Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Chủ nghĩa phát xít (kỳ 2): Đức Quốc Xã và Trung Quốc Xã

Nguyễn Thọ

3-Bành trướng lãnh thổ:

Nếu dùng từ „Đức Quốc Xã“ để gọi Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia Đức (NAtional soZIalism = NAZI), thì cũng nên gọi Chủ nghĩa Xã hội mang mầu sắc Trung Quốc là „Trung Quốc Xã“.

Quá tự tin vào lực lượng vật chất và truyền thống quân phiệt Phổ, Hitler đã không ngần ngại phát động chiến tranh để giành lãnh thổ. Đầu tiên, Hitler nhắm tới các quốc gia lân bang có người Đức sinh sống là Áo, Tiệp Khắc và Ba-Lan. Người Áo cùng huyết thống nên sa ngay vào cái bẫy „Chủng tộc thượng đẳng“ của Hitler thì khỏi phải nói. Ba-Lan và Tiệp Khắc thì tuyệt vọng cầu cứu các cường quốc phương Tây vốn đang thỏa hiệp với Hitler (xin google „Hiệp ước Munich“ sẽ rõ).

“Thánh thượng sáng suốt” và cơn ma túy dân chủ

“Thánh thượng sáng suốt” và cơn ma túy dân chủ

Hoàng Dũng

Trong một status cách đây ba ngày, tôi đã đưa ra bằng chứng tại một cuộc Hội thảo được tổ chức vào ngày 18 tháng 1 năm 2018 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư bảo trợ, người ta đã nói thẳng rằng “vị trí chiến lược” của Đặc khu Kinh tế - Hành chính Vân Đồn là “hành lang nối Việt Nam và ASEAN với Trung Quốc, một nút quan trọng trong đề án Một vành đai, một con đường của Trung Quốc”.

Thực ra, ngay từ năm 2012, Viện Nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo lớn, phối hợp với Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hóa các nước Á – Phi (Đại học Ngoại ngữ Tokyo, Nhật Bản), về “hai hành lang một vành đai kinh tế” Việt Nam – Trung Quốc. Hai hành lang là Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng và Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng. Còn một vành đai là Vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, bao trùm:

Mì lạnh Pyongyang Naengmyon

Tạp bút Từ Thức

Hình ảnh lưu truyền nhiều nhất trên các mạng xã hội, sau cuộc gặp gỡ giữa lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong-Un và Tổng Thống Nam Hàn Moon Jae-In, không phải là cái bắt tay lịch sử, nhưng là tô mì lạnh. Đầu bếp của Kim đã nấu đặc sản Bắc Hàn, mì lạnh Bình Nhưỡng, Pyongyang Naengmyon, thết đãi phái đoàn Nam Hàn.

Sau bữa tiệc ở Bàn Môn Điếm, khu phi quân sự giữa hai nước, người ta xếp hàng dài, cả giờ, trước những tiệm ăn để được thưởng thức món mì lạnh, tại Nam Hàn, hay những thành phố trên thế giới có tiệm ăn Hàn, nhưng thất vọng vì không còn một ghế trống.

Năm điều ít biết về Erich Maria Remarque

Hôm nay (22/6/2018) sinh nhật lần thứ 120 của nhà văn Đức vĩ đại thế kỷ XX Erich Maria Remarque (1898 – 1970), tác giả của những tác phẩm nổi tiếng: “Phía Tây không có gì lạ”, “Chiến hữu”, “Khải hoàn môn”, “Thời gian sống và thời gian chết”… Báo Nga “Nhân chứng và Sự kiện” (www.aif.ru) đăng tải năm sự kiện ít biết về ông.

1. Từ chối huân chương Thập tự sắt

Erich Maria Remarque là một người theo chủ nghĩa hòa bình nhiệt thành, nhưng không quan tâm đến các pháp luật Đức hồi ấy. Vì vậy tháng 11/1916 nhà văn tương lại bị gọi nhập ngũ và bị đưa ra chiến đấu ở mặt trận phía Tây. Thực ra thì Remarque phải tham chiến ở mặt trận không lâu. Tháng 7/1917 Erich Maria bị liền năm vết thương trong đó có một vết ở tay. Chính vết thương ở tay phải này đã khiến Remarque đau khổ nhất. Hồi ấy ông đang mơ theo con đường âm nhạc và đặt nhiều hy vọng vào kế hoạch này. Sau hơn một năm điều trị ở quân y viện, Remarque được chuyển về tiểu đoàn bộ binh dự bị. Trong khoảng thời gian ấy Hội đồng công nhân và binh lính đã quyết định trao cho ông huân chương Thập tự sắt hạng nhất. Remarque đã lịch sự từ chối.

Tiếng Việt thời LM de Rhodes - cách gọi ngày tháng/thời gian (phần 6)

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về các cách gọi thời gian như giờ, ngày, tháng trong tiếng Việt vào thời LM de Rhodes sang An Nam truyền đạo. Tài liệu tham khảo chính của bài viết là các tác phẩm Nôm của LM Maiorica và Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC), Phép Giảng Tám Ngày (PGTN) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là từ điển Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Các chữ viết tắt trong phần này là CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), NCT (Nguyễn Cung Thông), ĐCT (Đức Chúa Trời), ĐCGS (Đức Chúa Giê-Su), LM (Linh Mục), HV (Hán Việt), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1234), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), A (tiếng Anh), L (tiếng La Tinh). Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để bạn đọc tiện tra cứu thêm. Hi vọng bạn đọc bài viết này cảm thấy thích thú và tìm hiểu sâu xa hơn nữa.

Cám dỗ Việt Nam

Nguyễn Hữu Liêm

Chúng ta mang một ám ảnh lớn từ lịch sử chỉ vì có lẽ chúng ta bị hoang tưởng về những khả thể quá lớn cho tương lai?

Hôm nay, một ngày hè, trước khi lên đường đi Việt Nam, tôi ngồi trong phòng vắng để đọc lại "The Temptation of the West," (Niềm Cám Dỗ Tây Phương) (1926) của André Malraux. Từ một lá thư giả tưởng bởi một người Á đông mang tên Ling gởi cho một người Âu châu tên A. D., ông đã viết rằng, người Âu châu mang ý chí "đem vũ trụ đến cho con người"; còn người Á đông thì ngược lại, muốn "cống hiến chính mình cho vũ trụ." Người Tây chỉ muốn thông hiểu vũ trụ bằng ý chí nhân cách hóa không gian thành ra một đối tượng vật thể hữu hạn; người Đông thì muốn chính nhân cách mình biến mất vào hư không nhằm khai sáng cái chiều sâu vô cùng của vạn vật.

Cho một ngày báo chí: LÒNG DŨNG CẢM VÀ TỰ DO NGÔN LUẬN

Timothy Garton Ash

(Rút từ facebook của Phạm Xuân Nguyên)


Timothy Garton Ash là nhà sử học và nhà văn. Ông là giáo sư nghiên cứu châu Âu tại Đại học Oxford, đồng thời là giám đốc chương trình Tranh biện Tự Do Ngôn luận. Cuốn sách mới nhất của ông là Free Speech: Ten Principles for a Connected World (2016). Bài dưới đây trích từ sách này.

Chủ nghĩa Phát xít (kỳ 1): CHXH kiểu Trung Quốc và CHXH Quốc gia Đức, cặp bài trùng

Nguyễn Thọ

Xưa nay tôi chỉ viết về những gì biết rõ quanh tôi và có dẫn chứng rõ ràng. Nhưng những sự kiện xung quanh các cuộc biểu tình ngày 12.06, các tranh luận về luật An ninh mạng, về 3 đặc khu kinh tế mà trong thực tế đã bắt đầu ra đời từ năm 2016 đang làm tôi lo ngại. Thấu hiểu mối lo của quan chức Việt Nam trước việc đồng bào mình chống lại sự phụ thuộc Trung Quốc, chứng kiến những âm mưu áp dụng các sắc luật phi dân chủ của Trung Quốc vào Việt Nam, tôi thấy phải viết về Chủ nghĩa Phát xít Trung Hoa để nêu bật mối đe dọa.

Trong bài „Bệnh dịch nâu” (the brown pest) đầu năm nay, tôi đã chứng minh Chủ nghĩa Phát xít Hitler bắt nguồn từ ý tưởng xây dựng Chủ nghĩa Xã hội Quốc gia Đức (1933-1945) và tôi coi „Chủ nghĩa Xã hội mang mầu sắc Trung Quốc“ đang là mối đe dọa phát xít mới của nhân loại trong thế kỷ 21.

https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/2028987187119344

Ẩn dụ, cuộc phiêu lưu của chữ (kỳ 7)

Chương 7

Ẩn dụ ý niệm: những ý niệm căn bản

Ẩn dụ ý niệm là một quan điểm về ẩn dụ được George Lakoff, nhà ngữ học Hoa Kỳ (1941-) và Mark Johnson (1949-), triết gia Hoa Kỳ, lần đầu tiên khảo sát trong tác phẩm Metaphors We Live By xuất bản vào năm 1980. Được xem là mới mẻ nhất về ẩn dụ trong ba thập niên qua, quan điểm này tạo nên một ảnh hưởng sâu rộng, không những chỉ trong lãnh vực của ẩn dụ học mà còn lan tỏa ra trong nhiều lãnh vực khác nhau. Nhiều tác giả đã áp dụng quan điểm này trong việc nghiên cứu văn chương, triết học, chính trị, thẩm mỹ, quảng cáo, âm nhạc và cả trong khoa học.[1]

Trư cuồng (kỳ 11)

Nguyễn Xuân Khánh

Tiểu thuyết

Phần 2

Hành trình vào hỗn mang

Khi sửa sai, ông Hương tẹo được xuống thành phần trung nông lớp trên, còn anh Thái được phục hồi danh dự. Nhân dân lúc này sì sào về Tí giò, nhưng đồng chí cán bộ sửa sai giải thích:

- Có sai lầm, nhưng phải hiểu cải cách ruộng đất thắng lợi là cơ bản… Còn các đồng chí cán bộ cốt cán, về cơ bản cũng là những con người rất tốt; họ vẫn là chỗ dựa của Đảng. Sửa sai cốt để đoàn kết nông dân, chứ không phải để hục hặc lẫn nhau. Phải đoàn kết giữa các đồng chí cũ và mới. Phải hiểu rằng các đồng chí cốt cán rất triệt để cách mạng. Họ sai bởi vì họ quá triệt để. Nhưng, triệt để cách mạng là một phẩm giá cao quí nhất.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 48): Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh viết về nhà văn Võ Kỳ Điền

Nhà văn Võ Kỳ Điền và dòng ý thức xuyên suốt trong tác phẩm

Nguyễn Vy Khanh


Nhà văn Võ Kỳ Điền sinh ngày 30.10.1941 tại Dương Đông, Phú Quốc, trưởng thành và hành nghề dạy học ở Bình Dương (và một thời gian ở Ba Xuyên) sau khi tốt nghiệp ban Việt Hán Đại học Sư phạm Sài Gòn. Vượt biển đến Mã Lai năm 1979 và định cư ở Montréal rồi Toronto. Võ Kỳ Điền bắt đầu viết văn khoảng năm 1980, những truyện ngắn đầu tay của ông xuất hiện trên tờ Dân Quyền ở Montréal và Làng Văn ở Toronto (Canada) trước khi trở thành một trong những nhà văn góp phần đánh dấu một giai đoạn văn học lưu vong nặng chính trị nhất của người Việt. Tờ Dân Quyền số 1 ra đầu tháng 2-1978 đến năm 1987 ngưng mặt báo chí, thông tin văn nghệ để tham gia các liên minh và mặt trận đấu tranh trên các diễn đàn hải ngoại – nay đi vào quên lãng đối với các thế hệ sau. Những cây viết của nhóm như Bắc Phong nay ngưng làm thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy, nhà thơ Vũ Kiện đã mất ở Québec, Nguyễn Ngọc Ngạn từ bàn đạp tiểu thuyết chống Cộng trở thành nghệ sĩ nói, một số khác (đã) đi vào đấu tranh và số khác nữa sử dụng 'lý tưởng' để hợp tác với 'kẻ thù' theo... thời. Phần tư thế kỷ sau, thời gian và chính trị thế-giới đã xoay chiều. Cuộc chiến tranh lạnh đối với nhiều nước và chiến-tranh Việt-Nam đối với Hoa-Kỳ đã là chuyện... tiền kiếp, với người Việt thì vết thương chiến-tranh đó có khi vẫn chưa thành sẹo. Dĩ nhiên nếu không nuôi... sẹo như Triều Sơn thời tha hương đi lính cho Pháp thì cũng không thể quên vết sẹo nhiều lúc vẫn làm ngứa tâm can, một loại sẹo "thế hệ" không dễ gì quên. Nhưng, đời sống vẫn theo dịch lý tuần hoàn và nước vẫn chảy dưới cầu, mùa Đông cực Bắc Mỹ có đông giá nhưng nước vẫn âm ỉ chậm trôi ngầm bên dưới những tảng băng. Cũng chính thời gian đã cho thấy Thiện Ác và nhân quả nhãn tiền. Riêng Võ Kỳ Điền, sau những trận... chiến Văn Bút và nghiêng ngã tình đời, tình người, ngưng sáng tác một thời gian, nay hình như đã ổn định cuộc đời và gần đây sáng tác trở lại và thiên về bút-ký.

Văn học miền Nam 54-75 (469): Lệ Hằng (kỳ 1)

Nhà văn nữ Lệ Hằng sinh năm 1948 tại Hải Dương, miền Bắc. Vào Nam năm 1954. Rời VN đến Úc vào năm 1989, Lệ Hằng đã chọn vùng Blue Mountains sống một cuộc sống lặng lẽ cách thành phố Sydney hoa lệ (bang New South Wales) khoảng 100 km! Blue Mountains là một vùng núi non trùng điệp, nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Sau đó, nhà văn chuyển về vùng Cabramatta để... được gần gũi với những người Việt đồng hương... mà theo bà là: "Lá rụng về cội”.

Bắt đầu sáng tác từ năm 1967, nhà văn nữ Lệ Hằng đã từng nổi tiếng ở Sài Gòn với các tác phẩm trước 30.4.1975: Thung Lũng Tình Yêu, Tóc Mây, Bản Tango Cuối Cùng, Ngựa Hồng, Mắt Tím, Tình Yêu Như Băng Sơn, Chết Cho Tình Yêu, Kinh Tình Yêu... Từ sau 1975 bà tiếp tục sáng tác ở hải ngoại, đi đi về về VN, một số tác phẩm chính trong giai đoạn này: Sa tăng Dịu Dàng (1992), Nghề Làm Vua (truyện dài 1992), Hạnh Phúc Quanh Ðây (truyện phim, Sài Gòn 1981), Bình Nguyên Xanh (truyện phim, Sàigòn 1982), Năm 2100, Bên Kia Là Núi, Nói Thầm Với Ðá (1998)...

Thơ thời cuộc – Bùi Mai Hạnh và Trần Hoàng Trúc

Bùi Mai Hạnh


Tự thú


Tôi nghe tiếng thì thầm tổ quốc
trong đêm đen
lóe lên ánh sáng xanh màn hình iPhone
những rãnh nhăn khổ đau những tiếng thét tuyệt vọng
ba tin thật bảy tin thất thiệt
bằng tiếng Việt
của người Việt
máu gọi máu
hôi hổi tươi ròng Việt Nam

Bằng chứng đây!

Hoàng Dũng

Diễn đàn Bền vững Việt Nam 2018 do Hội Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu và Học viện Chính sách và Phát triển tổ chức ngày 18 tháng 1 năm 2018 tại Trung tâm hội nghị quốc gia, dưới sự bảo trợ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có đăng tài liệu sau đây, trình bày tại Workshop 4: Đặc khu Kinh tế - Hành chính Vân Đồn – Thành phố bền vững và các cơ hội đầu tư (Van Don – Special Administrative and Economic Zone: Sustainable City and Investement Opportunities). Lưu ý cái gọi là Học viện Chính sách và Phát triển (tên tiếng Anh: Academy of Policy and Development) thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trụ sở nằm ngay trong tòa nhà của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (ngõ 7 Tôn Thất Thuyết, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội).

Không được làm báo bằng tiền dân!

Ngô Minh

Trong hình ảnh có thể có: vẽTrên thế giới, báo chí là một ngành kinh tế mang lại lợi nhuận khổng lồ. Nhưng ở ta đa phần tờ báo “lề phải” từ năm 1954 đến nay đều được bao cấp, nghĩa là lấy tiền ngân sách (tiền thuế dân đóng) để làm báo. Có người lý luận rằng: “Báo chí cách mạng là để tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, nên phải bao cấp”. Đó là luận điệu của bọn cơ hội, bọn không biết xót tiền dân! Người viết xin có mấy ý kiến sau:

Thứ nhất, báo chí là một nghề, cũng như bao nhiêu nghề khác như nghề giáo, nghề mỏ, v.v. Nhà báo cũng là người lao động, sống bằng lao động của mình, cũng như triệu triệu người lao động chân tay, trí óc khác. Đã là người lao động thì phải làm lấy mà ăn. Thế mà nhà báo “lề phải” lấy tiền thuế của dân để nuôi sống mình, để làm ra tờ báo không ai muốn mua đọc, là điều bất công lớn nhất trong lao động ở xã hội ta hiện nay, cần phải trừ bỏ. Có thể khẳng định đây không phải bất công nữa mà là ăn cắp, tham nhũng! Đa phần báo Đảng, báo, tạp chí của 64 tỉnh đảng bộ, báo ngành (Bộ, Tổng Công ty) biên chế rất đông. Báo đảng tỉnh có nơi tới 50, 70 người, có tờ báo ngành biên chế lên tới 400 người, trụ sở tòa ngang dãy dọc, xe con hai ba chiếc. Mỗi năm chi trả lương cho bộ máy, chi bảo trì nhà cửa, xăng xe lên tới cả mấy trăm tỷ đồng. Nhưng tờ báo họ làm ra chỉ in ấn được 1000 đến 3000 bản, chỉ dùng để phát đến bí thư chi bộ, còn 90 triệu người dân Việt thì hầu như không ai đọc, thậm chí không biết có tờ báo đó ở trên đời. Đó là sự vô lý, sự bất công lớn nhất. Cho nên mới có nghịch lý: “Báo Nhân Dân thì lãnh đạo đọc, còn đích thực NHÂN DÂN thì không đọc!”.

Biển

Hà Thúc Sinh


Biển tràn mặt đất biển lan nhanh

Biển ngập rất mau và rất xanh

Biển lớn dâng lên đầy phố xá

Biển thu mình lại lách qua ghềnh

Biển đi như chẳng cần ngưng nghỉ

Biển chợt dồn lui sóng gập ghềnh

Biển chập vào nhau như đạn phá

Thủ đô Hà Nội nằm trong tay ai?

Nguyễn Ngọc Chu


Nghe Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nói Hà Nội sẽ như Hong Kong, Singapore thì giật mình tưởng đang ngủ mơ. Nhưng kiểm tra lại thì rõ ràng: "Hà Nội đặt ra một số tiêu chí trong môi trường kinh doanh đuổi sát Singapore, Hong Kong trong 4 năm tới, việc này có làm được không? Chủ tịch Hà Nội khẳng định làm được, tôi nghĩ Hà Nội hoàn toàn làm được", Thủ tướng nhấn mạnh” (Tuổi trẻ 17/6/2018, Thủ tướng: Hà Nội sẽ đuổi kịp Hong Kong, Singapore).

Chưa hết, hôm nay (17/6/2018) lại thấy báo Dân Trí đưa tin, rằng “Chính phủ hoàn toàn đồng ý giao hoàn toàn hơn 2.000 hécta đất” khu vực trục Nhật Tân – Nội Bài cho chủ một công ty bất động sản, nhưng “chỉ nhận làm một phần thôi” để xây “thành phố thông minh” 4 tỷ USD, “phấn đấu đẹp hơn Singapore”. Đến đây thì không chỉ choáng váng, mà tự hiểu mình đích thực đang bị ngộ độc.

Chùm Thơ Thiền Việt Nam, qua bản dịch Việt và Anh

Thơ Thiền Lê Nguyễn

(Trích Tuyển Tập Thơ Thiền Lê Nguyễn sắp xuất bản)

1. Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585)

Du Phổ Minh tự

Loạn hậu trùng tầm đáo Phổ Minh,

Viên hoa dã thảo mãn nham quynh.

Bi văn tước lạc hòa yên bích,

Phật nhãn thê lương chiếu dạ thanh.

Pháp giới ưng đồng thiên quảng đại,

Hương nhân do thuyết địa anh linh.

Liêu liêu cổ đỉnh kim hà tại,

Thức đắc vô hình thắng hữu hình.

Chùa Phổ Minh: Thuộc xã Túc Mặc, huyện Mỹ Lộc, Phủ Thiên Trường (nay xã Lộc Vượng, huyện Mỹ Lộc, Nam Định), xây dựng từ thời Trần, trong đó có vạc Phổ Minh nổi tiếng. Vạc đã bị quân Minh phá làm súng đạn năm 1426, khi bị nghĩa quân Lam sơn bao vây.

Chiều hôm, một người khách lạ

Truyện Nguyễn Đức Tùng


Chiều hôm, một người khách lạ tới bên kia đường.

Đó là đoạn Lê Đại Hành chạy qua Bình Thới, giữa hai hàng phượng cao rợp mát. Trong ngõ hẻm đối diện có dãy hàng hoa nằm khuất sau những hàng quán khác. Người đàn ông trung niên tiêu biểu cho thời đại mình: gầy gò, đen đúa, sẵn sàng biến mất vào đám đông. Ông ta băng qua dòng xe cộ, bước vào hẻm, bắt chuyện với thằng bé đang bày trò chơi với hai đứa nhỏ chừng như em nó. Bọn trẻ đã quen, đưa mắt tò mò nhưng không ác cảm, nhìn người đàn ông. Cuộc trò chuyện dăm bảy phút, có khi ông ta lôi từ trong túi ra một thứ gì như bánh kẹo. Con hẻm lụp xụp, mái bạt đầy nước mưa trĩu xuống, trẻ con cười đùa khắp nơi, đuổi nhau, bụi bay mù những kệ quần áo sida, những bó hoa tươi. Nhìn người lạ vui vẻ đi ngược ra đường, bạn nghĩ, những cuộc gặp ấy sẽ không dừng lại.

Trong những ngày lịch sử bị động kinh

Trần Hoàng Phố

1-

tất cả như một cơn mê sảng
và lịch sử bất hạnh trong cơn tự sướng
các cuồng ngôn
của quan chức mọc ra như nấm
sau mưa
lịch sử như người đàn ông mù
cầm đờn hát dạo
lúc buổi chiều tà bên sông
và một hoàng hôn đang xuống
buồn bã

“Sức Mạnh của Hoa”

Hoàng Dũng

clip_image002

Bức ảnh trên là do Marc Riboud chụp ngày 21 tháng Mười năm 1967. Cô gái trong ảnh Jan Rose Kasmir, đang đứng trước hàng Vệ binh quốc gia, súng lắp lưỡi lê, ngăn đoàn biểu tình chống chiến tranh Việt Nam, đông đến hơn 100.000 người, kéo nhau đến trước Lầu Năm Góc. Lúc ấy Jan Rose Kasmir mới 17 tuổi, là học sinh trung học. Sau này Riboud nói về bức ảnh: “Cô chỉ nói thôi, cố nhìn vào mắt người lính, có lẽ cố nói chuyện với họ. Tôi có cảm tưởng những người lính ấy sợ cô hơn là cô sợ hàng lưỡi lê”. Bức ảnh được đăng trên Look ngày 30 tháng 12 năm 1969 với tên: “Cuộc đối đầu sau cùng: Hoa và Lưỡi lê”.

Thử đi thi tú tài với con Tây

Nguyên Ngọc

Sáng nay 18 tháng sáu – 2018, học sinh Pháp đi thi Tú tài (tức tốt nghiệp Trung học phổ thông). Theo truyền thống, ngày đầu tiên bắt đầu bằng môn Triết. Mỗi thí sinh ở từng Ban phải chọn trả lời một trong hai câu hỏi dưới đây và viết một bình luận về một trích đoạn tác phẩm của các nhà triết học.

Có ai muốn thử đi thi tú tài với con Tây không?

Viết nhân Ngày Lễ Cha: Hai vì sao


Tùy bút Nguyễn Đức Tùng


Một giờ sáng, bác sĩ nội trú gọi điện thoại báo tin bệnh nhân D. yếu dần, chắc không qua khỏi, hỏi tôi có đến không. Tôi có thể đợi đến sáng mai, nhưng lần này thì tôi đi ngay. Dãy lầu dành riêng cho bệnh nhân già yếu im vắng, tôi vẫn ghé thăm ông vài hôm một lần. Tôi nhớ lại tiểu sử: 87 tuổi, vui tính, gốc Ba Lan, góa vợ, thiếu máu động mạch tim, sick sinus, rung nhĩ, máy tạo nhịp, ung thư tiêu hóa. Hồ sơ bệnh nhân có chữ no code, đó là một người bệnh không muốn cấp cứu giai đoạn cuối, muốn ra đi yên bình. Khi tôi đến thăm, bao giờ đầu giường cũng thấy hai bức ảnh của hai chàng trung niên, một người mang kính, nghiêm nghị, một người trán hói tươi cười, cả hai đều đẹp trai. Đó là hai người con của ông đang ở Hoa Kỳ. Mặc dù kín đáo, khi được hỏi, mặt ông tươi lên và kể chi tiết về các con. Cả hai đều là những nhà thiên văn học, say mê các vì sao từ khi còn học trung học ở Canada, nay đều đã có vợ con, và rất nổi tiếng. Ông kể cả hai có công phát hiện những tinh tú mới và tên của họ được đặt tên cho hai vì sao. Thỉnh thoảng vài năm các con và cháu cũng bay về thăm ông, và thỉnh thoảng gọi điện thoại. Ba năm gần đây họ không về nữa, điện thoại thưa dần, vì công việc bận rộn. Như thế cũng vô tình, nhưng vẫn không tệ lắm so với nhiều gia đình khác, tôi thầm nghĩ.

Ẩn dụ, cuộc phiêu lưu của chữ (kỳ 6)

Trần Hữu Thục

Chương 6

Paul Ricoeur: chữ, câu, diễn ngôn và hiện thực

Paul Ricoeur (1913-2005), triết gia Pháp, bàn về ẩn dụ trong nhiều bài viết từ những năm đầu thập niên 1970 cho đến năm 1986. La Métaphore vive là tác phẩm quan trọng nhất của Ricoeur về ẩn dụ, xuất bản năm 1975. Với Ricoeur, ẩn dụ không phải là vấn đề ngôn ngữ, lại càng không phải là vấn đề trang trí, mà là vấn đề ý nghĩa. Ý nghĩa là cái gì không chứa đựng trong chữ, mà nằm trong liên hệ giữa chữ, câu và diễn ngôn, qua đó, là liên hệ giữa ngôn ngữ và những quy chiếu nằm ngoài ngôn ngữ, tức là sự vật.

Trước hết, Ricoeur phê phán vai trò “ưu thế của chữ” trong quan điểm cổ điển cho đến “tính nhất nguyên” của ký hiệu trong quan điểm cấu trúc. Sau đó, ông khẳng định vai trò then chốt của câu và diễn ngôn trong ẩn dụ, để hình thành một quan điểm riêng biệt về ẩn dụ được mệnh danh là “lý thuyết căng thẳng”.

Doanh nghiệp mạng Trung Quốc phải phục tùng chính quyền ra sao?

Vi Yên

image

Tháng 6 năm ngoái, Luật An ninh mạng bắt đầu có hiệu lực ở Trung Quốc, khiến cho giới doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng (gọi tắt là doanh nghiệp mạng) trở nên khốn đốn hơn bao giờ hết.

Theo điều 47 của luật này, doanh nghiệp mạng chịu trách nhiệm đối với các thông tin xuất bản hoặc đăng tải trên mạng. Điều này có nghĩa là, họ phải đảm bảo người dùng không đưa lên mạng những nội dung vi phạm bất kỳ một điều luật hay quy định nào của chính quyền.

Kết quả là, các doanh nghiệp mạng phải tự đặt ra những biện pháp kiểm duyệt nội dung của người dùng. Thành thử, họ vô tình biến mình thành một chân rết trong bộ máy kiểm duyệt của đảng Cộng sản để o ép khách hàng, dù chính khách hàng mới là người nuôi sống họ.

Sự thật ngày 17/6, tôi bị hốt lên xe chỉ vì... chụp hình

(Rút từ facebook của Khánh Mai)

Tôi biết mình cần phải viết. Viết để trả nợ lại ánh mắt của hàng chục con người hoang hoải, mệt mỏi và giận dữ giữa một trại tạm giữ dã chiến ngay trung tâm Sài Gòn.

Tôi biết mình cần phải viết cho lời cầu xin của một chú từ đâu ở dưới miền Tây lên, chú nói rằng, ước gì có nhà báo nào đó, chứng kiến và viết lại những sự thật từ hôm nay.

Tôi biết, mình cần phải viết để tạ tội với những con người đã dũng cảm không sợ hãi trong ngày hôm qua, còn mình thì vẫn còn hèn yếu lắm, hoang mang lắm.

Tôi viết để phơi bày một sự thật mà có thể ai đó ở ngoài cuộc sẽ bán tín bán nghi... Trong khuôn khổ bài viết, tôi chỉ trình bày lại những gì tôi đã chứng kiến, và không bày tỏ quan điểm gì...

Liệu các vị có được mấy phẩm chất giản dị ấy không?

(Rút từ facebook của Đoàn Bảo Châu)

Như vậy là ông TBT Nguyễn Phú Trọng đã nói rất rõ: "Phải có luật để bảo vệ chế độ này chứ, đâu phải cứ để chúng muốn phá gì thì phá, muốn chửi ai thì chửi được, nên mạng rất là nguy hiểm ở chỗ đó".
Tên là Luật An Ninh Mạng nhưng thực chất là luật bảo vệ chế độ.
Tôi chỉ ngạc nhiên là với gần một nghìn tờ báo với vô số những cây viết lão luyện thì ngại gì những thành phần hay chửi với phá? Hơn nữa, chửi và phá đâu có dễ, nói sai một câu là cộng đồng mạng bất bình ngay. Hãy nhớ rằng không một sự lừa dối nào tồn tại lâu cả.

TUYÊN BỐ CỦA NHÓM TRÍ THỨC “LÃO MÀ CHƯA AN” VỀ NHỮNG DIỄN BIẾN NGÀY 17/6/2018

Hôm nay Chủ nhật 17/6/2018 hàng nghìn người dân ở ba miền đất nước đã thực thi quyền biểu tình hiến định trong ôn hòa đòi hủy Dự Luật Đặc khu và phản đối Luật An ninh mạng.

Trong khi cuộc biểu tình ở Hà Tĩnh đã diễn ra thành công tốt đẹp, thì ở Hà Nội và Sài Gòn đã có nhiều người biểu tình bị bắt giữ tùy tiện, trái pháp luật.

Chúng tôi bất bình trước hành động trấn áp biểu tình ôn hòa của chính quyền và yêu cầu chính quyền trả tự do ngay lập tức cho những người biểu tình.

Trư cuồng (kỳ 10)

Nguyễn Xuân Khánh

Tiểu thuyết

Phần 2

Hành trình vào hỗn mang

III. Bãi chết

Trời ơi! Sao mà rét! Tôi run lên. Cái rét từ trong ruột, từ xương tuỷ rét ra. Răng tôi đánh cầm cập. Có lẽ lúc này vợ tôi đã trùm chăn bông lên người tôi. Tôi chợt thấy một cái gì rất to, rất rộng ụp lên đầu. Đỡ rét, nhưng mà tối, tối đen…

Tôi đứng co ro trong khoảng không gian đen kịt ấy, rối bời và ngơ ngác. Thỉnh thoảng lại vang lên một tiếng oa oa; tiếng dị kì như tiếng vang vách núi, hoặc tiếng vang trong hang sâu có nước. Sau đó, lặng bặt. Lặng lẽ đến rợn tóc gáy. Thậm chí, tôi nghe thấy cả tiếng thở, tiếng đập của tim mình; và có lúc cảm giác như nghe thấy cả tiếng lạo xạo của những sợi tóc sau gáy, khi chúng dựng ngược lên, va chạm phải nhau. Thứ im lặng phi nhân! Thứ im lặng như tước bỏ sự sống con người; thứ im lặng làm hèn hạ con người, bởi vì ở cái xứ sở trống rỗng, cực cô đơn ấy, tôi cảm thấy mình nhỏ bé, bơ vơ, lạnh lẽo.

Văn Hải ngoại (kỳ 47): Võ Kỳ Điền – Rêu phong mấy lớp

clip_image002

Võ Kỳ Điền tên thật Võ Tấn Phước sanh ngày 31.10.1941 tại Dương Đông, đảo Phú Quốc. Từ nhỏ đến lớn sống ở Bình Dương. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm ban Việt Hán. Dạy Việt văn các trường trung học Hoàng Diệu, Ba Xuyên và Trịnh Hoài Đức, Bình Dương.

Bắt đầu viết văn ở hải ngoại. Cộng tác với các báo Dân Quyền, Văn và Làng Văn.

Nguyễn Đình Thuần: Sự vật vỡ vụn trong một thế giới hỗn mang

Trịnh Y Thư

Màu sắc có sức mạnh trực tiếp chuyển hóa tâm hồn.

Wassily Kandinsky [1866-1944]

Không hề có nghệ thuật trừu tượng. Bạn luôn luôn phải bắt đầu với cái gì,

rồi sau đó mới có thể xóa bỏ tất cả các dấu vết của hiện thực.

Pablo Picasso [1881-1973]

imageHọa sĩ Nguyễn Đình Thuần

1.

Có lẽ từ rất sớm trong sự nghiệp hội họa của mình, họa sĩ Nguyễn Đình Thuần đã chọn con đường phi biểu hình, bởi ông thấy đó chính là phương tiện thích hợp nhất cho ông biểu đạt cảm xúc từ trái tim và khối óc. Nghệ thuật Nguyễn Đình Thuần có chủ ý tiếp lực khả năng gợi cảm của hội họa hầu biểu hiện những cảm xúc, cảm quan, cảm thức nằm ngoài đường biên của ý thức hằng ngày. Ở chừng mực nào đó, Nguyễn Đình Thuần là họa sĩ nhưng tâm hồn ông lại là một thi sĩ. Ông làm thơ không bằng hai mươi mấy con chữ mà bằng vô lượng màu sắc, đường nét, ánh sáng, và một lược đồ bố cục của riêng ông. Ông không miêu tả sự vật, sự vật được ông thổi bùa phép tiếp nạp cảm xúc, một cảm xúc trữ tình và hình như đều được biểu đạt bằng trực quan, bằng cái nhìn có tính vô ngôn, như một công án Thiền, khó có thể sử dụng văn tự để giải thích hay bình phẩm. Hình thái ngôn ngữ hội họa của Nguyễn Đình Thuần là một hệ thống tín hiệu được hình thành từ thực tại, cách điệu hóa và cùng lúc trừu tượng hóa để trở nên khái quát, nhờ thế nó không còn là “cái cụ thể” nữa và có khả năng chuyển tải một nội dung hàm súc lớn hơn, cô đúc hơn. Trong khi hiện thực có những giới hạn không thể tránh, trừu tượng giúp nghệ sĩ “nhìn thấy” cái gì thị giác khiếm khuyết, cảm nhận cái gì nằm ẩn giấu bên dưới tầng ý thức. Nó là sự khai phóng tâm trí người nghệ sĩ, giúp thăm dò những vùng ẩn mật của hiện tồn, rút tỉa từ cái hữu hạn để nhìn thấu cái vô hạn. Tương tự như âm nhạc, hội họa trừu tượng không có sức mạnh miêu tả hay biểu hiện thế giới ngoại tại với sự vật hữu quan, nhưng bù vào đó nó có một khả năng thâm hậu biểu đạt cảm xúc nội tại. Tranh Nguyễn Đình Thuần, hiện thực tự nhiên nhường chỗ cho hiện thực trừu tượng, các biểu tượng đời sống cụ thể được biểu hiện dưới một khía cạnh trừu tượng tích cực. Nhờ đó, cảm xúc về cái đẹp là một cảm xúc toàn nguyên, bao quát. Và trong mắt nghệ sĩ sáng tạo Nguyễn Đình Thuần, cái đẹp đó chỉ có thể tìm thấy nơi sự vật dưới dạng tinh tuyền, phổ quát nhất. Chính Piet Mondrian, danh họa bậc thầy của thế kỉ XX, người đề xuất họa phái Tân tạo hình, đã phát biểu như sau:

Có một ngày

Nguyễn Thị Hậu

Có một ngày
Thành phố của tôi
Hàng rào thép gai kéo ngang đường phố
Trước nhà thờ và bên tượng chúa

Có một ngày
Con đường tôi qua
“Sắc phục” lô nhô đầy góc phố
Trấn áp cả những hàng me

Thấy gì qua chương trình phát trực tiếp chất vấn đại biểu đoàn Đại biểu Quốc hội Hà Nội

Nguyễn Tường Thụy


Buổi trưa hôm nay 15/6/2018, trên mạng xã hội facebook có chương trình phát trực tiếp chất vấn các đại biểu Quốc hội đoàn đại biểu Quốc hội Tp Hà Nội. Thực hiện chương trình là chị Nguyễn Thị Tâm, dân oan Dương Nội (quận Hà Đông) và cộng sự.

Đây là một chương trình rất đặc biệt, một hình thức thực hiện quyền giám sát của cử tri đối với các đại biểu quốc hội rất độc đáo. Trong thời gian phát có tới 7000 người theo dõi. Cho đến lúc này, tức 7 giờ sau, chương trình đã có 7057 chia sẻ, 5000 like.

Câu hỏi đặt ra cho các đại biểu quốc hội rất đơn giản: Ngày 12/6/2018, Quốc hội Việt Nam bỏ phiếu thông qua Luật an ninh mạng, đại biểu bấm nút chấp thuận hay phản đối?

Đơn giản vậy nhưng xem ra lại là câu hỏi rất khó đối với các đại biểu quốc hội. Chương trình gọi điện thoại tới 20/30 đại biểu quốc hội đoàn Hà Nội. Có 10 đại biểu chưa tìm ra số điện thoại.

Thơ Như Quỳnh de Prelle



Những cuộc gặp gỡ từ thi ca


viết cho Buổi sáng phủ định

Như Quỳnh de Prelle


34344305_1744893835559041_2368454887835959296_nKhi viết thơ, tôi tìm thấy chính mình, cả những lúc mình của cái tôi mới mẻ nhất mà tôi chưa từng biết, cả những lúc giận dữ, yếu hèn. Để rồi tôi thấy, thi ca cho tôi tìm cách sống tốt đẹp hơn, tử tế hơn và lắng sâu hơn trong đời sống. Để rồi tôi thấy tôi hoà trong cái tự nhiên nhỏ bé, trong sự rung rẩy của sương mai, trong những nỗi buồn buốt giá và cả niềm vui tối giản vô chừng. Tôi tìm thấy chính tôi ở người khác, câu chuyện khác ngoài bản thể, ngoài sự tham chiếu của tôi. Tôi nhìn thấy người khác ở tôi. Mối quan hệ của con người và con người trong chữ gần gụi hơn, gắn bó hơn ngoài cái hiện thực rạn nứt và tan vỡ. Tôi gặp và tôi viết. Gặp trong mơ. Gặp từ chữ. Gặp từ sự kết nối thinh không. Gặp từ sự kết nối online.


Khi viết, tôi tìm thấy sự sáng tạo. Nó không phải là vũ đài chót vót. Nó là chính tôi, từ cảm xúc, hiểu biết và nhận thức. Dường như thi ca không còn đơn giản là thi ảnh, là ngôn ngữ của ngoài ngôn ngữ. Thi ca chính là thi ca ở ngôn ngữ nội tại của nó. Của câu chuyện được kể bằng thơ, nhịp điệu. Thi ca chính là cái tôi của tác giả trong thế giới chuyển động. Thi ca có thể là thời đại đang tồn tại được tích luỹ từ quá khứ và nhìn về tương lai như những vòng tròn của lịch sử.


Khi tôi viết, tôi chấp nhận sự khác biệt để thấy giá trị Bình đẳng và Tự do. Tự trong ý thức, trong cách ứng xử, sự sẻ chia và trân trọng.

Ở cõi thiếu, vắng

Tạp bút Hồ Đình Nghiêm


Trên đường đi, đôi lúc bạn phải tạm dừng lại, nghỉ chân. Bạn nhìn quanh, phát hiện cái thưa thớt, rơi rụng dần của bầu đoàn lữ thứ, hao hụt.

Có những cuộc sum vầy tình cờ, đưa đẩy bạn ngồi kề một nhân dáng, hai ba bóng người đối diện. Những khuôn mặt, giọng cười đùa vô thưởng vô phạt, nhạt; làm bạn nhớ tới câu “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa”.

Văn học miền Nam 54-75 (468): Phan Nhật Nam (kỳ 18)

Dựa lưng nỗi chết

Lời bạt

Chỉ là câu chuyện giản dị của những người lính trong một thời gian dồn dập… Chuyện bình thường, phẳng phiu, không là bản anh hùng ca rực rỡ uy dũng, cũng không đậm nét bi thương làm đọng cứng linh hồn – Chỉ là phản ứng cấp thời của người lính cố tìm lối sống trong cái chết trùng điệp… Phản ứng cấp thời nên ngắn hạn và chóng vánh nhưng mang nỗi thụ động tội nghiệp, đến đỗi ngậm ngùi…
Mỗi chiến tranh khai sinh ra một lớp anh hùng, mỗi thời đại, biến cố cần thiết một loại người tổng hợp… Chiến tranh Việt Nam kéo quá dài, dài hơn biến cố khởi đầu, dài hơn ước tính chiến lược của những kẻ chủ tâm khởi xướng, chiến tranh Việt Nam dài bất tận, dài miên man được chuyển đi miệt mài trên lưng của hàng triệu con người, những người kinh sợ chiến tranh hơn bất cứ chủng tộc nào của nhân loại… Thế nên chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến không có anh hùng.

16/6 và những con người không được yên nghỉ sau cái chết

Nguyễn Hoàng Linh


1. “Tôi đặt số phận tôi trong tay dân tộc. Tôi không muốn bào chữa cho mình, và không xin ân xá” – đó là những lời cuối cùng của Nagy Imre, vị thủ tướng của cuộc cách mạng dân chủ 1956, vào ngày 15/6/1958, khi bản án tử hình được thẩm phán Vida Ferenc đưa ra đối với ông và hai đồng sự.

Trong phiên tòa ngụy tạo và dàn dựng ấy – được chính quyền cộng sản Hungary do Moscow dựng lên sau biến cố 1956 và chuẩn bị ròng rã trong vòng hơn một năm – trái với tất cả các bị cáo (đều là những người cộng sản cựu trào và uy tín), chỉ riêng Nagy Imre không “thú tội” và không xin ân xá.

Sau nhiều sai lầm và dao động, lưỡng lự và hạn chế thời gian đầu, Nagy Imre đã vượt khỏi rào cản của một cán bộ đảng, một viên chức tận tụy - một con ốc trong cỗ máy lớn -, để trở thành một nhà ái quốc, một trí thức lớn, xứng đáng với học vị giáo sư, viện sĩ về Nông học mà ông có được trong đời.

Việt Nam: Luật An Ninh Mạng "nhằm ngăn dòng chảy cuộc sống"

Thụy My

media

Kết quả bỏ phiếu Luật An Ninh Mạng tại Quốc Hội Việt Nam ngày 12/06/2018.Vietnam News Agency / AFP

Luật An Ninh Mạng vừa được Quốc Hội Việt Nam thông qua ngày 12/06/2018 đã gây ra phản ứng mạnh mẽ trong và ngoài nước. Cư dân mạng đồng loạt thay đổi hình đại diện phản đối, Hoa Kỳ, Canada, RSF kêu gọi hủy bỏ đạo luật này. RFI Việt ngữ phỏng vấn phó giáo sư tiến sĩ Hoàng Dũng, trường Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề đang gây xôn xao dư luận.

RFI: Kính chào phó giáo sư Hoàng Dũng. Thưa ông, như ông cũng thấy, vừa qua có phong trào rầm rộ hầu như khắp nơi phản đối Luật An ninh mạng. Trên mạng có những người đã than “Hôm nay, chúng ta bước vào bóng tối”. Vì sao dân chúng, đặc biệt là trí thức, lại phản dữ dội như vậy?

PGS Hoàng Dũng: Ngay câu hỏi cũng đã cho thấy thành công của những người soạn thảo luật này. Đặt tên là Luật An ninh mạng, họ cài đặt trong đầu người đọc rằng quan tâm của luật là quyền lợi của người sử dụng, cũng như đề phòng và trừng trị trộm cướp vào nhà.

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt lên tiếng về vụ Will Nguyễn

Trong một status, nhà văn Nguyễn Thanh Việt, giải thưởng Pulitzer năm 2016, viết về vụ sinh viên Will Nguyễn bị đánh đập dã man trong cuộc biểu tình ngày 10 tháng 6 vừa qua tại Sài Gòn và nay vẫn còn bị giam giữ.

Toàn văn status như sau:

Thật đáng quan ngại. Will Nguyen là một sinh viên người Mỹ gốc Việt, đã vài lần e-mail đến tôi. Giờ đây, tôi nhìn thấy anh trong tình cảnh này, bị đánh và kéo lê trên đường phố Việt Nam trong cuộc biểu tình chống "Đặc khu kinh tế" trao cho Trung Quốc trong 99 năm (tôi nghe như thể là chủ nghĩa thực dân của Mỹ ở Philippines và chủ nghĩa thực dân của Anh ở Hồng Kong). Dường như anh đã bị bắt giữ, không liên lạc được, dù anh là một công dân Mỹ. Hiển nhiên, không chỉ anh mà nhiều công dân Việt Nam cũng đang bị giam giữ. Một quốc gia tôn trọng công dân và cộng đồng hải ngoại thì sẽ không làm như vậy đối với dân tộc mình, nhưng điều này đã lặp đi lặp lại nhiều lần rồi. Chính phủ phải thả tự do cho Will Nguyen và tất cả những người bị giam giữ khác, những người đang đấu tranh vì chính Việt Nam.

Tiếng Việt thời LM de Rhodes – vài suy nghĩ về ‘Phép Giảng Tám Ngày’

(phần 9)

Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về cuốn "Phép Giảng Tám Ngày - Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội, mà vào đạo thánh đức Chúa trời". Các tương quan ghi nhận trong bài cho thấy LM Alexandre de Rhodes đã sử dụng nhiều tài liệu dòng Tên để hoàn thành cuốn sách giáo lý này. Ngoài ra, Phép Giảng Tám Ngày còn phản ánh khuynh hướng truyền đạo của các giáo sĩ dòng Tên mà LM de Rhodes đã được huấn luyện rất kỹ càng trước khi sang Đông Á để thi hành nhiệm vụ của hội thánh. Khuynh hướng truyền giáo dòng Tên có khác với các ‘chỉ đạo khô khan’ và hầu như ‘một chiều’ từ Toà Thánh La-Mã như "Dottrina Cristiana Breve" của LM Roberto Bellarmino[2] vào cùng giai đoạn. Các chữ viết tắt trong phần này là PGTN (cuốn Phép Giảng Tám Ngày), CG (Công Giáo), PG (Phật Giáo), NCT (Nguyễn Cung Thông), ĐCT (Đức Chúa Trời), ĐCGS (Đức Chúa Giê-Su), LM (Linh Mục), HV (Hán Việt), TVGT (Thuyết Văn Giải Tự/khoảng 100 SCN), NT (Ngọc Thiên/543), ĐV (Đường Vận/751), NKVT (Ngũ Kinh Văn Tự/776), LKTG (Long Kham Thủ Giám/997), QV (Quảng Vận/1008), TV (Tập Vận/1037/1067), TNAV (Trung Nguyên Âm Vận/1234), CV (Chính Vận/1375), TVi (Tự Vị/1615), VB (Vận Bổ/1100/1154), VH (Vận Hội/1297), LT (Loại Thiên/1039/1066), CTT (Chính Tự Thông/1670), TViB (Tự Vị Bổ/1666), TTTH (Tứ Thanh Thiên Hải), ĐNQATV (Đại Nam Quấc Âm Tự Vị), Bản Báo Cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh (viết tắt là BBC) và từ điển Annam-Lusitan-Latinh (thường gọi là Việt-Bồ-La, viết tắt là VBL) có thể tra từ điển này trên mạng, như trang này chẳng hạn http://books.google.fr/books?id=uGhkAAAAMAAJ&printsec=frontcover#v=onepage&q&f=false. Trang/cột/tờ của VBL được trích lại từ bản La Tinh để bạn đọc tiện tra cứu thêm.Hi vọng bạn đọc thấy thích thú và tìm hiểu sâu xa hơn về những vấn đề ghi lại trong bài viết nhỏ này. Trước khi đi vào đầu đề phần này, chúng ta hãy nghe chính tác giả/LM de Rhodes trình bày vài suy nghĩ về sách giáo lý của ông:"Các chư tăng rất hài lòng vì thấy tôi làm cho họ nhận biết sự hoà hợp giữa Tôn giáo và Lý trí[3] và nhất là họ khen ngợi Thập điều của Chúa ... Phương pháp tôi đem trình bày với họ là: trước hết tôi bàn về linh hồn bất tử và sự sống đời sau, rồi từ đó tôi làm chứng cớ có Thượng đế, sự quan phòng của ngài, và dần dần tôi đưa họ tới những mầu nhiệm khó hơn ... Kinh nghiệm cho hay rằng lối trình bày giáo lý cho người ngoài Kitô giáo như vậy rất bổ ích. Phương pháp đó, tôi đã giải thích trong sách Giáo lý (Phép giảng tám ngày) mà tôi đã làm tám ngày, trong đó tôi cố gắng đề cập đến hết các chân lý căn bản phải dạy cho người ngoài Kitô giáo" - trích từ trang XXIV-XXV "Phép giảng tám ngày" Tủ sách Đại Kết (sđd, 1993).

Vĩnh biệt luật sư Đoàn Thanh Liêm

Văn Việt vừa nhận tin luật sư Đoàn Thanh Liêm đã qua đời ngày 9 tháng 6 năm 2018 ở nhà riêng, tại thành phố Costa Mesa (Mỹ), thọ 84 tuổi.

Luật sư Đoàn Thanh Liêm học Chu Văn An, Hà Nội. Sau đó tốt nghiệp Cử Nhân Luật tại Đại Học Luật, Sài Gòn năm 1958. Tu nghiệp luật Hiến Pháp và thực tập tại Quốc Hội Hoa Kỳ.

Trước 1975 LS Đoàn Thanh Liêm là thành viên sáng lập Chương Trình Shoeshine Boys Project, tổ chức từ thiện xây nhà, nuôi trẻ mồ côi. Giám Đốc đại diện World Church Counsil tại Việt Nam, chuyên nghiên cứu và tài trợ các chương trình văn hóa, kinh tế, giáo dục nhằm khắc phục hậu quả chiến tranh và tái thiết Việt Nam.

Trong nghề nghiệp, ông là Luật Sư Tòa Thượng Thẩm Sài Gòn, biện hộ miễn phí cho người nghèo oan ức.

Tháng Tư năm 1975, Sài Gòn thất thủ. Ông từ chối nhiều cơ hội di tản ra nước ngoài. Sau đó bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam kết án 12 năm vì tội “Tuyên truyền chống phá Xã Hội Chủ Nghĩa.”

Trong những năm tháng bị cầm tù, Luật sư Đoàn Thanh Liêm được nhiều vị dân cử Hoa Kỳ như Thượng Nghị Sĩ John McCain, John Kerry… liên tục kêu gọi chính quyền Hà Nội trả tự do. Và cũng chính nhờ sự vận động của nhiều quốc gia, các tổ chức tôn giáo xã hội, và các cá nhân, ông cùng gia đình được tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ vào năm 1996.

Ông là thành viên Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam, cộng tác viên tích cực của Văn Việt.

Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam & Văn Việt xin thành kính phân ưu cùng gia đình Luật sư Đoàn Thanh Liêm và cầu chúc hương hồn ông an nghỉ cõi thiên thu.

10667066-CPFULL-LS-DOAN-THANH-LIEM

An ninh mạng – liệu có thể giam được ý nghĩ của một con người?

Lê Công Tư

Lo sợ, bức xúc với những thông tin không đồng tình với đường lối cai trị của đảng đang tràn lan trên mạng, luật An ninh mạng ra đời, được Quốc hội thông qua với tuyệt đại đa số những người đang tự nhận mình là đại diện của dân. Sự thông qua đạo luật này dễ khiến người ta có cảm tưởng là bắt đầu từ đây, chính phủ có thể giám sát những suy tư của người dân, có thể kiểm soát được những ý nghĩ của họ, đã có thể nắm được những đầu mối gởi đi những thông tin này để đưa họ vào tù.

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 46): Phạm Xuân Đài – Thư gửi Christina

Phạm Xuân Đài

Phạm Phú Minh 2014Phạm Phú Minh, sinh năm 1940, bút hiệu Phạm Xuân Đài, người làng Đông Bàn, quận Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Học trung học các trường Trần Quý Cáp (Hội An), Trương Vĩnh Ký và Chu Văn An (Sài Gòn).

Học Đại Học Văn Khoa Sài Gòn và Sư Phạm ban Triết học tại Viện Đại Học Đà Lạt. Tốt nghiệp Sư Phạm năm 1964.

Dạy học và hoạt động thanh niên. Từ năm 1966 làm việc trong Chương Trình Phát Triển Sinh Hoạt Thanh Niên Học Đường (CPS) của Bộ Giáo Dục. Biệt phái sang Phủ Tổng Ủy Dân Vận năm 1973. Từ 1975 đi tù cải tạo, ở các trại Long Thành, Thanh Cẩm (Thanh Hóa) và Xuân Lộc. Ra khỏi tù năm 1988.

Đi tị nạn tại Mỹ cuối năm 1992. Từ 1993 đến 2007 làm việc với tạp chí Thế Kỷ 21 trong các nhiệm vụ Thư ký Tòa soạn, Chủ nhiệm và Chủ bút.

Hiện nay (bắt đầu từ tháng Bảy 2010) Chủ bút tạp chí online Diễn Đàn Thế Kỷ (diendantheky.net).

Tham gia hội Văn học Nghệ thuật Việt Mỹ (VAALA) từ năm 1993.

Đã tổ chức, hoặc phối hợp tổ chức các buổi: Triển lãm và Hội thảo về Phạm Quỳnh (Ngày Phạm Quỳnh) năm 1999; Văn học Việt Nam tại hải ngoại 2007; Triển lãm và Hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn, 2013; Văn học Miền Nam 2014, tại Little Saigon Nam California.

Đã xuất bản: Hà Nội Trong Mắt Tôi (tùy bút, 1994).

Văn học miền Nam 54-75 (467): Phan Nhật Nam (kỳ 17)

Dựa lưng nỗi chết

Chương 9

Ba Trung đội trưởng từ ba góc phi đạo đi đến, Thiếu uý Chí Trung đội trưởng Trung đội 3, tướng người vốn to lớn, thứ xương to, mập thịt nặng nề bề thế nhưng chỉ qua hai ngày không ngủ, Chí hốc hác trông thấy, râu mọc loạn xạ vàng úa trên khuôn mặt ố bẩn, Thuấn hỏi đùa Chí:
"Sao ông to con mà yếu vậy?"
"Đâu biết, tôi không ngủ là không đứng nổi".
Thuấn nhìn các Trung đội trưởng một vòng trước khi nói, sáu cặp mắt mệt mỏi cố chú ý vào lời Thuấn, những sợi gân máu ửng đỏ nổi bật trên tròng mắt màu trắng.
"Đây, Tiểu đoàn bắt mình chiếm cái cửa An Hoà…"
"C… Chiếm làm gì mấy cái cửa, giữ Bộ Tư lệnh và mấy chỗ trọng yếu đủ chết rồi, còn bày đặt tấn công", Trung đội trưởng Trung đội 1 rú lên.
"Biết vậy, nhưng không hiểu lệnh từ đâu xuống, Tiểu đoàn bắt phải thế".

TUYÊN BỐ VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ BẠO ĐỘNG Ở TỈNH BÌNH THUẬN

Trong mấy ngày qua, thông tin lan truyền trên các phương tiện chính thống cũng như mạng xã hội về bạo động xảy ra trong một số cuộc biểu tình ở vài địa phương thuộc tỉnh Bình Thuận phản đối Dự Luật Đơn vị Hành chính - Kinh tế đặc biệt Vân Đồn - Bắc Vân Phong - Phú Quốc, khiến cộng đồng người Việt trong-ngoài nước hết sức lo âu.

Trước tiên, phải khẳng định: Bất cứ vì lý do gì, việc sử dụng bạo lực chống lại các lực lượng an ninh, tấn công và huỷ hoại công sở, tài sản công… đều sai lầm. Cuộc đấu tranh cho lẽ phải, cho công bằng xã hội, cho dân chủ nhân quyền phải được tiến hành một cách hoà bình, trong sự tỉnh táo. Nhất là trong tình hình giặc ngoại xâm luôn tìm mọi cơ hội gây hại cho chủ quyền quốc gia, mọi sự loạn động trong nước đều bất lợi.

Dứt khoát nói không với đặc khu kinh tế là mệnh lệnh của Tổ Quốc!

Lê Phú Khải

Trước phản ứng dữ dội của nhân dân ở mọi miền của đất nước, nhà cầm quyền tuyên bố hoãn ra luật về đặc khu kinh tế! Đó chỉ là kế hoãn binh, chờ cơ hội mới để rồi cho ra đời cái luật bán nước hại giống nòi này.

Nếu hơn 90 triệu người Việt Nam yêu nước không kiên quyết, một mất một còn ngăn chặn việc cho thuê, thực chất nhượng đất cho ngoại bang thì chúng ta có tội lớn với con cháu các thế hệ sau. Chúng ta chết sẽ không nhắm được mắt thấy luật đặc khu kinh tế này được thông qua, dù có “sửa chữa, thêm bớt” đôi điều!!!

Trư cuồng (kỳ 9)

Nguyễn Xuân Khánh

Tiểu thuyết

Phần 2

Hành trình vào hỗn mang

Tôi nằm lặng một mình trong những đêm dài hôn mê. Tâm hồn tôi lang thang lạc về những xứ sở hoang sơ kỳ ảo. Đêm chẳng phải đêm! Ngày chẳng ra ngày! Âm ti chăng? Thiên đường chăng? Cội nguồn chăng? Vũ trụ chăng?

Sự sống leo lét vẫn còn đủ như con đom đóm lập loè tâm tưởng, rọi ánh sáng mờ vào miền thẳm hỗn mang.

Tôi khát! Tôi khát!