Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Minh Tường. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Minh Tường. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Ông Phủ Thành Chương

 Hoàng Minh Tường

Lẽ ra Việt Phủ Thành Chương không ở địa chỉ vùng đồi Sóc Sơn, cách trung tâm Hà Nội gần 40 cây số như bây giờ. Ý tưởng thành lập Việt phủ đầu tiên của họa sỹ Thánh Chương, bắt đầu từ khi báo Văn Nghệ xin được bãi đất lò gạch xã Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội (khu phố Ngụy Như Kon Tum ngày nay), làm khu cư xá cho các văn nhân.

Thứ Ba, 3 tháng 2, 2026

Người phiêu bạt “xé mặt nạ”

Hoàng Minh Tường

Bùi Mai Hạnh (BMH) luôn làm người ta bất ngờ. Cách đây gần hai chục năm, tôi có đọc cuốn sách BMH viết Lê Vân Yêu và Sống, tôi rất bất ngờ. Bất ngờ thứ nhất là về cuộc đời nhiều khốc liệt éo le nhiều dung mạo của Lê Vân, nhưng bất ngờ hơn nữa là về người viết, không những đã thể hiện trung thực mà còn bằng tài năng bút pháp của mình, dẫn dụ hấp dẫn độc giả, làm cuốn sách lan tỏa. Nếu không có BMH thì Lê Vân chỉ là một nghệ sĩ thôi. BMH đã làm cho cuộc đời người nghệ sĩ ấy trở thành một nỗi ám ảnh, mang thân phận của một thời cuộc đầy trăn trở, khó khăn nhất của Việt nam. Và rồi tôi đã quên đi, tôi cứ tưởng BMH, người tôi coi như một cô em cùng quê, sang làm dâu nước Úc, sống cuộc đời bình lặng nuôi con. Và thật là đột ngột, BMH ra một cuốn sách làm tôi choáng ngợp.

Thứ Bảy, 28 tháng 8, 2021

Thế lực thù địch (kỳ 12)

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

13

Hoàng Y đáp chuyến bay Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh, hạ cánh tại sân bay Tân Sơn Nhất lúc 19h45 phút. Bạn y, đại tá Cao Thiện Lương, đại diện văn phòng Bộ tại phía Nam, không đón y về nhà khách T4 ngay mà đưa y đến một nhà hàng ở đường Hoàng Sa. Ở đây có món lẩu cá kèo rất ngon. Và bia tươi, một trăm phần trăm houblon Tiệp.

-Có việc gì gấp mà phải vào giờ này? - Lương nhìn thẳng vào mắt y – Nếu việc cơ quan thì khỏi nói, còn việc riêng thì…

Thứ Năm, 26 tháng 8, 2021

Thế lực thù địch (kỳ 11)

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

12

Cậu bé Ngô Cao Thượng, con thầy giáo Ngô Thời Bá gà trống nuôi con ngày nào, giờ đã thành một kỹ sư dầu khí tuổi trẻ tài cao. Tướng Huỳnh Thi Ka, giữ đúng lời hứa, giới thiệu Thượng về Liên doanh dầu khí Vietsovpetro Vũng Tàu. Qua đợt sát hạch tay nghề, Thượng được nhận ngay vào chức danh trợ lý kỹ sư trưởng giàn khoan, với mức lương không thua kém chuyên gia nước ngoài.

Thứ Ba, 24 tháng 8, 2021

Thế lực thù địch (kỳ 10)

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

11

Website Annamite đăng loạt bài: “Tâm Đồng âm ỉ một đám cháy” của nhà văn Ngô Thời Bá, gây xôn xao dư luận.

Sẽ lại có một Tiên Lãng và Đoàn Văn Vươn mới; Một phiên bản của “Đồng Nọc Nạng” thời Pháp thuộc; Sở hữu đất đai toàn dân, tử huyệt của chế độ; Một đám cháy được báo trước vv… Mấy nghìn người vào đọc. Hầu hết các comment có chung nhận định như vậy.

Thực ra vấn đề ở Tâm Đồng chẳng có gì lớn. Cũng chỉ là vài chục héc ta đất canh tác. Với diện tích này, hồi phong trào hợp tác xã hợp nhất những năm 1960 ở miền Bắc, việc thôn này chuyển quyền sở hữu cho thôn khác, một, hai cánh đồng với diện tích trăm mẫu, hai trăm mẫu (tương đương cánh đồng Sang của thôn Tung, xã Tâm Đồng) là chuyện thường. Làng Động của Y, hồi lên hợp tác xã cấp cao, năm 1967, đã phải cắt hơn trăm mẫu của cánh Quải Vỡ và cánh Đồng Tranh cho làng Phí, hơn trăm mẫu nữa thuộc cánh Làn cho làng Ngọc Điện. Dân làng Động xót lắm, bởi đó là mồ hôi nước mắt, là xương máu của mấy chục thế hệ trải mấy trăm năm mới có được những cánh đồng bờ xôi ruộng mật ấy. Trong khi đó làng Phí, làng Ngọc Điện chỉ bán ruộng ăn dần, chẳng thiết làm nông, dân thích đi làm nghề cắt tóc dạo, hoạn lợn, hàn vá nồi niêu, buôn bán vặt và đi lang thang. Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, chính quyền địa phương hay trung ương muốn lấy đất, chỉ ra một cái lệnh, đóng con dấu đỏ, muốn lấy bao nhiêu tùy ý.

Thế nên, hồi Trung Quốc xâm lược, năm 1979, Trung ương quyết định lấy 218 héc ta đất của bốn xã, trong đó có 48 hecta đất xã Tâm Đồng để làm nhà máy sản xuất tên lửa hay vệ tinh gì đó phục vụ đánh Tàu, thì dân xã Tâm Đồng chấp hành ngay. Tiếp đến, bên quốc phòng định lấy tiếp 59 héc ta đất đồng Sang của thôn Tung, xã Tâm Đồng, nhưng nhà nước ngừng lại, chưa phê duyệt. Xin lưu ý hai khu đất 48 héc ta (gọi là khu A) và 59 héc ta (gọi là khu B) đều của xã Tâm Đồng, khu A đã hiến cho quốc phòng, không nói nữa, khu B chưa hoàn tất thủ tục, hợp tác xã và xã vẫn thu thuế đất hằng năm, vẫn cho 14 hộ tạm mượn đất để ở và sản xuất. Diện tích nếu tranh chấp, chính là khu đất 59 héc ta dồng Sang. Ông Lưu Đình, khi ấy là chủ tịch ủy ban nhân dân xã, cùng chủ nhiệm hợp tác xã hợp nhất Bùi Văn Học đã ký văn bản bàn giao đất khu A cho nhà nước sử dụng cho nhiệm vụ quốc phòng.

Nhưng rồi nhiệm vụ thay đổi, nhà máy sản xuất tên lửa không xây dựng nữa. Năm 1990, sau hội nghị Thành Đô, hai đảng anh em xóa tan hận thù, kết lại với nhau để bảo vệ thành trì của Chủ nghĩa Xã hội, với phương châm 4 tốt và 16 chữ vàng, dự án quốc phòng Tâm Đồng khép lại. Lẽ ra, nhà nước không sử dụng nữa, thì nên trả lại đất để dân sản xuất, hoặc nếu mua bán chuyển nhượng cho đơn vị khác, thì định giá, đấu thầu, trả cho dân một số tiền tượng trưng, là xong. Nhưng cái doanh nghiệp Hừng Đông, lại không muốn trả tiền dân làng Tung, hoặc muốn lấy với cái giá bèo.

Một cuộc đấu tranh giành lại đất được chi bộ đảng làng Tung đưa vào nghị quyết. Bắt đầu từ thời ông Lưu Đình làm bí thư, rồi đến ông Bùi Văn Học làm bí thư, và tới đời nữ bí thư Bùi Thu Thảo gần đây, chẵn hai mươi năm. Ông Lưu Đình là một đảng viên trung kiên, năm mươi nhăm năm tuổi đảng. Từng được tặng huân chương kháng chiến chống Pháp, Mỹ. Ông thuộc dạng người cuồng Đảng, còn Đảng còn mình. Ai động đến đảng của ông, ông sẵn sàng thí mạng. Người bạn đời của ông, bà Lại Thị Thà, còn cuồng Đảng hơn cả chồng. Thời chống Mỹ, bà từng là thành viên trung đội nữ dân quân gái Tâm Đồng bắn rơi máy bay Mỹ, từng giành giải nhất hội thao toàn quân về pháo phòng không 12 ly 7.

Dân làng Tung vốn hiền lành chăm chỉ, cán bộ bảo sao nghe vậy, từ ngày hòa bình, tức là năm 1954, luôn luôn là làng Tung kiểu mẫu của xã Tâm Đồng kiểu mẫu. Thế nhưng, từ khi doanh nghiệp Hừng Đông cho người về xây tường bao đất quốc phòng để xây nhà máy 4.0, thì bỗng nhiên cả làng đổi tính. Không hiền lành bảo sao nghe vậy như xưa, mà muốn sòng phẳng về nghĩa vụ và quyền lợi, dâng hiến, hay trao đổi, quà tặng hay mua bán, trắng đen rõ ràng để tránh vấn nạn tham ô, tham nhũng … Đầu tiên là chi bộ đảng làng Tung do bí thư Bùi Thu Thảo họp, ra nghị quyết, không giao 59 héc ta đất đồng Sang, vốn chưa vào quy hoạch đất hiến tặng quốc phòng. Thời chiến tranh, do nhiệm vụ chính trị bảo vệ Tổ Quốc, chúng tôi hiến đất, nhưng nay không dùng đến thì chúng tôi đòi lại. Vẫn muốn sử dụng làm kinh tế thì ta bàn, mua bán, chuyển nhượng theo giá thị trường. Chuyện quá hiển nhiên. Vậy mà họ cậy thế doanh nghiệp ưu tiên, được những người nắm quyền lực bảo kê, vẫn tìm mọi cách chiếm đoạt. Làng Tung đã nhiều lần kéo nhau lên huyện, lên tỉnh, viết đơn khiếu nại ở Trung ương, chẳng khác gì vụ đồng Nọc Nạng ở Nam Bộ thời Pháp. Người đi đầu đòi đất là cụ Lưu Đình, rồi sau này khi tuổi cao, sức yếu thì có bí thư Bùi Thu Thảo, trưởng thôn Lưu Cung và chủ tịch hội cựu chiến binh Bùi Văn Học…

***

Chẳng phải đi thực tế đâu xa, Tâm Đồng ngay sát trường cấp ba Thượng Sơn, nơi hơn hai mươi năm Ngô Thời Bá vừa dạy học, vừa viết văn. Tâm Đồng là mỏ vàng có nguồn gốc mac ma, thứ vàng tinh chất phun trào từ ruột trái đất, chứ không phải vàng trầm tích,vàng sa khoáng. Mới tập viết văn, hoặc viết dở đến mấy, có ngồn ngộn nguyên liệu đời sống Tâm Đồng, cũng thành tiểu thuyết.

Sau “Tốt sang sông”, Ngô Thời Bá định gác bút. Viết mà không có độc giả có khác nào danh ca hát trong xó bếp, khác chi anh thợ cắt tóc không dám hé lộ sự thật về cái tai lừa của vua Midas, phải đào một cái hố để nói xuống âm ti. Lại nữa, như Nguyễn Tuân, “Tôi còn sống được đến ngày hôm nay là nhờ biết sợ”, thì cuối đời cũng chỉ viết được vài cuốn sách bàng bạc xu thời. Than ôi, những “Chùa Đàn”,”Thiếu quê hương”,“Chữ người tử tù”…từng nổi tiếng văn đàn, nay chỉ còn “Vang bóng một thời”. Đến như Nguyễn Khải, nhà văn con cưng của chế độ, được cơ cấu vào Quốc hội, thành nghị sĩ cộng sản, mà cả khóa cũng không dám một lần đăng đàn nói hộ dân chúng một lời nào, để rồi cuối đời, trước khi chết, phải thổ ra đọi máu: “Tôi là nhà văn của một thời. Thời hết thì văn phải chết, tuyển tập, toàn tập thành giấy lộn cho con cháu bán cân…”, “ Một xã hội mà công dân không được quyền sống thật, nói thật, nhà văn cũng không được quyền bộc bạch cái tâm sự riêng tư của mình trên trang giấy, là một xã hội không có chân móng…” Rồi Chế Lan Viên, một trong những đỉnh cao thơ ca nước Việt, quét một vệt sao Chổi chói sáng từ Thơ Mới, với Điêu Tàn, sang thơ Cách mạng, với Ánh sáng và phù sa, Hoa ngày thường, Chim báo bão, vậy mà trước khi chết mới dám thổ lộ con người thật của mình, để lại những câu di cảo quay ngoắt một trăm tám mươi độ: “Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi/ Giết một tiếng đau,giết một tiếng cười / Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ/ Tôi giết cái cánh sắp bay… trước khi tôi viết/ Tôi giết bão tố ngoài khơi cho được yên ổn trên bờ…” Thế hệ Ngô Thời Bá, sống trọn kiếp văn nô, bút nô, không thể có tác phẩm lớn. Ngồi trước bàn, cái còng số tám, cái sân chăn kiến đã ẩn hiện trước mặt, tự biên tập từng câu từng ý, thì văn chương chỉ còn là nồi nước xáo voi. Ấy là chưa kể, cái giá của văn chương còn rẻ hơn bèo. Văn hóa đọc là thứ xa lạ. Bình quân mỗi người Việt chưa đọc 0,8 cuốn sách một năm, kể cả sách giáo khoa các loại từ lớp mẫu giáo đến bậc đại học, trong khi Israel 35 cuốn, Nhật Bản là 20 cuốn, Pháp, Ý là 15 cuốn, Mỹ 10 cuốn... Người ta cần sản xuất ra chỉ thị, nghị quyết hơn là làm ra sách. Người ta không muốn khai dân trí, không muốn dân mở mang kiến thức mà muốn dân răm rắp nghe theo nghị quyết. Hơn tám trăm tờ báo, mấy chục đài phát thanh truyền hình các tỉnh, chỉ cần một ông tổng biên tập là trưởng ban tuyên giáo. Tất tật các nhà văn chỉ cần một hội, không viết khác, không cần lạ, càng giống nhau càng tốt, như thế mới đoàn kết, tất cả cùng chí hướng. Một cuốn sách in ra, bao nhiêu nơi gác cửa, chỉ cần Đảng ngửi thấy có vấn đề: phản biện xã hội quá giới hạn, phủ nhận thành quả trên mức cho phép, phơi bày sự thật hồng ít đen nhiều vv… liền bị nhốt vào kho, bị nghiền thành bột, như “Tốt sang sông”. Một cái chết lặng lẽ, một cuộc chìm xuồng nham hiểm.

Những diễn biến ở Tâm Đồng, khiến Ngô Thời Bá phải suy nghĩ lại. Rút cục thì nhà văn sinh ra để làm gì? Có nhà văn nào sống được bằng văn chương không? Có nhà văn nào định viết để trở thành nổi tiếng, thành vĩ nhân không? Văn chương là một cái nghiệp, nghiệp chướng. Nhà văn có một thiên chức duy nhất là phải viết ra những gì của cộng đồng, của cõi sống anh ta trải nghiệm. Không viết ra anh ta sẽ ăn không ngon, ngủ không yên, suốt ngày trăn trở dằn vặt. Nó tựa hồ như một món nợ. Không ai đòi anh. Nhưng anh phải trả, nếu anh còn tư duy, còn biết đau khổ, hy vọng, nhớ thương, căm giận… Buông bút, không cần viết, tức là anh đã cởi bỏ được cái nghiệp chướng nhà văn. Nhà văn chân chính phải là cái ăng-ten của cộng đồng, là ký ức của thời cuộc, là lương tri của xã hội…

Nghĩ như thế, và Ngô Thời Bá bắt đầu một cuốn sách, tạm đặt là Tâm Đồng.

Nhân vật số một của tiểu thuyết phải là ông Lưu Đình.

Đó là một nguyên mẫu mà nhà văn hầu như không cần hư cấu gì. Có chăng, nếu là tiểu thuyết diễm tình thì phải thêm những gái làng, gái phố, những cuộc tình ly kỳ mùi mẫm, những pha ái ân đổ giường chiếu... Nhưng nếu là tiểu thuyết thế sự thì cứ đời tư người cộng sản Lưu Đình thế nào, mô tả trung thực là đủ.

Với riêng Ngô Thời Bá, nếu không có ông Lưu Đình, thì cuộc hôn nhân định mệnh với Bùi Thị Hân, hoa khôi của làng Tung và trường cấp ba Thượng Sơn, chưa chắc đã thành.

***

Chao ôi, cái cảnh gà trống nuôi con của thầy giáo Ngô Thời Bá, nhà văn trẻ Ngô Thời Bá, thật điển hình đến nỗi, không chỉ toàn huyện, toàn tỉnh mà cả nước đều biết. Có một câu ca được lan truyền thế này:

“ Ngô thời lên lớp bế con

Bá thời xuống bếp cọ xoong chấm bài

Một mình bố mẹ hai vai

Lúc nào Thời Bá trổ tài viết văn?”

Mồ côi vợ như Ngô Thời Bá lúc ấy thật thảm thương không bút nào tả xiết. Nhưng chắc chắn hiếm có người đàn ông gà trống nuôi con nào có niềm vui thầy trò như Bá. Ngày nào, nhà thầy Bá cũng tíu tít tiếng cười nói, tiếng trẻ líu lo. Ấy là lúc cuối ngày, những học trò của thầy phân công nhau, nhóm đi đón thằng Ngô Cao Thượng từ lớp mẫu giáo về, nhóm giúp thầy dọn nhà cửa, chuẩn bị nấu cơm, nhóm cho lợn ăn, gọi gà về chuồng... Dường như những gì cô giáo Cao Thị Lộc từng làm trước đây, thì nay các học trò lớp 11A, cả nam và nữ, đều muốn mọi việc vẫn được chu toàn như cô Lộc chưa hề đi xa.

Trong những học trò ấy, cô lớp phó Bùi Thị Hân là một nữ sinh đặc biệt. Các bạn thường gọi Ngọc Hân công chúa. Biệt danh này chỉ đúng với cái tên, còn con người Hân thì không yểu điệu, mảnh mai, mà cao lớn, đẫy đà, quý phái, giống với hình ảnh nữ tướng Bùi Thị Xuân hơn. Hân không chỉ học giỏi, lao động giỏi mà tính tình lại rất nhẹ nhàng, đa cảm, thương người. Thấy Hân đặc biệt quyến luyến và chăm sóc thằng Ngô Cao Thượng, các bạn ngầm chế, bắt thằng Thượng phải gọi là “dì Hân”.

Năm học tiếp đó, thầy Bá theo học sinh lên chủ nhiệm lớp 12A. Hân vẫn là lớp phó học tập. Những giờ sử của thầy Bá vẫn có sức lôi cuốn đặc biệt học trò các khối. Những năm ấy, kỳ thi tốt nghiệp phổ thông hoặc thi vào đại học, học sinh cả nước thường bị điểm rất thấp môn sử, vì chúng chán lịch sử tới tận... chân răng, nhưng học trò trường Thượng Sơn năm nào cũng xếp hạng cao nhất tỉnh. Bởi thầy Thái Sử Bá, đồng nghiệp và học trò thường lấy tên sử gia nước Tề của Trung Quốc cổ đại để gọi thầy Bá thế, đã biến những giờ sử thành nỗi đam mê khao khát được ngược nguồn dân tộc, khám phá những trang bi hùng của đất nước.

Tỉ dụ, khi học về cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, thầy Bá không dạy trên lớp mà cho học trò đến thắp hương nhà thờ chi họ Bùi làng Tung do ông Bùi Văn Học là trưởng tộc. Sau khi thầy trò thành kính dâng hương, thầy Bá nói:

- Các em biết không, tại Hội thề Lũng Nhai năm 1416, trước khi Lê Lợi làm lễ xuất quân đánh đuổi giặc Minh, có một người họ Bùi quê hương ta. Đó là danh thần Bùi Quốc Hưng. Ông là một trong 18 vị công thần có tên từ ngày đầu dưới cờ nghĩa Lam Sơn. Sách Đại việt sử ký toàn thư chép, cụ nội Bùi Quốc Hưng tên là Phí Mộc Lạc, làm quan dưới triều vua Trần Nhân Tông. Mộc Lạc, nghĩa là cây đổ, cây rụng. Vua Trần Nhân Tông quí tài và đức Phí Mộc Lạc, nhưng thấy tên ấy không hay, liền đổi cho ông sang họ Bùi, Bùi Mộc Đạc, tức là cái mõ có sức vang xa. Từ đó có một dòng họ Bùi chuyển từ họ Phí. Danh thần Bùi Quốc Hưng là bạn vong niên của Ức Trai Nguyễn Trãi, ông là một trong những tướng tài của Lam Sơn, từng lập chiến công vây thành Nghệ An, phá thành Điêu Diêu, thành Xương Giang khiến quân Minh đại bại. Mẹ ông người vùng núi đá vôi Thượng Sơn. Từ thuở thiếu thời và trước khi vào Lam Sơn, Bùi Quốc Hưng đã từng sống ở quê mẹ. Cuối đời ông về Thượng Sơn an trí và chọn đây là nơi an nghỉ cuối cùng...

- Cái Hân là hậu duệ của danh tướng Bùi Quốc Hưng nên nó giống Ngọc Hân công chúa thầy ạ - Ai đó bỗng nói to lên.

- Thảo nào con gái họ Bùi ai cũng có võ. Nữ tướng Bùi Thị Xuân này. Lớp phó Bùi Thị Hân cũng có võ đấy thầy ơi. Con trai toàn bị nó đá đít...

Một giọng con gái chua loét như dấm:

-Cái Hân nó bảo sẽ đánh đổ thầy chủ nhiệm lớp 12A.. a... a... .

Suốt từ buổi học dã ngoại ấy, lớp 12A bỗng lao xao một điều gì mà chỉ có thế giới học trò nhất quỷ nhì ma mới hiểu nổi.

Sau nỗi đau mất vợ, thầy Ngô Thời Bá hầu như không muốn nghĩ đến người đàn bà nào khác. Với học trò, lại càng tối kỵ. Nhưng cô học trò Bùi Thị Hân, đã bằng cách nào đó, đôi khi len vào trong giấc ngủ của thầy. Có lẽ từ những cử chỉ chăm sóc nâng niu bé Thượng, sao giống Lộc lạ lùng. Có lẽ từ một bộ quần áo mới, một túi đồ chơi, một gói bánh… Hân lặng lẽ để trên bàn học của thằng bé. Và ánh mắt, thảng hoặc Hân nhìn, rồi vội bối rối quay đi...

Những giờ sử của thầy Bá, có một đôi mắt to đen, với hàng mi cong rợn ngợp, từ dãy cuối bàn, luôn nhìn xoáy vào thầy, biết vậy, nhưng thầy không dám nhìn lại. Trò kém thầy những hai mốt tuổi, ngây thơ, trong trắng quá, thầy không dám và không nỡ...

Có một đêm thao thức vì đôi mắt ấy, Bá không ngủ. Anh ôm chặt lấy thằng Thượng, cố nghĩ đến Lộc, nước mắt ứa ra. Nhưng rồi chen lẫn với hình ảnh của Lộc, lại là đôi mắt học trò ấy. Không quen làm thơ, mà Bá vẫn không ngăn được tứ thơ dạt dào cảm xúc.

“Em trong trắng quá, như trang giấy

Chưa kịp chia ô, chửa kẻ dòng

Anh thì bụi bặm như đời vậy

Mực đã bao lần đục lẫn trong.

Giá em đừng trắng như giấy trắng

Thì anh viết tiếp số phận mình

Đời lắm đắng cay và đen bạc

Giấy trắng em vẫn trắng rưng rưng... ’’

Bài thơ này Bá đặt tên là GIẤY TRẮNG, sau này in trong tuyển thơ tình học trò của nhà xuất bản Thanh Niên. Nhưng dạo ấy thì Hân và các bạn của nàng không thể biết thầy Ngô Thời Bá có phẩm chất thi sỹ.

***

Rồi chính cô học trò tinh nghịch đặt thầy Bá vào một tình huống cực kỳ khó xử. Ấy là buổi kiểm tra học kỳ, một tiết, điểm số ghi học bạ với hệ số hai. Thầy Bá đứng trên bục nhìn bao quát toàn lớp. Sĩ số 46 học trò đủ mặt. Thầy ghi đầu bài lên bảng: “Anh, chị hãy cho biết diễn biến lịch sử dẫn đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hãy bình luận về chiến thắng vĩ đại này”.

Cả lớp im phắc. Những đôi mắt lim dim nhìn vào tiềm thức như những nhà sử học nghiêm cẩn đang nghiền ngẫm những sự kiện và nhân vật. Rồi tiếng giấy mở loạt soạt, những mái đầu nghiêng nghiêng, bắt đầu viết lia lịa.

Thầy Bá ngồi trước bàn, mở cuốn tiểu thuyết “Con tàu trắng” của Chyngyz Aytmatov, nhưng đọc chừng vài dòng thầy lại nhìn xuống lớp xem học trò làm bài có nghiêm túc không. Và kỳ lạ, lần nào nhìn xuống, thầy cũng bắt gặp đôi mắt to đen vời vợi của Hân nhìn lên. Hai luồng ánh mắt gặp nhau. Lần đầu tiên, Bá biết thế nào là đấu mắt. Và thầy thua. Vội cúi xuống Aytmatov. Nào có đọc được gì nữa, thầy bắt đầu xao xuyến. Chẳng lẽ cô bé này đã làm xong bài? Mấy lần thầy tự hỏi, và lần nào nhìn xuống dãy bàn cuối lớp, vẫn gặp đôi mắt vời vợi ấy.

Trống trường điểm ba tiếng. Hết giờ. Hân đứng phắt dậy thu bài của từng bàn, như mọi lần. Trong dáng vẻ hăng hái và mẫn cán của một lớp phó, ánh mắt nàng không che giấu nổi một cái gì rạo rực, bồn chồn, chen lẫn lo lắng, hoang mang, rất khó tả.

Việc đầu tiên về đến phòng, sau khi đóng chặt cửa lại, thầy Bá mở tập bài kiểm tra, tìm ngay bài của Bùi Thị Hân. Đây rồi. Dưới phần chép đề, là phần bài làm. Không một dòng nào, ngoài mấy chữ viết nghiêng, nắn nót: Thưa thầy, em không làm được ạ! Dấu chấm than mới to và dứt khoát làm sao. Một sự thú nhận. Một nỗi thổn thức. Một trách móc giận hờn…

Trái tim chai sạn của thầy có một tích tắc như ngừng đập. Thầy Bá không tưởng tượng nổi đời dạy học của mình lại có một tình huống sư phạm oái oăm thế này. Ngay bây giờ, hoặc một lúc nào đó trong hôm nay, ngày mai, ngày kia... , chỉ cần nhắn con chim non ấy lên phòng, nàng sẽ sà ngay vào lòng thầy và thổn thức. Không phải là ngoại lệ. Rất nhiều mối tình thầy trò từ thuở Nguyễn Phi Khanh và Trần Thị Thái tới giờ, đã bào chữa và thi vị hóa một phạm trù đạo đức tưởng như bị cấm kị.

Phải nói không là điều đau đớn và gian dối với lòng mình, nhưng vẫn có thể làm được việc không nên ấy, trên cương vị một thầy giáo chủ nhiệm mà chức phận và nghề nghiệp cao quý đã mặc định. Bá sẽ bóp chặt trái tim mỗi lần nghĩ đến cô trò nhỏ. Bá sẽ tránh gặp nàng, hoặc giả làm một trò lố bịch, thậm chí tàn nhẫn cho nàng thoát khỏi trạng thái cuồng yêu. Nhưng việc trước mắt, không thể lẩn tránh, không thể thoái thác: Chấm bài của Hân thế nào? Cái ô điểm số hình vuông phía bên trái và ô lời phê của giáo viên hình chữ nhật bên phải không thể để trống. Cả tuần Bá căng óc suy nghĩ. Điểm không (0) là dĩ nhiên rồi. Nhưng đó là điểm hệ số hai, ghi học bạ, là điểm xét thi tốt nghiệp và thi đại học. Điểm không, điểm liệt, thì ác quá, tàn độc quá. Vậy thì điểm mấy? Với học lực của Hân, bài này Hân kiếm tám, chín, thậm chí mười điểm là đương nhiên. Cho Hân tám điểm, chẳng học trò nào thắc mắc, ghen tị. Lần đầu tiên trong đời, Bá chấm một bài kiểm tra khó khăn vô cùng.

Mọi lần, giờ trả bài kiểm tra một tiết, sau nhận xét của thầy, Bá thường đưa tập bài cho lớp trưởng, hoặc một học sinh đầu bàn, phân phát cho các bạn. Nhưng lần này thì không thể. Không để học trò nào đọc thấy bút phê và điểm số bài kiểm tra của Hân. Nhưng cũng không nên thành ngoại lệ, trả bài Hân riêng ra, trả đầu tiên hoặc sau cùng. Bá xếp riêng mỗi bàn thành một tệp. Bá đi từng bàn, trả từng tệp cho trò ngồi đầu bàn. Bàn cuối cùng, trước khi đưa cho Hân, thầy ý tứ đưa mắt, và cô học trò thông minh, quá hiểu ý thầy, nàng trả bài cho các bạn, còn bài của mình thì cất ngay trong cặp, dưới hộp bàn.

Tiết học ấy, Hân không nhìn thầy Bá một lần nào, nhưng anh biết, trái tim non nớt của cô học trò đang thổn thức, muốn nhảy tung ra khỏi lồng ngực. Lát nữa, hoặc một lúc nào đó sau tiết học, nàng sẽ bí mật lấy bài ra xem, và sẽ không thấy một chữ bút phê nào của thầy, chỉ có một vòng khoanh mực đỏ quanh dòng chữ của trò và một dấu hỏi to tướng bên lề, cùng với một điểm 5 hào phóng, cái điểm 5 trung bình mà không một thầy giáo nào từ cổ chí kim lại bút phê một cách khó khăn, khổ sở đến như vậy. Điểm 5 trung bình ấy đã vi phạm một quy tắc nghiêm ngặt của nghề thầy, nhưng lại manh nha nhen nhóm và nuôi cấy một ngọn lửa tình yêu... , mà ba năm sau, khi Hân đã là cô sinh viên năm thứ ba khoa trồng trọt Đại học Nông nghiệp, mới bùng lên thành ngọn lửa tình bỏng cháy, nồng nàn.

***

Ấy là vào kỳ nghỉ hè nắng chói chang, sân trường đỏ rực sắc hoa phượng vĩ, thầy Bá đang ngồi trong phòng đọc sách, thì cô sinh viên Đại học Nông nghiệp ào đến.

-Thầy ơi, thầy có thơ đăng báo. Thầy ký bút danh khác, nhưng em vẫn nhận ra …

Hân xòe tờ báo còn thơm phức mùi mực mà cô vừa mua từ bến xe. Đúng là bài thơ GIẤY TRẮNG, với bút danh Thượng Sơn, địa danh mà Bá đã gắn bó cả cuộc đời dạy học. Một người bạn phóng viên đã chép từ sổ tay của Bá bài thơ này và gửi đăng báo...

Bắt gặp cái nhìn của Bá, cô học trò bỗng sững lại. Vì đôi mắt ấy của thầy, mà cô suýt bị điểm không bài kiểm tra cuối học kỳ bốn năm trước.

-Hân biết không, em mới chính là tác giả của bài thơ ấy…

Nói được điều này, thầy giáo Ngô Thời Bá đã thực sự vượt qua cái ranh giới ước lệ, nhưng rất nghiêm cẩn và đầy lễ nghi, tập tục của thứ bậc thầy trò.

Và, như một phép màu, họ đến với nhau như định mệnh đã sắp đặt.

Nhưng, sóng gió bắt đầu nổi lên.

Đầu tiên là sự phản đối quyết liệt của mẹ và hai chị gái Hân. Tiếp đến là quyết tâm ngăn cản của ông bác họ Bùi Văn Học, cũng là trưởng tộc họ Bùi. Con gái hơ hớ việc gì phải đi làm lẽ một ông giáo góa vợ, gấp hai tuổi mình? Một ông thầy dạy học gần hai mươi năm vẫn không được vào đảng, một tay nhà văn có vấn đề, sách in ra bị thu hồi, lấy hắn có ngày nấu cơm tù. Ông Bùi Văn Học đưa ra ngần ấy tội trạng của Bá và tuyên bố xanh rờn: Con Hân mà lấy ông giáo Ngô Thời Bá thì họ Bùi sẽ từ mặt.

Thầy Ngô Thời Bá thấy nản, định xin chuyển về Hội văn nghệ tỉnh. Cũng là cách để trốn chạy tình yêu.

Nhưng với cô con gái họ Bùi thì không. Nhất là bét. Thầy có thể chuyển công tác, có thể đi khỏi Thượng Sơn, nhưng em vẫn chỉ yêu thầy. Bốn năm, có bao chàng trai trồng cây si, nhưng em chỉ nghĩ đến thầy, đến thằng Thượng côi cút, tội nghiệp. Bây giờ công thành danh toại rồi, lại được về bên thầy, bên bé Thượng, lẽ nào buông bỏ, thầy ơi…

Và rồi Hân đã tìm thấy vị cứu tinh. Hân đến nhờ ông Lưu Đình, anh trai của mẹ. Hồi ấy ông Đình đang là bí thư đảng ủy xã, uy tín không chỉ với địa phương, mà cả trong nội ngoại tộc. Ông Đình là bạn vong niên, là người đồng chí tin cậy với ông Bùi Văn Học. Cuối cùng, chính hai người bác nội, bác ngoại ấy đã đứng ra tác thành cho cặp vợ chồng tưởng như đôi đũa lệch nhưng lại có duyên ngầm như trời định.

Đám cưới thầy Bá, trò Hân được tổ chức giữa mùa xuân năm sau, khi Hân trở thành kỹ sư phụ trách trồng trọt ở phòng nông nghiệp huyện và thầy Ngô Thời Bá vẫn ở lại trường. Thượng Sơn trở thành tổ ấm uyên ương, thành miền quê thân thương, vùng đặc sản giống lúa nếp cái hoa vàng mang tên Thượng Sơn mà tác giả lai tạo, chính là người con gái họ Bùi.

***

Mối quan hệ thâm giao, thậm chí bạn vong niên giữa ông Lưu Đình và nhà giáo, nhà văn Ngô Thời Bá từ đấy ngày càng thân thiết. Rất nhiều chi tiết đời sống, nhiều tình huống, cảnh ngộ, nhân vật nông thôn mà Ngô Thời Bá đưa vào các tiểu thuyết “Vùng gió quẩn”, “Tốt sang sông”, là nhờ có ông Lưu Đình.

Cho đến một ngày, khi Hân vừa đón cô con gái út từ trường học về, thì ông Đình cưỡi chiếc Dream Thái đến.

-Ôi bác, có việc gì mà bác đến tận đây ạ? Mời bác vào trong nhà.

-Thầy Bá có nhà không mà bác gọi từ chiều không thấy nghe máy?

-Dạ, nhà cháu đi họp trên Hội văn nghệ tỉnh từ hôm qua. Chắc sắp về đấy ạ.

-Thế hả? Vậy thế này nhé. Mai chủ nhật. Bảo thầy Bá tám giờ đến bác. Có chuyện quan trọng, bác muốn bàn với thầy …

Nói rồi ông Đình phóng xe đi ngay. Nhìn cái dáng đi xe, không ai nghĩ ông đã hơn tám mươi tuổi.

Tám giờ sáng hôm sau, thầy Bá đến gặp ông Đình, như ông đã hẹn. Trong phòng khách còn có ông Bùi Văn Học, người bạn thân thiết từ những ngày hai ông cùng công tác. Ông Đình râu tóc bạc trắng, lông mày cũng bạc trắng, trông hiển từ như một tiên ông. Ông Học kém ông Đình chừng mười tuổi, tóc vẫn còn đen, người nhỏ thó nhưng quắc thước, săn chắc như tạc bằng lõi lim rừng. Hai ông già pha nước, ngồi đợi thầy Bá. Trước mặt họ là một chiếc hòm đạn đại liên của Mỹ bằng sắt, còn khá mới.

-Cháu chào hai bác. Tối qua, cháu về nhà muộn. Nghe Hân nói bác có chuyện gấp… - Bá chào hai ông già, kính cẩn đúng với phận người cháu rể.

Tự tay ông Đình rót nước mời thầy Bá.

-Mấy tháng nay chuyện ruộng đất ở Tâm Đồng thầy đã quá rõ? – Ông Đình nhìn sang ông Học – Tôi với ông Học liên tục bị huyện mời lên giải trình các đơn khiếu tố và đề nghị rút đơn kiện doanh nghiệp Hừng Đông.

Ông Học khoát tay:

-Nhất định không rút đơn. Kiện đến cùng. Tôi nghe nói đoàn Quốc Hội sắp về đây. Phải để họ gặp gỡ dân làng Tung mình, trực tiếp nghe ý kiến từ người dân…

-Quốc Hội cũng chỉ là bù nhìn thôi, các cụ còn lạ gì ? – Ông con trưởng Lưu Cung từ tầng trên xuống, kéo ghế, tra thuốc vào nõ điếu cày, nói chen ngang - Có chú Bá đây, tôi đề nghị chú cho vài bài báo lên mạng lề trái, để bàn dân thiên hạ biết. Thủ Thiêm và Tâm Đồng đang là tâm điểm của cả nước. Hoa Kỳ và các nước Tây u người ta đều đã lên tiếng ủng hộ. Mình càng sợ hãi, bọn tham nhũng và mafia đỏ càng lấn tới...

Nhìn gương mặt như như hoá đá của ông Lưu Đình, đang ngồi im phắc trước chiếc hòm sắt, Bá bỗng nhớ buổi hai bác cháu ra thăm đồng Sang trước hôm doanh nghiệp Hừng Đông cho thi công tường bao. Dẫn Bá đến từng cột bê tông phân ranh giới cắm mốc, ông Đình vừa nói vừa khóc: “Bác có tội với dân, vì cả tin, nhẹ dạ. Hồi ấy, bác và ông Học đã nói với dân làng Tung thế này: “ Xin bà con tin tưởng vào chính quyền xã và ban chủ nhiệm hợp tác xã chúng tôi. Hiến đất cho nhà nước để tham gia chống quân bành trướng Bắc Kinh lúc này là niềm vinh hạnh được phụng sự Tổ quốc”. Vậy mà mấy năm sau, nhà máy sản xuất tên lửa thôi không xây dựng nữa, thì đất Tâm Đồng liền bị sang tay cho bọn tư bản đỏ khoác áo cộng sản…”

-Tình hình căng đấy, hai bố ạ - Lưu Cung rít thuốc lào rong róc, ngửa cổ nhả khói mù mịt - Không biết ngày nào, giờ nào, bọn tham nhũng sẽ đánh úp, cướp trắng cánh đồng Sang. Dân làng Tung đều chúng khẩu đồng từ, rằng, nếu bây giờ giặc Tàu lại sang xâm lược, thì dân làng Tung sẵn sàng ra trận, dân sẵn sàng hiến toàn bộ đất đai cho quốc phòng. Nhưng bây giờ thì không, một mét đất cũng không thí cho bọn tư bản đỏ. Dân làng Tung đang trông chờ vào cả hai bố. Chị Thảo bí thư bị huyện khai trừ đảng rồi, coi như số không. Chỉ cần hai bố ra lệnh, chúng con sẽ quyết tử…

- Trứng chọi đá, anh Cung ạ - Thầy Bá nói – Tâm Đồng chỉ là đốm lửa nhỏ giữa mênh mông đất Việt. Chỉ cần một gáo nước là dập tắt. Anh còn nhớ vụ Thiên An Môn ở Bắc Kinh, Trung Quốc không? Hàng chục vạn sinh viên biểu tình mấy ngày liền. Vậy mà chỉ trong một đêm, họ đã bị biến khỏi mặt đất vô tăm tích. Hàng trăm xe bọc thép đã nghiền họ như cháo. Rồi ngay lập tức xe vòi rồng phun nước rửa sạch, không còn một vết máu…

- Dẫu sao thì nhà nước chúng ta, tuy như anh em ruột thịt với anh bạn vàng bốn tốt, nhưng cũng không tàn ác như Trung cộng - Cung cười, bào chữa - Với lại hai ông bố đây đều là cộng sản gộc. Đảng cộng sản đời nào ăn thịt đồng chí mình…

Ông Lưu Đình mở khóa hòm sắt, lấy ra các giấy tờ, công văn, bản đồ… trải ra bàn. Thầy Bá trố mắt nhìn, như nhìn những món thư tịch cổ từ mấy trăm năm trước.

-Hôm nay có ông Học và thầy Bá chứng kiến. Đây là toàn bộ hồ sơ gốc liên quan đến 218 héc ta đất của bốn xã hiến tặng quốc phòng, còn đây là hồ sơ 59 héc ta đất đồng Sang. Tôi đã cho photocopy mấy bản rồi. Lâu nay bọn tham nhũng muốn ăn không đất đai của Tâm Đồng, lúc nào cũng lồng lộn lên vì mớ giấy tờ này đây. Tôi đã phải đặt mua cái hòm sắt đạn đại liên Mỹ này từ Quảng Trị, để cất giữ. Nhưng rất có thể tính mạng của tôi, của ông Học, của hai thằng Cung, Kiếm con trai tôi sắp tới cũng khó bề giữ nổi, huống chi là cái hòm tài liệu này. Vì thế, sau khi trao đổi với ông Học và cháu Cung, chúng tôi muốn chuyển cho nhà văn Ngô Thời Bá lưu giữ, để làm tư liệu về sự thật của Tâm Đồng … Nhân đây tôi cũng nói để nhà văn biết về mảnh đất đồng Sang. Theo thần phả còn lưu giữ ở đình làng và theo các cụ kể lại, thì làng Tung xưa vốn nằm ở đất Khai Môn, gần đồng Sang bây giờ, nơi xuất phát của con đường thiên lý vào châu Hoan, châu Ái. Từ thời Lý, Trần, mỗi lần các vua ta đi tiễu phạt phương nam đều làm lễ xuất quân từ đền Khai Môn. Quân bộ thì đi xuyên rừng vào Nho Quan, Ninh Bình. Quân thủy thì ra ngã Ba Thần, xuôi sông Thanh Quyết ra cửa Thần Phù. Thời kỳ giặc Minh xâm lược, chúng triệt hạ làng Tung, đuổi dân để lập đồn trú ở Khai Môn. Các cụ kể lại, tại đây, giặc Minh thu hết sách thánh hiền từ các nơi về đốt trong cả tháng trời, khói bay mù mịt. Chúng bắt quân khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng về Khai Môn và làm nhiều cuộc thảm sát… Đến khi Lê Lợi kéo quân ra Đông Quan, dân làng Tung cho người vào làm nội ứng, giết sạch quân đồn trú nhà Minh ở Khai Môn, đón đại quân Lê Lợi truy đuổi giặc ở Tốt Động, Ninh Kiều… Đó, đất đồng Sang của làng Tung là như thế đó. Cách xa làng tới ba cây số, nhưng suốt bao đời người làng Tung vẫn đổ mồ hôi nước mắt trên mảnh đất của cha ông mình…

Ông Lưu Đình không nói hết câu, khóc nấc lên. Dường như để nói ra được những lời này, nhiều đêm, nhiều ngày, ông đã nghiền ngẫm lung lắm. Dường như, ông linh cảm thấy một điều gì sắp đến với mình. Với nhãn quan và sự nhạy cảm của một nhà tiểu thuyết, Ngô Thời Bá chợt nghĩ như vậy. Và giọng ông run run:

-Dạ, cháu đâu dám… Đây là một đại sự, mà…

-Cháu phải nhận. Nếu cháu không là con rể họ Bùi thì bác không nói điều này– Ông Học chém tay vào không khí – Hai lão già đã bàn với nhau hết nước rồi.

Ông Lưu Đình lau nước mắt, nói:

-Bấy lâu nay, đài, báo, tivi đều nói tôi lãnh đạo dân Tâm Đồng chống Đảng. Họ còn vu cho bố con tôi cùng với ông Học đây thành lập tổ Đoàn Kết, để chống Đảng…

-Có thật vậy không? - Bá trố mắt, hỏi - Nếu là thành lập tổ chức thì cực kỳ nguy hiểm. Đảng Cộng Sản họ không dung thứ một tổ chức nào tồn tại song hành với họ. Đến như một số nhà văn muốn thành lập một văn đoàn, mang tên Văn đoàn Độc lập mà còn bị cấm, nhiều nhà văn bị xách nhiễu lên bờ xuống ruộng. Các bác nhớ, không được thành lập tổ chức nào hết.

-Thì chúng tôi đâu dám thành lập tổ chức - Ông Học bỏ dở mồi thuốc, mắt quắc lên như đang muốn cãi nhau với ai đó - Nhưng một họ, một làng đùm bọc, liên kết với nhau cũng bị cấm đoán à? Cả làng Tung, cả xã Tâm Đồng này đều kề vai sát cánh nhau bảo vệ mảnh đất ông cha mình để lại mà là phản động à? Dù đi đến chân trời góc bể thì chúng tôi vẫn nói rằng 59 héc ta đất đồng Sang chưa hề giao hiến cho nhà nước. Họ, cái bọn muốn cướp đất ấy, có thể lừa được một người, thậm chí vài người, nhưng không thể lừa bịp được cả dân làng Tung…

- Cho nên cần phải giữ những hồ sơ gốc này như giữ gìn tính mạng của làng, giữ gìn chân lý. Chỉ thầy giáo dạy sử, nhà văn Ngô Thời Bá mới có đủ phẩm chất và tư cách giữ những hồ sơ đất đai xương máu của làng Tung…- Ông Đình xếp những tài liệu, bản đồ vào hòm sắt rồi đẩy về phía Bá.

Bá ngước nhìn lên trần nhà. Anh đã ngửi thấy mùi hương trầm từ trên ấy phả xuống. Anh đứng dậy, hai tay bê chiếc hòm sắt.

-Thưa hai bác, con xin nhận sự ký thác niềm tin của hai bác và dân làng Tung. Nhưng… cho phép con được thắp nén nhang để kính cáo với các anh linh tiên liệt của làng…

Vừa lúc ấy bà Thà và chị An, cô dâu trưởng, vợ Lưu Cung từ dưới bếp bưng đồ cúng theo cầu thang lên lầu.

-Chúng ta cùng lên tầng ba. Bà nhà tôi và vợ thằng Cung đã sắp lễ trên ban thờ.

Ngô Thời Bá không ngờ, cuộc ký thác sinh mạng tinh thần của làng Tung cho một cây bút, đã được chuẩn bị rất chu đáo. Trên ban thờ gia tiên nhà ông Lưu Đình đã được bày biện một lễ trọng : Hai bình hoa huệ, một mâm ngũ quả, một cút rượu, một đĩa trầu cau, một đĩa xôi nếp cái hoa vàng, một gà sống thiến ngậm hoa hồng.

Chiếc hòm sắt hồ sơ đất đai của làng Tung được mở ra, đặt trên ban thờ.

Ông Đình và ông Học, từ lúc nào đã thay y phục, áo the đen, quần trắng, khăn xếp cổ truyền. Cả hai ông cùng vào chủ lễ. Hai bên có Ngô Thời Bá và Lưu Cung phù tá.

Hai cây bạch lạp cháy sáng. Hương trầm nghi ngút.

Ông Đình vái năm vái rồi quỳ trước chiếu. Ba người cùng làm theo.

- Duy Việt Nam quốc, Sơn Minh tỉnh, Thượng Sơn huyện, Tâm Đồng xã, Kẻ Tung thôn…

Tiếng ông Đình trầm đục, âm vang, như tiếng tù và ngân trong không gian thăm thẳm.

H.M.T.

Chủ Nhật, 22 tháng 8, 2021

Thế lực thù địch (kỳ 9)

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

10

Y và Quỳnh có một đứa con? Niềm hạnh phúc quá lớn. Như lộc trời bỗng đổ ào xuống, đúng cái lúc bất ngờ nhất. Thậm chí y còn cám ơn Loan đã “khám phá” ra chuyện “thâm cung bí sử” của đời y. Mười bảy năm nay y là một thằng cha chẳng ra gì. Để mặc Quỳnh nuôi con. Và lừa dối Duy nuôi con cho y nữa. Duy có biết Liên là con y không? Không biết. Nếu biết sao Quỳnh có thể sống yên ổn và hạnh phúc như vậy? Hóa ra y ăn ốc mà Duy thì đổ vỏ. Quỳnh biết rõ Liên là con cuả y không? Mà có khi chính Quỳnh cũng không biết đã có con với y. Nếu biết, hóa ra Quỳnh lừa dối Duy suốt mười bảy năm qua? Chao ơi, thật hay mơ đây? Y sẽ gặp Quỳnh Thy. Sẽ gặp Quỳnh Liên. Con bé như thế nào nhỉ? Nó hơn con Nga mấy ngày? Theo Loan thì tám ngày. Chúng có giống nhau không nhỉ? Có xinh như nhau không? Giống Quỳnh thì không thể xấu. Mà rất có thể Quỳnh Liên giống nàng Malyutka trong phim Người thứ 41, nhân vật đã xen vào cuộc ân ái cuối cùng của y và Quỳnh.

Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021

Thế lực thù địch (kỳ 8)

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

8

Số người ghi tên ứng cử đại biểu quốc hội tự do tăng vọt khiến nhiều đồng chí lãnh đạo đau đầu. Lỗi do báo chí, truyền thông bốc đồng muốn chơi trò tự do dân chủ. Hữu khuynh lúc này là tự sát. Khác nào phù thủy gọi âm binh. Gọi một nó kéo lên mười. Thế giới mạng nhao nhao đề xuất phải triệt để bầu cử dân chủ. Phải đưa tỷ lệ người ngoài Đảng vào Quốc hội tương đương với dân số, nghĩa là Quốc hội phải có ít nhất chín mươi phần trăm người ngoài Đảng. Phải đưa vào Hiến pháp vai trò nhiệm vụ quyền hạn của Tổng Bí thư đảng và các ủy viên Bộ Chính trị, không để họ lũng đoạn ngoài hiến pháp và pháp luật. Đảng chiếm hết các vị trí, từ tổ trưởng trở lên tới Bộ Chính trị, vậy phải nhường Quốc hội cho nhân dân chứ. Điên. Thế thì còn gì vai trò lãnh đạo của Đảng. Có người đưa ra giải pháp: Gạch hết bọn ứng cử tự do. Xóa sổ từ vòng gửi xe. Không thể dân chủ quá trớn. Với bọn trí thức hí hửng tưởng thời đại dân chủ của chúng đã đến, phải thực hiện triệt để chuyên chính vô sản.

Nhưng y lại nghĩ khác. Phải cao tay như Bác Hồ mới ra vẻ một nhà nước dân chủ. Năm 1946, tình thế đất nước nghìn cân treo sợi tóc, thù trong, giặc ngoài. Bọn Tàu Tưởng kéo hàng chục vạn quân chết đói ghẻ lở tiêm la vào Hà Nội, kéo theo bọn Việt quốc, Việt cách Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam… vậy mà Bác dám dành 70 ghế không bầu cho bọn họ trong Quốc hội khóa I. Rồi sau đó, hàng loạt nhân sĩ, quan lại Nam triều tham gia chính phủ, như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Tố, Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Vũ Đình Hòe, Phạm Khắc Hòe, Nguyễn Văn Huyên, Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng… Đến hai đảng Dân Chủ và Xã Hội mà Bác còn dám giao cho Nguyễn Xiển và Nghiêm Xuân Yêm cơ mà. Mâm cỗ dân chủ phải biến báo tùy theo thế sự. Về sau, các vị nhân sĩ ấy thành người của Đảng hết. Ngay cả khi Bác đã mất, đồng chí Lê Duẩn, rồi Nguyễn Văn Linh, bảo các ông đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội giải tán, các vị ấy nghe một phép, chẳng ai dám tham quyền cố vị. Trong ống tay áo mình ra cả, sợ gì? Việc các vị trí thức bây giờ muốn to-ra-ta-đay (tỏ ra ta đây) xung phong ứng cử Quốc hội cũng vậy thôi. Cứ để họ tự sướng. Cứ để cho dân bầu. Trúng thế quái nào được. Chốt cuối cùng là khâu kiểm phiếu, có mà trúng… kế. Cùng lắm, cho một hai vị dễ bảo vào quốc hội làm… cảnh, để bịt mồm bọn chống phá. Gương mấy ông không đảng viên trong Quốc hội mười mấy khóa đấy thôi. Nhà thơ V, nhà sử học D, thỉnh thoảng khua chân múa tay cao đàm khoát luận giữa nghị trường cho vui, cho oai, chứ cho ăn kẹo cũng không dám nói khác.

Dường như thời cơ của y đã đến. Bản lĩnh và tài năng của người biết tham mưu chỉ tỏa sáng khi gặp hoàn cảnh. Y viết một đề án gửi Bộ trưởng và Ban cán sự, đề nghị không nên làm căng với số ứng viên tự do. Không nên o ép, có động thái cấm đoán lộ liễu trắng trợn. Hãy coi họ như những “hàn thử biểu” cho sự vững vàng của chế độ…

Bản đề án vừa gửi, lập tức chấn động trong ngành.

- Sao có người ăn gì mà ngu thế. Thà cứ ngậm miệng, vợ con còn được nhờ. Ti toe đề án. Bây giờ thì trắng mắt ra…- Cao Thu Loan từ cơ quan về, vừa nhìn thấy mặt chồng đã dấu mỏ tru tréo.

- Có chuyện gì? Ai trắng mắt ra?

- Lên Bộ mà hỏi. Đứa nào viết cái đề án ngu ngốc cho bọn Việt Tân tự do ứng cử, hả, hả?

Vậy là bản đề án của y đã được đặt trên bàn nghị sự. Đích thân Bộ trưởng đã xem xét và đưa ra tập thể.

- Em ơi, làm tham mưu, phải biết đưa ra đề xuất đúng thời điểm. Sang năm, nước mình được đề cử vào ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Phải chứng tỏ chúng ta có nhân quyền.

- Nhưng đấy là việc của cấp trên, không đến cái mặt anh. Anh là cái thá gì. Chỉ một cái đề án ngu xuẩn của anh mà mẹ con tôi mất hết… Bao nhiêu công sức thành công cốc…

Y chột dạ. Thôi chết rồi. Hai năm nay Loan đã âm thầm lo cho y một chân biệt phái làm tùy viên văn hóa Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ. Loan không cần suất ăn theo mà cô nàng có hẳn một suất biên chế trong cơ quan đại diện tại Liên Hợp quốc. Con Nga và thằng Phong đương nhiên đi theo bố mẹ, vài năm sau nghiễm nhiên vào trường đại học Mỹ.

Loan bỗng ôm mặt khóc hu hu:

-Tôi đã nói bao nhiêu lần rồi. Chỉ cần anh khâu cái mồm lại… Tổ chức bảo chỉ chờ Bộ Ngoại giao có giấy tiếp nhận, Bộ trưởng sẽ ký quyết định điều động. Đầu năm học, cả nhà mình sẽ đi Mỹ… Vậy mà… ngu ơi là ngu… Trên Bộ người ta đang đồn ầm lên anh ăn phải bả của bọn Việt Tân, đang tự diễn biến…

Đầu y quay cuồng, như rối loạn tiền đình, không đứng vững. Khi trấn tĩnh lại, mồ hôi vã như tắm. Sao y không nghĩ đến chuyện này nhỉ? Leo cau gần đến buồng, lại tuột xuống gốc. Loan đau một thì y đau mười. Đã hai năm nay, vợ chồng y âm thầm dệt ước mơ xuất ngoại. Cái thời buổi a-còng mỗi người đi làm, đi học về, ai nấy ôm một chiếc iphone, ipad ngồi một góc riêng, ngay cả trong bữa cơm cũng chẳng nhìn mặt nhau, để có chung với nhau một giấc mơ, một hoài bão đâu phải dễ. Vợ chồng y, tính cách lại như nước với lửa. Y trầm lặng, hơi mộng mơ và duy tình, thì Loan lại thực dụng, quyết liệt, duy lý, duy lợi. Sự hòa hợp, đồng tâm duy nhất của hai đứa là tình dục và khát vọng đi Mỹ.

- Anh nghĩ đây chỉ là một đề xuất. Mình làm tham mưu an ninh văn hóa cho lãnh đạo, phải có đề xuất. Cấp trên có nghe hay không là quyền của họ.

- Đời nào họ nghe cái lũ phản động. Nhưng mà họ thất vọng và cảnh giác.

- Anh sẽ gặp anh Chín… Anh xin lỗi và xin hứa…

- Vì sự ngu xuẩn của anh mà anh Chín cũng bị liên lụy… Hôm qua trong bệnh viện, nghe chuyện của anh, bố tôi phải thở oxy, anh biết không?

Y lao đến bệnh viện 108. Thăm nhạc phụ một phần, nhưng cái chính là muốn nhờ vị tướng công thần nói với Bộ trưởng về việc biệt phái của y. Nhạc phụ đang thở oxy đúng như Loan nói. Và y nát óc nghĩ kế sẽ nịnh vợ thế nào để qua cơn địa chấn khủng khiếp này.

***

Y chờ đêm xuống.

Đêm là nơi hò hẹn của ngày mai. Là khoảng lặng của những cuộc sinh sôi. Là chốn hàn gắn những vết thương. Là diễm trường của hoan lạc… Với Loan, đêm nào cũng là những khắc khoải thèm muốn vô tận.

Y sẽ không để cho Loan thất vọng. Thậm chí y sẽ đưa nàng lên đỉnh. Y sẽ đè bẹp mọi ý chí phản kháng. Loan sẽ lại ngoan ngoãn như thỏ non, lại thương y, lo cho y và các con. Giấc mơ Mỹ, với Loan chưa khi nào đóng cửa.

Nhưng…

Vừa mở cửa phòng, y đã bị một cái gối ném vào mặt. Tiếp nữa là một mảnh chăn.

-Anh cút ra ngoài kia mà ngủ. Nhìn cái mặt anh là tôi phát tởm.

Một cấp độ khác thường so với ban ngày. Ai đã bơm cho cô ta? Y bắt cái gối, lùi lại giây lát, định quay ra. Nhưng tiếng khóc bật lên, khiến y nhảy ào đến. Cả người y, như một khối núi đổ xuống Loan. Y hôn tới tấp lên mặt, lên tóc, lên người nàng. Từ hồi lấy nhau, chưa bao giờ y cuồng bạo, động cỡn như thế.

Loan bỗng oằn người lên, hai cánh tay như lực sĩ cử tạ hạng nặng nâng bổng y lên, và co chân đạp một phát bốc y bay vào cánh tủ.

Loan vụt ngồi dậy. Không thèm che bầu vú đầy thách thức.

- Anh có thèm khát thì đi mà tìm con đĩ Quỳnh Thy để nó ngửa cho anh.

Chân y bị va vào cạnh bàn phấn, đau điếng. Loan nhắc đến tên Quỳnh Thy, y bủn rủn, cơn đau biến mất.

- Anh sẽ phải trả giá về sự phản bội. Vậy mà từ ngày cưới anh, tôi cứ tưởng anh đã cắt đứt với nó. Nó bỏ anh để đi theo lão luật sư Vũ Duy, coi như đã nhổ vào mặt anh rồi. Ai ngờ, suốt bao nhiêu năm anh vẫn bám lấy váy nó. Chồng nó muốn vào Quốc hội, nó vẫy anh đến bảo anh mang ống đu đủ đến thổi đít, thế là anh nghĩ ngay ra một đề án… Ối giời ơi, muốn bợ đỡ chúng nó thì cút xéo đi. Trên Bộ người ta đồn ầm lên anh là thằng diễn biến, thằng rận chủ, anh ăn tiền của bọn Việt Tân… Miệng lưỡi thế gian ác độc chưa? Họ cứ vẽ ra con ma Việt Tân để hù dọa đấy. Bây giờ người ta gán ghép cho anh, đẹp mặt chưa? Anh có biết cái vị trí, cái quan hệ của anh bao nhiêu kẻ thèm muốn không? Tôi bây giờ á? Gái hai con đấy, nhưng chỉ ho một tiếng là khối kẻ cun cút chạy theo. Vì họ muốn lên sao, lên lương, họ muốn quyền lực. Vì họ Cao nhà này mà khối kẻ thích bưng bô. Để tôi nói cho anh mở mắt ra. Một chân quản giáo trại giam bây giờ bao nhiêu? Một chức Giám đốc tỉnh là bao nhiêu? Một chức Tổng cục bao nhiêu? Mười tỷ á? Đừng có mơ. Anh chẳng phải nịnh bợ đứa nào cũng có tất cả. Vậy mà đứa con gái họ Cao này vẫn không bằng con vợ thằng luật sư Việt Tân. Anh vẫn chết mê chết mệt vì nó. Cút đi. Đừng để bà nhìn thấy mặt mà bà lộn ruột…

- Kìa em, đừng hiểu lầm anh… Anh không hề gặp Quỳnh…Anh thề.

- Thề cá trê chui ống. Anh tưởng thậm thụt, lừa dối tôi mà yên, hả. Cả họ Cao làng Phí làm công an anh biết quá còn gì? Tai mắt họ Cao không chỉ khắp trong nước mà cả toàn thế giới. Đã bao lần tôi nói với anh rồi, trung thành, cúc cung phục vụ gái họ Cao này thì muốn gì được nấy, bằng không thì… muốn phanh trần được phanh trần… Xéo đi.

Loan đóng sầm cửa.

- Kìa em… để anh nói… Anh thề đã mấy năm nay không gặp Quỳnh… Anh không hề che chắn cho Vũ Duy. Anh ủng hộ Hà mắt nai và Công an Hà Nội bắt Duy tội trốn thuế mà…

Y đấm cửa. Hoang mang. Rã rượi.

Từ phòng bên, con gái y mở cửa, đến sau lưng y từ lúc nào.

- Bố mẹ làm gì mà ầm ầm lên thế?

Cao Nga ngái ngủ, nhưng khi nhìn điệu bộ, vẻ mặt bố, nó bỗng phì cười. Con bé rất nhạy cảm, chỉ cần bố mẹ xa xôi bóng gió nhau là nó đã như một quan tòa công minh, xử đâu ra đấy. Tất nhiên phần lớn các phiên tòa gia đình, Nga vẫn luôn luôn đứng về phía bố.

- Bố làm gì để mẹ điên lên rồi. Thôi, bố ra ngoài đi-văng nằm tạm. Để con xử vụ này cho - Nga cầm gối, chăn, đưa y ra phòng khách, rồi quay lại cửa phòng Loan. Nó không gõ cửa mà bấm iphone.

- Mẹ ơi, mẹ ơi, con đau bụng quá… Mẹ có dầu xoa không?

Cánh cửa bật mở. Nga nhào vào, ôm chầm lấy mẹ.

Không hiểu hai mẹ con nói với nhau những gì, chỉ nghe thấy tiếng thì thầm và tiếng khóc nức nở.

Y nằm trên đi-văng, đầu muốn vỡ nhưng không vỡ được. Từ hồi lấy nhau, đây là lần đầu tiên Loan quyết liệt và hung hãn đến vậy. Những lần trước, chỉ là sự va đập trong tính cách, lối sống, đôi khi ghen bóng ghen gió với cô này anh kia, nhưng hình như Loan luôn tránh xa mối quan hệ với Quỳnh. Loan biết đó là gót chân Achilles của cả hai đứa, một góc đời mà cả hai rất dễ bị thương tổn. Cái góc khuất ấy, Loan luôn luôn nghĩ tới, luôn muốn ngó tới, muốn soi rọi vào để thỏa nỗi ghen tuông đàn bà, để cảnh báo mỗi khi bỗng dưng giật thột một điều gì chính Loan cũng không lý giải nổi. Giống như một con chuột, rất biết có một lọ mỡ để ở góc ấy, tâm tưởng, thèm muốn lúc nào cũng hướng vào góc ấy, nhưng lúc nào cũng nơm nớp lo sợ con mèo, với đôi mắt tròn như bi ve, trong veo, luôn thâu hết mọi động tĩnh, mọi ham muốn, mọi rình rập. Và Loan đã để yên cái góc khuất ấy mười bảy năm trời.

Cho đến hôm nay…

Công bằng mà nói, cuộc hôn nhân của y với Loan, như một bất ngờ của định mệnh, bắt đầu từ chuyến đi Nga ấy, cho đến bây giờ, có được coi là mĩ mãn chưa, y chưa bao giờ đặt câu hỏi ấy và không việc gì phải trả lời. Nhưng về góc độ gia đình thuần túy, thì hầu như những ai quen biết vợ chồng y, những ai là người làng Phí, làng Động của y, đều nghĩ đó là một tổ ấm hạnh phúc. Loan là người đàn bà của gia đình, một phụ nữ có đủ mọi thứ: sắc đẹp, học vấn, truyền thống gia tộc, công việc, chồng con, thời trẻ có ăn chơi phá cách tí chút, nhưng khi đã lấy chồng đều dồn hết cho mái ấm uyên ương. Loan yêu hai đứa con, Hoàng Cao Nga và Hoàng Cao Phong đến mức có thể hy sinh thân mình. Loan yêu y đến khắc kỷ và muốn chiếm hữu tuyệt đối. Ngày còn sống đời sinh viên, hai cặp Hoàng Y – Quỳnh Thy, Ngô Viễn – Mai Thy còn xoắn suýt lấy nhau, y là đứa tháo vát, có khả năng bếp núc, có gu ẩm thực, vậy mà từ ngày lấy Loan, mọi năng khiếu, thói quen ấy đều mai một, thậm chí biến mất. Loan không cho y động chân tay bất cứ việc gì. Việc bếp núc, dọn dẹp không phải việc của đàn ông. Anh lên nhà đi, khổ quá, nghe em đi. Anh mó tay vào làm gì cho bẩn. Việc này là việc của đàn bà, để đấy em… Loan luôn quát tháo với giọng điệu mệnh lệnh đáng yêu như thế. Đi làm về, thậm chí Loan còn cởi quần áo y để đi giặt; cắm quạt cho y mát; cởi giày cho y nằm; nhảy hẳn vào nhà tắm để chằn y ra kỳ lưng, gội đầu. Dần thành thói quen được vợ chiều chuộng, làm thay mọi thứ. Có lần, ăn cơm, rơi đũa, y cũng cứ ngồi trơ, đợi Loan đi lấy đôi đũa khác mới chịu ăn tiếp. Rồi chuyện nhà cửa, kinh tế gia đình, cũng một mình Loan lo liệu. Tiền lương của y, muốn đưa thì đưa, Loan không đếm xỉa. Loan mua bốn lô đất, xây bốn căn nhà nghỉ, thuê người trông coi, khoán mọi chi phí, trong đó có tiền bảo kê, hằng tháng chỉ việc đến thu tiền… Đời y thế là sướng hay khổ?

Nhưng có điều này, thì y khổ, rất khổ. Ấy là mỗi lần nghĩ đến Quỳnh, hoặc những khái niệm, hình ảnh có dính líu đến chữ Quỳnh (hoa quỳnh, thơ Xuân Quỳnh, huyện Quỳnh Lưu, Trạng Quỳnh vv…) hay nhớ đến những năm tháng đời sinh viên, thì lập tức y thấy thót tim, lại dập đi ngay. Y luôn thấy đôi mắt Loan nấp ở đâu đó, có lúc ngay trong đầu y, rình mò, áp chế. Một đôi mắt cảnh sát, có lúc nheo nheo đầy ám khí, có lúc trừng trừng đầy hung khí, có lúc ma quái, rờn rợn mùi tử khí. Cứ nghĩ đến Quỳnh, lập tức bóng Loan bao phủ. Thoáng thấy bóng Quỳnh ở đâu đó, y lập tức quay ngoắt một trăm tám mươi độ, hoặc lủi đi đường khác. Thấy một cây quỳnh (chứ hoa thì chỉ nở lúc nửa đêm), y lảng ngay đi nơi khác. Y tập cho mình một thói quen: Phải xóa hết, phải quên hết, xa lánh hết mọi thứ dính đến khái niệm Quỳnh.

***

Suốt cả tuần sau, Loan đi đâu từ sáng sớm, tối lâu mới về.

Y đảo qua cơ quan Loan, có ý dò la. Một người bạn rủ ra căng tin uống bia hơi và xì cho y biết: Mày phải đề phòng thằng Tuẫn Chiết da. Mấy hôm nay nó với vợ mày cứ thì thụt chuyện gì.

Rồi tối ấy, mười hai giờ đêm Loan chưa về. Từ bảy giờ, tivi bắt đầu thời sự, máy Loan không liên lạc được. Ba bố con vừa ngồi trước mâm cơm vừa gọi hoài vào vùng không phủ sóng.

Đợi các con ngủ say, y mở chai Chivas Regal 18. Whisky nhãn vàng Scotch thơm lừng, uống vào thun thút. Cái mặt phèn phẹt của thằng Tuẫn Chiết da sau chiều tắm hồ Valdai ấy bỗng hiện ra, rất gian tà. Mười bảy năm rồi mà sao y không thể quên bộ mặt thằng Tuẫn tối ấy. Suốt bữa rượu nó ngồi đối diện Loan, đôi mắt trâu hau háu nhìn vào khe ngực sâu hút của Loan như muốn lôi bật bầu vú ra ngoài. Y thì nhớ Quỳnh Thy đến khắc khoải. Nhớ Quỳnh nhưng y vẫn để mắt tới Loan và thằng Tuẫn. Cho tới lúc hai cặp lên lầu ngủ, thằng Tuẫn cố đẩy y đi với Tanhia Bavykina, để nó sờ mông Loan. Cô gái Nga thì cứ chùng chình đợi Tuẫn. Tanhia tỏa sức hút như một thỏi nam châm. Lúc nàng nude trong nhà tắm bên hồ y đã thấy hết những đường cong chết người. Đêm ấy, y cũng muốn hưởng chút của lạ trên xứ sở Bạch Dương, nếu Loan đi với Tuẫn. Nhưng rồi, dường như đọc được ý muốn của y, Loan đẩy Tuẫn đi với Tanhia, lôi y sềnh sệch vào phòng. “Anh tưởng em rủ anh sang đây để anh đú đởn với con Nga ngố ấy à. Em cấm”. Và nàng bất chấp y có hứng thú hay không, đẩy y xuống giường... Từ dạo ấy, thằng Tuẫn vẫn cay cú. Y biết chắc như vậy. Con mồi bị sổng là con mồi lớn. Và hắn càng đeo đuổi. Cả tuần nay hắn đưa Loan đi những đâu? Nhà nghỉ? Khách sạn nào? Câu hỏi ấy khiến y đau đớn. Thằng Tuẫn bỏ vợ ba năm nay. Bạn bè vẫn gọi nó là cá trê phi, đớp mọi thứ đàn bà.

Rượu quật đổ y.

Khi y thiếp đi, thì Loan về. Loan bật hết các ngọn đèn phòng, bắt y ngồi dậy, rồi dí vào mặt y một tờ giấy có dấu đỏ chói.

- Ông đọc đi. Mở to mắt mà đọc - Miệng Loan nồng nặc hơi rượu, tia mắt như có ánh lân tinh.

Y như không tin ở mắt mình: Bản giám định xét nghiệm ADN huyết thống. Người được giám định: Hoàng Y và Vũ Quỳnh Liên.Trời ơi, chuyện gì đây? Sao lại có chuyện giám định huyết thống?

Loan cúi xuống y, bàn tay có những móng đỏ lùa dưới cằm y, hất ngược mặt y lên:

- Ông nói đi. Con Quỳnh Liên có phải con ông không?

Y đổ sụp xuống, hai tay chới với quờ quạng đôi chân Loan:

- Anh bất ngờ quá… Bao năm nay anh cứ ngờ ngợ…

- Ngờ ngợ à? Không phải là hằng tuần vẫn ngủ với mẹ nó à?

- Không. Không bao giờ… Anh thề có bóng đèn… Anh xin… Em hiểu sai anh rồi… Giám định ADN cũng chưa thể chính xác đâu…

-Sao? Không chính xác à? Tôi bịa ra tờ giấy này à? Ông muốn nói tôi vu oan giáng họa cho ông phải không?

-Không, anh thề, con Quỳnh Liên không…

-Không phải con ông hay không phải con thằng tù Vũ Duy? Ông bày mưu đưa chồng nó vào tù để thì thụt với nó phải không? Tôi đoan chắc là ông đã vắt hết cho nó đấy. Tôi chỉ hưởng cái xái. Lần nào với tôi ông cũng như miếng giẻ rách.

- Mà em phải hiểu cho anh… Trước khi gặp em, anh với Quỳnh đã… Để anh nhớ… Trước khi sang Nga với em, bọn anh chia tay nhau trên hồ Đại Lải… Có lẽ hôm ấy…

Mắt Loan nhìn y muốn lòi con ngươi. Lúc lâu Loan không nói được.

Rồi Loan dí vào mặt y một tờ giấy khác.

- Đến nước này thì tôi với ông đã cạn tình cạn nghĩa. Ông ký vào đây. Tôi sẽ cho ông tự do.

Lá đơn ly hôn, Loan đã chuẩn bị sẵn. Mọi việc cô ta đã chuẩn bị sẵn. Thằng bạn y nói đúng. Mày phải đề phòng thằng Tuẫn Chiết da…

Y bỗng nổi cơn điên. Mắt toàn lòng trắng, bọt mép xàu ra. Lá đơn bị xé nát.

- Thì ra cô với thằng Tuẫn…

- Hớ hớ… Giờ mới biết à? Nhờ Tuẫn, tôi mới có tóc và móng tay của con gái ông đấy. Tuẫn chưa bao giờ là bạn của ông. Đừng có ảo tưởng. Pháp y chính hiệu cũng không thể chính xác hơn… Có kết quả ADN thì đơn phương ly hôn chẳng là cái đinh gì. &

9

Vũ Duy đi tù, bác sĩ Quỳnh Thy bỗng trở thành một nhân vật nổi tiếng, nổi tiếng theo một cách khác, không giống như các ngôi sao màn bạc, các showbiz chân dài, các diva đình đám, mà nổi tiếng theo kiểu scandal. Ai đến bệnh viện Nhi Đồng cũng tò mò muốn biết bác sĩ trưởng khoa Quỳnh Thy, vợ tù nhân chống Đảng. Nhiều bậc cha mẹ trước đây tín nhiệm tay nghề cao của bác sỹ Quỳnh Thy, thì nay bắt đầu e ngại, muốn cho con khám và điều trị bác sỹ khác.

Là người đặc biệt nhạy cảm, Quỳnh đọc được ý muốn của tổ chức. Đầu tiên là họ tạo dư luận, gây sóng nhiễu, cố để mọi người hiểu không đúng, rồi xa lánh đối tượng, sau đó họ gây sức ép buộc bỏ việc hoặc xin thôi việc. Họ không muốn Quỳnh làm việc trong cơ quan nhà nước, nhất là một bệnh viện chuyên ngành lớn.

Đó là những ngày buồn chán, thất vọng nhất của Quỳnh. Vũ Duy đã làm gì sai? Vì muốn tương lai một nước Việt Nam tốt đẹp, sánh vai các nước trên thế giới; muốn người dân thực sự được tự do, dân chủ, được bình đẳng góp công sức xây dựng đất nước; muốn bộ máy chính quyền bớt tham nhũng, không nhân danh này nọ để độc quyền cai trị; muốn Trung Quốc không thôn tính lãnh thổ, lãnh hải… Như thế mà bị coi là phản động ư? Nếu bất đồng thì sao không tổ chức những cuộc đối thoại trên các phương tiện truyền thông với Duy, với những người như Duy? Sao lại bày ra chuyện trốn thuế, là Việt Tân, để bắt người, diệt khẩu? Một chính thể không đường hoàng, cách ứng xử không đường hoàng, đến như mẹ con Quỳnh cũng không thể chấp nhận được, thì thuyết phục nổi ai? Thất vọng hơn nữa là họ lại hành hạ, triệt đường sống của những người thân của Duy. Họ tạo không khí khủng bố với con Quỳnh Liên và thằng Vũ Lân ở trường; ly gián, cô lập Quỳnh Thy ở bệnh viện. Lại nhớ những câu chuyện của bố Phạm Thanh Lâm kể hồi cải cách ruộng đất, hồi Nhân văn Giai phẩm. Con cái địa chủ, con cái nhân văn cũng bị đối xử như vậy. Bị ông bà nông dân đi qua nhổ vào mặt. Bị bạn bè trong lớp xa lánh như sợ hủi. Bị cách ly khỏi cộng đồng. Bố bảo: Hồi ông Hoàng Minh Chính viết đơn muốn xin phục dựng lại đảng Xã Hội, họ muốn làm mất mặt ông, làm dân chúng lên án ông, bèn cho người ném cứt vào nhà, cho côn đồ đóng giả anh em xích lô ba gác đến chửi rủa liên tục. Rồi bố thở dài: Chế độ nào nghĩ ra cái cách tẩy não này tức là đã đạt đến trình độ siêu bạo lực. Tra tấn bằng tinh thần mới thật khủng khiếp.

Quỳnh xin nghỉ không lương để chờ công văn của bệnh viện tư nhân Hoa Phượng, qua sự giới thiệu của tiến sĩ Quốc Bói. Rồi công việc mới cũng đến. Bệnh viện Hoa Phượng tiếp nhận bác sĩ Quỳnh Thy một cách trọng thị, với chức danh trưởng khoa nội nhi và số lương gấp ba lần cơ quan cũ. Ngày làm việc đầu tiên, không hiểu ai báo tin mà tới tấp có lời chúc mừng qua email, zalo, messenger. Đặc biệt có một tin nhắn chúc mừng của Hội tù nhân Lương tâm, và liền sau đó là một bó hoa gửi qua đường chuyển phát nhanh bưu điện. Từ ngày lấy Vũ Duy, Quỳnh đã quá quen thuộc với cái tên tù nhân lương tâm, quen như một thứ quán tính, được nghe đến, nhắc đến, rồi nhập tâm, chứ chưa hề biết nó gồm những ai, hoạt động như thế nào, để làm gì, nhưng từ hồi Duy bị tù, nàng bắt đầu để ý đến nó, tìm hiểu nó và thuộc về nó. Duy là một tù nhân lương tâm. Những gì thuộc về anh đều thân thiết với Quỳnh.

Và rồi Quỳnh đã được gặp cái hội kỳ lạ ấy. Hóa ra chẳng phải tổ chức, hội hè gì theo cách hiểu lâu nay của Quỳnh. Họ là những người vẫn cùng nhau đi biểu tình chống đường lưỡi bò, chống giàn khoan 981, chống Formosa, họ thường đến thắp hương trước tượng đài vua Lý Thái tổ, đài liệt sỹ Bắc Sơn vào những ngày khắc ghi tội ác Trung Quốc xâm lược (17. 2.1979), ngày Trung Quốc chiếm đảo Gạc Ma (14.3.1988)… Họ là những người phần lớn từng bị đánh đập mỗi lần đi biểu tình rồi bị hốt lên xe bus về đồn công an, về trại Lộc Hà. Họ là những nông dân Dương Nội, Văn Giang bị mất đất, bị bọn bảo kê đâm thuê chém mướn triệt hạ đường sống. Cũng có vài gương mặt từng ở trại tù ra, gọi một cách hài hước là bộ tộc “Tà ru”. Và kìa, có cả vợ chồng Ngô Viễn, Mai Thy, nhà báo Quốc Sỉ, tiến sĩ Quốc Bói, Tuẫn Chiết da và nhà văn Ngô Thời Bá...

Hôm ấy là ngày giỗ ông nội vợ Khiển Trọc, trưởng nhóm xe ôm làng Động. Nhờ chạy xe ôm mà Khiển lấy được cô gái nết na làng Mọc, có cái tên ngồ ngộ là Lại Thị Thầm. Giữa đám cưới, trước hai họ, Khiển thưa với mọi người: Con xin phép họ Lại, từ nay cho con được gọi vợ con là Lại Thì Thầm, vì cô ấy nói yêu con nhỏ quá, con thường không nghe rõ. Chuyện hài hước, mà sau thành tên thật. Cô Thì Thầm được ông anh cả chia cho hơn sào vườn ngay sát nhà từ đường họ Lại theo di chúc của bố mẹ. Thầm được mẹ truyền cho nghề làm bánh khúc, khách đến lấy tận nhà. Thầm tốt nái, để liền ba thằng con trai. Khiển như chuột sa chĩnh gạo, bán đi một mảnh đất, đủ tiền xây ngôi nhà ba tầng và sáu căn phòng cho thuê.

Đáng nói nhất là căn nhà từ đường họ Lại, nơi tổ chức cuộc giỗ, do ông anh cả Lại Qúy Sâm đang thờ cúng. Một ngôi nhà gỗ năm gian, tuổi đời hơn hai trăm năm, với những chạm khắc cầu kỳ tinh xảo nguyên bản kiến trúc thời Hậu Lê, trên một khuôn viên hơn nghìn mét vuông, được xây tường bao quanh, với những ao huê, nhà thủy đình, nhà bia, cầu kiều…. Tương truyền, hàng chữ trên thượng lương tòa từ đường là bút tích của một trong các tác gia Ngô gia Văn phái. Theo nhà văn Ngô Thời Bá, bút tự ấy, so với bản chữ viết tay trong thư viện Hán Nôm đang lưu giữ, đích thị là của quan đốc học Ngô Thì Du, người viết bẩy hồi phần tục biên của tiểu thuyết lừng danh “Hoàng Lê Nhất thống chí”.

***

Nhà từ đường trải chiếu hoa, bày cỗ trên hai tấm phản gỗ lim nâu bóng, mời các vị cao niên vai vế trong làng và khách quý đặc biệt. Anh em con cháu dâu rể họ Lại kê bàn ngồi ngoài sân. Cỗ to như cỗ cưới, toàn đặc sản làng Mọc truyền thống, đáng chú ý nhất là mâm nào cũng có một đĩa bánh khúc do chính tay Thì Thầm làm. Riêng các vị khách của anh em ông Sâm, được bố trí kê dãy bàn dài bên nhà Khiển Trọc. Vì thế mà vợ chồng Khiển có vẻ tự tin, cứ như chính họ là chủ bữa đại tiệc.

Tiếp các cụ trên nhà từ đường, ngoài ông Sâm, trưởng tộc, còn có người cô ruột lấy chồng thiên hạ. Đó là bà Lại Thị Thà vợ ông Lưu Đình, người làng Tung, xã Tâm Đồng, một địa chỉ đang được cả nước quan tâm. Ông Lưu Đình nguyên là bí thư đảng ủy xã Tâm Đồng, điểm nóng tranh chấp ruộng đất còn hơn cả Dương Nội, Văn Giang. Bà vợ đầu của ông Lưu Đình là người cùng làng Tung. Ở với nhau được tám năm, thì người vợ mất trong lần đẻ đứa thứ tư. Đứa con đẻ ngược, nước ối vỡ trước khi đến nhà hộ sinh, để lại cho ông Đình ba đứa con trứng gà trứng vịt. Có người bà con mối lái, tìm cho ông một người vợ kế đẹp người đẹp nết người làng Mọc, cách quê ông hơn bốn chục cây số. Lại Thị Thà thay người vợ đầu nuôi các con và sinh cho ông Đình một trai hai gái. Mọi năm vào ngày này, vợ chồng ông Đình, bà Thà phải ra trước hai ngày để cùng anh em con cháu lo đám giỗ. Năm nay, vì chuyện cấp trên về thanh tra đất đai Tâm Đồng, chỉ một mình bà Thà với cô con gái út về ăn giỗ bố.

Ông Lại Qúy Sâm, thường gọi là Sâm Mọc, chuyên gia biểu tình chống Tàu, chừng năm mươi tuổi, người săn chắc như một võ sĩ, có nghề làm cây cảnh. Không có cuộc biểu tình nào ngoài Hồ Gươm, trên vườn hoa tượng đài Lê Nin mà không có ông Sâm. Thường ông hay đi với nghệ sĩ đường phố Tạ Trí Hải, nhạc sĩ Tương Giang. Lúc nào cũng tiên phong đi đầu, cầm băng rôn và biểu ngữ. Nhiều lần bị bọn giả danh côn đồ xông vào hành hung, ông thường xông lên, lấy thân mình che chắn cho các nhà dân chủ. Và tất nhiên ông hứng trọn những đòn hiểm và nhiều lần bị xe bus hốt về trại Lộc Hà. Bữa cỗ hôm nay, ông Sâm và Khiển Trọc chạy như con thoi, mời rượu các cụ nhà trên, anh em họ hàng ngoài sân, lại chạy sang đám khách quý bên nhà Khiển.

Trước lúc mời khách vào cuộc rượu, Tuẫn Chiết da, kéo ông chủ bữa giỗ ra một góc, nói nhỏ:

-Khu nhà từ đường của họ Lại đang nằm trong tầm ngắm của Tập đoàn địa ốc ABC, ông biết không? Thành phố đang duyệt quy hoạch. Ông liệu mà tính giá đền bù.

- Ngôi nhà tổ phụ họ Lại hơn hai trăm tuổi và mảnh đất vàng này đã từ lâu nằm trong tầm ngắm của bọn tư bản địa ốc đỏ. Tôi biết khối kẻ nhìn khu đất này thèm rỏ rãi. Sớm muộn rồi cũng không yên với chúng đâu… Ông xem và tính kế giúp tôi.

Bà Thà từ nhà trên xuống, nhanh nhảu nói với ông cháu trưởng:

-Cho cô đến chào các vị khách quý của con. Hình như đã có mấy vị đến chơi với ông nhà cô.

- Hay quá, mời cô vào đây – Sâm cầm tay bà Thà dẫn đến trước mâm rượu - Thưa các vị đại trí thức Bắc Hà và đặc biệt hai người đẹp họ Phạm, cùng các anh chị em Hội Lương tâm… Đây là cô Lại Thị Thà, cô ruột tôi. Hôm nay là ngày giỗ cụ đẻ ra cô Thà tôi. Giỗ nào vợ chồng cô tôi cũng phải có mặt. Nhưng giỗ này chỉ có cô tôi và cô con gái rượu.

Bà Thà chắp hai tay đưa lên chào mọi người.

- Các vị nhìn kĩ nhé - Ông Sâm chỉ bà cô nói tiếp - Ngày xưa cô tôi đẹp nổi tiếng làng Mọc đấy, từng là nữ xạ thủ toàn năng xuất sắc quân khu hữu ngạn. Thế rồi, trong một đợt hội thao dân quân tự vệ, cô tôi bị một anh thanh niên làng Tung xã Tâm Đồng cưa đổ, rồi thành vợ của cụ Lưu Đình, nhân vật nông dân đấu tranh giữ đất nổi tiếng cả nước bây giờ… Xin lưu ý với các vị, lúc ấy ông Lưu Đình mới góa vợ, gà trống nuôi ba con, mà cô tôi gái son, hoa hậu làng Mọc đấy nhé.

- Vâng, xin chào anh chị em – Bà Thà nâng chén mời mọi người – Khi nào rảnh, xin mời các anh chị em đến thăm làng Tung với ông nhà tôi…

Chén đầu trăm phần trăm. Mọi người tấm tắc khen bà Thà giờ càng phúc hậu, đẹp lão.

Tiễn bà cô lên nhà trên, đến lượt Sâm Mọc rót rượu mời mọi người:

- Nhân dịp giỗ ông nội chúng tôi, rất hân hạnh được gặp các trí thức tên tuổi và anh em, từng sát cánh đùm bọc yêu thương nhau vì một xã hội dân sự…Tôi không bao giờ quên những lần đi biểu tình chống Tàu quanh Hồ Gươm. Chính những cuộc xuống đường ấy đã gắn kết chúng ta, cho chúng ta thấm thía hơn tình yêu Tổ quốc. Nào, xin kính mời cạn ly rượu với Sâm Mọc này.

Hai chị em Quỳnh Thy, Mai Thy bấm tay nhau và nhìn nhau ngạc nhiên khi ông Sâm nói tới cụm từ xã hội dân sự. Lần đầu tiên họ ngồi cùng mâm với những người lao động bình dân, mà hầu hết là người làng Mọc, làng Động làm nghề chạy chợ, thợ mộc, xe ôm, taxi, cốp pha... Chẳng phải những con người thị dân, nông dân lam lũ muốn kết bạn với nhà văn, tiến sĩ để làm sang, mà vì họ muốn được che chở, bảo vệ những trí thức dấn thân nhưng yếu đuối, mong manh, dễ vỡ. Trong những cuộc tụ tập, biểu tình, nếu không có những trí thức tiêu biểu, những công thần yêu nước, những người của công chúng, mà phe Bò Đỏ vẫn giễu là bọn Rận chủ,… làm đầu tàu, thì khó thành, nhưng nếu không có những thường dân chân đất thì không thể tụ tập thành đám đông, vì thế một xã hội dân chủ là tổng thành của những tập hợp. Đi bên những thiếu tướng công thần Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà văn Nguyên Ngọc, nhà thơ Bùi Minh Quốc, giáo sư Chu Hảo, tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà ngoại giao Dương Danh Dy, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, nhà văn Ngô Thời Bá… bao giờ cũng có vợ chồng Trỗi Lai, Khiển Trọc, Dũng taxi, Ngạn thịt cầy, Sâm Mọc và tập đoàn xe ôm làng Động. Ngồi trên chiếu rượu này, toàn những gương mặt khắc khổ, lam lũ, hiền lương. Không có ai thù oán gì Đảng, chính quyền. Nhưng cứ thấy bọn tham nhũng sâu mọt ngày càng đông nhung nhúc, các nhóm lợi ích câu kết với bọn quan chức độc tài bòn rút đục khoét dân, bọn giả danh cộng sản tiếm quyền bóp nghẹt dân chủ, bọn tư bản đỏ chiếm đất, đàn áp dân đen; cứ nghe tin tàu hải giám Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế, tàu nước lạ đâm tàu cá và giết ngư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi… mà chính quyền cứ im thin thít, thậm chí còn mời lãnh tụ của chúng vào huấn thị tại cuộc họp Quốc hội ta, là họ lại sôi sục, muốn ra Hồ Gươm đả đảo.

Tiến sĩ Quốc Bói thay mặt anh em lên nhà trên chúc rượu các cụ cao niên, mới uống một ly, mặt đã đỏ phừng phừng.

-Tôi vừa chúc rượu các cụ, không ngờ tửu lượng của cụ bà Lưu Đình cao lắm nhé - Quốc Bói tự rót rượu và cụng ly với mọi người - Tình hình làng Tung đang nóng rẫy từng ngày các vị ạ. Rất có thể nổ ra vụ đồng Nọc Nạng thứ hai trong lịch sử. Vụ Tiên Lãng chỉ là sự bột phát của một cá nhân Đoàn Văn Vương. Vụ Tâm Đồng nếu nổ ra mới là phong trào của nông dân...

- Tâm Đồng có tầm vóc của một tiểu thuyết. Cụ Lưu Đình sẽ là một nhân vật lớn mà các nhà văn có nằm mơ cũng không tưởng tượng ra - Nhà báo Quốc Sỉ lắc đầu không biết đang phủ định cái gì - Vụ này nhà văn Ngô Thời Bá không viết được một cuốn tiểu thuyết về nông thôn cho ra hồn, thì xin lỗi ông ông anh, vứt mẹ nó bút đi.

Ngô Thời Bá cười hà hà:

- Tôi đã đăng ký độc quyền cụ Lưu Đình và xã Tâm Đồng. Các vị có biết không, vợ tôi là cháu ruột cụ Lưu Đình đấy…

-Thật vậy ư? – Quốc Bói tròn xoe mắt.

-Không tin các vị cứ hỏi cụ Đình. Tôi lấy được hoa khôi Thượng Sơn là nhờ ông bác Lưu Đình …

Bữa tiệc rôm rả hẳn lên. Mọi người đề nghị nhà văn kể về mối tình éo le và lãng mạn của mình.

-Cuộc tình này sẽ dành cho cuốn tiểu thuyết sắp tới. Ly kỳ và ướt át lắm nhé - Bá ra vẻ úp mở. Bút bi hết mực rồi, nhưng lão gia đã có laptop. Vợ bán lứa lợn tặng ba mươi triệu tậu con laptop mới đập hộp dành để viết cuốn tiểu thuyết mới. Con laptop cũ, bảo tàng văn học đặt mua một trăm triệu, vẫn không thèm bán đó nghe...

- Trời ơi, cả Ngô Thời Bá và Tâm Đồng đều có giá - Nhà báo Quốc Sỉ chỉ tay về phía Bá - Nhà rận chủ nào chưa đến Tâm Đồng thăm cụ Lưu Đình thì chỉ là rận chủ giả hiệu...

Tiến sĩ Quốc Bói quả quyết:

- Tôi hẹn vợ chồng cụ Lưu Đình rồi, chúng ta sẽ đến thăm làng Tung vào đầu tháng tới. Bây giờ xin thông báo với các vị về tù nhân Trần Huỳnh Duy Thức.

Bữa giỗ lập tức rôm rả quanh chủ đề người tù nổi tiếng nhất Việt Nam đang tuyệt thực:

- Trần Huỳnh Duy Thức tuyệt thực đến ngày thứ 21 rồi các vị ạ.

- Thưa tiến sĩ, ngày thứ 23 rồi ạ. Bố Thức đã có đơn khẩn cầu gửi lên Tòa án tối cao, đề nghị cứu con trai - Tuẫn Chiết da đính chính.

- Xin lỗi, tôi nhầm - Quốc Bói tiếp tục - Theo lý thuyết, người có sức khỏe, có sức chịu đựng cao nhất cũng chỉ nhịn ăn được hai thất, tức mười bốn ngày. Sang ngày thứ mười lăm là ngất xỉu hoặc đột quỵ. Chúng tôi vừa ký một đơn thỉnh nguyện lên Chủ tịch nước… Không xử lý nhanh, Thức đi dịp này mất…

- Nước đổ đầu vịt, ăn thua gì – Dũng taxi, được mệnh danh “người thạo tin” bỗng cao hứng, đứng dậy – Cháu xin mạn phép các bậc huynh trưởng có ý kiến. Chủ tịch nước của ta bây giờ giống như thời vua Lê chúa Trịnh, chỉ là bù nhìn, chẳng có quyền hành gì. Và nói chung cả Thủ tướng, cả Chủ tịch Quốc hội cũng chẳng có quyền hành gì. Quyền tối cao là hội đồng tổng tài 19 vị và ông đứng đầu. Họ luôn nấp trong hộp đen quyền lực, chỉ tay năm ngón, ném đá giấu tay, đứng ngoài Hiến pháp. Đến như Hiến pháp cũng chỉ để cho vui. Hiến pháp quy định mọi công dân có quyền bầu cử, ứng cử, có quyền tự do lập hội, tự do biểu tình, đúng không? Vậy sao anh Khiển, anh Viễn, anh Sâm và các vị đây ra Hồ Gươm biểu tình chống Tàu lại bị bắt, luật sư Vũ Duy xin ứng cử Quốc hội lại bị đấu tố, bôi nhọ, hơ hơ…

- “Người thạo tin” nói như thế cũng chưa thật chính xác - Tuẫn Chiết da ngắt mạch - Vấn đề là chúng ta chưa có tam quyền phân lập…

- Ấy đấy. Vấn đề là ở chỗ ấy. Nguy nhất là một quốc gia mà người đứng đầu, xin lỗi, tập thể người đứng đầu, vô cảm - Quốc Sỉ cao hứng - Họ thừa biết một người tù khi đã dùng đến biện pháp cuối cùng là tuyệt thực, coi thường cái chết, để thỉnh nguyện một điều không chỉ cho riêng mình, là người cần phải được xem xét ngay, vậy mà họ vẫn vô cảm. Đến như anh bạn tôi, Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh, nếu khôn ngoan, mưu mẹo, bây giờ cũng quan chức hàng nhị, nhất phẩm, có kém gì những kẻ chót vót hàng cai trị. Vì Ba Sàm là người tài, lại có tâm, có tầm, bố ông ấy hơn gấp vạn lần bố các ông kia. Ủy viên trung ương mấy khóa, bí thư tỉnh ủy mấy tỉnh, lại đại sứ đặc mệnh toàn quyền Liên Xô… Ấy thế mà chỉ không chịu được sự giả dối, không chấp nhận thứ chủ nghĩa quái thai, muốn xuất bản một tờ báo mạng để nói lên sự thật… mà bị bỏ tù, đến mẹ chết cũng không cho về nhìn mặt…

Nhà báo Quốc Sỉ bỏ nửa chừng câu chuyện, ôm mặt khóc. Ông mới uống một ly rượu, say làm sao được?

Khiển Trọc như thấy mình có lỗi, nhìn sang phía Quỳnh, muốn lái câu chuyện:

- Nhân việc lần đầu bác sĩ Quỳnh Thy tham dự cuộc gặp gỡ với chúng ta, em xin có ý kiến. Sắp tới chúng em sẽ tổ chức một chuyến xe vào trại Ba Sao để thăm luật sư Vũ Duy, nhạc sĩ Tương Giang và các tù nhân lương tâm… Sau đó trên đường về chúng ta đến thăm chị Bùi Thu Hằng mới từ trại giam về. Ai thu xếp đi được thì báo cho Thì Thầm nhà em để tiện liên hệ ạ…

Quỳnh Thy thấy cay sống mũi. Đã hai lần mẹ con đi thăm Duy đều không được gặp. Ngoài Mai Thy và Ngô Viễn ra, Quỳnh không dám rủ ai.

Tuẫn Chiết da móc túi đưa cho Khiển Trọc hai tờ năm trăm ngàn.

- Cho tôi một xuất. Góp thêm quỹ Tù nhân lương tâm nhé.

- Em xin giơ hai tay - Ngạn thịt cầy một tay nâng ly rượu, một tay giơ cao - Hôm nay có đông đủ mọi người, em xin đề xuất bác sĩ Quỳnh Thy và Mai Thy vào ban tài chính của hội chúng ta ạ. Lâu nay chỉ có mình cô Thầm vừa lo thủ quỹ, vừa lo đi thăm hỏi gia đình tù nhân lương tâm, vất vả quá.

Khiển Trọc đứng lên:

- Đúng đấy ạ. Quỹ của chúng ta trước đây chưa có nhiều, Thầm nhà em làm thủ quỹ, kiêm kế toán, vừa ôm đồm vừa dễ lầm lẫn. Nay cần thêm người quản trị. Vả lại, với uy tín và quan hệ rộng của bác sĩ Quỳnh Thy, chắc sẽ có nhiều cá nhân, tổ chức ủng hộ… Xin mời bác sĩ Quỳnh Thy làm chủ tài khoàn.

- Không ai làm tài chính tốt hơn chị em Quỳnh, Mai. Tôi nhất trí cao – Peter Tuẫn cạn ly tự thưởng cho mình

- Về tài chính, chớ có coi thường - Ngô Viễn nói - Tôi e chị em Quỳnh, Mai không có kinh nghiệm. Phải rành mạch từng đồng thu chi, phải có hóa đơn chứng từ, chữ ký người nộp tiền, người nhận tiền. Nghĩa là trăm phần trăm minh bạch. Nhà cầm quyền chỉ cần chúng ta sơ hở là cho cả lũ vào tù.

Ngạn sốt sắng:

- Chị Mai Thy là chuyên gia ngân hàng, anh Viễn còn lo nỗi gì. Có hai chị em Quỳnh, Mai chúng ta sẽ tránh bị vu cho là man trá thuế như luật sư Vũ Duy.

- Chúng ta nhất định không nhận tiền của Việt Tân - Tiến sĩ Quốc Bói lấy từ trong túi áo một phong bì, rồi đón chiếc phong bì từ tay Quốc Sỉ - Tôi và nhà báo Phạm Quốc Sỹ xin ủng hộ một chút cho những gia đình tù nhân lương tâm gặp khó khăn. Đề nghị thủ quỹ ghi ngay vào sổ. Nhưng tôi xin nhắc lại: Nếu tổ chức đảng Việt Tân dính vào đây là tôi đòi tiền lại và tố cáo với công an.

Mọi người cười ồ, vỗ tay.

Ngô Viễn nói:

-Tôi tự nhận là một người dân chủ không đảng phái, không tổ chức. Hơn mười năm nay, người ta cứ nói đến Việt Tân, mang Việt Tân hù dọa, thậm chí gán cho tôi là đảng viên Việt Tân, nhưng tôi chưa bao giờ thấy con ma Việt Tân nó béo gầy, to nhỏ, mồm ngang mũi dọc thế nào…

Sâm Mọc từ ngoài sân vào, cao giọng:

-Tôi nhất trí mời bác sĩ Quỳnh Thy làm chủ tài khoàn, Mai Thy làm kế toán trưởng, cô Thầm làm thủ quỹ. Mọi người đồng ý thì xin giơ tay… Trăm phần trăm rồi nhé. Và đây là phần của vợ chồng tôi để đăng ký chuyến đi thăm các tù nhân lương tâm sắp tới.

Sâm Mọc rút ra tờ năm trăm ngàn trịnh trọng đặt lên chiếc đĩa.

Khiển xe ôm, rồi Dũng taxi, Ngạn thịt cầy… mỗi người đều góp tiền của mình. Nhà văn Ngô Thời Bá, Ngô Viễn và các vị khác đều đã chuẩn bị sẵn phong bì, lần lượt đặt lên mâm.

-Thưa các anh chị… - Quỳnh Thy đứng lên, cố trấn tĩnh - Không có buổi gặp hôm nay, chắc chắn còn lâu em mới có khái niệm về Hội Lương tâm. Đây chính là một hội của lòng nhân ái, bao bọc, tiếp sức cho những người như anh Vũ Duy… Em xin nhận công việc mà các anh chị đã quý mến trao gửi…

Giọng Quỳnh nghẹn lại. Nàng không kìm nổi nước mắt.

***

Chuyến đi Ba Sao thăm Vũ Duy không thành. Xe mười sáu chỗ do Khiển Trọc thuê, chở mười hai người, bị dừng trước cổng trại. Không ai được gặp Vũ Duy. Tiến sĩ Quốc Bói đại diện đoàn vào năn nỉ với quản giáo ưu tiên cho hai mẹ con Quỳnh Thy, Quỳnh Liên gặp chồng gặp cha, cũng vô hiệu. Nghe nói, hôm trước Duy mới có cuộc tụ tập tù nhân gây rối, nên ban lãnh đạo trại trừng phạt, không cho gặp người nhà.

Suốt cả chặng đường về, Quỳnh Liên khóc sưng húp mắt. Từ ngày Duy đi tù, cả ba mẹ con đều chưa một lần gặp mặt. Liên bảo, chế độ nhà tù này dã man nhất thế giới. Giăng Van Giăng đi tù sướng gấp vạn lần ba Duy.

Quỳnh không ngờ con bé thương Duy đến thế, chỉ cùng huyết thống mới thương yêu như thế. Đức Chúa từng bảo các con chiên rằng, nếu con yêu một người đến mức hiến dâng tất cả cho người đó, tức là con đã là một phần xương thịt của người đó. Con bé yêu ba còn hơn cả thằng em trai Vũ Lân. Và Duy cũng yêu con bé như yêu thằng Lân vậy.

Đã nhiều lần Quỳnh Thy tự hỏi: Nếu cái lần ấy, biết mình có thai và Quỳnh giấu không nói với Duy, thì sự tình sẽ ra sao? Duy vẫn cưới Quỳnh và rồi hoặc là anh sẽ chẳng bao giờ biết Liên không phải con mình, hoặc giả anh sẽ ngờ vực, sẽ tìm ra sự thật, sẽ lờ đi như không biết, hoặc âm thầm đau khổ, hoặc phá phách, thù hận? Thật may mà dịp ấy Quỳnh đã đến với Chúa, đã gặp Duy trong nhà thờ. Cuộc gặp gỡ định mệnh, cả Chúa, cả Duy, đã cho Quỳnh dũng khí, không, cho Quỳnh phẩm chất Người để nói ra sự thật: Quỳnh đã bị phản bội, nhưng Quỳnh không muốn chối bỏ… Và Chúa đã bao dung, Chúa che chở, dang tay cứu rỗi cả những khi Quỳnh lầm lạc. Còn Duy, hơn cả Chúa, Duy yêu mẹ con Quỳnh với tình yêu không vẩn đục, một tình yêu chân thành, độ lượng, vị tha của một người đàn ông đích thực. Mười năm làm vợ, nhiều đêm nằm gọn trong lòng Duy, Quỳnh tự hỏi, hay Duy chính là hiện thân của Chúa?

Có điều này, mười năm, Duy không thể biết: Ấy là Quỳnh luôn luôn sợ mất Duy, sợ Duy bỏ mẹ con nàng, sợ đến một ngày nào đó, Duy có một cử chỉ, một lần đối xử với con bé, nhìn con bé như một đứa con hoang. Nỗi đau giả tưởng ấy khiến Quỳnh nhất định không đẻ thêm một lần nữa. Đã bao lần Quỳnh thề với mình như vậy. Và Quỳnh thử thách mình, thử thách tình yêu của Duy đúng mười năm. Anh có thực lòng tha thứ cho em không? Có thực sự coi con Quỳnh Liên là con của chúng ta không? Vì sao em lại hỏi anh điều đó? Duy kêu lên, đau đớn kêu lên vì sao Quỳnh vẫn nghi ngờ tình yêu của anh. Vì sao ư? Vì em vẫn luôn sợ hãi. Em như con chim luôn sợ làn cây cong. Anh không thể biết suốt mười năm em luôn kìm hãm nỗi mong mỏi, khắc khoải nhất: Có với anh một đứa con. Vậy mà, em luôn chống lại niềm mơ ước ấy. Bằng mọi cách em không cho phép mình có thai.

Cho đến một lần, sau chuyến Duy đi tu nghiệp ở đại học Harvard về và bị công an gọi lên thẩm vấn về chuyện đã nhiều lần đăng đàn diễn thuyết ở Massachusetts, đã gặp thượng nghị sĩ John Mccain và một vài nhân vật chính quyền Sài Gòn cũ, Duy bỗng buồn bã suốt mấy ngày. Duy rủ Quỳnh đi nhà thờ, khi về, Duy bảo: Hôm nay anh đã cầu xin Chúa cho anh và em một đứa con. Nghe Duy thổ lộ, Quỳnh bật khóc, rồi ôm Duy khóc nức nở. Nàng quá ích kỷ. Nàng chỉ nghĩ đến mình mà chưa bao giờ thấu hiểu Duy. Thằng Vũ Lân đã được hoài thai sau lần ấy. Quỳnh và Duy cùng thưa với Cha linh mục đặt tên thánh cho con là Thomas.

Mười bảy năm, bốn thành viên trong gia đình Quỳnh đủ đầy, viên mãn, ngập tràn trong yêu thương, hạnh phúc. Quỳnh chẳng mong gì hơn, nếu mãi mãi giữ được cái bí mật của riêng nàng và Duy, mãi mãi một tổ ấm bốn người. Và càng ngày Quỳnh càng biết ơn Duy, càng cám ơn số phận đã đưa Duy đến cho mẹ con nàng.

Nhưng chuyến đi Ba Sao thăm Duy lần này, Quỳnh bỗng thấy thảng thốt một mối lo. Ấy là sự hiện diện của Peter Tuẫn và cái ánh mắt của anh mỗi lần nhìn hai mẹ con Quỳnh. Đúng hơn là ngay từ buổi gặp tại đám giỗ nhà Sâm Mọc, ánh mắt của Tuẫn đã nhìn Quỳnh khang khác. Hình như anh ta đã đọc thấy điều bí mật gì của hai mẹ con nàng?

-Có một người nhờ tôi hỏi thăm bác sỹ Quỳnh Thy và cháu Quỳnh Liên - Tuẫn cố ý kéo Quỳnh đi chậm lại, khi mọi người theo tiến sĩ Quốc Bói ra nghĩa địa thắp hương cho một tù nhân mới chết bệnh.

- Ai vậy anh? Không biết em có quen không? - Quỳnh thấy lạ, khi thái độ và ánh mắt Tuẫn rất khác.

- Quỳnh Thy thử nghĩ có ai rất quen, thậm chí rất thân yêu với mình một thuở không?

- Chẳng có ai cả - Không đắn đo, Quỳnh cười vô tư. Nhưng rồi nụ cười vụt tắt. Như có bàn tay nào bóp nghẹt trái tim nàng. Hình ảnh Hoàng Y chập chờn trước mặt. Nàng quay nhìn rất nhanh Quỳnh Liên đang quỳ trước nấm mộ mới, thắp hương cho người xấu số.

Nét mặt thất thần, cử chỉ sợ hãi của Quỳnh không qua được đôi mắt tình báo của Tuẫn Chiết da.

- Nhưng mà thôi, coi như tôi chưa nói chuyện này - Tuẫn cười như xin lỗi Quỳnh và bước rảo lên, đón mấy thẻ hương đã châm sẵn của Thì Thầm.

Chỉ một vài câu bâng quơ của Tuẫn, đủ làm Quỳnh Thy như kẻ bị ma làm. Tuẫn đã gặp Hoàng Y và đã được Y kể mọi chuyện? Y nói gì với Tuẫn? Y đã biết Quỳnh Liên không phải con gái Duy? Tuẫn và Hoàng Y đang muốn gì? Họ có lợi dụng chuyện này để bức cung hoặc hãm hại Duy trong tù không? Những câu hỏi dồn dập, vặn xoắn trong đầu Quỳnh. Quỳnh biết Peter Tuẫn là một công an tuột xích. Tuẫn tỏ thái độ bất mãn chính quyền, viết nhiều bài báo a dua với lực lượng dân chủ... nhưng Tuẫn vẫn là bạn cũ của Hoàng Y, vẫn có mối dây ràng buộc...

- Mẹ ơi, con sợ ánh mắt của bác Tuẫn lắm. Bác ấy nhìn con như là tội phạm của một vụ án mà bác ấy đang điều tra... - Quỳnh Liên ghé tai mẹ nói thầm khi hai mẹ con lên xe, ngồi hàng ghế cuối.

- Mẹ thấy bác ấy thân thiện mà - Quỳnh trấn an con gái và nói một thôi dài để hướng con bé sang chuyện khác - Con có để ý lúc chúng ta ra thắp hương ở nghĩa địa Ba Sao không? Trước ngôi mộ người chồng và người cha của hai mẹ con bà già từ Cần Thơ ra, bác Tuẫn đã giải thích với chúng ta người dưới mộ là ông Nguyễn Duy Xuân, cựu bộ trưởng Giáo Dục chính quyền Sài Gòn, bị tù không án mười năm. Người tù đã không còn sức đề kháng, cả về thể xác lẫn tinh thần, và chết... Bác Tuẫn nói với hai mẹ con người xấu số rằng, rồi Hội Lương tâm sẽ có kiến nghị với nhà nước cho cải táng và đưa hài cốt ông Xuân về quê để gia đình thờ cúng. Mẹ tin bác Tuẫn sẽ làm điều đó vì bác ấy cùng cộng đoàn Kitô của chúng ta mà.

- Con đã gặp bác ấy nhiều lần ở nhà thờ. Nhưng sao con vẫn cứ không tin bác ấy thật lòng đến với nước Chúa, mẹ ạ...

Quỳnh hốt hoảng lấy tay che miệng con gái. Rồi nàng làm dấu thánh, cầu mong Chúa chở che mẹ con nàng.

***

Muốn quên đi, rằng điều Tuẫn nói chỉ là câu chuyện tào lao, mà suốt cả tuần Quỳnh Thy không thể sống yên ổn. Với vợ chồng Quỳnh, đến giờ, cũng không cần phải giấu diếm nữa. Nhưng với Liên thì không thể. Nó sẽ phải biết. Nhưng đó là chuyện sau này, dăm, mười năm nữa, hoặc trước khi Quỳnh từ giã cõi đời. Còn bây giờ, thì không thể. Con bé không được biết. Nhất định không được biết. Phải làm cái gì đó bảo vệ con bé. Nếu Tuẫn hở ra, thì con bé không thể sống nổi. Làm cách nào? Cách nào? Không ai có thể chia sẻ. Ngay cả Mai Thy, chị em con chấy cắn đôi, cũng không thể chia sẻ. Chỉ có Duy mới đủ tin cậy và đồng cảm. Nhưng không thể thổ lộ với người trong tù, dù một tháng được phép nói chuyện điện thoại một lần. Vả lại, trong lúc Duy đang chịu cực hình, chỉ bọn Giuda mới dám làm điều vô nhân.

Quỳnh gọi điện thoại cho Peter Tuẫn:

-A lô, anh Tuẫn à? Chiều chủ nhật anh em mình đi nhà thờ nhé. Em có chuyện muốn gặp anh, được không?

Tuẫn sốt sắng hơn cả mong đợi. Sau buổi cầu nguyện, hai người tìm một bàn cà phê ven hồ.

-Em suy nghĩ rất nhiều về câu chuyện anh định nói với em – Quỳnh Thy nói thẳng những điều mà Tuẫn Chiết da tưởng nàng sẽ hỏi anh - Anh là bạn của Hoàng Y từ cái ngày em cũng là bạn của anh ấy...

Tuẫn bỗng bật cười:

-Một người là bạn đối thủ, một người là bạn tình, khác nhau như gà và vịt…

-Bạn đối thủ càng biết nhiều thông tin về nhau. Và anh biết quá rõ quan hệ giữa em và Y như thế nào.

- Anh biết. Y rất nghiêm túc trong mối quan hệ giữa hai người. Khi biết tổ chức không đồng ý cho Y lấy Quỳnh Thy, Y đã định bỏ ngành, tìm một công việc khác.

- Em cũng tin điều đó. Em không muốn mất Y, vì thế em đã không tiếc điều gì...

- Nhưng rồi ngay sau đó y đã nghĩ lại. Cậu ta ở lại ngành và cưới Cao Thu Loan.

- Đó là lựa chọn của anh ấy. Cho đến bây giờ, em vẫn tin là Y lựa chọn đúng đắn. Em luôn cầu Chúa cho họ hạnh phúc. Còn em, em cũng bằng lòng với cuộc sống mới. Suốt những năm qua, em coi như đã quên Y...

Tuẫn lại cười. Cái nhếch môi mai mỉa và đểu.

- Nhưng Quỳnh Thy ơi, có một người không thể quên cuộc tình của hai người. Người đó luôn nghĩ rằng đã bị tước đi phần tinh túy nhất mà lẽ ra người đó phải được hưởng trọn vẹn. Mối nghi ngờ ngày một lớn dần. Cho đến một ngày, kết quả thử ADN đã hoàn toàn chính xác.

- Ai cho phép người đó thử ADN? Người đó đã bằng cách nào lấy được mẫu thử? Em sẽ kiện…

- Mẫu thử ư? Quá đơn giản – Tuẫn lại nhếch môi – Nhờ bạn bè của cô bé. Nhờ hiệu làm đầu, hiệu sửa móng tay… Khoa học hình sự và gene bây giờ đã tiến vượt bậc… Quỳnh Thy ơi, không thể che giấu được cái kim trong bọc…

Quỳnh nhìn Tuẫn và đọc được những gì trong đầu anh ta. Là một người luôn dửng dưng với những câu chuyện ngoài cuộc đời mình, gia đình mình, nhưng lâu nay Quỳnh cũng nghe phong thanh về quan hệ giữa Tuẫn và Loan. Họ có mối quan hệ ngoài công việc. Họ từng làm cho Y cay cú. Chính cái vai tuột xích giả vờ của Tuẫn đã bị bóc mẽ vì cái mối quan hệ tình ái tay ba này.

- Vậy là anh đang nói chuyện với em như một luật sư của Thu Loan?- Quỳnh không cần vòng vo, nói thẳng với Tuẫn - Cô ấy muốn gì? Muốn dùng con gái em để làm áp lực với Duy, buộc Duy phải nhận mọi tội lỗi?

- Ôi, làm gì mà nghiêm trọng thế - Tuẫn phì cười - Không liên quan gì đến chuyện tù đày của Duy hết. Chỉ là một quan hệ dân sự.

- Đánh ghen ư? Muốn li dị chồng ư?

- Em đang nói về Loan đấy nhé. Anh không hề biết cô ấy nghĩ gì. Cũng không phải là người đại diện của Loan để gặp em hôm nay. Anh chỉ muốn báo với em một sự thật rằng vợ chồng Loan đứng trước nguy cơ đổ vỡ.

- Em không quan tâm điều đó - Quỳnh thực sự vô cảm trước thông tin của Tuẫn - Điều em cầu xin ở anh là, xin anh đừng để cho con em biết. Mười bảy năm nay nó chỉ có ba Duy là ba đẻ của nó. Nếu anh là bạn của Y, em cũng nhờ anh nói với Y rằng hãy để cho Quỳnh Liên yên, ít nhất là khi cháu bước qua tuổi vị thành niên…

Tuẫn nhìn Quỳnh, ánh nhìn đồng cảm và có phần thương hại.

-Điều thứ hai thì anh không dám, bởi anh không có quyền gì khuyên can Hoàng Y. Nhưng điều thứ nhất thì anh hứa. Hãy để cho Quỳnh Liên bước qua thời thiếu nữ…

H.M.T.

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

Thế lực thù địch (kỳ 7)

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

7

Vũ Duy vào tù sau Tương Giang hai năm. Nếu so với nhóm bạn hắn: Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Thăng Long, thì hắn “đi” sau bốn năm.

Nhiều người bảo Vũ Duy tuy là một thủ lĩnh trẻ, có ảnh hưởng lớn trong phong trào dân chủ, đòi tự do, nhân quyền của cộng đồng Thiên chúa giáo, nhưng hắn lại rất tỉnh táo không tham gia bất kỳ tổ chức, phe nhóm nào, rất khôn ngoan trong việc dấu chứng cứ, tung tích, để chính quyền khó có thể bắt hắn theo điều 88, điều 79, hay điều 258 bộ luật Hình sự. Ở một góc độ nào đó, Vũ Duy gần giống luật sư Lê Quốc Quân, cũng nhiệt huyết, trí lự, thông minh và ngoan cường một cách quá khích… lúc nào cũng hừng hực muốn thổi vào lớp trẻ thế hệ mình ngọn lửa công lý, tự do, dân chủ, bác ái. Công ty Tin học ứng dụng Lửa Việt, của anh em Duy rất được các đối tác trong nước và nước ngoài tín nhiệm và hợp tác. Trong ba năm liền doanh thu liên tục tăng gấp bốn lần, lợi nhuận sau thuế mười tám phần trăm.

Thứ Hai, 16 tháng 8, 2021

Thế lực thù địch (kỳ 6)

Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường

6

Tướng Huỳnh Thi Ka được coi là cha đẻ của slogan: “Công an nhân dân còn Đảng còn mình”. Thiên hạ đồn rằng Chín K vượt trội hơn hẳn Beriya và Khang Sinh. Chỉ con người cơ mưu như thế mới nghĩ ra được câu châm ngôn ấy.

Sự thực không phải như vậy. Người đặt câu nói ấy vào mồm tướng Chín K trong một bài tường thuật trên báo An Ninh, chính là nữ phóng viên Lê Trang.

Hôm ấy anh Chín chủ trì hội nghị Tổng kết công tác an ninh trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ, có bộ trưởng tham dự. Hết phần báo cáo bằng văn bản, anh Chín nói vo:

- Công an chúng ta sinh ra để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Ở các nước tư bản nhiều đảng phái, cảnh sát là công cụ của nhà nước, của chính phủ, thực thi nhiệm vụ theo hiến pháp và pháp luật để trấn áp tội phạm và giữ gìn an ninh trật tự xã hội. Nhưng nước ta, chế độ Xã hội Chủ nghĩa tươi đẹp của chúng ta, thì khác. Chúng ta có Đảng lãnh đạo tuyệt đối, bách chiến bách thắng. Nếu như quân đội ta đã chuyển từ “Trung với Nước, hiếu với Dân” như Bác Hồ dạy, thành “Trung với Đảng, hiếu với Dân”, thì công an chúng ta cũng phải tương thích, và càng phải trung thành tuyệt đối với Đảng. Đảng còn thì chúng ta còn…

Câu nói dài dòng và khó lọt tai trên, được Lê Trang rút thành tít bài, gọn trong tám chữ: “Công an nhân dân còn Đảng còn mình”. Tuyệt phẩm về ngôn ngữ và lòng trung thành.

Hai mươi tám tuổi, một con, lúc nào Lê Trang cũng như một quả bom chờ nổ, lúc nào cũng làm bọn đàn ông khát thèm. Hoa khôi, hoa hậu có thể rực rỡ đến choáng ngợp trên sân khấu, nhưng đứng cạnh Lê Trang, họ bớt hấp dẫn đi nhiều, bởi họ luôn nói năng ấp úng, thậm chí tẻ nhạt. Nhưng Lê Trang ngoài sắc còn có thanh, thông minh vốn sẵn tính trời, đã cất giọng oanh vàng là cuốn hút, mê đắm. Đã thế Lê Trang còn là một cây bút sắc sảo, táo bạo, có giọng điệu, chính kiến riêng, lại có uy của vị thế. Lãnh đạo được phỏng vấn, viết bài, gặp Lê Trang liền bị hút hồn.

Bài báo tường thuật hội nghị với câu nói nổi tiếng của tướng Huỳnh Thi Ka, lập tức được coi là châm ngôn hành động của toàn ngành, một slogan chính thức, được thể hiện trên các pano, áp phích, được đưa vào các văn kiện. Không còn gì để biểu lộ lòng trung thành tuyệt đối vô bờ, hơn thế. Mỗi cá nhân, đứng trước câu nói đó, sẵn sàng nhảy vào lửa, tan thành nước. Tập thể đứng trước câu nói đó, sẵn sàng thành một khối thép, thành một đội chiến xa. Chỉ một câu slogan được vinh danh, mối quan hệ giữa vị tướng an ninh và nàng phóng viên xinh đẹp đã sang một trang mới. Chỉ ít lâu sau Lê Trang trở thành Tổng biên tập một ấn phẩm mới cứng, có tên Việt Tourist, một tờ báo đa hương sắc văn hóa, thể thao, du lịch, pháp luật, đời sống xã hội, được anh Chín bảo kê, nhưng thực chất là sân chơi của các nhóm lợi ích ngầm.

Thời gian ấy, cuộc hôn nhân của Lê Trang với nhạc sĩ Tương Giang đang đứng trên bờ vực thẳm. Bảy năm sống chung, có con chung, nhưng suốt ngày cãi lộn, bốn lần kéo nhau ra tòa. Họ lấy nhau cũng là do Chín K dàn xếp. Chín K là bạn học với anh trai Đặng Tương Giang. Tương Giang lấy vợ, mười năm không có con, hai người ly hôn. Chín K giới thiệu “cô em kết nghĩa” Lê Trang cho Tương Giang. Vừa cưới nhau đầu năm, giữa năm Lê Trang đã sinh cậu con trai kháu khỉnh, đặt tên Đặng Hải.

Cuộc hôn nhân Lê Trang - Tương Giang thực ra là để che đậy cuộc tình ngầm giữa Chín K và “cô em kết nghĩa” Lê Trang, để bác sỹ Cao Thu Vân không còn cớ ghen tuông, chì chiết chồng. Và suốt những năm qua, cặp tình nhân này như hình với bóng, anh Chín đi công cán đâu, hội nghị nào, cũng thấp thoáng bóng hồng Lê Trang, một thứ “hàng xách tay”, theo cách nói của đám chính khách sa lông và lũ con phe chính trị.

Mối quan hệ đặc biệt ấy, nói chẻ hoe ra, là kiểu mèo mả gà đồng, ai cũng nhận ra. Đối thủ của Chín K quá nhiều. Kẻ gato (ghen ăn tức ở) với Lê Trang còn nhiều hơn. Vì thế, bác sỹ Cao Thu Vân tới tấp nhận được những bức ảnh của cặp nhân tình nhân ngãi qua chuyển phát nhanh, qua công nghệ internet, tất nhiên là mạo danh, không hề có dấu vết người gửi. Và nhạc sĩ Tương Giang, chồng Lê Trang còn nhận được nhiều hơn những hình ảnh và clip, những câu chuyện đàm tiếu về cuộc cắm sừng khốc liệt của người vợ tuyệt vời. Có thằng bạn nhà báo gọi điện thoại cho Tương Giang lúc nửa đêm: “Mày có muốn xem vợ mày đang ngủ với đồng chí Chín không? Hãy đến ngay phòng 6.8 Queen Bee Hotel”.

Đặng Tương Giang bị cắm sừng mà không làm gì được. Hắn tự nhận là một thằng hèn.Thực tế là Chín K không có đối thủ, cả đối thủ chính trị, cả đối thủ tình trường. Đặng nhạc sĩ chỉ là một con giun. Lê Trang ngang nhiên cắm sừng trước mũi chồng. Nàng bảo, anh có còn tí xì quách nào đâu mà dám cấm đoán tôi. Thằng Đặng Hải cũng không phải con anh đâu. Anh nhìn kỹ nó xem. Không tin nữa thì đi thử ADN. Bất lực, Tương Giang uống rượu và đi chơi nhạc với ca đoàn nhà thờ Thái Hà, như tìm nơi lẩn trốn.

Đã hết giai đoạn cần Tương Giang như chiếc bình phong, có chồng hờ để dễ bề đi với Chín K, vả lại Lê Trang muốn sống thực sự là mình, muốn thằng Đặng Hải được ông bố thật của nó chăm sóc tử tế hơn, nàng quyết đòi ly hôn với Tương Giang. Nhưng ông nhạc sĩ nhất định không nghe. Lại cãi cọ. Đập phá. Say rượu. Chửi bới.

Lê Trang khóc lóc với Chín K:

- Hắn không chịu ký đơn. Hay là anh cho hắn đi tù. Hắn đi tù, em sẽ có lý do đơn phương ly hôn.

- Sao mà đi tù dễ thế ?- Anh Chín ôm xiết người tình, cười giễu - Cứ làm như anh là bạo chúa, muốn ai đi tù là cho tống ngục ngay.

- Em không đùa đâu. Chứng cớ phản động đầy dẫy đây này.

Lê Trang lấy trong cặp hàng xấp tài liệu: Nhật ký, ghi chép, thư từ và các bản nhạc của Tương Giang, trong đó có hai nhạc phẩm “Bản Giốc khăn tang” và “Mẹ Việt của con” đã được phối khí và thu băng, được hát trong những cuộc biểu tình chống Tàu, hát trong các dịp hành lễ nhà thờ. “ Bản Giốc ơi, vành khăn tang trắng xóa trời biên giới/ Xưa là đất tổ tiên nay là đất của Tàu/ Chúng bán đứng cả biên cương một dải/ Để quan san cộng sản xoắn xuýt nhau…” Và “Mẹ Việt Nam ơi, nước non tan nát/ Hàng vạn đứa con chìm dưới biển khơi/ Chúng bán Hoàng Sa, Trường Sa cho giặc/ Để nhận bốn chữ vàng đẫm máu đỏ tươi…”

-Có cả thư trao đổi với hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, tác giả của những bài hát phản động “Anh là ai?”, “Việt Nam tôi đâu?” đây này – Lê Trang dí sát những lá thư vào mắt Chín K - Hai tay nhạc sĩ này chính anh đã ký lệnh bắt giam. Bẩm quan lớn, ban ngày quan lớn như thần, ban đêm quan lớn, tần mần… và quên, hi hi…

Chín K bật cười. Không ngờ nhạc sĩ Tương Giang lại dính líu với đường dây Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình.

- Để anh tính… Với đám văn nghệ sỹ không thể trắng trợn được đâu. Chúng sẽ lu loa cho toàn thế giới biết chúng ta đàn áp nhân quyền. Ông Nhạc sỹ Tô Hải viết “Nhật ký của một thằng hèn” và trang Blog Nhát sỹ báo thù cực kỳ phản động. Nhưng ông ta có bản giao hưởng “Tiếng hát người chiến sỹ biên thùy” vào loại hay nhất Việt Nam, lại được Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật, nên rất khó xử lý. Tương Giang dù sao cũng có chút tên tuổi trong làng âm nhạc. Bản Sonate Đà Giang của cậu ta được xếp trong top 10 nhạc phẩm giao hưởng thính phòng Việt Nam.

- Để anh tính… thì đến bao giờ? - Lê Trang bỗng ôm mặt khóc - Em và các con không thể giả vờ làm vợ làm con hắn ta mãi được. Tởm lắm.

Và Chín K đã tính một thời gian thích hợp, an toàn và chuẩn xác. Tương Giang bị khám nhà, với toàn bộ tang vật để cấu thành tội “âm mưu chống phá và lật đổ chính quyền” theo điều 88 Bộ luật Hình sự. Thời gian ấy, Lê Trang vừa có mang hai tháng, để bẩy tháng sau nàng sinh bé gái có tên khai sinh là Đặng Hải Yến. Gần năm sau nàng đơn phương ly hôn Đặng Tương Giang, với lý do không thể làm vợ của một người đi ngược đường lối của Đảng và nhà nước, phản bội quyền lợi dân tộc.

Thời gian Lê Trang nghỉ sinh con, nàng lập một trang Blog lấy tên Kền Kền, loài chim cực kì thính nhạy phát hiện mùi xác thối, chuyên ăn xác chết. Đây cũng là lúc xuất hiện mấy trang mạng lạ hoắc “Chân dung quyền lực”, “Dân làm báo”, “Quan làm báo”, mà dân mạng biết thừa đó là phương tiện đấu đá của các phe phái anh X, anh Tư, anh Hai, anh Năm… trước kỳ đại hội. Blog Kền Kền có hơi hướng phụ họa “Chân dung quyền lực”, chuyên đăng các tin đểu nhằm đánh lạc hướng đối thủ và thăm dò dư luận qua các comment. Rất nhiều tin động trời, thâm cung bí sử được Kền Kền bật mí và định hướng trước dư luận.

Cuối cùng rồi dân mạng cũng biết, Kền Kền là trang Blog được tướng Chín K bảo kê, một phương tiện nghiệp vụ lợi hại. Không ai biết chủ trang thuộc dạng người nào, chính thống, bảo hoàng, phản biện hay phản động? Blog Kền Kền như một ngôi nhà vô chủ, như một quán gió giữa đồng, ai đi qua cũng có thể tạt vào, uống chén nước, bắn mồi thuốc, nói dăm ba câu tào lao, rồi đi. Điều quan trọng là, qua phần comment, chủ trang biết được không khí thời cuộc, thái độ chính trị của người đọc, thậm chí phát hiện nhiều nhân vật cộm cán, có vấn đề. Phần bình luận chính trị, thường là ý tưởng cốt lõi của chủ trang, với toàn những thông tin độc,tiết lộ chuyện chính trường, chuyện thâm cung bí sử, chân dung phe cánh đối lập, chân dung những trùm mafia, những nhân vật bị ghi sổ đen…như một phép thử phản ứng, đo nhiệt độ xã hội. Thường dưới mỗi tin, bài là những lời bình với ngôn ngữ sặc mùi côn đồ, chợ búa, tục tĩu, rất thớ lợ. Ngay sau khi Kền Kền xuất hiện đã có hàng chục nghìn người theo dõi hàng ngày. Nhiều thông tin như lời tiên tri. Ví dụ việc luật sư Cù Huy Hà Vũ huênh hoang lên án chế độ bầu cử “đảng cử dân bầu” hiện thời là dân chủ giả hiệu, cần phải trở lại với Hiến Pháp năm 1946, hiến pháp của Cụ Hồ. Vũ tình nguyện xin ứng cử đại biểu quốc hội khóa tới, theo kênh ứng cử viên tự do. Tiếp đó vị luật sư này lại viết đơn kiện thủ tướng về dự án Bô-xít Tây Nguyên, dự án thép Formosa Hà Tĩnh. vv… Kền Kền có lời bình loạn: “Tay luật sư này cậy thế con ông cháu cha, cũng vào hàng thế tử đảng hẳn hoi. Nhưng xem ra còn non nớt lắm. Khẩu khí trẻ ranh của cậu thiếu gia và thái độ võ biền của tay luật sư võ mồm. Chờ xem, ngày dọn cầu tiêu trong Hilton Hà Nội bao xa?”. Quả nhiên, ba tuần sau, xảy ra vụ hai bao cao su trong khách sạn. Và luật sư Cù Huy HàVũ bị bắt về hành vi mua bán dâm đồi trụy.

Thời gian này dân mạng bội thực thông tin. Trước phiên tòa xử Cù Huy Hà Vũ một tuần, văn đàn bỗng sôi sục sự kiện tiểu thuyết “Tốt sang sông” vừa ra khỏi nhà in đã bị cấm phát hành. Trang Blog Kền Kền giáng nhát búa tạ đầu tiên: “Nhà văn Ngô Thời Bá đã bóc mẽ thiên đường XHCN như thế nào?”

Chủ trang Blog Kền Kền nhắn tin cho tướng Chín K: “Có thể bắt Ngô Thời Bá về tội bôi nhọ chế độ và xuyên tạc lịch sử”

***

Nhà văn Ngô Thời Bá là gương mặt sáng giá nhất của dòng họ Ngô làng Phí. Những năm dạy sử ở trường cấp 3 Thượng Sơn cho ông vốn sống về một vùng nông thôn đầy biến động để ông viết cuốn tiểu thuyết Vùng gió quẩn. Số phận cuốn sách truân chuyên như số phận nàng Kiều. Mười lăm năm đi qua sáu nhà xuất bản, nhà nào cũng trầm trồ: “như Tắt đèn”, nhưng đều không dám in. Đến khi văn nghệ được cởi trói, Vùng gió quẩn được in và nhận giải thưởng Văn chương Bắc Hà, rồi giải Văn học Ức Trai. Cuốn tiểu thuyết đậm chất tả chân của hiện thực phê phán, các nhà quản lí và tuyên huấn‎ không thích, nhưng nhà văn Ngô Thời Bá lại tạo được chỗ đứng trong lòng bạn đọc.

Tác phẩm tiếp theo của Ngô Thời Bá có tên Tốt sang sông, một tiểu thuyết sử thi về nước Việt từ ngày chủ nghĩa Mác - Lê nin xâm nhập và thống trị đất nước. BBC tiếng Việt có lời bình: “Đây là cuốn sách phê phán chủ nghĩa Cộng sản công khai nhất, mạnh bạo nhất, đau đớn nhất”. Sách vừa nộp lưu chiểu đã bị thu hồi. Dư luận ầm lên nhà văn Ngô Thời Bá phản động bôi đen chế độ, phủ nhận vai trò của Đảng và thành tựu của Chủ nghĩa Xã hội. Những cuộc họp kín ở Ban Văn hóa Tư tưởng, ở Bộ Văn hóa, ở Hội Nhà văn… Tác giả phải trốn khỏi Hà Nội vì có tin ông có thể bị bắt. Cuối cùng là một chỉ thị ngầm, không văn bản: “Cấm các báo viết bài ca ngợi hay phê phán, thậm chí chỉ nhắc đến Tốt sang sông. Hãy để nó tự chìm xuồng”. Các lò sách lậu được dịp đục nước béo cò. Họ thuê nhiều thợ “đả cơ khí tự” xé sách gốc ra để đánh máy cấp tập, mỗi người đánh một chương, trong một đêm đã có bản can. Hàng chục vạn bản lỗi sai be bét được in ra, đầu nậu sách hốt bạc, còn bạn đọc thì ấm ức và phỉ nhổ tác giả vì trang nào cũng lỗi chính tả hoặc mất câu, mất chữ.

Đúng như tên gọi của cuốn tiểu thuyết, nhà văn đúc kết từ thuật đánh cờ tướng: “Nhất Tốt độ hà, bán Xa chi lực” (quân Tốt đã sang sông mạnh bằng nửa quân Xe). Nhà văn Nguyễn Tuân từng viết trong Vang bóng một thời: “Một quân Tốt lọt qua sông là cái giá trị nó bằng nửa sức con Xe rồi… Con Tốt mà sang hà, tức là đứa tiểu nhân lúc đã đắc thế. Tha hồ mà phá phách…”. Cuộc cách mạng tháng Tám do những người nông dân tiến hành cũng giống như vậy. Khi đã sang sông, họ chỉ biết tiến không biết lùi. Và khi họ tiến kịch đường, sẽ trở thành vô cùng lợi hại… Xét về độ nguy hiểm cho thể chế, Tốt sang sông, khi đã được đông đảo bạn đọc hấp thụ thì biến thái khôn lường. Họ sẽ phản tỉnh, sẽ xét lại cả cuộc dấn thân đi theo cách mạng, sẽ mất lòng tin, sẽ phản kháng. Sức công phá của một tác phẩm văn học, như Lê Nin nói, có thể bằng hàng chục sư đoàn, là vậy.

Tướng Huỳnh Thi Ka, đọc xong Tốt sang sông, bâng khuâng cả một ngày. Mẹ cái ông này. Tài, tài thật. Không ngờ người anh em cọc chèo của mình lại tinh hoa phát tiết thế này. X. Sedrin từng viết: “Văn học nằm ngoài những định luật của băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Tốt sang sông ứng với điều này chăng? Là người từng học đại học Tổng hợp Văn, Huỳnh Thi Ka tự biết sức đọc của mình. Dù có chôn vùi nó thì Tốt sang sông vẫn xứng đáng tác phẩm để đời. Nhưng mà nguy hiểm quá, nếu tác phẩm được phổ biến rộng rãi. Bởi dân trí còn thấp, người biết phân tích, nhìn thấy tính tất yếu của lịch sử như tác giả còn hiếm lắm. Một đất nước chết hai triệu người trong nạn đói năm 1945, được những người cộng sản hà hơi tiếp sức, phá kho thóc của Nhật để cứu mạng, thì dẫu bảo họ nhảy vào lửa họ cũng theo. Và cuộc cách mạng nông dân, cứ đà tức nước vỡ bờ ấy mà tiến tới. Trùng trùng đội ngũ tốt đen ào sang sông, dấn tới, rồi biến thành xe, thành pháo, thành mã, rồi nhập cung bắt tướng. Thừa thắng, nghe theo Mao làm luôn cuộc Cải cách ruộng đất. Theo tài liệu của ông Chu Đình Xương từng làm giám đốc Sở Công an Bắc Bộ mà Chín K mới được đọc, có ghi nhận định của trên về tình hình hồi ấy rằng: Tất cả chi bộ nông thôn đều là chi bộ của địch. Vì thế ta đã xử bắn ba vạn đảng viên ưu tú quy cho là địa chủ cường hào. Ba vạn đảng viên nữa tự sát. Ba vạn dân chết đói. Ở Hà Tĩnh xử bắn 200 bí thư chi bộ trong số 210 bí thư chi bộ toàn tỉnh ( mười vị sống sót vì ở vùng núi, hẻo lánh). Cả nước lại lâm vào cảnh con giết cha vợ tố chồng… Bàn cờ thế sự tất yếu diễn ra như vậy. Đến khi nhìn lại, thì tan hoang một bãi chiến trường. Mất mát về đạo lí, văn hóa, về cốt lõi, hồn vía dân tộc,… lớn quá. Có những cái không thể làm lại được. Có những rãnh sâu ngăn cách ngày càng khó san lấp. Có những cái ngoại lai thành khối u di căn lở loét… Nhà văn đã tái hiện, đã phát hiện đúng vấn đề, đã cảnh báo… Nhưng với độc giả đại trà, văn hóa thấp, những người gọi là dân chúng, sẽ mất phương hướng, sẽ phản tỉnh, sẽ nghi ngờ, sẽ xét lại cả một cuộc cách mạng. Bạo loạn như chơi.

Là người phụ trách ở tầm vĩ mô lĩnh vực an ninh tư tưởng văn hóa, việc ứng xử với một nhà văn, một tác phẩm văn học có độ nóng như Tốt sang sông và Ngô Thời Bá, là vô cùng hệ trọng. Chỉ cần ý‎ kiến quyết định của anh Chín, cuốn sách sẽ được phát hành bình thường, hoặc cho nghiền thành bột giấy. Bên Hội Nhà văn, Cục Xuất bản và các ban ngành đều chờ quyết định cuối cùng của bên an ninh. Về mặt quan hệ cá nhân, Chín K và Ngô Thời Bá đều là con rể họ Cao. Bác sĩ Cao Thu Vân là con tướng Cao Thiện Luyện, cô giáo Cao Thị Lộc là con gái của Liệt sỹ Cao Thiện Lãnh. Ông Lãnh hy sinh trên đường Trường Sơn những ngày đầu cuộc chiến chống Mỹ, để lại cô con gái duy nhất. Ông Luyện là anh ruột ông Lãnh. Vì một cuốn sách mà bỏ tù Ngô Thời Bá thì cả họ Cao, họ Ngô sẽ không để Chín K yên. Nhưng cho phát hành thì khác nào mở đường cho các lực lượng chống phá cách mạng?

Giải pháp cho chìm xuồng: Chỉ thị miệng cấm phát hành, là một cách làm lặng lẽ và khôn khéo.

***

Ngay sau bài “Nhà văn Ngô Thời Bá đã bóc mẽ thiên đường CNXH như thế nào”, trang Blog Kền Kền có bài dài bình luận tiếp theo:

“Ngô Thời Bá là ai? Vì sao lại viết Tốt sang sông?Chỉ đọc qua chương đầu, đã thấy sự xào xáo lại một loạt tác phẩm viết về cải cách ruộng đất, những“Sắp cưới” của Vũ Bão,“Ác mộng”của Ngô Ngọc Bội,“Ba người khác” của Tô Hoài…. Phải một cây bút chuyên ăn xác thối, loại siêu Kền Kền, mới đủ dũng khí và sự vô liêm sỉ để đào bới từ dưới âm ti những xác chết từ đời củ tỉ, mà thời đại @ chúng ta đã quên béng. Rồi cải tạo tư sản, rồi vượt biên… cả một mớ hổ lốn như món thắng cố của người H’Mông. Không hiểu vì sao mà nhà xuất bản Văn Chương lại cho in thứ quái thai này?”

Blog Kền Kền tới tấp nhận được các comment phản hồi. Một số phản đối việc cấm lưu hành Tốt sang sông khiến bạn đọc phải lùng sục tìm mua khắp các sạp sách lậu. Những người có may mắn được đọc Tốt sang sông, đều chửi rủa thậm tệ kẻ viết bài đã ngang nhiên chụp mũ tác giả và hạ thấp giá trị của tác phẩm.

Chín K nhắn tin cho Lê Trang: Em nên gỡ bài xuống. Văn chương không phải là sân chơi của Kền Kền.

Một ngày chủ nhật, tướng Huỳnh Thi Ka mời nhà văn Ngô Thời Bá đến gặp tại một nhà hàng góc phố Lý‎ Thường Kiệt. Có thêm Hoàng Y vừa là tham mưu, vừa là người anh em đồng hao cùng quê. Một bữa tiệc toàn đồ Tây, trọng thị, có Ballantines 24, xúc xích dăm bông, thịt hun khói, đùi lợn hầm kiểu Đức, bánh mì đen và salad Nga. Nhìn cái dáng vẻ của Ngô Thời Bá, bên ngoài nhún nhường, như co mình lại trong chiếc vest màu lông chuột hàng chợ, chiếc khăn len nâu cũ sờn, nhưng bên trong như muốn gồng lên, ánh mắt bất cần đời. Tự nhiên y chợt mường tượng đến cái cảnh Nguyễn Biểu đến gặp Trương Phụ, tướng giặc nhà Minh trong thành Nghệ An năm 1413. Là y đọc sách, quá ấn tượng đến cái cảnh Trương Phụ mở tiệc đầu người để uy hiếp Nguyễn Biểu, hòng làm ông khiếp sợ. Nhưng quan Điện tiền Ngự sử Nguyễn Biểu đã điềm nhiên nhắm rượu, làm thơ, tỏ rõ khí phách của bậc anh hùng.

- Lâu quá rồi không được gặp nhà văn nổi tiếng - Chín K vừa thấy Ngô Thời Bá đã xòe hai tay, vẻ chân tình. Rồi ông choàng tay, ôm xiết - Tôi chỉ sợ chú ngại, không đến.

- Nếu gặp ông tướng công an thì tôi không đến - Ngô Thời Bá nhìn thẳng Chín K, cười kha kha - Nhưng gặp anh Chín, chồng chị Vân, anh em cọc chèo với nhau thì phải đến chứ anh. Lại cả thằng em Hoàng Y này nữa, thế là ba anh em cọc chèo. Cô em Thu Loan của tôi chăm đọc sách lắm nhé. Mỗi lần đọc một cuốn sách của Ngô Thời Bá, dì Loan đều gọi điện bình phẩm hàng tiếng đồng hồ đấy các vị ạ.

Màn sơ kiến có thể nói là rất thân tình. Whisky vàng sánh. Ly chạm lanh canh. Bỗng nhiên anh Chín lại nhớ đến thằng con trai nhà văn.

-Thằng cháu tên là gì ấy nhỉ? Vân nói với tôi, vì họ Cao mà chú quyết định đổi tên…

- Dạ thưa anh. Cháu tên Thượng, để kỷ niệm Thượng Sơn, nơi tôi và Lộc dạy học. Ban đầu mẹ nó bảo đặt tên con là Ngô Thời Thượng. Việc ấy tưởng dĩ nhiên, vì sẽ tiếp nối dòng họ Ngô Thời. Nhưng rồi tôi nghĩ lại. Nếu vậy thì họ Cao của Lộc tính sao? Đặt tên như vậy là một cách ăn hiếp, áp đặt thực dân. Lấy Thời đè Cao. Tôi bèn bảo với mẹ nó, dù sao con do em sinh ra chứ anh chỉ là kẻ góp phần. Hay chúng mình đặt tên con là Ngô Cao Thượng. Cao Thượng với Thời Thượng đều hay. Nhưng Thời Thượng có vẻ tay chơi, ngang tàng, mà Cao Thượng thì nhân văn hơn. Đêm ấy, Lộc thưởng cho tôi một trận lên bờ xuống ruộng…

Trận cười như muốn vỡ tung phòng. Anh Chín cạn ly với riêng Ngô Thời Bá, rồi bảo:

- Cách đặt tên cho con, chứng tỏ nhà văn rất yêu mẹ nó… Vậy là ở cõi vĩnh hằng, cô Cao Thị Lộc đã mãn nguyện. Tôi bắt đầu khoái thằng Ngô Cao Thượng này rồi đó. Thằng cháu học hành thế nào?

- Dạ, thưa anh Chín. Cháu đang học năm thứ hai trường Đại học Mỏ. Cháu muốn sau này được ra biển khai thác dầu khí.

- Tôi có thể thu xếp cho cháu vào Vũng Tàu. Ông bạn thân của tôi đang thiếu những chuyên gia giỏi giang trẻ tuổi. Chỉ cần cháu Thượng học giỏi.

- Qúi‎ hóa quá. Nghe nói chạy vào ngành dầu khí giờ cũng phải vài trăm triệu.

- Làm gì tiêu cực thế. Nhưng để có một chân trong Vietsovpetro cũng không đơn giản đâu. Tôi hứa sẽ tìm việc cho cháu Ngô Cao Thượng mà nhà văn Ngô Thời Bá không tốn một xu. Vân nhà tôi vẫn nhắc đến ca đẻ của dì Lộc. Vân luôn ân hận lần ấy không thể cứu cả mẹ lẫn con… Vân bảo, trong mấy chị em, thương nhất dì Lộc. Hoa khôi của họ Cao, lại nết na thùy mị. Tưởng nhà văn Ngô Thời Bá trúng số độc đắc, ai ngờ nửa đường đứt gánh.

- Hồi ấy, giá đưa sớm đến chỗ chị Vân, thì may ra cứu được cả mẹ - Ngô Thời Bá nói - Cũng tại Thượng Sơn xa Hà Nội quá. Sau này một ông thầy tử vi bảo số thằng Thượng đại kỵ với mẹ nó. Mẹ còn thì con mất. u cũng là mệnh Trời…

Câu chuyện có vẻ trầm hẳn xuống, ngấm chút vị bùi ngùi.

- Anh Chín chắc chưa biết tập hai của nhà văn nổi tiếng - Y xen ngang câu chuyện, cố làm cho không khí tươi vui lên - Trong thời gian nhà văn Ngô Thời Bá gà trống nuôi con, có một cô học trò ngày xưa ở Thượng Sơn thương cha con thầy lắm. Và bây giờ là kế mẫu của cháu Ngô Cao Thượng, chăm sóc cháu còn hơn con đẻ.

Tướng Chín K tự tay rót Ballantines mời Ngô Thời Bá.

- Cô Bùi Thị Hân, cháu ông Lưu Đình, Bí thư Đảng ủy xã Tâm Đồng phải không? Dịp ấy, tôi đi công tác vắng. Chị Vân có đến dự, đúng không nhỉ?

- Dạ vâng. Anh quá biết ông Lưu Đình, thủ lĩnh tinh thần của xã Tâm Đồng nổi tiếng chống tham nhũng. Bà mẹ vợ tôi là em ruột ông Lưu Đình.

- Gái Tâm Đồng làm chồng cũng sướng. Câu ca xưa nói thế. Nhất nhà văn rồi. Nhưng này, thằng Thượng có thêm mấy đứa em nhỉ?

- Dạ, ba đứa, hai gái một trai. Tôi đẻ hơi nhiều, vì tính tôi hay cả nể...

- Hớ hớ... Mỹ nhân hay làm văn nhân cả nể là chuyện thường tình...

Y nhìn đồng hồ, ý‎ nhắc khéo anh Chín. Nhưng vị tướng an ninh tỏ ra rất chủ động trong cuộc du thuyết này. Cuộc rượu kết thúc, chủ khách dời phòng ăn sang bàn trà nước. Từng tháp tùng Chín K trong nhiều công vụ và tư vụ, trong nước và ngoài nước, nhưng y luôn luôn bất ngờ về tài ứng xử và mẹo luật trước từng đối tác, đối phương, đối thủ của vị tướng trùm an ninh. Lẽ ra trong cuộc gặp này, anh Chín chỉ cần lấy quyền làm anh, lấy quan hệ cọc chèo nói toạc với Ngô Thời Bá các vấn đề A, B, C, D, thậm chí khuyên can, răn đe, trắng phớ mọi chuyện. Nhưng sao hôm nay anh Chín rất khác. Dường như Ngô Thời Bá là một đối thủ quá cỡ với mình. Dường như tay nhà văn này đọc rõ từng sat- na trong não mình. Cho nên anh Chín muốn vòng vo, cò cưa, rào đón, để dồn đối phương đến chỗ phải tự thú, phải tự bạch, phơi bày hết ruột gan.

Quả nhiên, Ngô Thời Bá, vốn nhạy cảm, tính lại thẳng thắn, thấy không thể kiên nhẫn mãi.

- Anh Chín có chuyện gì cần nói với thằng em cọc chèo, thì nói luôn đi - Ngô Thời Bá thừa hiểu mục đích bữa rượu và chủ động xé toạc bức màn vờ vịt - Vì cuốn Tốt sang sông phản động nên mới có cuộc hội ngộ anh em mình, đúng không? Blog Kền Kền chửi tôi thậm tệ mấy hôm nay là do anh chỉ đạo. Tôi không phải loại đầu óc ngu si tứ chi phát triển đâu. Anh đánh động trước dư luận để tôi vào nhà đá cho khỏi đột ngột? Vậy tôi xin nói thẳng với tướng quân. Nhiều người khuyên tôi kiện Cục Xuất bản. Hà cớ gì cấm phát hành để tiếp tay cho đầu nậu tung ra hàng vạn bản thứ phẩm, câu cú sai be bét và nhan nhản lỗi chính tả, làm sai lệch thẩm mĩ của người đọc, làm nhà nước và tác giả mất nguồn thu? Một đất nước tôn trọng pháp quyền, tôn trọng nhân quyền, nhà văn phải được đối thoại với nhà cầm quyền. Tại sao anh cấm sách của tôi, anh bịt miệng tôi? Đã qua rồi cái thời Nhân văn Giai phẩm, vậy thì anh có quyền gì đem bục công an đặt giữa trái tim người?

Khi uống rượu, mặt Chín K chỉ tái đi, nhưng chỉ vài lời của Ngô Thời Bá bỗng làm cả người ông bốc hỏa.

- Lẽ ra hôm nay tôi không nói với chú chuyện này. Anh em ít gặp nhau, chỉ nên chuyện gia đình vui vẻ. Nhưng chú đã nhắc đến, thì chúng ta nên sòng phẳng. Cần gì đến Blog Kền Kền bóng gió xa xôi. Chú có biết, giờ chú được ngồi đây là nhờ ai không? Tôi đã không ký lệnh bắt chú, vì tôi nghĩ sẽ đến lúc chú tỉnh ngộ. Nhiều nhà văn tài năng hơn hẳn chú, nhiệt tâm với đất nước hơn chú, trách nhiệm với nhân dân hơn chú, nhưng người ta không viết. Không phải là người ta hèn, người ta nhu nhược, người ta bảo mạng, mà chỉ vì người ta sợ đập con chuột mà lỡ vỡ chiếc bình quý…

- Bình quý, bình quý, hơ hơ… Trí tưởng tượng của tướng quân Huỳnh Thi Ka quá cao siêu. Lịch sử đã muốn vứt cái bình dỏm mà các anh cho là bình quý từ lâu rồi. Liên Xô và các nước Đông u có thời cứ tưởng họ là những cái bình quý duy nhất của nhân loại. Hóa ra trong đó nhung nhúc những bầy chuột tham nhũng vô lại. Hàng loạt bình Liên Xô và Đông u đã tan tành rồi mà nhân dân họ có ai thèm nuối tiếc. Một anh bạn từ Ba Lan về, nói với tôi: Ở Ba Lan, ai nói đến Cộng sản là bị phạt tù, vì nhà nước đã đặt đảng Cộng Sản ra ngoài vòng pháp luật. Anh từng được đào tạo ở Đông Đức, anh có thấy người dân nước họ sung sướng đến thế nào khi bức tường Berlin vĩnh viễn được phá bỏ…

- Mọi sự so sánh đều khập khiễng. Nước Đức công nghiệp hóa trước chúng ta hàng trăm năm. Ở Nga, nhiều người đang muốn quay lại Chủ nghĩa Xã hội. Đảng nước Nga của Putin thực chất vẫn là đảng Cộng sản…

- Thưa tướng quân, anh nên nhớ là anh đang nói với một người viết văn chứ không phải với loại học trò lớp bổ túc chính trị mà anh vẫn rao giảng. Nếu chế độ chúng ta thực sự muốn dân trí phát triển, thì nhân việc xuất bản Tốt sang sông, các anh phải bật đèn xanh cho các báo, đài, tivi tranh luận mổ xẻ xem cuốn tiểu thuyết hay dở ở chỗ nào, phản động ở chỗ nào. Lúc đó muốn bỏ tù vẫn chưa muộn. Hãy tạo nhiều diễn đàn để giới văn nghệ tranh luận. Một đảng cầm quyền muốn thuận lòng dân là phải biết đối thoại, phải biết mở những cánh cửa cho căn nhà xả đi nỗi bức bối, phải dám công khai thừa nhận những lỗi lầm… Cuộc chiến tranh 1954 - 1975 thực chất có phải là cuộc chiến tranh giải phóng, hay là một cuộc nội chiến ý‎ thức hệ? Chủ nghĩa Xã hội có phải là con đường tất yếu chúng ta phải lựa chọn, hay chỉ là một con đường cụt? Đã bao giờ các anh dám đặt những vấn đề hệ trọng như thế trước quốc dân đồng bào, muốn giới trí thức và toàn dân cùng bàn bạc, tranh luận để đi tới sự nhất trí? Đúc kết lịch sử sẽ mở đường cho hôm nay và ngày mai. Bài học của Liên Xô và Đông u còn nhỡn tiền. Xã hội Chủ nghĩa với bản chất bưng bít sự thật và bôi phết màu hồng, từng ngày đẻ ra tham nhũng, cơ hội, quan liêu, dối trá. Có phải đã quá muộn việc phải xây dựng một xã hội dân sự, tam quyền phân lập, đa đảng, đa nguyên…

- Tôi cấm chú nói đến điều đó - Chín K bỗng gầm lên, đứng phắt dậy. Tưởng như Ngô Thời Bá vừa đụng đến cái ngòi nổ trong con người ông. Ông nhìn Ngô Thời Bá như muốn lòi con ngươi. Rồi ông vò hai bàn tay. Hình như ông định tìm khẩu súng ngắn đang để trong cặp.

Y hoảng hốt cầm chiếc cặp của Chín K giấu đi.

- Nếu anh không muốn tranh luận, thì ta dừng ở đây. Tôi về.

Ngô Thời Bá chụp mũ, đứng lên. Tự dưng cái hình ảnh Nguyễn Biểu trong bữa tiệc đầu người lại quẩn trong đầu y. Sắc mặt Ngô Thời Bá xám ngắt, hai bên hàm giần giật, chứng tỏ ông đang kìm nén lắm.

- Chú ngồi xuống! - Chín K chỉ tay xuống ghế, ra lệnh - Chưa về được. Dù cô Lộc mất rồi, nhưng còn cháu Thượng… Chú vẫn là rể họ Cao. Là em tôi. Tạm thời cho qua cuốn Tốt sang sông. Dẫu sao chú cũng là nhà văn… Đảng và nhà nước tôn trọng tự do sáng tác… Nhưng tôi cấm chú nhắc đến đa nguyên đa đảng. Nước Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cộng Sản. Đừng bao giờ tự do quá trớn. Sáng tác phải có định hướng, phải trong khuôn khổ.

Ngô Thời Bá bật cười:

- Bây giờ thì tôi tin, anh chính là tác giả câu slogan: Công an nhân dân còn Đảng còn mình. Tại sao anh không thông minh hơn để viết: Công an nhân dân còn Tổ quốc còn mình? Nghĩ được câu nịnh bợ này phải là kẻ siêu cơ hội, nhưng cũng cơ hội đê tiện nhất. Anh đã lùa cả một đội quân trở thành công cụ đắc lực, tay sai của Đảng, mà quên mất Đất nước, Nhân dân…

- Câm! Câm ngay!

Chín K lắp bắp. Y chạy lại đỡ ông ngồi xuống ghế và ra hiệu cho Ngô Thời Bá mau ra về.

- Em xin hai anh… Các anh cùng say cả rồi.

- Ông… Ngô Thời Bá… chưa về được - Chín K vẫy vẫy ngón tay - Tôi sẽ để chú nợ một lời xin lỗi về sự xúc phạm vừa rồi. Không có ngành công an thì bọn Quốc Dân đảng đã lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân từ năm 1946 rồi. Vụ Ôn Như Hầu đó. Bác Hồ trước khi đi Pháp đã lệnh cho tướng Giáp phải giải quyết bọn Việt quốc Việt cách. Mỗi chiến sĩ công an, cũng như mỗi nhà văn đều phải là công cụ của Đảng. Chú là nhà văn mà đéo hiểu gì Lênin nói. Nhà văn phải là cái đinh ốc, là mắt xích trong guồng máy chuyên chính vô sản. Đấy, không là công cụ là gì? Đừng có dạy đời, trứng khôn hơn vịt. Muốn viết nữa thì hãy giữ lấy cái đầu. Nhớ đấy, giữ lấy cái đầu. Ai cao ngạo ngông cuồng như Nguyễn Tuân, mà cuối cùng cũng phải tự thú: Tôi sống được là nhờ biết sợ. Nhà văn Ngô Thời Bá là cái thá gì? Nhân đây tôi cảnh báo chú: Sau khi Tốt sang sông in ra, nhiều hãng phát thanh truyền hình nước ngoài đã tìm đến phỏng vấn quay phim…

- Tôi không muốn công việc viết văn của tôi bị chính trị hóa, và tôi đã từ chối trả lời...

- Phải từ chối, nếu chú thức thời. Ai gặp chú? Gặp ở đâu? Chú nói những gì? Chúng tôi đều biết cả. Sẽ đến lúc phải gắn cho lũ nhà văn và bọn trí thức tự diễn biến các chú mỗi người một con chip, giống như người ta gắn chíp cho những con thú hoang dã sắp tuyệt chủng để nghiên cứu đời sống của chúng. Đi đâu? Làm gì? Nói gì? Chúng tôi phải được biết.

- Thì các anh đang cắt cử từng nhóm chip người theo dõi trước cửa nhà các trí thức phản biện, những người luôn xuống đường biểu tình chống bành trướng Trung Quốc đó thôi. Thanh niên cả làng Phí của tôi được huy động vào các đội quân “bánh canh” và các dư luận viên 47. Hơ hơ, một hành động hèn mạt, chẳng xứng đáng với một thể chế thơn thớt nói tôn trọng nhân quyền. Nhân đây, cũng muốn nói thẳng với ông tướng an ninh. Không phải tôi sợ, không dám trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài. Tôi biết, điều nhà cầm quyền muốn ở cánh viết văn chúng tôi là sự khiếp sợ. Từ thời Nhân văn Giai phẩm các anh đã không từ một thủ đoạn nào để cho bọn nhà văn phải khiếp sợ. Những nhà văn tài danh Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính… đều co vòi lại vì sợ hãi. Mất cả một thế hệ vàng. Đến mức Nguyễn Minh Châu phải vuốt nước mắt viết ai điếu cho một thời kỳ văn học minh họa. Và khôn ngoan thớ lợ như Nguyễn Khải trước khi chết cũng phải thổ máu tươi mười chín trang Đi tìm cái tôi đã mất mới mong nhắm mắt được. Anh tưởng hầu hết bọn nhà văn đều sợ hãi? Nếu vậy thì văn chương Việt Nam chết đi cũng phải. Nhưng, không phải vậy, còn nhiều nhà văn có lương tâm không hề khiếp sợ. Tôi là một trong số đó. Tôi không trả lời BBC, RFA,… chỉ là vì nhà văn chính là tác phẩm. Hãy đọc tác phẩm của họ.

- Nhưng nhà văn tự diễn biến loại các ông viết cho ai đọc? Thời mở cửa kiểu Trần Độ đã qua rồi. Những cuốn lọt lưới kiểu như Tốt sang sông sẽ không bao giờ được in ra. Đừng hòng được in ra.

Ngô Thời Bá khoác cái túi dết, xòe tay cho y, nhưng lại lia ánh mắt về anh Chín:

- Một kiểu triệt hạ tư tưởng quá ấu trĩ, thưa tướng quân. Cái huyền ảo của nhà văn là tưởng tượng. Nhưng dù tưởng tượng đến vô biên thì cũng phải trên nền móng hiện thực. Cây sậy mọc từ cái hố trên bãi sông do anh thợ cắt tóc đào để chôn câu nói không thể giấu được nữa: “Vua Midas có cái tai lừa”, chính là sản phẩm của hiện thực. Và tiếng nói hiện thực của cây sậy ấy truyền mãi cho tới hôm nay.

H.M.T.