Danh Ngôn

“The insecure leader interprets critical thinking as criticism”

Nhà lãnh đạo không vững vàng sẽ diễn giải tư duy phản biện thành sự phê phán

-Andy Stanley (1958-), mục sư người Mỹ, người sáng lập North Point Community Church (Hội Thánh Cộng đồng North Point), Atlanta.


“When we blindly adopt a religion, a political system, a literary dogma, we become automatons.”

Khi chúng ta mù quáng chấp nhận một tôn giáo, một hệ thống chính trị, một giáo điều văn học, chúng ta trở thành những người máy tự động

― Anaïs Nin (1903-1977), nhà văn Mỹ gốc Cuba - Pháp. The Diary of Anaïs Nin, Vol. 4: 1944-1947 (1972)


“Believe what you like, but don't believe everything you read without questioning it.”

Hãy tin những gì bạn thích, nhưng đừng tin mọi điều bạn đọc mà không nghi ngờ gì.
― Pauline Baynes (1922-2008), họa sĩ vẽ tranh minh họa người Anh.
Questionable Creatures: A Bestiary (2006)

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Kiến nghị gửi Quốc hội

Chúng tôi, những cử tri quan tâm đến hiện tình đất nước, qua đài truyền hình, biết được chương trình nghị sự Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khoá XIV, kiến nghị với Quốc hội mấy vấn đề sau đây:

Cải cách Tư pháp: Phần 1: Dân đen trước pháp đình

Nguyễn Đăng Quang

Lời nói đầu: Đã hơn thập kỷ qua, Việt Nam đã và đang tiến hành một công cuộc cải cách rất quan trọng nhưng lại không được quảng bá mạnh mẽ. Đó chính là cuộc Cải cách Tư pháp! Công cuộc đổi mới này có trọng tâm là cải cách ngành Tòa án, lấy Tòa án làm trung tâm trong quá trình Cải cách Tư pháp nhằm sớm đưa nước ta trở thành Nhà nước Pháp quyền độc lập! Nhưng đã trên 10 năm qua, công cuộc cải cách này không được làm triệt để, thành quả thu được chẳng là bao, dẫm chân tại chỗ! Mặc dù là người ngoại đạo, song tôi mạnh dạn góp đôi điều để thúc đẩy công cuộc Cải cách Tư pháp mà nhiều người nói hình như đã bị ngành Tòa án, Kiểm sát và CQĐT lãng quên!

Những khoảng tối có ma (kỳ 7)

Tiểu thuyết Nguyễn Viện

…….

Gần 30 bức tranh của các danh họa thời Mỹ thuật Đông Dương thuộc bộ sưu tập của Mr. Thời Vụ trong cuộc triển lãm “Về nguồn” tại gallery của Lý Hoàng Hoa bị một vài nhà báo đặt nghi vấn tranh giả. Thời Vụ nổi điên, hắn đòi trừng trị mấy thằng nhà báo xấc láo, nhưng Lý Hoàng Hoa khôn ngoan hơn, cô lên tiếng chính thức mời Cục Mỹ thuật, cơ quan chức năng của nhà nước vào cuộc. Một hội đồng thẩm định bao gồm các họa sĩ và nhà phê bình mỹ thuật được thành lập, họ kết luận theo gợi ý của cô: “Chúng tôi không có đủ điều kiện để xác minh, theo phương pháp khoa học, những tác phẩm được trưng bày trong triển lãm “Về nguồn” là giả hay thật. Tuy nhiên, đứng ở góc độ chuyên môn nghề nghiệp, chúng tôi nhận định những tác phẩm này có giá trị nghệ thuật cao”. Quả thật, Lý Hoàng Hoa giỏi. Tuy nhiên, tôi lại cảm thấy mất cô, một lần nữa.

Mẹ Đất

Truyện Hà Thúc Sinh

Cái Thực và cái Thực hơn. Cái Lớn và cái Lớn hơn. Cái Buồn và cái Buồn hơn. Còn cô đơn thì không có lớn hơn hay nhỏ hơn, nhiều hơn hay ít hơn. Cô đơn là Cô đơn, vậy thôi.

Hà Thúc Sinh viết về nỗi cô đơn, về nỗi mồ côi… giữa vũ trụ hoang vắng, không khởi điểm, không bờ bến… Một nỗi mồ côi bẩm sinh, ngay cả khi bạn đang có một nỗi mồ côi rất thực…

Của một người hư ảo với chính mình…

VĂN VIỆT

Ngựa phi đường xa

Đặng Tiến

Tô Thùy Yên và Đặng Tiến, tháng 5/2016


Tô Thùy Yên đến với văn học trên “Cánh đồng Con ngựa Chuyến tàu”, bài thơ làm năm 1956, đăng trên báo Sáng Tạo thời đó và được độc giả hoan nghênh ngay, nhất là trong giới thanh niên, học sinh. Thời ấy sinh viên chưa nhiều, quần chúng văn chương còn thưa thớt, một thế hệ độc giả mới đang chớm thành hình. Với thời gian nhìn lại, bài thơ có thể xem là một sự kiện văn học vì lời thơ tân kỳ, ý thơ mới lạ, không giống một bài thơ nào khác trước kia mà đã được người đọc không chuyên môn văn học yêu thích ngay. Chuyện hiếm, vì công chúng Việt Nam nói chung là thủ cựu.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 137): McAmmond Nguyễn Thị Tư – Con cua ngoài miệng giỏ

Nàng bảo nàng thà ra chợ ngồi bán bánh tráng tortillas hơn là sống như những kẻ nhân danh nghệ sĩ ở Paris. Loại không việc làm, hàng ngày ngồi tới nóng đít ở quán cà phê, ngỡ mình là thượng đế, ba hoa về văn chương, triết học, nghệ thuật, cách mạng, làm ô nhiễm không khí với những lý thuyết trên mây, rồi không có gì sống phải ăn bám phụ nữ thượng lưu – thứ đàn bà ngưỡng mộ các ông nghệ sĩ vì tưởng họ trí óc siêu phàm hơn chồng mình. Nàng bảo giới nghệ sĩ Paris là cứt, và chỉ là cứt, những kẻ phí phạm thời gian vào các cuộc tán gẫu ba xàm, tranh luận ngớ ngẩn gọi là trí thức. Nàng nói sự giả khượt của họ làm nàng phát mửa. Chả trách sao châu Âu đang mục ruỗng, bọn vô dụng này là nguyên nhân cho những Hitler và Mussolini.

Tô Thùy Yên

Vũ Thành Sơn

Li trn tình:

Bài viết này nhằm mục đích tưởng niệm thi sĩ Tô Thùy Yên vừa từ trần, nó có những dữ liệu về năm tháng chưa được kiểm chứng đầy đủ vì thiếu tư liệu. Vì vậy, người viết đề nghị độc giả nên đọc bài viết này như một cảm nhận cá nhân về thơ Tô Thùy Yên hơn là một bài nghiên cứu về ông. Người viết hy vọng sẽ trở lại đề tài này khi đã có đủ trong tay tư liệu.

Cảm hứng từ Ukraine

Lê Học Lãnh Vân

Vị tổng thống vừa đắc cử, trên bục tuyên thệ đã mời: “Hôm nay không phải chỉ có mình tôi tuyên thệ mà mỗi người chúng ta đều đã đặt tay lên Hiến pháp và thề trung thành với đất nước Ukraine”.

Đó là lời mời gởi đến tất cả các công dân, đến mỗi người dân trong nước, nói rằng “Mỗi người trong chúng ta là một tổng thống”.

Khi thi sĩ chết

Trần Mộng Tú

Khi thi sĩ nằm xuống
người ta bỏ vào trong áo quan
những trang Thơ phủ kín chiều dài của thân thể
đó là những dòng chữ
viết cho suốt chiều dài của một đời người

Bao giờ có Zelensky Việt Nam?

Lưu Trọng Văn

Đất nước cộng sản Ukraine nơi gã tuổi 17 lần đầu tiên biết tình ái với một cô nàng mắt xanh như dòng Dnepr đã thực sự bước sang Ngày mới - Trang sử mới.

Gã tin vào con người với vai diễn tổng thống trên màn tivi bước vào cuộc đời là tổng thống này.

Văn học miền Nam 54-75 (563): Nguyễn Sỹ Tế (kỳ 2)

NGUYỄN SỸ TẾ - TÁC GIẢ - TÁC PHẨM

Nguyễn Mạnh Trinh

Nguyễn Sỹ Tế là một khuôn mặt văn hóa và trí thức có thể nói là tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Ông là một nhà thơ, một nhà văn và rất trân trọng văn chương chữ nghĩa. Đọc thơ văn của ông, thấy được tấm lòng với nghệ thuật. Dù đời sống thực tế có nhiều thăng trầm nhưng tâm tình của ông vẫn khoan hòa và trong bất cứ hoàn cảnh nào, văn chương vẫn là của thẩm mỹ quan sâu sắc và chính xác. Là một nhà giáo dục, làm hiệu trưởng trường trung học Trường Sơn và là giáo sư của nhiều viện đại học Việt Nam như Đại Học Sư Phạm, Đại Học Vạn Hạnh, Đại Học Đà Lạt, Đại Học Cần Thơ và có nhiều môn sinh thành đạt. Là một nhà văn hóa, ông có nhiều đóng góp vào những công trình giá trị trong mục đích bảo tồn văn hóa dân tộc và tiếp nhận những tinh hoa của các nền văn hóa khác.

Tiếng Việt thời LM de Rhodes – vài nhận xét về cách dùng thì hiện tại/tương lai/quá khứ (phần 16)

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về cách dùng thì (tiếng Anh tense ~ temps tiếng Pháp) vào thời các LM de Rhodes và Maiorica sang truyền đạo ở An Nam cho đến thế kỉ XX. Tài liệu tham khảo chính của bài viết này là ba tác phẩm của LM de Rhodes soạn: cuốn Phép Giảng Tám Ngày (viết tắt là PGTN), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Các chữ viết tắt khác là HV (Hán Việt), CNNAGN (Chỉ Nam Ngọc Âm Giải Nghĩa), NCT (Nguyễn Cung Thông), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1324), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), KH (Khang Hi/1716), P (tiếng Pháp), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh), PG (Phật Giáo), CG (Công Giáo), VN (Việt Nam), CQN (Chữ Quốc Ngữ), TQ (Trung Quốc), BK (Bắc Kinh), TK (thế kỉ), các bản chữ Nôm của LM Maiorica như CTTr (Các Thánh Truyện - tháng 12), KNLMPS (Kinh Những Lễ Mùa Phục Sinh), TCTM (Thiên Chúa Thánh Mẫu). Tương quan ngữ âm HV và Việt ghi trong bài không nhất thiết khẳng định nguồn gốc Việt hay Hán Cổ của chúng, cần nhiều dữ kiện hơn để thêm chính xác. Trang/cột/tờ của VBL được ghi xuống để người đọc dễ tra cứu thêm. Các cách đọc phiên thiết trình bày theo thời gian (lịch đại): từ thời Hán đến thế kỉ XVII (Tự Vị, Chính Tự Thông) cho đến giọng BK hiện nay so sánh với các phương ngữ khác cũng như âm HV (đồng đại). Dấu hoa thị * đứng trước một âm cổ phục nguyên (reconstructed sound), không nên lầm thanh điệu hay chỉ số đứng sau một âm tiết và số phụ chú. Người viết cũng xin được cảm ơn anh Nguyễn Trọng Thành (đang làm việc cho đài RFI, Pháp) đã có những buổi điện đàm thật chí tình về chủ đề thời gian trong tiếng Việt (đặc biệt qua cách dùng sẽ), và là một tác động lớn trong quá trình soạn bài viết phần 16 này. Hi vọng các cách nhìn tiếng Việt (đồng đại) từ Úc châu và Âu châu sẽ cho ra nhiều kết quả thú vị khi xem lại ngữ pháp tiếng Việt từ trục thời gian (lịch đại).

Vĩnh biệt nhà thơ Tô Thuỳ Yên


Văn Việt vừa nhận được tin buồn: nhà thơ Tô Thuỳ Yên, một cộng tác viên của Văn Việt, đã từ trần vào ngày 21/5/2019 tại Houston, Texas Hoa Kỳ.

Theo bài viết “Tuyển Tập Tô Thùy Yên” của tác giả Trần Doãn Nho đăng trên nhật báo Người Việt hôm 10 Tháng Hai, nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh năm 1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Học tại Gia Định và Sài Gòn. Viết từ cuối thập niên 1950. Tại ngũ từ 1964 đến 1975. Tù Cộng Sản 13 năm. Tị nạn tại Hoa Kỳ từ 1993.

… Theo nhà thơ Du Tử Lê viết trên blog của ông, thơ Tô Thùy Yên bắt đầu xuất hiện trên báo chí từ năm ông 16 tuổi. Gia nhập nhóm Sáng Tạo thành hình năm 1956, cộng tác đều đặn với nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, chủ trương nhà xuất bản văn học Kẻ Sĩ.

Đã xuất bản: Thơ Tuyển (một ấn bản tại Đức năm 1994, một ấn bản tại Mỹ năm 1995), ThắpTạ (năm 2004).

Hồi đầu năm 2019, ông cho ra mắt “Tô Thùy Yên – Tuyển Tập Thơ,” gồm 96 bài thơ, gộp lại những bài từ hai tập trước, cộng thêm một số bài mới được tìm thấy và đưa vào sau này.

Vẫn theo tác giả Trần Doãn Nho, từ khi qua định cư tại Hoa Kỳ, Tô Thùy Yên cư ngụ tại thành phố Houston, tiểu bang Texas.

Ông tiếp tục làm thơ và đi nhiều nơi tham gia các buổi sinh hoạt văn học cũng như giới thiệu tập thơ đầu tiên của ông. Tuy nhiên, trong những năm sau này, sức khỏe nhà thơ không được tốt, nên ông hiếm khi đi đâu và ít thấy xuất hiện trước công chúng. Vào năm 2017, nhân dịp 30 Tháng Tư lần thứ 42, đáp lời mời của trường đại học Yale University, muốn có tiếng nói của một nhà thơ miền Nam Việt Nam, dù đi đứng khá khó khăn, ông đã cố gắng đến tham dự và đọc thơ cùng với một số nhà thơ khác như Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, và Chân Phương vào ngày 26 Tháng Tư, 2017.

Trong dịp này, ông cũng tham dự một buổi sinh hoạt đọc thơ Tô Thùy Yên khác tại trung tâm Việt-Aids do nhóm văn nghệ sĩ Boston tổ chức vào chiều tối ngày 28 Tháng Tư, 2017.

Hồi Tháng Hai, bà Huỳnh Diệu Bích, vợ ông, cho biết, ông đang nằm tĩnh dưỡng ở bệnh viện sau một cơn đột quỵ.

(theo báo Người Việt ngày 22/5/2019: https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nha-tho-to-thuy-yen/)

Văn Việt xin chân thành chia buồn cùng gia đình cố thi sĩ Tô Thuỳ Yên, cầu chúc hương hồn ông siêu thăng. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc một bài viết của nhà thơ Ý Nhi về Thơ Tô Thuỳ Yên, đã đăng trên Văn Việt ngày 12/10/2016.

clip_image002


Chữ cái (Thơ Nguyễn Thị Từ Huy, Nxb Phụ nữ, 2007)

Lê Hồ Quang

clip_image001

Để đọc Chữ cái, hãy bắt đầu từ Lời nói đầu (Để tặng Ba Mẹ) của tác giả. Một tuyên ngôn ngắn gọn về Chữ cái. Về Thơ. Về Nghệ thuật và sự sáng tạo. Tôi xem đây là một sự chỉ dẫn, một gợi ý cần thiết.

- Đấy là “những từ bình thường trong tiếng Việt. Những từ không gây sốc, không khiêu khích, những từ bình dị, không bao hàm một năng lượng đổi mới nào”. Đấy là “các chữ cái đơn lẻ, cô độc, độc lập. Các chữ còn chưa kết hợp lại với nhau để tạo thành từ, các chữ không có nghĩa”.

Học giả Mỹ

Ralph Waldo Emerson

Hiếu Tân dịch

Thưa ngài Chủ tịch, thưa quý bạn[1]

Tôi chào mừng các bạn nhân ngày khai giảng năm học mới. Buổi lễ của chúng ta là buổi lễ của niềm hi vọng, và có lẽ, không thiếu gắng sức. Chúng ta gặp nhau không phải để thi thố sức mạnh hay tài khéo, để đọc lịch sử, diễn kịch hay ngâm thơ ca ngợi, như những người Hi Lạp thời cổ; cho những nghị viện của tình yêu và thơ ca, như những người Troubadour ; không vì tiến bộ của khoa học, như những người đồng thời của chúng ta ở các thủ đô Anh quốc và châu Âu. Cho đến nay, ngày hội của chúng ta chỉ đơn giản là dấu hiệu thân thiện về sự sống còn của tình yêu văn chương, trong một dân tộc quá bận rộn không thể cống hiến nhiều hơn cho văn chương. Như vậy, nó như một dấu hiệu về một thiên hướng vững bền. Có lẽ đã đến lúc cho một cái gì khác; khi trí năng đờ đẫn của lục địa này từ bên dưới hàng mi mắt bằng thép của nó nên nhìn lên và rót vào niềm kì vọng đã bị trì hoãn của thế giới một cái gì đó tốt đẹp hơn là những cố gắng miệt mài của kĩ năng cơ khí. Cái thời dài dằng dặc mà chúng ta phụ thuộc, chúng ta đi học việc từ các miền đất khác đã khép lại rồi. Xung quanh chúng ta hàng triệu người đang hăm hở lao vào cuộc sống, không thể nuôi họ bằng chút hoa màu còn sót lại từ mùa màng của người khác. Những sự kiện, những hành động bật lên, chúng phải ca hát, chúng phải được ca ngợi. Ai có thể nghi ngờ rằng thơ ca sẽ sống lại và dẫn đến một thời đại mới, như ngôi sao trong chòm sao Harp[2], và nay ánh hồng trên thiên đỉnh của chúng ta, các nhà thiên văn loan báo, một ngày kia sẽ là ngôi sao bắc đẩu cho một nghìn năm sau?

Phản kháng Thiên An Môn và vài Bài học cho Dân chủ hoá ở Việt Nam

Nguyễn Quang A, DĐXHDS, Việt Nam

Tôi tham dự Hội thảo 30 năm sự cố Thiên An Môn tại Đài Bắc có nhiều thông tin thú vị sẽ chia sẻ với các quý vị trong Diễn đàn XHDS vào cuối tuần này hay đầu tuần sau. Đây là buổi thứ 3 tôi chia sẻ với bạn bè quốc tế về chiến lược dân chủ hoá của chúng ta (đã được xác định từ 2013) nhưng chưa được quảng bá ra quốc tế và cũng chưa thật sự được quảng bá trong nước. Xin gửi quý vị bài viết và bài trình bày của tôi (phần chiến lược được trình bày tại Forum 2000 năm 2017, tại Hội thảo khai trương Forsea ở Malaysia đầu năm nay và lần thứ 3 tại Đài Bắc. Chúng ta cũng nên cập nhật chiến lược này cho phù hợp với tình hình và mong được quý vị góp ý tiếp.

Các năm chẵn họ đều tổ chức hội thảo tại Hồng Kong, nhưng do tình hình Hong Kong xấu đi năm nay họ phải tổ chức ở Đài Loan.

NQA

Phản kháng Thiên An Môn là một cách gọi ngắn gọn của một phong trào xã hội toàn quốc kéo dài bảy tuần mà đã lan ra khắp Trung Hoa đại lục trong năm 1989. “Vào ngày 17 tháng Tư, hai ngày sau khi Hồ Diệu Bang chết, các sinh viên ở Bắc Kinh đã xuống đường. Trong bảy tuần, những cố gắng to lớn của dân chủ hoá Trung Quốc đã trải qua một chu kỳ nhanh của sự huy động, sự phân cực, sự đối đầu đẫm máu, và sự đàn áp” [Đới Tình-Dai Qing]. Nhìn lại các cuộc Phản kháng Thiên An Môn sau 30 năm chúng ta có thể học một số bài học để noi theo hay để tránh ở nơi khác. Trong bài này tôi thử lựa ra vài hồi phản kháng và xem xét chúng dưới ánh sáng của “dân chủ hoá sôi động,” một khung khổ được Donatella del Porta đề xướng gần đây, để hiểu kỹ hơn quá trình phản kháng sinh viên năm 1989 và đặc biệt vì sao chúng đã thành công trong việc huy động nhưng rốt cuộc đã thất bại dẫn đến vụ thảm sát 4 tháng Sáu. Bài này thử rút ra vài bài học từ các cuộc phản kháng Thiên An Môn (và từ những sự huy động thành công hay thất bại khác cho dân chủ kể cả những huy động ở Đài Loan) mà đã ảnh hưởng đến việc hình thành một chiến lược trong năm 2013 cho dân chủ hoá ở Việt Nam. Chiến lược được tóm tắt ở cuối bài này.

Bà chúa Hời

Truyện Khuất Đẩu

Bọn trẻ đang chơi đùa ầm ĩ bỗng bỏ chạy khi có một đứa kêu lên: Kìa, bà chúa Hời, bây ơi!

Từ xa, một người đàn bà cao, gầy và thẳng như một cây gậy đang gõ những bước như đếm trên con đường dẫn vào làng. Không cần nhìn cách ăn mặc gần như trùm kín từ đầu đến chân giống như tẩn liệm, người ta cũng dễ nhận ra đây không phải là người trong làng và dưới mắt bọn trẻ, bà có vẻ như một mụ phù thủy, nửa bí mật nham hiểm, nửa dại dại khờ khờ.

Những khoảng tối có ma (kỳ 6)

Tiểu thuyết Nguyễn Viện

Tôi cảm thấy ngột ngạt. Như những con chó trong cũi, tiếng sủa của nó không có tác dụng gì, ngoài việc khẳng định sự tồn tại của kiếp chó. Tôi nói với cô, “Có lẽ chỉ có tình yêu mới cứu vớt được con người”.

Cô cười, “Vì điều đó mà anh yêu em chăng?”

Thảm sát Thiên An Môn: 30 năm sau đêm đất trời đảo lộn

Thụy My


media

Trong khoảng thời gian từ 17/05/1989 đến 04/06/1989, nhiều sinh viên tuyệt thực đã ngã gục trên quảng trường Thiên An Môn.64memo.com

Ngày 19 tháng Năm năm 1989, thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng quyết định huy động quân đội để đàn áp các sinh viên biểu tình. Đây là khởi đầu cho biển máu ngày 4 tháng Sáu. Tác giả Arnaud Vaulerin trên Libération hôm nay 20/05/2019 trong bài viết «Thiên An Môn : 30 năm sau đêm đất trời đảo lộn »,thuật lại chi tiết theo lời kể của một giáo sư triết Trung Quốc đang tị nạn tại Pháp.

Vài suy nghĩ về thơ văn Hoàng Ngọc Biên

Trương Quang Đệ

Tôi hết sức vui mừng khi đọc được bài “Hoàng Ngọc Biên, quê hương, người về” của anh Huỳnh Như Phương đăng trên trang viet-studies.net của Trần Hữu Dũng ngày 17/5/2019 vừa qua. Bài viết giới thiệu một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ về cuộc đời nghệ thuật của người bạn đã ra đi. Dầu khá gần gũi với Hoàng Ngọc Biên trong nhiều năm, tôi vẫn giật mình không hiểu tại sao mình không nhận thức được chính xác tầm cỡ của người nghệ sỹ độc đáo này. Tôi nghĩ bài viết của anh Huỳnh Như Phương có thể gợi ý cho những bạn trẻ trong ngành lý luận phê bình văn học hay các nghiên cứu sinh ngữ văn một số đề tài khá hấp dẫn như sau:

Quê hương ngày trở lại (kỳ 4)

Thụy Khuê

Phú Yên

Cristoforo Borri

Từ Nha Trang chúng tôi đi dọc bờ biển Phú Yên lên Quy Nhơn, qua Vạn Giã, Đại Lãnh, Tuy Hòa... cảnh đẹp vô cùng, bao ghềnh đá, đầm, vịnh, mỏm, bãi... không bút nào tả hết được.

Phú Yên là vùng đất địa đầu phía Nam mà chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1600-1613) đã chinh phục đầu thế kỷ XVII. Biên giới phía Nam lúc bấy giờ tới Đèo Cả. Năm 1611, Nguyễn Hoàng mới đặt phủ Phú Yên, cho Văn Phong (không rõ họ) làm Lưu thủ. Năm 1629, dưới thời Chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên (1613-1635), Văn Phong làm phản, bị Nguyễn Phước Vinh (con trai Mạc Cảnh Huống và con rể Chúa Sãi, vì có công nên được đổi thành họ Nguyễn Phước) dẹp tan. Chúa Sãi lập thêm Trấn Biên (Khánh Hòa ngày nay). Nhà thờ Hà Dừa ở Nha Trang, có phong cách của những nhà thờ đầu tiên trên đất Việt (theo sự mô tả của giáo sĩ Cristoforo Borri ở dưới) vì có những cột toàn bằng gỗ lim, thổ sản vùng này.

Ông Ngô Đình Diệm: Việt gian thời hiện đại

Nguyễn Ngọc Lanh


Gia đình thanh bạch của thượng thư Ngô Đình Khả, hình chụp năm 1905 Từ trái: Ngô Thị Giao (sau này là nhạc mẫu của ông Trần Trung Dung,) bà Ngô Đình Khả bồng Ngô Thị Hiệp (thân mẫu tương lai của Hồng Y Nguyễn Văn Thuận) Thượng Thư đương chức Ngô Đình Khả, 3 con trai: Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Khôi (chưa có giầy dép, mặc dù hiếm khi có dịp chụp hình, quần áo rất bình dân),  (các ông Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện và Ngô Đình Cẩn chưa ra đời.)  Nguồn: Vĩnh Phúc.

Gia đình thanh bạch của thượng thư Ngô Đình Khả, hình chụp năm 1905. Từ trái: Ngô Thị Giao (sau này là nhạc mẫu của ông Trần Trung Dung), bà Ngô Đình Khả bồng Ngô Thị Hiệp (thân mẫu tương lai của Hồng Y Nguyễn Văn Thuận) Thượng Thư đương chức Ngô Đình Khả, 3 con trai: Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Khôi (chưa có giầy dép, mặc dù hiếm khi có dịp chụp hình, quần áo rất bình dân), (các ông Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện và Ngô Đình Cẩn chưa ra đời.). Nguồn: Vĩnh Phúc

Khi chúng ta tuyệt vọng

Tuấn Khanh

Bài viết dù nói chủ yếu về Phật giáo, nhưng xin gửi suy nghĩ chung đến tất cả những bạn ở tôn giáo khác – kể cả không tôn giáo, với lòng trân trọng.
---------------------
KHI CHÚNG TA TUYỆT VỌNG
---------------------
Một người bạn của tôi kể rằng anh ấy hụt hẫng kinh khủng khi trải qua đại lễ Vesak 2019 của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Việt Nam. Thậm chí, có cái gì đó giống như là tuyệt vọng trỗi lên, khi anh thấy trên truyền hình, trên báo chí trương hình ảnh ông Thích Thanh Quyết cho ra mắt bức tranh cố gắng nối Hồ Chí Minh một bên và Đức Phật Thích Ca một bên.

Hoàng Ngọc Biên – quê hương, người về

Huỳnh Như Phương

Nhà văn, dịch giả, họa sĩ Hoàng Ngọc Biên vừa từ trần ở San Jose, tiểu bang California, lúc 8 giờ sáng ngày 16-5-2019, hưởng thọ 81 tuổi. Sinh năm 1938 ở Quảng Trị, ông là một nghệ sĩ đa tài và độc đáo, tác giả của nhiều tập thơ, tập truyện, bức tranh, công trình biên khảo được nhiều người biết từ khi còn ở Sài Gòn đến khi định cư ở Hoa Kỳ.

Những vầng trăng bặt dạng

Trường ca Nguyễn Thanh Hiện

châu Âu, một cái tên, một khái niệm, một vùng đất,

châu Âu, những triển khai kỳ lạ, những lan truyền bất

kể, những quá khứ,

minh triết, và lầm lẫn, những nghĩ ngợi…

Người khách lạ trong vườn

Tạp bút Trần Mộng Tú

Sáng nay khi ra vườn sau, tôi khám phá có một người khách lạ, vào ở lại trong vườn mà chẳng hỏi han tôi câu nào. Chị thản nhiên chọn một chỗ sát tường dưới gốc mấy cây Diên Vỹ đang ngập ngừng ra nụ. Chị giang hai tay gạt đám dăm bào (barks) chung quanh tạo cho mình một cái vòng tròn, chị nằm xuống nhẹ nhàng, rồi mang ra từ hai cánh tay áo mình từng cái trứng, đặt vào nơi cư ngụ mới. Chị nằm ôm những cái trứng vừa lăn ra từ thân thể mình, ôm rất gọn và rất kín. Tôi không biết bao nhiêu cái. Tôi không dám đến gần sợ kinh động, chị sẽ bỏ đi thì tội nghiệp những cái trứng. Chị mặc một chiếc áo màu nâu, chỗ nhạt chỗ đậm. Chị trông giản dị, không son phấn. Trông chị đúng là điển hình cho một người mẹ. Hai mắt chị tròn xoe khi thấy tôi, trong ánh mắt có điều lo sợ. Tôi không dám lại gần chị. Tôi rón rén đi thật nhẹ vào nhà, nhờ chồng ra chụp hình chị đang nằm ấp trứng.

Thận Nhiên: Những ghi chép ở tầng thứ 14

Trịnh Y Thư

clip_image002

1.

Trong một bài phỏng vấn đăng trên tạp chí văn học The Paris Review cách đây khá lâu, nhà văn Nhật Hakuri Murakami có một phát biểu rất ý nhị, “Cái hay của việc viết văn là bạn có thể mơ trong lúc thực sự đang tỉnh táo.” Tôi thấy điều đó quá đúng, bởi nếu bạn không mơ mộng, không mơ ngày, không sống với không-thời-gian của tưởng tượng bay bổng trong cõi huyền ảo, phi thực tại thì có lẽ bạn không nên chọn nghiệp văn. Đối với những người cầm bút như Murakami, viết tức là mơ, là mộng du trong chốn phi thực. Sự khác biệt với mộng du trong lúc ngủ là ý thức vẫn hiện hữu, mơ và thực bởi thế hòa quyện nhau, trí tưởng tượng vượt ra ngoài kiểm soát của lí trí. Nhờ đó, người viết không nhất thiết quan tâm nhiều đến cái giống thật, không phải bám sát sự thật để có thể dễ dàng mạo hiểm vào những cảnh giới mới của sáng tạo. Tôi đồ khi viết cuốn tiểu thuyết Những ghi chép ở tầng thứ 14 (Văn Học Press xuất bản, 2019) nhà văn Thận Nhiên của văn học Việt Nam hải ngoại cũng ở trong một tâm cảnh tương tự. Chính vì thế, mặc dù cuốn tiểu thuyết phản ánh khá nhiều đời sống thật của tác giả ngoài đời – khiến người đọc không ngớt thắc mắc phải chăng nhân vật chính diện ở ngôi thứ nhất ấy chính là tác giả – nhưng thật sai lầm nếu chúng ta xem đây là cuốn tiểu thuyết tự truyện, và càng sai lầm hơn nếu chúng ta đánh giá nó dưới góc độ hiện thực.

Vĩnh biệt anh Hoàng Ngọc Biên, nhớ lại vài kỷ niệm

Hoàng Hưng

Nghỉ trưa xong, mở mạng làm việc tiếp, thì giật mình đập ngay vào mắt thông báo từ FB hoạ sĩ Phan Nguyên: Hoạ sĩ-nhà thơ-dịch giả Hoàng Ngọc Biên đã từ trần sáng nay 16/5/2019 tại San Jose! Tự trách mình: chiều qua, tự nhiên nghĩ đến gọi điện thăm anh, rồi chuyện nọ chuyện kia, qua mất!

clip_image002

Anh Biên!

Anh và tôi có cái tình có lẽ khá đặc biệt. Người Sài Gòn thời Cộng hoà, kẻ Hà Nội thời Cộng sản, nhưng hình như ngay từ lúc gặp anh lần đầu ở quán cà phê vỉa hè anh tạm kiếm sống qua ngày vào những ngày tháng 5 năm 1975 trên đường Trương Minh Giảng bên ngoài nhà anh, cho đến lần gặp cuối cùng tháng 9 năm 2017 cũng tại nhà anh ở San Jose, chưa khi nào hai người cảm thấy có sự khác biệt. Một cảm giác mơ hồ về sự đồng cảm nào đó, ít ra là sự an toàn khi sơ giao và sau này, đồng điệu khi kết giao.

Có thể chúng tôi có sẵn sự gần gụi từ một quá khứ trẻ thơ trong môi trường văn hoá Pháp (mà tôi vẫn cố duy trì trong những năm sống ở miền thoái Pháp)?

Tôi đã gần gụi anh nhiều nhất trong mấy năm sau khi tôi đi tù “cải tạo” về. Tôi rủ anh làm báo, nói cho đúng là nhờ anh lo trình bày cho hai tờ tạp chí mà tôi có duyên được giao cho làm sau thời “Đổi mới”. Tờ Sáng tạo của Sở Khoa học Công nghệ TPHCM, rồi tờ Seaprodex của Tổng công ty Xuất nhập khẩu Thuỷ sản. Chính anh và em trai anh, TS Kinh tế Hoàng Ngọc Nguyên, đã dạy tôi nhiều thứ của nghề báo chính hiệu, mà suốt bao nhiêu năm làm “báo tuyên truyền” của nhà nước, tôi mù tịt! Cũng như trước đó ít lâu, hai anh đã thực sự làm ra tờ Thanh Niên cho nhóm N.C.K!

Cũng chính anh đã bỏ công trình bày tập thơ hậu-tù của tôi: tập Ngựa biển năm 1988. Có mấy kỷ niệm không quên với anh về tập này. Thứ nhất, tôi muốn tập thơ “ngoài luồng” đầu tiên này (đầu tiên không chỉ của riêng tôi, mà của cả nước) có một hình thức khác lạ với thói quen in thơ. Tôi trông thấy ở nhà anh những bản nhạc Phạm Duy hay Trịnh Công Sơn gì đó không nhớ rõ đều in khổ vuông, bèn hỏi anh: “Lấy khổ này in thơ được không?”. Anh OK liền. Vậy là từ đó ra đời cái “mốt” sách thơ hình vuông mà đến nay khá phổ biến? Thứ hai: anh đọc bản thảo, thấy chùm thơ “Vụt hiện” tôi ghi chú là “Thơ thể nghiệm”, anh hỏi: “Ông không tin đó là thơ hay sao?” Tôi “vụt ngộ”, bèn xoá ngay mấy chữ ấy. Nhiều chuyện sau này liên quan đến văn hoá văn nghệ, hầu như tôi và anh chỉ trao đổi qua lại hai câu ngắn ngủi là nhất trí ngay. Đáng nói nhất là chuyện anh vẽ mấy phụ bản và bìa cho tập thơ. Một con ngựa tung bờm vươn trên sóng. Sau này anh bộc lộ: anh đã phác thảo 40 con, rồi mới chọn một con ưng ý nhất làm bìa. Lần duy nhất thăm anh ở San Jose, tháng 9 năm 2017, tôi thấy bức tranh “Ngựa biển” anh đặt trên bàn. Anh nhìn tôi mỉm cười.

clip_image004

clip_image006

clip_image008

clip_image010

Anh có nụ cười rất riêng, ít thấy ở ai khác. Cười nhẹ nhàng, mà nhiều ý nghĩa. Vui, hiền, bao dung, ân cần, tuy có lúc không giấu chút hài. Nụ cười “làm sao cũng chẳng làm sao”, như thấy trước mắt sự đời là trọng mà cũng là khinh. Nụ cười ấy đi với cái phong thái thư thả mà không phải không bận rộn, lặng lặng mà không thiếu sôi nổi, hiền hiền mà không hề thiếu kiên quyết, dễ dễ mà không hề tuỳ tiện, nghệ sĩ mà lại chỉnh tề, nghiêm túc mà lại hóm hỉnh, chỉ thấy ở rất ít người có sự giao hoà văn hoá Việt và Pháp tiền chiến, có độ chín, độ sâu về trí tuệ cộng với cuộc đời từng trải.

Nhưng trên tất cả, là tấm lòng. Hình như anh không giận ai. Hình như anh sẵn lòng truyền nghề cho tất cả những người trẻ mà không đòi hỏi gì hết. Hình như ai nhờ cái gì anh cũng không từ chối. Riêng điểm sau cùng này, với tôi là rõ rệt, không phải “hình như”!

Chỉ cần kể những gì tôi “nhờ” mà anh đều làm ngay tức khắc từ sau khi hai chúng tôi nối lại liên lạc qua hai bờ đại dương: Anh ký tên vào bất cứ “Kiến nghị”, “Tuyên bố” nào mà tôi gửi. Anh góp thơ dịch Allen Ginsberg cho tôi in Ebook. Anh gửi truyện, bài dịch cho Văn Việt khi tôi xin. Đầu năm 2014, tôi nhờ anh thiết kế logo cho Diễn đàn Xã hội Dân sự, anh trả lời “Đang tơi tả, nhưng cứ thử xem sao. Chắc phải gặp một ngày rất đẹp trời mới nghĩ ra…” Nhưng mấy ngày sau, anh đã gửi về hai phác thảo.

clip_image012

clip_image014

Hình ảnh cuối cùng của tôi với anh. Khi từ biệt vợ chồng anh, để anh thân chinh đưa tôi ra phi trường, anh nói: Ai đến đây cũng phải có một tấm hình cuối cùng chụp ở garage! Thì ra, đó là “thư viện” của anh. Tôi viết những dòng này thì nhanh, mà mất bao nhiêu thì giờ lục tung mấy cái máy tính, điện thoại, ổ cứng để tìm cho ra tấm hình ấy. Anh đứng đó, nhỏ nhắn, hơi mỉm cười… Tôi cứ tin là anh ra đi với nụ cười ấy trên môi!

Chào anh đi trước nhé, anh Biên!

clip_image016

clip_image018

Plano, 19:PM 16/5/2019

H.H.

Những cuộc thăm hỏi cảm động

Mạc Văn Trang

May mắn, sức khỏe của nhà giáo Phạm Toàn không thuộc diện “bí mật quốc gia”, nên khi ông bệnh, bạn bè thân hữu khắp nơi biết tin, gọi nhau đến thăm hỏi. Tuần trước Nhóm Cánh buồm kéo đến chật nhà, ríu rít... Ông bảo Hồ Ngọc Đại và mấy em vừa đến. Hôm kia, hôm qua thấy nhiều nhóm đến thăm, có cả nhà thơ Bùi Minh Quốc từ Đà Lạt ra... Hôm nay, mình dẫn vợ chồng Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm) vừa sang, thì gặp Chu Hảo từ Đà Năng bay ra, cũng đến...

Phạm Toàn ôm chặt Vinh mãi, rưng rưng cảm động không nói lên lời... Chu Hảo nói tiếng Pháp, hôm nay sinh nhật tôi, nhưng tôi lại tặng hoa cho anh... Rồi giải thích, mẹ tôi ngoài 90 tuổi, nói tiếng Pháp với Cụ, lại kích hoạt vùng ngôn ngữ hồi trẻ, Cụ lưu loát hơn nói tiếng Việt... Phạm Toàn cũng vậy... Hai người nói tiếng Pháp, tự nhiên Phạm Toàn hưng phấn hẳn lên... Cũng là một thử nghiệm thú vị, thì ra vùng ngôn ngữ được yêu thích, ngủ yên trong tiềm thức, không có nghĩa là bị xóa mờ, trái lại khi được kích hoạt, nó bừng tỉnh và sống động. Nhiều người trưởng thành, di cư sang nước khác, tưởng quên tiếng mẹ đẻ, nhưng khi nằm mơ hay lúc nào đó, lại bật ra tiếng mẹ đẻ nguyên sơ, mà ngày thường bị vùi lấp đi...

Nhiều người thăm quá, Phạm Toàn cũng mệt, nhưng ông vui lắm. Mệt mà đầu óc tỉnh táo, sáng suốt lạ thường với ông già tám mươi tám tuổi. Mình bảo, ông Trọng bệnh nặng mà hôm qua khỏe rồi, anh cũng mau khỏe thôi... Ông bảo, tay trái ông Trọng chưa thấy vận động, tức não phải có vấn đề đấy... Rồi ông bảo với mấy anh em, viết về những vấn đề thời sự cũng cần, nhưng phải đi vào khoa học, viết những điều cơ bản mới bền vững... Trang viết facebook ít thôi! Ông nhắc mình, thứ 6, ngày kia, nhớ đi dự buổi Hội thảo “Tôi yêu tiếng nước tôi” của học sinh lớp 5 trường Gateway, học theo sách Văn và Tiếng Việt của Cánh Buồm. Mình bảo nhất định rồi và sẽ viết bài. Ông vui lắm.

Trong xe, trên đường về, Vinh (Ba Sàm) kể lắm chuyện vui, thú vị...

Cuối cùng, Vinh ghé thăm Nguyễn Đăng Quang. Ối giời, cựu Đại tá An ninh Quang gặp cựu sĩ quan An ninh Vinh, chuyện vui như Tết.

Nhớ lúc nãy ở nhà Phạm Toàn, Chu Hảo tếu, toàn những trí thức suy thoái gặp nhau mà vui thế! Ừ nhỉ, ngắm ông Quang và Vinh ôm choàng lấy nhau càng thấy Chu Hảo nói đùa mà thật. Những trí thức bị Đảng quy là “tự diễn biến”, “sSuy thoái”, lạ nhỉ, cứ gặp nhau là được sống trong bầu không khí tràn ngập tình bè bạn chân thành, đầy trí tuệ và thắm thiết yêu thương...
15/5/2019
MVT

Trong hình ảnh có thể có: 5 người, bao gồm Thị Minh Hà Lê và Mạc Van Trang, mọi người đang cười, mọi người đang ngồi và trong nhà

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ngồi

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Nguyễn Đăng Quang, mọi người đang ngồi

Nguồn: FB Mạc Văn Trang

Những khoảng tối có ma (kỳ 5)

Tiểu thuyết Nguyễn Viện

Công việc hiệu quả đến nỗi chỉ sau ba tháng, phương pháp dạy học của chị đã được các nơi học tập làm theo.

Những khi rảnh, chị Dậu chăm chỉ đọc các nghị quyết và các tài liệu liên quan do các đồng chí trong chi bộ cho mượn. Đó là ánh sáng, đường đi của đời chị. Chị giao phó đời chị cho Đảng. Chị nhắm mắt khi chạy khỏi nhà Quan cụ, giờ đây chị cũng nhắm mắt tin tưởng tuyệt đối vào Đảng. Vinh quang của chị là được Đảng tín nhiệm giao nhiệm vụ.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 135): Phạm Tín An Ninh – Cái bóng của vị thầy tu

Đôi nét về Phạm Tín An Ninh

clip_image002

- Nguyên quán Khánh Hòa

- Sinh năm 1943

- Nhập ngũ Khóa 18 SQTB/ Thủ Đức

- Phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB

- Sau 4/75 đi tù 8 năm tại Nam và Bắc Việt Nam

- (Phụ thân cũng bị tù và chết trong tù vào tháng 6/1976)

- Vượt biển và định cư tại Vương Quốc Na Uy năm 1985.

- Đi học và đi làm trong ngành Ngân Hàng Bưu Điện

- Về hưu năm 2008 và hiện sống tại Hoa Kỳ

- Tác phẩm đã xuất bản:

· Ở Cuối Hai Con Đường (2008)

· Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (2011)

· Vẫn Còn Vương Tơ (2013 – viết chung với Gs Võ Doãn Nhẫn)

· Sau Cuộc Biển Dâu (2017)

(Trang nhà: http://phamtinanninh.com/)

Thông tin tiểu sử do tác giả cung cấp cho Văn Việt

Một tù nhân gulag sống sót trở thành dịch giả tiếng Nga lừng danh

(Galgóczy Árpád 1928...)

Nguyễn Hồng Nhung

Gulag nghĩa là gì? Theo những người cộng sản đó là một hệ thống có tên “Trại cải tạo” để rèn rũa con người, trong thực tế đó là một loại địa ngục trần gian. Ở nước Nga Xô Viết những trại cải tạo này được dựng lên ngay từ năm 1917, nhưng hệ thống hóa, mở rộng và củng cố những trại này hoàn tất vào những năm 30 của thế kỷ trước.

Văn học miền Nam 54-75 (kỳ 561): Nguyễn Mạnh Côn (kỳ 12)

Nguyễn Mạnh Côn: Bố vẫn sống mãi

Nguyễn Chinh Trung

Nguyễn Mạnh Côn. Hí họa của Chóe.

Gần đây tôi có đọc trên báo Sài Gòn Nhỏ phát hành ngày mùng 9 tháng 6 năm 2012 bài báo viết về nhà văn Nguyễn Mạnh Côn: Tranh đấu và chết trong tù.

Bài viết này do ông Lê Thanh Sơn viết và theo lời giới thiệu đầu bài đã được đăng trên tạp chí Cuộc Đời vào tháng 7 năm 1993. Bài viết này cũng được đăng trên trang mạng Người Việt Atlanta trong mục Quốc hận 30/4, những chuyện chưa quên. Ngoài ra, trang hocxa có đăng những bài viết tưởng niệm nhà văn Nguyễn Mạnh Côn của các văn sĩ cùng thời.

Thư gửi phủ viện Quảng An thiết lập trấn thủ Vân Đồn

Phạm Phú Thứ

Lịch sử đã chứng minh ngay từ thời Lý, Vân Đồn có vị trí quan trọng và là thương cảng đầu tiên của Việt Nam mở ra đường biển giao thương thịnh vượng với các nước láng giềng như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ. Đã là người Việt thì ai ai cũng biết rằng hàng mấy trăm năm trước giặc phương Bắc luôn lăm le xâm chiếm đất nước Việt nhỏ bé của chúng ta nhưng chúng đã phải chịu thua trước mưu lược và lòng quả cảm của dân ta. Vào thời vua Tự Đức, ông tôi Phạm Phú Thứ làm quan triều đình nhà Nguyễn được chức phong bổ nhiệm làm quan tổng đốc Hải An, kiêm quản khu vực Vân Đồn thuộc phủ Quảng An. Với tài trí nhìn xa trông rộng, nhìn thấy sự quan trọng về địa lý chính trị của Vân Đồn cũng như mối lo ngại với những mưu đồ đen tối của người Trung Quốc hòng thôn tính và lấn chiếm đất của ta, ông đã lệnh cho quan phủ lên kế hoạch phòng bị rồi tâu lên đức vua về việc thiết lập trấn thủ Vân Đồn.

Đó là câu chuyện của hơn 140 năm trước đây. Nhưng ngày nay Vân Đồn vẫn còn nguyên giá trị cuả nó bởi nằm trên tuyến đường hàng hải sôi động của khu vực, nằm ở điểm giữa của tuyến đường biển Hạ Long - Móng Cái, Quảng Ninh, thông thương với các địa phương trong nước qua quốc lộ 18A và qua đường biển đến với thế giới. Tại sao người Trung Quốc muốn mua ba đặc khu quan trọng của ta, trong đó có Vân Đồn, và tại sao ta lại bán cho “người bạn láng giềng tốt bụng” lúc nào cũng muốn nuốt chửng ta? Hay là ta phải bán nó đi để cho Trung Quốc, là đối thủ của Mỹ, bảo vệ ta? Sự việc này làm tôi liên tưởng đến câu thơ nói về chuyện tình thời vua An Dương Vương của công chúa Mỵ Châu và chàng rể phương Bắc tên là Trọng Thuỷ:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.”

Mời các bạn đọc bài mật tư của cụ tổng đốc Phạm Phú Thứ ra lệnh cho quan phủ Quảng Yên thi hành phòng bị trấn thủ Vân Đồn.

Phạm Phú Cường

Quê hương ngày trở lại (kỳ 3)

Thụy Khuê

Nha Trang

Máy bay từ Sài Gòn ra Nha Trang đỗ tại phi trường Cam Ranh. Đường từ phi trường về Nha Trang là một xa lộ rất đẹp, không kém gì những đại lộ nổi danh trên thế giới mà tôi đã đi qua.

Trước khi về nước, tôi đã được đọc những bài báo mạng vô cùng khẩn cấp báo động việc người Tầu đang chiếm miền Nam, họ đã chiếm hết Nha Trang rồi, có một "phóng viên tại chỗ" chụp hình những cửa hàng trên bờ biển Nha Trang 100% là Tầu, y hệt như ở Hồng Kông hay Thượng Hải, vị "phóng viên" này còn cho biết, Nha Trang hiện đã cho tiêu tiền Trung Cộng. Ngoài những thông tin giật gân này lại còn có bài báo (vẫn trên mạng) mô tả chuyện người Hoa ăn thịt người, với chứng cớ đầy đủ: chụp hình mâm cỗ thịt người có món xào, món rán, món nấu ninh rựa mận, kèm bên cạnh là ảnh cô kiểu mẫu chân dài tóc mượt, mắt bồ câu, trước khi bị chặt làm cơm.

Thơ NP Phan

tay vẫy phiêu bồng

những bước chân nào đã rời xa
chẳng nói một lời từ giã
hoàng hôn trắng
đau đáu đợi chờ lời vĩ thanh

mưa có còn rơi trên lối đi xưa
hay chỉ là tháng năm biền biệt
thời gian xanh
mang theo số phận con người
giấc mơ nào đi lạc về phía hư vô

không còn mong nhặt được
chiếc lá rụng trong vườn khuya
tiếng xao xác gió mùa
chỉ còn là hoài niệm
trong tâm tưởng

dòng sông vẫn lặng lẽ trôi
bỏ lại đằng sau những bóng râm u hoài
với tiếng ca đồng vọng
một chút nắng vàng phai
hoang mang trên triền đồi vắng

lời xưng tụng hồn nhiên
xui khiến nụ hoa buồn rưng rức
trong lần hạnh ngộ sau cùng
lời đẩy đưa không hò hẹn
dửng dưng
tay vẫy phiêu bồng



biến khúc thời gian


sẽ có một lúc nào đó
chúng ta sẽ phải tìm về con đường đã từng qua
ở đó có dấu chân thời gian
cơn gió màu xanh lá
thổi qua nửa chừng xuân
bỗng hốt hoảng ngoái nhìn
bầu trời phía sau lưng
đã rực lên một màu hoang dã

bằng cách nào đó
có thể em sẽ nhặt được
tiếng ca đã từng rơi trên thảm cỏ hồng
bình minh thì rất vội
dòng sông đã bỏ đi rất xa
chỉ còn lại cây cầu
chơ vơ cùng tháng năm rời rã

dù thế nào
em cũng sẽ nhận ra
trong dòng âm thanh bất tận kia
có tiếng thầm thì của bông hoa đã úa tàn
nói với em những điều em chưa từng nghĩ đến
dội vào tâm thức
những sớm mai phù vân

thời gian sẽ song hành với chúng ta
để nâng niu những mảnh vỡ ký ức
ánh trăng xanh vô tình
rơi xuống vạt áo em
gợi mở một mùa thu huyền hoặc
những giấc mơ rối bời
lấp lửng sầu đông



một ngày chợt đến


vẳng tiếng chim trong ánh nắng mai
cùng với lời kinh sớm
ngày bỗng bình yên như sự thật
như đã từng là sự thật
chẳng tồn nghi

liệu có một lúc nào đó
nỗi háo hức mong chờ bị bỏ quên
khi bóng râm dịu dàng
đổ xuống giấc mơ đã chín?

có đôi cánh xoãi dài
bên bờ vực hư không
mang đến ngẫu nhiên buồn vui
trong một ngày mong đợi
sẽ hoàn nguyên

chiếc bong bóng đa sắc
lửng lơ trong không gian nhiễu loạn
mơ hồ một tiếng nổ vang
lạnh buốt sống lưng
vỡ ra ngày đã tận

có bàn tay vẫy ở phía xa kia
sau dãy núi mờ sương
và chút gió ngậm ngùi
cho một ngày mong manh
trong cảm thức quay về



hạ khúc

1.
nơi ấy chỉ còn những bông hoa giấy đỏ trắng
nắng xao xác chảy tràn xuống ký ức lặng thinh
những con bù nhìn rơm
hân hoan nhảy múa trên cánh đồng khô hạn
ngân nga những giai điệu
của bài ca sinh tử

2.
vùng phản tỉnh loay hoay giấc mộng trầm luân
buổi chiều hồi sinh tiềm thức
những đưa rước đi về thấp thoáng mù sương
mùa lỡ hẹn thung sâu
lạc lõng đáy vàng
mưa sửng sốt

3.
những cánh tay vươn dài
cài bẫy ngôn từ
nhốt ý nghĩ tầng tầng lớp lớp
trong một bầu trời đa mang sắc màu thiện nguyện
chỉn chu
lớp vỏ bọc
nhân từ

4.
chểnh mảng hắt một giọt nắng vàng vào thiên thu
sự mất mát khởi đầu
chỉ một chiều đi
không có sự đổi trao
thuận mua vừa bán


        
ngày buồn của núi

gió bước chậm qua khung cửa hẹp
mùa đã chuyển dời
ngày gấp gáp
tháp tùng đôi cánh tự do
vẫy vùng trên tầng cao
khiến núi phải ngước nhìn
hân hoan ca tụng

đêm đã rỗng
chỉ còn lời nịnh nọt trần trụi
buốt lạnh
thổi qua ngực trần của núi
nhen nhóm nỗi buồn tang chế

đợi đến bao giờ
một cơn mưa cầu may
sẽ rơi trong miền yên lặng
trên bờ vực tử sinh
ngày núi được giãi bày

rừng cây đang héo khô xơ xác
vàng võ lời cầu xin
núi bỗng thảng thốt cựa mình
nhưng tất cả đều đã muộn
chỉ còn lại những áng mây cứu rỗi
mang hình bóng thiên thu

Mùa xuân trước ngõ

Truyện Hoàng Nga

Tôi hỏi lòng tôi buồn hay lòng tôi vui...

Căn nhà nằm ngay ngã ba. Đi thêm một đoạn, chuyển sang thành hình cong như chữ S. Tôi nói với chàng, khúc thắt lưng ong của chữ S ấy, giống hệt như vị trí thành phố hai đứa từng ra đời và lớn lên. Căn nhà nằm ngoài chữ S, như vậy là nằm ngoài đất nước, nằm nơi đây, nơi có chàng. Chàng khẽ cười, như không biết trả lời sao về những điều tưởng tượng kỳ quặc của tôi.

Mẹ chàng hỏi tôi hàng cây trước nhà có tên gọi là gì. Tôi không kịp nhớ ra tên cây cọ và cây chà là, nên trả lời có lẽ là cây thiên tuế. Cây thiên tuế “của” tôi, trồng cạnh bên một chậu ngâu uốn hình tầng đặt sát lối vào nhà với những chiếc lá lớn nhiều gai, nhọn như lá dừa, tán rộng, che được cả khoảng sân. Buổi chiều tôi và mẹ chàng ra ngồi bên thềm, dưới những bóng cây lao xao nắng ấy. Bà chỉ cho tôi thấy các đóa hoa màu đỏ rực, nhỏ li ti nằm ẩn mình dưới một bụi cây chi chít lá, bảo bà chưa hề thấy loại hoa như vậy ở quê nhà.

Ở quê nhà. Ở quê người. Ở phía sau lưng nhà chàng, bầy chim sẻ thường bay về ríu rít trên những nhành chanh sai quả xanh mượt lá. Lao xao vườn nhà bên, hương bưởi hương cam thoang thoảng đưa vào những buổi sáng tôi xuống nhà sớm, tựa cửa đứng nhìn ra ngoài. Góc cuối vườn, mẹ chàng trồng bụi mía, mấy gốc sả, dăm cây ớt, mớ rau thơm và đôi vạt cà. Nắng ở đây hôm nào lên cũng ngọt. Cũng trong vắt. Vàng óng ả như áo lụa tôi xưa. Tôi nói với chàng nắng xuân, nhưng màu nắng trong suốt ấy bỗng khiến tôi nhớ vô cùng những trưa hè bầy con gái chúng tôi guốc gỗ xôn xao xuống phố. Và lá sả lá chanh làm tôi nhớ thêm mùi bồ kết, thèm được xông tóc bằng các thứ hương ấy như ngày xưa.

Căn nhà, từ chỗ tôi ngồi, nhìn ra phía trước, bên kia đường là những mái ngói đỏ nâu, đêm đêm ánh đèn vàng hắt ra từ các khung cửa sổ đối diện xa xa, gợi nhắc cái hạnh phúc ấm êm mà con người vẫn mỏi mê đi tìm. Buổi trưa, buổi chiều thỉnh thoảng dăm đôi chim nhỏ không hiểu từ đâu bay sà xuống, hân hoan nhảy nhót trên bờ cỏ mượt mà ven đường. Ngày, luôn hiền hòa như một câu tình ca. Đêm, luôn thanh bình như một tiếng thở dịu dàng.

Đêm, ở những nơi tôi từng sống trong nhiều năm qua, khoảng không gian cũng tĩnh lặng, an lành, bình yên như vậy. Bên ngoài cũng chỉ những tiếng động không quá lớn. Không quá lao xao, chộn rộn. Và bên trong, chỉ tôi, về qua giữa những ghế bàn, đồ đạc và sách vở.

Chỉ vậy. Chỉ vậy. Một chốn, mà bạn tôi vẫn đùa chỉ còn thiếu một đạo sư…

Một chốn thật yên ắng, một đời sống thật lặng lẽ, tưởng chừng như chẳng có gì có thể làm dậy lên một cơn gió thoảng huống gì phong ba. Vậy mà hôm chàng gọi cho tôi, từ phía bên kia Đại Tây Dương, với thầm thì câu hỏi, hay là em sang ở với anh, đêm quanh tôi hoàn toàn không còn tĩnh mịch. Bầu trời hoàn toàn không còn dịu êm.

Tôi đã ngẩn người, cầm thật chặt ống nghe trên tay như người chênh vênh trên bờ vực đang ra sức níu lấy một tảng đá, hay một nhánh cây nào đó cho khỏi rơi xuống đất. Tôi như mất trọng lực. Chàng chắc không hay tôi đã bất động như vậy rất lâu với đôi con mắt mở lớn nhìn về phía bóng tối lập lòe những đốm lửa nhỏ từ các ngọn nến trên bàn viết tôi vừa thắp lên ban nãy như vẫn thường làm mỗi khi nghe tiếng chàng bên kia đầu dây gọi sang.

Đêm sâu hun hút. Đêm mịt mùng, và đêm bao lao. Tôi bé bỏng, nhỏ nhoi, lọt thỏm giữa khoảng bóng tối dày đặc. Đầu óc tôi  hỗn độn, chồng chéo muôn vàn ý nghĩ mâu thuẫn hệt như mùi trầm hương và mùi gỗ thông không thể kết hợp lại với nhau, đang phảng phất bay ra từ những ngọn nến.

Thật lâu. Rất lâu. Tôi loay hoay tìm một câu trả lời hợp lý, dễ nghe, nhưng mãi, vẫn chẳng biết nói với chàng thế nào. Cuối cùng, giữa những ngổn ngang bối rối, tôi bảo, để cho em vài ngày.

Vài ngày. Vài ngày, có phải chăng như thói thường, là đắn đo, suy nghĩ. Là toan tính thiệt hơn. Hay là gì, tôi cũng không rõ. Chỉ biết với chính tôi, là băn khoăn, lo lắng. Và là, cả sợ hãi.

Khi chàng chúc tôi ngủ ngon rồi cúp máy, tôi vào giường nằm úp hai tay lên ngực, mắt mở lớn, nhưng thay vì nhìn đêm chuyển động qua ánh lửa lập lòe của những ngọn nến, tôi dán mắt vào bức tường trắng trước mặt. Ở khoảng giữa, tôi treo tấm hình chàng và tôi những ngày duỗi rong bên nhau. Tôi vẫn thường hay nhìn ngắm vòng tay chàng thân yêu ôm quanh tôi như muốn bao bọc, ấp ôm tôi khỏi những sóng gió của cuộc đời với những thân thương trìu mến nhất dành cho chàng.

Lần này, vẫn cái nhìn ấy, tâm tư ấy, nhưng tôi cố lắng nghe sâu hơn, rõ hơn, từ từng tiếng thở, đếm từng nhịp tim mình đang đập. Tôi cũng cố lắng nghe cả những tiếng động đâu đó ở bên ngoài. Tự nhắc tới nhắc lui với chính mình, rằng tôi đang sống, đang thở, và đang yêu.

Rằng trước mặt tôi, bên kia bờ Đại Tây Dương, là chàng. Là chàng, với một cuộc sống hoàn toàn khác với những gì tôi trải qua hằng ngày ở nơi đây. Và chàng, nơi đó đang chờ đợi ngày tôi nhập cuộc vào đời sống ấy.

Tôi nằm yên, cố giữ lòng bình tĩnh không nghĩ ngợi đến những điều cay nghiệt vẫn thường xảy ra với mình. Tôi cũng cố tránh luôn cả câu hỏi, rằng những thứ hạnh phúc nhỏ nhoi, những niềm vui tầm thường thiên hạ vẫn hay nhận được nhưng xưa nay vốn không hay dễ dàng đến với tôi, thì lần này rồi cuộc đời có dành cho tôi một tiếng cười rạng rỡ nào đó hay chăng?

Đêm trong tôi, chừng như bao giờ cũng dài hun hút. Bóng tối chừng như bao giờ cũng như dày đặc bủa quanh. Công việc bắt buộc, từ chỗ làm về đến nhà hàng ngày khiến tôi luôn luôn phải chọn những chuyến tàu nửa khuya hoặc quá nửa khuya. Những chuyến tàu chạy xuyên qua các tầng hầm nằm thật sâu trong lòng đất, nhìn ra ngoài cửa sổ chỉ thấy loang loáng những ánh điện nhỏ dẫn đường ở hai bên, hoặc vài ba signal báo hiệu tàu sắp sửa ngừng lại ở trạm kế tiếp.

Đêm, khi bước hụt bước hẫng lên những bậc thang cao chất ngất rời khỏi nhà ga, băng qua đôi con đường thiếu vắng khách bộ hành, về được đến ngưỡng cửa, có khi thì giờ còn lại cho đến lúc mặt trời lên là chỉ vài ba cái chớp mắt. Chỉ vậy. Vậy mà cứ như thể tôi chưa từng dỗ được cho mình những giấc ngủ không mộng mị. Chỉ vậy mà cứ như chưa bao giờ tôi không phải trở trăn, xao xác chờ đêm qua.

Tôi thường cố tránh, cố bỏ qua đi những điều vụn vặt, những tiểu tiết trong đời sống hằng ngày hay dễ khiến con người mất bình an, nhưng rồi muộn phiền vẫn không thể nào biến mất khỏi tâm tư tôi.

Vẫn những đêm ngút sâu thật buồn, tôi loay hoay chờ trời sáng. Đêm chàng gọi sang, tôi càng loay hoay hơn. Trở trăn mãi vẫn không ngủ được, tôi đã choài mình ngồi dậy vào phòng ăn, đi tới đi lui giữa cái hơi đêm lành lạnh càng lúc càng lan tỏa. Căn phòng ấy, bình thường vốn đã rộng cho một người, chừng như càng thêm rộng, càng thêm khiến tôi thấy mình bơ vơ hơn. Gần sáng, tôi thu người ngồi bó gối trong góc ghế nhìn những đốm lửa nhỏ chập chờn soi rọi khoảng không gian đàng trước mặt. Lệ tôi, không hiểu sao cứ trào dâng lên, và cứ muốn ứa ra khỏi mi mắt.

Đêm mênh mông ngoài cửa sổ. Tôi ngước nhìn quanh những chỗ chàng từng có mặt. Năm ngoái, năm kia, sinh nhật tôi, nơi đây chàng uống với tôi cốc rượu. Cuối tường kia, chàng tựa lưng nhìn tôi sửa soạn thức ăn chiều. Khung cửa sổ nghiêng, ngửa mặt lên trời, nơi chàng đứng ngắm nhìn xuống đường hằng giờ, rồi làm cho tôi những câu thơ lãng mạn...

Nơi đây, nơi kia, có tôi, có chàng. Nơi đây, nơi kia, ngày đã vui, đêm đã hoan ca. Nơi đây, nơi kia, đời sống thực tế, đời sống lãng mạn, chàng và tôi có nhau. Nơi đây, nơi kia, chàng từng bảo chàng cảm thấy hạnh phúc như chưa từng. Và cũng nơi đây, nơi kia, tôi cảm nhận ra được từng niềm vui chan chứa về trong căn nhà của mình.

Tôi đã hỏi lòng mình rất nhiều lần, tôi yêu chàng đến đâu, yêu cuộc sống chàng đến đâu...

Căn nhà, phía trước có giậu hoa giấy. Không biết có phải vì mùa này cây chưa đơm hoa, lá chưa mướt xanh, hay tại cây chưa kịp lớn, chưa kịp phủ ngập giàn để những vạt nắng hanh vàng sáng chiều không đổ xuống trên lối đi. Căn nhà màu trắng. Trên hàng hiên, băng ghế gỗ cũng sơn màu trắng đục. Chàng nói với tôi, chàng thích vạt cỏ trước sân nhà. Tôi nghĩ có lẽ sự tương phản hài hòa giữa những lá dừa kiểng, cùng giàn hoa giấy chưa đơm nụ làm gợi lên trong lòng chàng sự thanh bình, êm ả như những tháng ngày xưa cũ ở thành phố chúng tôi từng lớn lên.

Nhiều hôm tôi thẩn thơ ra trước hàng hiên đứng nhìn đất trời nơi chàng cư ngụ, rồi đi dọc theo con đường cong chữ S, nhìn ngó mãi những mái ấm nhà người ở hai bên đường. Có lúc tôi thấy như mình đang thật sự sống giữa nơi này. Nhưng cũng lắm khi tôi cơ hồ nhận ra đời đang khép lại, dậm chân nguyên một chỗ trước mặt mình. Cái cảm giác tôi chỉ là một người ngoại cuộc, chỉ được đứng phía bên ngoài nhìn vào cuộc đời và sẽ không bao giờ được hòa nhập làm tôi hoang mang.

Nhưng nói cho cùng, dường như tôi không rõ lòng mình. Cũng không hiểu được lòng chàng.

Thỉnh thoảng, lại có vài ba hình ảnh, vài ba ký ức dẫu không mấy buồn nhưng rõ ràng cũng chẳng mấy vui cứ hiện ra trong tôi. Bên tai tôi, thỉnh thoảng vẫn vang lên giọng nói khá thảng thốt, câu hỏi khá bàng hoàng của chàng. “Em có nhìn thấy chiếc nhẫn của anh đâu không?”. Chiếc nhẫn. Cái vòng khuyên nho nhỏ – nho nhỏ thôi – giá trị chắc có lẽ không nhiều gì lắm so với những vòng, những nhẫn, những kim cương được trưng bày trong tủ kính ngoài phố. Nhưng khi hỏi tôi như vậy, giọng nói chàng đã vô cùng thảng thốt. Vẻ mặt chàng cũng có vẻ hoang mang, lo lắng. Chàng chao lòng, bởi chỉ vì đó là kỷ vật, kỷ niệm của chàng.

Chàng thảng thốt, chàng hoang mang, lo lắng. Còn tôi thì xác xao đau. Tôi không nhớ rõ khi nghe chàng hỏi vậy, tôi đã phản ứng như thế nào. Chỉ biết tôi đã đứng một mình trong bóng đêm, nhìn ra ngoài trời. Trời đầy sao. Trời tháng bảy nơi thành phố tôi ở có những đêm rất sáng, có thể nhìn thấy rất rõ từng ánh sao nhấp nháy. Trời sáng. Sao sáng. Và tôi đã đứng im, mắt cay như xát muối, không một hình ảnh nào lọt vào nhãn quan tôi.

Tôi đã tự nhủ lòng, ai cũng có muôn vàn kỷ niệm, ai cũng có những kỷ vật đi theo bên mình. Rồi tôi tự nhủ thêm, đó chỉ là quá khứ. Quá khứ thôi…

Nhưng nhủ vậy mà lòng tôi buồn rất lâu. Cái ngắc ngứ, nhỏ, nhỏ vậy mà đi theo tôi rất lâu. Tôi tự hỏi, quá khứ, dĩ vãng, chuyện xa xưa…, nhưng sao chàng lại giữ canh cánh bên mình trong lần gặp gỡ đầu tiên, rồi cả trong những lần sau đó?

***

Căn nhà, có khung cửa sổ bên phải bàn viết chàng, nơi tôi mỗi buổi chiều ngồi chờ nghe tiếng động cơ xe, tiếng mở cửa, tiếng chân chàng trở về. Mặt trời thường xuống thật thấp, ráng chiều ưng ửng cam sau những hàng thông phía xa xa chỉ đủ soi rọi một khoảng không gian nho nhỏ bên ngoài. Một chỗ ngồi, yên tĩnh, hiền hòa và dễ thương. Một chỗ, tầm nhìn không vượt hơn vài ngọn lá, hồng đôi cánh hoa, thỉnh thoảng lắm mới có dăm tiếng xe lướt bên ngoài, mới vang lên tiếng chim chiều, hay tiếng chân mẹ chàng khe khẽ khua lên đâu đó ngoài hành lang. Một chỗ để chàng có thể ngắm nhìn và làm thơ.

Căn nhà, ngày rất tươi vui. Đêm rất yên bình. Nhưng vẫn tôi, không thấy sự khác biệt giữa ngày và đêm. Vẫn tôi những khuya nằm mở mắt nhìn quẩn quanh lên trần nhà, lên bàn viết chàng. Vẫn tôi khó nhọc một giấc ngủ không chiêm bao. Và vẫn tôi, với cái thói quen muốn trở dậy ra ngoài, muốn đốt lên một ngọn nến, rót một ly rượu, rồi chong mắt nhìn vào bóng tối…

Nhiều lần tôi cố cho mình dị kỳ. Cố nghĩ rằng mình quá nhạy cảm. Tôi cũng tự nhắc nhở rằng chàng đang hiện diện thật gần, rất gần. Chỉ cần xoay người, là có thể úp mặt vào ngực chàng ấm áp. Chỉ cần trở mình, là có thể gối đầu lên cánh tay chàng, nghe được tiếng thở đều đặn, nhìn thấy gương mặt hiền hòa, ngửi được mùi mồ hôi thân quen của chàng.

Tôi nhắc tôi nhiều lần. Tuy nhiên những cơn mộng mị hoàn toàn không chịu buông tha tôi. Nỗi đơn côi vẫn níu được tôi xuống. Xuống đến tận cùng.

Mùa xuân qua thật lạ trong đời tôi. Đêm trước giao thừa, chàng nói, có tôi, nên bỗng dưng chàng thấy ở nơi đây có Tết. Có tôi, nên chàng nhìn ra được không khí mùa xuân đang về, nao nức quanh chàng.

Tôi trả lời chàng, có chàng, lần đầu tiên trong đời xa xứ, tôi cũng nhìn thấy sự hiện diện của đất trời, của nguyên đán, của tân xuân.

Rất nhiều lần tôi đã muốn nói với chàng, tình yêu có thể thay đổi được đất trời. Và tôi đang yêu chàng biết bao nhiêu. Nhưng mãi, tôi vẫn không cách gì, không thể nào nói ra được điều ấy với chàng.

Tôi không biết có phải tôi đã không đủ can đảm để tin tưởng cuộc đời sẽ chấm dứt những muộn phiền dành cho tôi. Hay tôi sợ những nhỏ nhặt, những ngắc ngứ trong đời sống sẽ làm vỡ tan những điều tôi đang có trong tầm tay.

Buồn vỡ ra trong tôi. Tôi lao xao nghĩ về một chốn tôi sẽ đặt chân đến. Một chốn, thật ra là nơi tôi đã bỏ đi rất xa. Rất lâu. Những tưỏng sẽ không bao giờ quay trở lại.

Nơi ấy, tháng sáu luôn luôn là mùa xuân. Là nơi lá hoa sẽ kết nụ đơm cành nhưng là nơi những mùa xuân không bao giờ có Tết. Là nơi hiện tại đất trời đang có những chiều mưa rất lớn, cùng những cơn gió rít thật buồn.

Nơi ấy, tôi biết chắc rằng tôi sẽ một mình. Biết chắc rồi sẽ có thêm nhiều đêm tôi nằm hoài không ngủ, sẽ trở giấc ra ngoài đốt lên những ngọn nến hắt hiu, sẽ tự rót cho mình những ly rượu buồn thảm.

Và là nơi, tôi sẽ cách xa thêm chàng vài ngàn dặm.

Tôi sực nhớ đến câu thơ. Nay mùa xuân đang đến thật gần. Anh viết tặng bài thơ tình thứ nhất (*)Tôi nghĩ mãi đến mùa xuân đang gụi gần, trời đất đang chuyển mình tươi vui, đằm thắm bên ngoài.

Tôi nói với chàng, giữ giùm tôi với, mùa xuân trước ngõ nhà chàng. Giữ giùm tôi với, không gian chàng đang cư trú. Và giữ thêm giùm tôi nữa, căn phòng nho nhỏ tràn đầy tiếng cười ấm áp của tôi của chàng những sáng những chiều có nhau.

Tôi nói chàng giữ lại cho tôi mọi điều. Nâng niu giùm tôi mọi điều. Trân quí giùm tôi mọi điều.

Nhưng nói vậy, mà lao xao trong dạ, tôi không biết đến bao giờ mình mới có thể quay lại vào mùa xuân để lần nữa thấy bầy chim sẻ, ngọn lá mượt xanh, nhành cây trĩu quả, và ánh đèn vàng sau làn cửa kính làm dậy trong tôi cái ước mơ hạnh phúc lứa đôi...

---------------------

* Thơ Nguyễn Nam An

Những khoảng tối có ma (kỳ 4)

Tiểu thuyết Nguyễn Viện

Sau này, tôi biết tất cả mọi chi phí vui chơi của hắn đều do người khác thanh toán. Hắn chỉ việc báo miệng, không cần chứng từ, hóa đơn.

Hắn vung vít mọi chuyện, dường như không phải bận tâm điều gì, nhưng tôi vẫn nhận thấy cái vòng kim cô trên đầu hắn, đấy không hẳn là của ông chủ chi tiền cho hắn, mà sâu thẳm hơn, căn tính nô lệ của hắn trong sự bộc lộ quan điểm một cách chính thống, giáo điều. Anh có thể làm tất cả mọi điều, ngoại trừ những gì trái ngược với sự trung thành. Đấy là nguyên tắc của sự tồn tại mà anh phải chấp nhận, nếu anh muốn có đặc quyền, đặc lợi, dẫu vong thân hay phi nhân tính, hoặc điều gì đó tệ hơn.

Gởi anh Lê Nguyễn, nhà nghiên cứu lịch sử

Lê Học Lãnh Vân

image

Lê Nguyễn

Biết tên anh Lê Nguyễn từ trước, đọc bài anh viết càng quí anh hơn. Với tui, chữ TÂM là chính, chỉ cần một chữ đó là đủ soi rọi nhiều thứ trên đời, soi hai miền thực và ảo. Cho nên, chỉ là bạn ảo của anh, bạn Phây, nhưng tui quí anh như quí bạn thực ngoài đời. Ấy là nhờ tui cảm được chữ TÂM trong các dòng trạng thái của ảnh. Và trong các tác phẩm có tính sử học của nhà nghiên cứu Lê Nguyễn.

Chúc mừng Thận Nhiên đã có sách in “Những ghi chép ở tầng thứ 14”

Chúc mừng nhà văn Thận Nhiên đã có sách mới: tiểu thuyết Những ghi chép ở tầng thứ 14 đã được Văn Học Presss xuất bản, tháng 5/2019.

Trong hình ảnh có thể có: văn bản

Sách có lời bạt của Trịnh Y Thư, bìa của Đinh Trường Chinh, dày 189 trang, giá 15 USD. Bạn có thể mua sách trên Barns & Noble bằng cách search keywords: Nhung ghi chep o tang thu 14. Hoặc bấm vào đường dẫn sau:

https://www.barnesandnoble.com/w/nhung-ghi-chep-o-tang-thu-14-than-nhien/1131520342?ean=9781987061376.

Chủ nghĩa Marx như tôi biết

Hiếu Tân

MARX & MAO

Ai đúng? Ai sai?

Mao có sai không?

Một tối đi bộ thể dục, thấy hai cụ thuộc dạng “lão thành cách mạng” vừa đi vừa nói chuyện. Một cụ nói rất gân guốc, “Tôi nói với ông, NGAY CẢ đến “cụ” Mao CŨNG CÓ THỂ sai lầm!”

Tôi cười thầm.

Mao không sai đâu.