Danh ngôn
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”
“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”
(Albert Camus, Caligula)
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”
“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”
(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”
“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.
“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”
“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”
(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)
Ban Biên tập
Địa chỉ liên lạc:
1. Thơ
tho.vanviet.vd@gmail.com
2. Văn
vanviet.van14@gmail.com
3. Nghiên cứu Phê Bình
vanviet.ncpb@gmail.com
4. Vấn đề hôm nay
vanviet.vdhn1@gmail.com
5. Thư bạn đọc
vanviet.tbd14@gmail.com
6. Tư liệu
vanviet.tulieu@gmail.com
7. Văn học Miền Nam 54-75
vanhocmiennam5475@gmail.com
Tra cứu theo tên tác giả
- A. A. Fadeev
- A. Puskin
- A. T.
- Abdulrazak Gurnah
- Abraham F. Lowenthal
- Ace Le
- Ace Lê
- Adam Gopnik
- Adonis
- Adrian Horton
- Agi Mishol
- Ái Điểu
- Ajar
- Akiko Miki
- Alain Guillemin
- Alan Phan
- Alăng Văn Gáo
- Alăng Văn Giáo
- Albert Camus
- Aldous Huxley
- Aleksandr Griboedov
- Alesandr Blok
- Alex Marshall
- Alex Smith
- Alex Thai
- Alex-Thái Đình Võ
- Alexander Fadeev
- Alexander Solzhenitsyn
- Alexandra Alter
- Alexandre FERON
- Alexandre Féron
- Alice Munro
- Alina Lesik
- Alison Flood
- Allen Ginsberg
- Amanda Gorman
- Amartya Sen
- Amelia Glaser
- Amos Oz
- An Nam
- Anatole France
- Anatoly Gavrilov
- Anders Olsson
- André Breton
- André Menras
- André Menras – Hồ Cương Quyết
- André Menras Hồ Cương Quyết
- Andrea Hoa Pham
- Andrea Kendall-Taylor
- Andreas Bernard
- Andreas Fulda
- Andreas Wimmer
- Andrew Postman
- Andy Cao
- Anh Anh
- Anh Hồng
- Anh Hồng (nhà thơ)
- Ánh Liên
- Anh Nhi
- Anh Văn
- Anika Zeller
- Anna Akhmatova
- Anna Maria Bracale Ceruti
- Anna Mitchell
- Anna Schmid
- Anne Carson
- Anne Cazaubon
- Anne Hébert
- Anne Henochowicz
- Anne Nguyễn
- Annie Ernaux
- António Jacinto
- Antôn Nguyễn Trường Thăng
- Archimedes L.A. Patti
- Arlette Quỳnh Anh Trần
- Arnold Schwarzenegger
- Artem Sakharov
- Arthur Koestler
- Arty Abel
- Arvind Subramanian
- Augustina
- Aurélie Coulon
- Aurelien Breeden
- Ba Đâu Thảo
- Ba Sàm
- Bá Thụ Đàm
- Bạch Cúc
- Bạch Hoàn
- Bách Mỵ
- Bách Thân
- Bạch X. Phẻ
- Bạch Xuân Phẻ
- Badiucao
- Bakhtin
- Ban Mai
- Bàn Văn Thòn
- Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam
- Bảo Chân
- Bảo Huân
- Bảo La
- Bảo Nhi Lê
- Bảo Ninh
- Bảo Phác
- Bảo Thư
- Bảo Tích
- Bão Vũ
- Bảo Yến
- Barbara Demick
- Bashô
- Bạt Xứ
- Batrioldman
- Bauxite Việt Nam
- Bắc Đảo
- Bắc Phong
- Bằng Việt
- BB Ngô
- Bei Dao
- Benjamin Péret
- Benjamin Ramm
- Bertolt Brecht
- Bertrand Russell
- Bettina Rheims
- Bích Ngân
- Biếm họa
- Biên Cương
- Biệt Hiệu
- Bilahari Kausikan
- Bill Hayton
- Billy Collins
- Bình Nguyên Lộc
- Brahma Chellaney
- Branko Milanovic
- Brett Reilly
- Brian Pascus
- Brian Wu
- Brice Pedroletti
- Brodsky
- Bryan
- Bùi An
- Bùi Bảo Trúc
- Bùi Bắc
- Bùi Bích Hà
- Bùi Chát
- Bùi Chí Trung
- Bùi Chí Vinh
- Bùi Công Thuấn
- Bùi Công Trực
- Bùi Đức Lại
- Bùi Giáng
- Bùi Hải Quảng
- Bùi Hoàng Tám
- Bùi Hoằng Vị
- Bùi Huệ Chi
- Bùi Huy
- Bui Huy Hoi Bui
- Bùi Mai Hạnh
- Bùi Mạnh Hùng
- Bùi Mẫn Hân
- Bùi Minh Quốc
- Bùi Ngọc Tấn
- Bùi Quang Thắng
- Bùi Suối Hoa
- Bùi Thanh Hiếu
- Bùi Thanh Phương
- Bùi Thanh Tuấn
- Bùi Thụy Băng
- Bùi Tiến An
- Bùi Trân Phượng
- Bùi Trọng Hiền
- Bùi Văn Kha
- Bùi Văn Nam Sơn
- Bùi Việt Sỹ
- Bùi Vĩnh Phúc
- Bùi Xuân Bách
- Bùi Xuân Đính
- Bùi-Viết Văn Đức
- Bulgakov
- Bửu Chỉ
- C.D.
- Cái Lư Hương
- Cái Trọng Ty
- Cam Ly
- Cameron Shingleton
- Cảnh Chánh
- Cao Bảo Vân
- Cao Bình Minh
- Cao Chi
- Cao Gia An
- Cao Hành Kiện
- Cao Huy Thọ
- Cao Huy Thuần
- Cao Kim Ánh
- Cao La
- Cao Quang Nghiệp
- Cao Tần
- Cao Thị Hồng
- Cao Thu Cúc
- Cao Tự Thanh
- Cao Việt Dũng
- Cao Xuân Hạo
- Cao Xuân Huy
- Carl Bildt
- Carl O. Schuster
- Carlos Assunção
- Carolyn Mary Kleefeld
- Cát Linh
- Cẩm Tú
- Cấn Thị Thêu
- Chan Phuong
- Chanh Tam
- Charles Bo
- Charles Bukowski
- Charles S. Kraszewski
- Charles Simic
- ChatKP
- Chau Doan
- Châm Khanh
- Chân Minh
- Chân Pháp Xa
- Chân Phương
- Chân Xuân Tản Viên
- Châu Diên
- Châu Hải Đường
- Châu Hồng Thủy
- Châu Hữu Quang
- Chenn
- Chế Diễm Trâm
- Chế Lan Viên
- Chi Mai
- Chi Phương
- Chiêu Dương
- Chiêu Khiêm
- Chiharu Shiota
- Chim Hải
- Chim Trắng
- Chinh Ba
- Chính Tâm
- Chính Vĩ
- Chinua Achebe
- Chơn Không Cao Ngọc Phượng
- Christian Gampert
- Christian Welzel
- Christina Mary Hjortlund
- Christoph Giesen
- Christoph Sator
- Christopher Balding
- Christopher Goscha
- Christy Wampole
- Chu Dương
- Chu Hảo
- Chu Hoạch
- Chu Kim
- Chu Mộng Long
- Chu Quang Tiềm
- Chu Tử
- Chu Văn Lễ
- Chu Văn Sơn
- Chu Vĩnh Hải
- Chu Vương Miện
- Chu Xuân Diên
- Chung Le
- Claire Simon
- Claus Hecking
- Clay Phạm
- Clément Ghys
- Concepcion de Leon
- Connie Hoàng
- Cora Engelbrecht
- Costica Bradatan
- Cổ Ngư
- Công Nguyễn
- Cù An Hưng
- Cù Huy Hà Vũ
- Cù Mai Công
- Cù Tuấn
- Cung Minh Huân
- Cung Tích Biền
- Cung Trầm Tưởng
- Cư sĩ Minh Đạt
- D. S. Likhachev
- Da Màu
- Dạ Ngân
- Dạ Thảo Phương
- Dã Tượng
- DAD
- Dadolin Murak
- Daisetz Teitaro Suzuki
- Damien Cave
- Damien Keown
- Dan Bilefsky
- Dan Slater
- Dana Gioia
- Danh ngôn
- Dani Rodrik
- Daniel Halpern
- Daniel Hautzinger
- Daniela Prugger
- Daron Accemoglu
- David Brown
- David Gascoyne
- David Marchese
- David Weinberger
- Ðặng Thơ Thơ
- Demetrio Paparoni
- DEUTSCHE WELLE
- Di
- Di Li
- Diêm Liên Khoa
- Diễm Thi
- Diễm Tường
- Diễn đàn Thế kỷ
- Diệp Duy Liêm
- Diệp Huy
- Ðinh Cường
- Dino Buzatti
- Dipanjan Roy Chaudhury
- Dmitri Prokofyev
- Dmitry Burago
- Dmitry Muratov
- Dmitry Tsyganov
- Doãn Cẩm Liên
- Doãn Mạnh Dũng
- Doãn Mẫn
- Doãn Quốc Sỹ
- Dominique Lemieux
- Donald Inglehart
- Donna Ashworth
- Ðỗ Quang Nghĩa
- Ðỗ Quyên
- Du Tử Lê
- Dung Nguyễn
- Dũng Phan
- Dũng Trung Kqd
- Dũng Vũ
- Duy Lam
- Duy Tân
- Duy Thanh
- Duy Thông
- duyên
- Duyên Anh
- Duyên Khánh
- Dư Hoa
- Dư Kiệt
- Dư Thị Hoàn
- Dư Thu Vũ
- Dương Đại Triều Lâm
- Dương Đình Giao
- Dương Khánh Phương
- Dương Kiền
- Dương Ngạn
- Dương Nghiễm Mậu
- Dương Ngọc Thái
- Dương Như Nguyện
- Dương Phương Vinh
- Dương Thắng
- Dương Thiệu Tước
- Dương Thu Hương
- Dương Thuấn
- Dương Tú
- Dương Tường
- Dương Văn Ba
- Dương Vân
- Dylan Suher
- Đa Mi
- Đà Văn
- Đàm Hà Phú
- Đàm Hách Thành
- Đào An Khánh
- Đào Anh Kha
- Đào Công Tiến
- Đào Duy Anh
- Đào Hiếu
- Đào Lê Na
- Đào Ngọc Chương
- Đào Nguyên
- Đào Nguyễn
- Đào Nguyên Phương Thảo
- Đào Như
- Đào Phương Liên
- Đào Quang Toản
- Đào Tấn Phần
- Đào Thái Tôn
- Đào Thị Hương
- Đào Tiến Thi
- Đào Trung Đạo
- Đào Trường Phúc
- Đào Tuấn
- Đào Tuấn Ảnh
- Đào Văn Bình
- Đào Văn Thuỵ
- Đào Văn Tiến
- Đào Vũ Anh Hùng
- Đạt Nguyễn
- Đặng Anh Đào
- Đặng Bích Phượng
- Đặng Chương Ngạn
- Đặng Đình Cung
- Đặng Đình Mạnh
- Đặng Gia Mẫn
- Đặng Hà
- Đặng Hải Sơn
- Đặng Hoàng Giang
- Đặng Hồng Nam
- Đặng Hùng Võ
- Đặng Hương Giang
- Đặng Hữu
- Đặng Lưu
- Đặng Mai Lan
- Đặng Mậu Tựu
- Đăng Nguyên
- Đặng Nguyên Triết
- Đặng Phùng Quân
- Đặng Quốc Thông
- Đặng Sơn Duân
- Đặng Thái
- Đăng Thành
- Đặng Thân
- Đặng Thị Hảo
- Đặng Thơ Thơ
- Đặng Tiến
- Đặng Tiến (Thái Nguyên)
- Đặng Trung Nghĩa
- Đặng Túy
- Đặng Văn Dũng
- Đặng Văn Hùng
- Đặng Văn Ngữ
- Đặng Văn Sinh
- Đặng Vũ Vương
- Đặng Xuân Thảo
- Đặng Xuân Xuyến
- Đằng-Giao
- Đậu Anh Tuấn
- Điểm Thọ
- Đinh Bá Anh
- Đinh Cường
- Đinh Hoàng Thắng
- Đinh Hùng
- Đình Kính
- Đinh Lê Vũ
- Đinh Linh
- Đinh Ngọc Thu
- Đinh Phương
- Đinh Phương Thảo
- Đinh Quang Anh Thái
- Đinh Quang Tỉnh
- Đinh Thanh Huyền
- Đinh Thị Như Thúy
- Đinh Trường Chinh
- Đinh Từ Bích Thuý
- Đinh Từ Bích Thúy
- Đinh Văn Đức
- Đinh Vũ Hoàng Nguyên
- Đinh Ý Nhi
- Đinh Yên Thảo
- Đoàn Ánh Thuận
- Đoàn Bảo Châu
- Đoàn Cầm Thi
- Đoàn Công Lê Huy
- Đoàn Hồng Lê
- Đoàn Huy Giao
- Đoàn Huyền
- Đoàn Khắc Xuyên
- Đoàn Lê Giang
- Đoàn Nhã Văn
- Đoàn Thanh Liêm
- Đoan Trang
- Đoàn Tùng Nguyễn
- Đoàn Tử Huyến
- Đoàn Việt Hùng
- Đoàn Xuân Kiên
- Đỗ Anh Hoa
- Đỗ Anh Tuấn
- Đỗ Bích Thuý
- Đỗ Cao Bảo
- Đỗ Duy Ngọc
- Đỗ Đức
- Đỗ Đức Đông Ngàn
- Đỗ Đức Hiểu
- Đỗ Hòa
- Đỗ Hoàng Diệu
- Đỗ Hồng Ngọc
- Đỗ Hồng Nhung
- Đỗ Hữu Chí
- Đỗ Kh
- Đỗ Kh.
- Đỗ Khiêm
- Đỗ Kim Thêm
- Đỗ Lai Thuý
- Đỗ Lai Thúy
- Đỗ Lê Anh Đào
- Đỗ Mạnh Hoàng
- Đỗ Minh Tuấn
- Đỗ Nghê
- Đỗ Ngọc
- Đỗ Ngọc Thống
- Đỗ Quang Nghĩa
- Đỗ Quang Vinh
- Đỗ Quý Toàn
- Đỗ Quyên
- Đỗ Quỳnh Dao
- Đỗ Thái Bình
- Đỗ Thắng Cảnh
- Đỗ Thị Thu Trà
- Đỗ Thiên Anh Tuấn
- Đỗ Trí Vương
- Đỗ Trọng Khơi
- Đỗ Trung Quân
- Đỗ Trường
- Đỗ Tuyết Khanh
- Đồng Chuông Tử
- Đông Hoài
- Đông Hồ
- Đông Kha
- Đông Ngàn Đỗ Đức
- Đông Nghi
- Đức Ban
- Đức Đàm
- Đức Flying Bay
- Đức Hoàng
- Đức Lê
- Đức Phổ
- Đức Tâm
- Đức Tiến
- E. M. Forster
- E.E. Cummings
- E.M. Chernoivanenko
- Eamonn Butler
- Eckart Kleßmann
- Eduardo Galeano
- Edward Hirsch
- Elena Pucillo Truong
- Elias Canetti
- Ellen Bass
- Eloisa Amezcua
- Emiel Roothooft
- Emma Loffhagen
- Emmanuelle Jardonnet
- Eric Henry
- Eric Weiner
- Erica Frantz
- Erik Harms
- Erik Korling
- Euan Ward
- Éva Voszka
- Evgheni Dobrenko
- F.N.
- Federico García Lorca
- Feliks Kuznesov
- Filip Lech
- Flanny O’Connor
- Florence Noiville
- Florian Altenhöner
- France A. Córdova
- Francis Fukuyama
- Francis Fukuyma
- François Guillemot
- Frank Dikötter
- Frank O'Hara
- Frankfurt
- Fred Hiatt
- Friedrich Dürrenmatt
- Friedrich Nietzsche
- Friedrich Wilhelm Graf
- Fritz J. Raddatz
- Gã Khờ
- Gabriel García Márquez
- Gabriel Josipovici
- Gaither Stewart
- Gaiutra Bahadur
- Gary Leupp
- Gavin Butler
- Gặp gỡ và trò chuyện
- Georg Bönisch
- Georg Trakl
- George Burchett
- George Orwell
- George Perreault
- George Siemens
- Georges Condominas
- Gerhard Will
- Germain Droogenbroodt
- Giang Công Thế
- Giang Dang
- Giang Lại Đức
- Giang Nam
- Giáng Vân
- Giáo hoàng Leo XIV
- Giao Nguyễn
- Giáp Văn Dương
- Gideon Rachman
- Giuse Lê Công Đức
- Goethe
- Gonçalo Fernandes
- Gottfried Benn
- Graham Allison
- Grigory Yudin
- Günter Kunert
- Gyảng Anh Iên
- Hà Duy Phương
- Hà Dương Tuấn
- Hà Dương Tường
- Hà Đình Nguyên
- Hạ Đình Nguyên
- Hà Huy Khoái
- Hà Huy Sơn
- Hà Hương
- Hà Lệ Minh
- Hà Ngọc Hòa
- Hạ Nguyên
- Hà Nguyên Du
- Hà Nhân
- Hà Nhật
- Hà Phạm Phú
- Hà Quang Vinh
- Hà Sĩ Phu
- Hà Thanh Vân
- Hà Thế
- Hà Thị Minh Đạo
- Hà Thúc Sinh
- Hà Thủy Nguyên
- Hà Tùng Long
- Hà Tùng Sơn
- Hà Văn Tấn
- Hà Văn Thịnh
- Hà Văn Thùy
- Hà Vũ Trọng
- Hagi Kenaan
- Hai An Vu
- Hải Hạc
- Hải Ngọc
- Hai Thanh
- Hàm Anh
- Han Dang
- Hàn Giang
- Han Kang
- Hàn Vĩnh Diệp
- Hạnh Diễm
- Hạnh Nguyên
- Hạnh Phước
- Hạnh Viên
- Hannah Beech
- Hào Thiện Nhân
- Hari Kunzru
- Haruki Murakami
- Hân Hương
- Heiko Buschke
- Heinrich Heine
- Henri Michaux
- Henry David Thoreau
- Henry Wadsworth Longfellow
- Heriberto Araújo
- Hermann Hesse
- Hermann von Helmholtz
- Hiền Trang
- Hiệp Ikaria
- Hiệu Minh
- Hiếu Tân
- Ho Lai-Ming
- Hòa Bình Lê
- Hoa Níp
- Hoa Quỳnh Nguyễn
- Hoài Hương
- Hoài Nam
- Hoài Phương
- Hoài Thanh
- Hoài Việt
- Hoài Ziang Duy
- Hoan Doan
- Hoàn Nguyễn
- Hoàng Ánh
- Hoàng Anh Tuấn
- Hoàng Cát
- Hoàng Cầm
- Hoàng Chí Hiếu
- Hoàng Chính
- Hoàng Cường Long
- Hoàng Dũng
- Hoàng Dương Tuấn
- Hoàng Đăng Khoa
- Hoàng Đỗ
- Hoàng Đông
- Hoàng Đức Truật
- Hoàng Hà
- Hoàng Hải Thủy
- Hoàng Hải Vân
- Hoảng Hãn
- Hoàng Hôn
- Hoàng Hưng
- Hoàng Khởi Phong
- Hoàng Kim Oanh
- Hoàng Lại Giang
- Hoàng Lan
- Hoàng Lan Anh
- Hoàng Lan Chi
- Hoàng Lê
- Hoàng Lệ
- Hoàng Linh
- Hoàng Long
- Hoàng Luận
- Hoàng Mai Ðạt
- Hoàng Mạnh Hải
- Hoàng Minh Trí
- Hoàng Minh Tường
- Hoàng Nam
- Hoàng Nga
- Hoàng Ngọc Biên
- Hoàng Ngọc Hiến
- Hoàng Ngọc Nguyên
- Hoàng Ngọc Tuấn
- Hoàng Nguyễn
- Hoàng Nguyên Vũ
- Hoàng Nhơn
- Hoàng Nhuận Cầm
- Hoàng Phạm Gia Khang
- Hoàng Phong Tuấn
- Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Hoàng Quân
- Hoàng Quốc Dũng
- Hoàng Quốc Hải
- Hoàng Thị Hường
- Hoàng Thị Thu Thủy
- Hoàng Thu Phố
- Hoàng Thúy
- Hoàng Thuỵ Anh
- Hoàng Tiến
- Hoàng Trung Thông
- Hoàng Tuấn Công
- Hoàng Tuấn Phổ
- Hoàng Tùng
- Hoàng Tuỵ
- Hoàng Tư Giang
- Hoàng Văn Sơn
- Hoàng Việt
- Hoàng Vũ Sơn
- Hoàng Vũ Thuật
- Hoàng Xuân Phú
- Hoàng Xuân Sơn
- Hoàng Xuân Tuyền
- Hoàng Yến
- Honoré de Balzac
- Horst Bienek
- Howard Gardner
- Hồ Anh Thái
- Hồ Bạch Thảo
- Hồ Bất Khuất
- Hồ Diệu Vân
- Hồ Dzếnh
- Hồ Đắc Vũ
- Hồ Đình Nghiêm
- Hồ Hải Thụy
- Hồ Hữu Tường
- Hồ Khánh Vân
- Hồ Minh Tâm
- Hồ Ngọc Đại
- Hồ Như
- Hồ Phú Bông
- Hồ Thanh Bình
- Hồ Tịnh Tình
- Hồ Trường An
- Hồ Tú Bảo
- Hội những người ủng hộ GS. Chu Hảo
- Hồng Anh
- Hồng Hoang
- Hồng Lê Thọ
- Hồng Phú
- Huệ Hương Hoàng
- Huguette Bertrand
- Huong Nguyen
- Huy Bảo
- Huy Cận
- Huy Đức
- Huy Tưởng
- Huyền Thương
- Huỳnh Duy Lộc
- Huỳnh Hoa
- Huỳnh Hữu Uỷ
- Huỳnh Hữu Ủy
- Huỳnh Kim Báu
- Huỳnh Kim Quang
- Huỳnh Lê Nhật Tấn
- Huỳnh Liễu Ngạn
- Huỳnh Ngọc Chênh
- Huỳnh Như Phương
- Huỳnh Sơn Phước
- Huỳnh Tấn Mẫm
- Huỳnh Thế Du
- Huỳnh Thục Vy
- Huỳnh Trọng Khang
- Huỳnh Tuấn Anh
- Hứa Chương Nhuận
- Hứa Lập Chí
- Hương Lan
- Hường Thanh
- Hương Thủy
- Hữu Danh
- Hữu Đông
- Hữu Loan
- Hữu Mai
- Hữu Phương
- Ian Bui
- Ian Johnson
- Igor Poglazov
- Iio Sōgi
- Ilza Burchett
- Inrasara
- Iris Radisch
- Isabella Kwai
- Issa
- Issac Bashevis Singer
- Italo Calvino
- Iya Kiva
- J. M. Lotman
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
- Jacques Attali
- Jacques Prévert
- Jacqui Palumbo
- Jake Johnson
- James Borton
- James Daniel Spears
- James G. Zumwalt
- James Grossman
- James Joyce
- James Poniewozik
- James Stavridis
- James WrightJuan Felipe Herrera
- Jang Kều
- Janos Kornai
- Jared Carters
- Jason Lopata
- Jason Morris-Jung
- Jay Nordlinger
- Jaya K.
- Jean Chesnaux
- Jean d'Ormesson
- Jean Piaget
- Jean Przyluski
- Jean Toomer
- Jean-Jacques Brochier
- Jean-Jacques Roth
- Jean-Louis Rocca
- Jean-Luc Chalumeau
- Jean-Marc Roberts
- Jean-Patrick Géraud
- Jean-Paul Sartre
- Jefferson Cowie
- Jeffrey Hanfover
- Jeffrey Nall
- Jessica Swoboda
- Jessie Yeung
- Jiayang Fan
- Jimmy Carter
- Joan Hua
- João Guimarães Rosa
- Joaquin Nguyễn Hòa
- Johann Grolle
- John Ashbery
- John Barrow
- John Cheever
- John D. Howard
- John Freeman
- John Keane
- John McCain
- Jon Fosse
- Jonathan Dee
- Jonathan London
- Jonathan Scott Holloway
- Jörg Wischermann
- Jorge Amado
- Jorge Luis Borges
- Joschka Fischer
- Josée Lapointe
- Joseph Wong
- Joseph Wright
- Josh Rogin
- Joshua Rothman
- Juan Pablo Cardenal
- Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo
- Julia Cagé
- Julie Thi Underhill
- Julio Cortázar
- Jun’ichiro Tanizaki
- Kahil Gibral
- Kai Hoàng
- Kale
- Kalynh Ngô
- Kamel Daoud
- Kao Phú
- Kap Seol
- Karel Appel
- Karen Tongson
- Kate Chopin
- Katie Razzall
- Kazuo Shiraga
- Kenneth Nguyen
- Kenzaburo Oe
- Keorapetse Kgositsile
- Kerstin Holm
- Kều Jang
- Kha Lương Ngãi
- Kha Tiệm Ly
- Khải Đơn
- Khái Hưng
- Khaled Juma
- Khaly Chàm
- Khang Quốc Ngọc
- Khánh
- Khánh Bình
- Khánh Duy
- Khánh Khánh
- Khánh Ly
- Khánh Mai
- Khanh Nguyen
- Khanh Pham
- Khánh Phương
- Khánh Trâm
- Khánh Trường
- Khét
- Khế Iêm
- Khiêm Nhu
- Khổng Đức Thiêm
- Khuất Đẩu
- Khuất Thu Hồng
- Khuê Minh Nguyệt
- Khuê Phạm
- Khuyết Thư
- Kiệm Hoàng
- Kiến Văn
- Kiệt Anh Hùng
- Kiệt Tấn
- Kiều Duy Vĩnh
- Kiều Loan
- Kiều Mai Sơn
- Kiều Maily
- Kiều Phong
- Kiều Thị An Giang
- Kim Ân
- Kim Chi
- Kim Dung
- Kim Hạnh
- Kim Thúy
- Kim Trần
- Kim Yi-deum
- Kinh Bắc
- Kính Hòa
- Klaus Wiegerefe
- Kobayashi Issa
- Kúm
- Kumar Vikram
- Kurt-Martin Mayer
- Kỳ Duyên
- Kyoko Numano
- L. N.
- L. N. Tolstoy
- L. V. H.
- La Khắc Hoà
- La Khắc Hòa
- Lã Nguyên
- Lại Nguyên Ân
- Lam Điền
- Lam Hạnh
- Lam Ngọc
- Lam Thái Hòa
- Lan Nguyên
- Lang Anh
- Langston Hughes
- LAP
- Larry Diamond
- Lars Vargö
- László Krasznahorkai
- Laura Cappelle
- Laurent Sagalovitsch
- Lawrence Ferlinghetti
- Lâm Chương
- Lâm Duyên
- Lâm Hạnh
- Lâm Lê
- Lâm Ngân Mai
- Lâm Quang Mỹ
- Lâm Thị Mỹ Dạ
- Lenin
- Leon Trotsky
- Leonard Cohen
- Leonardo da Vinci
- Lê An Thế
- Lê Anh Hoài
- Lê Anh Hùng
- Lê Ân
- Lê Bá Đảng
- Lê Bảo Nhi
- Lê Bích Vượng
- Lê Chiều Giang
- Lê Công Định
- Lê Công Giàu
- Lê Công Tư
- Lê Ðình Nhất Lang
- Lê Dũng
- Lê Duy Nam
- Lê Đạt
- Lê Đăng Doanh
- Lê Đình Cai
- Lê Đình Khẩn
- Lê Đình Thắng
- Lê Đỗ Huy
- Lê Đức Dục
- Lê Đức Thôn
- Lê Giang Trần
- Lê Hải
- Lệ Hằng
- Lê Hiệp
- Lê Hoài Nguyên
- Lê Hoàng Diễm Trang
- Lê Hoàng Lân
- Lê Học Lãnh Vân
- Lê Hồ Quang
- Lê Hồng Hà
- Lê Hồng Hiệp
- Lê Hồng Lâm
- Lê Hùng
- Lê Hùng Vọng
- Lê Huy Hòa
- Lê Huyền Ái Mỹ
- Lê Huỳnh Lâm
- Lê Hữu
- Lê Hữu Khoá
- Lê Hữu Khóa
- Lê Hữu Nam
- Lê Kế Lâm
- Lê Khải
- Lê Kim Duy
- Lê Ký Thương
- Lê Lạc Giao
- Lê Luân
- Lê Mã Lương
- Lê Mai
- Lê Mai Lĩnh
- Lê Mạnh Chiến
- Lê Mạnh Đức
- Lê Minh
- Lê Minh Chánh
- Lê Minh Hà
- Lê Minh Hiền
- Lê Minh Khuê
- Lê Minh Phong
- Lê Ngân Hằng
- Lê Ngọc Luân
- Lê Ngọc Sơn
- Lê Nguyễn
- Lê Nguyễn Duy Hậu
- Lê Nguyễn Hương Trà
- Lê Nguyên Long
- Lê Nguyên Phương
- Lê Nguyên Vỹ
- Lê Như Bình
- Lê Oa Đằng
- Lê Phan
- Lê Phú Khải
- Lê Quang
- Lê Quang Đức
- Lê Quảng Hà
- Lê Quang Hợp
- Lê Quang Thành
- Lê Quân
- Lê Quốc Anh
- Lê Quỳnh
- Lê Quỳnh Mai
- Lê Sa Long
- Lê Si Na
- Lê Sơn
- Lê Tất Đạt
- Lê Tất Điều
- Lê Thanh Dũng
- Lê Thanh Hải
- Lê Thanh Phong
- Lê Thanh Trường
- Lê Thanh Tuấn
- Lê Thân
- Lê Thế Thắng
- lê thi diem thuý
- Lê Thị Hồng Minh
- Lê Thị Huệ
- Lê Thị Hường
- Lê Thị Oanh
- Lê Thị Thanh Tâm
- Lê Thị Thấm Vân
- Lê Thiết Cương
- Lê Thiếu Nhơn
- Lê Thọ Bình
- Lê Thời Tân
- Lê Thời Thôi
- Lê Thu Hiền
- Lê Thúy Bảo Liên
- Lê Tiên Long
- Lê Trí Tuệ
- Lê Trinh
- Lê Trọng Nghĩa
- Lê Trọng Nguyễn
- Lê Trung Tĩnh
- Lê Trường Thanh
- Lê Tuấn Huy
- Lê Tuyết Hạnh
- Lê Văn Bỉnh
- Lê Văn Hảo
- Lê Văn Hiếu
- Lê Văn Hòa
- Lê Văn Hùng Vĩ
- Lê Văn Luân
- Lê Văn Sơn
- Lê Văn Trung
- Lê Văn Tùng
- Lê Vĩnh Tài
- Lê Vĩnh Triển
- Lê Vũ Trường Giang
- Lê Xuân Khoa
- Lê Xuyên
- Li Edelkoort
- Li Tana
- Li Zhongqin
- Liêu Diệc Vũ
- Liêu Thái
- Liễu Trương
- Linh Nguyên
- Linh Phạm
- Linh Văn
- Linh Vân
- Linh-Chân Brown
- LKH
- Lorca
- Louis Aragon
- Louise Glück
- Lộc Vàng
- Lợi Phan Mai
- Luân Hoán
- Ludwig von Mises
- Luke Hunt
- Luke Turner
- Lữ Kiều
- Lữ Minh Trí
- Lữ Quỳnh
- Lương Đào
- Lương Thiệu Quân
- Lương Thư Trung
- Lưu Á Châu
- Lưu Bình Nhưỡng
- Lưu Diệu Vân
- Lưu Đình Long
- Lưu Đức Trung
- Lưu Hà
- Lưu Hiểu Ba
- Lưu Khánh Thơ
- Lưu Mê Lan
- Lưu Minh Hải
- Lưu Na
- Lưu Nhi Dũ
- Lưu Quang Vũ
- Lưu Thuỷ Hương
- Lưu Thủy Hương
- Lưu Trọng Tưởng
- Lưu Trọng Văn
- Lưu Uyên Khôi
- Lý Đợi
- Lý Gia Trung
- Ly Hoàng Ly
- Lý Ngang
- Ly Phạm
- Lý Quang Hoàn
- Lý Thanh
- Lý Tiến Dũng
- Lý Toàn Thắng
- Lý Trực Dũng
- Lý Xuân Hải
- Lydia Davis
- Lynh Bacardi
- LysP
- M. Gorky
- M. Trần
- M.L. Gasparov
- Mạc Phong Tuyền
- Mạc Văn Trang
- Mạc Việt Hồng
- Mạch Nha
- Mạch Quang Thắng
- Madeleine Riffaud
- Madlovics Bálint
- Magyar Bálint
- Mahmoud Darwish
- Mai An Nguyễn Anh Tuấn
- Mai Anh Tuấn
- Mai Bá Ấn
- Mai Bá Kiếm
- Mai Chanh
- Mai Đỗ
- Mai Hiền
- Mai Khôi
- Mai Kim Ngọc
- Mai Lý
- Mai Nhật
- Mai Ninh
- Mai Quốc Ấn
- Mai Quỳnh
- Mai Quỳnh Nam
- Mai Sơn
- Mai Thái Lĩnh
- Mai Thanh Sơn
- Mai Thảo
- Mai Tú Ân
- Mai Văn Hoan
- Mai Văn Phấn
- Mai Văn Tính
- Maki Starfield
- Mamleev
- Mạnh Kim
- Manuel Casimiro
- Mão Xuyên
- Marc Andrus
- Marcel Reich-Ranicki
- Marci Shore
- Marco Ferrarese
- Margarita Lyutova
- Marguerite Duras
- Maria Donovan
- Maria Ressa
- Marie Lê Thị Hoa
- Mário de Andrade
- Mario Vargas Llosa
- Marion Hennebert
- Mark B. Hamilton
- Mark Binelli
- Mark Frankland
- Mark Osaki
- Mark Strand
- Marta Hillers
- Martin Jankowski
- Martin Kulldorff
- Marty Robbins
- Mary Morose
- Mary Walsh
- Masaoka Shik
- Matei Vişniec
- Mathias Mayer
- Matsunaga Teitoku
- Matthew Clayfield
- Matthew Crawford
- Maurice Blanchot
- Maximilian Steinbeis
- May
- Maya Angelou
- Mặc Đỗ
- Mặc Lâm
- Mân Côi
- McAmmond Nguyễn Thị Tư
- Media Văn Việt
- Mia Pluger
- Michael Burawoy
- Michael Scammell
- Michel de Montaigne
- Miêng
- Mike Ives
- Mikhail Shishkin
- Mikhail Sholokhov
- Mikhail Viktorovich Zygar
- Milan Kundera
- Mimmi Diệu Hường Bergström
- MInh Anh
- Minh Hạo
- Minh Huệ
- Minh Hùng
- Minh Luật
- Minh Phúc
- Minh Quang – Lê Chiên
- Minh Quang Ho
- Minh Tâm
- Minh Thùy
- Minh Thư
- Minh Toàn
- Minh Tuấn
- Minh Tự
- Mireille Sacotte
- Miura Chora
- Monica Berlin
- Mường Mán
- Mỹ Hằng
- Mỹ Lan
- N. S. Khrushchev
- Nadine Murtaja
- Nam Dao
- Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng
- Nam Đan
- Nam Đông
- Nam Nguyên
- Nam Sơn
- Naowarat Pongpaiboon
- Natalia lacovelli
- Nataliya Zhynkina
- Natsume Sōseki
- Nay Aung
- ng. anhanh
- Ng.Uyển Nicole Dương
- Ngải Vị VỊ
- Ngân Xuyên
- Nghệ
- Nghệ thuật
- Nghĩa Đặng
- Nghiêm Lương Thành
- Nghiêm Phương Mai
- Nghiêm Thanh Hương
- Nghiêm Xuân Hồng
- Nghiên Cứu Phê Bình
- Ngo Thu
- Ngọc Anh
- Ngọc Duy Phan
- Ngoc Hien Bui
- Ngọc Hoan
- Ngọc Linh
- Ngô Anh Tuấn
- Ngô Bảo Châu
- Ngô Đình Thẩm
- Ngô Đồng
- Ngô Hương Giang
- Ngô Khắc Tài
- Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
- Ngô Kim Khôi
- Ngô Kim-Khôi
- Ngô Liêm Khoan
- Ngô Lực
- Ngô Mai Phong
- Ngô Mạnh Hùng
- Ngô Minh
- Ngô Minh Khôi
- Ngô Ngọc Loan
- Ngô Ngọc Trai
- Ngô Nguyên Dũng
- Ngô Nhật Đăng
- Ngô Quốc Phương
- Ngô Quốc Thịnh
- Ngô Thế Vinh
- Ngô Thị Kim Cúc
- Ngô Thị Thanh Lịch
- Ngô Thị Thu Ngần
- Ngô Tùng Phong
- Ngô Tự Lập
- Ngô Văn
- Ngô Văn Giá
- Ngô Viết Nam Sơn
- Ngô Viết Trọng
- Ngô Việt Trung
- Ngô Vĩnh Long
- Ngô Xuân Hội
- Ngô Xuân Phúc
- Ngô Xuân Thảo
- Ngu Yên
- Nguyen Duc Thanh
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Anh Dũng
- Nguyễn Anh Sơn
- Nguyễn Anh Tuấn
- Nguyễn Anh Tuấn - đạo diễn
- Nguyễn Bá Chung
- Nguyễn Bách Việt
- Nguyễn Bảo Chân
- Nguyễn Bắc Sơn
- Nguyên Bình
- Nguyễn Bính
- Nguyễn Cảnh Bình
- Nguyên Cầm
- Nguyên Cẩn
- Nguyên Chánh
- Nguyễn Chí Hoan
- Nguyễn Chí Thuật
- Nguyễn Chí Trung
- Nguyễn Chí Tuyến
- Nguyễn Chinh Trung
- Nguyễn Công Lý
- Nguyễn Cung Thông
- Nguyễn Cường
- Nguyễn Danh Bằng
- Nguyễn Danh Huế
- Nguyễn Danh Lam
- Nguyễn Ðăng Thường
- Nguyễn Duy
- Nguyễn Dương Quang
- Nguyễn Đạt
- Nguyễn Đắc Kiên
- Nguyễn Đắc Xuân
- Nguyễn Đăng Điệp
- Nguyễn Đăng Hưng
- Nguyễn Đăng Khoa
- Nguyễn Đăng Mạnh
- Nguyễn Đăng Na
- Nguyễn Đăng Quang
- Nguyễn Đăng Thường
- Nguyễn Đình Ấm
- Nguyễn Đình Bin
- Nguyễn Đình Bổn
- Nguyễn Đình Chú
- Nguyễn Đình Cống
- Nguyễn Đình Đăng
- Nguyễn Đình Huỳnh
- Nguyễn Đinh Phong
- Nguyễn Đình Phượng Uyển
- Nguyễn Đình Thắng
- Nguyễn Đình Thi
- Nguyễn Đình Toàn
- Nguyễn Đông A
- Nguyễn Đổng Chi
- Nguyễn Đông Thức
- Nguyễn Đức
- Nguyễn Đức Dương
- Nguyễn Đức Hiệp
- Nguyễn Đức Lộc
- Nguyễn Đức Lực
- Nguyễn Đức Mậu
- Nguyễn Đức Sơn
- Nguyễn Đức Thắng
- Nguyễn Đức Tiến
- Nguyễn Đức Tùng
- Nguyễn Đức Tường
- Nguyễn Gia Trí
- Nguyên Giác
- Nguyên Giác Phan Tấn Hải
- Nguyễn Hà Luân
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Hải Yến
- Nguyễn Hàn Chung
- Nguyễn Hiến Lê
- Nguyễn Hoa Lư
- Nguyễn Hoài Nam
- Nguyễn Hoài Văn
- Nguyễn Hoài Vân
- Nguyễn Hoàn
- Nguyễn Hoàn Nguyên
- Nguyễn Hoàng Ánh
- Nguyễn Hoàng Anh Thư
- Nguyễn Hoàng Diệu Thủy
- Nguyễn Hoàng Diệu Thúy
- Nguyễn Hoàng Giao
- Nguyễn Hoàng Linh
- Nguyễn Hoàng Trung
- Nguyễn Hoàng Văn
- Nguyễn Hồ Quân
- Nguyễn Hồng Anh
- Nguyễn Hồng Giao
- Nguyễn Hồng Hưng
- Nguyễn Hồng Lam
- Nguyễn Hồng Nhung
- Nguyễn Hồng Thục
- Nguyễn Huệ Chi
- Nguyễn Hùng
- Nguyễn Huy Hoàng
- Nguyễn Huy Thắng
- Nguyễn Huy Thiệp
- Nguyễn Huy Vũ
- Nguyên Hưng
- Nguyễn Hưng Quốc
- Nguyễn Hương
- Nguyễn Hữu Đễ
- Nguyễn Hữu Hồng Minh
- Nguyễn Hữu Liêm
- Nguyễn Hữu Nhật
- Nguyễn Hữu Sơn
- Nguyễn Hữu Thiết
- Nguyễn Hữu Việt Hưng
- Nguyễn Hữu Vinh
- Nguyễn kc Hậu
- Nguyễn Khải
- Nguyễn Khánh Duy
- Nguyễn Khánh Trường
- Nguyễn Khắc An
- Nguyễn Khắc Bình
- Nguyễn Khắc Giang
- Nguyễn Khắc Mai
- Nguyễn Khắc Ngân Vi
- Nguyễn Khắc Phê
- Nguyễn Khắc Phi
- Nguyễn Khắc Phục
- Nguyễn Khiêm
- Nguyễn Khôi
- Nguyễn Kiến Phước
- Nguyễn Kiều Dung
- Nguyễn Kiều Hưng
- Nguyễn Kim Hưng
- Nguyên Lạc
- Nguyễn Lam Điền
- Nguyễn Lãm Thắng
- Nguyễn Lan Phương
- Nguyễn Lâm Cẩn
- Nguyễn Lân Bình
- Nguyễn Lân Thắng
- Nguyễn Lê Hồng Hưng
- Nguyễn Lê Tuyên
- Nguyễn Lệ Uyên
- Nguyễn Linh Giang
- Nguyễn Linh Quang
- Nguyễn Lộ Trạch
- Nguyễn Lộc
- Nguyễn Luận
- Nguyễn Lương Hải Khôi
- Nguyễn Lương Ngọc
- Nguyễn Lương Thịnh
- Nguyễn Lương Vỵ
- Nguyễn Mai
- Nguyễn Man Nhiên
- Nguyễn Mạnh An Dân
- Nguyễn Mạnh Côn
- Nguyễn Mạnh Đẩu
- Nguyễn Mạnh Tiến
- Nguyễn Manh Trinh
- Nguyễn Mạnh Trinh
- Nguyễn Mạnh Tuấn
- Nguyễn Mạnh Tường
- Nguyễn Minh Anh
- Nguyễn Minh Cao
- Nguyễn Minh Hòa
- Nguyễn Minh Hùng
- Nguyễn Minh Kính
- Nguyễn Minh Nhị
- Nguyễn Minh Nhựt
- Nguyễn Minh Thuyết
- Nguyễn Mộng Giác
- Nguyên Ngọc
- Nguyễn Ngọc Chu
- Nguyễn Ngọc Đức
- Nguyễn Ngọc Giao
- Nguyễn Ngọc Hoa
- Nguyễn Ngọc Lanh
- Nguyễn Ngọc Liễm
- Nguyễn Ngọc Lung
- Nguyễn Ngọc Phương
- Nguyễn Ngọc Tâm
- Nguyễn Ngọc Thiện
- Nguyễn Ngọc Thuần
- Nguyễn Ngọc Tú Anh
- Nguyễn Ngọc Tư
- Nguyên Nguyên
- Nguyễn Nguyên
- Nguyễn Nguyên Bình
- Nguyễn Nguyệt Cầm
- Nguyễn Nhật Lệ
- Nguyễn Nhật Tín
- Nguyên Nhi
- Nguyễn Như Huy
- Nguyễn Như Mây
- Nguyễn Phạm Hùng
- Nguyễn Phan Quế Mai
- Nguyễn Phú Yên
- Nguyễn Phúc Vĩnh Ba
- Nguyễn Phượng
- Nguyễn Phương Điền
- Nguyễn Phương Đình
- Nguyễn Phương Mai
- Nguyễn Phương Mạnh
- Nguyễn Quang
- Nguyễn Quang A
- Nguyễn Quang Bình
- Nguyễn Quang Duy
- Nguyễn Quang Dy
- Nguyễn Quang Đồng
- Nguyễn Quang Hồng
- Nguyễn Quang Hưng
- Nguyễn Quang Lập
- Nguyễn Quang Thạch
- Nguyễn Quang Thân
- Nguyễn Quang Thiều
- Nguyễn Quang VInh
- Nguyễn Quân
- Nguyễn Quốc Bảo
- Nguyễn Quốc Chánh
- Nguyễn Quốc Chính
- Nguyễn Quốc Lâm
- Nguyễn Quốc Tấn Trung
- Nguyễn Quốc Thái
- Nguyễn Quốc Toàn
- Nguyễn Quốc Trụ
- Nguyễn Quốc Tuấn
- Nguyễn Quốc Vương
- Nguyễn Quỳnh Hương
- Nguyên Sa
- Nguyễn Sĩ Dũng
- Nguyễn Sơn Hùng
- Nguyễn Sơn Lâm
- Nguyễn Sỹ Phương
- Nguyễn Sỹ Tế
- Nguyễn Tà Cúc
- Nguyễn Tài Cẩn
- Nguyễn Tấn Cứ
- Nguyễn Tất Nhiên
- Nguyễn Thạch Giang
- Nguyễn Thái Hòa
- Nguyễn Thái Hợp
- Nguyễn Thái Sơn
- Nguyễn Thái Tuấn
- Nguyễn Thanh Bình
- Nguyễn Thanh Châu
- Nguyễn Thanh Giang
- Nguyễn Thanh Hiện
- Nguyễn Thanh Hùng
- Nguyễn Thanh Huy
- Nguyễn Thanh Huyền
- Nguyễn Thanh Mỹ
- Nguyễn Thành Nam
- Nguyễn Thanh Nghị
- Nguyễn Thanh Nguyệt
- Nguyễn Thành Phong
- Nguyễn Thanh Sơn
- Nguyễn Thành Sơn
- Nguyễn Thanh Tâm
- Nguyễn Thành Thi
- Nguyễn Thanh Tùng
- Nguyễn Thanh Tuyền
- Nguyễn Thanh Văn
- Nguyễn Thanh Việt
- Nguyễn Thế Hùng
- Nguyễn Thế Thanh
- Nguyễn Thị Ái Tiên
- Nguyễn Thị Bích Hậu
- Nguyễn Thị Bích Ngà
- Nguyễn Thị Bình
- Nguyễn thị Cỏ May
- Nguyễn Thị Dư Khánh
- Nguyễn Thị Hải
- Nguyễn Thị Hậu
- Nguyễn Thị Hiền
- Nguyễn Thị Hoàng
- Nguyễn Thị Hoàng Bắc
- Nguyễn Thị Hồng
- Nguyễn Thị Khánh Minh
- Nguyễn Thị Khánh Trâm
- Nguyễn Thị Kim Chi
- Nguyễn Thị Kim Phụng
- Nguyễn Thị Kim Thoa
- Nguyễn Thị Minh Ngọc
- Nguyễn Thị Minh Thái
- Nguyễn Thị Minh Thương
- Nguyễn Thị Ngọc Hải
- Nguyễn Thị Ngọc Nhung
- Nguyễn Thị Như Ngọc
- Nguyễn Thị Oanh
- Nguyễn Thị Phước
- Nguyễn Thị Thanh Bình
- Nguyễn Thị Thanh Hải
- Nguyễn Thị Thanh Lưu
- Nguyễn Thị Thanh Xuân
- Nguyễn Thị Thanh Yến
- Nguyễn Thị Thảo An
- Nguyễn Thị Thúy Hạnh
- Nguyễn Thị Thùy Linh
- Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Nguyễn Thị Thuyền
- Nguyễn Thị Tịnh Thy
- Nguyễn Thị Từ Huy
- Nguyễn Thị Vinh
- Nguyễn Thiện Tống
- Nguyễn Thiện Tơ
- Nguyễn Thói Đời
- Nguyễn Thông
- Nguyễn Thu Quỳnh
- Nguyễn Thu Trang
- Nguyễn Thụy Anh
- Nguyễn Thùy Dương
- Nguyễn Thúy Hạnh
- Nguyễn Thụy Long
- Nguyễn Thuỵ Phương
- Nguyễn Thùy Song Thanh
- Nguyễn Thỵ
- Nguyễn Thy Anh
- Nguyễn Tiến Dũng
- Nguyễn Tiến Lập
- Nguyễn Tiến Trung
- Nguyễn Tiến Văn
- Nguyễn Trần Bạt
- Nguyễn Tri Phương Đông
- Nguyễn Triệu Nam
- Nguyễn Trọng Bình
- Nguyễn Trọng Chức
- Nguyễn Trọng Huân
- Nguyễn Trọng Khôi
- Nguyễn Trọng Tạo
- Nguyễn Trung
- Nguyễn Trung Bảo
- Nguyễn Trung Dân
- Nguyễn Trung Hiếu
- Nguyễn Trung Kiên
- Nguyễn Trung Lương
- Nguyễn Trung Thuần
- Nguyễn Trường Giang
- Nguyễn Trường Huy
- Nguyễn Trường Uy
- Nguyễn Tuấn
- Nguyễn Tuấn Anh
- Nguyễn Tuấn Khoa
- Nguyễn Tùng
- Nguyễn Tùng Linh
- Nguyễn Tuyết Lan
- Nguyễn Tuyết Lộc
- Nguyễn Tư Nghiêm
- Nguyễn Tử Siêm
- Nguyễn Tường Bách
- Nguyễn Tường Thiết
- Nguyễn Tường Thụy
- Nguyễn Ước
- Nguyễn Vạn An
- Nguyễn Vạn Phú
- Nguyễn Văn
- Nguyễn Văn Ba
- Nguyễn Văn Chính
- Nguyễn Văn Ðậu
- Nguyễn Văn Dũng
- Nguyễn Văn Đài
- Nguyễn Văn Gia
- Nguyễn Văn Hạnh
- Nguyễn Văn Hiệp
- Nguyễn Văn Hòa
- Nguyễn Văn Hùng
- Nguyễn Văn Huyên
- Nguyễn Văn Lợi
- Nguyễn Văn Lục
- Nguyễn Văn Miếng
- Nguyễn Văn Nghệ
- Nguyễn Văn Nho
- Nguyễn Văn Phong
- Nguyễn Văn Phú
- Nguyễn Văn Phước
- Nguyễn Văn Sâm
- Nguyễn Văn Sơn
- Nguyễn Văn Tao
- Nguyễn Văn Thiệu
- Nguyễn Văn Thọ
- Nguyễn Văn Trọng
- Nguyễn Văn Trung
- Nguyễn Văn Tuấn
- Nguyễn Văn Vĩnh
- Nguyễn Văn Xuân
- Nguyễn Vi Khải
- Nguyễn Vi Yên
- Nguyễn Viện
- Nguyên Việt
- Nguyễn Việt Anh
- Nguyễn Việt Chiến
- Nguyễn Viết Dũng
- Nguyễn Viết Lãm
- Nguyễn Viết Sáng
- Nguyễn Vĩnh Nguyên
- Nguyễn Vũ Hiệp
- Nguyễn Vũ Tiềm
- Nguyễn Vỹ
- Nguyễn Vy Khanh
- Nguyễn Xuân Diện
- Nguyễn Xuân Hằng
- Nguyễn Xuân Hoàng
- Nguyễn Xuân Hưng
- Nguyễn Xuân Khánh
- Nguyễn Xuân Khoát
- Nguyễn Xuân Nghĩa
- Nguyễn Xuân Nha
- Nguyễn Xuân Quang
- Nguyễn Xuân Thiệp
- Nguyễn Xuân Thọ
- Nguyễn Xuân Tiệp
- Nguyễn Xuân Tường Vy
- Nguyễn Xuân Vượng
- Nguyễn Xuân Xanh
- Nguyễn Ý Thuần
- Nguyên Yên
- Nguyễn-Chương Mt
- Nguyễn-hòa-Trước
- Nguyệt Chu
- Nguyệt Quỳnh
- Nguyệt Vi
- Ngự
- Ngự Thuyết
- Người Buôn Gió
- Ngyễn Trung Bảo
- Nh. Tay Ngàn
- Nhã
- Nhã Ca
- Nhã Duy
- Nhã Thuyên
- Nhan Do Thanh
- Nhân Hồng
- Nhật Chiêu
- Nhật Lệ
- Nhất Linh
- Nhật Thanh
- Nhật Tiến
- Nhật Tuấn
- Nhất Uyên
- Nhị Linh
- Nhị Ngã
- Nhóm Vì một Hà Nội xanh
- Như Huy
- Như Không
- Như Quỳnh
- Như Quỳnh de Prelle
- Như Ý
- Nhược Thủy
- Niall Ferguson
- Nick Hilden
- Nicolas Casey
- Nikulin
- Nina McPherson
- Ninh Dương
- Ninh Kiều
- Nobert Hummelt
- Norbert Seitz
- Nozawa Boncho
- Nông Hồng Diệu
- NP Phan
- Obama
- Ocean Vương
- Octavio Paz
- Ogden Nash
- Oksana Zabuzhko
- Oleg Kashin
- Olga Berggolts
- Ondrej Slowik
- onggiaolang
- Orlando Figes
- Orwell
- Oscar Salemink
- Oscar Wilde
- Pablo Neruda
- Pablo Picasso
- Palmer
- Pamela N. Corey
- Patrick Frater
- Patrick Lodge
- Paul Auster
- Paul Celan
- Paul Dahlke
- Paul Éluard
- Paul Hoover
- Paul Mendez
- Paul Mozur
- Paul Theroux
- Paul-François Paoli
- Paulus Lê Sơn
- Pavel Basinsky
- Pavel Basynski
- Pavlo Vyshebaba
- Paweł Kubiak
- Pawel Kuczynski
- Paweł Łepkowski
- Percy Mabandu
- Pervez Hoodbhoy
- Peter B. Zinoman
- Peter Bradshaw
- Peter Hansen
- Peter Harvey
- Peter Kleiner
- Peter Singer
- Phạm Anh Tuấn
- Phạm Biểu Tâm
- Phạm Cảnh Thượng
- Phạm Cao Hoàng
- Phạm Châu
- Phạm Chí Dũng
- Phạm Chi Lan
- Phạm Chu Sa
- Phạm Công Luận
- Phạm Công Thiện
- Phạm Công Trứ
- Phạm Công Út
- Phạm Duy
- Phạm Duy Nghĩa
- Phạm Đình Chương
- Phạm Đình Trọng
- Phạm Đình Vy
- Phạm Đoan Trang
- Phạm Hải Anh
- Phạm Hải Âu
- Phạm Hiền Mây
- Phạm Hoàng Quân
- Phạm Hồng Sơn
- Phạm Hùng Việt
- Phạm Huy Thông
- Phạm Khánh Duy
- Phạm Khiêm Ích
- Phạm Kiều Tùng
- Phạm Kỳ Đăng
- Phạm Lệ Quyên
- Phạm Lê Vương Các
- Phạm Linh
- Phạm Lưu Vũ
- Phạm Minh Hoàng
- Phạm Minh Ngọc
- Phạm Minh Quân
- Phạm Minh Trung
- Phạm Ngọc
- Phạm Ngọc Lư
- Phạm Ngọc Thái
- Phạm Ngọc Tiến
- Phạm Nguyên Trường
- Phạm Ngữ
- Phạm Phan Long
- Phạm Phú Cường
- Phạm Phú Hải
- Phạm Phú Minh
- Phạm Phú Phong
- Phạm Phú Thứ
- Phạm Phú Viết
- Phạm Phúc Thịnh
- Phạm Phương
- Phạm Quang Ái
- Phạm Quang Long
- Phạm Quang Trung
- Phạm Quang Tuấn
- Phạm Sỹ Sáu
- Phạm Tăng
- Phạm Thành
- Phạm Thành Hưng
- Phạm Thanh Nghiên
- Phạm Thảo Nguyên
- Phạm Thế Cường
- Phạm Thị
- Phạm Thị Anh Nga
- Phạm Thị Điệp Giang
- Phạm Thị Hoài
- Phạm Thị Hồng Ân
- Phạm Thị Kiều Ly
- Phạm Thị Ngọc
- Phạm Thị Phương
- Phạm Thiên Ân
- Phạm Thiên Thư
- Phạm Tín An Ninh
- Phạm Toàn
- Phạm Trần
- Phạm Trọng Chánh
- Phạm Trung Nghĩa
- Phạm Tuấn
- Phạm Tư Thanh Thiện
- Phạm Tường Cán
- Phạm Tường Vân
- Phạm Văn
- Phạm Văn Khoái
- Phạm Văn Quang
- Phạm Văn Tình
- Phạm Văn Vũ
- Pham Viem Phuong
- Phạm Viêm Phương
- Phạm Viết Đào
- Phạm Việt Hưng
- Phạm Vũ Lửa Hạ
- Phạm Xuân Đài
- Phạm Xuân Hùng
- Phạm Xuân Nguyên
- Phạm Xuân Trường
- Phan An Sa
- Phan Ba
- Phan Bội Châu
- Phan Cẩm Thượng
- Phan Châu Thành
- Phan Cự Đệ
- Phan Dương Hiệu
- Phan Đan
- Phan Đạo
- Phan Đắc Lữ
- Phan Đình Diệu
- Phan Độc Lập
- Phan Hải-Đăng
- Phan Hồng Giang
- Phan Huy Chú
- Phan Huy Dũng
- Phan Huy Đường
- Phan Huy Lê
- Phan Huyền Thư
- Phan Kế Toại
- Phan Khôi
- Phan Kim Hổ
- Phan Lặng Yên
- Phan Mạnh Quỳnh
- Phan Nam Sinh
- Phan Ngọc
- Phan Nguyên
- Phan Nhật Nam
- Phan Nhiên Hạo
- Phan Ni Tấn
- Phan Phương Đạt
- Phan Quang
- Phan Quỳnh Trâm
- Phan Tấn Hải
- Phan Tấn Uẩn
- Phan Thanh Bình
- Phan Thanh Sơn Nam
- Phan Thanh Tâm
- Phan Thắng
- Phan Thế Hải
- Phan Thị Hà Dương
- Phan Thị Kim Phúc
- Phan Thị Trọng Tuyển
- Phan Thị Vàng Anh
- Phan Thu Vân
- Phan Thuý Hà
- Phan Thúy Hà
- Phan Trang Hy
- Phan Trí Đỉnh
- Phan Trọng Hoàng Linh
- Phan Trọng Văn
- Phan Văn Giưỡng
- Phan Văn Song
- Phan Văn Thắng
- Phan Vũ
- Phan Xine
- Phan Xuân Sinh
- Phannguyên Psg
- Phanxipăng
- Phaolô VI
- phap
- Pháp Hoan
- Pháp Vân
- Phapxa Chan
- Phát biểu nhận giải Văn Việt
- Phi Hà
- Phil Caputo
- Philip Larkin
- Philip Roth
- Philipp Felsch
- Phong Âm
- Phong Linh
- Phong Nguyen
- Phong Quang
- Phố Văn
- Phú Quang
- Phù Sa
- Phúc Lai GB
- Phúc Tiến
- Phunchok Stobdan
- Phùng Anh Kiệt
- Phùng Gia Lộc
- Phùng Hi
- Phùng Hoài Ngọc
- Phùng Học Vinh
- Phùng Khắc Khoan
- Phùng Ngọc Kiên
- Phùng Nguyễn
- Phùng Quán
- Phùng Thành Chủng
- Phùng Thị Hạ Nguyên
- Phùng Thị Như Hà
- Phuong Ta
- Phương Chi
- Phương Hương
- Phương Phương
- Phương Thảo
- Phương Thuý
- Phương Uy
- Phương Xích Lô
- Pierre Bayard
- Pierre Darriulat
- Pierre Lemieux
- Prashanth Parameswaran
- Qladimir Pyljow
- Quách Cường
- Quách Hạo Nhiên
- Quách Tấn
- Quách Thoại
- Quảng Diệu Trần Bảo Toàn
- Quang Dũng
- Quang Đức
- Quang Minh
- Quang Phan
- Quảng Tánh Trần Cầm
- Quậy Nguyễn
- Quế Hương
- Quốc Dũng
- Quốc Phương
- Quốc Toản
- Quyên Di
- Quyên Hoàng
- Quỳnh Dao
- Quỳnh Hợp
- Quỳnh Iris de Prelle
- Quỳnh Vi
- Rabindranath Tagore
- Rachel Adams
- Rainer Maria Rilke
- Ralph Chaplin
- Rasul Gamzatov
- Rebecca Mead
- Rebecca Solnit
- Reiner Traub
- Remo Verdickt
- Riccardo Gazzaniga
- Richard C. Paddock
- Richard Millet
- Richard Serra
- Richard Seymur
- Rita Dove
- Robert Desnos
- Robert McCrump
- Roger Vu
- Roger-Pol Droit
- Roland Barthes
- Romain Rolland
- Ronald F. Inglehart
- Rory O’Sullivan
- Ruben David Gonzalez Gallego
- Russell Edson
- Ruth Ingram
- Ryszard Legutko
- Saint-John Perse
- Salman Rushdie
- Salvatore Babones
- Sam Dresser
- Sạn chữ
- San Phi
- Sandra Kerschbaumer
- Sara Teasdale
- Sarah Pulliam Bailey
- Sarah Thornton
- Sáu Nghệ
- Semyon Skrepetsky
- Sergio Bitar
- Shaimaa El Sabbagh
- Shakespeare
- Shannon Van Sant
- Sheikha A
- Sheila Fischman
- Sheila Ngoc Pham
- Sheri Berman
- Shigeeda Yutaka
- Shirin Ebadi
- Shukshin
- Silke Fokken
- Simon Book
- Simon Johnson
- Sire Apm Lukwesa
- Slavoj Žižek
- Sohaniim
- Son Kieu Mai
- Song Chi
- Song Hà
- Song Nguyễn
- Song Phạm
- Song Phan
- Song Thao
- Sophie Trịnh
- Số đặc biệt
- Sơn Ca
- Sơn Hoàng Liên
- Sơn Kiều Mai
- Sơn Nam
- Stalin
- Stefan Dege
- Stefano Harney
- Stephan Koester
- Stephen B. Young
- Steve Earle
- Stuart Russel
- Sugita Hisajo
- Suleiman Mansour
- Susan Sontag
- Suzuki Katsuhiko
- Sương Nguyệt Minh
- Sương Quỳnh
- Svetlana Alexievich
- Svetlana Alexievitch
- Svetlana Alexiévitch
- Sylvia Plath
- T. Đ.
- T.Vấn
- Tạ Anh Thư
- Tạ Chí Đại Trường
- Tạ Duy Anh
- Tạ Tỵ
- Tạ Văn Tài
- Tạ Văn Thông
- Tạ Xuân Hải
- Tadeusz Rósewicz
- Taigu Ryōkan
- Tam Ích
- Tamarchenko
- Tàn Tuyết
- Tanaami Keiichi
- Taneda Santoka
- Taras Shevchenko
- Tarik Khaldi
- Tawada Yoko
- Tawfiq Zayyad
- Tăng Quang
- Tâm An
- Tâm Bình
- Tâm Chánh
- Tâm Don
- Tâm Thường Định
- Tâm Việt
- Tấn An
- Teolinda Gersão
- Teresa Mỹ Chúc
- Thạch Đạt Lang
- Thạch Quỳ
- Thạch Thảo
- Thái Bá Tân
- Thái Bá Vân
- Thái Bảo
- Thái Hà
- Thái Hạo
- Thái Kế Toại
- Thái Kim Lan
- Thái Mai Lan
- Thái Ngọc San
- Thái Phan Vàng Anh
- Thái Sinh
- Thái Thanh
- Thái Thanh Sơn
- Thái Thăng Long
- Thái Tuấn
- Thái Văn
- Thái Văn Đào
- Thái Vũ
- Thanh Chung
- Thạnh Đà
- Thanh Hằng
- Thanh Hằng - Anh Khoa
- Thành Lộc
- Thanh Nam
- Thanh Ngọc
- Thanh Phương
- Thanh Tâm Tuyền
- Thanh Thảo
- Thanh Thuỷ
- Thanh Trúc
- Thanh Tùng
- Thanh Xuân
- Thanhhà Lại
- Thảo Dân
- Thao Dinh
- Thảo luận
- Thảo Nguyên
- Thảo Trường
- Thảo Vy
- Thẩm Đống
- Thẩm Hoàng Long
- Thận Nhiên
- Thân Trọng Mẫn
- Thân Trọng Sơn
- Thế Dũng
- Thế Giang
- Thế Quân
- THẾ THANH
- Thế Uyên
- Thi Hoàng
- Thi Nguyên
- Thi sỹ ỦA
- Thi Vũ
- Thích Ngộ Chánh
- Thích Nhất Hạnh
- Thích Nữ Chân Không
- Thích Phước An
- Thích Quảng Độ
- Thierry Leclère
- Thierry Lentz
- Thiên Di
- Thiên Điểu
- Thiền Lâm
- Thiền Nguyễn
- Thiên Thai
- Thiện Tùng
- Thiện Ý
- Thiền Zen Paul Vân Thuyết
- Thiết Thạch
- Thiếu Khanh
- Thiều Mai Lâm
- Tho Nguyen
- Thọ Nguyễn
- Thomas A. Bass
- Thomas Bo Pedersen
- Thomas J. Corcoran
- Thomas Mahler
- Thomas S. Mullaney
- Thomas Schmid
- Thông Đặng
- Thơ
- Thơ Marie Howe
- Thụ Nguyên
- Thu Phong
- Thu Vàng
- Thuận
- Thuần Ngô
- Thuận Paris
- Thuận Thiên
- Thục Quyên
- Thụy An
- Thùy Dung
- Thụy Khuê
- Thùy Linh
- Thụy My
- Thủy Tiên
- Thư Bạn Đọc
- Thường Quán
- Thy An
- Thy Sinh
- Tịch Ru
- Tiet Hung Thai
- Tiền Giang
- Tiêu Dao Bảo Cự
- Tiêu Kiện Sinh
- Tiêu Toàn
- Tiểu Tử
- Tiểu Vũ
- Tillman Miller
- Timothy Brennan
- Timothy Garton Ash
- Timothy Snyder
- Tina Hà Giang
- Tino Cao
- Tobi Trần
- Tobias Rapp
- Tom Fawthrop
- Tomas Tranströmer
- Tô Đăng Khoa
- Tô Hà Lâm
- Tô Hải
- Tô Hoàng
- Tố Hữu
- Tô Lan Hương
- Tô Lê Sơn
- Tô Ngọc Vân
- Tô Thẩm Huy
- Tô Thùy Yên
- Tô Văn Trường
- Tôi Đây
- Tôn Thất Thông
- Tôn Thất Tùng
- Tống Văn Công
- Trà Bình
- Trà Đóa
- Trà Nhiên
- Tracy K. Smith
- Tran Dinh Dung
- Tran Nam Dung
- Trang Châu
- Trang Hạ
- Trang Thanh
- Trang Thế Hy
- Trangđài Glassey Trầnguyễn
- Trangđài Glasssey-Trầnguyễn
- Trao đổi
- Trầm Tử Thiêng
- Trần Anh Hùng
- Trần Bá Đại Dương
- Trần Bang
- Trần Bình Nam
- Trần C. Trí
- Trần Cao Lĩnh
- Trần Cao Tường
- Trần Chí Kông
- Trần Công Tâm
- Trần Công Tín
- Trần Dạ Từ
- Trần Dần
- Trần Doãn Nho
- Trần Dũng Thanh Huy
- Trần Duy
- Trần Duy Phiên
- Trần Duy Trung
- Trần Đăng Khoa
- Trần Đăng Tuấn
- Trần Đĩnh
- Trần Đình Bút
- Trần Đình Hoành
- Trần Đình Lương
- Trần Đình Sơn Cước
- Trần Đình Sử
- Trần Đình Thắng
- Trần Đình Triển
- Trần Đình Trợ
- Trần Độ
- Trần Đồng Minh
- Trần Đức Anh Sơn
- Trần Đức Nguyên
- Trần Đức Thảo
- Trần Đức Tiến
- Trần Đức Tín
- Trần Đức Toản
- Trần Gia Huấn
- Trần Gia Ninh
- Trần Hà Linh
- Trần Hạ Tháp
- Trần Hạ Vi
- Trần Hải
- Trần Hạnh
- Trần Hậu
- Trần Hoài Anh
- Trần Hoài Thư
- Trần Hoàng Phố
- Trần Hoàng Trúc
- Trần Hoàng Vy
- Trần Hùng
- Trần Huy Bích
- Trần Huy Mẫn
- Trần Huy Minh Phương
- Trần Huy Quang
- Trần Huyền Sâm
- Trần Huỳnh Duy Thức
- Trần Hữu Dũng
- Trần Hữu Khánh
- Trần Hữu Quang
- Trần Hữu Tá
- Trần Hữu Thục
- Trần Khánh Triệu
- Trần Kiêm Đoàn
- Trần Kiêm Trinh Tiên
- Trần Kim Trắc
- Trần Kỳ Trung
- Trần Lam
- Trần Lê Hoa Tranh
- Trần Lê Sơn Ý
- Trần Lương
- Trần Lý Trí Tân
- Trần Mạnh Hảo
- Trần Mạnh Tuấn
- Trần Minh Phi
- Trần Minh Quốc
- Trần Mộng Tú
- Trần Nam Anh
- Trần Nam Bình
- Trần Ngân Hà
- Trần Nghi Hoàng
- Trần Ngọc Cư
- Trần Ngọc Hiếu
- Trần Ngọc Trác
- Trần Ngọc Tuấn
- Trần Ngọc Vương
- Trần Nguyên Đán
- Trần Nhã Thụy
- Trần Nho Thìn
- Trần Nhương
- Trần Phong Giao
- Trần Phong Vũ
- Trần Quang Đức
- Trần Quang Lộc
- Trần Quốc Anh
- Trần Quốc Nam
- Trần Quốc Thuận
- Trần Quốc Toàn
- Trần Quốc Trọng
- Trần Quốc Vượng
- Trần Quyết Thắng
- Trân Sa
- Trần Song Hào
- Trần Thành
- Trần Thanh Ái
- Trần Thanh Cảnh
- Trần Thanh Huy
- Trần Thanh Vân
- Trần Thắng
- Trần Thế Vĩnh
- Trần Thị Băng Thanh
- Trần Thị Diệu Tâm
- Trần Thị Lai Hồng
- Trần Thị Lam
- Trần Thị NgH.
- Trần Thị Nguyệt Mai
- Trần Thị Phương Phương
- Trần Thị Thanh Thoả
- Trần Thị Thu Hoài
- Trần Thị Trường
- Trần Thiện Đạo
- Trần Thùy Mai
- Trần Tiến
- Trần Tiễn Cao Đăng
- Trần Tiến Dũng
- Trần Tiễn Khanh
- Trần Tố Nga
- Trần Trọng Dương
- Trần Trọng Hoàng
- Trần Trọng Thức
- Trần Trọng Vũ
- Trần Trung Chính
- Trần Trung Đạo
- Trần Tuấn
- Trần Từ Mai
- Trần Vàng Sao
- Trần Văn Chánh
- Trần Văn Chung
- Trần Văn Đỉnh
- Trần Văn Khê
- Trần Văn Minh
- Trần Văn Nam
- Trần Văn Thọ
- Trần Văn Thủy
- Trần Văn Tý
- Trần Vấn Lệ
- Trần Viết Điền
- Trần Việt Hà
- Trần Viết Ngạc
- Trần Vinh Dự
- Trần Vũ
- Trần Vũ Hải
- Trần Vương Thuấn
- Trần Vương Thuận
- Trần Wũ Khang
- Trần Xuân Hoài
- Trần Xuân Kiêm
- Trần Xuân Linh
- Trần Xuân Lĩnh
- Trần Xuân Thảo
- Trần Ý Dịu
- Trần Yên Hòa
- Trần Yên Nguyên
- Trên
- Trên Facebook
- Trên Facebook/Minds
- Trên kệ sách
- Trên trang diaCRITICS
- Trí Hiệu Dân
- Triều Anh
- Triều Hoa Đại
- Triêu Nhan
- Triều Sơn
- Triệu Tử Dương
- Trịnh Anh Tuấn
- Trịnh Bá Phương
- Trịnh Bách
- Trịnh Cao Hòa Thanh
- Trịnh Chu
- Trịnh Công Sơn
- Trịnh Cung
- Trịnh Duy Kỳ
- Trịnh Hữu Long
- Trịnh Kim Tiến
- Trịnh Lữ
- Trịnh Minh Tuấn
- Trịnh Sơn
- Trịnh Thanh Thủy
- Trịnh Thu Tuyết
- Trịnh Vĩnh Phúc
- Trịnh Xuân Thuận
- Trịnh Xuân Thủy
- Trịnh Y Thư
- Trọng Anh
- Trọng Phú
- Trọng Thành
- Tru Sa
- Trúc Giang
- Trúc Thông
- Trúc Ty
- Trump
- Trung Bảo
- Trung Dũng Kqd
- Trung Dũng Kqđ
- Trùng Dương
- Trung Đào
- Trung Trung Đỉnh
- Trư Sa
- Trường An
- Trương Anh Ngọc
- Trương Anh Thụy
- Trương Châu Hữu Danh
- Trương Chính
- Trương Cừ
- Trương Duy Nhất
- Trương Đăng Dung
- Trương Điện Thắng
- Trương Đình Phượng
- Trương Hồng Quang
- Trương Huy San
- Trường Minh
- Trương Ngọc Chương
- Trương Nguyên
- Trương Nguyện Thành
- Trương Nhân Tuấn
- Trương Phượng
- Trương Quang
- Trương Quang Đệ
- Trương Quang Nhuệ
- Trương Quang Vĩnh
- Trương Quốc Cường
- Trương Thanh Thuận
- Trương Thị An Na
- Trương Thị Ngọc Hân
- Trương Thiên Phàm
- Trương Thu Hiền
- Trương Tố Hoa
- Trương Trọng Nghĩa
- Trương Tửu
- Trương Văn Dân
- Trương Văn Vĩnh
- Trương Vũ
- Trương Xuân Thiên
- Tú Mỡ
- Tù Quốc Hoài
- Tù Sâm
- Tú Trung Hồ
- Tuấn Duy
- Tuấn Khanh
- Tuân Nguyễn
- Tuấn Thảo
- Tuệ Anh
- Tuệ Đăng
- Tuệ Nguyên
- Tuệ Nhân
- Tuệ Nhật
- Tuệ Sĩ
- Tuệ Sỹ
- Tùng Dương Cola
- Tung Nguyen
- Turner
- Túy Hồng
- Tuyết Nghi
- Tư
- Từ Dung
- Tư liệu
- Tử Linh
- Từ Mai Trần Huy Bích
- Từ Quốc Hoài
- Từ Sâm
- Từ Thức
- Tưởng
- Tương Lai
- Uejima Onitsura
- Umberto Eco
- Uông Tăng Kỳ
- Uông Triều
- Uyển Ca
- Uyên Nguyên
- Uyên Nguyễn
- Uyên Thao
- Uyên Vũ
- V. Erofiev
- V. N.
- Václav Havel
- Vàng A Giang
- Varlam Shalamov
- Vasco Gargalo
- Vasily Makarovich
- Vasyl Stus
- văn
- Văn
- Văn Biển
- Văn Cao
- Văn Chinh
- Văn Công Hùng
- Văn Giá
- Văn học
- Văn học Miền Nam 54-75
- Văn Như Cương
- Văn Quang
- Văn Tâm
- Văn Văn Của
- Văn Việt
- Văn;
- Văn.
- Vấn đề hôm nay
- Vận Động Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội 2016
- Vân Hạ
- Vân Phi
- Velcrow Ripper
- Veronica Melkozerova
- Vi Lãng
- Vi Trần
- Vi Yên
- Viet Thanh Nguyen
- Viên Linh
- Việt Bách
- Việt Bình
- Việt Dzũng
- Việt Khang
- Việt Lang
- Việt Phương
- Viktor Astafyev
- Viktor Maslov
- Vinh Anh
- Vĩnh Điện
- Vĩnh Hảo
- Vĩnh Quyền
- Virginia Heffernan
- Virginia Woolf
- Vladimir Britanishsky
- Vladimir Nabokov
- Vladimir Voronov
- Võ An Đôn
- Võ Anh Minh
- Võ Anh Thơ
- Võ Bá Cường
- Võ Đắc Danh
- Võ Định Hình
- Võ Đức Phúc
- Võ Hồng
- Võ Huy Tâm
- Võ Hương Quỳnh
- Võ Kỳ Điền
- Võ Ngàn Sông
- Võ Phiến
- Võ Thị Ánh Ngọc
- Võ Thị Hảo
- Võ Thị Thu Hằng
- Võ Tiến Cường
- Võ Tòng Xuân
- Võ Trí Hảo
- Võ Văn Quản
- Võ Văn Tạo
- Võ Văn Thôn
- Võ Xuân Quế
- Võ Xuân Sơn
- Volker Weidermann
- Volodymyr Vynnychenko
- Volodymyr Zelenskyy
- Vũ
- Vũ Bằng
- Vũ Biện Điền
- Vũ Cao Đàm
- Vũ Cát Tường
- Vũ Đình Hòe
- Vũ Đình Huỳnh
- Vũ Đình Liên
- Vũ Đình Phòng
- Vũ Đức Khanh
- Vũ Đức Phúc
- Vũ Đức Sao Biển
- Vu Gia
- Vũ Hà Văn
- Vũ Hạnh
- Vũ Hoàng Chương
- Vũ Hoàng Thư
- Vũ Hồng Ánh
- Vũ Huy Ngọc
- Vũ Huy Quang
- Vũ Khắc Hoè
- Vũ Khắc Khoan
- Vũ Kim Hạnh
- Vũ Kim Thu
- Vũ Lâm
- Vũ Lập Nhật
- Vũ My Lan
- Vũ Ngọc Giao
- Vũ Ngọc Hoàng
- Vũ Ngọc Tâm
- Vũ Ngọc Tiến
- Vũ Nho
- Vũ Oanh
- Vũ Quang Việt
- Vũ Quí Hạo Nhiên
- Vũ Quốc Ngữ
- Vũ Quỳnh Hương
- Vũ Quỳnh Nh.
- Vũ Thành Sơn
- Vũ Thanh Tâm
- Vũ Thanh Tùng
- Vũ Thành Tự Anh
- Vũ Thế Khôi
- Vũ Thế Thành
- Vũ Thị Hải
- Vũ Thị Nhuận
- Vũ Thị Phương Anh
- Vũ Thị Phương Lan
- Vũ Thị Thanh
- Vũ Thị Thanh Mai
- Vũ Thư Hiên
- Vũ Tiến Lập
- Vũ Trọng Khải
- Vũ Trọng Phụng
- Vũ Tuấn Hoàng
- Vũ Từ Trang
- Vũ Tường
- Vũ Viết Tuân
- Vũ Xuân Tửu
- Vương Bích Ngọc
- Vương Đan
- Vương Hỗ Ninh
- Vương Huy
- Vương Ngọc Minh
- Vương Tiểu Nhị
- Vương Trí Nhàn
- Vương Trọng
- Vương Trùng Dương
- Vương Trung Hiếu
- Vương Tuấn
- Vy Thảo
- W. H. Auden
- Wa Praong
- Walt Whitman
- Walter Isaacson
- Wayne Karlin
- Wells
- Wendy Barker
- Wiesiek Powaga
- Wilhelm Schmid
- Will Nguyen
- William Carlos Williams
- William Nee
- William Stafford
- William Stanley Merwin
- Winston Phan Đào Nguyên
- Wislawa Szymborska
- Władysław Reymont
- Wolf Biermann
- Wolfgang Borchert
- Wulf Noll
- Wynn Gadkar Wilcox
- Xang Hứng
- Xì Trum
- Xie Tao
- Xuân Ba
- Xuân Diệu
- Xuân Dương
- Xuân Đài
- Xuân Minh
- Xuân Phượng
- Xuân Sách
- Xuân Thọ
- Xuân Uyên
- Xuân Vũ
- Xương Văn
- Y Chan
- Ỷ Lan
- Ý Nhi
- Y Uyên
- Yan Frenkel
- Yanis Varoufakis
- Yasmine M’Barek
- Yevgeny Yevtushenko
- Yên Ba
- Yên Khắc Chính
- Yến Năng
- Yên San
- Yên San Thụy Miên
- Yên Thao
- Yiyun Li
- Yoko Ogawa
- Yōko Ogawa
- Yoko Tawada
- Yosano Akiko
- Young Sang Lee
- Yuliya Ilchuk
- Yuno Bigboi
- Yves Sintomer
- Yvette Tan
- Zac Herman
Sau tất cả
Dạ Ngân trưa 27/10/2026.
Mùa thu 1984, lần đầu Dạ Ngân tôi ra Hà Nội. Văn chương chưa có gì nhưng tình ái thì nổi cộm, nói theo ngôn ngữ hiện hành. Trong số các đàn chị mà tôi ái mộ, Xuân Quỳnh tiếng tăm toàn diện không thèm liếc con nhỏ nhà quê Cần Thơ một cái; Lê Minh Khuê kín kẽ nói câu nào thâm trầm câu ấy; Dương Thu Hương hào sảng và đốp chát: “Ê, thằng Thân kia, yêu đương cho tử tế vào, tao đem cu ngói tháng mười với cái mớ này để chúng mày có sức mà hành sự đấy!”. (Cu ngói thì tôi biết qua một truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân còn mớ hột vịt lộn kia nữa, cả hai đều rất đắt đỏ so với túi tiền của văn nghệ sĩ cả nước khi đó). Riêng Ý Nhi, tôi được Văn nghệ Quân đội xếp chung một phòng trong chuyến thăm Đại học Thái Nguyên, có cả Nguyễn Minh Châu và một số anh khác nữa trong đoàn.
Nguyễn Gia Thiều, nhà thơ quý tộc (*)
Nguyễn Lộc
Trong lịch sử văn học, Cung oán ngâm khúc cùng với Chinh phụ ngâm là hai tác phẩm tiêu biểu nhất cho thể loại Ngâm khúc nổi tiếng của giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX. Nhưng Chinh phụ ngâm là một tác phẩm viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn, sau đó mới được Đoàn Thị Điểm, rồi được nhiều người khác dịch ra chữ Nôm. Còn Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đã kế thừa một cách xuất sắc truyền thống viết ngâm khúc bằng thể thơ song thất lục bát trong bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm[1], và đã góp phần khẳng định giá trị của thể loại này trong lịch sử văn học dân tộc.
Kính tiễn thầy Nguyễn Lộc: Vẫn nghe tiếng thầy giảng Kiều trong vườn nắng
Hồ Khánh Vân

Phó giáo sư, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Lộc
Tôi không được may mắn để có cái duyên học với thầy, nhưng những câu chuyện về thầy, về những giờ giảng Kiều say sưa và tuyệt hay, nổi tiếng đến mức trở thành huyền thoại được truyền tai qua bao thế hệ đã khiến cho năm tháng ở khung trời đại học của tôi có màu lấp lánh kỳ lạ.
GS Nguyễn Lộc, người dành cả đời nghiên cứu, tôn vinh văn học cổ điển dân tộc
Đoàn Lê Giang
Nhớ đến Giáo sư Nguyễn Lộc là nhớ đến những đóng góp cho sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học. Nhớ đến thầy là nhớ đến những công trình nghiên cứu văn học dân tộc bất hủ mà thầy đã dành hết cả cuộc đời mình thực hiện.
Trần Mộng Tú – Người đem thơ đi qua những mùa mưa
V. N.

Nhà thơ Trần Mộng Tú
Có những người mình chưa từng gặp mặt, nhưng qua thơ văn, ta đã cảm thấy thân quen từ lâu. Đến khi có dịp gặp nhau ngoài đời, cái cảm giác xa lạ hầu như không còn nữa. Trần Mộng Tú đối với vợ chồng chúng tôi là một người như thế.
Những mảnh hồn Hà Nội (phần 1)
Phạm Đình Trọng
NHỚ NGỌN GIÓ HEO MAY
Tôi đã có nhiều năm là lính thông tin vô tuyến điện bảo đảm thông tin chỉ huy cho bộ Tổng Tư Lệnh làm việc trong thành cổ Cột Cờ Hà Nội. Nhiều năm sống trên mảnh đất hoàng thành Thăng Long. Nơi mỗi sớm mai màn sương đêm mơ hồ, mỏng mảnh còn la đà dập dềnh theo cơn gió thoảng trên ngọn cỏ sân vận động Cột Cờ bên bức tường gạch cổ cổng Đoan Môn như hơi thở của mảnh đất dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nơi mỗi chiều tà màn sương khói mờ ảo lại bảng lảng trên vòm lá rậm rì hai hàng xà cừ cổ thụ vạm vỡ bên đường bê tông nhựa dẫn ra cổng Cửa Bắc, bên đoạn đường rợp bóng xà cừ ra cổng Cửa Đông làm cho hàng cây như chìm nổi, như ẩn hiện trong quá vãng lịch sử.
Ngày đó chưa có những đập thuỷ điện trên thượng nguồn sông Hồng. Từ tháng bảy, tháng tám hàng năm, nước sông Hồng ngoài đê đỏ sậm, sóng sánh phù sa, ào ạt dâng lên, ngập lút khung cửa những ngôi nhà mái tranh, mái giấy dầu, ngập lút ngọn ngô xanh tốt trên bãi phù sa Phúc Xá. Dân sống ngoài đê Phúc Xá phải chuyển giường, tủ vào trong phố Hà Nội, dựng lều ni lông, lều bạt sống qua suốt mùa lụt trên hè những phố Tây vắng vẻ: Tông Đản, Cổ Tân, Lê Phụng Hiểu… phố chỉ có những biệt thự tách biệt giữa những cây cao bóng cả, vòm lá xum xuê, không có cửa hàng buôn bàn, hè rộng, đường vắng. Suốt mùa mưa, dòng sông tạo ra nền văn minh sông Hồng vừa hối hả bồi đắp cho đồng bằng sông Hồng thêm một lớp phù sa màu mỡ, vừa âm thầm tiếp thêm sức vóc cho châu thổ sông Hồng lớn lên, soải chân ra biển Đông.
Những năm tháng đó dù có đội quân nông dân tham gia kháng chiến chống Pháp thắng lợi tràn vào làm chủ Hà Nội nhưng cũng có khá nhiều người Hà Nội đi kháng chiến trở về như bác sĩ Trần Duy Hưng, người gốc làng Canh Diễn, huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội nhưng sinh ra ở phố cổ kinh kì Hàng Bông Thợ Nhuộm, là thị trưởng Hà Nội từ tháng chín, 1945, ngay sau khi nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời đến khi nghỉ hưu năm 1977. Chưa đến nửa triệu dân, phố xá Hà Nội còn thưa vắng và các đô thị miền Bắc mới chỉ bắt đầu công cuộc nông thôn hoá, bần cùng hoá, Hà Nội còn giữ được nét cổ điển kinh kì, còn giữ được nếp xưa hào hoa, lịch lãm.
Ngọn gió huyền thoại từ Hồ Tây, lớp rêu thời gian trên vách tường cổng Đoan Môn, trên vách cổng thành Cửa Bắc, hơi thở kẻ chợ của ba mươi sáu phố cổ Hàng Buồm, Hàng Mã, Quán Thánh, Hoè Nhai và hơi may se lạnh gợi cảm chỉ có ở mùa thu Hà Nội cũng âm thầm bồi đắp cho tôi một lớp phù sa hồn Hà Nội.
Trong hơi may se lạnh gợi cảm mùa thu, tôi hình dung ra cuộc dời đô trọng đại, lớn lao nhất trong lịch sử dựng nước Đại Việt được thực hiện vào mùa thu năm Canh Tuất, 1010. Cuối hè chớm thu. Mùa mưa sắp kết thúc. Những khối nước còn tích tụ trong những đám mây mọng nước dồn dập trút xuống. Những trận mưa còn đang dư dả nước. Đêm đêm chớp sáng rạch trên nền trời phía biển đông là trên nguồn phía tây, mưa sầm sập đổ xuống rừng già, thác xối ào ào trắng xoá trên vách đá. Qui luật thiên nhiên đó đã đi vào thành ngữ dân gian: chớp bể, mưa nguồn. Ngàn năm trước, nền đất phù sa châu thổ sông Hồng cón khá thấp, nước còn lênh láng và sông ngòi còn chằng chịt như kênh rạch miền tây Nam Bộ ngày nay. Mùa mưa, nước từ trên trời trút xuống, nước từ đầu nguồn dồn về. Châu thổ sông Hồng càng mênh mông nước.
Giữa mùa mưa, đầu tháng tám, chuyến thuyền tiền trạm đầu tiên nhổ sào từ Hoa Lư ra Đại La mở đầu cuộc dời đô lịch sử. Từ đó, hơn hai tháng trời ròng rã những chuyến thuyền đi về đan trên sông nước như con thoi đưa bá quan văn võ cùng gia đình và tiện nghi sinh hoạt, cả ngựa, xe, cả những vật liệu quý hiếm xây dinh, xây phủ được chuyển từ kinh đô cũ ra kinh đô mới. Thuyền lớn của triều đình. Thuyển nhỏ của gia đình các quan. Thuyền lớn, thuyền nhỏ hối hả nhiều chuyến đi về giữa Hoa Lư và Đại La. Lịch sử nước Đại Việt là dòng chảy từ phía bắc xuôi về phương nam nhưng cuộc rời đô triều Lý lại tạo ra đoạn ngắn chảy ngược từ nam ra bắc. Giữa tháng mười năm Canh Tuất 1010, cuộc dời đô mở ra tầm nhìn xa rộng cho nước Đại Việt mới hoàn tất. Từ đây Đại La chính thức mang tên mới: kinh thành Thăng Long, triều vua Lý Thái Tổ, nước Đại Việt.
Ngàn năm trước kinh thành Thăng Long còn lênh láng nước sông lớn Hồng Hà và ăm ắp dòng những sông nhỏ Tô Lịch, Kim Ngưu, Lục Thuỷ… những chi lưu của sông Hồng. Nước nối liền sông với hồ. Hồ tràn nước ra sông. Sông san nước vào hồ. Vì vậy ngồi trên thuyền có thể đến mọi ngả, mọi nẻo đất vùng kinh kì Thăng Long. Từ hoàng thành đến ngôi chùa mới xây ở phủ Tây Hồ, bắc Thăng Long, đến xóm dân trồng dâu nuôi tằm ở Linh Đàm, nam Thăng Long. Ngày rộng tháng dài có thể dong buồm đi khắp châu thổ sông Hồng.
Một sáng cuối tháng mười, năm Canh Tuất, 1010, vua Lý Thái Tổ đi thuyền ngắm nhìn nơi định đô mới như ngắm nhìn cơ đồ nhà Lý, ngắm nhìn non nước Đại Việt. Sông nước dạt dào, chòm xóm xanh ngút ngát dưới khí thiêng Ba Vì, dưới bóng thần Tản Viên. Yên Phụ. Nghĩa Dũng. Tam Đa. Trích Sài. Nghi Tàm. Quảng Bá. Nhật Tân. Đồng Nhân. Trúc Bạch. Lục Thuỷ… những địa danh sau này là đồng bãi, là chòm xóm, là hồ lớn hồ nhỏ, là bãi ngô, ruộng lúa, vườn đào còn lúc đó chỉ là những doi đất loi thoi trên biển nước mênh mông. Chòm xóm trên những bãi nổi nhấp nhô trên sóng nước. Thuyền đi từ hoàng thành ra Lục Thủy, Phúc Xá, Quảng Bá, Nhật Tân trong lãng đãng sương khói, trong se se hơi lạnh ngọn gió heo may.
Sông Hồng khi cuồn cuộn hối hả, khi lặng lẽ chậm rãi đều không ngừng chuyển phù sa từ rừng thẳm nùi cao non nước tây bắc ra cửa biển phía đông nam. Phù sa lắng xuống, đầy lên theo năm tháng thành doi, thành cồn, nắn dòng, đẩy sông Hồng nhích dần lên phía Bắc, để lại phía bờ Nam sông ngan ngát màu xanh đồng bãi và dập dờn sóng nước những hồ lớn, hồ nhỏ. Sông Lục Thuỷ bị phù sa tự nhiên lắng lại, lấp cửa đổ ra sông Hồng và bị con người lấp dần phía thượng lưu chỉ còn đoạn sâu nhất trở thành hồ Lục Thuỷ, nay là hồ Hoàn Kiếm. Hồ tiếp hồ chi chít bao quanh kinh thành: Bảy Mẫu. Ngọc Khánh. Đồng Nhân. Kim Mã. Thủ Lệ. Hữu Tiệp… Bãi nối bãi: Thái Hoà. Khán Xuân. Trích Sài. Nghi Tàm. Quảng An. Nhật Tân… thành xóm dân, thành nương dâu, vườn đào, bãi rau bao quanh cái hồ mênh mông sóng nước như biển cả vốn là khúc lượn của sông Hồng bị phù sa bồi lấp tách ra khỏi sông Hồng thành hồ lớn phía Tây sông, được dân gian gọi tên là Hồ Tây.
Để lại một quãng đời lính tuổi hai mươi ở mảnh đất kinh đô ngàn năm rồi ngọn lửa chiến tranh đưa tôi đi khắp rộng dài đất nước. Từ thành cổ Cột Cờ Hà Nội, tôi mang hồn kinh kì, hồn Hà Nội, mang nỗi nhớ ngọn gió heo may đến miền đồi trung du. Những giờ học chiến thuật ở trường Sĩ quan Thông Tin, mồ hôi tong tong nhỏ xuống đất đồi Hiệp Hòa, Bắc Giang. Phút nghỉ giữa buổi tập dưới bóng tre chân đồi trong nắng lửa đồi trọc trung du, tôi lại nhớ trận mưa rào Hà Nội. Nhớ hình ảnh ông bạn lính Phạm Đức cùng dân học trò Hải Phòng với tôi có cô bạn học Phạm Bích Ngọc đang là sinh viên trường đại học Mỏ - Địa Chất từ trường mãi Quảng Ninh về Hà Nội thăm Đức. Đôi bạn lính và sinh viên đang dìu dặt đi dạo trên phố Cửa Nam thì mưa rào mùa hạ trút xuống.
Ngày ấy chỉ những phố phường kẻ chợ, Hàng Ngang, Hàng Đào, Đồng Xuân, Bắc Qua… mới nhộn nhịp người, xe. Người cũng chỉ mong manh áo vải thô của dệt Nam Định. Xe cũng chỉ thô sơ xe đạp, xe xích lô, xe ba gác. Có cả những chiếc xe hai vòng tròn lớn bánh xe bằng gỗ được bò đủng đỉnh kéo từ bến Phà Đen chở than chậm chạp lăn bánh trên đường phố dọc theo triền đê sông Hồng: Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Yên Phụ. Còn những phố công sở và biệt thự quan to Phan Đình Phùng, Hoàng Diệu, Trần Phú, Cột Cờ, Cửa Nam, Tràng Thi, Bà Triệu… chỉ loáng thoáng xe đạp dưới lòng phố và lác đác người đi bộ trên vỉa hè. Thỉnh thoảng mới có chiếc ô tô Liên Xô thoáng qua. Xe Volga đen bóng chở lãnh đạo cấp bộ trưởng trở lên. Xe Pobeda màu trắng chở cán bộ cấp thứ trưởng. Xe tải Molotova chở hàng. Trời mưa thì phố dài hun hút vắng tanh. Đôi bạn lính và sinh viên cứ đầu trần đội mưa thong dong đi trên phố vắng được mưa gội rửa sạch bong và mát rượi.
Cầm tấm ảnh Đức và Ngọc đầu tóc, áo xống ướt sũng chụp ở hiệu ảnh Quốc Tế nổi tiếng phố Hàng Khay nhìn ra dãy kiosque bán hoa bên hồ Hoàn Kiếm, Đức kể với tôi về trận mưa mùa hè Hà Nội năm 1964, mùa hè bình yên cuối cùng trước khi Hà Nội bước vào chiến tranh. Trận mưa tắm mát tình yêu của Đức cũng tắm mát cả tuổi trẻ của chúng tôi. Trận mưa mùa hè Hà Nội năm ấy vừa có vị ngọt ngào tuổi học trò, vừa có vẻ lãng mạn tuổi trẻ của cả lứa học trò vào đời trong màu áo lính chúng tôi. Vì vậy trong nắng lửa trên đồi trung du Bắc Giang, mồ hôi ướt đẫm áo lính tôi lại nhớ đến trận mưa mùa hè Hà Nội trong câu chuyện của ông bạn lính cùng lứa với tôi.
Hành quân dã ngoại dòng dã trong dải rừng Yên Thế, Bắc Giang của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám tôi lại nhớ những đêm đeo bao lô xếp ba mươi viên gạch rèn bước chân hành quân quanh hồ Tây.
Lập cụm thông tin vô tuyến điện trong những hang đá hoang sơ tiền sử ở Hữu Lũng, Lạng Sơn tôi lại nhớ những đêm thức đến sáng bên chiếc máy vô tuyến điện đỏ đèn trong lô cốt bê tông quân Pháp để lại bên cổng Cửa Đông thành cổ Hà Nội. Đêm nào chúng tôi dậy thay ca cũng nghe văng vẳng tiếng loa hướng dẫn khách đi tàu từ ga Hàng Cỏ dội đến tận thành cổ Cột Cờ. Tiếng loa từ ga Hàng Cỏ đã đi vào báo tường của lính. Đến nay tôi không còn nhớ ông bạn lính nào của tôi viết bài báo tường về đêm thay ca nhưng câu thơ bài báo tường có vũ trụ thăm thẳm và đất nước thân yêu cùng thức với người lính, cùng đi vào ca làm đêm với người lính thì tôi nhớ mãi:
Nửa đêm, nửa giấc dậy thay ca
Lấp lánh trên không giải Ngân Hà
Chênh chếch ai treo chòm Bắc Đẩu
Tàu về Hàng Cỏ rộn tiếng loa.
Sau trận sốt rét rung sạp nứa, nằm một mình trong căn hầm nửa chìm dưới tán rừng già miền tây Kông Tum tôi bỗng nhớ những dãy giá cao ăm ắp sách và những cuốn sách say đắm trong thư viện quân đội trên tầng hai toà nhà câu lạc bộ Quân Nhân bên sân vận động có tên Cột Cờ. Ngày đó còn rất nhiều sĩ quan trong thành cổ vốn là lớp tuổi trẻ có học, có vốn tiếng Pháp của Hà Nội đi kháng chiến chống Pháp viết lên tên vàng Điện Biên Phủ trong lịch sử rồi trở về làm việc ở bộ Tổng tham mưu gọi tên sân vận động trong thành cổ Cột Cờ theo tiếng Pháp là sân Mang Gianh, Manzin. Trong đội quân nông dân mặc áo lính, những sĩ quan biết tiếng Pháp, có văn hoá đô thị hiếm hoi lắm. Rất may là ngay sau cuộc kháng chiến chống Pháp ở cơ quan bộ tổng tham mưu trong thành cố Cột Cờ có khá nhiều những sĩ quan như vậy.
Ra Trường Sa sống với những người lính trên đảo nhỏ An Bang ngay sau 1975, buổi sáng người lính phải dè sẻn từng ca nước ngọt đánh răng, rửa mặt tôi lại nhớ những buổi chiều sau trận quần nhau với quả bóng da trên sân cỏ Cột Cờ, đám lính trẻ chúng tôi ào vào nhà tắm rộng có bể nước lớn ở giữa. Vòi nước máy lúc nào cũng chảy nên bể nước lúc nào cũng gần đầy. Từ thiếu tá tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 77 thông tin liên lạc Phạm Đề đến lính binh nhất, hạ sĩ đều trần truồng lồng lỗng, ào ào múc nước ở bể dội lên đầu.
Dù ở bất kì đâu, tháng mười, mùa thu về lại gợi cho tôi nỗi nhớ Hà Nội và nỗi nhớ thăm thẳm nhất, bền bỉ nhất là nỗi nhớ ngọn gió heo may xào xạc trên vòm sấu, nhớ hơi may gợi cảm và nhớ sương khói Hồ Tây. Trong nỗi nhớ mênh mang, những mảnh kí ức Hà Nội, những mảnh hồn Hà Nội lại ùa về trong tâm trí tôi. Mỗi lần nhớ viết vài trang. Nhiều năm nhớ Hà Nội trong xa cách đã cho tôi có tập kí sự Những Mảnh Hồn Hà Nội.
ĐƯỜNG ĐẾN CHỐN XƯA
Nối tiếp quãng đời học trò của tôi là quãng đời lính. Dấu mốc thời gian của bước ngoặt đó là ngày 29 tháng sáu, năm 1963. Nối tiếp con đường đến trường là những chặng đường hành quân suốt rộng dài đất nước. Và chặng đường hành quân đầu tiên bằng xe lửa đi từ Hải Phòng lên Hà Nội. Đến ga Hàng Cỏ, Hà Nội, chuyển sang con tàu đi về phía Nam. Đến ga Đồng Văn, Hà Nam, xuống tàu, hành quân bộ đi về phía Tây. Một thiếu úy không còn trẻ lặng lẽ dẫn chúng tôi đi. Ông thiếu úy lầm lì im lặng như người chăn bò và đàn bò là chúng tôi chỉ biết hướng đi mà không biết sẽ đi đến đâu. Sau này về trung đoàn tôi mới biết ông thiếu uý tên Ân tuổi gần bốn mươi quá già dặn so với quân hàm thiếu uý là y sĩ quân y trung đoàn. Người lính già mang quân hàm mốc meo đưa chúng tôi vào cuộc đời lính như báo cho chúng tôi biết rằng thang bậc quân hàm chúng tôi rồi cũng mốc meo như quân hàm của ông thiếu uý già đưa chúng tôi vào cuộc đời lính mà thôi!
Đám lính mới chúng tôi gồm học trò hai trường cấp ba, trường Thái Phiên, trường Ngô Quyền và những người thợ trẻ. Thợ nhà máy cơ khí Duyên Hải. Thợ nhà máy xi măng. Thợ may hợp tác xã may mặc ở thành phố công nghiệp Hải Phòng. Cả thợ đứng máy cưa ở xí nghiệp chế biến đồ gỗ. Trên người chúng tôi vẫn quần áo dân sự mặc hàng ngày. Chỉ thấy chút lính ở chiếc mũ cối trên đầu được phát ở nơi tập trung, mảnh sân rộng trước hai toà nhà liền nhau, cửa luôn đóng im ỉm như nhà kho hàng hoá của các cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Mảnh sân rộng với cây đa có bộ rễ sum suê cách ga Hải Phòng phía bên phải vài khối nhà chính là nơi tôi nhận chiếc mũ gắn ngôi sao quân hiệu, nơi tôi từ biệt tuổi học trò, từ biệt thành phố tuổi thơ, nơi xuất phát cuộc hành quân đi qua tuổi trẻ của tôi. Và chặng hành quân bộ đầu tiên của đám lính mới chúng tôi cũng nhốn nháo, ồn ào như đám học trò đi cắm trại, cũng lộn xộn như đàn bò trên đồng cỏ.
Hành quân một giờ lại nghỉ mười phút. Nơi dừng nghỉ đầu tiên là cầu Nhật Tựu giữa cánh đồng lúa thửa vàng thửa xanh thuộc tỉnh Hà Nam. Qua thị trấn Vân Đình quê mùa, qua cầu Tế Tiêu trên sông Đáy thuộc huyện Ứng Hoà, Hà Đông, chúng tôi nhằm hướng những dãy núi giăng giăng phía Tây thuộc tỉnh Hòa Bình đi tới. Qua điểm dân cư nghèo nàn, đìu hiu nhưng có tên gọi rất quen thuộc với tôi: Chợ Bến.
Những ngày đi học, buổi sáng đến trường, buổi chiều ra bãi Bonnal đá bóng, buổi tối mang tập truyện đã đọc đến thư viện thành phố ở phố Điện Biên Phủ tìm đổi sách. Trả tập sách đã đọc, mượn tập sách chưa đọc rồi về nhà làm bài. Ngoài sách văn chương kinh điển, Thuỷ Hử của Thi Nại Am, Những Người Khốn Khổ của Victor Hugo, Sông Đông Êm Đểm của Mikhain Solokhov… tôi còn ngưỡng mộ tìm đọc nhiều sách kí sự, hồi kí kể về những người cộng sản lứa đầu, Tô Hiệu, Lương Khánh Thiện, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Lương Bằng, Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ… Những tập kí sự, hồi kí cho thấy phẩm chất sáng chói nhất của người cộng sản là trong nhà tù của thực dân Pháp thống trị. Chợ Bến là địa danh thường được nhắc đến trên chặng đường dằng dặc bị dẫn giải từ nhà tù này đến nhà tù khác của những người cộng sản.
Một địa danh nổi tiếng vậy mà hiệu may, cửa hàng tạp hóa, đến hiệu chụp ảnh đều vách đất, mái tranh nghèo nàn, xưa cũ như từ thời chị Dậu, lão Hạc. Như vẫn im lìm trong giấc ngủ giữa đêm dài tối tăm của xã hội nông nghiệp trì trệ, cố hủ. Chỉ có nhà bưu điện nhỏ bé như một ki ốt bán hàng là tường xây, mái ngói nhưng cũng âm thầm như những quán hàng mái tranh vách đất. Chợ Bến, Chợ Bờ mà chẳng thấy bến, thấy bờ đâu. Chỉ có con đường nhựa già nua, lớp nhựa bê tông từ thời Pháp thuộc đã bị mưa nắng bóc đi từng mảng. Con đường bong tróc và thị trấn đìu hiu không một bóng xe. Xe đạp, xe bò cũng không. Chỉ loáng thoáng bóng người quần áo xỉn màu đen, màu nâu. Qua khỏi Chợ Bến chúng tôi gặp quốc lộ 21, chỗ có những dãy nhà kho lương thực, những dãy nhà dài tường xây cao, mái ngói đỏ trên nền xi măng cao.
Đìu hiu vậy nhưng trong suốt thời gian đóng quân ở cửa rừng Hòa Bình, Chợ Bến là kinh đô ánh sáng của chúng tôi dù ở doanh trại có máy phát điện cung cấp điện sinh hoạt cho lính từ giờ đọc báo buổi tối đến lúc kẻng báo giờ ngủ, chín giờ ba mươi, còn Chợ Bến thì chưa hề biết đến ngọn đèn điện. Chủ nhật đầu tiên được nghỉ, chúng tôi diện đồ lính mới với quân hàm binh nhì đỏ chót có ngôi sao ở giữa như lá cờ trên ve cổ áo háo hức đi bộ sáu cây số ra Chợ Bến lũ lượt vào nhà bưu điện gửi thư về cho gia đình, bạn bè, rồi lại nối nhau vào hiệu ảnh chụp tấm ảnh đầu tiên với quân phục, quân hàm mới tinh, đánh dấu một cột mốc, một bước ngoặt cuộc đời. Trên mái nhà lá hiệu chụp ảnh đơn sơ có một khoảng mái lá được thay bằng tấm kính đế lấy vạt ánh sáng trời soi vào chỗ khách ngồi chụp ảnh. Chỉ có lính ra vào hiệu chụp ảnh và hiệu chụp ảnh lấy ánh sáng bằng tấm kính trên mái lá ở thị trấn Chợ Bến heo hút như ra đời và tồn tại chỉ để giúp cho đám lính mới chúng tôi, hết đợt này đến đợt khác, đứa nào cũng có được tấm ảnh buổi ban đầu của cuộc đời lính.
Rẽ trái vào quốc lộ 21 đi gần cả tiếng nữa, rẽ phải vào con đường đất thoai thoải dốc lên, lổn nhổn sỏi đá nhưng hằn rõ vết bánh xe ô tô trên đất đỏ quánh khô. Con đường dẫn chúng tôi băng qua những vạt đồi lúp xúp sim, mua đến doanh trại, những tòa nhà dài hai tầng mái ngói mới đỏ tươi, mỗi nhà hai cầu thang lên tầng trên xây ngay phía trước nhà. Đến nơi đóng quân việc đầu tiên chúng tôi quan tâm là xác định vị trí của mình trong bản đồ địa lí đất nước và xác định địa chỉ thư tín để kết nối với gia đình, bầu bạn: Doanh trại trung đoàn 205 cục Thông Tin Liên Lạc trên Đồi Sim bên quốc lộ 21, xã Quèn Chương, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.
Trung đoàn 205 là đơn vị huấn luyện thông tin tổng hợp gồm bốn tiểu đoàn. Tiểu đoàn 1 hữu tuyến. Tiểu đoàn 2 vô tuyến. Tiểu đoàn 3 cơ động. Tiểu đoàn 4 thông tin tiếp sức. Mỗi tiểu đoàn một bếp ăn. Phần lớn đám lính học sinh Hải Phòng được biên chế về đại đội đào tạo báo vụ vô tuyến điện, đại đội 5, tiểu đoàn 2. Về đại đội 5 trước chúng tôi ít ngày là tốp lính mới nhập ngũ từ trường cấp ba Yên Hòa, Từ Liêm, Hà Nội trong đó có Nguyễn Việt Quyền quê Mễ Trì, Từ Liêm sau này là ông bạn lính thân thiết với tôi. Đại đội 5 thay bao bì trên người chúng tôi, biến chúng tôi từ anh học trò, anh thợ dân sự thành người lính thực sự, nhuộm chúng tôi xanh màu lá rừng trong những bộ quân phục vải ka ki dày cộp.
Trước khi vào lớp học báo vụ với những dãy bàn học gắn ma nip, với cặp nghe tín hiệu choàng trên đầu, áp vào tai, chúng tôi phải trải qua hai tháng phơi nắng, tắm mồ hôi trên đồi trọc dưới nắng lửa cuối hè. Tháng tám nắng rám quả bòng. Tháng tám lịch ta đã sang thu, nắng còn đốt rám quả bòng như thành ngữ dân gian ghi nhận. Đóng bộ đồ ka ki dày cộp, chỉ đứng hàng ngang trên đồi sỏi đá, dưới nắng lửa tháng bảy lịch tây, tháng sáu lịch ta, nghe giáo viên huấn luyện hạ khoa mục, binh nhì Vũ Đức Hùng vốn xuất thân thợ may đã ngất xỉu. Chỉ với chiếc xẻng cá nhân, sau sáu mươi phút phải hoàn thành công sự chiến đấu trên đất đồi sỏi đá. Mồ hôi túa ra nhưng không thấm được vào lớp vải ka ki mới cứng, dày cộp, những dòng mồ hôi chảy ròng ròng trên người. Nắng chang chang từ trên trời dội xuống, từ sỏi đá hắt lên, Nóng hầm hập từ trong người bốc ra. Sau một ngày học khoa mục đào công sự, hơn năm giờ chiều về đến doanh trại, lính vừa trút bộ binh phục mo nang ra cho nhẹ người thì còi báo động chiến đấu dồn dập cất lên. Lại vội mặc lại bộ đồ mo nang, xỏ giầy, đội mũ, khẩu súng dài CKC trên vai, ba lô sau lưng, chạy ra sân tập hợp. Lính nối nhau, hàng một chạy theo chuẩn uý, đại đội phó Bùi Đình Dân ra đường 21. Trên chặng đường chạy 12 kilomet, lại thêm mấy người ngất xỉu, nằm bất tỉnh trên đường. Thật may, dù mệt đứt hơi tôi vẫn guồng chân trong đội hình, nuốt trôi mười hai cây số chạy báo động.
Sau những năm dồn sức khôi phục kinh tế, nhiều nhà máy mới mọc lên trên miền bắc xã hội chủ nghĩa, tạo ra những sản phẩn công nghiệp lần đầu tiên Việt Nam tự sản xuất được. Tuy chỉ là những sản phẩm tiêu dùng thông thường, đơn giản cũng tạo được niềm tin cho người dân. Ở Hải Phòng có cá biển đóng hộp của nhà máy đổ hộp Hạ Long. Hà Nội có xe đạp Độc Lập của nhà máy xe đạp Thống Nhất, có kẹo Nuga của nhà máy bánh kẹo Hải Châu, có bao thuốc là Thăng Long, Điện Biên, Tam Đảo của nhà máy thuốc lá Thăng Long, có phích giữ nước sôi Rạng Đông của nhà máy bóng đèn, phích nước Rặng Đông. Ở Thái Nguyên có lò cao luyện thép cho ra đời những mẻ thép Made in Vietnam… Ở nông thôn, người nông dân còn đang trong buổi đầu phấn khởi, tin tưởng vào hợp tác xã nông nghiệp, còn đang hào hứng, hi vọng vào lề lối làm ăn mới của hợp tác xã. Bộ máy quản lí hợp tác xã với những nông dân ít học và mang nặng căn tính tiểu nông tư lợi chưa bộc lộ rõ những yếu kém và chưa ngang nhiên giở dói thói vụ lợi, đục khoét. Các cửa hàng mậu dịch quốc doanh với sản phẩm của nền công nghiệp các nước xã hội chủ nghĩa, hàng hoá còn khá dồi dào. Mỗi mùa xuân về, nhà thơ Tố Hữu lãnh đạo bộ máy tuyên truyền của nhà nước công nông lại có bài thơ như phát ngôn chính thức của nhà nước ghi nhận một cột mốc thời gian huy hoàng, một bước đi vững chắc trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội. Thơ xuân 1961 của Tố Hữu sang sảng reo lên: “Chào sáu mốt đỉnh cao muôn trượng”
Giữa năm 1963, cả miền Bắc còn rất thanh bình. Khắp các nẻo đường tưng bừng những công trường xây dựng. Những nhà máy mới, những khu dân cư mới mọc lên. Hiện thực đó đã đi vào thơ Xuân Diệu trong bài thơ Ngói Mới.
Khắp nơi trên những đường tôi đi
Tôi đã nghe xao xuyến rầm rì: ngói mới
Trên những đường tôi dạo, tôi qua
Tôi đã nghe nhiều những khúc ca: ngói mới
…
Kinh tế đang phục hồi và phát triển. Bữa ăn của lính còn no đủ. Sáng, bát sắt tráng men lùm lùm xôi. Không phải xôi trắng mà xôi lạc, xôi đỗ xanh. Có sáng bánh bao nhân thịt. Bữa trưa, chiều, một món rau, một món thịt. Bữa thịt gà, bữa thịt lợn, bữa thịt trâu. Món thịt đủ ăn đến cuối bữa. Thịt và rau dù ở chuồng nuôi, ở bãi rau tăng gia của lính hay mua ở chợ đều nuôi trồng tự nhiên. Ngày đó chưa xuất hiện phân hoá học, thuốc trừ sâu và thuốc tăng trọng, chưa có mì chính. Nuôi lính là những bữa cơm ngon, canh ngọt. Cơm trắng, chưa phải độn ngô, độn mì. Mâm sáu người một xoong cơm trắng to, đầy. Đi tập về đói, lính đánh bay xoong cơm đầy vừa đủ no. Có mâm còn dư chút cơm.
Nhưng chỉ hơn năm sau, từ đầu năm 1965, chiến tranh lan rộng cả nước. Bữa ăn của lính cứ kém dần. Từ bữa ăn của lính cũng thấy được đời sống người dân cả miền Bắc. Cơm độn ngô, độn mì cũng không đủ no. Món ăn vẫn có rau, có thịt nhưng số lượng và chất lượng chưa bằng nửa thời 1963, mới hơn một năm trước. Bữa sáng bát ngô bung hoặc tảng bột mì hấp chín. Tảng bột mì viên tròn, đập bẹt như nắp hầm phòng không trên hè phố, không bột nở, quánh như đất sét và rất khó nuốt mà lính trẻ vẫn nuốt trôi.
Bữa ăn ở nhà bếp càng ngày càng sút giảm số lượng và chất lượng, không đủ dinh dưỡng thì những bữa ăn chính trị, bữa ăn lập trường giai cấp không giảm sút mà còn tăng lên. Những đợt học chính trị do chính trị viên lên lớp và những đợt thi đua gối đầu sóng do tổ chức đoàn thanh niên phát động luôn ê hề đến bội thực.
Học chính trị thì hết học lịch sử đảng vẻ vang bách chiến bách thắng lại học lí tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội tương lai huy hoàng của nhân loại. Hết học lí luận đấu tranh giai cấp, kể tội phong kiến suy tàn bán nước, tội ác thực dân cướp nước, tội ác tư bản bóc lột giai cấp vô sản lại học ba dòng thác cách mạng đang sôi sục trên thế giới: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước đảng cộng sản đã giành được chính quyền. Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Cách mạng giành chính quyền về tay giai cấp công nhân ở các nước tư bản.
Trước trận đánh, lính bộ binh nạp thuốc nổ vào những khối bộc phá thì những đợt học chính trị của chúng tôi cũng nạp khối thuốc nổ căm thù giai cấp vào trái tim lính trẻ. Học từ bài lên lớp của chính trị viên tiểu đoàn. Học từ tập tài liệu được phát đến tổ học tập. Cả tổ nghe người tốt giọng đọc tài liệu rồi thảo luận. Học từ thực tế đời sống xã hội bằng nhưng đợt sinh hoạt chính trị ôn nghèo kể khổ sâu rộng và kéo dài. Chính trị viên tìm ra trong lính những điển hình nghèo khổ, bồi dưỡng, huấn luyện cho họ kể lại cuộc sống khốn cùng của bản thân và gia đình khi chưa có đảng, chưa có cách mạng để thấy công ơn trời biễn của đảng, của cách mạng. Lính quên đi cuộc sống thiếu thốn, kham khổ. Chỉ thấy lí tưởng của đảng cao cả, sáng ngời. Chỉ thấy lịch sử đảng oanh liệt, vẻ vang. Chỉ thấy sôi sục căm thù giai cấp. Người lính chỉ tâm nguyện hiến dâng cuộc đời cho lí tưởng của đảng, của cách mạng.
Chỉ các đơn vị chuẩn bị đi Bê, chuẩn bị vượt núi cao rừng thẳm Trường Sơn vào mặt trận phía Nam, trong thời gian được ăn tiêu chuẩn bồi dưỡng mới không phải ăn độn. Lính được ăn cao hơn, ăn no và ăn ngon hơn, béo tốt hẳn lên. Gấp gáp những công việc chuẩn bị bước vào chiến đấu, không còn những phong trào thi đua ồn ào. Không khí đơn vị trầm lắng nhưng âm ỉ một ý chí lên đường giết giặc, cứu nước.
Hằng ngày, các trung đội đều được phát hai tờ báo, báo Nhân Dân và báo Quân Đội Nhân Dân. Hằng tháng, trung đội có thêm tập tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Buổi tối từ thứ hai đến thứ sáu, các trung đội đều có giờ đọc báo và nhiệm vụ đọc báo ở trung đội 2 được thượng sĩ trung đội trưởng Trần Đồng giao cho tôi. Tối thứ bảy, lính được nghỉ sinh hoạt. Đó là buổi tối thư thái, thanh thản hiếm hoi và quí giá trong cuộc sống quân ngũ. Mọi thời gian trong tuần của lính đều có trong lịch công tác đại đội do chỉ huy đại đội sử dụng. Lính chỉ được sử dụng thời gian của mình là tối thứ bảy.
Tối thứ bảy trung đoàn có một không khí êm đềm, yên tĩnh mà sâu thẳm. Lính rủ nhau ra căn tin nhai kẹo Hải Châu, thả khói thuốc lá Tam Đảo và rì rầm chia sẻ với nhau chuyện riêng tư. Từ năm 1957, Hà Nội đã phục hồi được nhà máy bia do người Pháp để lại nhưng chai bia Trúc Bạch, chai bia Hữu Nghị, sản phẩm của nhà máy bia Hà Nội còn vô cùng xa lạ với người dân. Mùi bia càng không có trong đời sống của lính kể cả trong những bữa cơm liên hoan ngày lễ, ngày tết. Hàng hoá ở căn tin trung đoàn ngoài thuốc lá Tam Đảo, kẹo Hải Châu, phong bì, giấy viết thư còn có gói chè Hồng Đào, sản phẩm của nhà máy chè Phú Thọ. Nhưng thưởng trà phải có nước sôi, có ấm chén và có thời gian, những thứ lính không có. Hồng Đào là loại chè thơm ngon lúc đó căn tin lính còn có bán. Chỉ hai, ba năm sau, hàng hoá khan hiếm, chè Hồng Đào chỉ có ở vài cửa hàng quốc doanh cung cấp hàng hoá cho cán bộ có vai vế ở Hà Nội. Cửa hàng mậu dịch quốc doanh phố Nhà Thờ cung cấp hàng hoá cho nhu cầu đời sống của cán bộ trung cấp. Cửa hàng quốc doanh phố Tông Đản cung cấp hàng hoá cho cán bộ cao cấp. Là chợ nhưng hàng hoá không bán mà cung cấp vì hàng hoá trong chợ Tông Đản, chợ Nhà Thờ chỉ có giá tượng trưng, như cho không. Tên phố Nhà Thờ, phố Tông Đản trở thành tên chợ của tầng lớp ăn trên, ngồi trốc. Lập tức dân gian Hà Nội có ngay ca dao truyền miệng về các loại chợ của một thời kì lạ phải ghi vào bia miệng:
Tông Đản chợ của vua quan
Nhà Thờ chợ của trung gian nịnh thần
Đồng Xuân là chợ thương nhân
Vỉa hè chợ của nhân dân anh hùng!
Lính có nếp sinh hoạt đô thị mới có thói quen tiêu tiền, mới có mặt ở căn tin tối thứ bảy. Chỉ sĩ quan mới có lương. Lương tháng của chuẩn uý 54 đồng, thiếu uý 65 đồng. Hàng tháng binh nhì chỉ có phụ cấp năm đồng cũng cho những anh lính binh nhì xuất thân từ các đô thị Hà Nội, Hải Phòng có những tối thứ bảy được trở về đời sống dân sự thư thả. Ngày đó kinh tế nông thôn miền bắc cơ bản vẫn là kinh tế tự cấp, tự túc, cây nhà lá vườn, có gì dùng nấy, kinh tế hàng hoá thị trường chưa phổ biến rộng rãi. Những trai làng vào lính không có thói quen tiêu tiền, chẳng mấy khi lai vãng đến căn tin. Nhiều anh lính nông dân còn dành dụm, tích cóp tiền phụ cấp hàng tháng được khoản tiền kha khá gửi về gia đình.
Lính không ra căn tin, không tụ tập với nhau thì nằm xoài trên giường viết thư. Buổi tối duy nhất trong tuần cả trung đội không phải nghe chung một bài báo nhưng ở giường tầng trên, ngay dưới bóng đèn điện treo giữa phòng, anh lính nông dân quê Kiến Thuỵ, Hải Phòng thường oang oang đọc bài xã luận báo Nhân Dân như khoe khả năng đọc lưu loát và khoe cả ý thức học tập lí luận chính trị, nâng cao lập trường giai cấp của anh lính nông dân. Ngoài sân, trong hiu hiu gió núi, nhiều lính trẻ xuất thân là học sinh, công nhân thành thị xúm quanh cây đàn ghi ta trong tay binh nhì trắng trẻo, đẹp trai Trần Trung Trí vốn là học sinh trường cấp ba Ngô Quyền, Hải Phòng.
Bỗng tối thứ bảy ngày 2 tháng mười một năm 1963 theo lệnh chính trị viên đại đội, các trung đội đột ngột có buổi sinh hoạt báo chí bất thường. Trong buổi đọc báo bất thường chiếm mất buổi tối thứ bảy quí giá của lính hôm đó, chính trị viên đại đội đã chỉ cho tôi đọc bài xã luận trên báo Nhân Dân về cuộc đảo chính nổ ra ở Sài Gòn sáng thứ sáu ngày 1 tháng mười một, năm 1963 lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm của các tướng lĩnh quân đội Sài Gòn do CIA Mỹ âm thầm đạo diễn, dàn dựng.
Lính không tập trung cả đại đội, cán bộ đại đội chia nhau đến các trung đội. Dự cuộc đọc báo ở trung đội 2 là thiếu uý Nguyễn Văn Tiền, mặt rỗ hoa nhẹ, nông dân Hưng Nguyên, Nghệ An mà có lần trong buổi sinh hoạt đại đội ông đã khoe Hưng Nguyên quê ông là nơi khởi đầu cuộc nổi dậy Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930. Nhập ngũ cuối kháng chiến chống Pháp nay thiếu uý mặt rỗ hoa loáng thoáng là chính trị viên đại đội. Dự buổi đọc báo để chính trị viên Tiền làm công tác chính trị với lính rằng đám đầu sỏ chính quyền và quân đội Sài Gòn tay sai Mỹ chỉ là bầy ngựa nhốt chung một chuồng, ăn chung một máng cỏ, tất phải đấu đá, loại bỏ nhau, giành độc quyền máng cỏ, dẫn đến cả đám tan rã, sụp đổ như trước cách mạng tháng tám năm 1945, Nhật đảo chính Pháp dẫn đến thành công của cách mạng tháng tám. Nghe chính trị viên Tiền nói rằng đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm ở Sài Gòn là khởi đầu cho sự sụp đổ không tránh khỏi của chính quyền miền nam, tôi như được ăn cái kẹo tinh thần ngon hơn cả kẹo Hải Châu.
Trước cuộc đảo chính ngày 1.11.1963 diễn ra ở Sài Gòn, những trận đánh của lực lượng kháng chiến do những người cộng sản nằm vùng tổ chức, chỉ huy chống nhà nước Việt Nam Cộng Hoà không cộng sản tuy đã lan rộng nhưng còn rất nhỏ yếu, chỉ lác đác vài trận chiến du kích nhỏ lẻ ở vùng nông thôn hẻo lánh. Nhà nước Việt Nam Cộng Hoà do lá phiếu bầu cử thực sự tự do của người dân bầu lên là nhà nước dân chủ non trẻ vẫn ổn định và vững mạnh. Nhưng từ cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm thứ sáu ngày 1 tháng mười một, năm 1963 đã mở ra một thời kì bất ổn triền miên với nhà nước dân chủ non trẻ Việt Nam Cộng Hoà. Những cuộc đảo chính nổ ra liên tiếp sau đó như không có điểm dừng làm lung lay tận gốc rễ nhà nước nam Việt Nam. Mải lo đối phó nhau và giành giật quyền lực của nhau, những người nắm giữ vận mệnh nhà nước miền nam Việt Nam đã thả nổi vận mệnh nhà nước nam Việt Nam. Thể chế dân chủ non trẻ mà người dân kì vọng, gửi lòng tin trở nên mỏng manh, vô định.
Trong khi đó hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa thế giới đang trên đỉnh điểm phát triển khi các nước cộng sản non trẻ đông Âu còn đang gửi lòng tin vào cách mạng xã hội chủ nghĩa, gửi lòng tin vào Liên Bang Xô Viết hùng mạnh. Nhà nước Liên Bang Xô Viết đã chứng minh với thế giới rằng những người cộng sản không chỉ làm chủ trái đất mà còn làm chủ cả vũ trụ khi từ năm 1957 Liên Bang Xô Viết liên tục phóng thành công vệ tinh Spusnik vượt ra ngoài sức hút trái đất và ngày 12.4.1961 phóng thành công tàu vũ trụ Vostok đưa người lính Xô Viết, thiếu tá Yuri Gagarin bay vào vũ trụ thăm thẳm. Bão táp cách mạng ầm ầm nổi lên ở Cuba quét bay chính quyền dân chủ tư sản Fugencio Batista, đưa đất nước Cuba ở tây bán cầu, sát nách nước Mỹ hoà vào cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách mạng Cuba đã thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nhiều nước châu Mỹ La tinh, mảnh sân sau của nước Mỹ tư bản. Cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới đang ở thế tiến công mạnh mẽ vào các nước tự do dân chủ là thành quả của cách mạng dân chủ tư sản thế giới, khởi đầu từ cách mạng dân chủ dân quyền Pháp 1789. Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ở bắc Việt Nam cũng đang trên đỉnh vinh quang với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội, với việc quân Pháp xâm lược bị quét sạch khỏi bờ cõi Việt Nam.
Trong cao trào cộng sản thế giới, trong tuyên truyền bài bản và bịt bùng của bộ máy truyền thông khổng lồ nhà nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, hầu hết người dân miền bắc đều đinh ninh rằng xã hội cộng sản là xã hội ưu việt, là tương lai tất yếu của xã hội loài người. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, dù là nước trung lập như Cambodia, dù là nước tư bản lâu đời và giầu mạnh như Anh, Pháp, Mỹ, sớm muộn tất yếu cũng làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, đi đến cộng sản chủ nghĩa, thiên đường có thật của loài người mà lí luận Mác – Lê nin đã chỉ ra.
Trong nhận thức và tình cảm của tôi cũng như của hầu hết người dân miền bắc lúc đó cũng coi những người cộng sản đồng nghĩa với những giá trị cao cả, những người nồng nàn yêu nước, sắt son lí tưởng cứu dân, cứu nước thoát khỏi nỗi nhục nô lệ và nghèo đói. Trong trái tim tôi, những người cộng sản đều lẫm liệt khí tiết cách mạng trước kẻ thù và tận hiến cho dân, cho nước. Những bài viết về miền nam trên hai tờ báo chính thống độc quyền có mặt trong đời sống xã hội miền bắc, báo Nhân Dân và báo Quân Đội Nhân Dân cũng cho tôi biết rằng ngay ở miền nam, nhiều người dân lúc đó cũng coi từ cộng sản đồng nghĩa với từ yêu nước, cũng nghĩ rằng mục tiêu của những người cộng sản là độc lập của nước, là tự do của dân. Vì vậy người dân miền nam mới che chở, đùm bọc những người cộng sản nằm vùng ở lại miền nam không tập kết ra miền bắc và đông đảo người dân miền nam đã hăng hái theo những người cộng sản nằm vùng nổi dậy chống lại nhà nước không cộng sản Việt Nam Cộng Hoà.
Cả miền bắc đang rộn rã, hối hả xây dựng xã hội chủ nghĩa, tiến tới cộng sản chủ nghĩa, mơ ước của loài người. Những nhà máy đang mọc lên dù chỉ là công nghệ cũ của Trung Quốc thải ra cũng làm nức lòng người dân miền bắc. Cùng lúc đó ở miền nam sau những tiếng súng, sau máu chảy trong những cuộc chiến tranh phe phái ở miền đông, miền tây Nam Bộ là những cuộc đảo chính nối tiếp nhau, tranh giành quyền lực nhà nước ở Sài Gòn làm cho người dân càng thấy xã hội miền bắc tốt đẹp, ổn định và cao cả bao nhiêu thì xã hội miền nam càng xấu xí, hỗn loạn và tàn bạo bấy nhiêu!
Qua những cuộc tranh giành quyền lực triền miên của những chính khách Sài Gòn càng nổi lên vai trò ông chủ của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà là nhà cầm quyền nước Mỹ chứ không phải người dân miền Nam Việt Nam. Người dân miền nam nặng lòng với nước càng ngao ngán nhận ra sự lệ thuộc vào nước ngoài của chính quyền Sài Gòn, họ càng ngả theo những người cộng sản đang phát động cuộc nội chiến chống lại nhà nước không cộng sản Việt Nam Cộng Hoà mà không ngờ rằng những người cộng sản phụ thuộc vào nước ngoài còn tệ hại hơn. Vì phụ thuộc nước ngoài, theo lệnh nước ngoài họ cam tâm cắt đôi đất nước Việt Nam thành hai trận tuyến, chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai thế lực thù địch không đội trời chung.
Tệ hại hơn nữa là những người cộng sản không hề có mục tiêu dân tộc, chỉ có mục tiêu giai cấp. Đặt lợi ích của giai cấp vô sản thế giới lên trên lợi ích của dân tộc Việt Nam, họ chia cắt đất nước, chia rẽ dân tộc, thí bỏ sự toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng, thí bỏ tình cảm thương yêu, đùm bọc dân tộc. Giương lá cờ độc lập chỉ để tập hợp sức dân giành quyền lực nhà nước cho đảng cộng sản chứ không giành độc lập cho dân tộc Việt Nam. Có quyền lực nhà nước, đảng cộng sản coi giang sơn gấm vóc của dân tộc là tài sản của riêng đảng cộng sản, coi người dân chỉ là công cụ, là kho máu làm cách mạng vô sản giành quyền lực, giành thế giới cho đảng cộng sản và coi người dân chỉ là những con thỏ, con chuột trong phòng thí nghiệm đi tìm mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa của những nhà lí luận cộng sản mà thôi.
Để khai thác được máu dân cho cuộc chiến giành lãnh thổ cả nước, những người cộng sản phải giương cao ngọn cờ độc lập. Gần trăm năm nô lệ mất nước, gần trăm năm đau đớn và tủi nhục dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, lá cờ độc lập có sức hấp dẫn say đắm đến mụ mị với người dân Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lục đục, đấu đá, tranh giành quyền lực làm cho lá cờ độc lập, lá cờ giải phóng được những người cộng sản giương cao ở miền nam càng có sức thu hút mạnh mẽ với tất cả các thành phần dân chúng miền Nam, từ trí thức trong tháp ngà khoa học đến người lao động cơ bắp đổ mồ hôi kiếm sống trên đường phố, từ giới chủ đến người làm mướn, từ quan chức chính quyền đến học sinh, sinh viên.
Càng tranh giành quyền lực làm cho nhà nước Việt Nam Cộng Hoà càng chia rẽ, suy yếu thì cuộc nội chiến chống lại nhà nước Việt Nam Cộng Hoà do những người cộng sản phát động càng phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp nam Việt Nam. Năm 1965 cuộc nội chiến của hai lực lượng đối kháng ở miền Nam đã lên đến đỉnh điểm, đẩy nhà nước dân chủ non trẻ Việt Nam Cộng Hòa đến nguy cơ sụp đổ buộc Hoa Kỳ phải nhảy vào cuộc chiến không phải chỉ để cứu nguy Việt Nam Cộng Hòa, một nhà nước dân chủ trứng nước non trẻ mà còn ngăn chặn cơn sóng lừng bạo lực độc tài cộng sản tràn ngập cả Việt Nam, tràn ngập cả một vùng địa chính trị Đông Nam Á. Từ đây, cuộc nội chiến do những người cộng sản phát động nhằm thâu tóm lãnh thổ cả nước, áp đặt chuyên chính vô sản lên số phận người dân cả nước đã trở thành cuộc chiến tranh thế giới cục bộ của hai ý thức hệ cộng sản và tư bàn, độc tài và dân chủ, tự do và nô lệ khi bộ binh Mỹ đổ bộ vào miền Nam và không quân Mỹ dội bom, bắn tên lửa xuống miền Bắc Việt Nam.
Tôi đã có mặt, đã chứng kiến cơ quan bộ Tổng Tư lệnh từ những ngày đầu cuộc chiến tranh lan rộng ra cả nước. Chiếc ô tô com măng ca chở cục trưởng Thông tin Liên lạc, C53, thượng tá Nguyễn Anh Bảo trên đường vào vùng máy bay Mỹ đánh phá ở Quảng Bình bị trúng tên lửa từ máy bay Mỹ phóng xuống và thượng tá Nguyễn Anh Bảo là người lính thông tin đầu tiên ở miền bắc bỏ mạng trong cuộc chiến tranh khởi đầu từ cuộc đồng khởi ở Mỏ Cày, Bến Tre tháng giêng, năm 1960 do những người cộng sản nằm vùng phát động dân nổi dậy chống chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Tiếng súng ở miền Nam thúc giục khóa đào tạo báo vụ vô tuyến điện chúng tôi gấp rút kết thúc. Trong khi nhiều lính báo vụ cùng khóa đào tạo với tôi được bổ xung cho các đơn vị mới hình thành và đang gấp rút luyện quân tung vào mặt trận phía Nam thì tháng ba, năm 1964 hơn hai mươi lính báo vụ phần lớn xuất thân là học sinh, công nhân thành phố Hải Phòng và huyện Từ Liêm, Hà Nội lại được gọi tên, đeo ba lô leo lên thùng ô tô tải làm cuộc hành quân đi về hướng khác.
Ô tô chạy ra đường 21, rẽ về hướng mặt trời mọc, qua cầu Tế Tiêu, Vân Đình, đi ngược lại con đường chúng tôi đã hành quân bộ đến doanh trại Đồi Sim năm trước. Ô tô bon bon hướng về Hà Nội. Chớp mắt đã thấy ô tô qua đoạn đường đôi rợp bóng xà cừ cuối phố Hoàng Diệu rồi rẽ vào đường Cột Cờ. Ô tô qua cổng doanh trại ngay bên cạnh Cột Cờ. Sau này tôi mới biết đó là cổng Cửa Nam thành cổ Hà Nội. Suốt những năm ở trên đất hoàng thành, tôi thường ra vào thành cổ ở cổng này. Đơn vị đón nhận chúng tôi ở Hà Nội là đại đội 3, tiểu đoàn 77, cục Thông tin Liên lạc.
Tiểu đoàn 77 do thiếu tá Phạm Đề làm tiểu đoàn trưởng là đơn vị khai thác hai loại hình thông tin hiện đại là thông tin điện thoại do đại đội 4 khai thác và đại đội 3 vô tuyến điện. Bảo đảm thông tin cho Bộ Tổng Tư Lệnh còn có tiểu đoàn 78 quân bưu, còn được gọi là tiểu đoàn thông tin vận động, loại hình thông tin có từ thời cổ đại, chỉ khác là thông tin vận động ngày nay không chạy bộ, không cưỡi ngựa mà cưỡi mô tô, ô tô và sử dụng các phương tiện giao thông dân sự như xe lửa, máy bay. Khi chiến tranh mở rộng ra miền bắc, các trung đoàn thông tin đường dây phát triển lên lữ đoàn thì tiểu đoàn quân bưu 78 cũng phát triển lên trung đoàn rồi lữ đoàn.
Đại đội 4 tổng đài điện thoại do trung úy Nguyễn Đăng Ô là đại đội trưởng khai thác hai tổng đải. Tổng đài 200, mạng đường dây nội bộ, kết nối với những máy điện thoại lẻ trong thành cổ Cột Cờ, Hà Nội. Tổng đài 40, mạng đường dây hướng ngoại, nối thành cổ với các tổng đài bưu điện các tỉnh trên cả miền bắc, nối bộ Tổng Tư lệnh với bộ tư lệnh các quân khu, quân chủng, binh chủng và các sư đoàn bộ binh.
Ngoài hai tổng đài, đại đội 4 còn có hai trung đội đường dây và cáp ngầm bảo đảm đường dây thông suốt cho hai tổng đài. Thật bất ngờ là trong số lính đường dây của đại đội 4 lại có một học trò trường cấp ba Thái Phiên, Hải Phòng cùng lứa với tôi. Anh Trần Văn Bằng, quê xã Đằng Hải, huyện An Hải, ngoại thành Hải Phòng. Cũng tốt nghiệp trung học năm 1963 nhưng Bằng nhập ngũ sau tôi mấy tháng. Xin hãy nhớ tên anh Trần Văn Bằng vì tôi sẽ còn nhắc đến anh một lần nữa trong một sự kiện của thành cố. Trong cuộc chiến tranh giữa đất và trời ở Hà Nội, người lính Trần Văn Bằng đã ngã xuống, máu thấm vào đất thành Cổ Hà Nội như máu người lính của Nguyễn Tri Phương, người lính của Hoàng Diệu đã thấm vào đất hoàng thành trong cuộc chiến chống quân Pháp giữ thành cổ Hà Nội ở thế kỉ 18.
Vô tuyến điện được tổ chức thành ba mạng do đại đội 3 đảm nhiệm và đại đội trưởng là trung úy Bùi Đình Phù, quê Diễn Châu, Nghệ An. Chính trị viên đại đội là trung uý Nguyễn Văn Thước, quê Phú Thọ. Hai trung đội của đại đội 3 khai thác hai mạng vô tuyến điện là mạng A và mạng C đóng quân phía Nam trong thành cổ. Mạng A bảo đảm thông tin vô tuyến điện tới các đơn vị đóng quân trên miền bắc. Sóng vô tuyến điện mạng C nối với bộ chỉ huy quân giải phóng miền Nam, với Bộ Tư Lệnh 559 và với các đơn vị quân đội bắc Việt hoạt động trên đất Lào. Mạng thông tin vô tuyến điện tới các đơn vị quân chủ lực đang chiến đấu ở miền Nam là mạng B, lúc đầu chỉ là một trung đội, trung đội 18 đặt máy làm việc ở Phùng, huyện Đan Phượng, lúc đó còn thuộc tỉnh Hà Đông, cách Cột Cờ 18 cây số nhưng trung đội 18 cũng trực thuộc đại đội 3.
Trước năm 1963 chỉ có những đoàn cán bộ lẻ và những đơn vị vũ trang nhỏ luồn rừng Trường Sơn vào nam theo lối mòn được mở từ tháng năm, năm 1959. Đến mùa khô năm 1964, cả sư đoàn bô binh chủ lực quân miền bắc rầm rập hành quân vào miền nam. Cũng từ cuối năm 1964, trung đội 18 thông tin vô tuyến điện tăng thêm nhiều đài liên lạc mới, tăng gấp bội phiên liên lạc, phải tăng quân số lên tới đại đội. Đầu năm 1965, đại đội 5, tiểu đoàn 77 do trung úy Nguyễn Xuân Bá làm đại đội trưởng ra đời từ trung đội 18, đại đội 3. Là một cụm điện đài lớn bảo đảm thông tin cho bộ Tổng Tư Lệnh chỉ huy mặt trận miền Nam, không thể giăng trùng trùng antel giữa luỹ tre làng, đại đội 5 phải chuyển vào chân núi Ba Vì, xây doanh trại giữa lau lách hoang vu, xây hầm bê tông dưới chân đồi đặt máy khai thác thông tin.
Làm việc trong Tổng hành dinh, bảo đảm thông tin chỉ huy cho bộ Tổng tư lệnh, chúng tôi hiểu rằng ngoài năng lực nghiệp vụ chuyên môn chúng tôi đều phải có lí lịch được tin cậy, gia đình đều thuộc thành phần bần cố nông hoặc dân nghèo thành thị. Có câu chuyện buồn về lí lịch như sau. Thượng sĩ Đặng Văn Tiếp chẳng phải đảng viên và chỉ là tiểu đội trưởng ở trung đội huấn luyện, đào tạo báo vụ của đại đội 3 đóng quân ở Gia Lâm, cách thành cổ con sông Hồng và cây cầu Long Biên. Trước khi cưới vợ, Tiếp phải nộp lí lịch vợ sắp cưới cho chính trị viên Nguyễn Văn Thước, bí thư chi bộ đại đội 3. Đến ngày cưới, gia đình đang tưng bừng làm cỗ cưới, Tiếp mới được nhận lại bản lí lịch của vợ sắp cưới với dòng chữ ghi ý kiến của bí thư chi bộ đại đội 3 không đồng ý cho Tiếp lấy cô gái có bố di cư vào Nam năm 1954. Tiếp là con người hiền lành, chăm chỉ trong mọi việc, có ý chí phấn đấu về chính trị đành lặng lẽ chấp hành ý kiến của chính trị viên, bí thư chi bộ, dẹp đám cưới, chia tay cô người yêu có bố di cư vào Nam.
Trần Trung Trí trắng trẻo, đẹp trai, tốt nghiệp trung học phổ thông ở trường cấp ba Ngô Quyền, Hải Phòng, cùng đợt lính nhập ngũ và cùng đại đội đào tạo báo vụ với tôi ở trung đoàn 205, Quèn Chương, Kim Bôi, Hoà Bình. Là lính báo vụ giỏi, giỏi cả đàn hát, Trí là người tổ chức, dàn dựng các tiết mục cho đội văn nghệ đại đội, tạo cho đại đội luôn có không khí tưng bừng, phấn chấn, nhất là trong những dip lễ, tết, được chính trị viên đại đội Nguyễn Văn Tiền rất quí nhưng cũng vì bố Trần Trung Trí biến mất từ năm 1954, đang học báo vụ Trí cũng bị loại ngũ.
P. Đ. T
Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 12)
Nguyễn Phú Yên

VII. TÌNH ĐAU
Trong tìm kiếm vô vọng, đôi khi người nghệ sĩ nhận ra tình yêu chỉ là một thoáng khói mây và rồi họ nhận ra rằng tình yêu có thể đưa họ đến với thương đau. Nỗi đau luôn hiện diện bên đời vì sự mất mát một bóng hình mà mình từng ôm ấp trong tim. Mỗi một người hẳn đã từng cảm nhận sự tiếc nuối những hình ảnh xa vắng và mất mát khi tình yêu đã bỏ ta đi:
Yêu cho biết sao đêm dài
Cho quen với nồng cay
Yêu cho thấy bao lâu đài
Chỉ còn vài trang giấy.
Dòng mực xanh còn đấy
Hứa cho nhiều dù bao lời nói
Đã phai tàn thành mây thành khói
Cũng xem như không mà thôi…
Vấn đề phân kỳ trong lịch sử văn học dân tộc và quy luật vận động của văn học dân tộc
Nguyễn Lộc
L.T.S.: Vừa qua, Hội đồng Ngữ văn Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã tổ chức hội thảo về vấn đề phân kỳ văn học sử Việt Nam. Ý kiến tương đối tập trung về vấn đề chọn những mốc lớn để phân chia các thời kỳ lớn trong văn học Việt Nam, nhưng tiêu chuẩn chọn lựa thì lại có phần khác nhau. Đây chỉ là bước đầu mở ra việc thảo luận, còn chờ nhiều ý kiến khác nhau tham gia bàn bạc…
Giáo sư Nguyễn Lộc với những thành tựu nghiên cứu về văn học cổ điển việt nam và về Nguyễn Du và Truyện Kiều
Nguyễn Công Lý
Tóm tắt:
PGS.NGƯT Nguyễn Lộc là một nhà khoa học tên tuổi, một nhà giáo lão thành đáng kính mà các thế hệ học sinh, sinh viên từ gần cuối thập niên 60 thế kỷ XX cho đến nay ở ngoài Bắc trong Nam đều biết tiếng qua các bộ giáo trình và chuyên khảo của Thầy. Thầy là vị Trưởng khoa thứ hai của Khoa Ngữ văn và Báo chí, Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, nhiệm kỳ 1990-1994 (nay là Trường ĐHKHXH &NV-ĐHQG TP.HCM). Bài viết này giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp nghiên cứu khoa học của Giáo sư nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Ông.
Từ biệt ở Thông Tây Hội
(Thơ viếng Thầy Nguyễn Lộc)
Nhật Chiêu
.
Đầu xanh đầu bạc về đây
đưa người ra tận
cõi ngoài trăm năm
Có một đôi tri kỷ như thế
(Nhân 75 năm khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội)
Đỗ Ngọc Thống

Từ trái: Trần Đình Sử và La Khắc Hòa
Thông minh nhân tạo và những lằn ranh đỏ của một hành tinh đang chịu áp lực
Ngày 25 tháng 10 năm 2026
Phạm Phan Long
Lời giới thiệu Báo cáo Planetary Health Check 2025 cảnh báo rằng bảy trong chín ranh giới an toàn của hành tinh đã bị vượt qua, phản ánh những áp lực ngày càng gia tăng lên khí hậu, đa dạng sinh học, nguồn nước, đất đai và các hệ thống tự nhiên khác. |
Học triết là học cách chết
Michel de Montaigne
Đỗ Kim Thêm giới thiệu và dịch

Lời giới thiệu
Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.
GS Nguyễn Lộc đã qua đời
Ban Biên tập Văn Việt vô cùng xúc động được tin
GS Nguyễn Lộc, sinh ngày 14/12/1936 tại xã Bình Mỹ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Thầy Nguyễn Lộc của tôi
Trần Nho Thìn
Trong chương trình đào tạo của Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp ngày ấy, đến năm thứ hai, tức là vào năm 1971, tôi mới được học thầy Nguyễn Lộc. Ấn tượng mạnh của tôi về thầy trước hết là ở một giọng nói sôi nổi, ấm áp, nhân hậu; một khuôn mặt tươi tắn, với nụ cười rạng rỡ; một cặp mắt thông minh. Giọng Quảng Ngãi của thầy, sau nhiều năm đi đây đi đó, dễ nghe hơn giọng Quảng Nam của thầy Lê Đình Kỵ. Những bài giảng của thầy có sức lôi cuốn, lan tỏa mạnh mẽ. Phải nói ngay là các bài nói, bài giảng văn của thầy Lộc rất thuyết phục, hấp dẫn. Sau này, có dịp thường xuyên đến nhà thầy, tôi mới hay thầy thường được các cơ quan, địa phương mời đi nói chuyện văn học, khi thì công đoàn thành phố Hà Nội, khi thì Ty Văn hóa Hà Nam Ninh, Ty Văn hóa Thái Bình. Đôi khi, còn có chút quà địa phương, thậm chí có cặp gà đem về Hà Nội. Nghĩ lại, thấy mọi việc hồi đó thật giản dị và thật đẹp.
Ngôn ngữ yêu thương
Ngự
- Chú ơi, chú quét lá làm gì ạ? Mai nó lại rụng.
- Thế cháu ăn cơm làm gì? Mai lại đói.
Những tủ sách về đâu?
Phạm Công Luận

Ảnh mượn trên mạng
Có những tủ sách quý giá từng tồn tại trên đời qua nhiều năm, gắn với tên tuổi một nhà trí thức, một quan chức, một người trong giới viết lách hoặc có khi chỉ là một độc giả mê sách... Đến lúc nào đó, những biến động xã hội va đập tới lui, khiến số phận chủ nhân và tủ sách yêu quý của họ dần thay đổi, tan tác và có khi biến mất một cách âm thầm.
Đời sống tăng đoàn ở Nalanda (Ấn Độ) vào thế kỉ 7: thiêu xác thân là không hợp lẽ – pháp sư Nghĩa Tịnh
Nguyễn Cung Thông[1]
Phần này bàn về chương 38 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh. Chương/điều khoản 38 Thiêu thân bất hợp 燒身不合 tạm dịch/NCT: thiêu xác thân là không hợp lẽ trong PG. Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật giáo), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), A (tiếng Anh), P (tiếng Pháp), NHKQNPT (Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện). Chương 38 có 456 chữ, không kể 4 chữ tựa đề (thiêu thân bất hợp); khi dịch ra tiếng Việt hiện đại, cho rõ nghĩa hơn, cần ít nhất là 724 chữ; số chữ tiếng Việt dùng tăng 59% so với nguyên bản Hán văn - đây là không kể đến chú thích thêm ghi trong ngoặc (...). Tuy nhiên, cần thận trọng khi đọc các tài liệu cổ đại vì Hán văn vào thời trung cổ có khác hơn ngày nay: có lúc ý nghĩa không rõ ràng hay tối nghĩa, không như ý của tác giả, dẫn đến cách hiểu khác nhau; hay có chữ hiếm không còn dùng nữa và ngay cả quá trình sao chép lại cũng dễ gây nhầm lẫn, v.v. Thí dụ như lẫn lộn giữa các chữ mục 5 nét so với chữ tự 6 nét, chữ kỉ và dĩ cùng 3 nét : a) trong phần đầu chương 38, hàng thứ 6 trong bản Hán văn, câu 即令乞士將身目而行施 tức lệnh khất sĩ tương thân mục nhi hành thi hàm ý ngay cả khi người xuất gia (khất sĩ) hi sinh thân minh và mắt mình để cúng dường (bố thí), bản Hán văn thời nhà Nguyên lại ghi chữ mục là chữ tự 自 - thành ra nghĩa của câu thay đổi và có thể hiểu là ngay cả khi người xuất gia hi sinh chính thân mình để cúng dường - xem thêm Phụ Trương và chú thích xviii b) một câu ở phần đầu chương 38, hàng thứ 6 trong bản Hán văn, là 不受律儀亡己濟生 bất thụ luật nghi vong kỉ tế sinh (hàm ý không tuân theo giới luật mà hi sinh/hủy hoại thân mình cho/cứu kẻ khác hay cho/cứu mạng sống khác), có văn bản ghi chữ kỉ 己 (mình) là dĩ 已 - thành ra câu trên trở nên tối nghĩa, hay có thể hiểu là không tuân theo giới luật, sự chết có thể mang đến sự tái sinh!
Thầy Vinh Sơn – Một nhân cách lớn, một người thầy
Nguyễn Phương Điền

Có những người thầy dạy ta bằng những bài giảng. Có những người thầy dạy ta bằng chính cách họ sống, cách họ làm nghề. Với Điền, đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn là một người thầy như thế.
Thương nhớ đạo diễn Vinh Sơn
Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Anh theo Công giáo, có tên thánh Matthew – người truyền giáo, và vị Sứ đồ này được coi là có sức mạnh đặc biệt bởi lòng xót thương; phải chăng điều đó đã như một thứ định mệnh gắn với cuộc đời và tác phẩm của anh?
Khi cô giáo bị học trò nhảy lên đánh ngay trên bục giảng, trách nhiệm về ai?
Trần Kiêm Đoàn
Hình ảnh một học sinh lớp 12 đánh cô giáo ngay trên bục giảng khiến tôi bàng hoàng.
Trong khoảnh khắc ấy, người bị tổn thương là một cô giáo bằng xương bằng thịt; cô có thể bị đau về xác thịt nhưng người Việt Nam cả trong và ngoài nước đều nhức buốt cả cảm xúc và tâm hồn!
Câu chuyện về một tình yêu: Marlene Dietrich và Ernest Hemingway
Lê Thọ Bình

Hemingway và Dietrich, 1938
Họ đã gặp nhau bao nhiêu lần trong đời? Không quá mười lần. Nhưng tình bạn qua thư từ cùng những thổ lộ tình yêu chan chứa lại kéo dài suốt nhiều năm...
Thơ Phapxa Chan
Vừa vặn vừa
đầu tiên nhìn rất vừa vặn
nhưng vừa vặn lại không vừa
cố vặn cho vừa lại thành vặn vẹo
sau một hồi vừa vặn vừa vẹo
mà mãi vẫn không vừa
thôi không vừa vặn vừa cố vừa vặn nữa
tháo ra hết
vặn lại
vừa vừa
xong
Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 11)
Nguyễn Phú Yên

V. TÌNH XA
Trong tình yêu, khi ở bên nhau đôi lứa sẽ cảm thấy yêu đời và hạnh phúc. Quãng thời gian đó họ sẽ có biết bao kỷ niệm êm đềm, tuyệt đẹp đầy lưu luyến. Nhưng không phải ai cũng trọn vẹn như thế trong cuộc đời mình. Nghĩa là có người gặp tình vui nhưng cũng có người chỉ có tình buồn. Buồn rồi chia xa, chia xa rồi buồn. Trong dòng nhạc tình yêu đôi lứa có rất nhiều nhạc sĩ viết về sự chia xa:
Còn buồn nào hơn phút chia tay
Tìm nụ hôn cho nhau lần cuối
Em bùi ngùi, anh lo sợ nhiều
Trên đường về, đêm vắng đìu hiu…
Người anh, người thầy, người cha
Nguyễn Minh Cao

Vinh Sơn – Người “khẩn hoang” bằng phim
Trần Chí Kông
Tôi scan xong những tấm ảnh chụp lớp học Biên kịch do thầy Jean-Claude Carrière hướng dẫn, năm 2001, với sự tài trợ của Đại sứ quán Pháp. Đó là lớp học mà Vinh Sơn và tôi cùng được dự. Chưa kịp gởi thì hay tin anh đã đi rồi.
Nhớ anh
Nguyễn Ngọc Thuần

Hôm nay hay tin đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn mất, mình không biết nên nói điều gì và không nên nói điều gì. Không chỉ thấy thương anh, một người anh hiền hậu, tài năng, mà còn là cách anh sống, một tinh thần sống chậm.
Những dấu vết bên trong ta (Đọc Con ngựa trên bãi biển của Ý Nhi)
Bảo Chân
Với kinh nghiệm của một người đọc thường xuyên tìm hiểu về truyện ngắn, tôi không khỏi thốt lên khi đọc tập truyện Con ngựa trên bãi biển của Ý Nhi vừa phát hành: Đây hẳn là tập truyện ngắn xuất sắc và sáng tạo của bà. Mỗi truyện bà viết ra là nơi những mẩu ký ức, những nỗi mất mát được tái hiện, vừa hư ảo vừa hiện thực, thoáng hiện thoáng mất. Còn có điều gì đó được kể ra, nữa như hiện sinh nữa như phi lí trong cuộc đời. Phải chăng lối biểu đạt mới này là hiện thân của khát khao tìm kiếm sự hài hoà thực tại trong một vũ trụ nội tâm đa tầng và kín đáo? Chính vì thế, tập truyện ngắn mới này ẩn chứa những phẩm chất văn chương rất Việt Nam lại vừa mang tính phổ quát của thân phận con người hiện đại.
Một tình ca, một mùa xuân
Viết cho bạn tôi ở Cali…
Tino Cao
Tôi vẫn nghĩ rằng một trong những bất hạnh của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20 là chiến tranh đã để lại quá nhiều thành kiến, đến mức ngay cả âm nhạc cũng bị phân chia theo giới tuyến chính trị. Chỉ cần nhắc đến hai chữ “nhạc đỏ” hoặc “nhạc vàng”, người ta đã vội suy đoán người nghe thuộc về phía nào, mang trong tâm trí những kí ức gì và có thái độ ra sao đối với quá khứ. Sự phân chia ấy có nguồn gốc lịch sử, nhưng khi trở thành một thói quen phán xét nghệ thuật, nó khiến chúng ta bỏ lỡ nhiều tác phẩm có giá trị. Hai ca khúc tôi muốn nhắc đến là Tình ca của Hoàng Việt, sáng tác năm 1957, và Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao, ra đời vào dịp Tết Bính Thìn 1976. Cả hai đều gắn với dòng nhạc cách mạng của miền Bắc cộng sản, dù chúng được viết ra trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Nhưng hãy nghe thật kĩ, bằng cả sự hiểu biết và rung động của chính mình; chúng ta sẽ nhận ra ở đó những phẩm chất nghệ thuật xuất sắc và một thế giới tình cảm phong phú hơn nhiều so với những gì cái nhãn “nhạc đỏ” có thể diễn tả.
Tình bạn chân thành và cảm động
Bùi Thanh Phương
Có những món nợ trong đời không thể trả bằng tiền bạc. Đó là món nợ ân tình, đôi khi người ta mang theo mãi cho đến tận cuối đời.
Nguyễn Vinh Sơn: Một đạo diễn tài hoa, khiêm cung, giản dị
Lê Hồng Lâm

Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn và diễn viên Hồng Ánh

Nhà báo Lê Hồng Lâm, đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn và diễn viên Hồng Ánh trong buổi chiếu Trăng nơi đáy giếng tối 21-3-2025
Kiệt tác Kẻ thủ dâm vĩ đại của Salvador Dalí
Nguyên Hưng

Mùa hè năm 1929 đánh dấu một bước ngoặt xoay chuyển cả cuộc đời lẫn sự nghiệp của Salvador Dalí. Đó là thời điểm ông gặp gỡ Gala, người phụ nữ khi ấy đang là vợ của nhà thơ Paul Éluard. Bà không chỉ trở thành nàng thơ, người bảo trợ mà còn là nỗi ám ảnh nhục dục suốt đời của danh họa. Sự xuất hiện của Gala vừa là nguồn cứu rỗi, vừa là một cơn chấn động mạnh mẽ, khơi dậy toàn bộ những ẩn ức, mặc cảm tội lỗi và nỗi hoảng loạn tình dục được chôn giấu từ thuở thiếu thời của Dalí. Kiệt tác Kẻ thủ dâm vĩ đại (The Great Masturbator) đã ra đời trong chính tâm bão của cuộc khủng hoảng hiện sinh này.
TA LÀ – Một phiên giải chính trị: Khi cái tôi đứng dậy trước quyền lực
Minh Hạo – Ghi chép và phiếm luận về buổi ra mắt sách TA LÀ của Nguyễn Hữu Liêm ở quận Cam ngày 17 tháng 10, 2026.
Tưởng là đặc sản hóa ra rất phổ biến
Hồ Anh Thái
Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 10)
Nguyễn Phú Yên

II. TÌNH QUA BỐN MÙA
Người nghệ sĩ đôi khi còn tìm thấy tình yêu đôi lứa trong văn chương bình dân. Đó là những vần ca dao rất nồng nàn, tha thiết đã gợi lên cho người nghệ sĩ mối cảm xúc đồng điệu để khắc họa nét đẹp đó qua những giai điệu trữ tình:
Ðêm qua tát nước (í a chứ) đầu đình
Trời đêm sáng tỏ (ấy) cái đêm trăng rằm
Bỏ quên chiếc áo (chứ) trên cành (là) hoa sen,
Là cành hoa sen (ớ ơ)
Em được thì cho anh xin
Hay là em để (chứ) làm tin làm tin trong nhà
Ơi hỡi chàng ơi (chứ tình rằng) ơi hỡi chàng ơi
Áo anh sứt chỉ (chứ) đường tà (chứ biết rằng)
Vợ anh chưa có (chứ) mẹ già, mẹ già chưa khâu
Mẹ già chưa khâu (chứ tình rằng) tình vẫn chưa khâu…
(Y Vân, Tát nước đầu đình)
Thơ Nguyễn Phượng
Mùa thu nhớ mùa thu của thời hai mươi tuổi...
SƠN LA MÙA THU ẤY ƠI
Khi lá cây vơi trong gió qua chiều
Tôi biết
Mùa thu đã tới
Đêm đi dưới vầng trăng ngàn tuổi
Trăng như xa, lại như thể bên mình
Lịch sử cần sự trung thực hơn là những huyền thoại đẹp đẽ
Nguyên Hưng
Việc đẩy mốc “Mỹ thuật Việt Nam thời Đổi mới” lùi về năm 1975 dưới nhãn “Sự chuyển mình từ bên trong” là một sự đảo lộn phương pháp luận lịch sử. Phép gộp niên đại 1975–1995 xóa nhòa ranh giới cấu trúc giữa hai giai đoạn khác nhau về bản chất. Giai đoạn 1975–1985 là thời kỳ của định chế áp đặt, kinh tế kiệt quệ và độc tôn ý thức hệ. Giai đoạn 1986–1995 là thời kỳ cởi trói, hình thành thị trường và đa dạng hóa thẩm mỹ. Sự chuyển mình trong khoảng 1975–1985 chủ yếu mang tính phản ứng sinh tồn đơn lẻ của các cá nhân nghệ sĩ trong bóng tối. Chỉ khi nội lực phản kháng ấy cộng hưởng với các xung lực kinh tế, thông tin và định chế quốc tế sau năm 1986, Mỹ thuật Đổi mới mới thực sự được khai sinh với tư cách một kỷ nguyên nghệ thuật chính thức. Kéo giãn biên độ thời gian tạo ra câu chuyện giả tạo về sự trưởng thành nội tại bình yên, đồng thời hư vô hóa những tổn thương của thời bao cấp và giảm nhẹ tầm vóc cách mạng của bước ngoặt mở cửa.
Pablo Picasso (1881-1973)
Trương Thị An Na

Cuộc lội ngược dòng lịch sử: Miura & Kihara
Nguyễn Xuân Xanh
“Tôi thực sự biết ơn vì đã gặp được người bạn diễn tốt nhất mà tôi có thể mong ước trong đời.”
– Ryuichi Kihara
“Xin anh đừng khóc.”
– Riku Miura
Sách mới: Bút ký / Tùy luận Nỗi Huế nỗi chữ nỗi quê của Trần Doãn Nho
NHÀ XUẤT BẢN
NHÂN ẢNH

Trân trọng giới thiệu:
NỖI HUẾ NỖI CHỮ NỖI QUÊ
Bút ký / Tùy luận
Tác giả: Trần Doãn Nho

Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê là một tuyển tập chính trị xã hội và văn học nghệ thuật tập trung trên hai hiện thực. Một là: Huế, thành phố nhỏ bé thầm lặng nhưng là cái nôi của những biến động lịch sử mang tầm vóc quốc gia, nơi tác giả đã sống cùng sống trong và sống với trong gần nửa thế kỷ. Hai là: Văn Học Hải Ngoại, một nền văn học nghệ thuật tự phát triển bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, đánh dấu sự thành công của một thất bại và là sự thất bại của một thành công. Bằng một bút pháp tổng hợp, vừa tùy bút vừa hồi ức vừa biên khảo và tham luận – nói gọn là tùy luận – Trần Doãn Nho đã tái hiện và triển khai từ trong sâu thẳm trái tim, những hình ảnh, sự kiện và tình yêu cùng những suy gẫm về quê hương đất nước, như một cách thanh toán nợ nần quá khứ và sòng phẳng với chính mình. Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê là nỗi niềm chung và riêng của một người, qua đó, Huế của hắn cùng với Chữ Nghĩa và Quê Hương thể nhập thành… Một.
Sách có bán trên AMAZON
384 trang, bìa mềm, in đen trắng bên trong, 5.5”x 8.5”, giá bán: US $30.00
408 trang, bìa cứng, in màu bên trong, 5.5”x 8.5”, giá bán: US $40.00
Xin bấm vào đường dẫn sau:
Hoặc liên lạc với tác giả qua địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của tác giả:
Chấn hưng Phật giáo thời hiện đại – Một trường hợp tham khảo (Case study)
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn
Rất cảm kích, nhưng thật tình trong đầu tôi cũng gợn lên một chút ý nghĩ dí dỏm khi đạo hữu Như Hiền, trưởng nhóm Cư sĩ Học Phật ở Canada, gọi tôi là “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ”. Lần đầu nghe danh xưng ấy dành cho mình, tôi vừa vui vì tình thân kính, vừa tự hỏi: Tuổi già thì đã đến thật rồi, nhưng việc học đạo của mình đã theo kịp tuổi tác hay chưa?
Sách sắp xuất bản: Mỹ thuật Việt Nam từ góc nhìn Xã hội học Văn hóa
Nguyên Hưng

LỜI TỰA
Cuốn sách này bắt nguồn từ một nhận thức ngày càng rõ ràng: phần lớn những khó khăn, nghịch lý và trạng thái bất phân trong đời sống mỹ thuật Việt Nam đương đại không chỉ xuất phát từ thiếu thốn vật chất hay hạn chế tài năng cá nhân, mà còn từ sự thiếu vắng một cách nhìn có hệ thống về chính các điều kiện xã hội và thể chế đang cấu tạo nên nghệ thuật.
Tuyển tập dịch thơ - truyện - tiểu luận của Anne Carson
Ngu Yên
Tuyển tập dày 334 trang, phát hành miễn phí. Tự do đọc và tải.
https://www.academia.edu/.../T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD_%C4%90...

LỜI NGƯỜI DỊCH
Ngày 8 tháng 10 năm 2026, Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học cho Anne Carson. Họ ghi nhận một sự nghiệp táo bạo, đối thoại tinh nghịch với truyền thống cổ điển để tạo ra những hình thức mới cho văn chương đương đại. Tin ấy làm nhiều người vui, nhưng cũng làm không ít độc giả Việt bối rối. Anne Carson là ai? Đọc bà bắt đầu từ đâu?
Số đặc biệt mùa đông này của Tạp Chí Đọc Và Viết ra đời để trả lời câu hỏi đó, hay đúng hơn là để mời bạn cùng hỏi tiếp.
Carson khó xếp vào một ngăn kéo nào. Bà là nhà thơ, nhà tiểu luận, dịch giả và học giả cổ điển. Trong một trang sách của bà, Homer có thể ngồi cạnh John Ashbery, Emily Brontë đi dạo cùng người cha mắc bệnh Alzheimer, và một trận đánh đêm ở Epipolai trở thành tấm gương soi một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Bà không dùng tri thức để dựng tháp cao hơn người đọc. Bà mang nó xuống ngồi cùng chúng ta ở bàn ăn, trong quán cà phê, giữa một cuộc trò chuyện chẳng ai biết nói gì tiếp.
Cuốn sách chia làm ba phần.
Thơ tuyển gồm những bài như “Tối thứ Bảy của người lớn”, “Áo len xanh cũ của cha”, “Bài nói ngắn về nỗi đau”, “Đố kỵ đại từ”. Ở đó, một bữa ăn hỏng hay một con chim hót sai nhịp trở thành nơi trú ẩn tạm thời của những câu hỏi lớn.
Tuyển truyện gồm “1=1”, “Flaubert, một lần nữa”, “Houdini tội nghiệp”, “Hạnh phúc” và nhiều truyện khác. Ở đây câu chuyện không nhất thiết phải kể chuyện. Cốt truyện tan vào những lối đi của ý thức, và khoảng trống giữa các sự việc tự nó trở thành một phần của truyện.
Phần đặc biệt gồm “Sách Isaiah”, trường ca “Tiểu Luận Thủy Tinh” (The Glass Essay) mà nhiều người coi là bài nên đọc đầu tiên, tiểu luận “Giới Tính Của Âm Thanh”, và một bài tiểu sử cùng niên biểu để bạn đọc lần theo đời bà.
Tôi phải thú thật: dịch Carson là chấp nhận thua trước. Nhà văn Võ Phiến từng nói dịch thơ giống như diễn lại một con cá đẹp đang bơi thành một bộ xương cá. Với Carson, phần lớn “con cá” không nằm ở chữ mà ở khoảng trống giữa các chữ: một dấu chấm đặt nơi lẽ ra là dấu hỏi, một đoạn lạc đề tưởng vô cớ, một nhịp ngắt lạnh lùng. Vì vậy tôi cố giữ lại những bộ xương ấy cho đúng hình, và đôi chỗ thêm vài lời ghi chú để bạn đọc khỏi lạc. Những chữ đặt trong ngoặc vuông là của tôi, không phải của bà.
Thơ của Carson không trao cho người đọc kết luận. Bà đặt ta vào một tình thế để cùng lúng túng, kinh ngạc, buồn, đôi khi buồn cười, rồi nhận ra chính những điều tưởng như không đáng kể ấy đã làm nên đời sống tinh thần của con người. Mong bạn đọc chậm, đọc lại, và đừng vội tìm câu trả lời.
Khi được hỏi giải Nobel có làm thay đổi lượng độc giả không, bà đùa rằng sách của mình sẽ có thêm một nhãn dán trên bìa. Tôi mong cuốn sách này là hơn một nhãn dán: nó là một cánh cửa.
Thơ tình haiku (phần 1)
Bạt Xứ chuyển ngữ
Tình yêu là cảm xúc phức tạp nhất nhưng cũng giản dị nhất. Thơ haiku, với sự trong sáng và sâu lắng, có khả năng nắm bắt một cách tuyệt vời những cung bậc cảm xúc khác nhau của tình cảm nồng thắm này.
Những bài thơ dưới đây được chọn từ tuyển tập ”Haiku For Lovers” do Manu Bazzano chủ biên và giới thiệu từ những nhà thơ haiku xuất sắc thế giới cũng như các bậc thầy Nhật Bản được yêu mến. Những bài thơ này thể hiện tinh thần của tình yêu đích thực, là những khoảnh khắc yêu thương chân thành, từ sự say đắm ban đầu đến sự quen thuộc dần dà và cuối cùng là sự thanh thản tuyệt đối của lòng tận tụy sâu sắc và bền bỉ.
Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 9)
Nguyễn Phú Yên

CHƯƠNG VII: TÌNH CA ĐÔI LỨA
Chủ đề tình yêu luôn là nguồn cảm hứng nghệ thuật của tất cả các dân tộc qua mọi thời đại từ xa xưa đến hôm nay. Có thể xem đó là đề tài bất tử của loài người thể hiện qua văn chương, nghệ thuật từ những người bình dân cho đến người học thức. Trong âm nhạc Việt Nam, từ âm nhạc cổ truyền đến tân nhạc, tình yêu luôn là đề tài xuyên suốt, có sức sống mãnh liệt còn tồn tại qua bao thời gian.
Đoản khúc về đoản thoại của Carson
Nguyễn Quốc Chánh

1
Nếu Anne Carson chưa được trao Nobel, người ta có thể xem bà chỉ là một mụ gàn, kẻ điên khảo cổ chữ nghĩa, lục lọi những mảnh văn bản cổ như đi tìm xương khủng long trong đống tro tàn ngôn ngữ.
Nhưng khi được Nobel công nhận, chính những chữ nghĩa ấy bỗng trở thành văn chương lớn, những trò chơi trí thức trở thành thi pháp cách tân, sự lạnh lẽo là chiều sâu, cái kỳ quặc trở thành táo bạo.
Vậy Nobel phát hiện giá trị có sẵn hay tạo ra giá trị mà nó tuyên bố khi công nhận? Nếu giá trị chỉ trở thành giá trị trong cái nhìn của kẻ khác, liệu chủ thể có còn tự do trước cái nhìn ấy?
Vấn đề "tự do" và nguy cơ giải thể cấu trúc tinh thần trong kỷ nguyên số
Nguyên Hưng
Khái niệm tự do trong lịch sử triết học chưa bao giờ là một phạm trù cô lập. Bản chất của tự do chân chính không tồn tại độc lập, mà luôn được định vị bởi hai tọa độ cốt lõi: NĂNG LỰC TỰ NHẬN THỨC CỦA CHỦ THỂ và TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI ĐỒNG LOẠI. Tự do mà tách rời hai nền tảng này sẽ ngay lập tức tự phủ quyết chính nó, biến tướng thành sự tùy tiện vô chính phủ và đẩy xã hội vào trạng thái hỗn mang. Trong bối cảnh hiện nay, sự bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội đã tạo ra một môi trường kỹ thuật số đặc thù. Môi trường này cào bằng mọi tiếng nói theo một cơ chế thuần túy kỹ thuật, đồng thời triệt tiêu chiều sâu nhận thức và năng lực đối diện với thực tế. Hệ quả tất yếu là sự lan rộng của tâm lý bất tín vị kỷ, biến không gian mạng thành một đấu trường của những xung năng cấp thấp và đẩy nhanh quá trình tự giải thể của các cấu trúc tinh thần vốn định nghĩa nhân tính.
Cỏ
V. N.

Có một thứ trên đời này rất lạ: càng nhỏ bé, càng dễ bị người ta xem thường; càng âm thầm, càng ít được nhắc tới; vậy mà thiếu nó, cảnh vật chung quanh bỗng trở nên trống trải đến lạ lùng.
Đọc một bài thơ của Anne Carson
Nguyễn Đức Tùng

Hé lộ nơi giấu “hoa cái” (sọ đầu) vua Quang Trung ở Huế
Trần Viết Điền
Giữa tháng 9 năm 2016, trên báo Thanh Niên chúng tôi đã đăng bài Theo dấu tích 'hoa cái' vua Quang Trung: Tượng phỗng trước bệ thờ Miếu Đôi. Bài viết gồm hai phần. Phần một dựa vào những dữ kiện do Quốc sử quán triều Nguyễn, Nguyễn Đình Hoè, Phan Thuận An, Phan Quán, Đỗ Bang… cung cấp với độ tin cậy cao về tình trạng “hoa cái” của vua Quang Trung từ 1801 đến 1885. Phần hai trình bày cuộc rước tượng phỗng, nghi có “hoa cái” ở trong ruột tượng phỗng, vào năm 1944 từ Miếu Đôi làng Thanh Toàn lên Hải Cát để chôn sau lưng miếu Ông Hổ. Phần này dựa vào ký ức của cụ Hồng Hoài Lê Văn Hoàng, từng là thư ký Văn phòng Ngự tiền vua Bảo Đại, và ký ức dân gian làng Thanh Thuỷ Chánh.