Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Man Nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Man Nhiên. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

Cuộc đời các thị trấn

Anne Carson

LỜI NGƯỜI DỊCH

Anne Carson (sinh năm 1950) – tác giả vừa được Viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải Nobel Văn học năm 2026 – là nhà thơ, nhà tiểu luận, dịch giả và nhà nghiên cứu cổ học người Canada.

Giới phê bình nhận định các tác phẩm xuất sắc của bà là sự giao thoa giữa thi ca, văn xuôi, dịch thuật, văn học Hy Lạp cổ đại, thần thoại, triết học, tình yêu, nỗi đau và những trải nghiệm đương đại. Văn phong của bà nổi tiếng với việc cố ý xóa nhòa ranh giới giữa các thể loại văn học.

Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học 2026 cho Anne Carson “vì một sự nghiệp táo bạo, giàu sáng tạo, đối thoại tinh nghịch với truyền thống cổ điển và kiến tạo những hình thức mới cho văn chương đương đại” (“for her bold and inventive oeuvre that, in playful dialogue with the classical tradition, has created new forms for contemporary literature”).

Anne Carson xứng đáng được vinh danh vì bà đã biến truyền thống cổ điển từ một kho tàng được bảo vệ thành một đối thoại sống, và từ cuộc đối thoại ấy, bà đã tạo ra những hình thức văn chương mà trước bà chưa tồn tại – nơi thơ có thể là chú giải, chú giải có thể là tình ca, dịch thuật có thể là sáng tạo, và sự đọc có thể trở thành một hành động đạo đức lẫn thẩm mỹ.

Trong The Life of Towns, Carson không mô tả các “thị trấn” theo lối miêu tả; bà biến “town” thành một khái niệm thi pháp: một vị trí quan sát, một cách liên kết “pear” với “winter”, một không gian mà ký ức, tội lỗi, tình yêu hay Kinh Thánh có thể được sắp xếp lại. Văn xuôi mở đầu vừa là lý thuyết, vừa là thơ; các bài Town of… vừa là thơ, vừa là những phép thử triết học.

Đây không phải một bài thơ đơn lẻ mà là một chuỗi thơ–tiểu luận (poem sequence) gồm nhiều “town” độc lập, mỗi bài thường kết thúc bằng dấu chấm.

Một phần của The Life of Towns đã xuất hiện trên tạp chí Grand Street năm 1989, trước khi được tập hợp và mở rộng trong tập Plainwater.

Plainwater xuất bản lần đầu năm 1995, giai đoạn Carson đã là cổ học gia và đang khẳng định “lối viết lai giống”: thơ, tiểu luận, kịch đối thoại, chú giải và dịch thuật cùng tồn tại trong một cuốn sách.

Tác phẩm gồm năm phần, trong đó The Life of Towns là phần thứ tư. Nhiều nhà phê bình sau này xem đây là một trong những tác phẩm sớm định hình danh tiếng của bà.

The Life of Towns là một chuỗi thơ–tiểu luận được tổ chức như một bản đồ của những “thị trấn” tinh thần: mỗi “town” là một đơn vị ngắn, gần như tự trị, nhưng tất cả cùng thăm dò cách con người tạo ra ý nghĩa, ký ức, tình yêu và sự tách biệt.

Cấu trúc của nó không tuyến tính mà là mạng lưới biến thể: một ý niệm trung tâm – “town” – được lặp lại, dịch chuyển và làm lệch qua các tên gọi, thể loại và hệ hình văn hoá khác nhau.

Chuỗi tác phẩm mở đầu bằng một đoạn văn xuôi dẫn nhập (Introduction), sau đó là hàng loạt bài thơ ngắn mang tên Town of…, Memory Town, Judas Town, Bride Town…

Sự chuyển từ văn xuôi sang thơ không phải là chuyển thể loại đơn thuần: đoạn mở đầu đã hoạt động như một lý thuyết thi pháp thu nhỏ, còn các bài thơ là những “thực địa” để kiểm nghiệm lý thuyết ấy.

Có thể mô tả cấu trúc theo ba tầng:

Tầng khái niệm: “town” là ảo tưởng rằng mọi sự vẫn “hang together somehow” – rằng thế giới, ngôn ngữ và con người có thể liên kết.

Tầng phương pháp: “scholar” là người chiếm một vị trí quan sát; từ vị trí đó, những đường nét – nghĩa là ranh giới, hình dạng, ý nghĩa – hiện ra.

Tầng thực hành: mỗi bài thơ là một “town” được dựng lên bằng một hệ hình riêng: hội hoạ, Kinh Thánh, thần học, cổ điển Đức, thơ Nga, triết học Trung Hoa, ký ức riêng tư hay tình yêu thất bại.

Điểm quan trọng là Carson không cho “town” một định nghĩa cố định. Bà cho nó một quy tắc sinh thành: cứ một vị trí đọc, một khác biệt phiên định, một nỗi sợ, một ký ức hay một cái tên văn hoá được đặt vào quan hệ với cái khác, thì một “town” xuất hiện.

Chuỗi này báo trước những đặc điểm sau này làm nên dấu ấn Carson: cú pháp đứt gãy, dấu chấm dày đặc, đối thoại với cổ điển, sự quan tâm đến dịch thuật như một hành động sáng tạo, và việc đưa thân phận, tình yêu, tôn giáo, tang chế vào khuôn khổ tri thức.

Đặc biệt, câu “Your separateness could kill you unless I take it from you as a sickness” (Sự tách biệt của bạn có thể giết chết chính bạn, trừ phi tôi gánh lấy nó như một căn bệnh.) cho thấy “town” cũng là một mô hình về quan hệ: người khác luôn tách biệt, và sự tách biệt ấy có thể trở thành bệnh tật, chết chóc, nếu không được chuyển hoá thành sự chăm sóc, tưởng tượng hoặc đọc-hiểu.

Đó là lý do chuỗi thơ mở đầu bằng Lão Tử và kết thúc ở “God’s woods”: từ sự khác biệt ngôn ngữ đến kinh nghiệm về cái tuyệt đối, Carson luôn hỏi làm thế nào con người có thể ở cạnh nhau mà không xoá bỏ nhau.

Sức mạnh nghệ thuật của The Life of Towns nằm ở chỗ nó biến một hành động trí tuệ – đọc, chú giải, dịch, phân loại – thành một hành động thơ. Carson không viết “về” các town; bà dựng chúng bằng cú pháp, tên gọi, liên văn bản và những khoảng lặng.

Một ví dụ: Cụm từ “Bathsheba's Crossing” (đặt tên cho bài thơ thứ tư trong chuỗi The Life of Towns của Anne Carson) mang nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc, giao thoa giữa Kinh Thánh, lịch sử nghệ thuật hội họa và tư duy thi pháp độc đáo của tác giả.

Tiêu đề này trực tiếp lấy cảm hứng từ kiệt tác hội họa năm 1654 của danh họa người Hà Lan Rembrandt van Rijn mang tên Bathsheba at Her Bath (Bathsheba tắm) (hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Louvre, Paris).

Trong Kinh Thánh (Sách Samuel), Bathsheba là người phụ nữ xinh đẹp khiến vua David say đắm từ cái nhìn trên sân thượng, dẫn đến một câu chuyện đầy bi kịch về tội lỗi, sự phỉnh gạt và cái chết của người chồng Uriah.

Tuy nhiên, Rembrandt đã chọn một khoảnh khắc nội tâm vô cùng tĩnh lặng và phức tạp. Bathsheba ngồi đó một mình với thân thể trần trụi, trên tay cầm bức thư của vua David triệu tập bà vào cung, gương mặt bà thoáng buồn và chìm trong suy tư về định mệnh lẫn sự giằng xé đạo đức.

Trong cấu trúc thi ca của Anne Carson, từ "Crossing" không chỉ đơn thuần là tên một địa danh hay lối đi vật lý, mà mang tính biểu tượng cao. Carson biến bức tranh đứng yên của Rembrandt thành một không gian động (một “thị trấn” tinh thần). Nhân vật trong tranh dường như bước ra ngoài khung hình, vượt qua ranh giới giữa thế giới hội họa (trong phòng ở Amsterdam) và thế giới thực của người xem (“Đi ra từ một ý niệm để hướng về phía chúng ta”).

Trong bài thơ, Carson nhận ra sự đồng nhất tinh tế: Rembrandt dường như vẽ chính nỗi ngơ ngác, sự trải đời và hành trình nhọc nhằn của chính ông qua hình bóng người phụ nữ ấy.

“Crossing” là cột mốc bước ngoặt nơi cuộc đời Bathsheba thay đổi vĩnh viễn khi bức thư định mệnh được mở ra – một lằn ranh mong manh giữa sự ray rứt, đức tin, dục vọng và bi kịch nhân sinh. “Bathsheba's Crossing” có thể được hiểu là “Lối rẽ/Điểm giao định mệnh của Bathsheba” – nơi Anne Carson mượn không gian thị giác của hội họa để thám hiểm ranh giới mong manh giữa ý thức con người, nghệ thuật và những ngã rẽ không thể quay đầu trong cuộc đời.

Chuỗi sáng tác này vì thế là một mẫu mực của thi pháp Carson: học thuật nhưng không khô khan, cá nhân nhưng không tự thuật theo nghĩa thông thường, tôn giáo nhưng không giảng đạo, và cực kỳ chặt chẽ về hình thức trong khi liên tục phá vỡ cú pháp. Chính sự căng thẳng giữa “scholar” và “poet”, giữa “position” và “emptiness”, giữa “town” và “no town”, tạo nên sức sống của tác phẩm.

Nguyễn Man Nhiên chuyển ngữ Lời nói đầu (Introduction) và một số bài thơ ngắn trong chuỗi The Life of Towns, in trong tập Plainwater: Essays and Poetry (New York: Alfred A. Knopf, 1995; tái bản Vintage, 2000) của Anne Carson.

LỜI NÓI ĐẦU

Các thị trấn vốn là những ảo tưởng rằng mọi thứ đâu đó vẫn gắn kết bằng cách nào đó, quả lê của tôi, mùa đông của anh.

Tôi là một học giả nghiên cứu các thị trấn, xin Thượng đế hãy tán thưởng điều ấy. Việc giải thích những gì tôi làm vốn dĩ rất đơn giản. Một học giả là người biết chọn cho mình một chỗ đứng. Từ vị trí đó, một số đường nét bắt đầu hiện hình. Ban đầu, hẳn bạn sẽ nghĩ chính tôi đang tự tay vẽ nên những đường nét ấy; sự thật không phải vậy. Tôi chỉ đơn thuần biết đứng ở đâu để nhìn thấy những đường vốn dĩ đã nằm ở đó. Và điều bí ẩn thay – một điều vô cùng bí ẩn – chính là cách những đường nét ấy tự khắc họa nên chính nó. Trước khi có bất kỳ ranh giới, góc cạnh hay đức hạnh nào – ai là kẻ đã đặt ra câu hỏi? Thôi nào, đừng để việc chú giải cuốn chúng ta đi quá xa. Một học giả là người biết cách giới hạn bản thân trong đúng vấn đề đang hiện hữu.

Chất liệu tự khắc họa mình trong các đường nét ấy tạo nên một thị trấn. Nhìn theo cách này, thế giới đối với chúng ta, như ta vẫn nói, chính là một cuốn sách mở. Nhưng còn những dị bản thì sao? Chẳng hạn, hãy ngẫm về thị trấn được Lão Tử định nghĩa cho chúng ta qua chương 23 của Đạo Đức Kinh: “Theo Đạo thì đồng với Đạo; Theo Đức thì đồng với Đức; Theo Mất thì đồng với Mất. Đồng với Đạo, Đạo cũng vui tiếp đó; Đồng với Đức, Đức cũng vui tiếp đó; Đồng với mất, Mất cũng vui tiếp đó.” Nghe giống như một thị trấn đầy sức nặng, nơi một con người có thể vươn ra khỏi giới hạn bản thân, hoặc chạm trán chính mình, tùy theo lựa chọn của họ.

Thế nhưng, một học giả khác (Cao) lại giữ một chỗ đứng hoàn toàn khác về Thị trấn của Lão Tử. “Từ được dịch là “thất” xuyên suốt phần này không mang lại nhiều ý nghĩa”, Cao nhã ý nhắc nhở. “Rất có thể đó là một lỗi đọc nhầm tự dạng của chữ “thiên”.” Giờ đây, để tôi hoặc bạn có thể từ bỏ việc sống ở đây và bước đến đó – dù là Thị trấn của Lão Tử hay Thị trấn của Cao – chúng ta buộc phải làm rõ một số chi tiết, chẳng hạn như giọng điệu của Cao. Liệu ông đang thiếu kiên nhẫn, mang một nỗi buồn sâu thẳm, hay chỉ đơn thuần là đang trào lộng? Chỗ đứng bạn chọn đối với vấn đề này có thể sẽ kéo bạn tách rời khỏi tôi. Cứ thế, các thị trấn hình thành. Và rồi, các học giả xuất hiện.

Tôi không hề nói những điều vụn vặt. Sự tách biệt của bạn có thể giết chết chính bạn, trừ phi tôi gánh lấy nó như một căn bệnh. Sẽ thế nào nếu bạn mắc kẹt trong thị trấn nơi quả lê và mùa đông là dị bản của nhau? Bạn có thể ăn mùa đông không? Không. Bạn có thể sống sáu tháng trời bên trong một quả lê đóng băng không? Không. Nhưng có một nơi, tôi biết rõ nơi ấy, nơi bạn sẽ đứng đó và nhìn thấy quả lê cùng mùa đông song hành bên nhau tựa như những bức tường đứng cạnh sự tĩnh lặng. Bạn có thể tự chấm câu chính mình thành sự tĩnh lặng không? Bạn sẽ thấy những ranh giới bị cắt lìa khỏi bạn, lùi sâu vào một thế giới mang bản chất khác – trở lại chốn trống rỗng thực sự, theo cách gọi của một số người. Vâng, chúng ta chỉ là những vật thể giữa một cơn gió đã ngừng thổi, theo quan điểm của tôi. Có những thị trấn có quy tắc và những thị trấn bất quy tắc, có những thị trấn mang vết thương, những thị trấn tỉnh táo và những thị trấn được khắc ghi bằng sự mãnh liệt dữ dội; có những thị trấn dẫu vô dụng nhưng vẫn đầy nhiệt thành tiếp tục chiến đấu, có những thị trấn mà tuyết trượt khỏi mái nhà với một sức mạnh phũ phàng đủ để tước đoạt sinh mạng nạn nhân, nhưng tuyệt nhiên không có thị trấn nào trống rỗng (mà chỉ có những học giả trống rỗng) và chẳng hề có chỗ cho sự tiếc nuối. Giờ thì, hãy bước tiếp.

THỊ TRẤN CỦA TIẾNG CÀNH CÂY GÃY

Khuôn mặt họ, tôi ngỡ những lưỡi dao.

Cách họ chĩa thẳng vào tôi.

Và đứng đợi.

Thợ săn là kẻ lắng tai nghe.

Chăm chú vào con mồi đến mức nó giật phăng vũ khí.

Khỏi tay anh ta và đâm xuyên.

Chính nó.

THỊ TRẤN TRÊN LỐI BĂNG QUA RỪNG CỦA THƯỢNG ĐẾ

Hãy nói tôi nghe.

Anh có bao giờ thấy cánh rừng nào.

Sâu thẳm đến mức.

Mỗi cái cây là một từ ngữ, khiến tim anh ngừng đập?

Có lần tôi thấy một đám mây trên bầu trời Bolivia sâu thẳm.

Những ngọn núi đang co rúm lại, anh có bao giờ?

Nhìn vào nhanh đến mức thấy được từ bí mật.

Nằm sâu bên trong từ ngữ?

Như trong một toa tàu bỏ hoang.

Một chiều mùa đông nọ tôi đã thấy.

Từ để chỉ “rừng của Thượng đế.”

THỊ TRẤN BÊN LỐI RẼ CỦA BATHSHEBA

Bên trong một căn phòng tại Amsterdam.

Rembrandt vẽ một giọt sự sống ẩn sâu.

Giọt màu ông vẽ là kẻ lạ mặt của Rembrandt.

Hóa dạng một người phụ nữ gợn sóng.

Với nét trần trụi cô ấy đang mang.

Trên tay là một bức thư cô đang.

Hành trình.

Đi ra từ một ý niệm để hướng về phía chúng ta.

Làn bọt của cô ấy đến nơi.

Trước cả khi ông.

Vẽ kẻ lạ mặt của Rembrandt.

Như chính Rembrandt, ông phơi bày.

Sự ngơ ngác và đầu tóc bù xù của chính mình.

Tựa như vừa mới đặt chân đến.

Sau những chuyến đi.

Trên đường ray và những lối rẽ.

THỊ TRẤN PUSHKIN

Nơi đây có những lề luật.

Và tình yêu.

Và luật lệ đầu tiên chính là.

Tình yêu dành cho sự may rủi.

Rất có thể một vài lời lẽ của bạn là quặng ở đó.

Hoặc sẽ thế nào khi đôi mắt chúng ta chỉ còn là than hồng.

THỊ TRẤN KÝ ỨC

Trong mỗi người các bạn tôi vẽ.

Tôi tìm thấy.

Một địa điểm chôn lấp vật liệu phóng xạ.

Bạn nghĩ chìm sâu 8 dặm là đã đủ ư?

15 dặm?

140 dặm?

THỊ TRẤN VỀ CÁI CHẾT CỦA TỘI LỖI

Tội lỗi là gì?

Bạn hỏi.

Vầng trăng nhói qua chúng ta.

Bỗng chốc tôi nhìn thấy bạn.

Buông bỏ tội lỗi và bước đi.

Đen thẫm như một ngọn gió lướt qua cánh rừng.

THỊ TRẤN HÖLDERLIN

Anh thật điên rồ khi ôm nỗi buồn một mình.

Khi những cái giếng đã cạn khô.

Ánh sao nằm lặng dưới đáy.

Như một mảnh âm thanh.

Những trụ chống lao vút qua anh.

THỊ TRẤN CỦA MÙA XUÂN MỘT LẦN NỮA

“Mùa xuân lúc nào cũng như nó từng là.”

Một cụ già người Trung Hoa nói thế.

Mưa rít mạnh trên những khung cửa sổ.

Những niềm khao khát từ chốn xa xôi.

Đã chạm đến chúng tôi.

THỊ TRẤN JUDAS

Không giờ muộn không hàng cây không ánh sáng.

Không rặng ô-liu không những ổ khóa không trái tim.

Không trăng không rừng tối.

Không miếng bánh không tôi.

THỊ TRẤN CÔ DÂU

Bấu víu vào sắc đen ban ngày.

Như chiếc áo măng-tô trống hoác người giữa một trưa lạnh lùng rực rỡ.

Kẻ-Đòi-Hỏi đang chờ tôi.

THỊ TRẤN CỦA TÌNH YÊU KHẬP KHIỄNG

(Nhưng mọi tình yêu vốn dĩ đều khập khiễng)

Nếu anh ấy thực sự yêu tôi, anh ấy đã nhìn thấy tôi.

Đang áp trán đập vào khung cửa kính từ một ô cửa sổ tầng trên.

Louise Bourgeois, New Orleans (1946)

Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

Nghệ thuật – Nơi vết thương có hình hài

 Nguyễn Man Nhiên

Trong lịch sử mỹ học, nghệ thuật thường được ca ngợi như vương quốc của cái đẹp, của hình thức, của thiên tài và của tính độc sáng. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp cận nghệ thuật từ bình diện thẩm mỹ thuần túy, ta sẽ bỏ lỡ một trong những động lực sâu xa nhất của hành vi sáng tạo: nhu cầu tự bảo tồn đời sống tinh thần.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

Nhìn vào nghệ thuật của Louise Bourgeois: Maman (1999)

 Nguyễn Man Nhiên

Tác phẩm điêu khắc nổi tiếng nhất của Louise Bourgeois (1911-2010) mang tên Maman  (tiếng Pháp, có nghĩa là Mẹ). Thực hiện lần đầu tiên vào năm 1999 và trưng bày bên ngoài không gian các bảo tàng lớn trên thế giới, Maman  được xem là một trong những dự án nghệ thuật tham vọng và mang tính biểu tượng nhất trong sự nghiệp đồ sộ của nữ nghệ sĩ xuất chúng này.[1]

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Bức Absinthe Glass with Wild Flowers (Ly rượu ngải và những cành hoa dại; 1890) của Vincent van Gogh (1853–1890)

 Nguyễn Man Nhiên

Bức tranh[1] là một tĩnh vật giản dị: một chiếc ly thủy tinh xanh đựng những cành hoa dại đặt trên mặt bàn gỗ sáng, nền sau là mảng tường xanh nhạt. Nhưng chính trong sự giản dị ấy, Van Gogh đã biến cái bình thường thành một không gian nội tâm mãnh liệt.

Thứ Năm, 26 tháng 2, 2026

Nghệ thuật và sáng tạo: hành trình nội tại của nghệ sĩ

 Nguyễn Man Nhiên

Diễn ngôn từ các bậc thầy

Nghĩ về nghệ thuật, người ta hay tưởng tượng đến những khoảnh khắc “bừng sáng” của thiên tài: một ý tưởng độc đáo xuất hiện bất ngờ, rồi tác phẩm hoàn thành như “phép màu”. Nhưng thực tế hoàn toàn khác.

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

René Magritte và triết học của cái phi lý (2)

 Nguyễn Man Nhiên

 

Bản chất của sự Đồng nhất và Che giấu

 

Magritte nhiều lần trở lại với hình ảnh người đàn ông đội mũ quả dưa (bowler hat) như một ẩn dụ cô đọng cho con người hiện đại – đặc biệt là con người trong xã hội tư sản, nơi cá nhân vừa hiện diện như một chủ thể tự do, vừa bị hòa tan trong những chuẩn mực vô hình của đời sống tập thể. Trong tác phẩm Golconde (1953), vô số người đàn ông ăn mặc giống hệt nhau lơ lửng giữa không trung, rải khắp không gian đô thị. Tính chất siêu thực của bức tranh không nằm ở sự biến dạng hình thể hay cảnh tượng kỳ dị, mà ở chính sự lặp lại rợn ngợp của cái bình thường: mỗi nhân vật đều rõ ràng, cụ thể, nhưng tổng thể lại khước từ mọi dấu hiệu của cá tính hay khác biệt. Sự đồng nhất hóa ở đây không phải là một tai nạn, mà là một trạng thái tồn tại.

Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

René Magritte và triết học của cái phi lý (1)

 Nguyễn Man Nhiên

 

Khám phá chiều sâu triết học và mỹ học trong thế giới hội họa đầy nghịch lý của René Magritte (1898–1967), họa sĩ người Bỉ và là một trong những nhân vật trung tâm của Chủ nghĩa Siêu thực (Surrealism). Tuy gắn bó về mặt lịch sử với phong trào này, Magritte đồng thời cũng là một trường hợp đặc biệt: ông không chỉ mở rộng biên giới của hội họa, mà còn sử dụng hình ảnh như một phương tiện tư duy, nhằm chất vấn những giả định nền tảng về tri giác, ngôn ngữ và thực tại.

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Thơ Joyce Mansour

 Nguyễn Man Nhiên

 

Joyce Mansour (1928–1986) là một trong những tiếng nói độc đáo và gây tranh cãi nhất của chủ nghĩa Siêu thực Pháp sau Thế chiến II. Sinh ra trong một gia đình Do Thái-Ai Cập, lớn lên giữa nhiều ngôn ngữ và nền văn hóa, và trưởng thành về mặt thi ca tại Paris những năm 1950, Mansour đã mang đến cho phong trào Siêu thực một giọng điệu vừa bạo liệt vừa trữ tình, nơi thân thể nữ giới, dục vọng, cái chết và sự phạm thượng hòa trộn thành một mỹ học không khoan nhượng. Dù từng được André Breton nhiệt thành ủng hộ, tác phẩm của bà trong một thời gian dài vẫn nằm bên lề lịch sử văn học chính thống – một số phận trớ trêu nhưng cũng phù hợp với tinh thần nổi loạn triệt để mà thơ Mansour theo đuổi.

Tiểu sử và bối cảnh hình thành thi pháp

Joyce Mansour sinh năm 1928 tại Bowden, Anh, trong một gia đình Do Thái gốc Ai Cập. Tuổi thơ của bà gắn với Cairo – một không gian đa ngôn ngữ, đa tôn giáo và đa văn hóa, nơi tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Ả Rập cùng tồn tại. Trải nghiệm sống “giữa các thế giới” này đã sớm tạo nên ở Mansour một ý thức về sự lai ghép, về những ranh giới luôn ở trạng thái bất ổn – điều sau này trở thành một đặc điểm quan trọng trong thơ bà.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của Mansour với Henri Naggar kết thúc chóng vánh khi người chồng qua đời chỉ sau sáu tháng. Sự kiện này, cùng với cái chết của người mẹ mà Mansour vô cùng gắn bó, thường được xem là những cú chấn thương tinh thần định hình mối ám ảnh dai dẳng của bà với cái chết, sự mất mát và thân thể bị thương tổn. Năm 1949, bà kết hôn với Samir Mansour và có hai con trai. Chính trong giai đoạn sống tại Cairo, Mansour bắt đầu tiếp xúc với chủ nghĩa Siêu thực Pháp qua sách báo và các mối liên hệ văn hóa.

Năm 1953, Mansour chuyển đến Paris – trung tâm của đời sống Siêu thực hậu chiến. Cũng trong năm này, tập thơ đầu tay Cris ra mắt, lập tức gây chú ý vì giọng điệu khiêu khích và bạo liệt. Từ đây, Mansour nhanh chóng được nhìn nhận như một nhân tố quan trọng của “làn sóng Siêu thực thứ hai”, bên cạnh những tên tuổi như Jean-Louis Bédouin, Radovan Ivšić hay Benjamin Péret.

Cris và sự khai sinh của một giọng thơ cực đoan

Cris có thể được xem là tuyên ngôn thi ca đầu tiên của Joyce Mansour. Tập thơ này kết hợp một cách trần trụi giữa hình ảnh dục tính, bạo lực và biểu tượng tôn giáo. Thân thể trong Cris không phải là đối tượng để chiêm ngưỡng, mà là một chiến trường: bị xé rách, xuyên thủng, biến dạng. Hình ảnh Chúa Kitô – trung tâm của truyền thống biểu tượng Kitô giáo phương Tây – bị thay thế bằng hình ảnh người tình, kẻ xâm nhập, kẻ gây đau đớn và khoái cảm đồng thời. Sự hoán đổi này không chỉ mang tính phạm thượng, mà còn là một hành vi chiếm đoạt quyền lực biểu tượng từ một trật tự phụ hệ sang một diễn ngôn nữ tính cực đoan.

Jean-Louis Bédouin, trong khảo luận Médium: Communication surréaliste, đã ca ngợi Cris như một sự bùng nổ cần thiết của năng lượng Siêu thực. Với Mansour, thơ không còn là trò chơi trí tuệ hay những thực hành tự động thuần túy, mà là một hành vi sinh tử, nơi ngôn ngữ phải trả giá bằng máu, bằng thịt.

Dục vọng, cái chết và nữ tính không thuần hóa

Nhiều nhà phê bình từng so sánh Joyce Mansour với Charles Baudelaire hay Georges Bataille – và sự so sánh này không phải không có cơ sở. Nếu Baudelaire khám phá cái ác và cái đẹp trong trạng thái giằng xé đạo đức, nếu Bataille đẩy tư duy về dục vọng và cái chết đến giới hạn triết học, thì Mansour tiếp nhận những di sản ấy và tái cấu trúc chúng từ một vị thế nữ giới.

Thơ Mansour không “nữ tính” theo nghĩa truyền thống. Nó từ chối sự dịu dàng, sự thụ động hay vai trò làm đối tượng của cái nhìn nam giới. Thân thể nữ trong thơ bà là chủ thể của ham muốn, của bạo lực, thậm chí của sự tàn nhẫn. Ở đây, dục vọng không giải phóng con người khỏi cái chết; ngược lại, nó luôn kề cận cái chết, như hai mặt của cùng một xung năng nguyên thủy.

Chính vì thế, có thể xem Mansour như một “Bataille nữ giới”, hay một “Baudelaire không xấu hổ”, nhưng những nhãn mác này cuối cùng vẫn không đủ. Mansour không chỉ viết lại Siêu thực từ góc nhìn nữ; bà làm cho chính khái niệm nữ tính trở nên bất ổn, đáng sợ và không thể thuần hóa.

Joyce Mansour trong lòng nhóm Siêu thực Paris

Căn hộ của Mansour tại quận 16 Paris nhanh chóng trở thành một không gian gặp gỡ quan trọng của giới Siêu thực. Tại đây, bà cộng tác với những nghệ sĩ như Hans Bellmer, Enrico Baj, Ted Joans và nhiều gương mặt khác. Một trong những sự kiện đáng nhớ nhất diễn ra tại căn hộ này là màn trình diễn Exécution du testament du Marquis de Sade (1959) của Jean Benoît – thường được xem là một trong những tác phẩm trình diễn quan trọng nhất của Siêu thực hậu chiến.

André Breton bị cuốn hút mạnh mẽ bởi thơ Mansour và nhanh chóng trở thành người ủng hộ trung thành của bà. Tình bạn giữa hai người kéo dài cho đến khi Breton qua đời năm 1966. Mansour đã dành tặng hai tập thơ Carré Blanc và Les Damnations cho Breton – một cử chỉ vừa mang tính cá nhân, vừa xác nhận vị trí của bà trong trung tâm đời sống Siêu thực.

Lưu vong, lịch sử và cảm thức mất mát

Cuộc khủng hoảng kênh đào Suez năm 1956 buộc gia đình Mansour phải rời Ai Cập và định cư vĩnh viễn tại Paris. Biến cố chính trị này không chỉ là một sự kiện tiểu sử, mà còn góp phần gia tăng cảm thức lưu vong và mất gốc trong thơ bà. Mansour không hoài niệm Ai Cập như một quê hương lý tưởng; thay vào đó, thơ bà mang một nỗi u uất của kẻ bị cắt rời khỏi mọi nguồn cội ổn định.

Cái chết tiếp tục là một ám ảnh trung tâm trong các tập thơ sau này của Mansour, từ Les Gisants satisfaits đến Trous noirs. Nhưng cái chết ở đây không mang tính siêu hình trừu tượng; nó luôn gắn với thân thể, với sự phân hủy, với những lỗ hổng – cả vật chất lẫn biểu tượng.

Di sản và ảnh hưởng đương đại

Mặc dù từng là một nhân vật nổi bật trong nhóm Siêu thực, tác phẩm của Joyce Mansour sau khi bà qua đời dần rơi vào tình trạng tuyệt bản và ít được nghiên cứu. Phải đến những năm gần đây, cùng với sự quan tâm trở lại đối với các giọng thơ nữ bị lãng quên của thế kỷ XX, Mansour mới được tái khám phá.

Ảnh hưởng của bà có thể nhận thấy trong thơ của nhiều tác giả đương đại như Ariana Reines, Danielle Pafunda, Lara Glenum hay Kim Hyesoon, cũng như trong các thực hành thơ hậu-Siêu thực như Necropastoral và Flarf của Joyelle McSweeney. Những bản dịch tiếng Anh gần đây, đặc biệt là các tuyển tập Joyce Mansour: Essential Poems and Writing và Emerald Wounds, đã góp phần đưa giọng thơ cực đoan này đến với một thế hệ độc giả mới.

Joyce Mansour là một trường hợp đặc biệt trong lịch sử văn học thế kỷ XX: một nhà thơ vừa ở trung tâm vừa ở bên lề, vừa được tôn vinh vừa bị lãng quên. Thơ bà không dễ đọc, không dễ yêu, và càng không dễ thuần hóa. Nhưng chính trong sự cực đoan ấy, Mansour đã mở ra một không gian ngôn ngữ nơi thân thể nữ, dục vọng và cái chết có thể lên tiếng mà không cần xin phép. Đó là một di sản vẫn còn khả năng gây chấn động – không chỉ về mặt thẩm mỹ, mà cả về mặt tồn tại luận – đối với độc giả đương đại.

 

ANH ĐÂU BIẾT

Anh đâu biết khuôn mặt đêm của em

Mắt em như ngựa điên trong không gian

Miệng em vấy máu lạ

Da em

Những ngón tay chỉ trỏ của em đính cườm với niềm vui

Hãy hướng đôi lông mày của anh về phía tai em, bả vai em

Về miền quê rộng mở của xác thịt em

Xương sườn em thắt lại khi nghĩ đến điều đó

Rằng giọng nói của em có thể lấp đầy cổ họng anh

Rằng đôi mắt em có thể mỉm cười

Anh đâu biết bờ vai nhợt nhạt của em

Đêm

Khi ngọn lửa ảo giác của những cơn ác mộng gào thét

sự im lặng

và những bức tường mềm mại của thực tại ôm nhau

Anh đâu biết hương thơm những ngày em

đang chết dần trên lưỡi

Khi những kẻ thông minh đến với con dao nổi

Chỉ còn lại tình yêu kiêu hãnh của em

Chìm vào bùn ướt của màn đêm.

 

ANH MUỐN NGỦ CÙNG EM

Anh muốn ngủ với gối tay em bên cạnh

Tóc chúng ta đan vào nhau

Giới tính của chúng ta hòa quyện

Với miệng em làm gối.

Anh muốn ngủ cùng em quay lưng lại

Không hơi thở nào chia cắt chúng ta

Không lời nào làm chúng ta xao lãng

Không đôi mắt nào nói dối chúng ta

Không quần áo.

Để ngủ cùng em ngực kề ngực

Đổ mồ hôi

Tỏa sáng với hàng ngàn cơn run rẩy

Bị ăn mòn bởi quán tính điên cuồng sung sướng

Nằm trên cái bóng của em

Bị lưỡi em đập

Để chết trong hàm răng thỏ mục nát

Hạnh phúc.

 

LỬA BÙNG

Đêm bầu trời là một cuộc giao hoan cởi mở

Lửa ngủ say nước chết lặng

Cơ thể mất đi sức mạnh trước nửa đêm

Mong muốn thấy mình chết, nó đã chết

Thời gian chỉ là một hầm mộ

Đối với người thở hổn hển trong mê tín

Những xác chết nhớ về cái chết

Sau bốn mươi ngày sử dụng

Bụi chỉ làm ngạt thở những thứ đã lãng quên

Người chết thở

Ánh mắt của họ bị thủng

Miệng họ giãn ra bởi trò chơi điện

Của cái ngáp dài

Cái hắt hơi cuối cùng

Bởi tiếng hít và nức nở

Bởi tiếng nấc và ợ cuối cùng

Nếu tình yêu là con của mắt

Lửa là con của gỗ

Và gió là con của hư không

Ngay cả rừng cũng có thể hy vọng vào đám cháy trong bụi rậm

Có nỗi đau nào yêu hơn nỗi đau của nó

Hơn nỗi đau của tôi?

Giấm làm sống lại những vết thương cũ

Mất ngủ làm sắc nhọn những cành cây của ngôi sao

Một hơi thở quá đột ngột và bốc hơi

Nếu Chúa là một con diều

George Sand là cái quái gì vậy

 

XANH NHƯ SA MẠC

Hạnh phúc thay những kẻ cô đơn

Những kẻ gieo bầu trời trên bãi cát tham lam

Những kẻ tìm sự sống dưới lớp váy của gió

Những kẻ chạy thở hổn hển sau giấc mơ tan biến

Vì họ là muối của đất

Hạnh phúc thay những người canh gác trên đại dương sa mạc

Những kẻ theo đuổi loài cáo cát vượt qua ảo ảnh

Cánh mặt trời rụng lông nơi chân trời

Mùa hè bất tận cười nhạo ngôi mộ ướt

Và nếu một tiếng kêu lớn vang vọng qua những tảng đá nằm liệt giường

Không ai nghe thấy, không ai

Sa mạc vẫn gào thét dưới bầu trời dửng dưng

Đôi mắt cố định lơ lửng một mình

Như đại bàng lúc bình minh

Cái chết nuốt chửng sương

Rắn bóp nghẹt chuột

Người du mục trong lều lắng nghe tiếng thời gian vụn vỡ

Trên sỏi của chứng mất ngủ

Mọi thứ đều ở đó chờ đợi lời được nói ra

Nơi khác.

 

BÀI CA Ả RẬP

Con mắt rơi vào đêm lúc chết

Ôi tia sáng trắng điên cuồng của đôi cánh chúng ta không hề biết

Đắm mình trong sự im lặng, họ chạm tay vào gối

Hãy mở to đôi mắt tròn của bạn để nhìn vào màn đêm không cảm nhận

Người thợ dệt hoa huệ lạnh lẽo in lên đồng tử tôi

Tôi nhìn thấy bức màn chuyển động của chân trời lấp lánh trượt đi

và ai đang kích động

Giống như làn da run rẩy trên cơ thể trốn thoát

Cái bụng tôi căng lên đông cứng lại vì nỗi sợ hãi điên cuồng

Tôi hắt hơi nhưng không cử động

Và con mắt che phủ giấc mơ tôi đang bơi lội và lóe sáng

Con mắt xâm chiếm màn đêm của tôi

Hằng đêm dông bão

Mắt chói lóa với những bông hoa kỳ lạ

Mắt ngã bệnh với hình ảnh.

--------

Nguyễn Man Nhiên giới thiệu 5 bài thơ của Joyce Mansour, chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Pháp và bản dịch tiếng Anh: Vous ne connaissez pas (1960), Je veux dormir avec toi coude à coude (1955), Bleu comme le désert (1991), Chant arabe (1960), Spontaneous Fires (1970).

 

Jingshen You, Passion in the summer (2023)

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2026

Paul Gauguin – Chân dung tự họa

 Nguyễn Man Nhiên

Cuộc đời của Paul Gauguin (1848–1903), danh họa người Pháp, là một hành trình nghệ thuật phong phú, dữ dội và nhuốm màu huyền thoại trong lịch sử hội họa phương Tây cuối thế kỷ XIX. Cùng với Paul Cézanne và Vincent van Gogh, Gauguin là một trong những gương mặt có ảnh hưởng sâu sắc nhất của trào lưu Hậu-Ấn tượng (Post-Impressionism) – những người mở đường cho nghệ thuật Hiện đại thế kỷ XX.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2026

Edvard Munch và kiệt tác “The Scream”

 Nguyễn Man Nhiên

Bức tranh The Scream (Tiếng thét), sáng tác lần đầu năm 1893 (*), là tác phẩm nổi tiếng nhất của hoạ sĩ người Na Uy Edvard Munch (1863–1944), một trong những tên tuổi lớn của nghệ thuật hiện đại. Tác phẩm này thuộc loạt tranh The Frieze of Life của ông, khám phá những chủ đề nền tảng của đời sống con người: tình yêu, nỗi sợ hãi, bệnh tật, sự lo âu và cái chết. Trước đó, Munch từng vẽ bức Despair (Tuyệt vọng, 1892), được coi là tiền thân trực tiếp của The Scream, nơi ông bắt đầu tìm cách thể hiện sự xáo động của nội tâm qua phong cảnh.

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2025

Thơ Kim Yi-deum

 Nguyễn Man Nhiên dịch

NGƯỜI CHƠI ĐÀN GHI-TA TRÊN PHỐ

- “Đừng quay lại,” Mẹ

Một người đàn bà trên phố ôm chặt cây đàn ghi-ta. Như thể bà muốn ép bầu ngực mình vào đó. Bà cần phải gảy đàn và xin từng đồng tiền lẻ bằng mọi giá. Bà càng lo lắng hơn khi trời bắt đầu mưa. Vì bộ phận sinh dục của cây đàn ghi-ta chính là âm thanh, bà ấy bắt đầu đá con gái mình.

Thứ Hai, 9 tháng 6, 2025

Ad Reinhardt và những bức tranh đen

 Nguyễn Man Nhiên

Ad Reinhardt (1913–1967) là nghệ sĩ Mỹ tiên phong trong phong trào Trừu tượng và Tối giản. Loạt tác phẩm "Những bức tranh đen" (Black Paintings) của ông gồm các bức tranh gần như toàn màu đen, nhấn mạnh sự tinh khiết tuyệt đối của hội họa, có ảnh hưởng lâu dài đến Nghệ thuật Hiện đại.

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2025

Các nghệ sĩ trường phái New York, chủ nghĩa Biểu hiện Trừu tượng và tranh Hành động

 Nguyễn Man Nhiên

1. Sau Thế chiến II, khi cuộc sống nghệ thuật tiếp tục trở lại trong môi trường hậu chiến, nhiều nhà quan sát dần nhận ra rằng nghệ thuật mới thú vị nhất không còn bắt nguồn từ Paris nữa. Đúng hơn, nó được tìm thấy ở New York. Trung tâm của năng lượng đã dịch chuyển. Một số phát triển đã mở đường cho sự nở rộ của nghệ thuật tiên tiến ở Mỹ, chẳng hạn sự thành lập của Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (MoMA) vào năm 1929.

Thứ Hai, 2 tháng 6, 2025

Quả Chuối của Andy Warhol – biểu tượng tiêu biểu và đa nghĩa của nghệ thuật đại chúng

 Nguyễn Man Nhiên


Năm 1967, nghệ sỹ nổi tiếng của trào lưu Pop Art Mỹ, ANDY WARHOL (1928-1987) đã thiết kế một trong những bìa album nhạc mang tính biểu tượng nhất của mọi thời đại, nổi bật với hình ảnh một quả CHUỐI màu vàng đơn giản, cho bản thu âm đầu tay của nhóm nhạc rock THE VELVET UNDERGROUND, mà lúc ấy ông đang là người quản lý.

Thứ Sáu, 16 tháng 5, 2025

Từ vựng nghề lưới đăng – một vốn quý trong kho tàng ngôn ngữ, tri thức, văn hóa dân gian của ngư dân Khánh Hòa

 Nguyễn Man Nhiên

 

Trước đây, lưới đăng là nghề đánh bắt cá có quy mô lớn, năng suất và lợi tức cao nhất trong các nghề biển ở Khánh Hòa. Cùng với những tục lệ thờ cúng kỳ lạ, những tập quán kiêng cữ đặc biệt, trong quá trình giao tiếp cũng như khi hành nghề, ngư dân lưới đăng đã sáng tạo và sử dụng một hệ thống từ vựng rất phong phú và độc đáo, phản ánh đặc trưng nghề nghiệp và mang đậm sắc thái dân gian. Trải qua thời gian, hệ thống từ vựng này đã trở thành một vốn quý trong kho tàng di sản văn hóa truyền thống của địa phương.

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2025

Sách, chì và giả kim thuật của Anselm Kiefer

 Nguyễn Man Nhiên

Anselm Kiefer

Anselm Kiefer (sinh năm 1945) là một trong những nghệ sĩ đương đại có tầm ảnh hưởng lớn nhất của nước Đức, được biết đến với sự nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử, ký ức và thần thoại, đặc biệt là quá khứ phức tạp của quốc gia này. Kiefer khám phá những chủ đề như bản sắc Đức, thảm họa Holocaust và sự phức tạp của ký ức văn hóa, thường lấy cảm hứng từ văn học, thuật giả kim và triết học.

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2025

Người đi bộ dọc theo con tàu biến mất

 Nguyễn Man Nhiên

 

[1]


thêm đen vào đêm

thêm tôi vào em


không ai thắp sáng đèn đường

tôi lẻn đi với một con đom đóm


gác chuông nhẹ nhàng boong giờ muộn

tôi cải trang thành một khổ thơ tình


những bờ ao ẩm ướt là tất cả ký ức tôi

người con gái ngồi khép đùi như bụi gai mắc cỡ


bên kia dãy núi là bờ vực của thiên tai

tình yêu tôi như hồ nước xanh điềm tĩnh


đi dưới những cành đen

dành cho nhau bóng tối