Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tống Văn Công. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tống Văn Công. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 20 tháng 6, 2019

Gần 30 năm trước, Lao Động Chủ Nhật đã làm cuộc “cách mạng báo chí cách mạng” (kỳ 1)

Nhân 21/6, ngày được gọi là “ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam”, tôi nhớ lại những ngày sát cánh với các đồng nghiệp trong tờ báo đầu tiên đã làm “cuộc Cách mạng nền báo chí Cách mạng” vào tháng 12 năm 1989. Tuy bị đánh quỵ vào năm 1993 từ một quyết định của Bộ Chính trị ĐCS VN do e sợ tác động “diễn biến hoà bình” của tờ báo, chỉ trong 5 năm tung hoành với một ê kíp được nhà báo Lý Quý Chung (cây bút thể thao nổi tiếng Sài Gòn trước 1975) nhận xét là “đội hình đẹp như mơ” (gồm một số cây bút tên tuổi Sài Gòn cũ, một số nhà báo tài năng của miền Bắc, có cả hai “tên” vừa đi tù về, hihi), báo LĐCN đã tạo bước chuyển không thể quay lui của báo chí “chính thống”: có phần bám sát thực tế xã hội, dám nói thật một số điều (tuy còn xa sự thật), phần nào nói tiếng nói của dân chứ không phải chỉ của “lãnh đạo”.

Trong 30 năm làm báo “chính thống”, đó là những năm tôi thấy đắc ý vì được “làm báo” đúng nghĩa.

Xin chia sẻ với các bạn vài hồi ức của những người trong cuộc.

Hoàng Hưng

BÀI I: TRÍCH HỒI KÝ “ĐẾN GIÀ MỚI CHỢT TỈNH” CỦA NGUYÊN TBT TỐNG VĂN CÔNG

Ở thập kỷ 80 hầu hết các báo ở Trung ương trong đó có báo Lao Động đều được bù lỗ từ tiền của ngân sách. Ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động giao khoán cho Ban biên tập báo Lao Động “định mức số tiền được phép lỗ”. Cuối năm nếu số tiền bị lỗ thấp hơn định mức thì được coi là “lãi” và được thưởng vì đã “có lãi”! Tờ báo được mua từ quỹ công đoàn, hoàn toàn không bán được ở các sạp báo ngoài thị trường.

Tôi đề nghị với Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Phạm Thế Duyệt 2 điều và được ông chấp nhận:

– Nếu báo Lao Động thoát khỏi bù lỗ thì được phép chi trả nhuận bút vượt quy định của Bộ Thông tin – Văn hóa và trả phụ cấp cho phóng viên không theo quy định của ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

– Tổng biên tập có quyền sắp xếp lại nhân sự của cơ quan báo Lao Động: giảm biên chế, bãi chức vụ những người không đủ năng lực; sau khi có đủ khả năng tài chính tự trang trải chi thu thì có quyền tăng biên chế theo sự cần thiết để phát triển tờ báo

Khi tôi nhận làm tổng biên tập, tổ chức nhân sự của báo là một hệ thống thứ bậc “sống lâu lên lão làng”, hoặc “kinh qua trường Đảng”. Tất cả các trưởng ban, trưởng phòng đều là đảng viên “4 tốt”, đã học qua trường Đảng, nhưng không đủ năng lực để đảm đương chức vụ. Có những trường hợp kỳ quặc như: Anh V. là lái xe lâu năm được đề bạt làm Chánh văn phòng, anh Q. chữa morat lâu năm được đề bạt làm Tổng thư ký tòa soạn, cô B. đánh máy lâu năm được lên phóng viên đặc biệt (phóng viên có 6 bậc, trên bậc 6 là phóng viên đặc biệt ngang với bậc chuyên viên của công chức). Có ba phóng viên có năng lực hơn hẳn các trưởng ban, nhưng do chưa vào Đảng nên không được đề bạt là: Phạm Huy Hoàn, Trần Đức Chính, Nguyễn An Định. Đảng ủy cơ quan báo Lao Động (đều là các trưởng ban, trưởng phòng) viện mọi lý do để không cho 3 người này vào Đảng vì sợ họ vượt qua mình: Anh Chính bị cho là tự cao, tự đại; anh Hoàn bị loại vì xuất thân từ gia đình tư sản; anh Định có bố theo đạo công giáo. Tôi quyết định đề bạt 3 anh này lên trưởng ban. Sau khi họ làm tốt chức trách của trưởng ban, Đảng ủy không có lý do chính đáng để ngăn họ vào Đảng. Sau này Phạm Huy Hoàn kế nhiệm tôi. Sau khi nghỉ hưu, anh làm Tổng biên tập báo mạng Dân Trí cho đến nay. Anh Trần Đức Chính làm Phó Tổng biên tập báo Lao Động, sau đó là Tổng biên tập báo Nhà báo và Công luận, hiện nay anh vẫn đều đặn có bài trào lộng ở mục “Nói hay đừng” trên báo Lao Động với bút danh Lý Sinh Sự nổi tiếng. Nguyễn An Định là cây bút tài hoa, nhưng mất sớm. Trong số hơn 30 phóng viên đã phải loại ra 10 người không biết viết! Để anh em này yên tâm ra đi, chúng tôi nâng lương cho mỗi người lên hai bậc. Việc tinh giản bộ máy như thế này là chưa từng có. Đồng thời với việc tinh giản bộ máy, chúng tôi tuyển dụng những cây bút có nghề.

Lúc ấy Sài Gòn đã có ba tờ báo ngày và đều tỏ ra có sức sống ở thị trường hơn hẳn các tờ báo ở Trung ương. Trong đó có tờ Tuổi Trẻ, trước năm 1981 còn là tờ báo yếu nhất (năm 1981, báo Sài Gòn Giải phóng 90.000 tờ/kỳ; Báo Phụ nữ Thành phố và Công nhân giải phóng 25.000tờ/kỳ; Tuổi Trẻ 10.000 tờ/kỳ). Sau khi báo Tin Sáng bị đình bản, các nhà báo Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Võ Văn Điểm về báo Tuổi Trẻ, biến tờ báo này trở thành tờ báo đi đầu đổi mới. Lẽ ra các nhà báo này phải được quý trọng, nhưng ngược lại Thành đoàn và ban biên tập Tuổi Trẻ thường tỏ ra không mặn đối với họ, những người xuất thân từ chế độ cũ thường bị BanTuyên huấn Đảng và cơ quan an ninh săm soi. Đó là thời cơ để chúng tôi “trải thảm” mời các bạn ấy về báo Lao Động. Anh Hữu Tính trưởng cơ quan miền Nam được giao nhiệm vụ tiếp xúc mời mọc các anh. Nhiều nhà báo giỏi muốn rời Tuổi Trẻ sang với chúng tôi: Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Huỳnh Dũng Nhân, Quang Đồng, Kim Phi, Phan Tùng. Tất cả các anh này đều yêu cầu tôi nhận thêm anh Hồng Đăng vừa rời nhiệm vụ trợ lý báo chí của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Anh em đề nghị như vậy có lẽ vì họ biết tôi có chỗ rất yếu về chính trị là không được lòng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh. Tôi bảo họ ở đây đang thừa cán bộ chính trị, chỉ cần người giỏi nghề như các anh. Anh Lý Quý Chung bảo: “Hồng Đăng không phải chỉ là cán bộ chính trị mà cũng rất giỏi nghề. Chúng tôi cần có anh ấy”. Anh Hoàng Thoại Châu thuyết phục tôi gần một tiếng đồng hồ để tôi tin rằng Hồng Đăng tương lai sẽ là một “ngôi sao lãnh đạo báo chí cách mạng”. Tôi miễn cưỡng nhận Hồng Đăng vì chiều ý anh em. Tôi không lường được anh này rất có ý thức lợi dụng “gót chân Achille” của tôi là bị Nguyễn Văn Linh ghét và các anh giỏi nghề đều có vấn đề về lý lịch: Lý Quý Chung là Bộ trưởng Chính phủ Dương văn Minh, Trần Trọng Thức là sĩ quan, biên tập viên Việt Tấn xã, nhà thơ Hoàng Hưng đã bị tù 3 năm, họa sĩ Chóe vừa ra tù sau 10 năm...

Bằng sự từng trải nghề nghiệp, Lý Quý Chung nhận xét theo ngôn ngữ bóng đá: “Báo Lao Động là một đội hình đẹp như mơ”! Lý Quý Chung thiết kế tờ báo Lao Động Chủ Nhật với sự góp ý của Trần Trọng Thức. Trong buổi họp trước khi in báo, ông Nguyễn Văn Dòng giám đốc Nhà in chân thành góp ý: “Tờ báo ăn khách hay không chủ yếu là do nội dung, chứ không phải hình thức Các anh chủ trương in 4 màu thì giá thành tờ báo rất cao, bán mắc, khó lòng được bạn đọc chấp nhận”. Trái lại, tất cả chúng tôi tin rằng với nội dung hấp dẫn, bạn đọc sẽ vui lòng bỏ thêm tiền để nó có hình thức đẹp, làm một bó hoa trao cho bạn đọc ngày chủ nhật.

Số báo thứ 8 ra ngày 11–3–1990 đưa tới bước ngoặt khi đăng bài “Xưởng nước hoa Thanh Hương tồn tại đến bao giờ?” nói về chuyện huy động vốn 19 tỉ đồng với lãi suất 14% trong khi sản xuất thu lãi chưa tới 2 triệu đồng/ tháng của Nguyễn Văn Mười Hai. Loạt bài về nước hoa Thanh Hương đã đưa số lượng in của tờ báo tăng vọt. Lao Động Chủ Nhật thắng lớn đưa tới quyết định xuất bản ba kỳ báo / tuần, cũng rất thành công. Cả ba kỳ báo đều phát hành ra sạp trên toàn quốc với số lượng cao nhất trong các báo Trung ương. Tôi từ chối ứng cử vào Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động, để đề cử người trẻ tuổi Hồng Đăng. Hồng Đăng đắc cử vào Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động với số phiếu rất cao. Cuối năm 1993, tôi nói với Hồng Đăng, mình rất yên tâm để nghỉ hưu vì đã có chú kế nhiệm.

Vẫn biết quyền lực làm tha hóa con người, nhưng ở trường hợp Hồng Đăng thì vừa “đỗ ông nghè đã đe hàng tổng.” Sau Đại hội Công đoàn toàn quốc khoảng hai tháng, tôi vào Sài Gòn thì hôm sau, bốn anh Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Nguyễn Hữu Tính yêu cầu gặp riêng. Mỗi người kể một số biểu hiện không hay của Hồng Đăng. Nói chung là hách dịch, độc đoán, không minh bạch trong thu, chi. Cuối buổi gặp, anh Lý Quý Chung lại đề nghị, khi góp ý với Tám Đăng xin anh giữ kín chuyện bốn anh em chúng tôi gặp anh hôm nay. Trong “Hồi ký Không tên”, khi nhắc lại chuyện đổ vỡ của tập thể chủ chốt báo Lao Động, anh Lý Quý Chung viết “tôi cho rằng trong cương vị tổng biên tập, anh Tống Văn Công thiếu sự quyết đoán và không kịp thời chận đứng những lệch lạc trong nội bộ, khiến cho con đường phát triển độc đáo của tờ báo – một tờ báo mang tính đột phá về nghề nghiệp ở thời điểm đó – bị khựng lại giữa lúc đầy hưng phấn”. Cái lỗi “không kịp thời chận đứng” của tôi có một phần từ yêu cầu “giữ kín” của anh!

Cuối năm 1993 tôi cao hứng làm một bài thơ và nộp bài cho nhà thơ Hoàng Hưng Trưởng ban Văn hóa – Văn nghệ, trước khi ra Hà Nội. Trong khi làm báo Xuân, Lý Quý Chung vẫn hay gọi điện cho tôi tán chuyện. “Tán” với nhau một lúc, tôi chợt hỏi, bài thơ của mình có được Hoàng Hưng duyệt cho vào báo Xuân không? Lý Quý Chung đáp có, nhưng không phải vào báo Xuân mà là báo Tết. Ngưng mấy giây, anh hỏi thêm, anh thấy sao? Tôi nói, được vô báo Tết cũng khoái, nhưng vô báo Xuân thì khoái hơn. Chung nói, thế à? Không ngờ sau đó anh đưa bài thơ vô báo Xuân. Trong cuộc họp cuối năm, Hồng Đăng đã gay gắt phê bình Lý Quý Chung là “vô tổ chức, vô kỷ luật, tùy tiện đưa bài thơ đã được người chủ biên xếp vào báo Tết chuyển qua báo Xuân mà không xin ý kiến”. Lý Quý Chung trả lời, anh thấy không cần xin ý kiến là vì: 1/ bài đã được duyệt, tức là nội dung không có vấn đề; 2/ bài không hề kém những bài đã được chọn cho trang thơ báo Xuân. Đến đây thì Hồng Đăng nổi nóng, dùng những từ ngữ mà Lý Quý Chung gọi là “xài xể”. Sở dĩ Lý Quý Chung quá bức xúc là vì trước đó một tuần có một việc xảy ra khi Hồng Đăng đi vắng, anh Chung trực tiếp báo cáo ra Hà Nội cho tôi. Biết chuyện này, Hồng Đăng đã to tiếng phê bình anh Chung ngay giữa sân cơ quan, “từ nay ông đừng làm việc với tôi mà cứ trực tiếp với Hà Nội”!

Tết năm 1994, từ Hà Nội tôi vừa về tới Sài Gòn thì các anh Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Hoàng Thoại Châu, Nguyễn Hữu Tính yêu cầu gặp và đưa ra yêu cầu: Cả bốn người không thể cộng tác với Hồng Đăng, nếu tổng biên tập chọn Hồng Đăng thì ngay ngày mai cả bốn người xin thôi việc. Tôi gặp Hồng Đăng bàn cách hòa giải. Không ngờ vừa nghe nửa chừng, anh đứng lên nói to, “anh bảo cho bốn anh đó biết để họ yên tâm, ngay bây giờ, tôi thôi việc”! Nói xong, anh bước nhanh ra cửa. Tôi gọi giật lại, “Chú Tám, chú nên bình tĩnh cùng tôi hòa giải với anh em”. Hồng Đăng xua tay rồi đi nhanh không ngoái lại. Mồng 4 Tết, tôi phải ra Hà Nội để kịp dự cuộc họp do Ban Tư tưởng Văn hóa triệu tập. Hai hôm sau, khoảng 9 giờ tối, Hồng Đăng gọi điện thoại: “Anh ơi, tôi gọi để báo với anh một tin quá bất ngờ. Bên an ninh người ta phát hiện là ở cơ quan mình có một âm mưu chính trị diễn biến hòa bình nhằm vô hiệu hóa tôi, người mà họ cho là có vai trò 'gác cổng chính trị'! Theo cơ quan an ninh thì người chủ mưu vụ này là Lý Quý Chung”. Tôi không thể ngờ Hồng Đăng có thể phản đòn bằng cách vu khống chính trị bẩn thỉu như vậy. Dù rất tức giận, nhưng tôi cũng cố ôn tồn: “Chú Tám à, mấy anh em này vốn là những người rất quý chú. Chú cũng là người nhiều năm qua có nhận xét rất tốt về họ khi làm việc với cơ quan an ninh. Nay dù họ bất mãn, có phản ứng quá đáng, nhưng chú là người lãnh đạo, trước hết nên tự xét mình và nên rộng lượng đối với anh em, không nên đánh lại anh em bằng đòn chính trị! Tôi không thể đồng tình với chú trong chuyện này”. Hồng Đăng đáp: “Anh ơi, tại sao anh lại nói như vậy, tôi xin nhắc lại, đây là phát hiện của cơ quan an ninh. Tôi vừa mới biết đã vội báo ngay cho anh”. Tôi nói, chúng ta dừng câu chuyện ở đây để hai anh em mình cùng suy nghĩ, sau 30 phút tôi sẽ gọi lại chú. Sau này tôi mới biết, ngay hôm tuyên bố bỏ việc về nhà, Tám Đăng gọi hai anh cán bộ báo Quân Đội Nhân Dân ở bộ phận phía Nam đã nhiều năm làm công việc chữa morat cho tờ Lao Động Chủ Nhật, bàn cách tố giác “âm mưu chính trị” tới Cục 2 (từ năm 1995 là Tổng cục 2) và ông Lê Khả Phiêu, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng và ông Nguyễn Văn Linh cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng. Từ đó đưa tới cuộc họp của Bộ Chính trị do Tổng bí thư Đỗ Mười chủ trì, đưa ra kết luận 4 điểm: “1– Đội ngũ báo Lao Động do Tống Văn Công tập hợp không đảm bảo an ninh chính trị. 2– Từ ngày Tống Văn Công làm tổng biên tập có nhiều loạt bài làm Bộ Chính trị không yên tâm. 3– Báo Lao Động là cơ quan ngôn luận của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tại sao Tống Văn Công đặt phòng thư ký tòa soạn ở Sài Gòn? 4– Hiện nay có tố giác đang xảy ra âm mưu diễn biến hòa bình.

Dừng nói với Hồng Đăng, tôi gọi điện thoại cho anh Khổng Minh Dụ, Cục phó A 25. Gia đình cho biết anh Dụ còn ở cơ quan. Tôi gọi lên cơ quan. Sau khi nghe tôi kể, anh nói, giờ này tôi còn ở cơ quan là để giải quyết những chuyện chính trị, nhưng không phải của báo Lao Động. Ở báo Lao Động chỉ là mất đoàn kết nội bộ, chứ chả có chính trị chính em gì cả. Nghe vậy tôi có phần yên tâm, nhưng lại nghĩ, Hồng Đăng có thể đã đánh động tới Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Nguyễn Văn Tư, tôi liền đến nhà ông. Ông Tư mở cửa, dưới ánh điện, mặt ông đỏ rực vẻ hết sức căng thẳng nói, tôi định gọi anh thì may quá, anh đã tới. Tôi hỏi lại, chú Tám Đăng vừa gọi cho anh phải không? Anh yên tâm, anh Khổng Minh Dụ cục A 25 vừa cho tôi biết, ở báo Lao Động chỉ là mất đoàn kết, chẳng có vấn đề chính trị chính em gì cả. Ông Tư lắc đầu, không phải từ A 25! Đây là Cục 2 tình báo quân đội, họ đã báo cáo với Bộ chính trị! Anh gọi điện ngay cho Hồng Đăng để tôi nói chuyện. Tôi quay điện thoại trên bàn ông Tư. Vợ Hồng Đăng trả lời, anh Công à, anh Tám đi vắng, sáng mai anh hẵn gọi nha. Tôi bảo, cô đi tìm chú Tám ngay, bảo anh Tư cần nói chuyện. Nghe vậy vợ Hồng Đăng vội vã gọi to, anh Tám ơi, dậy, dậy nói chuyện với anh Tư. Thì ra, sau khi bắn mũi tên “chính trị”, chú ta đi ngủ, không cần nói gì với tôi nữa. Ông Tư chỉ nói một câu: Sáng mai chú phải đến cơ quan, ngày kia, tôi với anh Công sẽ vào. Ông Tư họp cơ quan miền Nam báo Lao Động, cho biết ông đã nhận được nhiều dấu hiệu mất đoàn kết trong anh em, nên muốn được nghe ý kiến từng người. Sau hai tuần, nghe ý kiến tất cả anh em, ông Tư họp cơ quan nói rõ nhận xét của mình: Không có âm mưu chính trị nào cả mà chỉ do mất đoàn kết nội bộ. Nguyên nhân là do anh Tống Văn Công quá tin tưởng, giao quyền cho anh Hồng Đăng rộng quá mà thiếu sự kiểm soát. Anh Hồng Đăng lạm quyền, độc đoán, không tôn trọng anh em, hoạt động kinh doanh ngoài tờ báo không minh bạch. Từ ngày mai, anh Công phân công lại tòa soạn, sau đó từng thành viên trong ban biên tập phải tự kiểm điểm trách nhiệm của mình về tình trạng mất đoàn kết nghiêm trọng hiện nay.

Tôi nói với Hồng Đăng, vì mấy anh em ở ban thư ký tòa soạn không chịu cộng tác với chú, nên tạm thời chú làm việc ở vòng ngoài, bao giờ hòa giải với nhau xong tôi sẽ đưa chú trở lại vị trí cũ. Tám Đăng phản ứng rất ngớ ngẩn, anh ạ, tôi xin nhắc anh, chức vụ của tôi là do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam bổ nhiệm đấy. Tôi bảo, chức vụ của chú là do tôi đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động bổ nhiệm, phó tổng biên tập là người giúp việc cho tổng biên tập, có đúng thế không? Hồng Đăng cười gượng. Nhưng sau đó, anh ta tiếp tục xui giục một số người thân cận gây rối. Loan truyền tin tức về Cố vấn Nguyễn Văn Linh đang rất quan tâm đến người trợ lý cũ của mình bị vô hiệu hóa. Ngấm ngầm vận động anh em ký tên vào bản kiến nghị gửi lên Trung ương Đảng yêu cầu khôi phục vai trò người “gác cổng chính trị” ở báo Lao Động. Phan Tùng trưởng ban Quốc tế (nhân vật mà trước đó 2 năm nhà văn Bùi Việt Sĩ cho là có nhân tướng phản phúc) viết lá thư hướng dẫn cô Thanh Vân nhân viên ban thư ký tòa soạn cách gài bẫy Tổng thư ký Tòa soạn Lý Quý Chung bằng bản tin về vụ Thiên An Môn. Cô Thanh Vân xem thư xong đã xé nhỏ ném vào sọt rác. Anh Trần Thức (nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm Huế, lúc đó làm công việc sửa morat) nhìn thấy, đã moi từng mảnh nhỏ của lá thư, dán lại trên trang giấy, nộp cho Tổng biên tập. Tôi gọi Phan Tùng, đưa lá thư bị xé đã được dán lại, yêu cầu anh viết bản tự kiểm điểm nói rõ anh viết lá thư này nhằm mục đích gì. Phan Tùng không tự kiểm điểm mà viết bản tường trình kể rằng mình nhận nhiệm vụ do Đảng cấp trên giao nhằm phát hiện bọn âm mưu diễn biến hòa bình trong tờ báo. Tôi bảo, Phan Tùng ghi rõ tên người thay mặt Đảng cấp trên chỉ đạo anh làm việc này, tôi sẽ xem anh là người có công làm nhiệm vụ đặc biệt cho Đảng, tuy có sơ suất. Nếu anh không nói được tên người chỉ đạo thì ngay ngày mai tôi mời họp chi bộ đuổi anh ra khỏi Đảng, sau đó cho anh hưởng ba tháng lương để đi tìm việc nơi khác. Phan Tùng không thể tin rằng tôi là một kẻ có tên trong sổ đen vì âm mưu diễn biến hòa bình, lại có thể đuổi ra khỏi “Đảng quang vinh” một người có lý lịch như anh ta: Nguyên chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia, con rể ông Phan Văn Dĩnh Tổng cục trưởng Tổng cục thuế, cánh tay phải của nguyên trợ lý báo chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh! Phan Tùng nộp bản tường trình mới khẳng định: “không thể công khai tên của đồng chí cấp trên, vì đó là nguyên tắc của Đảng”. Tôi họp đảng bộ báo Lao Động cả miền Bắc và miền Nam, chỉ trừ 3 phiếu của Phan Tùng, Tám Đăng, Tư Hạnh (vợ Tám Đăng), còn lại đều biểu quyết khai trừ Phan Tùng ra khỏi Đảng. Sau đó, Phan Tùng xin về Liên hiệp Hợp tác xã thành phố Hồ Chí Minh.

Đoàn kiểm tra của Ủy ban kiểm tra thuộc Tổng Liên đoàn Lao động kết luận các hoạt động kinh tế ở cơ quan báo Lao động thường trú Miền Nam do Hồng Đăng trực tiếp điều hành có 5 sai phạm nghiêm trọng: Mua bán đất Cầu Tre vi phạm luật đất đai; mua bán ở phòng kinh doanh và thu chi tiền quảng cáo không minh bạch. Đảng bộ báo Lao Động quyết định khai trừ Hồng Đăng ra khỏi Đảng và được Đảng ủy cơ quan Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chấp nhận. Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động quyết định cách chức phó tổng biên tập và buộc thôi việc đối với Hồng Đăng. Suốt hai tháng thực hiện việc “kiểm điểm”, số đông anh em, nhất là các cán bộ chủ chốt của tờ báo quan tâm cách xử lý đối với tôi. Lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động biết điều đó nên đã luôn trấn an là “anh Công sẽ còn tiếp tục làm việc” và tổ chức thăm dò xem những ai sẽ nghỉ việc nếu tôi bị buộc phải nghỉ hưu. Ngày 9 tháng 10 năm 1994, anh Nguyễn Hữu Tính trưởng cơ quan miền Nam báo Lao Động có thư báo cáo Tổng Liên đoàn Lao động là đã có 19 người gặp anh “bày tỏ sẽ nghỉ việc ngay”. Trong đó có Lý Quý Chung tổng thư ký tòa soạn, Trần Trọng Thức trưởng ban kinh tế, Hoàng Thoại Châu (bút danh Ba Thợ Tiện), họa sĩ Chóe, Lê Xuân Tiến trưởng ban thể thao, Đinh Quang Hùng trưởng ban in ấn và phát hành báo, Lưu Trọng Văn cây bút phóng sự điều tra sắc bén. Từ danh sách này bà Hoàng Thị Khánh phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động chọn mời 4 người mà bà cho là quan trọng nhất đối với chất lượng tờ báo là Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức, Chóe, Ba Thợ Tiện để “công tác tư tưởng”. Bà nói tờ báo không phải của riêng anh Tống Văn Công mà nó là của giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn.

Tổng Liên đoàn Lao động vừa muốn bảo vệ tôi để giữ được những nhà báo giỏi, vừa muốn chứng tỏ đã tôn trọng các kết luận của Bộ chính trị. Phương án giải quyết được chọn là: Tôi không còn là tổng biên tập mà là “cố vấn” hoặc “phó tổng biên tập”, nhưng vẫn là người thực sự điều hành tờ báo y như trước. Các nhà báo có vai trò chủ chốt đứng đầu là Lý Quý Chung không chịu như vậy. Lý Quý Chung nói: “Chỉ thêm chữ Q. trước ba chữ tổng biên tập tôi cũng thôi việc, chứ chưa cần hạ xuống phó tổng biên tập” (thêm chữ Q. tức là “quyền tổng biên tập”).

Ngày tôi nhận quyết định nghỉ hưu, cầm vé máy bay để hôm sau về Sài Gòn, thì bất ngờ có giáo sư Nguyễn Lân Dũng đến thăm. Tôi phân trần, mình lu bu quá nên không báo cho Nguyễn Lân Dũng biết chuyện mình nghỉ hưu và về Sài Gòn. Nguyễn Lân Dũng trố mắt ngạc nhiên hỏi “vì sao”? Tôi nói, mình phải chịu trách nhiệm về nội bộ lục đục và bị tố cáo có âm mưu “diễn biến hòa bình”. Lân Dũng bảo, anh nào tố cáo bậy bạ vậy? Anh không quen với một ông Bộ Chính trị nào hay sao? Tôi nói, mình quen ít nhứt ba bốn ông chứ, nhưng để làm gì? Chẳng lẽ chạy đến xin được giúp đỡ? Dũng hỏi, anh Phạm Thế Duyệt có biết chuyện này không? Không chờ tôi trả lời, Nguyễn Lân Dũng quay chiếc điện thoại trên bàn tổng biên tập. “Thưa anh Duyệt, tôi Nguyễn Lân Dũng đây! Tôi đang ở chỗ anh Công. Tại sao anh Công nói ngày mai anh ấy về Sài Gòn, không ra nữa, anh đã biết chuyện này chưa ạ? Vâng, vâng, anh Công đang ở đây, anh Duyệt muốn nói với anh”. Tôi bước lại cầm ống nghe. Anh Duyệt hỏi, hai giờ chiều nay anh Công đến nhà mình được không? Tôi nghĩ, đến từ giã người đã đưa mình ra Hà Nội là phải lẽ. Khi anh Phạm Thế Duyệt từ chỗ là chủ tịch công đoàn mỏ Mạo Khê, do “cơ cấu” đã vọt lên làm phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động, tôi đang kiêm nhiệm phó tổng biên tập báo Lao Động phụ trách miền Nam. Tôi đã đưa anh đi thăm các tỉnh Nam Bộ và Tây Nguyên gần một tháng do đó đã nảy nở một tình thân. Dù là cấp trên, nhưng anh kém tôi bốn tuổi, tham gia cách mạng và vào Đảng đều sau tôi gần mười năm cho nên tôi cũng được anh nể trọng. Khi tôi bị Thành ủy Sài Gòn cách chức, anh đã vào xin Thành ủy cho chuyển tôi về cơ quan miền Nam của báo Lao Động.

Anh Phạm Thế Duyệt ra tận cổng đón tôi vào. Từ ngày anh rời Tổng Liên đoàn Lao động, làm bí thư Thành ủy Hà Nội cho đến nay tôi mới tới nhà anh. Chỉ có hai anh em trong phòng khách, nhưng anh hạ giọng thầm thì: Bộ chính trị có một phiên họp đặc biệt về báo Lao Động. Tống Văn Công bị kết luận bốn “vấn đề”: Một là anh tổ chức nhân sự báo Lao Động làm cho cơ quan an ninh không yên tâm; hai là từ ngày anh làm tổng biên tập có nhiều loạt bài khiến Bộ chính trị lo lắng; ba là báo Lao Động, cơ quan ngôn luận cấp Trung ương, theo nguyên tắc phải ở Hà Nội mà anh tự tiện để tòa soạn ở thành phố Hồ Chí Minh; bốn là anh có trách nhiệm trong việc để xảy ra lục đục trong cơ quan và bị tố cáo có âm mưu diễn biến hòa bình. Bộ chính trị kết luận, anh và một số anh ở báo Lao Động không đảm bảo tiêu chuẩn chính trị để tiếp tục làm báo trong giai đoạn này.

Nếu không có Nguyễn Lân Dũng đưa đến cuộc gặp Phạm Thế Duyệt thì tôi cứ nghĩ mình “về vườn” vì chuyện lục đục nội bộ! Chỉ cần một tội là để “lục đục nội bộ” cũng đủ cho tôi về vườn rồi, do đó Đảng đoàn Tổng Liên đoàn Lao động không công khai ba tội kia vì nó quá “nhạy cảm chính trị”. Về tội thứ nhất: Người ta muốn nói về hai người có vị trí trong làng báo thời Việt Nam Cộng hòa là Lý Quý Chung (Bộ trưởng Thông tin Chiêu hồi trong chính phủ Dương Văn Minh), Trần Trọng Thức cán bộ Việt tấn xã. Họa sĩ Chóe bị tù do vẽ bức biếm họa ông Lê Đức Thọ chìa răng hô (vẫu) xé toẹt Hiệp nghị Paris. Nhà thơ Hoàng Hưng đi tù vì giữ tập thơ “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm. Cả hai anh này vừa ra tù, tôi đã mời về báo Lao Động. Về tội thứ 2, trong một tháng báo Lao Động có 4 bài phê bình 4 Bộ trưởng của Chính phủ (Bộ trưởng y tế Phạm Song, Bộ trưởng Bộ Năng Lượng Vũ Ngọc Hải, Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp Phan Xuân Đợt, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sĩ Kiêm). Về tội thứ 3, thì phải nói tôi không hề vụng trộm đặt tòa soạn ở Sài Gòn. Người có trách nhiệm cao nhất của Đảng về tuyên huấn, báo chí là ông Nguyễn Đức Bình đã nhiều lần tới thăm Cơ quan miền Nam báo Lao Động ở 120 Nam Kỳ Khởi nghĩa, nghe tôi giới thiệu mạng thông tin kỹ thuật số (sớm nhất các báo Trung ương) đã làm cho văn phòng Hà Nội và văn phòng Sài Gòn như ngồi chung trong một gian phòng, có thể cùng thảo luận, tranh cãi với nhau. Tội thứ tư là có trách nhiệm của tôi đối với tình trạng nội bộ đấu đá nhau. Thực ra nguồn gốc của tình trạng này có nguyên nhân chủ yếu từ sự phân biệt đối xử của Đảng đối với những người từng làm việc trong chế độ cũ, dùng họ nhưng không bao giờ tin họ! Chị Kim Hạnh nguyên Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ đã cảnh báo điều đó với tôi khi tôi nhận các anh Lý Quý Chung, Trần Trọng Thức về báo Lao Động.

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2018

Giới thiệu sách “Hãy ngồi xuống đây” của Hạ Đình Nguyên

clip_image002HẠ ĐÌNH NGUYÊN

Một tay bút yêu nước, hoạt dộng trong phong trào các tổ chức xã hội dân sự

HỌC HÀNH, LÀM VIỆC VÀ HÀNH TRÌNH ĐI TỚI...

● Sinh năm 1943 tại Quảng Nam

● Học trung học tại trường Trần Quý Cáp - Hội An

● 1964-1972: Học Đại học Văn Khoa Sài Gòn

● Chủ tịch Ban Đại diện Sinh viện Đại học Văn Khoa Sài Gòn 1969-1970, 1970-1971, 1971-1972

● Tham gia phong trào đấu tranh sinh viên Sài Gòn 1967-1972,

Phó Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn 1970-1971, Chủ tịch Ủy ban hành động đấu tranh sinh viên Sài Gòn 1970-1971

● 1972-1974: Bị bắt và ở tù Côn Đảo

● 1974-1975: Trao trả và về căn cứ Khu Đoàn Sài Gòn – Gia Định

● 1975-1992: Làm việc tại Thành Đoàn TP. HCM, Văn phòng Quận Ủy Q1, Công ty Savimex tại Lào

● 1998-2017: Giám đốc Làng Bình Minh, trung tâm tư nhân cai nghiện ma túy tại Thanh Đa Sài Gòn.

● 2009-2018: Tham gia phong trào đấu tranh xã hội dân sự, tay bút chính luận trên các diễn đàn, các mạng xã hội.

● Thành viên sáng lập Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng.

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

NHỚ VÀI CHUYỆN HỒI NHỎ

(Trích Hồi ký “Đến già mới chợt tỉnh”)

Tống Văn Công

Văn - Tống V CôngCHA TÔI BỊ NHÀ NƯỚC THỰC DÂN
QUẢN THÚC..

Khoảng lên 5 tuổi, tình cờ tôi được biết cha tôi, Tống văn Thêm, bút danh Tăng Ích) là người đang bị nhà nước thuộc địa Pháp quản thúc. Hôm đó, cha má sắp đưa tôi về quê ngoại thì bà nội gặng hỏi: “Con đã xin phép ban Hội tề chưa? Mình phải giữ cho đúng lề luật”.
Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 10)

Hồi ký

Tống Văn Công

ÐỔI MỚI ÐẢNG, TRÁNH NGUY CƠ SỤP ÐỔ!

I. Tổ quốc trước hai hiểm họa

Tổ quốc Việt Nam đang đứng trước hai hiểm họa: giặc ngoại xâm và giặc nội xâm. Mọi người Việt Nam yêu nước có trách nhiệm tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi hai hiểm họa đó.

Chúng ta đã từng gọi một cách chính xác “bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh là kẻ thù trực tiếp nguy hiểm”. Những hành động lấn lướt khiêu khích gần đây ở Biển Đông chứng tỏ bản chất của chúng không hề thay đổi. Ngày 2–7–2009 trả lời ký giả Mặc Lâm của Đài Phát thanh RFA, nhà ngoại giao Dương Danh Dy từng làm việc nhiều năm ở Trung Quốc nhận định: Trung Quốc là anh láng giềng to, khỏe, tham, lại xấu tính và “sau thời điểm 2010 trở đi chưa biết họ làm cái gì đâu. Họ kinh khủng lắm”.

Hai mươi năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết sức cố gắng xây dựng với Bắc Kinh mối quan hệ “đồng chí” kèm theo “16 chữ vàng” (do Giang Trạch Dân đặt ra, Lê Khả Phiêu tán thành đưa vào Tuyên bố chung tháng 2–1999): “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”. Mấy năm sau lại bổ sung “tinh thần 4 tốt” là “Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Để tỏ lòng trung thành với mối quan hệ đó, Nhà nước Việt Nam đã bắt bớ những công dân của mình xuống đường biểu tình với khẩu hiệu “Hoàng Sa– Trường Sa là của Việt Nam”. Đó là thủ đoạn ngoại giao khôn khéo hay chỉ là sự đớn hèn? Tình trạng này còn kéo dài bao lâu? Rồi bằng cách nào để có thể thực hiện được di chúc thiêng liêng của Đức Trần Nhân Tôn: “Một tấc đất của tiền nhân để lại cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Không làm được điều đó, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thoát khỏi trách nhiệm trước lịch sử là đã để đất đai thấm máu cha ông lọt vào tay giặc.

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 9)

Tống Văn Công

VU CÁO ÂM MƯU DIỄN BIẾN HÒA BÌNH.

Ở thập kỷ 80 hầu hết các báo ở Trung ương trong đó có báo Lao Động đều được bù lỗ từ tiền của ngân sách. Ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động giao khoán cho Ban biên tập báo Lao Động “định mức số tiền được phép lỗ”. Cuối năm nếu số tiền bị lỗ thấp hơn định mức thì được coi là “lãi” và được thưởng vì đã “có lãi”! Tờ báo được mua từ quỹ công đoàn, hoàn toàn không bán được ở các sạp báo ngoài thị trường.

Tôi đề nghị với Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Phạm Thế Duyệt 2 điều và được ông chấp nhận:

– Nếu báo Lao Động thoát khỏi bù lỗ thì được phép chi trả nhuận bút vượt quy định của Bộ Thông tin – Văn hóa và trả phụ cấp cho phóng viên không theo quy định của ban Tài chính Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

– Tổng biên tập có quyền sắp xếp lại nhân sự của cơ quan báo Lao Động: giảm biên chế, bãi chức vụ những người không đủ năng lực; sau khi có đủ khả năng tài chính tự trang trải chi thu thì có quyền tăng biên chế theo sự cần thiết để phát triển tờ báo

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 8)

Hồi ký

Tống Văn Công

ÔNG NGUYỄN HỘ LY KHAI ĐẢNG CỘNG SẢN.

Tháng 3 năm 1990, ông Nguyễn Hộ rời thành phố về sống ở vùng Phú Giáo, miền Đông Nam Bộ. Cuối tháng 8, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ văn Kiệt đến gặp, khuyên ông nên về Sài Gòn. Ông nói: “Phải chi anh bảo tôi sớm hai tháng thì tôi về. Bây giờ đã muộn rồi, vì Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, bí thư Thành ủy Võ Trần Chí và các ông Mai Chí Thọ, Trần Trọng Tân chỉ đạo vu cáo tôi, cho rằng tôi là tên phản động, móc nối với CIA, lập Câu lạc bộ Truyền thống Kháng chiến để chống Đảng. Họ đã đẩy tôi xuống bùn đen. Trong tình hình như vậy, tôi về thành phố làm gì. Tôi chỉ trở về thành phố khi đất nước Việt Nam có dân chủ tự do. Khoảng nửa tháng sau, ngày 7 tháng 9 trong khi ông đang bơi xuồng trên sông hái rau cho bữa cơm thì bị công an bắt, xích tay đưa về Sài Gòn giam giữ ở nhiều nơi, cuối cùng quản thúc ông tại nhà.

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 7)

Hồi ký

Tống Văn Công

HẦU CHUYỆN TRẦN XUÂN BÁCH

Cuối tháng 9 năm 1989, tôi từ Sài Gòn ra, vừa đến trụ sở báo Lao Động (51 – Hàng Bồ, Hà Nội) thì cô Phạm Thị Châu, Trưởng phòng Hành chính đến gặp. Cô trao tấm danh thiếp của anh Trần Xuân Bách gửi cho tôi và háo hức kể: Xe đỗ trước cơ quan, bác ấy đi vào, nói “Tôi xin gặp anh Tống Văn Công”. Em trả lời: “Thưa bác, anh Công về Sài Gòn. Hiện đang có mặt hai Phó Tổng biên tập là anh Huy Đan và Phạm Văn Nhàn. Bác có thể gặp anh nào ạ?”. Bác ấy mở cặp lấy danh thiếp đưa cho em, nói: “Khi nào anh Công ra, đồng chí đưa giùm tôi nhé, nói là tôi đang đợi anh ấy gọi”. Từ lâu tôi đã được ba người bạn có dịp gần gũi anh Trần Xuân Bách là nhà văn Nguyễn Khải gần anh khi còn làm báo quân khu 3 thời chống Pháp, dịch giả Lê Minh Đức gần anh ở Ban Dân vận Trung ương và anh Đinh Gia Bảy ủy viên Ban thư ký Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam từng làm việc dưới quyền của anh Bách lúc giúp bạn ở Campuchia, kể nhiều chuyện về anh Bách, “một người tài đức song toàn”. Tôi cũng được đọc nhiều bài viết của anh, rất hâm mộ, nhưng chưa có dịp gặp, không ngờ tôi lại được anh tìm! Trước khi vào Sài Gòn, tôi đã dự hội nghị nghiên cứu Nghị quyết Trung ương lần thứ 7 (khóa 6), nên cảm nhận việc anh Trần Xuân Bách đến tìm là điều quan trọng.

Xin nhắc lại một số kết luận của Nghị Quyết Trung ương 7:

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 6)

Hồi ký

Tống Văn Công

THÁP TÙNG ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐI “XÉ RÀO”.

Từ tháng 12–1976 ông Võ Văn Kiệt làm bí thư Thành ủy thay ông Nguyễn Văn Linh được điều lên làm Trưởng ban cải tạo Trung ương. Ngày 16–2–1978 Đỗ Mười thay Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban Cải tạo, nâng số hộ tư sản từ 6000 lên 28.787 hộ và “quét sạch sành sanh” tư sản công thương nghiệp trong mấy ngày. Sau đó cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm nhặt. Chẳng bao lâu sau tất cả các xí nghiệp bắt đầu vấp những khó khăn giống nhau: Máy móc hư hỏng không có phụ tùng thay thế; nhiên liệu, nguyên liệu cạn kiệt không có ngoại tệ để nhập khẩu. Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt đi khảo sát hàng chục xí nghiệp đang gặp khó khăn lớn. Biết đây là việc quan trọng tôi xin ông cho được tháp tùng hầu hết các chuyến đi. Ông Võ văn Kiệt không chỉ nghe giám đốc báo cáo mà sau đó ông gặp từng trưởng phó phòng, ban, chủ tịch công đoàn, bí thư thanh niên và một vài tổ trưởng. Sau mỗi chuyến đi, ông còn hỏi nhận xét của chúng tôi, những người tháp tùng. Ví dụ, trong cuộc làm việc với ngành sản xuất thuốc lá có mặt các vị cục trưởng, tổng giám đốc, các giám đốc, các trưởng phòng. Sau khi ra về ông hỏi: “Theo cậu hôm nay phát biểu của anh nào có giá trị 'tháo gỡ' nhứt”? Ông đồng ý với tôi: “Đúng, cái cậu nói tiếng Huế vạch ra những điều phi lý và chỉ rõ cách giải quyết rất căn cơ ”. Đó là anh Phó phòng kỹ thuật Lê Đình Thụy, người có cấp bực thấp nhất hôm đó. Ông Kiệt gợi ý Bộ công nghiệp nhẹ bồi dưỡng, đề bạt anh Thụy trở thành Tổng giám đốc Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam. Ở mỗi nơi ông Kiệt đều có ý kiến giải quyết vướng mắc một cách cụ thể. Ông nhận ra ách tắc chủ yếu không phải do hậu quả chiến tranh, không phải do thiếu ngoại tệ mà do cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa mình tự trói tay mình. Trước cải tạo, các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường, lợi nhuận, hiệu quả kinh tế là lý do tồn tại của doanh nghiệp là mục tiêu của nhà quản lý. Tài năng của nhà quản lý là nhìn thấy và biết đặt ra những việc làm thiết thực để phát triển sản xuất, tăng sức cạnh tranh, mở rộng thị trường, tích lủy thêm nhiều vốn. Cơ chế quản lý doanh nghiệp xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu bảo vệ bản chất kinh tế xã hội chủ nghĩa, xây dựng sở hữu của nhà nước, chống bóc lột, ngăn cấm chạy theo thị trường. Các xí nghiệp Dệt Thành Công, Thuốc Lá Vĩnh Hội, Công ty Xe khách miền Đông... đều bị vướng mắc từ cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa. Ví dụ trường hợp Dệt Thành Công: Nếu xí nghiệp được phép vay 120.000 USD, với lãi suất 18% và phụ phí năm 1,5% để nhập sợi, thuốc nhuộm, phụ tùng thì sẽ sản xuất được 120.000 mét vải oxford, trả xong nợ còn lãi 82.000 USD. Nhưng cơ chế quản lý xã hội chủ nghĩa quy định: Cấm xí nghiệp không được tự vay vốn, tự mua nguyên liệu không theo giá nhà nước, không tự xây dựng kế hoạch sản xuất mà bộ chủ quản chưa cho phép, không được tự bán sản phẩm ra thị trường. Mọi kế hoạch vay vốn, sản xuất, tiêu thụ của xí nghiệp đều phải được Bộ chủ quản duyệt. Nếu xí nghiệp trình kế hoạch trái với các quy định nói trên thì chẳng những không được phê duyệt mà còn bị kỷ luật, bởi vì cơ chế quản lý hiện hành được bảo vệ trong vòng rào ý thức hệ cộng sản rất kiên cố. Nghe báo cáo tình trạng trên, Bí thư Võ văn Kiệt đồng ý cho xí nghiệp “xé rào” và thuyết phục giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Nguyễn Nhật Hồng, ông này cũng đồng tình “xé rào”. Cuối cùng cách làm bất hợp pháp đó đã đưa tới hiệu quả rất tốt đẹp: đảm bảo lợi ích nhà nước, lợi ích của tập thể xí nghiệp và lợi ích của từng người lao động.

Chủ Nhật, 11 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 5)

Hồi ký

Tống Văn Công

KHI NGÒI BÚT CHẠM VÀO QUYỀN LỰC.

Mấy chục năm đấu tranh chống tham nhũng của “báo chí cách mạng Việt Nam” trong chế độ xã hội chủ nghĩa chỉ có cuộc đấu tranh trên báo Lao Động đối với ban lãnh đạo Tổng cục Cao su đứng đầu là Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Đỗ Văn Nguyện là giành được thắng lợi. Không phải các nhà báo làm vụ này tài giỏi hơn những đồng nghiệp ở các vụ khác mà chỉ vì vụ này bắt đầu ngay sau Đại hội 6 năm 1986 khi mà luồng gió dân chủ sau “đổi mới” đang mạnh và các nhà lãnh đạo cộng sản chưa bị hoảng sợ bởi sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu.

Tôi về cơ quan miền Nam báo Lao Động đúng lúc phóng viên Trương Đăng Lân phát hiện chuyện trù dập rất man rợ ở Tổng cục Cao su: Đầu năm 1985, Đoàn Thanh tra Nhà nước đến thanh tra Tổng cục Cao su, phát hiện nhiều “phi vụ” mua bán, ăn chia bất hợp pháp mà đầu mối quan trọng là Công ty Phục vụ Đời sống do Tổng cục trưởng trực tiếp chỉ đạo. Đoàn thanh tra dành nhiều thời gian làm việc riêng với Ngô Văn Định phó giám đốc Công ty này. Ông Đỗ Văn Nguyện, ủy viên Trung ương Đảng, Tổng cục trưởng Tổng cục Cao su được mật báo là Ngô Văn Định đã bị Đoàn Thanh tra khuất phục, đã cung khai nhiều việc làm sai trái mà người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là ông. Đỗ Văn Nguyện nghĩ cách vô hiệu hóa bản kết luận của Đoàn Thanh tra dựa vào lời khai của Ngô Văn Định. Ông ta cho rằng cách tốt nhất là phải biến Ngô Văn Định thành bệnh nhân tâm thần! Vậy là một kế hoạch cưỡng bức Định được tổ chức tỉ mỉ: Trước hết, Trưởng ban Y tế Tổng cục Cao su, bác sĩ Đoàn Huỳnh làm tờ trình chi tiết gửi lên Tổng cục trưởng, kể ra rất nhiều hiện tượng điên khùng của Ngô Văn Định và cho rằng “một người có bệnh tâm thần mà buộc phải đảm trách công việc kinh doanh, suốt ngày tính toán lo toan thì chẳng những sẽ làm hư hỏng công việc, có nguy cơ vi phạm pháp luật mà còn có hại cho sức khỏe của anh ta”. Ban Y tế kiến nghị: “Do người bệnh tâm thần không bao giờ nhận mình có bệnh, cho nên cần phải tổ chức cưỡng bách anh ta đi chữa bệnh”. Căn cứ đề nghị của Trưởng ban Y tế, ngày 18–5–1985, Tổng cục trưởng Đỗ văn Nguyện ký quyết định tổ chức đưa Ngô Văn Định đi Bệnh viện Tâm thần Biên Hòa. Để che mắt cán bộ cơ quan Tổng cục, Bộ máy thực hiện việc cưỡng chế này huy động nhiều cán bộ đảng viên trung, cao cấp như, Phó vụ trưởng Vụ Tổ chức, Phó trưởng ban Bảo vệ, Trưởng ban Y tế và nhiều bác sĩ. Ngày 18– 5– 1985, như mọi ngày, Ngô Văn Định đang làm việc tại văn phòng Phó giám đốc Công ty thì Trưởng ban Y tế Đoàn Huỳnh tới đọc quyết định của Tổng cục trưởng. Thừa lệnh Tổng cục trưởng, ông Huỳnh yêu cầu Ngô văn Định tạm ngưng công việc để đi khám bệnh. Đứng sau Đoàn Huỳnh là Phó ban bảo vệ có mang súng và nhiều vệ sĩ mang theo dây trói. Ngô Văn Định kể: “Họ bảo tôi chích hai mũi thuốc cho khỏe. Chích xong tôi lịm đi, đến 7 tiếng đồng sau mới tỉnh dậy thì thấy mình bị nhốt trong gian phòng có chấn song sắt cùng với 4 bệnh nhân tâm thần”.

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 4)

Hồi ký

Tống Văn Công

BÍ THƯ THÀNH ỦY NGUYỄN VĂN LINH:
TẠI SAO LẠI ĐÁNH LÁ CỜ ĐẦU?

Sau 30–4–1975, Sài Gòn và miền Nam bắt đầu tổ chức phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa. Nhà máy Dệt 12, Xí nghiệp máy may Sinco được xây dựng thành điển hình tiên tiến trong công nghiệp. Đưa những người sản xuất cá thể vào hợp tác xã để xây dựng thành phần kinh tế tập thể là công việc quan trọng được đề cao. Báo chí thành phố liên tục nêu gương Hợp tác xã Cơ khí Đồng Tâm ở huyện Gò Vấp do chủ nhiệm La Ngọc Toàn một ông chủ người Hoa xây dựng đã được Ban thi đua Thành phố trao tặng Lá cờ đầu của phong trào thi đua xây dựng kinh tế tập thể.

Một buổi tối có người bấm chuông gọi cửa nhà tôi. Một người đàn ông mặt đầy vết bầm, trình giấy tờ xác nhận mình là kế toán trưởng của Hợp tác xã cơ khí Đồng Tâm. Ông nói không dám đến tòa báo ban ngày và xin tôi giữ kín việc ông đến cung cấp tài liệu về việc La Ngọc Toàn một ông chủ độc đoán, trác táng và tàn bạo. Tôi đồng ý. Ông trở ra đường, mấy phút sau đưa thêm bốn người nữa vào nhà. Anh kế toán trưởng đưa ra các loại chứng từ hóa đơn, các bản thống kê, các báo cáo mâu thuẩn nhau. Bốn anh kia luân phiên kể những việc làm phi pháp của Toàn. Đặc biệt họ cho biết Toàn đang hùn vốn đóng tàu để kinh doanh trên sinh mạng của người vượt biên. Cả năm người họ đều bị Toàn đánh đập nhiều lần.

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 3)

Hồi ký

Tống Văn Công

GẶP BA NHÀ VĂN BỊ VÙI DẬP.

Tôi gặp nhà văn Hà Minh Tuân ngay sau khi ông bị lâm nạn năm 1962. Bạn tôi, anh Trần Dũng Tiến nguyên là cảm tử quân Hà Nội năm 1946, phụ trách công tác Tuyên truyền – Thi đua của Nhà máy gỗ Hà Nội ở Bến Chương Dương, gần bãi sông Hồng. Tôi đến nhà máy gặp anh Tiến tìm tài liệu viết báo và nhân đó xin mua gỗ vụn làm củi đun bếp. Anh Tiến cho biết, ông Hà Minh Tuân vừa bị cách chức giám đốc Nhà xuất bản Văn học, đang lao động cải tạo ở đây. Công việc của ông là khuân gỗ dưới bến sông Hồng xếp lên xe hai bánh, kéo xe về, xếp gỗ vào kho nhà máy. Lúc giải lao giữa ca, anh Tiến mời ông vào văn phòng uống nước, trò chuyện với chúng tôi. Ông hơn tôi một giáp, hoạt động cách mạng từ năm 1943, tham gia khởi nghĩa tháng Tám ở Hà Nội, rồi vào bộ đội lên đến chính ủy trung đoàn, sau tiếp quản Hà Nội được bổ nhiệm làm giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Văn học. Nếu ông cứ chuyên tâm vào việc “gác cổng chính trị” như các vị giám đốc khác thì hẳn đã leo lên cấp Vụ, cấp Bộ rồi, hoặc ít nhất cũng được yên vị tới lúc hưởng lương hưu. Nhưng do có máu mê văn chương, năm 1957 ông viết quyển “Trong lòng Hà Nội”, năm 1960 ông viết “Giữa hai trận tuyến”. Cả hai tác phẩm đều được đánh giá đã “đóng góp xuất sắc cho nền văn học xã hội chủ nghĩa”. Ông hăm hở viết một tác phẩm không né tránh, không bóp méo hiện thực, từng trang nóng bỏng hơi thở cuộc sống, có tựa đề “Vào đời”, một bài học cho lớp trẻ trong giai đoạn mới. Quyển sách vừa xuất bản thì lập tức bị “ăn đòn hội chợ” của các nhà phê bình nhân danh “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Số bài phê bình tốn giấy mực hàng chục lần quyển sách 200 trang của ông. Ông phải làm bản tự kiểm điểm sai lầm vì đã viết quyển sách bôi nhọ xã hội tốt đẹp dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và ngồi nghe cấp trên và cả cấp dưới của mình xỉ vả, rồi nhận quyết định cách chức, đi lao động cải tạo vô thời hạn. Nhà thơ Xuân Sách có bốn câu thơ đúc kết cho ông về sự kiện này:

“ Bốn mươi tuổi mới Vào đời,

Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ.

Giữa hai trận tuyến ngu ngơ,

Trong lòng Hà Nội, bây giờ là đâu”?

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

Đến già mới chợt tỉnh (kỳ 2)

Tống Văn Công

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Một khi nạn bưng bít thông tin bị phá bỏ thì các chế độ độc tài sẽ tan rã”, Václav Havel nói như thế khi cùng những người có chung chí hướng thành lập “Hiến Chương 77” nhằm tranh đấu cho việc loại bỏ chế độ cộng sản tại Tiệp Khắc.

Nhà văn Václav Havel là kịch tác gia từng bị chế độ cầm tù và là tổng thống đầu tiên của Tiệp Khắc sau khi chế độ cộng sản sụp đổ.

Đã sống và bản thân đã trải nghiệm cái xã hội cộng sản toàn trị trên quê hương, Václav Havel nhìn thấu bộ mặt của chế độ đã hủy hoại xã hội, làm mọi người – không trừ một ai, từ giới lãnh đạo chóp bu cho đến từng người dân - đều “sống dối trá”. Havel vạch trần mâu thuẫn đặc thù của chế độ: mâu thuẫn giữa nhu cầu tự nhiên của con người có bản chất sống động và chân thực đối chọi với quy định phi tự nhiên, chết cứng và dối trá của hệ thống toàn trị. Theo ông, trong chế độ toàn trị, từng cá nhân bị đánh bật khỏi sinh hoạt truyền thống như gia đình, bạn bè, hội đoàn, tôn giáo... để chịu đựng sự áp đặt của bộ máy đảng, nhà nước và các đoàn thể bù nhìn.

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2016

Cựu tổng biên tập Lao Động 'hối tiếc vì làm công cụ của Đảng'

clip_image002

Image copyrightUYENNGUYEN.NETImage captionÔng Tống Văn Công tuyên bố từ bỏ Đảng năm 2014

Cựu tổng biên tập Lao Động trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt nhân cuốn hồi ký 'Đến già mới chợt tỉnh - Từ theo cộng đến chống cộng' của ông vừa được phát hành tại Mỹ.

Nhà báo Tống Văn Công, cựu tổng biên tập Lao Động (1989 - 1994), từng được biết đến với những bài phản biện trên báo lề trái và 'thư góp ý với Đảng' và từng bị tờ Quân đội Nhân dân có bài công kích năm 2013.

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Đến già mới chợt tỉnh

Đến già mới chợt tỉnh

Hồi ký

Tống Văn Công

TRƯỚC KHI VÀO CHUYỆN

Ngày 25 tháng Hai năm 2014, tôi gởi “Lời Chia Tay Đảng Cộng Sản Việt Nam”. Sau đó, nhận được nhiều ý kiến rất khác nhau. Giáo sư Tương Lai, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Chu Hảo mừng cho tôi đã xong trách nhiệm của một đảng viên 56 tuổi Đảng. Nhà báo Kha Lương Ngãi, nhà văn An Bình Minh chia sẻ: “Như phải ly dị sau cuộc hôn nhân dài 56 năm, dù trút được gánh nặng, nhưng sao khỏi chút bùi ngùi”! Nguyên chủ bút báo Tin Sáng Hồ Ngọc Nhuận: “Đọc Lời Chia Tay, tôi rất vui, bởi nó đóng góp cho dân chủ hóa đất nước.” Nhà văn Thái Bá Tân đưa lên “phây” bài thơ tặng tôi có những câu: “... Trót đưa lên bàn thờ. Muốn hạ xuống cũng khó. Làm thế nào bây giờ? Một người vì lý tưởng. Hy sinh cả cuộc đời. Đến già mới chợt tỉnh. Đau, không nói nên lời. Con cháu những người ấy. Dẫu giỏi và thông minh. Cũng khó lòng hiểu hết. Cái đau cha ông mình”. Tiến sĩ, luật sư Lưu Nguyên Đạt sau khi kể tội kẻ từng là “cơ sở truyền thông của Đảng cộng sản” đã nhận xét “Quyết định bỏ Đảng của Tống Văn Công không quyết liệt, không sáng sủa như qua lời phát biểu của luật gia Lê Hiếu Đằng. Nó không đanh thép bằng lập trường thô bạo của một Dương Thu Hương.”

Về phần mình, từ khi được “mở mắt”, bắt đầu viết những bài góp ý với Đảng Cộng sản, lúc nào tôi cũng dặn mình chớ có nói năng như một kẻ vô can và phải tự biết mình “ngu lâu”, là “tội đồ”. Lúc nghe ông Nguyễn Văn Thiệu nói “Đừng nghe cộng sản nói, hãy nhìn cộng sản làm”, tôi cho rằng, nói như ông Thiệu chẳng thuyết phục được ai! Cho đến khi trải nghiệm chính sách của Đảng Cộng sản qua các thời kỳ, đối chiếu thông tin nhiều chiều, mới xác nhận câu nói của ông Thiệu là có cơ sở! Vì vậy tôi nghĩ, phải viết như thế nào cho dễ lọt tai hàng triệu đảng viên chưa được “mở mắt” và không ít người bị nhồi vào não “ơn Đảng, ơn Bác”. Với giọng nhẹ nhàng, nhưng tôi không lẩn tránh những đòi hỏi cấp bách dân chủ hóa đất nước, thực hiện các quyền dân sự và chính trị, tự do ngôn luận, tự do lập hội, nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập, không cho phép Đảng đứng trên Hiến pháp, pháp luật. Chính vì vậy mà tôi bị Đảng Cộng sản đưa ra kiểm điểm 15 lần trong không khí đấu tố. Cuối cùng, không chấp nhận một đảng viên dám “tự ý nói lời chia tay”, ngày 6 tháng Ba năm 2014, Đảng công bố quyết định: “Khai trừ đảng viên Tống Văn Công vì đã có rất nhiều bài viết phát tán trên mạng internet xuyên tạc chủ trương chính sách, truyền bá những quan điểm trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; mặc dù đã được phân tích, giáo dục nhiều lần, nhưng không sửa chữa, khắc phục mà vẫn tiếp tục sai phạm ngày càng nghiêm trọng hơn, không còn đủ tư cách đảng viên cộng sản”.

Ông Nguyễn Gia Kiểng – Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, trong bài “Thời điểm để nhìn rõ Đảng Cộng sản” đã cho rằng: “Thực ra chúng ta không nên thù ghét Đảng Cộng sản. Nó chỉ là một sản phẩm của lịch sử và văn hóa của chính chúng ta. Một dân tộc không có tư tưởng chính trị không khác một con tàu không phương hướng, mọi tai họa có thể xảy đến và cộng sản chỉ là một”. Tôi đồng ý với nhận định này. Tôi “ngu lâu” là do những nguyên nhân lịch sử và văn hóa đó. Cha tôi đi theo cộng sản từ năm 1929. Làng tôi, quận tôi, tỉnh Bến Tre tôi có không dưới 80% số dân đi theo cộng sản, riêng nông dân có thể lên đến 90%. Nhìn lại vài hiện tượng trong lịch sử: Hầu hết những người trong nội các Trần Trọng Kim và các văn nghệ sĩ nổi tiếng thời tiền chiến đều đi theo Việt Minh. Nhiều cơ quan đầu não của Việt Nam Cộng Hòa bị tình báo cộng sản thâm nhập, nhưng không có ở chiều ngược lại. Ông Nguyễn Thành Nhân quận ủy viên quận Ba Tri bị quân đội Việt Nam Cộng Hòa bao vây tứ phía, chạy thẳng vào nhà ông Tám Thương có hai con trai là lính Việt Nam Cộng Hòa, một người vừa bị Việt Cộng bắn chết. Vậy mà ông Tám Thương ôm chầm lấy Thành Nhân, đưa xuống hầm bí mật. Rất nhiều trí thức xuất thân quan lại, có lập trường chống cộng, sau đó lại chấp nhận cộng sản: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Hữu Thọ, Trịnh Đình Thảo... Nhiều đảng viên cao cấp của Quốc Dân Đảng chuyển sang lập trường cộng sản như Trần Huy Liệu, Nguyễn Bình... Dân biểu đối lập trong Nghị viện Việt Nam Cộng Hòa, chủ nhiệm báo Tin Sáng, ông Ngô Công Đức, cha bị cộng sản xử tử, vậy mà trong hồi ký của ông in đậm những dòng này: “Có nhiều lúc trằn trọc khi nghĩ lý tưởng đã nằm trong tay của những người đã giết thân phụ mình và cuối cùng nhận họ là anh em, khi phải đặt Tổ quốc trên hết”. Học giả Hoàng Xuân Hãn trong lá thư đề ngày 2 tháng Giêng năm Bính Tý (1996) gửi cho Võ Nguyên Giáp đã viết: Nước ta chỉ có hai cuộc giải phóng mà thôi, thời 1416– 1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi và thời 1945– 1975 với Bác Hồ cùng các anh... Cái cần thiết trong cuộc giải phóng là cái Đức của người lãnh đạo, cái Đức để cho địch không tìm cách mua chuộc mình và làm gương cho nhân dân giữ lòng yêu nước...” Nhắc lại những điều trên đây, tôi không nhằm biện minh cho sự “ngu lâu” của mình mà chỉ để cho thấy việc nhận ra chân lý trong giai đoạn lịch sử của nước ta vừa qua thật không dễ!

Trải qua 56 năm hoạt động trong Đảng, nay nghiệm lại, thức tỉnh, ngấm được nỗi đau lầm lạc vào con đường lịch sử, buộc dân tộc vào tròng độc tài đảng trị che dấu sau chiếc mặt nạ tự do, dân chủ.

Ảnh của VĂN VIỆT.

Ảnh của VĂN VIỆT.

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

CẢM NHẬN & SUY TƯ của một trí thức cộng sản

Tống Văn Công

clip_image002[4]Quyển sách Cảm nhận và suy tư của giáo sư Tương Lai gồm 21 bài viết, trong đó có 10 bài tham luận và phần vĩ thanh. Đó là cảm nhận và suy tư của một trí thức cộng sản: “Vào tuổi 80, đứng bên kia dốc của cuộc đời rồi, vẫn thấy quãng đời ấy là đẹp, thật đẹp. Đẹp trong những thách đố nghiệt ngã mình đã vượt qua để làm người tử tế, được đứng trong hàng ngũ những người dám sống vì một lý tưởng cao cả, chứ không cam chịu một thân phận nhạt nhòa an phận thủ thường”; “Ấy vậy mà, oái oăm thay, xem ra chính tôi đã từng góp phần làm nên cái bóng tối đó, để rồi chính nó lại đè nặng lên thể xác và tâm hồn tôi.”; “Tôi là nạn nhân, nhưng hãy dám nhìn thẳng vào sự thật, trong một khía cạnh nào đó, tôi cũng là thủ phạm”. “Bóng chiều đã ngã”, đúng thế. Vậy mà trong tôi chưa một thoáng gợn về chuyện buông bút.”; “Tôi đang cố vượt sông, nhưng… liệu tôi có còn đủ sức và niềm tin để dấn tới?”. Ông đã trả lời câu hỏi đó qua 388 trang sách: Đã dấn tới, cố gắng soi ánh sáng thời đại xóa đi “cái bóng tối đó” trên con đường đi tới tự do hạnh phúc của đồng bào và chân thành cảnh báo với Đảng của mình: “Nếu không tỉnh táo và quyết liệt sửa chữa thì sự suy thoái sẽ dẫn đến cáo chung vai trò lãnh đạo của Đảng là điều không thể tránh khỏi.”

Đầu tiên là bài tham luận được viết theo thư mời của Hội đồng Lý luận Trung ương do Tô Huy Rứa ký cho cuộc Hội thảo với chủ đề “Chủ thuyết phát triển của Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh”. Ông gửi bài tối 6-4-2009, chiều 7-4-2009 nhận được điện thoại cho biết không nên đến Hội thảo, bài không thể trình bày, chỉ để làm tư liệu tham khảo. Nhưng “làm tư liệu tham khảo” cũng không thấy đâu! Ông gửi thư yêu cầu trả lời, nhưng mãi mãi không nhận được lời đáp!

Trước khi đi vào bốn vấn đề của bản tham luận, tác giả nêu ra nguyên tắc có tính phương pháp luận: Trung tâm của chủ thuyết phát triển là văn hóa theo nghĩa rộng, là chủ nghĩa nhân văn. Cốt lõi của chủ thuyết phát triển là những động lực cơ bản, những khát vọng ngàn đời, những xu thế đương đại của loài người, đó là: dân tộc, dân chủ, tự do, cá nhân, phát triển, hòa bình, hạnh phúc… Đó là con đường vinh quang và khổ ải, con đường phát hiện, nhận diện và vượt qua những lực cản, những trì kéo, những sức ép trong bản thân dân tộc và từ bên ngoài. Chủ thuyết đó phải nhất quán trong đa dạng, tổng thể hóa trong phong phú.

Trên tinh thần đó, tác giả gợi ra bốn vấn đề: 1- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 2- Bối cảnh thời đại của sự nghiên cứu về Chủ thuyết phát triển. 3- Không né tránh những vấn đề được xem là cấm kỵ, mạnh dạn đặt lên bàn những vấn đề gay cấn để công khai thảo luận. 4- Chủ thuyết phát triển và Tư tưởng Hồ Chí Minh.

Có lẽ quan trọng nhất là vấn đề thứ 3: “Không né tránh những vấn đề vốn được xem là cấm kỵ mạnh dạn đặt lên bàn những vấn đề gay cấn để công khai thảo luận”. Lẽ ra vấn đề này phải được coi là nguyên tắc cơ bản của mọi cuộc hội thảo. Bởi vì lịch sử cho thấy không biết bao nhiêu tai họa bởi sự cấm kỵ: Thời xa xưa, hiền triết Socrates chỉ vì bảo vệ quyền được nói mà phải uống thuốc độc. Thời chúng ta, tướng Trần Độ vì yêu cầu đổi mới chính trị mà bị khai trừ. Bí thư Kim Ngọc vì cho rằng khoán hộ mới có hiệu quả đã bị cách chức… Nếu cuộc Hội thảo này vẫn có cấm kỵ thì ngay những điều giáo sư Tương Lai đặt ra ở hai vấn đề bên trên cũng không được phép trình bày: “Thời đại Hồ Chí Minh bắt đầu từ lúc nào và kết thúc lúc nào?... Dõi theo tiến trình lịch sử, trong ngôn từ khoa học hình như người ta chưa hề dùng tên của một nhân vật, cho dù là vĩ nhân để đặt cho một thời đại?” Và “Hiện nay loài người không còn chủ nghĩa tư bản nguyên nghĩa nữa, mà cũng chưa từng có chủ nghĩa xã hội đích thực”. “Chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc hay là chủ nghĩa tư bản mang màu sắc Trung Quốc?”. Ngay nhiều luận điểm của Hồ Chí Minh, ngày nay người ta cũng tìm cách né tránh.

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015

“LŨ”, MỘT DỰ BÁO ĐẦY TRÁCH NHIỆM (ĐỌC TIỂU THUYẾT “LŨ” VỪA VIẾT LẠI CỦA NGUYỄN TRUNG)


Tống Văn Công

 là tiểu thuyết luận đề, tiếp theo bộ tiểu thuyết Dòng đời (xuất bản năm 2006), hai tập hơn 700 trang của Nguyễn Trung ra mắt bạn đọc tháng 8 năm 2012.  miêu tả tình trạng đất nước thống nhất sau 37 năm mà vẫn chưa thống nhất được lòng người; thể chế độc tài cản trở hòa giải hòa hợp dân tộc; tình trạng thiếu dân chủ pháp quyền khiến cho tham nhũng trở thành quốc nạn; bởi ngoan cố kiên trì ý thức hệ xã hội chủ nghĩa mà phải chịu khuất phục trước Trung Quốc, bị chúng chèn ép như một chư hầu.  cho thấy nếu không đổi mới chính trị, trả quyền dân về cho dân thì không thể thoát khỏi khủng hoảng toàn diện, Đảng sẽ ngày càng suy thoái, nhân dân cạn kiệt niềm tin, kinh tế trì trệ, đất nước dặt dẹo, không thể thoát khỏi lệ thuộc ngoại bang…
Rồi ba năm vừa qua, thực tế đất nước diễn ra cho thấy những dự báo của  là chính xác. Hồi ấy, chưa có Nghị quyết 4 Trung ương khẳng định “một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên kể cả cấp cao, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng”. Hồi ấy, chưa có “Kiến nghị 72” về sửa đổi Hiến pháp, được hàng vạn nhân dân hưởng ứng đặt ra yêu cầu: Vì một xã hội tự do, dân chủ, công bằng và pháp quyền, vì hạnh phúc của các thế hệ hiện tại và tương lai, Đảng cầm quyền phải chấp nhận cạnh tranh chính trị, do nhân dân bầu chọn, phù hợp với xu thế thời đại, tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước. Hồi ấy, chưa có Thư ngỏ của 61 đảng viên ưu tú gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng và toàn thể đảng viên yêu cầu thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa, kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế để phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta. Hồi ấy, chưa có những hội đoàn do các tầng lớp nhân dân thực thi quyền dân sự và chính trị tự động lập ra. Và hồi ấy, cũng chưa có nhiều người chỉ vì dám nói những lời trung thực mà bị cầm tù, có quá nhiều người chết trong đồn công an khi bị tạm giam… Có lẽ những sự kiện sôi động bức bách liên tục diễn ra suốt ba năm qua đã thôi thúc Nguyễn Trung phải viết lại .
Trước khi đọc một tác phẩm, chắc bạn đọc cũng muốn biết chất lượng nghệ thuật của nó ra sao. Trong đôi lần tâm sự với bạn bè, Nguyễn Trung chân thành tự nhận xét: Muốn phục vụ lợi ích dân tộc, “không thể không đoạn tuyệt với ý thức hệ” và “Truyện viết chỗ này có lẽ nghệ thuật văn chương còn kém nên chưa lột được hết tinh thần này.” Anh thẳng thắn: “Chuyện văn chương theo nghĩa văn học chẳng có ý nghĩa gì ngoài cái chức năng tôi ốp cho nó với tất cả bạo lực thô thiển của mình để nó chuyển tải suy nghĩ của tôi – nếu có ai đó muốn khép tôi vào tội cưỡng hiếp văn học, tôi cũng sẵn sàng nhận án […]”. (Xem: Trả lời Lữ Phương). Tuy tác giả sẵn sàng xin nhận án, nhưng cho đến nay chưa thấy các nhà phê bình văn học lên tiếng khép tội ông. Trong khi đó, nhiều trí thức tên tuổi nhận ra nét đặc sắc của cây bút Nguyễn Trung. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng khi đánh giá Dòng đời đã cho rằng, nên thể tất cho tác giả việc phải “cưỡng ép văn chương”, bởi đã “cố gắng có cái nhìn toàn diện, tổng hợp, nhưng không thể nào mô tả hết được các sự kiện, nên đành phải tìm cách thể hiện qua đối thoại”. Giáo sư Cao Huy Thuần đặt câu hỏi “Tiểu thuyết chăng?” và khẳng định: “Tất nhiên rồi!”, cuối cùng nhận xét rất xác đáng: “Nhưng chưa thấy ai viết tiểu thuyết như thế. Tâm lý thể hiện qua đối đáp. Đối đáp thay thế cho mô tả. Đọc truyện mà có cảm tưởng như xem kịch trên sân khấu”. Hay hoặc chưa hay, thích hoặc không thích, việc đó tùy cái “tạng” của mỗi người đọc, nhưng chắc chắn Nguyễn Trung có phong cách riêng biệt không lặp lại ai. Đó là phẩm chất quan trọng bậc nhất của một người lao động văn học nghệ thuật. Đọc , cũng như Dòng đời trước đây, sẽ thấy tác giả dồi dào vốn sống, miêu tả sinh động những cuộc đấu tranh tư tưởng, hội thảo của trí thức, biểu tình của quần chúng đòi dân chủ và cách trấn áp thô bạo của công an…
Nguyễn Trung là một đảng viên cộng sản. Ông vào Đảng ở một thời Đảng biết đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên, dám hi sinh vì độc lập tự do của dân tộc. Nguyễn Trung là một trong những đảng viên sớm nhận ra Đảng độc tài và rời bỏ dân chủ. Ông coi đó chính là nguyên nhân khiến cho một Đảng cách mạng bị lâm vào suy thoái, trở thành một Đảng tham nhũng.
Hơn mười năm qua, Nguyễn Trung không mệt mỏi, cố công phân tích thực tiễn, tìm kiếm ánh sáng lý luận mới, mong giúp cho ban lãnh đạo của Đảng nhìn thấy con đường trở về với dân tộc, trả lại quyền dân về cho dân, bám sát nguyện vọng của đa số nhân dân. Các bài viết của ông đã nâng dần các đòi hỏi mỗi ngày một cao hơn.
Năm 2006 khi viết Thời cơ vàng và hiểm họa đen, Nguyễn Trung nêu ra hai luồng dư luận: Một là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện đa nguyên đa đảng để có tự do dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển. Hai là, giúp Đảng khắc phục những hẫng hụt của mình để tiếp tục thực hiện được vai trò lãnh đạo. Khi ấy, Nguyễn Trung đã khẳng định mình theo ý kiến thứ hai. Viết Dòng đời, ông cảnh báo tình trạng “Kẻ thắng xô xát nhau chia quả thực”. Do vậy mà bi kịch của đất nước cũng giống như bi kịch trong gia đình của hai anh em ông Nghĩa. Ông Lễ nói thẳng với anh trai mình: “Đất nước đã thắng cuộc chiến tranh này, nhưng anh vẫn chưa thắng được em!..”. Tác phẩm cho thấy sự thắng thua giữa hai phía không phải là tìm lý lẽ thuyết phục nhau – thật ra là khuất phục nhau – mà phải làm gì để trả lời cho được câu hỏi gay gắt đang đặt ra: “Đất nước này bây giờ là của ai?”. Câu trả lời hồi đó chỉ là chống tham nhũng, quan liêu. Lần này hơn mười năm sau, đảng viên cộng sản, nhà văn Nguyễn Trung viết lại  với tư duy hoàn toàn mới, đã “vượt qua chính mình”.
Trong một chương của , tường thuật cuộc hội thảo về hiện tình đất nước, có đại diện của lãnh đạo Đảng, đại diện lão thành cách mạng, nhiều cán bộ, đảng viên và trí thức… Tại đây, thạc sĩ doanh nhân Nguyễn Thị Bạch Yến (có con trai là thầy giáo trường đại học PH vừa bị công an bắt tạm giam trong cuộc mít tinh phản đối Trung Quốc xâm lược) được mời lên diễn đàn. Bà Yến cố nén nỗi đau riêng để bình tĩnh nhận định khách quan về nguyên nhân tạo ra bi kịch của đất nước trong 70 năm qua: “Lực lượng chính trị và trí tuệ đất nước chúng ta – dù là bên nào, Hà Nội hay Sài Gòn – đều có hiểu biết hão huyền và quá khờ dại về thiên hạ, về cái thế giới chúng ta đang sống… Đó là bài học đẫm máu thứ nhất […] Mỗi chúng ta hôm nay có dám thừa nhận bi kịch của đất nước một phần có nguyên nhân là sự giác ngộ chưa đầy đủ của các lực lượng chính trị và trí tuệ của cả nước – dù là bên nào – về lợi ích tối cao của quốc gia hay không?… Đấy là bài học đẫm máu thứ hai!”.
Bà thẳng thắn cho rằng, mọi thứ chủ nghĩa áp đặt cho đất nước ta và sự liên minh ý thức hệ chỉ đem lại thảm họa: “Chúng ta không thấy liên minh ý thức hệ như vậy đang giam hãm nhân dân ta trong sự nô dịch mới của quyền lực Đảng, đang làm suy vong quốc gia, và trên thực tế là đang chặn đứng con đường phát triển của đất nước?”.
Nghe đến đây, vị đại diện lãnh đạo đấm bàn thình thình. Rồi ông đột nhiên đứng bật dậy, chỉ vào Bạch Yến: “Phản động! Bắt! Công an đâu? Bắt ngay!”.
Nhưng do áp lực của cử tọa và của vị lão thành cách mạng, đối thoại vẫn tiếp tục. Bạch Yến tiếp tục thuyết trình, bác bỏ cả hai mệnh đề “Đi với Tàu, mất nước. Đi với Mỹ, mất Đảng”. Bà nói: “Xin thưa! Số phận đất nước ta không phải được định đoạt bởi theo ai mà, ở chỗ ta phải là chính ta và phải có năng lực, có phẩm chất, tập hợp được sự hậu thuẫn của cả thế giới cho sự nghiệp của nước ta nói riêng và cho lẽ phải nói chung […] Dứt khoát không thể gửi nhà cho Tàu hay cho Mỹ giữ hộ được. Cũng chẳng có Tàu hay Mỹ nào chịu làm lính đánh thuê giữ nhà cho ta đâu ạ!(Tiếng vỗ tay ran lên)”. Bà kết luận: “Trung Quốc đặt nước ta trước hai vấn đề: Hoặc là anh đủ sức trở thành đối tác được tôi tôn trọng, hoặc là anh dặt dẹo cam chịu cho tôi khuất phục, buộc làm nô lệ!”.
 được viết lại đã thay đổi về chất những nội dung đổi mới chính trị.
Yến nhấn mạnh 40 năm qua còn có bài học thứ ba, tuy ít đẫm máu hơn, nhưng rất nhiều mồ hôi và nước mắtĐó là bài học của phát triển
Yến luôn luôn nói thẳng quan điểm của mình: “Về câu hỏi: Có phải chúng tôi đòi đa nguyên, đa đảng không? Xin thưa, chúng tôi yêu cầu nhiều thứ còn cao hơn đa nguyên, đa đảng ạ! Về vấn đề đa nguyên đa đảng, tôi xin phép nêu lên suy nghĩ thế này. Đây là đòi hỏi tất yếu của một thể chế dân chủ, không thể khác được. Là nước đi sau, chúng ta có thể từ kinh nghiệm của cả thế giới và của chính mình, làm sao để xây dựng nên được một thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng của trí tuệ, của dân chủ và của phát triển, loại bỏ ngay từ đầu nguy cơ của đa nguyên, đa đảng hỗn loạn”. Yến nhấn mạnh: Song ngay bây giờ nhất thiết phải xây dựng bằng được những điều kiện không thể thiếu cho việc thành lập một thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng như thế […]Hiến pháp mới, Tòa án Hiến pháp và sự thực thi nghiêm minh luật pháp phải trở thành nền tảng và công cụ cho việc xây dựng và bảo đảm sự vận hành của một hệ thống chính trị đa nguyên, đa đảng [...] Mặc dù lúc này chưa nên đặt ra vấn đề lập ra các đảng phái mới, chúng tôi nghĩ như vậy”. Nhưng bà đưa ra kiến nghị: “Đại hội Đảng khóa tới phải ghi vào chương trình nghị sự và giao cho ban chấp hành Trung ương khóa tới thực hiện. Đó là xây dựng xong và trình Quốc hội thông qua Luật về các đảng phái chính trị của nước ta, Đảng Cộng Sản Việt Nam thực hiện trước, sau đó các đảng ra đời sau cứ thế mà làm theo”.
Vị đại diện lãnh đạo chỉ tay thẳng vào bà Yến:
- Xin lỗi bà Yến, bà nói gì? Luật Đảng phái chính trị cho Đảng Cộng Sản Việt Nam?”
- Thưa vâng!
- Đảng cũng phải chịu sự phán xét của Luật này?
- Thưa vâng. Đảng phải tuân thủ Hiến pháp, chịu sự phán xét của Tòa án Hiến pháp và chịu mọi ràng buộc của Luật về các Đảng phái chính trị…
Bà Yến chưa nói hết câu, vị đại diện lãnh đạo bỗng dưng nấc liên tục, mặt tái tím dần, rồi ngã phủ phục xuống bàn bất tỉnh… ( có những chỗ trào lộng cho ta được bật cười như thế). Người ta phải đưa ông đại diện lãnh đạo đi cấp cứu. Cuộc đối thoại vẫn tiếp tục…
Nhiều người cho rằng mọi chuyện chuẩn bị cho Đại hội đã an bài rồi, chỉ còn dang dở chuyện nhân sự mà thôi. Ván đã đóng thuyền rồi, những mong ước cải cách chính trị chỉ là hão huyền. Cuộc thảo luận lại sôi nổi. Bà cho rằng không nên coi mọi công việc của Đại hội Đảng là “ván đã đóng thuyền” chẳng còn gì để bàn, chừng nào chưa nhận rõ được thực trạng đất nước, những mối nguy và thách thức phía trước… Về vấn đề nhân sự, Yến trình bày lý lẽ không thể tìm và chọn theo mâm bát đã được bày ra trình Đại hội!
Yến kết thúc phần trình bày của mình: “Tình hình thế giới đã sang trang, tình hình đất nước cũng sang trang, mong mỏi Đại hội XII phải là Đại hội của sự thật, hòa hợp dân tộc và cải cách…”.
Đối thoại kết thúc, trên đường về nhà, Yến được tin con trai bị công an đánh chết trong lúc tạm giam, toàn thân run bắn, trong đầu sục sôi:
Pôn-pốt giết chồng ta! Hải tặc giết em ta! Hôm nay công an cộng sản giết con ta! Trời ơi sao chúng mày ác thế!
Tiếng kêu gói gọn 24 từ đã nói lên sâu sắc nỗi đau 40 năm qua của dân tộc, hiện rõ những khuôn mặt thủ ác, dù chúng ở những phía khác nhau nhưng tâm địa hệt nhau. Từ đó cho thấy cần phải thay đổi những gì và bắt đầu như thế nào.
 kết thúc với những dòng sau:
“…Tin đầu tiên lên mạng…
…Sang ngày sau, các cơn bão mạng dấy lên các cuộc bãi khóa, bãi công…
…Liên tiếp tuần này sang tuần khác, các con lũ quét của sự thật phá tan tành nhiều thành trì của dối trá, quật lên mặt đất chỏng chơ các xác thối của tội ác và tham những…
…Đất nước chuyển mình trong Lũ…
Stefan Zweig, một nhà văn lớn của thế kỷ 20, trong bài Người giáo dục sự tự do (viết về triết gia Nietzsche) có đoạn: “Luôn có những con chim báo bão, sứ giả của trí tuệ, đi trước những tai họa lớn bằng sự bay của mình…”. Tiểu thuyết  của Nguyễn Trung đã có một “sự bay”, dự báo đầy trách nhiệm về một tai họa lớn đang đến và cách để tránh nó.
Hy vọng cả dân tộc cùng lắng nghe, cùng sát cánh đứng lên, tránh tai họa lớn cho Tổ quốc đã quá nhiều đau khổ, chọn được con đường hòa hợp hòa giải, để tiến lên kiến tạo tự do hạnh phúc.
Ngày 1 tháng 6 năm 2015