Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Kiêm Đoàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trần Kiêm Đoàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 6 tháng 7, 2026

Cám ơn đất nước Hoa Kỳ / Thank you, America

Trần Kiêm Đoàn

Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

Cây nêu tâm ảnh

 Trần Kiêm Đoàn

 

Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2025

Doãn Quốc Sỹ từ hiện sinh đến vào thiền

 Trần Kiêm Đoàn

Doãn Quốc Sỹ qua nét vẽ của  Đỗ Duy Ngọc

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ mới qua đời tại Mỹ, hưởng thọ 102 tuổi (theo lịch Âm là 103 tuổi). Ông là hàng nhà văn tiền bối cuối cùng trong thế hệ Chiến tranh Việt Nam vừa ra đi. Ông vừa là nhà văn, vừa là nhà giáo và cho rằng dạy học là nghề, viết văn là nghiệp. Như thế trong nhãn quan Phật giáo thì phải chăng văn chương là duyên và tác phẩm là “nợ” như khái niệm “duyên nợ trần ai” giữa đời thường.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2025

Giữa hoang mạc tinh thần tìm lại tâm kinh

 Trần Kiêm Đoàn

Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy...

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2025

Tràng hạt u minh

 Trần Kiêm Đoàn

 

 

Xem tập truyện Hạt U Minh, người đọc hình dung nhân gian đâu đó mang tràng hạt u minh – u u, minh minh; mù mù mịt mịt, sáng lòa sáng tỏa – như một chuỗi duyên duyên nghiệp nghiệp tương tác trùng trùng trong dòng đời nghiệt ngã và cô đơn nhưng cũng lắm nẻo đi về thanh thỏa và giải thoát tùy bước đi và hướng tới mà người thiện tâm, quý chữ thường gọi là… tu.

Thứ Sáu, 6 tháng 6, 2025

Phỏng vấn trí tuệ nhân tạo về hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam

 Thực hiện: Trần Kiêm Đoàn – từ Sacramento, California, Hoa Kỳ lúc 5:15 PM ngày 3-6-2025

Trả lời: Trí tuệ nhân tạo Chat GPT – OpenAI

 

Lời mở đầu của người phỏng vấn:

Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức:

Thứ Tư, 20 tháng 12, 2023

Hiện thực và huyền thoại về các tu sĩ Phật giáo Việt Nam

Trần Kiêm Đoàn

image

Hòa thượng - Thiền sư Thích Tuệ Sỹ (Thầy Tuệ Sỹ) viên tịch mới vài tuần. Các đơn vị chùa viện, đoàn thể Phật giáo Việt Nam, một số ít trong nước và đông đảo nhất là ngoài nước, tổ chức lễ tưởng niệm một danh tăng thuộc thế hệ Chiến tranh Việt Nam. Những trang nhà Phật giáo cũng như các cơ sở truyền thông online tiếng Việt đã rộ lên những bài viết, những phát biểu đủ mọi đề tài và thể loại nói đến tài năng, công hạnh và đạo nghiệp của Thầy Tuệ Sỹ. Những bài viết xuất hiện dưới nhiều thể loại như văn, thơ, điếu thi, điếu văn, bình luận, hồi ký, tùy bút… và có luôn cả Kỷ Yếu Tri Ân thực hiện trước khi Thầy Tuệ Sỹ viên tịch. Bên cạnh những bài viết nghiêm túc, bái biệt đầy đạo tình gây cảm xúc chân thành thì cũng có rất nhiều bài được viết theo kiểu “phong thánh”, ngợi ca cường điệu đến mức độ gây dị ứng… tâm lý và khơi mào cho những bài phản biện trái chiều.

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2023

Vẽ chân dung thiền sư Liễu Quán bản hạnh dung thông

Trần Kiêm Đoàn

Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) đã đem Đạo vào Đời; đưa đạo Phật Việt Nam về với Đạo pháp - Dân tộc - Nhân văn trong khung thời gian “con số vàng” (tam bách dư niên hậu) để nhớ và quên của Nguyễn Du. Ba trăm năm sau có còn ai thương tưởng ngấn lệ Tố Như?! Cảm xúc lãng mạn của thi hào nước Việt làm người ta liên tưởng đến ba trăm năm Thiền sư Liễu Quán; người đã phát huy bản hạnh dung thông những nguồn thiền muôn phương, đậm nét nhất là từ Trung Hoa, thành một dòng thiền thuần Việt chảy vào nguồn sống tinh thần của nhiều thế hệ Việt Nam trên quê mẹ cũng như quê người.

Chủ Nhật, 29 tháng 10, 2023

Sau giấc Trường Sơn

Trần Kiêm Đoàn

Một ngày mùa Thu, thi sĩ Trần Trung Đạo từ Boston gọi báo tin về sức khỏe của Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ ở Việt Nam đang ở vào tình trạng mong manh nhất từ trước tới nay. Dù câu chuyện trao đổi trên điện thoại liên quan thời sự và Phật sự, nhưng mối quan tâm đậm nét vẫn là Thầy Tuệ Sỹ. Ở chặng tuổi đời 80, tuổi đạo 70, thời gian dù chỉ là bóng câu qua cửa sổ, là chỗ dựa rất tương đối và chủ quan để làm phương tiện đo lường độ lớn, tầm cao và chiều sâu của một nhân vật; nhưng cũng ít nhiều có độ bám trong một khung cảnh lịch sử như Việt Nam qua bao thăng trầm biến động. Trong đó, đạo Phật Việt Nam đã đồng hành với đất nước và dân tộc dù thế sự có thăng trầm đến mức độ nào.

Đề tài chính là việc thực hiện cấp tốc một Kỷ Yếu đặc biệt về Thầy Tuệ Sỹ với ước mong Thầy sẽ có dịp đọc qua giữa lúc Thu sang với những cơn gió heo may vô thường đang thấp thỏm đánh thức giấc mơ Trường Sơn…

Viết về Thầy Tuệ Sỹ thật khó bởi mộng mà rất thực, hàn lâm mà chân quê, uyên bác như rừng thẳm mà nhẹ nhàng như giấc mơ trong quán trọ bên đường. Kiến thức và tác phẩm của Thầy có thể chất đầy giá sách trong tàng kinh các; nhưng thơ Thầy trong vắt và miên man phong trần như hồn… du thủ. Người lạ yêu thơ lần đầu đọc thơ Tuệ Sỹ sẽ đắm đuối trong một xứ thơ trùng điệp và phiêu hốt của một gã làm thơ lãng tử đa tình và không hề hay biết thi nhân là một tu sĩ vì không có một câu chữ nào làm dáng mẫn tuệ bằng những danh từ Phật học thời thượng.

Thứ Tư, 25 tháng 10, 2023

Việt Đông - Việt Tây: Trên đường văn nghệ giao lưu

Trần Kiêm Đoàn

Huế thơ, Huế mộng… Huế tộng bộng hai đầu!

Chính cái “tộng bộng hai đầu” tưởng như vô tâm, vô tư, vô duyên… đó mới là đại kế sách để Huế cùng đất nước chuyển mình và tồn tại trong cuộc hành trình lịch sử gian nan đầy bi tráng cho đến hôm nay.

Chính trị nhất thời, con người muôn thuở.

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2022

Có chăng đạo Phật Giáo là một tôn giáo vô thần, thực dụng…

Trần Kiêm Đoàn

clip_image002

Đạo giữa đời thường

Phật Giáo thực dụng, ứng dụng, thực hành hay nhập cuộc?
Vào những năm 1960, đọc những tác phẩm có huynh hướng ứng dụng tôn giáo, đem đạo vào đời như Đường hay Pháo Đài của linh mục Nguyễn Ngọc Lan hay Đạo Phật Hiện Đại Hoá của Thiền sư Nhất Hạnh… người ta thấy giới trí thức cấp tiến tôn giáo có sự chuyển biến thuần tu từ thánh đường, tu viện sang thái độ nhập cuộc ứng dụng lý thuyết vào hiện thực sinh động.

Nếu nói về tính khả thi và khả dụng của một nguồn tín lý tôn giáo ứng dụng giữa đời thường thì đó rõ ràng là tính thực dụng tôn giáo. Đạo không phải là pháo đài tư tưởng mà là con đường để thực hành hay ứng dụng; đem những nguyên lý kinh điển để sống đạo giữa đời.

Mở đầu chương 1: Vấn đề hiện đại hoá, Thầy Nhất Hạnh viết:
“Hiện đại hoá đạo Phật không có nghĩa là thế tục hóa đạo Phật. Đạo Phật đi vào cuộc đời nhưng không bị cuộc đời làm giảm mất đi những đặc tính siêu việt của nó. Mất đi những đặc tính siêu việt này thì đạo Phật không còn là đạo Phật. Cho nên sự có mặt của những hình thức và những danh từ đạo Phật trong cuộc đời không được coi như là sự có mặt của đạo Phật trong cuộc đời. Chỉ khi nào người ta thấy bản chất của đạo Phật thấm nhuần trong mọi sinh hoạt của cuộc đời người ta mới có thể nói đến sự có mặt của đạo Phật trong cuộc đời như một thực tại có sinh khí.”

Sau bài viết giới thiệu Đại học Phật Giáo Thực dụng (www.trankiemdoan.net) được phổ biến rộng rãi trên các trang mạng xã hội toàn cầu, chúng tôi đã nhận được nhiều phản hồi; đặc biệt là nhóm chữ mà nhiều người bày tỏ ý kiến bị dị ứng mạnh nhất là hình dung từ “Phật Giáo Thực dụng”! Ý kiến xoay quanh rằng, tại sao không gọi là Phật Giáo Ứng dụng, Phật Giáo Thực hành, Phật Giáo Nhập thế… ?

Sự góp ý cụ thể nhất đến từ Gs. Trần Việt Long:

Danh xưng của trường có lẽ nên dùng chữ Thực Hành (Practical) thay vì chữ Thực Dụng (Pragmatic) vì chữ “thực dụng”thường có nghĩa hướng về vật chất và thủ lợi.

Và sự góp ý gián tiếp nhưng cũng không kém phần “nóng bỏng” đến từ BS/LĐT GĐPT Huyền Quang:

“Phật Giáo thường bị gọi là ‘tôn giáo vô thần’, nay thêm hình ảnh ‘thực dụng’ nữa thì thiếu mất vẻ đẹp vốn có và muôn đời của một tôn giáo biểu tượng cho Từ bi và Trí tuệ”.

Những dòng viết sau đây là để chung tay góp ý với quý đạo hữu và thân hữu về một cách gọi tên hợp tình, hợp lý cho một tổ chức giáo dục Phật Giáo mới ra đời trong thời đại công nghệ có quá nhiều thông tin và thử thách này.

Tánh “vô thần” trong đạo Phật

Có lẽ đây là một câu hỏi xuất phát từ những ý tưởng đã quá cũ mòn vừa bình dân, vừa kinh điển và đã được nói đi nói lại qua nhiều thế hệ.

Câu hỏi không nằm trong yếu tính của đạo Phật mà ở khái niệm danh từ: Thế nào là “thần” và thế nào là thực dụng?

Ở phương Tây, khái niệm vô thần (atheism) được định nghĩa là “không tin hay thiếu đức tin về sự hiện hữu của Thượng Đế và các thánh thần (disbelief or lack of belief in the existence of God or gods – Oxford Languages.) Theo lý thuyết phương Tây, Thượng Đế là một thể tuyệt đối không sinh, không diệt, không bắt đầu, không kết thúc. Ngài là đấng sáng tạo và là chủ tể của càn khôn vũ trụ. Trong lúc đó, thuyết Tánh Không và Duyên Khởi của đạo Phật phủ nhận rốt ráo mọi thể tướng, mọi thể trạng tuyệt đối tự tồn, tự tại – tự nó mà có! Vũ trụ là vạn pháp với trùng trùng duyên khởi, sinh diệt trong từng sát na, hợp duyên mà thành, tận duyên mà tan. Mặc dầu Phật Giáo “siêu thần” với nhãn lý “tam thiên đại thiên thế giới, hàng hà sa số chư Phật…” nhưng Phật Giáo không có chỗ đứng cho bất cứ một hình thức thần thánh, sống đời bất tử nào cả. Sự bác bỏ hiện hữu phi lý tự tồn này hoàn toàn không mâu thuẫn hay phủ nhận Tín lý đạo Phật có nguyên truyền thống kính ngưỡng và thừa hưởng mọi ân đức của chư Phật và thánh chúng truyền thừa từ thế hệ này đến thế hệ khác.

Bởi không cùng tín lý, tín điều và tuyệt đối hoá một hệ thống thần thánh kết hợp với các khái niệm thần linh, tôn giáo dùng lâu thành quen như các tôn giáo tin vào một Đấng Toàn Năng đời đời vô sinh vô diệt: Ấn Độ Giáo, Bà La Môn Giáo, Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo… nên danh xưng “hữu thần” hay “vô thần” của các tôn giáo nhất thần, đa thần hay phiếm thần… đều không thể ứng dụng vào đạo Phật. Do vậy, dựa vào một hệ thống đức tin về thần thánh rất phức tạp và đầy đầy ảo tưởng để cho rằng Phật Giáo là một tôn giáo “vô thần” bởi không “hữu thần kiểu ta” thì thật là quá chủ quan, khập khiễng và phiến diện. Như Việt Nam chỉ nhớ ngày chết (giỗ, kỵ); trong khi Mỹ chỉ nhớ ngày sinh. Nếu có một cuộc thư hùng văn hoá, người Việt mắng: “Mỹ vô luân!” (không biết luân thường đạo lý, không nhớ ngày chết của cha ông!). Và, Mỹ mắng Việt Nam: “Việt bất nhân!” (không có nhân văn vì không nhớ ngày sinh ra đời!). Thật ra, chẳng có bên nào sai cả; chỉ có khái niệm văn hóa khác nhau mà thôi.

Nếu “thần” được hiểu như biểu tượng của năng lượng tinh thần và tâm linh thì Phật Giáo là một tôn giáo Hữu Thần Chân Nghĩa.

Tánh thực dụng trong đạo Phật

Đạo Phật phát nguyên từ Ấn Độ nhưng lại bị mất bóng tại quê hương nguồn gốc.

Ngày nay, có dịp viếng thăm những thánh tích Phật Giáo tại Ấn Độ, khách hành hương mới xúc động nhận ra một cách thấm thía nguyên nhân ra đời và vắng bóng đạo Phật tại xứ này. Đã hơn hai nghìn năm sau nhưng vùng đất Bihar rộng mênh mông nơi đức Phật sinh ra, trưởng thành, xuất gia, đắc đạo và chuyển pháp luân vẫn còn là một vùng thảo nguyên hoang mạc. Nơi đây, các giai cấp xã hội với biên giới phân chia đẳng cấp, nay vẫn còn là hố thẳm, non cao khó vượt; thế mà mấy nghìn năm trước, đức Phật đã chủ trương xóa bỏ giai cấp bởi “máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn” là mẫu số chung của kiếp sống con người. Hindu, Bà La Môn, Hồi Giáo… không dung cho một tôn giáo khác có điều kiện chung sống cùng phát triển vì niềm tin tôn giáo cổ xúy phân tranh và thù nghịch nhân danh Phạm Thiên, Allah, Thượng Đế, Vua Trời… Trong lúc đó, thuyết Tánh Không của Phật Giáo phủ nhận ảo tưởng và nương theo thực tại.

Tính thực dụng của đạo Phật bắt ngưồn từ sự tôn trọng những gì hiện thực có thể chính mình quan sát, tiếp cận, phân tích và suy diễn.

Từ 1884, Phật Giáo tại Việt Nam bị thoái trào bởi sự xâm lăng của người Pháp và áp lực cải đạo núp bóng súng đồng đại bác. Phật Giáo càng ngày càng bị đồng hóa với “đạo thờ cúng Ông Bà”, vô hình trung, Phật Giáo phát huy tính Thực Dụng một cách tích cực để hòa mình vào nếp sống tâm linh của đại chúng. Làng nào cũng có Đình, Chùa, Miếu, Vũ. Làng nào cũng có một ngôi chùa. Chùa căn bản là nơi thờ Phật. Tuy rất ít chùa có một tu sĩ xuất gia làm sư trú trì, những người dân làng tin và quy y theo Phật Giáo thường nối kết với nhau lại thành một đoàn thể nhỏ gần như tự phát gọi là Khuôn Hội. Người đứng đầu gọi là Khuôn Trưởng. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài, tất cả các hình thức “tượng pháp” hầu như vắng bóng nhưng có thể nói Phật Giáo đóng vai trò chỗ dựa tâm linh thâm sâu cho hầu hết người dân: Chuyện vui với lễ hội tế tự, chuyện buồn với tang tế ma chay cho tới hình thức tâm lý trị liệu bình dân (general psychotherapy) đều dựa vào lễ nghi, kinh sách của Phật Giáo. Hầu như làng nào cũng có những vị thầy cúng hay những nhóm hộ niệm sau lũy tre xanh tụng kinh chú, cầu an, cầu siêu, cầu phước cho làng nước. Có thể nói tính thực dụng của Phật Giáo đã ăn sâu và tô đậm những nét tinh thần của dân tộc tính Việt Nam.

Ngày nay, những dấu hiệu thoái trào của tượng pháp trong khung cảnh tổng thể của thời mạt pháp đang dần dần hiện ra như: “đa văn kiên cố”, nghĩa là chỉ chú trọng vào việc nghiên cứu, thảo luận kinh giáo, say mê giảng kinh thuyết pháp mà chẳng chú trọng vào việc tu hành. Và giai đoạn cuối của thời mạt pháp là “tháp tự kiên cố”. Đây là lúc người ta dính chùm vào việc xây dựng chùa to tượng lớn, việc thảo luận kinh sách dính mắc vào chữ nghĩa hàn lâm, lý sự khúc mắc, càng ngày càng rời xa thực tế. Và, dấu hiệu mạt pháp vào thời kỳ cuối cùng (dự ước 500 năm chót) là hiện tượng “đấu tranh kiên cố”. Cụ thể là tứ chúng chỉ hăng say lý thuyết, chuộng hình thức mà quên tu, tăng già phân hóa…

Dù muốn hay không muốn, chọn lựa hay bị hoàn cảnh khách quan vận hành áp đặt, chúng ta đang ở thời kỳ tượng pháp trong tiến trình mạt pháp mà từ xưa đức Phật và chư tổ đã từng nhắc nhở. Tuy nhiên, tai trời ách nước dẫu có tới như một tác động khách quan thì nỗ lực chủ quan của từng nhóm phái và mỗi con người vẫn đóng vai trò quan trọng về mức độ hư hao và khả năng vượt qua hay giảm thiểu cơn sóng gió.

Người Phật tử Việt Nam đang đứng trước sự thách thức của thời kỳ tượng pháp với hiện tượng “đa văn kiên cố” tràn ngập từ tủ sách gia đình, máy điện toán cá nhân với sức chứa bằng cả thư viện sách. Lý thuyết về ứng dụng, áp dụng, nhập cuộc, dấn thân… đã bị “bão hoà” và hầu như không còn hay quá giới hạn tác dụng, nên chúng ta cần thực tế và thực dụng. Một Đạo Phật Thực Dụng là một “công án” đáng suy gẫm về kế sách khả thi để mong làm chậm lại và tác động nhẹ nhàng hơn cho quá trình tu học.

Thử khởi công đầu tư suy nghĩ và nếu có thể thì thực hiện bằng chương trình và hành động cụ thể về một CAO ĐẲNG PHẬT GIÁO THỰC DỤNG trong thời điểm “đa văn kiên cố” này; nên chăng?

Natomas, Trà Thu Cúc 6-10-2022

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

Tiễn biệt đồng môn, đồng nghiệp, thi văn hữu Trần Hữu Lục

Trần Kiêm Đoàn

Nhà văn – nhà thơ Trần Hữu Lục đã từ trần vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 30/8/2021 (nhằm ngày 23/7 năm Tân Sửu) tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn, Việt Nam. Là đồng môn ban văn chương Đại Học Sư Phạm Huế, đồng nghiệp dạy môn Việt Văn bậc Trung học; là văn hữu, thi hữu cộng tác trên báo Nhớ Huế và nhiều diễn đàn tiếng Việt khác trong nhiều năm, tôi và các bạn ở trong nước cũng như hải ngoại rất tiếc thương sự ra đi của quý hữu Trần Hữu Lục. Trong một hoàn cảnh quá đặc biệt, chỉ xin có vài câu thơ xuôi dòng như một lời ai điếu tiễn biệt bạn hiền Trần Hữu Lục. TKĐ

Thứ Bảy, 22 tháng 5, 2021

Thoảng hồn thơ Việt trên đất Mỹ

Trần Kiêm Đoàn

Sáng nay, 20-5-2021, chén trà móc câu Thái Nguyên miên man hương vị quê nhà trở lại với mình sau hơn một năm dài vắng bóng. Lâu nay, vì đại dịch phải uống mãi trà Tàu, trà tứ xứ. Hương trà cũ lại phảng phất hồn quê khi cùng lúc có tin một bé gái người Việt thuộc thế thứ ba trên đất Mỹ đang ở cùng thành phố Sacramento với mình, vừa được giải “thi sĩ khôi nguyên” của tổ chức Thi sĩ Tuổi Trẻ Toàn quốc (National Youth Poet Laureate - NYPL) tại Hoa Kỳ: Đó là Alexandra Huynh (Huỳnh Thụy An), 18 tuổi, vừa đoạt giải.

Văn bút thơ thẩn lắm khi có nét tình cờ của duyên thơ nhưng thi ca đích thực thường là do “văn chương nết đất, thông minh tính trời” như thi hào Nguyễn Du điểm xuyết Kim Kiều. Thật vậy, người đoạt giải thơ Tuổi trẻ Toàn quốc Hoa Kỳ năm 2021 này là con gái của đôi vợ chồng người Việt gốc Nha Trang. Hai anh chị theo gia đình định cư tại Mỹ theo diện HO-1 năm 1990 và lập gia đình tại Mỹ, sinh được 4 cháu (Thụy An và Thu Bình là hai cháu gái thứ nhì, sinh đôi), hiện đang ở tại Sacramento, thủ phủ tiểu bang California. Thụy An tốt nghiệp thủ khoa trung học Mira Loma và theo học trường đại học Stanford là đại học được xếp hạng trong số 3, 4 trường đại học danh tiếng nhất của Mỹ và toàn cầu. Thụy An cũng là huynh trưởng của tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam, sinh hoạt tại chùa Kim Quang, Sacramento. Và, hồn thơ xa vời mà sâu lắng cũng thường là hương hoa của huyết thống. Thụy An là cháu của nhà thơ Duy Năng (1935-2002), một nhà thơ nổi tiếng của miền Nam trước 1975.

Trả lời phỏng vấn của hãng thông tấn AP vào tối ngày 20-5-2021, Alexandra Huynh nói rằng thơ cũng là một khí cụ đầy sức mạnh để đương đầu với sự thách thức của cuộc sống.

Sinh hoạt với Gia Đình Phật Tử Kim Quang từ lúc còn bé, tâm hồn Thụy An đã được tưới tẩm chất thơ qua ca dao lời ru của Mẹ, qua tiếng hát và lời kinh trong sinh hoạt đầy đạo hạnh và êm đềm của tuổi trẻ Phật tử dưới mái hiên chùa. Chất liệu và suối nguồn thi ca này đã thể hiện trong lời nói của Alexandra Huynh với phóng viên quốc tế: “Tiếng Việt tự nó đã là một tiếng nói giàu chất thơ. Trong sinh hoạt văn hóa của người Việt người ta đã nói thành thơ trong cuộc sống hằng ngày.” Thụy An còn cho hay là đã tập viết những lời thơ phổ nhạc từ khi mới 7 tuổi; đặc biệt là sau những lần đọc thơ trước công chúng thì lại càng cảm thấy sức mạnh của chữ nghĩa có tác động tích cực lên tâm lý và tinh thần đại chúng. Alexandra Huynh căn bản sáng tác thơ bằng tiếng Anh nhưng luôn nuôi hy vọng là sẽ có tác phẩm thơ ra đời và sẽ được chuyển ngữ sang “tiếng Mẹ đẻ”, ngôn ngữ Việt Nam.

Tổ chức văn học nghệ thuật và phát triển Urban Word đã thành lập chương trình Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia (NYPL) năm 2017, người đầu tiên được giải là Amanda Gorman. Gorman xuất bản thi phẩm đầu tiên từ năm 2015. Năm 2020, nhà thơ trẻ tuổi da đen này đã có vinh dự tên tuổi của mình được giới thiệu và làm nổi bật danh nghĩa tổ chức Nhà Thơ Trẻ Quốc Gia qua phần diễn đọc bài thơ “The Hill We Climb” trong ngày lễ nhậm chức của tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden. Chính Alexandra bày tỏ đã có được sức mạnh tinh thần hỗ trợ và có thêm năng lực sáng tạo thi ca từ hình ảnh Amanda Gorman đọc thơ cho cả thế giới đều nghe.

Thế hệ trẻ người Việt nơi xứ người đã tạo được nhiều thành tích xuất sắc trong gần nửa thế kỷ lịch sử tha hương sau 1975 nhưng phần lớn là trong lĩnh vực khoa học công nghệ. Đặc biệt về văn chương nghệ thuật, tác phẩm ra đời đòi hỏi tài năng, sự thẩm nhập văn hóa và tài hoa ngôn ngữ. Nguyễn Thanh Việt được giải thưởng Pulitzer năm 2016 về tiểu thuyết The Sympathizer và Alexandra Huynh được giải thưởng thơ năm 2021 đã mang lại niềm tự hào cho cộng đồng người Việt tha hương khi nói về văn học nghệ thuật. Ngoài ra, những tác giả gốc Việt tên tuổi khác cũng góp mặt trên văn đàn thế giới và được tặng các giải thưởng danh giá như Ocean Vuong (Mỹ), Linda Lê (Pháp), Lại Thanh Hà (Mỹ), Kim Thúy (Canada), Nguyễn Hoài Hương (Pháp), Trần Minh Huy (Pháp), Monique Truong (Mỹ), Nam Lê (Úc)… Và, hy vọng một ngày không xa, sẽ có tên tuổi nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ Việt Nam tiếp cận với giải Nobel.

Sáng nay, có tin một số tác giả trong nước ngại dịch thơ của Alexandra Huynh từ tiếng Anh sang tiếng Việt vì không dễ dàng. Thật ra, thơ của Alexandra Huynh thường được sáng tác với sự kết hợp bất ngờ của những hình ảnh đầy tính biểu tượng nối kết thực tại. Ý và tình được diễn cảm bằng những câu chữ khá độc đáo. Một trong nhiều bài thơ với thể loại như thế được nhắc đến nhiều nhất là Lời Nguyện Mùa Thu (Autumn Prayer). Bởi thế, thơ của Alexandra Huynh không dễ dàng cảm nhận trực tiếp khi chuyển ý và chuyển ngữ nên tương đối khó chuyển ngữ một cách trọn vẹn để chuyển tải hết tinh túy của hồn thơ thi nhân qua ngôn ngữ thi ca của tiếng Việt. Mong rằng, tác phẩm dịch thơ bằng tiếng Việt đầu tay sẽ ra mắt sớm như mong ước của “thi sĩ khôi nguyên” trẻ tuổi đã chia sẻ…

LỜI NGUYỆN MÙA THU

đây là nơi tôi nhận mọi thông tin,
mẩu tin xưa cũ của thế giới
chẳng của riêng tôi
nhưng phảng phất mùi cảm thông

từ một ông già
với lòng cảm thông thương hại

ông giảng cho tôi
về bài học tên gì số mấy
& tôi nuốt xuống

cho đến khi ông nhắc đến Việt Nam
(cuộc chiến)
khi đó
tôi bắt đầu thật sự lắng nghe

nếu tôi không thể là người hùng
tôi mang tên người di dân gương mẫu

ôi những chiếc thuyền
& những người trên những chiếc thuyền ấy
can đảm biết bao & khác xa
đám tỵ nạn đương thời chúng ta nợ họ

Tôi ngậm chặt lưỡi
nghe âm thanh
thân thuộc gần như nhà mình khi tên Dương Thu Hương mất đi dòng sông
trong miệng lão thầy
và chẳng ai buồn hỏi vì sao
mặt tôi giàn giụa.

& nhớ đến chiếc bàn buồn bã,
trong góc xó lớp học
tôi viết lời nguyện cầu
cho lũ trẻ sắp vào chật lớp này:

hãy để đám trẻ được xưng tên chúng như mẹ chúng đã từng gọi thế.
hãy để điệp khúc được xướng lại hay cố gắng & cố gắng như thế.
hãy để những câu chuyện không pha chất trọ trẹ
& giữ lại thanh âm không phiên dịch.
hãy để lũ trẻ điền vào khoảng trống bằng ký ức.


ừ thì rau ngò. ừ thì tơ lụa. ừ thì tiếng giậm chân. căn nhà đôi. mật ngọt. tràng hạt. ừ thì nhựa đường. tiếng trống. những đôi giày. những lọn tóc. ừ thì nén hương. bánh mì. dây xích. đồng kẽm. ừ thì những ngôi sao. những ca khúc. những xôn xao trên truyền hình dây cáp, dòng sông. ừ thì những số nhân. số nhiều. ừ tình yêu. ừ tình yêu.

hãy để ký ức được kể lại bằng những khối u trong tim
hãy cho lũ trẻ biết tên gọi thực thụ của nỗi buồn.
hãy để chúng kết âm thanh thành hy vọng.
& rút tỉa từ những bi hùng ca của tổ tiên.
hãy để danh dự không bắt chúng làm con tin.
hãy để huyết thống chúng trở thành nguyên bản.
hãy để những gì mắt thấy tai nghe trở thành ngôn ngữ chính.

Alexandra Huynh

Hòa Bình Lê phỏng dịch

Trong buổi lễ công bố nhà thơ thắng giải National Youth Poet Laureate, Alexandra Huynh đã diễn đọc bài thơ Di sản với nội dung tạm chuyển ngữ tiếng Việt như sau:

Liên Phật Hội

những ngày này tôi hoan nghênh sự im lặng
cảm nhận vòng tay của trái đất
cả những lúc vắng âm thanh
tôi vẫn lắng nghe mọi câu chuyện
vẫn được gọi là hư cấu

tôi khắc chúng xuống lối đi
để biết hướng nào là nhà
đôi khi tôi để yên cho tiếng ồn cứ là tiếng ồn
không để cho nghĩa vụ phân trí
tôi không phải là máy móc gia dụng
cũng không phải là sinh vật phục vụ trong nhà

tôi là con người
tôi là con người
có sự hiện hữu bên ngoài cảm giác tội lỗi
có thứ từ ngữ dành riêng cho cảm xúc
và tôi không sợ gọi đúng tên nó

Trí óc tôi không phải nhà tù
mà là lăng kính
và tôi hiểu rằng
những chiếc bóng tăm tối hiện ra
trong sự hiện hữu của ánh sáng

và ngày tháng của tôi không đếm được dẫu chúng là con số
nên tôi đếm bằng sự tử tế
và nhắc đến tình yêu nhiều hơn lời tạm biệt
tôi đếm những bữa ăn thay vì sức nặng mang theo
và mang theo những điều hữu ích ngày sau

Một vài điều tôi nghiệm ra
Đôi vớ vẫn là vớ
dù chúng có lẫn lộn,
mọi điều tôi nghe về một căn phòng sạch vẫn đúng,
bạn có thể nhìn thấy nụ cười đằng sau cái khẩu trang,
cách tôi nói chuyện với bản thân
là cách tôi nói chuyện với bạn,
tôi nên gỡ nút câm của mình ra thường xuyên hơn,
tôi cần nước nhiều hơn tôi nghĩ tới,
nếu những người trong căn phòng này có thể mỉm cười,
nếu những người trong căn phòng này đều là người.

Ngay cả khi tôi tự tháo gỡ tôi khỏi
thế giới quy mô này
tôi biết mình hiện hữu.

Cuộc chiến vẫn tiếp diễn
ngay dưới hai bàn chân tôi;
Không cần hình ảnh chứng mình điều đó.
Nghi lễ khải hoàn đang diễn ra trong huyết thống tôi.
Không cần dải băng-rôn chứng minh điều đó.
Tôi là sự chiến thắng.
Mỗi ngày tôi thở.
Và nhiều năm sau này,
khi trở thành tổ tiên
tôi sẽ cho chúng biết
về sự can đảm của khoảng cách,
và cách chúng ta
nắm không gian thay vì nắm tay nhau.
Tôi sẽ cho chúng biết
màu sắc của sự can đảm;
âm vang của sự mất mát lan truyền
suốt một thế hệ,
và đám trẻ trở thành thầy cô giáo;
hiểu được tình yêu không định nghĩa bằng tuổi tác.
Tôi sẽ cho chúng biết trên mảnh đất này
chúng ta tước đoạt từ những người
chúng ta không bao giờ có thể đáp trả,
nhưng chúng ta sẽ cố gắng & cố gắng,
tôi sẽ cho chúng biết
mỗi dấu chân được cảm nhận như thế nào
phía bên kia hành tinh.
Vì vậy hãy để ý thật kỹ
đặt chân duy nhất về hướng sự thật.

Các bạn đã thừa hưởng sự im lặng,
bây giờ hãy cất cao tiếng hát.

Alexandra Huỳnh đọc thơ
Việt Báo phỏng dịch

Bình trà xanh Bắc Thái đã cạn nhưng hương vị quê nhà vẫn còn thoảng hương thơm và vị ngọt. Hồn thơ Việt trong thinh lặng vẫn còn lan tỏa năng lượng cho những thế hệ kế thừa.

Sacramento, Ngày Phật Đản 2565-2021

Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Tiếng mẹ cười

Trần Kiêm Đoàn

Vu Lan về…

Vu Lan cũng như Giáng Sinh, không còn là ngày lễ riêng tôn giáo. Đó là những dấu son thời gian của nhân văn ghi đậm nét cảm xúc của con người. Nếu Giáng Sinh là ngày lễ của Ân Tình thì Vu Lan là ngày lễ Nhớ Mẹ.

Cũng như mọi năm, Vu Lan là ngày mới hồi sinh của một chuỗi dài dấu ấn tinh thần đã cũ. Các bậc tu hành Phật giáo xuống lại cuộc đời sau mùa An Cư Kiết Hạ. Nhưng năm nay Mùa An Cư Kiết Hạ truyền thống của Phật giáo trùng hợp ngẫu nhiên mà đồng thời vời mùa đại dịch Cô Vy phải cách ly. Có điều khác nhau giữa dòng đời trôi chảy triền miên và biến cố nhất thời là các nhà tu Phật giáo đã “ra Hạ” mà cả nhân loại thì vẫn còn xao xác chuyện cách ly!

Hơn trăm ngày cách ly vì đại dịch Covid-19, bạn đã suy gẫm điều gì hay nhất. Xin đừng nghi ngại. Khái niệm “hay” của con chim sơn ca là tiếng hót cao ngất trời xanh nhưng với con dế mèn là tiếng kêu tỉ tê âm thầm trong bóng tối. Ý nghĩ riêng về cái hay mà tôi đã quán tưởng trong những ngày cách ly là tiếng cười của Mẹ.

Trong thiên nhiên xa vời và nếp sống hiện thực thì tiếng cười là sản phẩm diệu kỳ và quý hiếm nhất của đất trời. Tiếng cười cũng như khí trời và hơi thở, lúc nào và nơi nào chẳng có mà lại liệt vào hàng quý hiếm?! Gần triệu người đã ra đi vì bị Coronavirus ngăn hơi thở và bảy tỷ người đang ưu tư nếu một mai mình… khó thở rồi đi vào hết thở! Nụ cười thì nghiêm trọng hơn vì khi con người hết nụ cười là chết lâm sàng ngay trong cuộc sống.

Mọi sinh vật có sống, biết ăn, biết ngủ mà không biết cười. Ngựa hí có thể là ngựa cười mà biết đâu là đang khóc. Gà gáy, chó sủa, mèo kêu, bò rống… là đang cười chăng? Không đâu. Chỉ có con người bình thường, khỏe mạnh và hiện sinh tự tại mới biết cười.

Thằng Vui Điên ở Huế mấy mươi năm chạy rông, miệng lúc nào cũng ngỡ như cười nhưng chẳng ai biết thật ra là nó đang la khóc hay kêu cứu. Cái mất đầu tiên và lớn nhất của đời người là nụ cười. Chỉ có khi thân an không bệnh tật, tâm lạc không buồn hay vui quá độ người ta mới thật có nụ cười trọn vẹn chân thật, nụ cười tỏa chiếu lòng vui. Nhân gian có muôn vàn cách cười, vô số cảnh cười nhưng chỉ có Tiếng Mẹ Cười là nụ cười Trung Đạo nhất. Tiếng Mẹ Cười không phát xuất từ bờ nầy hay mé nọ; không cần phải được hay thua mà tất cả hội tụ vào lòng thương con không bờ bến. Mẹ cười khi đau để vỗ về, khi buồn để an ủi, khi no để an lòng, khi đói để chịu đựng, khi thành công để chia sẻ, khi thất bại để không bỏ cuộc. Tiếng Mẹ Cười cho con, vì con tự nhiên mà thiêng liêng như hồn Đại Ngã. Cho nên, nghĩ về Mẹ đầu tiên là Tiếng Mẹ Cười.

Gần 50 năm, tôi chưa bao giờ tách dòng suy nghĩ của mình về Mẹ để nhận diện Tiếng Mẹ Cười. Lớn lên, trưởng thành và tương tác giữa quê hương, làng nước, xóm nghèo qua những cảnh chiến tranh, hòa bình và ly tán, tôi chưa hề nghĩ đến Tiếng Cười của Mẹ vì Mẹ là hiện thân của tiếng cười bồng ẵm đời tôi tự nhiên như hơi thở. Cho đến khi tôi xa Mẹ lúc người 80 và biền biệt 10 năm trở về thăm Mẹ ở tuổi 90 vào năm 1992, tôi mới chững lại khi nhảy chân sáo trở về làng với Mẹ. Mẹ đó. Tóc mẹ bạc đi nhiều với khuôn mặt an tịnh không biểu tỏ vui buồn và đôi mắt ươn ướt tuổi già không khác nhiều lắm như ngày tôi ra đi. Khác chăng là trí nhớ Mẹ như lẫn trong sương mù. Mẹ hỏi tôi và các cháu thản nhiên như người trong nhà không có 10 năm xa cách. Có một khung trời vắng bóng nơi Mẹ mà tôi chưa tìm ra: Nụ cười. “Phải rồi, tiếng cười của Mạ mô rồi”. Cái vắng lặng đau nhói hiện ra nhỏ và mơ hồ như sợi tóc lớn dần. Tôi hoảng sợ. Mẹ ngồi đó nhìn tôi đăm đăm. Nhưng cái nhìn nội chiếu của chặng đời quá khứ. Trên khuôn mặt Mẹ đã hoàn toàn vắng bặt nụ cười. Mạ ơi! Con đã về với Mạ nhưng con đã vĩnh viễn xa khuất Tiếng Mạ Cười… Nửa năm sau ngày về thăm Mẹ, lúc nửa đêm về sáng ở Cali, tôi choàng thức giấc nhận tin điện thoại từ anh Thiện báo tin Mẹ tôi đã qua đời.

Câu mở đầu trong tập sách Về Huế xuất bản sau ngày tôi về thăm Mẹ là: “ Mạ ơi! Nếu có kiếp lai sinh, con chỉ xin được làm con của Mạ.”

Quê nghèo, chiến tranh, phân ly đã tạo ra những khúc quanh tâm lý và tình cảm khiến đời sống xã hội Việt Nam nhuộm tím trong cảnh hợp tan và thương tiếc. Người Mẹ Việt Nam – nhất là những bà Mẹ Quê – trở thành biểu tượng của hy sinh và tình thương con không bờ bến. Và đối với những người con Việt Nam nhân hậu thì tình thương Mẹ cũng sẽ không bao giờ đổi thay theo hoàn cảnh hay phai nhạt với thời gian.

Trong nghệ thuật thi ca, âm nhạc, hội họa, sân khấu Việt Nam, cảm xúc về Mẹ cũng trùng trùng khơi nguồn trong diễn xuất và sáng tạo. Trong dòng cảm xúc riêng mình thì Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười của Trần Trung Đạo, là bài thơ tiếng Việt mà riêng tôi cảm nhận là hay nhất về Mẹ trong vườn thơ Hải ngoại:

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng ai như tiếng lá thu rơi
Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ biết âm thầm thương nhớ thôi

Buổi ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng cả lòng con lúc nghĩ về

Mẹ vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên đời gió tạt với mưa tuôn
Con đi góp lá nghìn phương lại
Ðốt lửa cho đời tan khói sương

Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào
Tiếng Người hay chỉ tiếng chiêm bao
Mẹ xa xôi quá làm sao vói
Biết đến bao giờ trông thấy nhau

Ðừng khóc mẹ ơi hãy ráng chờ
Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ
Ðau thương con viết vào trong lá
Hơi ấm con tìm trong giấc mơ

Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví mà tôi đổi thời gian được
Ðổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.

Trần Trung Đạo

Tiếng Mẹ Cười là biểu tượng của tình yêu, che chở, gieo neo, hy sinh vô bờ bến nghìn thu vĩnh cửu đối với con. Biểu tượng tình cảm cao vời và sâu thẳm của Mẹ dành cho con mà sau mười năm xa Mẹ khi trở về tôi không còn hạnh phúc có được. Tiếng Mẹ Cười ngỡ như tầm thường vì ở đâu, ngày nào và ai ai cũng có như ánh nắng, như hơi thở. Chỉ đến khi mặt trời đã lặn; thở ra mà không còn thở vào thì đã trễ tràng cho ai về muộn hay mất dấu đời đời giữa dòng sinh diệt.

Thương Mẹ, chăm sóc Mẹ, có hiếu với Mẹ để thấy được Tiếng Mẹ Cười là tìm được một bầu trời tươi mát yêu thương và từ đó, tìm được nguồn suối yêu thương mà nương tựa cho mình.

Mùa Vu Lan đang về. Năm nay có thể không có bông hồng đỏ, bông hồng trắng, bông hồng vàng (tu sĩ) gắn lên áo để nhớ Mẹ. Ai còn Mẹ, xa Mẹ, hay mồ côi Mẹ đều có thể nhắm mắt hình dung hình tượng giữa cuộc đời hay trong tâm tưởng đẹp hơn cả đóa hoa hồng: Tiếng Mẹ Cười.

Sacramento, Cali Mùa Vu Lan 2020