Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Vy Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Vy Khanh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2025

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 317): Nhà văn Trịnh Y Thư

 Nguyễn Vy Khanh


Ông tên thật Trịnh Ngọc Minh, sinh ngày 11-2-1952 tại Hà Nội, du học Hoa Kỳ năm 1970. Trịnh Y Thư làm thơ, viết văn, dịch thuật, làm báo, chủ bút tạp chí Văn HọcViệt Báo Weekly News vùng Orange County CA và chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press thời sau này. Ông cùng Nguyễn Mạnh Trinh biên tập Tuyển tập 23 người viết sau 1975 (Văn Nghệ, 1989), gồm 23 nhà văn mới xuất hiện ở hải ngoại.

Thứ Tư, 15 tháng 10, 2025

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 316): Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn hải ngoại

 Nguyễn Vy Khanh

Nguyễn Xuân Hoàng

Nguyễn Xuân Hoàng giáo sư Triết và nhà văn, nhà báo. Sau biến cố 30-4-1975, ông bị 4 năm tù “cải tạo” đã vượt biên (trại tị nạn Bataan, Phi Luật Tân) và ban đầu định cư tại Virginia Hoa-Kỳ năm 1985, sau chuyển về miền Nam California và sinh sống trọn vẹn với nghề làm báo: tổng thư ký cho nhật báo Người Việt (California, 1986-1987) và tổng thư ký tạp chí Thế Kỷ 21 (California, 1989-1994) của cùng công ty Người Việt. Trong Ban chủ biên tạp chí Văn Học, California từ năm 1994 và làm chủ-nhiệm chủ-bút tạp-chí Văn bộ mới từ số đầu tháng 1-1997 (trước đó, năm 1996, ông làm chủ bút giúp Mai Thảo duy trì được 2 số và Mai Thảo mất ngày 10-1-1998) cho đến số cuối 124 năm 2008. Thiên cư lên miền Bắc California, ông làm Tổng thư ký tuần báo Việt Mercury (San Jose, từ số ra mắt ngày 19-1-1999 đến số cuối ngày 11-11-2005), chủ bút tuần báo Việt Tribune 2006-2010, và có một thời gian làm giảng viên môn văn-học Việt-Nam tại đại học California-Berkeley. Ông mất ngày 13-9-2014 tại San Jose, California sau một thời gian trọng bệnh (1).

Thứ Bảy, 11 tháng 10, 2025

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 315): Nghiêm Xuân Hồng hiện đại hóa huyền sử

Nguyễn Vy Khanh

Ông sinh năm 1920 tại Hà Đông; luật sư, nhà tư tưởng, và chính trị ở miền Nam trước năm 1975. Thời hải ngoại, là cư sĩ Tịnh-Liên, ông đặc-biệt sáng tác bộ trường thiên tiểu-thuyết Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc gồm 4 cuốn (San Jose, CA: Ức Trai, 1988-1992; Xuân Thu tb), và các sách kinh, luận nhà Phật: Lăng Kính Đại Thừa (1982; Văn Khoa, 1989); Lăng Nghiêm Ảnh Hiện: tiểu luận về kinh Thủ Lăng Nghiêm Vương (1983; 1991); Ma Chướng Trên Đường Tu (2 tập, Xuân Thu, 1998); Tánh Không và Kinh Kim Cang (1983); Nguồn Thiền Như Huyễn (1984); Mật Tông và Kinh Đại Thừa (1986); và Ma Tâm và Ma Sự của Người Tu (2001).

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2025

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 314): Trần Hồng Châu, nhà thơ

 Nguyễn Vy Khanh


 Trần Hồng Châu

 

Trần Hồng Châu là bút hiệu của giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, sinh ngày 15-5-1921 tại Hưng Yên, Bắc Việt, theo học tại Trường Khải Ðịnh Huế, Ðại học Luật khoa Hà Nội 1943-1945. Du học Pháp, ông đậu Cử nhân Văn Chương năm 1950, Tiến sĩ Văn chương Quốc gia năm 1955 rồi về nước năm 1957, dạy Đại học Văn Khoa Sài Gòn, phụ trách các môn Văn chương Pháp và Văn chương Việt-Nam, đồng thời cũng giảng dạy tại Đại học Sư phạm Sài Gòn, Học viện Quốc gia Hành chánh và Viện Đại học Huế. Ông được bầu làm Khoa trưởng Ðại học Văn khoa Sài Gòn (1965-1969), và là Giáo sư thỉnh giảng về Văn chương Văn hóa Việt Nam tại Ðại học Southern Illinois University (Carbondale, Illinois Hoa Kỳ) từ 1970-1974. Vừa hồi hương không lâu thì xảy ra biến cố 30-4-1975, 15 năm sau ông cùng gia đình rời khỏi nước và định cư ở California.

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2025

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 313): Hồ Trường An, nhà văn quê Nam

 Nguyễn Vy Khanh

Hồ Trường An

Ông tên thật Nguyễn Viết Quang, sinh ngày 11-11-1938 tại xóm Thiềng Đức, làng Long Đức Đông, tỉnh Vĩnh Long; nguyên quán làng Hương Thủy, Thừa Thiên. Năm 1967, đang học Dược khoa Đại học Sài Gòn bị động viên, khoá 26 trường Sĩ quan Trừ-Bị Thủ Đức. Biến cố 30-4-1975 xảy ra khi ông đang làm sĩ quan Thông tin Báo chí của Quân Đoàn III tại Biên Hoà. Tham gia sinh hoạt văn nghệ, cộng tác với nhiều tờ báo xuất bản tại Sài Gòn trước 1975. Các bút hiệu khác: Đào Huy Đán, Đinh Xuân Thu, Đông Phương Bảo Ngọc, Hồ Bảo Ngọc, Người Sông Tiền, Nguyễn Thị Cỏ May, Đoàn Hồng Yến, Đặng Thị Thanh Nguyệt.

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 312): Hoàng Chính Nghĩa

 Nguyễn Vy Khanh

 

Hoàng Chính Nghĩa

Hoàng Chính Nghĩa là tên thật, được dùng cũng như các bút hiệu khác nhau tùy giai đoạn: Lê An Thế, Lê Tôn, Hoàng Đông Quải, Lê Bi... Ông sinh năm 1949 tại Thái Bình. Sĩ quan QL/VNCH. Di tản sang Mỹ năm 1975. Viết và sinh hoạt văn nghệ, xuất bản từ giai đoạn đầu của văn học hải ngoại: đầu năm 1976 làm thư ký toà soạn cho báo Quê Hương. Cùng Hoàng Khởi Phong và Hoàng Quốc Bảo thành lập nhà xuất bản Bố Cái năm 1977 và từng cộng tác với một số các tạp chí như Văn Học, Hợp Lưu, Thơ, Việt Nam Hải Ngoại, Thế Kỷ 21, Người Dân, Đối Thoại và các trang web Diễn Đàn, talawas, Da Màu, Tiền Vệ. Hiện sinh sống giữa Việt Nam và Mỹ.

Thứ Ba, 16 tháng 9, 2025

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 311): Văn học Việt-Nam Hải ngoại đã 50 năm

 Nguyễn Vy Khanh

Biến cố 30-4-1975 đã là một biến cố lịch-sử lớn đối với dân-tộc Việt và đã đưa đến việc hình thành một cộng đồng người Việt hải-ngoại, từ gần 150 ngàn lúc đầu - mà nói chung, đa phần có phong hóa hoặc đã có những liên hệ xa gần với những biến cố chính trị ở Việt Nam hoặc chính trị là lý do hoặc nguyên nhân của sự có mặt của họ ở ngoài nước, lên đến hơn 4 triệu người như hiện nay.

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2021

Thơ Khế Iêm

KHẾ IÊM VỚI CON ĐƯỜNG THƠ

Khe Iem_DoVinh_sua

Những ai từng đọc thơ Khế Iêm, từng dõi theo hành trình thơ của ông, hẳn sẽ “đồng thuận” với các nhà phê bình Trần Hoài Anh, Văn Giá, Đỗ Quyên, Nguyễn Vy Khanh.

Nếu như Trần Hoài Anh cho rằng Khế Iêm “khao khát cách mạng trong tư duy thơ” thì, Văn Giá gọi ông là “tín đồ tận tụy của tôn giáo thơ”.

Nếu như Đỗ Quyên đánh giá Khế Iêm là “một nhà lập thuyết thi ca Việt Nam đặc sắc giữa thế giới” thì với Nguyễn Vy Khanh, đọc Khế Iêm là “chứng giám cho cuộc dấn thân vào thi ca”.

Và, thật tự nhiên, khi Frederick Feirstein đặt hy vọng vào nhà thơ này: “Tôi trông chờ ở Khế Iêm, như một nhà thơ đầy tính sáng tạo độc đáo, sẽ có thể tìm ra một phương thức biểu đạt mới, và có lẽ sẽ mở rộng những gì mà ông và những người đi theo ông đang thể hiện”.

Khế Iêm đã kết thúc một chặng đường thơ dài dặc, đầy thách thức, đầy biến cố với Con đường thơ được in song ngữ, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Domino ấn hành vào mùa thu năm 2021 này.

Văn Việt xin giới thiệu cùng bạn đọc hai bài phê bình thơ Khế Iêm của Nguyễn Vy Khanh, Frederick Feirstein và một số bài thơ của ông trong ba phần Thanh xuân, Dấu quêThơ khác.

Xin chúc mừng nhà thơ Khế Iêm.

VĂN VIỆT

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2020

Đỗ Quyên

Nguyễn Vy Khanh

clip_image002Đỗ Quyên tên thật Đỗ Ngọc Thủy, sinh năm 1955 tại Hà Nội. Giảng dạy đại học ở Hà-Nội, 1988 sang Nga tu nghiệp và ở lại, cuối cùng định cư ở Canada từ 1996. Sáng tác thơ, truyện, phê bình, khảo cứu; đồng sáng lập và chủ biên một số báo chí, diễn đàn; cộng tác với nhiều tạp chí văn nghệ Việt hải ngoại và nhiều báo chí trong nước.

Thứ Tư, 15 tháng 1, 2020

Sách mới: Nhà văn Việt-Nam hải ngoại

Tác giả: Nguyễn Vy Khanh

Nhân Ảnh, 2019. 850 trang.

Nhận định về 73 tác giả

clip_image002

Người Việt-Nam sinh sống ở ngoài nước không chỉ bắt đầu từ sau ngày 30-4-1975 mà theo lịch sử, đã bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII khi một số quân sĩ của nhà Nguyễn bôn ba theo Chúa Nguyễn Ánh rồi ở lại định cư ở Xiêm-La – và cũng đã có một số văn bản chữ quốc ngữ cũng như chữ Nôm của những người Việt này hiện còn lưu trữ ở các Hội Thừa sai và Dòng tu. Rồi từ đầu thế kỷ XX thêm các sinh viên du học, tu nghiệp, lính thợ, rồi định cư luôn tại Pháp, đã xuất bản sách báo bằng tiếng Việt mà nội dung và số lượng khá đặc biệt và đáng kể.

Thứ Hai, 5 tháng 8, 2019

Nhà Phê bình văn-chương và Nghiên cứu văn-học Nguyễn Văn Trung

Nguyễn Vy Khanh

Nguyễn Văn Trung sinh ngày 26-9-1930 tại tỉnh Hà Nam, giáo sư triết và văn-học, và là một nhà phê-bình văn-học hiện-đại thế hệ mới sau 1954, với các bút hiệu khác: Hoàng Thái Linh, Phan Mai. Năm 1951 được nhà dòng tu gửi đi du học ở Âu Châu, ở Toulouse rồi sang Bỉ học Đại học Louvain, đậu cử nhân triết học, theo ban tiến sĩ triết học (luận án Tiến sĩ triết học trình năm 1961). Cuối năm 1955 về Sài gòn, dạy triết ở trường Chu Văn An. Từ 1957, dạy triết tại Đại học Huế và từ 1961 dạy Triết và Văn ở Đại học Văn Khoa Sài-gòn, trưởng ban Triết và Khoa trưởng Đại học Văn Khoa Sài-Gòn, ủy viên Ủy ban Dịch thuật thuộc Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa. Sau 1975, ông chuyển sang nghiên cứu văn-hóa miền Nam lục-tỉnh (Lục Châu Học) và năm 1994, định cư ở Montréal (Canada). Ông từng cộng tác, đăng bài trên các nhật báo Sống Đạo, Tin Sáng, Dân Chủ Mới, Sống Đạo, Hoà Bình,... các tạp chí Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn, Văn Học, Bách Khoa, Nghiên Cứu Văn Học, Thái Độ, v.v...và là chủ biên các tạp-chí Đại Học, Hành Trình Đất Nước.

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 48): Nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh viết về nhà văn Võ Kỳ Điền

Nhà văn Võ Kỳ Điền và dòng ý thức xuyên suốt trong tác phẩm

Nguyễn Vy Khanh


Nhà văn Võ Kỳ Điền sinh ngày 30.10.1941 tại Dương Đông, Phú Quốc, trưởng thành và hành nghề dạy học ở Bình Dương (và một thời gian ở Ba Xuyên) sau khi tốt nghiệp ban Việt Hán Đại học Sư phạm Sài Gòn. Vượt biển đến Mã Lai năm 1979 và định cư ở Montréal rồi Toronto. Võ Kỳ Điền bắt đầu viết văn khoảng năm 1980, những truyện ngắn đầu tay của ông xuất hiện trên tờ Dân Quyền ở Montréal và Làng Văn ở Toronto (Canada) trước khi trở thành một trong những nhà văn góp phần đánh dấu một giai đoạn văn học lưu vong nặng chính trị nhất của người Việt. Tờ Dân Quyền số 1 ra đầu tháng 2-1978 đến năm 1987 ngưng mặt báo chí, thông tin văn nghệ để tham gia các liên minh và mặt trận đấu tranh trên các diễn đàn hải ngoại – nay đi vào quên lãng đối với các thế hệ sau. Những cây viết của nhóm như Bắc Phong nay ngưng làm thơ, nhà nghiên cứu Nguyễn Huy, nhà thơ Vũ Kiện đã mất ở Québec, Nguyễn Ngọc Ngạn từ bàn đạp tiểu thuyết chống Cộng trở thành nghệ sĩ nói, một số khác (đã) đi vào đấu tranh và số khác nữa sử dụng 'lý tưởng' để hợp tác với 'kẻ thù' theo... thời. Phần tư thế kỷ sau, thời gian và chính trị thế-giới đã xoay chiều. Cuộc chiến tranh lạnh đối với nhiều nước và chiến-tranh Việt-Nam đối với Hoa-Kỳ đã là chuyện... tiền kiếp, với người Việt thì vết thương chiến-tranh đó có khi vẫn chưa thành sẹo. Dĩ nhiên nếu không nuôi... sẹo như Triều Sơn thời tha hương đi lính cho Pháp thì cũng không thể quên vết sẹo nhiều lúc vẫn làm ngứa tâm can, một loại sẹo "thế hệ" không dễ gì quên. Nhưng, đời sống vẫn theo dịch lý tuần hoàn và nước vẫn chảy dưới cầu, mùa Đông cực Bắc Mỹ có đông giá nhưng nước vẫn âm ỉ chậm trôi ngầm bên dưới những tảng băng. Cũng chính thời gian đã cho thấy Thiện Ác và nhân quả nhãn tiền. Riêng Võ Kỳ Điền, sau những trận... chiến Văn Bút và nghiêng ngã tình đời, tình người, ngưng sáng tác một thời gian, nay hình như đã ổn định cuộc đời và gần đây sáng tác trở lại và thiên về bút-ký.

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

Một Thời Văn Học Miền Nam 1954-1975

Nguyễn Vy Khanh

ngvykhanhTháng 9-2016 vừa qua, chúng tôi đã cho xuất-bản bộ Văn-Học Miền Nam 1954-1975: nhận-định, biên-khảo và thư-tịch do nhà Nguyễn Publishings (Toronto, Canada) xuất-bản và do hệ thống amazon.com phát hành. Được biết đây là một công trình kéo dài từ nhiều năm qua, nay xuất-bản như một đóng góp cho việc tìm hiểu và bảo tồn một nền văn-học đã bị Cộng-sản Việt-Nam cấm đoán từ sau biến cố 30-4-1975 cho đến nay. Để giới thiệu bộ sách biên-khảo, chúng tôi trích dẫn lại phần lớn phần Dẫn Nhập:

*

Văn-học miền Nam vào giai đoạn này nói chung mang tính nhân-bản của con người hôm nay (vào thời đó), ở đây (miền Nam), với những vấn nạn, thân phận thực hữu, còn mang thêm tinh thần khai phóngđa nguyên. Mở cửa tiếp nhận (và gạn lọc) các khuynh hướng văn-học Âu Mỹ cả Nga, Đông Âu, Mỹ la-tinh, Nhật, v.v., góp phần đa dạng hóa văn-học, tức không minh họa, một chiều như “văn-học” miền Bắc CS cùng thời. Khai phóng còn ở tinh thần làm văn-học, ở sáng tác, ở thái độ và chủ trương khám phá tài năng trẻ, mới. Nhờ vậy mà văn-học miền Nam có nhiều tiếng nói, già trẻ, địa phương, “chiếu” lớn, “chiếu” nhỏ, thiên hữu cạnh thiên tả, “hôm nay” cạnh “dân tộc”, v.v. và có những khuynh hướng tâm linh, tôn giáo, triết lý cùng tham gia trường văn trận bút. Văn-học miền Nam với những đặc điểm nhân bản, khai phóng, đa dạng, bên cạnh tinh thần dân-chủ, tự do, đã là môi trường thuận lợi cho việc phát triển tài năng văn-chương, và đã có những tài năng thật sự, những tác-phẩm đáng kể. Dĩ nhiên chiến-tranh và văn-hóa tính của con người Việt-Nam đã bôi đen một số công trình cũng như gây một số thiệt hại cho nền văn-học dân-tộc!

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017

Về Trương Vĩnh Ký và một số vấn đề văn bản, lối nhìn …

Nguyễn Vy Khanh

clip_image001Những năm cuối thế kỷ XX có một hiện tượng tiêu cực và đặc biệt ngày càng trầm trọng, đó là việc các nhân vật lịch sử và văn hóa Việt Nam liên tục bị hạ bệ, vẽ trấu: Nguyễn Huệ, Gia Long, Nguyễn Du, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký, ... cũng như một số lãnh tụ, tướng lãnh bất kể phe phái nào. Có khi là những nỗ lực đi tìm sự thực lịch sử, có khi là những đánh giá lại, có khi gián tiếp chửi bới một chế độ, phe nhóm, có khi vì kỳ thị tôn giáo hay vì mặc cảm, dị ứng, biến ứng, có người riêng rẻ, lại có những tổ chức qui mô. Sự kiện 30-4-1975 đã chứng minh vai trò của “hoả mù” tuyên truyền, phản thông tin trong cuộc chiến tranh đó! Trong một tình cảnh chung của người Việt lúc này sống chết với... lịch sử, với hiện tượng hồi ký tạp loại, nhất là tiểu thuyết lịch sử, dã sử. Dĩ nhiên đó cũng là lý do trong nước gần đây (4-2000), tại đại hội Nhà văn lần thứ 6, việc sáng tác về các đề tài lịch sử đã được Ban Chấp hành Hội Nhà văn đề ra như là một phương hướng nhiệm vụ cần thiết cho ngũ niên tới, 2000-2005 (1). “Hoả mù” cứ thế mà tiếp tục thôi! Dĩ nhiên, Trương Vĩnh Ký không thoát những đòn hỏa mù đó! Từ ngày ông qua đời đến nay và qua nhiều cuộc đổi đời, đã có nhiều công trình biên khảo và nghiên cứu về ông, khen có chê có. Trong bài này chúng tôi với chủ ý đặt lại một số vấn đề nghiên cứu căn bản, do đó chỉ xin nêu ra một số sai lầm và nghi vấn về con người và sự nghiệp Trương Vĩnh Ký, một người Việt Nam-kỳ, theo đạo Thiên chúa, làm việc cho Pháp và là người mở đường báo chí và văn học chữ quốc ngữ ở hậu bán thế kỷ XIX. Ông sống đồng thời với Phan Thanh Giản, Nguyễn Đình Chiểu, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, ... nhưng mỗi người một cuộc đời khác nhau, đại diện cho các khuynh hướng người Việt lúc bấy giờ đối với thực dân Pháp thôn tính Nam-kỳ.

1. Người ta thường phê phán Trương Vĩnh Ký làm việc với kẻ thù ngoại bang tức người Pháp.

Bước đầu là làm thông ngôn cho Hải quân Pháp là những người sẽ đánh chiếm lục tỉnh. Phê phán dễ nếu không đặt vào hoàn cảnh của đương sự. Sau khi đi tu đạo Thiên-Chúa không thành và du học từ năm 14 tuổi ở Poulo Penang, ông về thọ tang mẹ năm 1858 (2), lúc đó 21 tuổi và nay mồ côi cả cha lẫn mẹ, cũng là lúc triều đình vua Tự Đức gay gắt cấm đạo, từ năm 1848 đến năm 1861 sáu lần ra chiếu cấm đạo, như chỉ dụ 13 (1860) nói rõ không cho người theo đạo làm quan chức và nếu đang làm quan phải bỏ đạo nếu không sẽ bị hình phạt (“thắt cổ chết ngay”). Có đạo là một “tội hình”, Trương Vĩnh Ký sẽ làm nghề gì nếu không làm rẫy ruộng, nhưng ông lại mồ côi, không thân thích! Năm 1860, sau khi trốn khỏi trường Cái Nhum nơi ông tá túc và dạy trẻ em, vì bắt đạo, ông phải trốn lên Sài-Gòn ở và làm việc cho giám mục Lefèbvre, nên khi người Pháp cần thông ngôn gấp vì không thể tiếp xúc với dân chúng, chính giám mục này đã tiến cử Trương Vĩnh Ký làm thông ngôn cho trung tá Hải quân Jauréguiberry, tư lệnh Sài-Gòn. Lúc này thành Gia-Định đã thất thủ, Trương Vĩnh Ký lập gia đình năm 1861 ở Chợ Quán. Nhưng công việc này không được lâu vì Trương Vĩnh Ký đã có thái độ và quyết tâm làm theo ý nguyện của ông. Theo một tài liệu ông Nguyễn Đình Đầu mới tìm thấy, Trương Vĩnh Ký từng tỏ ra dù hợp tác với Pháp, vẫn cho họ biết ông có con đường của ông. Một bức thư của chỉ huy trưởng D’Ariès gửi đô đốc Charner đề ngày 21-5-1861 đề cử Trương Vĩnh Ký: “trong số người Nam nói được ngôn ngữ của chúng ta chỉ có một người tên là Petrus Ký là biết khá rành rẽ có thể giữ các chức vụ Ngài muốn thiết lập bên cạnh các thẩm quyền quân sự của chúng ta”, nhưng D’Ariès than phiền thái độ hợp tác lơ là của người thanh niên 23 tuổi này: “từng là nhân viên Sở Sự vụ bản xứ Sài-Gòn, ông ta đã bị sa thải vì thiếu mẫn cán và tận tụy, rất thông minh, rất có khả năng làm tốt công việc, nhưng ông ta dần dà đánh mất sự tin tưởng tạo được. Tôi không muốn chỉ định ông ta để ngài chọn làm thông dịch viên cho các hội đồng chiến tranh của chúng ta”. Dù vậy vị tổng chỉ huy Charner nói trên vẫn chọn Trương Vĩnh Ký và đưa ra các điều kiện để D’Ariès chuyển lại họ Trương “40 đồng một tháng và phải luôn có mặt tại Sài-Gòn”. Nhưng Trương Vĩnh Ký không chấp thuận điều kiện đó và nhân tiện bộc lộ tư cách của ông khiến D’Ariès bực tức trong thư sau đề ngày 28-5-1861: “Tính kiêu căng và các yêu sách của ông ta hơn tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng về ông ta [..] đòi 110 đồng với quyền làm công việc mà ông ta ưa thích và rút lui khi nào không còn thích hợp...” (3). Léonard Charner là người đã đánh hạ đồn Chí Hòa ngày 24-2-1861.

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (117): Nhà văn Duyên Anh

Nguyễn Vy Khanh
clip_image001Nhà văn Duyên Anh tên thật là Vũ Mộng Long, sinh ngày 16 – 8 – 1935 tại thị xã tỉnh Thái Bình, Bắc Việt, bên bờ sông Trà Lý nhưng sống thời thơ ấu ở làng Tường An, tổng Ô Mễ mà theo Duyên Anh là một làng nghèo nhất tỉnh Thái Bình (1). Xuất thân trong một gia đình nghèo, ông là con cả của một gia đình 7 người con. Thân sinh ông làm thầy lang, sau đổi ra buôn bán nhỏ. Ông học các trường tổng, trường tỉnh – tư thục Trần Lãm, rồi lên Hà nội học trung học. Ở quê nhà, Duyên Anh đã chứng kiến và sống những biến cố lịch sử 1945 và 1954. Duyên Anh di cư vào Nam cuối năm 1954.
Vào Sài Gòn, ban đầu ông sống qua nhiều nghề như giữ xe đạp, quảng cáo cho gánh xiếc bán thuốc kiểu Sơn Đông mãi võ, kèm trẻ tư gia, v.v.. Giữa năm 1955, ông theo Đại Việt Duy Dân lên Ban – mê – thuột làm “cách mạng” được vài tháng rồi sau đó được người của tổ chức đưa xuống Long Xuyên dạy học ở các trường bán công Hòa Hảo, Kinh Dương, Nguyễn Trung Trực.
Thứ Ba, 7 tháng 4, 2015

VHMN 54-75 (86): KINH NGHIỆM VĂN CHƯƠNG DOÃN QUỐC SỸ

Nguyễn Vy Khanh

Hiệp định Genève 20 – 7 - 1954 đã đánh dấu một cuộc đình chiến nhưng lại chia cắt đất nước thành hai miền Nam - Bắc với ý thức hệ đối nghịch nhau; mâu thuẫn này sẽ đưa đến cuộc chiến tiếp diễn từ 1957 và tạm thời chấm dứt lần nữa vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc đình chiến năm 1954 đã đưa hàng triệu người di cư trốn tránh bạo lực và chủ nghĩa cộng - sản, vào miền Nam tìm tự do, dân chủ và an cư lạc nghiệp. Một thay đổi có ý thức, nhất là đối với thành phần trí thức. Miền Nam và Sài - Gòn đã là tụ điểm của những lên đường mới, của những nảy mầm và chín mọng văn - nghệ. Nhiều khuôn mặt mới xuất hiện trên trường văn trận bút, những Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Đỗ Thúc Vịnh,... di cư vào phía nam vĩ tuyến 17 sinh hoạt văn - nghệ bên cạnh những Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Võ Phiến, Đỗ Tấn,... Khi Sài - Gòn trở thành thủ đô, với một cơ cấu chính quyền, thì ở đó và trong không khí đấu tranh văn nghệ cho chính trị ý thức hệ, những nhóm văn - nghệ được hình thành và phát triển. Tạp chí Sáng Tạo ra đời trong hoàn cảnh mới đó. Số 1 ra tháng 10 - 1956 và kéo dài được 31 số, ngưng từ tháng 9 - 1959, đến tháng 7 - 1960 tiếp tục bộ mới nhưng cũng chỉ ra thêm được 7 số. Mai Thảo, trong số ra mắt tạp chí Sáng Tạo đã phần nào chủ quan nói văn nghệ từ thủ đô Hà Nội đã chuyển vào thủ đô văn hóa Sài Gòn! Nhưng khẳng định của Mai Thảo là một diễn dịch khác của một cơ cấu xã hội và chính trị bị - động, phải đối phó tức thời với kẻ thù cộng sản. Sáng Tạo không đi ra ngoài quỹ đạo đó! Sáng Tạo ra đời với cái gọi là ý thức văn nghệ mới và làm mới văn học cho thời đó. Tạp chí Sáng Tạo đã muốn làm đại diện cho nền nghệ thuật mới hậu chiến được gọi là "nghệ thuật hôm nay".

Chủ Nhật, 2 tháng 11, 2014

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (45): Tạp-chí Bách Khoa và văn-học miền Nam

Nguyễn Vy Khanh

Trong nghiên cứu về thời bình minh của văn-học chữ quốc-ngữ, chúng tôi đã khẳng định vai-trò quan-trọng của báo chí trong quá trình hình thành và phát triển của nền văn-học đó. Khác với thời lịch triều trước, từ năm 1865, mối liên hệ báo chí – văn-học ngày càng mật thiết. Sự hình thành của nền văn-học mới chữ quốc-ngữ đã cho thấy có ảnh-hưởng và liên hệ giữa sự phổ biến dễ dàng với phương-tiện in ấn theo Tây phương với “tiến bộ” hiện đại hóa của văn-học và báo chí. Ảnh-hưởng đó không chỉ đơn thuần văn-hóa mà cả trong đời sống chính-trị Nam-kỳ lục-tỉnh rồi cả nước và còn ảnh-hưởng qua đến thế-kỷ sau, thế-kỷ XX. Từ Gia-Định Báo, Lục-Tỉnh Tân Văn, Nam-Kỳ Địa-Phận,… đến Đăng Cổ Tùng Báo, Đông Dương tạp-chí, Nam Phong tạp-chí, Phụ Nữ Tân Văn,… rồi Phong Hóa, Ngày Nay, …, báo chí đã tích cực đồng hành với nền văn-học mới, hiện đại và cập nhật theo con người và thời đại.

Sau khi hiệp định Genève 20-7-1954 chia đôi đất nước, một cuộc di cư từ Bắc vào Nam đưa theo nhiều nhân-tố quốc-gia (và cả nằm vùng) sẽ giúp mạnh thêm nền văn-học của miền Nam tự do 1954-1975. Những năm đầu sau 1954, ở trong Nam và nhất là Sài-gòn hết còn nóng lửa chiến tranh, nhưng cuộc chiến vẫn âm ỉ, thời lập thuyết đấu tranh ý thức hệ bắt đầu, với những mặt trận văn-hóa, những Phạm Thái, Thiếu Sơn, Hồ Hữu Tường, Ngô Đình Nhu, … Cũng là thời của các tạp-chí Đời Mới, Nhân Loại, Mùa Lúa Mới, … - thời của những người quốc-gia đa nguyên đa dạng! Nhưng thất bại của những hợp tác và khó khăn của đồng thuận chính-trị khiến chính quyền đệ nhất cộng hòa quyết liệt vạch một lối đi văn-hóa để thu phục nhân tâm của miền Nam và tiêu diệt tận gốc chủ nghĩa cộng-sản ngoại lai cũng là để những kẻ đứng núi này trông núi nọ phải nhận chân và dứt khoát con đường phục vụ đất nước.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Về tiểu thuyết lịch sử

(tiếp theo)

Nguyễn Vy Khanh

Nếu Chiến tranh & Hòa bình (1865-9) của Tolstoi là bộ tiểu thuyết muốn cạnh tranh với lịch sử, mới hơn 50 năm sau biến cố đã “vội” viết, một lịch sử đang âm ỉ vận động, đang hình thành hoặc sắp hình thành – nói như các nhà Mác-xít sau đó, với chất liệu lịch sử, Sông Côn mùa lũ muốn cho lịch sử một số ý nghĩa nào đó nhưng chính Gió lửa với những kỹ thuật tiểu thuyết hóa cá nhân, trí thức, địa phương,… đã phần nào thành công cắt nghĩa rằng con người không thể thoát khỏi những biến cố thời đại mình sống, con người cũng không thể làm chủ tình hình khi chính con người dấy gió bụi và làm bùng lửa. Yếu tố tiểu thuyết đưa đến những giả thuyết mà người viết đưa ra để ông và người đọc cùng tra vấn và không hẳn dễ có câu trả lời. Sông Côn mùa lũ nói đến Ác để đề cao cái Thiện, Nam Dao kéo dài không khí của Ác, Ác tiềm ẩn thành một thứ văn hóa sống và hành, gió hay lửa qua 400 năm đều do đó mà ra cả!