đang và Thụy An” (nguyên văn tiếng Anh “Nhân Văn Giai Phẩm on Trial: The Prosecution of Nguyễn Hữu Đang and Thụy An”) trên Tạp chí Việt Nam Học (Journal of Vietnamese Studies), số Hè-Thu 2016.

Ngay hồi mùa hè 2014, khi được P. Zinoman cho xem tài liệu này, tôi đã phải thừa nhận với anh, đây là tài liệu rất đáng kể. Gần đây, Nguyễn Nguyệt Cầm, vợ P. Zinoman đã giúp anh đánh máy văn bản kể trên.

Là người được hai bạn cho đọc sớm tài liệu này, tôi xin trân trọng cảm ơn hai bạn và giới thiệu cùng bạn đọc xa gần!

LẠI NGUYÊN ÂN

------------------------------------------------------------------------------

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 275): Bể dâu – Nam Dao (12)

MÙA RỪNG ĐỘNG (12)

XÁC KÉN

Bên kia sông, là nơi chôn nhau cắt rốn. Nếu đi từ đây đến nơi có chiếc cầu vắt ngang, chắc phải đến ba cây số. Bến đò ngày xưa, chỉ cách đây độ trăm thước. Vỗ vào chiếc nạng, Dân thầm nhủ, thôi thì đi đò. Tiếng lộc cộc đều đặn gõ xuống con đường đất nện ven con sông hiu hắt vàng nắng cuối ngày. Dò dẫm từng bước xuống bến, Dân vào cái quán cạnh bờ, gọi một bát nước chè xanh. Bà cụ mắt lèm nhèm ngước lên, toét miệng ra cười. Tay rót nước, bà thân mật:

- Lại phục viên! Ấy, sống được là may. Ðẩy bát nước về phía Dân, bà mở chạn lấy một thỏi kẹo lạc chìa ra - Tôi biếu!

Những tháng năm cuồng nộ (kỳ 4)

Tiểu thuyết Khuất Đẩu

NGƯỜI GIỮ NHÀ THỜ HỌ

Chương 4

Bão đầu mùa!

Con đường hầm mà bọn trộm đào từ bờ sông vào đến tận buồng ngủ, không biết chúng đã đào trong bao nhiêu lâu, nhưng ông bà thủ bản Khâm đã phải mướn đến năm lực điền dùng xe cút kít đẩy đất trong ba ngày mới lấp xong. Họ phải đổ đất và nén chặt từ bờ sông rồi lấp kín lòng hầm, chui xuống đó như bọn trộm, xong mới lấp cái miệng to như cái nia ở giữa buồng. Họ bảo phải làm như thế chứ không phải chỉ lấp ở ngoài bờ sông thôi như nhét một cái nút chai bằng cùi bắp. Chịu sao được với sức mạnh tràn bờ của nước lụt. Đó còn là một cách tránh không cho bọn trộm chui vào một lần nữa. Vì vậy, dù trời có sắp lụt, nước sông có tràn vào soi lên ngập đường, ông cũng không việc gì phải sợ.

Văn học Miền Nam 1954-1975 (691): Y Uyên (kỳ 1)

 

yuyen_59795778990_thumb[4]

Tên thật Nguyễn Văn Uy.

Sinh năm 1943 (theo khai sinh, năm sinh thực là 1940) tại làng Dục Nội, huyện Đông Anh, tỉnh Phúc Yên.

Là con cả trong gia đình có 9 người em.

Năm 1954 cùng gia đình di cư vào Nam, cư ngụ tại Hạnh Thông Tây, Gò Vấp.

Học Trung học tại các trường Trung học Nguyễn Trãi, Chu Văn An (Sài Gòn)

Tốt nghiệp trường Quốc gia Sư Phạm Sài Gòn năm 1964.

Dạy học tại Tuy Hòa, Phú Yên từ 1964-1968.

Nhập ngũ khóa 27 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, mãn khóa chuyển về đóng quân tại đồn Nora Phan Thiết, không lâu sau bỏ mình trong trận phục kích, bên dòng suối, dưới chân núi Tà Lơn ngày 8-1-1969.

Khoảng 4 giờ chiều ngày 11-1-1969, Y Uyên trở về Sài Gòn trong quan tài kẽm phủ quốc kỳ.

10g30 sáng Chủ Nhật 12-1-1969 lớp đất hửng đỏ ở Nghĩa trang Hạnh Thông Tây vĩnh viễn phủ kín anh.

Tạp chí Văn cũng xuất bản một số đặc biệt Thương Nhớ Y Uyên (1969) bao gồm nhiều bài viết của văn hữu và gia đình, bạn bè về nhà văn.

Sau năm 1975, nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, nghĩa trang Quân đội Biên Hòa và Hạnh Thông Tây bị buộc phải di dời, nên hài cốt anh được hỏa thiêu và đặt tại Bảo Tháp cộng đồng chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn.

Riêng bức tượng đồng của anh được đặt tại nhà riêng của cha mẹ, anh em tại Gò Vấp.

Các tác phẩm đã xuất bản:

TƯỢNG ĐÁ SƯỜN NON, tập truyện (Thời Mới, 1966)

BÃO KHÔ, tập truyện (Giao Điểm, 1966)

QUÊ NHÀ, tập truyện (Trình Bày, 1967)

NGỰA TÍA, truyện dài (Giao Điểm, 1967)

CHIẾC XƯƠNG LÁ MỤC, tập truyện (Tân Văn, 1968)

ĐUỐC SẬY, tập truyện (Văn Uyển, 1969)

CÓ LOÀI CHIM LẠ, tập truyện (Tân Văn, 1971)

Hồ Quang Minh (1949-2020)

Nguyễn Ngọc Giao

HQM

Chúng tôi được tin nhà điện ảnh Hồ Quang Minh đã thanh thản ra đi ngày 16 tháng mười năm 2020 tại Sài Gòn, sau hai năm trọng bệnh hiểm nghèo, thọ 71 tuổi.

Theo đúng ý muốn của người đã khuất, gia đình đã hoả táng và không tổ  chức lễ tang.

Diễn Đàn xin thành thực chia buồn với chị Phương Dung và toàn thể tang quyến.

Diễn Đàn

Vượt cạn trong lũ

Trần Mộng Tú

 

 

Người chồng cong mình chạy trên bờ

nhìn người vợ lên chiếc thuyền lá tre

chiếc thuyền chỉ chở được hai người

người chèo thuyền

đưa vợ anh qua sông sanh đẻ

Chiếc thuyền không tới bờ bên kia

người vợ không hoàn thành cuộc “vượt cạn” một mình được

chị đắm giữa dòng

đứa bé chết đuối trong bụng mẹ

 

Người chồng chạy điên cuồng trên bờ

cong mình gào trong lũ

chiếc thuyền xoáy theo dòng

úp hai mẹ con chị

giấu dưới tận đáy sông

 

Chị không nghe tiếng chồng gào khóc

Anh không nghe tiếng chị gọi với lên bờ

Bố không nghe tiếng con kêu vào đời

Bố không nhìn thấy con chui ra từ bụng mẹ

chỉ có con sông

và tiếng nước đập vào bờ

 

image

Hình-Báo Tuổi Trẻ

 

Nước cứ lên

nước trào như nước mắt

nước mắt của người dân nghèo

một đời sống trong “Tai Trời Ách Nước”

 

Tiếng khóc của con người

lẫn vào gió vào lũ

nước mắt hòa vào nước sông

nên không làm sao vớt riêng ra được

 

Người đàn bà đó

không “vượt cạn” được một mình

đã chìm cùng với con

 

Chồng chị chạy điên cuồng trên bờ

nước vẫn thản nhiên dâng

chỉ còn anh và lũ. (*)

 

tmt

(*) Ngày 12 tháng 10. Trong cơn lũ, chị Hoàng Thị Phượng ở Huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế, thuê thuyền qua sông để sanh nở, thuyền lật chết cả mẹ và thai nhi.

Hiến pháp Việt Nam: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp

Đỗ Kim Thêm

Vấn đề căn bản nhất mà Đảng Cộng sản Việt Nam phải đối phó trong Đại hội Đảng XIII là lòng bất mãn cao độ của toàn dân với các chủ trương hiện nay của Đảng mà điểm chủ yếu là dân chúng không tin tưởng về hệ thống chính quyền và uy lực pháp quyền. Việt Nam không thiếu luật pháp, tuy nhiên vấn đề là chính quyền không áp dụng nghiêm minh. Đó sẽ là một thách thức quan trọng mà giới lãnh đạo mới của Đảng phải đối đầu khi đảm nhận chức vụ vào năm 2021.

Thơ Ngu Yên

Nhà thơ Ngu Yên vừa cho ấn hành thi phẩm Một người lưu vong mang bệnh động kinh.

Những ai từng đọc Ngu Yên, từ Thơ đến Phê bình, Dịch thuật đều dễ nhận ra những trải nghiệm, những thể nghiệm, những cuộc phiêu lưu không ngừng nghỉ của ông trong lĩnh vực văn chương.

Ông từng nói: “Mỗi khi Ngu Yên cho in một tập thơ, tức là chuẩn bị cho một chuyến phiêu lưu khác”.

Vậy, có thể coi, Một người lưu vong mang bệnh động kinh là kết quả của một cuộc phiêu lưu đã qua. Và, người đọc có lý do để chờ đợi một Thi phẩm khác.

Nhân dịp này, Văn Việt xin giới thiệu cùng bạn đọc Tiểu luận Khả năng xâm nhập của Thơ của ông và một chùm thơ trích từ tập thơ mới.

Văn Việt

Ngô Thế Vinh, vết thương chưa thực sự lành*

Nguyễn Thị Khánh Minh

Bài viết nhân dịp tập truyện song ngữ “Mặt Trận Ở Sài Gòn / The Battle of Saigon” tái bản, tháng 10/2020

clip_image001[4]

Khi chỉ mới đọc truyện đầu tiên, truyện mang tên của tựa đề cuốn sách, Mặt Trận Ở Sài Gòn của Ngô Thế Vinh, tôi đã có ước muốn, được hỏi ngay, những anh hùng mà ông đề cập đến trong truyện này, hiện giờ họ ở đâu, họ ra sao, và tôi muốn gửi đến họ, rất muộn, lòng ngưỡng mộ, tri ân và cả nỗi sầu buồn. Và tôi cũng muốn nói ngay với tác giả, khi đọc tới đoạn này, tôi đồng tình với chủ trương của các nhân vật trong truyện:

… “Diều Hâu” là biệt danh ông bác sĩ đặt cho tính hiếu chiến của tôi. Xem ra ai cũng có vẻ bực bội về những tin tức xáo trộn ở Sài Gòn. Ông tiếp:

- Tụi sinh viên có đứa nào bất mãn, Diều Hâu cứ việc hốt hết đem lên căn cứ 7 giao cho tôi.

… Cầm lấy ly rượu như muốn bóp vỡ trong tay, thiếu tá Bính giọng gay gắt hơn:

- Cứ để tôi thì khỏi cần tốn phi tiễn với lựu đạn cay. Chỉ cần mấy cỗ đại liên trí mấy đầu phố.

Xem ra chính trị đã làm phân hóa giữa chúng tôi. Rồi ông quay sang hỏi ông Bác sĩ:

- Sao Docteur Zhivago, ông nghĩ sao về tụi sinh viên tối ngày chỉ biết có biểu tình phá rối ấy? (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 27-28)

Nếu ngược về năm 1971-1972, đọc đoạn trên thì tôi sẽ rất bất mãn với thái độ của mấy ông quân nhân này. Dạo đó tôi đang là sinh viên năm thứ hai Luật, và là cảm tình viên của phong trào sinh viên phản chiến. Hồi đó chúng tôi rất không ưa, hơn nữa còn gọi là -đám lính cảnh sát đàn áp- biểu tình. Ngày ấy, với bọn chúng tôi, dường như hình ảnh sống có lý tưởng, là phản chiến, là hô hào bãi khóa, xuống đường, chống chế độ, và… nghe nhạc phản chiến. Ai đã dựng nên hình ảnh ấy và đã-thành-công trong việc hướng dẫn cái nhìn của lớp trẻ một thời? Và cứ thế, chỉ biết phản chiến, lên án chiến tranh và gần như coi nhẹ số phận đau đớn, bi thảm của người lính hy sinh mạng sống cho một cuộc chiến đang bị phản đối khắp nơi! Quá tiếc là ngày đó đã không được đọc tác phẩm này, mà nghĩ ra đó là lỗi của thông tin, dân vận của Việt Nam Cộng Hòa đã đánh giá sai tác phẩm này để đưa đến cấm đoán và truy tố tác giả. Thực sự nếu người ta được đọc nó nhiều hơn ngay lúc đó thì đã không có cảnh phân hóa giữa quân dân như vậy, hơn nữa nó sẽ là chiếc cầu nối tình cảm rất hữu hiệu giữa tiền tuyến hậu phương, và như thế sẽ có một khối sức mạnh của sự đồng lòng. Đáng tiếc. Đứng về phía miền Nam thì, nếu hồi đó họ ý thức được như Phúc: Hoàng gốc phản chiến nhưng lại luôn luôn lên án một phía; Phúc không kìm hãm được nói: - Nguyền rủa chiến tranh một bên có giải quyết được gì không hay chỉ làm nản lòng những người đang chiến đấu! (Chiến Trường Tạm Yên Tĩnh, tr. 76). Họ đã không nhận thức đúng để vừa chống mặt phi nhân tàn ác của chiến tranh, đồng thời, có được lập trường sáng tỏ rằng, đó là cuộc chiến bảo vệ cho sự sống còn của miền Nam Việt Nam. Trong khi đó ở miền Bắc thì họ có một khối gắn bó giữa quân dân. Để rồi… miền Nam bị xóa tên, bức tử một đội quân mà nếu không có những người viết như Phan Nhật Nam, Cao Xuân Huy, và nói ở đây, một Ngô Thế Vinh của Mặt Trận Ở Sài Gòn thì có lẽ cái ánh sáng của hy sinh bi thương, hùng tráng kia không soi được đến trái tim mọi người, để biết rằng nếu không có một sự nhìn nhận đúng mức giá trị sự hy sinh của họ thì chúng ta đã nợ họ một sự nhìn lại đúng nghĩa, công bằng, đã nợ họ một sự tri ân, một nghiêng mình rơi lệ. Họ đâu phải là một đội quân vô danh, đâu thể để họ biến mất một cách phi nhân như vậy. Họ là anh hùng. Họ đã chết cho quê hương. Và họ là anh linh. Có thể muộn màng, nhưng không thể để không bao giờ, nói lên… Hẳn khi viết những câu truyện này, Ngô Thế Vinh cũng đang bóc từ từ trong đau đớn từng lớp vết thương tâm thức.

Như con dấu nung

Đóng vào trái tim chàng

Chàng cúi xuống ngực mình

Từ tốn bóc…

(Trần Mộng Tú – Vết Thương Không Chảy Máu Của Chàng, tr. 13)

Hãy cầm cuốn sách ấy lên, lật từng trang, nhẹ như mở vết thương…

Nhìn gương mặt trẻ trung của những người lính ở trang bìa cùng hàng chữ “Tưởng nhớ những đồng đội không bao giờ trở về…” tôi đã những muốn khóc… Tôi thở sâu và biết mình phải lấy can đảm khi nhập vào không gian này của Ngô Thế Vinh, một tác giả mà theo nhận xét của Hoàng Ngọc Nguyên:

… Đối với một tác giả như Ngô Thế Vinh, cuộc sống từ thời thơ ấu đã từng trải từ bắc vô trung và vào nam; trường học đã đi từ Khải Định Huế đến Chu Văn An Sài Gòn, rồi trường Y Khoa; và những năm làm y sĩ tiền tuyến tại những chiến trường xa xôi, heo hút đẫm máu vùng Tam Biên (Việt-Miên-Lào) cho đến ngày mất nước… cuộc đời của ông đã thừa sự phong phú mà không cần vay mượn sự tưởng tượng.

... Ông có đủ sự tự hào và tự tin về mình để nói lên và tìm cách diễn đạt những gì mình quan sát, nhận định, suy tư mà người nghe, người đọc có thể đón nhận. Mặt khác, ông cũng có đủ sự khiêm tốn cần thiết của một người hiểu được sự nhỏ bé, bất lực của con người trước “bể khổ mênh mông”… (Hoàng Ngọc Nguyên – Đi Tìm Sự Yên Tĩnh Với Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 214-215)

Đúng vậy, những điều ông viết đều từ kinh nghiệm thực sống, nên vậy mà những suy tư, nhịp tình cảm của ông đập trên lời văn lôi những con chữ sống dậy lan tỏa vào tâm tình người đọc để cùng theo nó, vui buồn, đau đớn, phẫn nộ. Chữ của Ngô Thế Vinh là chữ sống. Văn Ngô Thế Vinh đầm đẫm cái đẹp bi thương đến não nùng. Đẹp, đến từ cảm xúc trung thực, ở tình tự nhân bản, ở trái tim nhân ái, ở sự hiểu biết sáng suốt, sâu sắc và trầm tĩnh. Tất cả những thứ đó làm nên một văn phong Ngô Thế Vinh đầy hấp lực, hiện thực, quyết liệt mà không thiếu cái nhìn thơ mộng của một tâm hồn nhạy cảm, chính yếu tố này khiến lồng trong tình huống dữ dội đã chừa lại cho người đọc một hơi để thở, phút ngưng lại nhẹ nhàng…

Trong truyện đầu tiên, Mặt Trận Ở Sài Gòn, hiện lên một quá khứ để nhìn lại tất cả, nhìn lại mình, đã như thế nào ở tuổi hai mươi, giai đoạn đẹp nhất của đời người, buồn thay, cái thời mà như Hoàng Ngọc Nguyên nói “chúng ta chỉ có một thời để sống” đã trôi qua với đầy vết tích buồn bã. Ôi các bạn thời hai mươi của tôi, giờ ở những đâu, có đọc Mặt Trận Ở Sài Gòn, để như tôi lúc này, đối diện với quá khứ, âu là một cách giải tỏa nội-kết bao lâu nay…

Trong tản văn Lần Theo Mộng Ảo Mà Về, năm 2013, tôi có viết: “… Một thời sinh viên chúi đầu vào sách vở, cho đến một ngày, đến trường bỗng ngỡ ngàng, bọn con gái chúng tôi hỏi nhau với giọng thảng thốt, sao lớp vắng thế này, bọn con trai đâu cả? Ra năm đó nếu tôi nhớ đúng, 1972, vừa có một luật động viên đôn quân, tôi lúc đó như bị va đầu vào tường, cú đập choáng người. Đã từ bao lâu sinh viên Sài Gòn -như tôi- lúc đó đi bên lề cuộc chiến? Đã bao lâu rồi? Dân Sài Gòn luôn tin rằng Sài Gòn là một ốc đảo mà con sóng của chiến tranh không thể đổ vào bờ. Đã bao nhiêu người tin rằng Sài Gòn là biên giới dừng lại của đường đi súng đạn, chủ nghĩa? Tôi mắc cỡ và cảm thấy như có lỗi... Chúng tôi như những viên gạch lát ngô nghê. Chỉ biết nghêu ngao những điều vô nghĩa trước một thực tế, máu của người dân hai miền đã đổ và thanh niên không ngớt bị tung ra chiến trường.”

Vậy đó. Lớn lên cùng cuộc chiến, rồi khi qua cơn “thay đổi sơn hà 1975” thì mới vỡ ra được nhiều điều… Hồi đó khi những thành phố, thủ đô Sài Gòn còn yên bình, không ít lớp thị dân sống như thể đô thị này, chiến trường kia là hai thế giới hoàn toàn khác. Rất đúng khi người lính đã có phản ứng:

mà hơn thế nữa, giữa quê hương còn một thứ xã hội trên cao lộng lẫy sáng choang và thản nhiên hạnh phúc. Cái thế giới khác xa họ, chỉ có ngào ngạt hương thơm và những hưởng thụ thừa mứa. Của một đám người kêu gào chiến tranh nhưng lúc nào cũng ở trên và đứng ngoài cuộc chiến ấy.

Rồi những người lính bơ vơ tự hỏi, cầm súng họ bảo vệ cái gì đây? Không lẽ cho một con thuyền xa hoa ngao du trên dòng sông loang máu, nổi trôi đầy những xác chết đồng loại. Cho sự an lạc của một dúm xã hội trên cao, cho những chăm sóc của những con chó con ngựa hơn cả tang thương của kiếp sống? Với những người trẻ tuổi chỉ biết sẵn sàng, lúc nào cũng sẵn sàng chấp nhận hy sinh cả tính mạng của họ để chiến đấu với kẻ thù ngoài chiến trường - tại sao bỗng dưng lại đưa họ về thủ đô. Không lẽ những mộng tưởng binh nghiệp chỉ có thể biến chúng tôi thành những tên gác dan cho bọn nhà giàu, một thứ cảnh sát công lộ chỉ đường trên dòng luân lưu của lịch sử. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 30)

Để hiểu tâm trạng của người lính khi về trấn giữ thủ đô: … rằng chiến trường sắp tới của chúng tôi sẽ chẳng phải là núi rừng Tây nguyên, mà đích thực là một cuộc chiến tranh trong thành phố … Rằng không phải chỉ ở chốn xa xôi biên cương mà đích thực chiến-trường thách-đố của họ phải là ở Sài Gòn... (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 22, tr. 31)

Mà oái oăm, họ đã cảm giác mình như bầy thú hoang lạc về thành phố: … Không nói ra, ai trong chúng tôi cũng cảm thấy mỏi mệt trước khi dấn thân vào cái chiến trường buồn tênh ấy. Chỉ quen với rừng rú, xuống đó đám lính của tôi sẽ như bầy thú hoang về thành - lạc lõng bơ vơ. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 29)

Họ bị tiêu hao bao nhiêu sức mạnh khi bị cô đơn ở hậu phương? Đáng lý nơi đó phải cho họ thêm năng lượng mới đúng! Và mấy ai trong cuộc biểu tình hiểu được thế lưỡng nan của người lính nhận trách nhiệm ổn định an ninh đô thị:

… Nếu rõ ràng nhiệm vụ được giao phó là sự có mặt lâu dài ở Sài Gòn, tôi sẽ xin được rời khỏi đơn vị để về một bệnh viện nào đó trên cao nguyên; mặc dù trước đây tôi vẫn tâm niệm rằng đơn vị này là nơi duy nhất tôi đã lựa chọn cho suốt thời gian quân ngũ của mình… Một đằng là những người lính mà ông có bổn phận phải chăm sóc, một đằng là những thanh niên sinh viên đang tham dự cuộc đấu tranh, mà quan điểm của họ được chính ông có phần chấp nhận và chia sẻ. Rõ ràng chúng tôi chỉ là một bánh xe nhỏ trong một guồng máy lớn lao… (Mặt Trận Ở Sài Gòn tr. 29, 28)

“Chúng tôi” trong câu nhân vật bác sĩ này nói không chỉ riêng là các anh, mà bao gồm cả chúng tôi, cả con dân nước Việt trong một guồng máy mà ở đó không ngớt tóm lên và quăng thanh niên vào trận địa … để chỉ còn là thụ động chấp nhận - như một định mệnh, đi vào cuộc chém giết vô tri giác… (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)

Trong bối cảnh thời “Việt Nam hóa chiến tranh”, Mỹ quyết định bỏ rơi đồng minh, chua xót bi phẫn làm sao, khi lính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu trong tình huống và tâm trạng, như Tim Page đã nhận định: “… có rất ít sách đề cập tới quan điểm từ miền Nam, từ góc cạnh của những người thất trận nhưng họ đã từng chiến đấu và tin tưởng ở một nền Cộng Hòa miền Nam mới khai sinh. Ngô Thế Vinh qua kinh nghiệm của một y sĩ trong một đơn vị Biệt Cách thiện chiến đã đem tới cho chúng ta những lý giải và soi sáng về những tình huống lưỡng nan ngoài trận địa…” (Tim Page, Life – Time, UPI Freelance Reporter, tr. 226-227)

… Ý thức sáng suốt rằng khoảnh khắc nữa đây, chúng tôi sắp từ cửa trực thăng nhảy xuống đất Miên, cùng với tin thời sự Tổng thống Mỹ Nixon sắp sang Bắc Kinh rồi Mạc Tư Khoa chuẩn bị cho một giai đoạn giải kết, để rồi chỉ còn sự đối đầu thù nghịch trơ trẽn giữa những người Việt, như một chia lìa lịch sử, một thảm cảnh không thể tránh… một thứ đấu trường mà chỉ có người Việt là những tên giác đấu hung hãn với võ trang là mâu thuẫn ý thức hệ và cả sự u mê… Không phải chỉ bởi súng đạn mà chính những bế tắc tinh thần đã khiến chúng tôi không còn khả năng suy diễn một điều gì. Đầu óc chỉ còn là một khối chất xám vữa nát, để chỉ còn là thụ động chấp nhận như một định mệnh, đi vào cuộc chém giết vô tri giác. Còn lại chăng, là thổn thức một trái tim Việt Nam chưa đổi khác, không còn biết hân hoan mà chỉ còn chung một nỗi hận thù đau đớn... (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)

… Những người lính cầm súng ý thức đã phải chiến đấu với lòng tổn thương và hoàn toàn mất tin cậy bên cạnh một đồng minh chỉ biết đặt quyền lợi của họ lên trên cả những mục tiêu tranh đấu tối thượng của dân Việt. Còn riêng đối với Bắc quân, việc phải thí mấy chục ngàn quân để đạt mục tiêu có giá trị chiến lược là điều rất có thể và rất dễ làm. Đó là lý do khiến chúng tôi đã phải vừa cầm súng chiến đấu vừa phải tự ước lượng mức độ của cuộc chiến tranh trong màn hỏa mù để không tự biến thành một đống tro than trong những giờ tàn của cuộc chiến… (Dấu Ngoặc Lịch Sử, tr. 50)

… Từ một quan niệm hết sức đơn giản, phục vụ tổ quốc bằng cái chủ nghĩa kỳ cùng, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, tôi đã không thể quan niệm có chính trị trong tập thể quân đội và dứt khoát không muốn dính dáng đến nó. Nhưng dần dà, với dạn dày những chung đụng, tôi thấm thía hiểu rằng không phải chỉ có cầm súng, nhưng chúng tôi còn đang bị xô đẩy vào những hoàn cảnh lắt léo của một thứ chính trị vây bủa. Đã tới lúc người lính phải xác định cái vị trí hoàn cảnh của mình và tự hỏi tại sao lại đang phải chịu rất nhiều hy sinh và tiếp tục cầm súng chiến đấu. (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 59)

TÍNH NHÂN ÁI, TÌNH NGƯỜI TRONG MẶT TRẬN Ở SÀI GÒN

Sống trực tiếp trong cảnh khốc liệt của chiến trường, chứng kiến những ra đi đau đớn của đồng đội, mà khi nói về phía bên kia không một giọng hằn học, chỉ là tường thuật sự kiện trung thực, với thái độ chấp nhận một cách trầm tĩnh của một người hiểu thấu sự thúc thủ của những con ốc trong một guồng máy, và với cái chết tới bất cứ phút nào. Tôi rất ngưỡng mộ cái tính cách kẻ sĩ, đại trượng phu của ông, mà được vậy nhờ gốc rễ tình người trong ông, xin trích:

Và chúng tôi đã sẵn sàng ở vị thế tấn công. Sẽ chẳng còn phân biệt nào trên đấu trường. Không có đối thoại giữa súng đạn. Và chỉ còn những người Việt anh dũng hai phía, tự nguyện đem thân làm đuốc hâm nóng cuộc chiến Đông Dương (Nước Mắt Của Đức Phật - tr. 40). Tôi muốn tô đậm câu Và chỉ còn những người Việt anh dũng hai phía… Đã có mấy ai viết về chiến tranh mà nhìn nhận thẳng thắn phía đối đầu như thế?

… Và năm nay, riêng chiến dịch Đông Xuân, với cao điểm Mùa Mưa theo phát ngôn viên chánh phủ, đã kết thúc bi thảm cho phía những người chiến sĩ Giải phóng... (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 22)

Những danh xưng ông dùng chỉ phía bên kia cho ta thấy một cung cách điềm đạm, anh và tôi, mang cùng thân phận, trong một cuộc đối đầu mà ông chua chát – sự đối đầu thù nghịch trơ trẽn giữa những người Việt (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)

Tính nhân ái thể hiện rất rõ trong truyện Hòa Bình Không Sớm Hơn, trải qua một cuộc hành quân sống chết ở rừng già cao nguyên năm 1971, mà nhân vật Hổ Xám vẫn có được cái tình cảm rất hòa bình, rất con người, với tù binh:

… Gã tù binh còn rất trẻ, tuy ốm xanh xao nhưng khuôn mặt lanh lợi và ánh mắt thì say đắm. Hắn gợi cho tôi hình ảnh đứa em trai tử trận cũng trên vùng thảo nguyên này cách đây không bao lâu. Lòng tôi như sôi lên một tình cảm rất khó diễn tả: vừa giận dữ vừa xen lẫn thương cảm. Nhưng rồi cái khuôn mặt trẻ thơ ấy đã khiến lòng tôi nguôi ngay lại … … Không phải chỉ vì nhu cầu nguồn tin tức cần khai thác, mà thật giản dị tôi tự thấy có bổn phận phải cứu sống nó. Ánh mắt nó nhìn tôi tin cậy … Tôi thì vẫn thành thật tin tưởng rằng hắn sẽ không sao cho tới khi cùng Đại Đội về đến căn cứ. Vả lại trong thâm tâm tôi muốn được có mặt, tham dự trong cách đối xử mà tôi nghĩ sẽ khác hơn riêng đối với hắn. (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 60, 61)

khi nghe tiếng vỗ cánh của đoàn trực thăng sà trên bãi thì vẻ mặt hắn biến sắc và để lộ một vẻ sợ hãi khủng khiếp … hắn chỉ kịp quơ tay về phía trước níu lấy tôi kêu thất thanh một tiếng “Anh” rồi ngã rũ xuống và chết tốt … Tôi đưa tay vuốt mắt hắn, mi mắt còn ấm nóng khép lại dễ dàngThôi ngủ đi! Tôi nhủ thầm dịu dàng và chưa bao giờ lại thấy gần gũi thân thuộc với cái chết đến như thế. (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 62, 63)

Ở chiến trường có những cái chết khó có thể hình dung nổi, như người tù binh trên, chết chỉ vì nghe tiếng máy bay sà xuống, như dùng xác chết thành một thứ bẫy để giết thêm người, và chết oan khốc Xác của những người bạn bị oanh kích lầm với thứ hỏa tiễn mũi tên xóa tan cả mặt mũi, và…

Xin đọc đoạn văn cảm động sau, để ngậm ngùi thương cảm cho tình tự mong manh của nhân vật Hổ Xám, và cũng gây cho ta được niềm tin vào sự tồn tại của tính nhân bản: “Cổ họng như đau thắt, tâm hồn tê mỏi nhưng tôi chẳng thể nào có được một giọt nước mắt để khóc. Trong thâm tâm tôi rất muốn được khóc” (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 64)

Đó là gì nếu không phải là Tình Người?

Đây cũng là một đoạn văn tả cảnh rất hay khiến tôi thấy được cái hoang liêu đìu hiu mấy gò, gió ù ù thổi… (Chinh Phụ Ngâm) của bãi chiến trường, càng thấm cái “tê dại, vô cảm” của nhân vật khi nhìn xuống xác tù binh cô đơn trên bãi.

… Lúc này, riêng tôi thấy là nhẫn tâm khi phải bỏ xác hắn tại bãi. Khi tôi là người cuối cùng bước lên trực thăng, con tàu vội vã bốc vọt lên trên một nền trời ủ dột đang vần vũ kéo tới những đám mây bão. Nhìn xuống bãi, gã tù binh vẫn bất động nằm yên như im ngủ, phủ trên mình thay cho lá cờ chỉ là một chiếc võng xanh xao. Cũng đành để hắn ở lại với rừng núi quạnh hiu, và riêng mang theo trong tôi cái tình cảm day dứt khó tả. Phải chi còn đủ thời gian để đào xong một chiếc huyệt cho dù chỉ đủ vùi nông thân xác hắn.

Gió lộng từ những cánh quạt trực thăng, tạt những cụm mây đầy hơi ẩm vào da mặt tôi buốt rát. Da thịt tê dại, cả tâm hồn cũng tê dại, gần như vô cảm, tôi không còn suy nghĩ hay phản ứng được gì … Trung sĩ cận vệ thân tín lên tiếng nhắc tôi và cố nói to. - Em thấy là Hổ Xám quên. “Không, lần này không phải là tao quên.” Nó nhắc tôi việc gài một trái lựu đạn rút kíp dưới xác người tù binh mới chết phải bỏ lại dưới bãi. Hơn một lần địch đã hành động như vậy và gây cho chúng tôi tổn thất. Nhưng ở lần này thì tôi lại nghĩ rằng cho dù có làm thêm một cạm bẫy xác nữa, gây thêm được một vài chết chóc, không vì thế mà ngày mai Hòa Bình sẽ trở lại sớm hơn. (Hòa Bình Không Sớm Hơn, tr. 64, 65)

NHỮNG NHỊP DỪNG THƠ MỘNG TRONG KHÓI LỬA

Bên cạnh những đau thương cảm động của tình đồng đội, không khí ngộp thở của chiến trường, như tôi đã nói ở trên, có những đoạn văn tả cảnh với những ngôn từ, hình ảnh buồn diễm lệ, khiến nó như một nhịp dừng cho người đọc quên lãng căng thẳng. Trong người lính Ngô Thế Vinh là một người thơ, nhạy cảm và chan chứa tình người. Người lính ấy trên đường hành quân ghi nhận lại những suy tư, những cảm xúc trước cảnh vật với cái nhìn tinh tế, những dòng văn như khúc đàn bi ai được gẩy lên bởi sự đồng điệu giữa tâm hồn người và cảnh sắc.

… cứ vào đầu mùa mưa, chúng tôi cùng những đơn vị bạn từ vùng đồng bằng châu thổ, ùn ùn kéo lên cao nguyên để tao ngộ với những đại đơn vị địch quân – để tranh nhau một vài ngọn đồi trơ trụi hay giành giật một khúc lộ trống… (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 22)

Bạn cảm xúc sao với chữ “tao ngộ” dùng chỉ sự chạm trán một trận chiến? Cách dùng chữ của ông nhà binh Ngô Thế Vinh có dụng ý hay không, để giảm bớt nguy cơ nhồi máu cơ tim cho người đọc khi kéo họ vào không khí khiếp đảm của chiến trường? Những hình ảnh tỷ dụ, những động từ được dùng một cách rất tượng hình, đẹp, lạ, và chính xác đến ngỡ ngàng làm tôi muốn trào nước mắt, tôi biết nhờ hồn thơ bi cảm đã giữ cho ông còn được năng lượng để tiếp xúc, để rung động với cảnh vật thiên nhiên trong tình huống sinh tử:

… Vào buổi sáng tinh sương ngày N, khi sương mù còn bao phủ mờ mịt núi rừng quanh ngọn đồi 1003, từ trên cao trên cả những đám mây, trong sự hồi hộp của mọi người, chiếc trực thăng cán gáo như một chiếc lá, đã bất chợt rơi nhẹ nhàng xuống căn cứ an toàn… (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 25)

... Xác của người phi công được trực thăng móc ở rừng ra, héo rũ trên dây treo như cách người ta câu về những con thú. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 27)

… Tách khỏi đội hình, giảm dần cao độ, chiếc tàu thả chếnh choáng trên những ngọn cây... (Nước Mắt Của Đức Phật- tr. 40)

… Bầu trời cực trong xanh và không mây. Không có dấu hiệu của một thời tiết sắp xấu. Những ô ruộng loang loáng nước. Ngọn núi Bà Đen ở phía xa đàng sau - hiện diện như một lầm lỡ của hóa công, một dị dạng của địa hình châu thổ - trơ trụi nhô lên từ mặt phẳng xanh đồng bằng. Ngọn núi chứa đựng nhiều kỳ bí và huyền thoại. Nơi của muỗi độc, sốt rét rụng tóc và của những trận đánh kinh hoàng. Nơi còn vùi xác của những đồng bạn ở cuộc hành quân cách đây bốn năm trước. Những đêm trăng rừng còn như in trong óc, trăng ở Bà Đen cũng mang bộ mặt xanh xao như bị sốt rét ngã nước. (Nước Mắt Của Đức Phật - tr. 36-37)

… Nhớ lại hôm gặp Tom trên cánh đồng trải dài đến tận chân núi đá; từng đàn dê lổ loang trên đó, một chú dê đực cắt hình trên nền trời từ một mỏm đá thật cao. Biển xanh phẳng lặng phía xa, rải rác những cánh quạt gió chuyển động chậm, kéo nước biển lên những ruộng muối đọng trắng ... Từng cơn gió nồng thổi trườn trên những thửa đất bốc hơi co rút. Cảnh đồng quê sau lũ lụt lại mang vẻ khô héo xác xơ như mùa hạn. (Chiến trường Tạm Yên Tĩnh, tr. 71, tr.76)

… từ đồng ruộng xanh dưới kia đã nổi bật chiếc mái cong, kiến trúc đặc biệt của những ngôi chùa tháp. Làng xã không mấy khác làng xã của Việt Nam nhưng khang trang hơn. Những mái nhà ngói đỏ san sát, xen lẫn những mái tranh xám. Ngọn khói lam của buổi chiều, lũ trẻ nhỏ và đàn trâu bò về chuồng. Khung cảnh nên thơ của một khoảnh đất Á châu còn chút thanh bình kia liệu sẽ còn kéo dài thêm được bao lâu nữa hay thực sự đã qua rồi…. Đàng xa về phía nam, nắng chiều rắc vàng trên dòng Cửu long bao la đầy cá và phù sa. Chập chùng là những cánh rừng cao su tiếp nối với rừng già. Cũng đã hiện ra những ngôi làng trơ trụi bỏ hoang với từng dãy hố bom B52 cày nát. Không còn dấu hiệu người và sinh vật ở dưới đó. Lại như một Dakto, Khe Sanh hay Sơn Mỹ của Việt Nam? Bom đạn giữa những người Việt đã xô dạt những người Khmer kia đi về đâu? Cả xứ Chùa Tháp này đi về đâu? Trong cái mênh mang của cơn say lịch sử, có ai nghĩ được rằng cuộc chiến đang diễn ra giữa những người Việt lại có thể xóa nhòa một nền văn minh Angkor cổ kính. Và trong cái hoang vu lặng lẽ của buổi chiều tàn, giữa ngôi làng đổ nát kia, tôi tưởng tượng rằng vẫn còn một người đàn bà không rõ mặt mũi vẫn ẩn nhẫn ngồi ôm đứa con ru cho bú. Phải chăng vẫn còn hình ảnh an ủi tuyệt đẹp và ngàn năm của ý nghĩa tồn sinh nhân loại… (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 39)

Trên là đoạn tả cảnh cùng suy tư không phải của một người đang ngồi trên máy bay du lịch, mà là suy tư của một người lính sắp được thả vào chiến trường - Ở đó con người chẳng thể định đoạt được gì ngoài sự chấp nhận rủi may như một định mệnh - Cái đẹp ở đây là cái đẹp của bi hùng, vừa sầu buồn vừa cao cả - một thứ tâm hồn Ngô Thế Vinh-, như trong đoạn kết chuyện Nước Mắt Của Đức Phật:

Và cũng không xa Cục R bao nhiêu về hướng Đông Bắc, sau bảy ngày thất lạc trong hoang vu của rừng già, có hai bóng ma lần mò được vào một ngôi làng đổ nát, người được cõng trên vai gần như đã chết. Và suốt trong đêm hôm đó tại một ngôi chùa Miên bỏ hoang, có một người lính Công giáo Việt Nam kiệt quệ và đau khổ, quỳ gối bên xác một đồng bạn, mắt đẫm lệ hướng lên vẻ mặt an tĩnh của Đức Phật thành tâm cầu nguyện cho linh hồn người bạn xấu số sớm được giải thoát. Và bên ngoài trời cơn mưa bão vẫn tràn trề. Gió lung lay cả đêm dài vô minh đang bao trùm khắp Á châu lục địa. (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 42-43)

Ở đây, có vẻ mặt an tĩnh của Đức Phật mắt đẫm lệ của người lính đang cầu nguyện cho linh hồn người bạn chết trên vai. Bạn ơi, có phải Nước Mắt Của Đức Phật đang thị hiện qua nước mắt đang rơi trên mặt người lính sống sót kia? Nghĩ thế tôi càng ngưỡng mộ tác giả khi lấy tựa đề như thế để rồi kết một đoạn như khai-thị cái niềm tin sâu sắc, Phật tánh trong mỗi con người, người lính ấy trong giây phút vô cùng đau khổ đã nhỏ những hạt nước mắt Phật, đã là một vị Phật. Đó là một thông điệp của tác giả.

VẾT THƯƠNG CHƯA LÀNH

Nói đến nỗi đau, vết thương tâm, ở trong tập truyện này ta thấy những hình ảnh như,

Từ sáu năm rồi mà vẫn tưởng như mới hôm qua với cơn đau lột da ấy. (Giấc Mơ Kim Đồng, tr. 70)

… Cũng phải kể tới vết thương khác không chảy máu Bloodless Wounds PTSD - hội chứng tâm thần sau chấn thương ở những năm sau khi anh đã trở lại nước Mỹ… (In Retrospect – Nhìn Lại, tr. 104)

… Những vết thương chưa bao giờ thực sự lành (In Retrospect – Nhìn Lại, tr. 109) nơi những người sống sót.

Phan cũng tự hỏi đến bao giờ, cả chính chàng nữa mới thực sự thoát ra khỏi cuộc chiến tranh đã vào quá khứ từ 17 năm rồi. (Một Bức Tường Khác, tr. 101)

… cùng với tin thời sự Tổng thống Mỹ Nixon sắp sang Bắc Kinh rồi Mạc Tư Khoa chuẩn bị cho một giai đoạn giải kết, để rồi chỉ còn sự đối đầu thù nghịch trơ trẽn giữa những người Việt, như một chia lìa lịch sử, một thảm cảnh không thể tránh… (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 40)

Một thảm cảnh như vết sẹo lồi nhô hoài trong tâm thức, mỗi khi cào lên lại thốn đau. Không chỉ người Việt, đồng minh Mỹ ngoài hơn năm chục ngàn lính Mỹ bỏ thân nơi chiến trường Việt Nam, số thoát được khỏi đêm dài vô minh (NTV) ấy trở về thì mang đầy thương tích về thể xác lẫn tâm hồn, di chứng của chiến tranh khiến họ không thể bình thường hội nhập trở lại trên chính quê nhà của họ.

… Jim thường xuyên phải sống trong những cơn ác mộng và hồi tưởng buồn bã về các kinh nghiệm chiến trận đau thương ở Việt Nam. Hắn cảm thấy phẫn nộ vì sự thờ ơ và cả thiếu kính trọng của xã hội đối với hắn và các bạn đồng đội, lẽ ra khi trở về chúng tôi phải được đối xử như những anh hùng... (Một Bức Tường Khác, tr. 99)

… Đã không thiếu những cuộc duyệt binh với rừng cờ sao và sọc và cả rực rỡ những dải băng vàng để chào mừng những người lính như những anh hùng trở về sau cuộc chiến tranh chớp nhoáng mấy tuần ở Vùng Vịnh Desert Storm và rồi cả với những cuộc chiến tranh khác; nhưng hình như đã không có một đối xử như vậy đối với những người cựu chiến binh trở về từ Việt Nam… Họ, đa số là những cựu chiến binh Việt Nam bị lãng quên; phải chăng chỉ vì họ bước ra từ một trận chiến đã không có được chiến thắng vinh quang hay nói trắng ra là trận chiến mà lần đầu tiên nước Mỹ đã bị thua… Họ đã hy sinh một phần đời tuổi trẻ của họ, chịu đựng cả những mất mát - để phục vụ cho một xứ sở có tiếng là giàu có nhất thế giới, để rồi khi giải ngũ, một số không ít phải sống như những người vô gia cư trên các đường phố, chịu đói khát thiếu thốn trong tình cảnh cô đơn và tuyệt vọng… họ vẫn mãi chưa được trở về nhà… (In Retrospect – Nhìn Lại, tr. 105, 106)

Họ vẫn mãi chưa được trở về nhà… Lưu vong trên đất mẹ của mình, và như nhân vật Phan, sau 17 năm chiến tranh vẫn không rời để anh mãi lưu vong trên tâm thức của mình. Một thứ hội chứng tâm thần - Vết thương không chảy máu. Ôi cái gọi là chiến tranh Việt Nam nơi hình ảnh anh lính Gumber treo cổ lơ lửng trên thanh xà bến xe bus, linh hồn mãn nguyện: No more Vietnam, Vietnam never again. Cuộc chiến Việt Nam và cả nỗi đau của những vết thương thực sự chấm dứt từ đây. Việt Nam, nay thì anh đã thực sự giã từ… Và anh Gumber vẫn chưa phải là người lính Mỹ cuối cùng chết trong trận chiến tranh Việt Nam (In Retrospect - Nhìn Lại, tr. 110, 111), rồi thì, người y tá cựu binh, không bị thương ở mặt trận mà vì thứ mìn muỗi chống cá nhân, chẳng biết ai đã ném vô và nằm im trong đám ruộng nhà mình tự bao giờ… Hòa bình rồi hạnh phúc tính là dài lâu nhưng rồi ra cũng chỉ là tính riêng cho mỗi từng ngày… (Người Y Tá Cũ, tr. 122)

Tôi cũng ngậm ngùi tự hỏi như tác giả, bức tường nào, trang sử nào để ghi thêm những cái chết, và bị thương của chiến tranh sau chiến tranh ấy?

KHI NHỮNG NGƯỜI SỐNG QUÊN NGƯỜI CHẾT, THÌ NGƯỜI CHẾT ẤY CHẾT ĐI LẦN THỨ HAI… (Sẽ Rực Rỡ Mùa Thu Này, tr.121)

Tôi hình dung mình đang đứng nhìn lá cờ bay phất phới dưới trời xanh trong một buổi vinh danh có oan hồn tử sĩ trở về từ bụi đất, ngọn đồi, sông suối, khu rừng máu đạn khi xưa, và niềm vui của đoàn tụ siêu hình ấy tháo gỡ cho tôi cái mặc cảm u sầu bao lâu nay.

… Không kể những người đã chết, chỉ riêng trong đám sống sót trở về - có thể nói họ xứng đáng mang danh anh hùng bằng chính những chiến tích lẫy lừng đi vào huyền thoại. (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 24)

… Liệu phải cần bao nhiêu trang sách để nhắc tới những chiến tích lẫy lừng của các anh hùng vô danh này. Ngay từ phút vừa đặt chân xuống đất, hoạt động suốt 96 giờ của toán 81 là một thiên anh hùng ca rực rỡ. (Nước Mắt Của Đức Phật, tr. 41)

Đã bao năm rồi, biết bao nhiêu nước chảy qua cầu, có quá nhiều điều để không thể nào quên. Ngay trong tù đày, những hình ảnh hồi tưởng chưa bao giờ là cuộc duyệt binh vĩ đại đầy màu sắc và ồn ào của ngày Quân lực; mà luôn luôn là những bước chân diễn hành thầm lặng của một tiểu đội lính vô danh ở ngày giờ cuối cùng của một thành phố trước khi mất tên Sài Gòn. Người chuẩn úy ấy bây giờ ở đâu, trong một trại cải tạo nào, còn sống hay đã chết, số phận những người lính can đảm kỷ luật tới giờ phút chót ấy bây giờ ra sao, cũng không ai được biết. Liệu có thêm được một dòng chữ nào giữa những trang quân sử viết dở dang để nói về cuộc diễn binh kỳ lạ cấp tiểu đội mang biểu tượng hào hùng của quân lực ở ngày giờ cuối cùng trước khi cả toàn quân tan hàng rã ngũ... (Cựu Kim Sơn Chưa Hề Giã Biệt, tr. 91)

Câu hỏi rất xót, có cái gì như mệt mỏi thất vọng… Trang sử trung thực nào để anh linh của họ được an nghỉ dưới ánh sáng của tri ân, tưởng nhớ, chứ không chỉ là nghĩa trang bị bỏ phế đìu hiu, lá khô xao xác trên những tấm bia vỡ và những bình nhang trống. Dù sao, ít ra giờ chúng ta đã có những dòng chữ này của Ngô Thế Vinh, như một sự tưởng niệm công bằng…

… Jim cũng như đa số những người cựu chiến binh Việt Nam được gọi là còn sống, nhưng họ giống như những mảnh bom đạn vương vãi, thực sự chưa thoát ra khỏi trận địa Việt Nam. Liệu có còn thêm một bức tường thương khóc nào khác ở Hoa Thịnh Đốn đủ dài để có thể ghi tên và vinh danh họ. (Một Bức Tường Khác, tr. 101)

Một bức tường khác, những trang quân sử còn thiếu sót… Hẳn còn rất lâu, hoặc chẳng bao giờ, những ước muốn này vẫn chỉ là những ước mơ ngậm ngùi… Nhưng ước mơ đó là một thông điệp đầy tình người của tác giả.

NGÔ THẾ VINH, MỘT CHIẾN SĨ XÃ HỘI

Trong truyện Mặt Trận Ở Sài Gòn, chứng kiến cảnh thối nát bất công của xã hội, tác giả nêu lên một ưu tư:

… Rằng ngoài chiến trường súng đạn quen thuộc, họ còn phải đương đầu với một trận tuyến khác mỏi mệt hơn - đó là cảnh thối nát bất công của xã hội mà dân tộc đang phải hứng chịu trong tối tăm tủi nhục... Từ ba mươi năm nay, đã và đang có quá nhiều anh-hùng-của-chiến-tranh trong khi lại quá thiếu vắng những chiến sĩ xã hội... (Mặt Trận Ở Sài Gòn, tr. 31)

Ngô Thế Vinh, một chiến sĩ xông pha chiến trường, một bác sĩ, một nhà văn, một nhà báo, với tất cả tư cách đó cùng những tác phẩm của ông, biết được những việc ông đã làm thì Ngô Thế Vinh đúng là một chiến sĩ xã hội, ở tư cách này ông cũng xứng đáng là một anh hùng. Nếu không thực sự can đảm, nếu không đầy nhiệt huyết với lý tưởng vì người thì ông đã không xông vào những mặt trận xã hội, như làm báo Tình Thương từ thời còn sinh viên y khoa quảng bá y đức, tình người. Và một thời gian dài đập nhịp tim của mình trên bờ sinh tử của lằn tên mũi đạn, để có những kinh nghiệm thực tế viết nên tác phẩm như Mặt Trận Ở Sài Gòn. Cảm ơn định mệnh để ông sống sót qua cuộc chiến. Để sau đó nghiên cứu về nguy cơ cái chết của một dòng sông, ông đã đi tới ngọn nguồn sông Cửu Long với bao bất trắc để cống hiến một loạt sách rất giá trị về Cửu Long. Với những đề tài gắn bó với con người cùng sự cảnh báo mọi thứ hiểm họa hủy diệt hầu góp phần vào việc bảo vệ môi trường, cùng xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, công bằng hơn, tình người hơn. Đó chẳng phải là trách nhiệm của một chiến sĩ xã hội hay sao? Năng lực của ông lấy từ đâu mà có thể làm việc được như thế? Có lẽ nhờ tất cả những chủng tử này, nhiệt huyết, đam mê, nhân ái, cùng những giấc mơ thao thức không nguôi. Và ông đã cống hiến đời mình cho lý tưởng đó một cách hữu hiệu và cảm động.

… Những câu chuyện cách đây cả 50 năm ở một nơi nay quá xa xôi bỗng dưng sống lại một cách da diết trong trí nhớ, trong con tim của mỗi chúng ta khi có “Mặt Trận Ở Sài Gòn” đặt đầu bàn ngủ (không phải gối đầu giường). (Hoàng Ngọc Nguyên, Đi Tìm Sự Yên Tĩnh Với “Mặt Trận Ở Sài Gòn”, tr. 214)

Chắc là như vậy vì ngay lúc này sau khi đọc hết rồi tôi vẫn cảm thấy chưa thể rời được nó. Phải để ở cái bàn nhỏ có ngọn đèn vàng ấm kia, để nhìn, nhìn mỗi ngày vào vết thương chưa thực sự lành ấy. Nhìn, cho đến khi nào chuyển hóa được vết thương này. Và chìa khóa của chuyển hóa phải chăng là thấy được ít nhiều hiện thực của những giấc mơ – ít nhất cũng là của Ngô Thế Vinh – của những người đồng một quá khứ thương tâm và đau đáu thiết tha những giấc mơ đẹp đẽ, một trong những giấc mơ ấy là một mái ấm của Trăm Họ Trăm Con, nơi ấy sưu tập và lưu trữ những giá trị của quá khứ, nơi hội tụ diễn ra sức sống sinh động của hiện tại, và là một điểm tựa thách đố hướng về tương lai, chốn hành hương cho mỗi người Việt Nam đang sống bất cứ ở đâu trong lòng của thế giới.

Và …Hiện thực của giấc mơ nào đi nữa không phải chỉ do hùng tâm của một người mà là ý chí của cả một tập thể cùng nhìn về một hướng, cùng trông đợi và ước ao niềm vui của sự thành tựu... (Giấc Mộng Con Năm 2000, tr. 152)

Xin mượn lời của Tim Page để kết bài viết:

Đọc Mặt Trận Ở Sài Gòn để cảm nhận lắng nghe nỗi bâng khuâng của một con người vẫn gắn bó với những cội rễ tinh thần của một quê hương Việt Nam không thể tách rời. (TIM PAGE, Life – Time, UPI Freelance Reporter)

Santa Ana, October 6, 2020

* Chữ Ngô Thế Vinh trong truyện Nhìn Lại.

** Tập truyện song ngữ “Mặt Trận Ở Sài Gòn / The Battle of Saigon” đã được phát hành và bán trên trang mạng Amazon từ ngày 16/10/2020.

Nguyễn Thị Khánh Minh sinh tại Hà Nội, quê ở Nha Trang. Tốt nghiệp Cử nhân Luật tháng 12-1974, khóa cuối cùng của Luật Khoa Đại Học Đường Sài Gòn. Đã xuất bản nhiều tập thơ văn tại Việt Nam và Hoa Kỳ từ năm 1991- 2020. Hiện sống tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ.