Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thị Thúy Hạnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thị Thúy Hạnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021

Chủ nghĩa thần thực trong văn học đương đại

(Trích dịch từ cuốn Phát hiện tiểu thuyết – tập bài viết về phương pháp sáng tác, NXB Đại học Nam Khai, 2011)

Diêm Liên Khoa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh dịch

1/ Một lý giải đơn giản về Chủ nghĩa thần thực[1]

Tôi đang phạm vào một điều cấm kị rất lớn: luôn cho rằng văn học Trung Quốc đương đại đã tồn tại những cách viết khác so với chủ nghĩa hiện thực và văn học phương Tây thế kỷ XX, ít nhất có thể nói mầm mống của khuynh hướng này đã tồn tại, hơn nữa, đang trở nên thành thục, nhưng vì sự lười biếng của các nhà phê bình đã không kiên nhẫn phân tích, tổng kết kỹ lưỡng các sáng tác đó – khiến cho khuynh hướng và đầu mối đặc biệt này đều không được chú ý, bị phân loại năm bè bảy mảng một cách chung chung. Dạng văn học bị bỏ qua hoặc quy về dưới cùng một lá cờ, chính là chủ nghĩa thần thực trong văn học đương đại.

Thứ Hai, 18 tháng 1, 2021

Cơ chế tạo chữ trong thơ Đặng Đình Hưng

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Có nhiều tương đồng về số phận và nghệ thuật với những người bạn thân thiết như Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, nhưng thơ Đặng Đình Hưng dường như vẫn ít được chú ý hơn. Giống như lối sống thầm lặng và bí ẩn của tác giả[1], tác phẩm của Đặng Đình Hưng rất khó nắm bắt do tính chất hướng nội, duy cảm và cơ chế tạo chữ phức tạp.

Chủ Nhật, 4 tháng 2, 2018

Thơ Nguyễn Thị Thúy Hạnh


Yoko Yoko


một nguồn nước ánh sáng
mái tóc dày, đôi mắt vòng cung
đêm nay, nàng làm tình với sự im lặng

đuổi theo nàng
Yoko

người đàn ông nàng đã mơ thấy hôn anh.
anh trượt trên thân thể nàng một bờ dốc tuyết. người đàn ông xa lạ. người đàn ông thân thuộc. sau cửa kính quán cafe. khuấy đôi mắt loãng. cuối con đường nhỏ.
chờ nàng. Yoko.

Thứ Năm, 18 tháng 1, 2018

Sinh thái học chiều sâu và Đạo học Trung Hoa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Lịch sử phát triển của xã hội gắn liền với lịch sử khai thác sử dụng tài nguyên sinh vật phục vụ cho các nhu cầu ngày càng đa dạng, ngày càng cao hơn của con người, nhưng đồng thời, cũng kéo theo nhiều bất cập và ảnh hưởng nguy hại tới sinh thái. Xuất phát từ đó, tư tưởng về sinh thái, về mối quan hệ giữa con người với sinh thái ra đời và phát triển. Trong phổ hệ sinh thái nhân loại nói chung, tư tưởng sinh thái học chiều sâu và sinh thái luận Đạo học đồng quy ở nhiều điểm. Xét về mặt bản chất, sự ra đời của hai học thuyết này đều là một cách phản tư về xã hội, tự nhiên và tâm thái, tư tưởng thời đại.

1. Sinh thái học chiều sâu

1.1. Nguồn gốc và sự phát triển của sinh thái học chiều sâu

Từ thời kỳ công nghiệp hóa đến nay, nhân loại đã trải qua hơn hai trăm năm. Sự phát triển của khoa học, công nghệ nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, nhưng bên cạnh đó cũng làm tăng quy mô khai thác tự nhiên, để lại những hậu quả nặng nề: hoàn cảnh môi trường toàn cầu bị phá vỡ, sinh thái tự nhiên bị đe dọa và hủy hoại. Đặc biệt là trong thế kỷ 21, những nguy cơ của môi trường sinh thái ngày càng trở nên nghiêm trọng và phức tạp: sự bùng nổ dân số, tài nguyên dần dần cạn kiệt, động vật quý hiếm bị tiệt chủng, tình trạng ô nhiễm, mất cân bằng sinh thái, trầm cảm tinh thần...ngày càng đe dọa đến sự sống trên trái đất. Trong bối cảnh này, tư tưởng lý luận về môi trường sinh thái của phương Tây vì thế mà nảy sinh. Cùng với nó, từ những năm 60 đến những năm 80 của thế kỷ XX, phong trào trở về với tự nhiên, phong trào bảo vệ môi trường trở nên phổ biến, điều này cho thấy vấn đề bảo vệ môi trường của con người trên thế giới được đặt ra ngày càng bức thiết.

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

Thực trạng văn học thị trường Trung Quốc đương đại

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Bài viết gồm những nội dung chính sau: 1. Bối cảnh văn học Trung Quốc từ thời kỳ cải cách mở cửa đến đầu thế kỷ XXI; 2. Yếu tố thị trường trong tam giác quan hệ: nhà văn – tác phẩm – thị trường văn học; 3. Khẩu vị của người đọc; 4. Diễn biến của văn học thị trường giai đoạn 2010 – 2015; 5. Những tranh luận xung quanh vấn đề thị trường văn học Trung Quốc. Từ đó, chúng tôi khái quát những đặc điểm của thị trường văn học Trung Quốc hiện nay. Đồng thời, qua trường hợp văn học thị trường Trung Quốc, có thể thấy những nét tương đồng khi soi chiếu vào văn học thị trường Việt Nam đương đại.

Ở Việt Nam, những nghiên cứu xoay quanh văn học thị trường trên thực tế còn rất thiếu, ngoài một số bài viết của Võ Văn Nhơn, Nguyễn Thị Phương Thúy[1], Nguyễn Phượng[2], Nguyễn Thanh Tâm[3], Lê Thị Bích Hồng[4] và vài bài viết ngắn trên các website với nội dung tổng hợp các ý kiến khác nhau về văn học thị trường, thì hầu như chưa có một hội thảo hay công trình nghiên cứu nào về diễn biến văn học thị trường Việt Nam trong thời gian qua. Theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân chính, là dòng văn học thị trường ở Việt Nam chưa được xem trọng, chưa được coi như một bộ phận quan trọng của nền văn học Việt đương đại.

Ngược lại, Trung Quốc đã bắt đầu những nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn học và thị trường từ rất sớm. Ngay từ năm 2000, bài viết của Vương Trí Mẫn Văn học của thời đại thị trường hóa[5] đã chỉ ra sự xuất hiện của chức năng tiêu khiến trong văn học, ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến với văn học, việc nhà văn đối diện với sự tuyển chọn và cạnh tranh của thị trường. Tiếp theo đó là các bài viết của Đỗ Tố Quyên (Bẫy thị trường – từ USP (“điểm mua”) của văn học để nhìn về các vấn đề và hoàn cảnh văn học[6]); Hồ Nam, Hạ Oánh, Tiêu Tán Quân (Cạnh tranh và diễn biến của thị trường văn học mạng[7])… nghiên cứu về những ảnh hưởng của yếu tố thị trường đến sáng tác văn học qua việc nhà văn lựa chọn chủ đề hay các thủ pháp nghệ thuật. Ngoài ra, các nhà phê bình Trung Quốc cũng để ý đến văn học thị trường ở nước ngoài qua một số trường hợp như thơ ca của Robert Frost[8] hay văn học Ả Rập[9]… Ở Trung Quốc, từ năm 2010 đến nay, dưới sự chỉ đạo của chính phủ, việc nghiên cứu về thị trường văn học Trung Quốc được thực hiện hết sức bài bản, có hệ thống. Hàng năm, Hiệp hội tác gia Trung Quốc đều có báo cáo thống kê về “Trạng huống phát triển của văn học”, trong đó tổng kết lại khuynh hướng và diễn biến của các lĩnh vực: tiểu thuyết, thơ ca, tản văn, văn học thiếu nhi, lý luận phê bình văn học. Viện nghiên cứu tốc độ Internet của Trung Quốc cũng có báo cáo riêng (theo từng quý) về thị trường văn học mạng với đầy đủ số liệu, bảng biểu về thị trường văn học mạng và phân nhóm phần trăm tỷ lệ người đọc theo nghề nghiệp…

Điểm khác biệt trước hết giữa thị trường văn học Việt Nam và thị trường văn học Trung Quốc đó là sự chênh lệch về số lượng cũng như chất lượng sách văn học thị trường. Số lượng sách văn học thị trường ở Trung Quốc ở dạng “trăm hoa đua nở”, trong khi đó, dòng sách văn học thị trường ở Việt Nam ít hơn hẳn về mặt số lượng. Nếu nói về chất lượng của các cây bút thì văn học thị trường Việt Nam vẫn thiếu hẳn những tác phẩm hay, còn văn học thị trường Trung Quốc đã có thể xuất bản rộng rãi ở nước ngoài với những sáng tác của Vệ Tuệ, An Ni Bảo Bối, Sơn Táp, Trương Duyệt Nhiên, Xuân Thụ… và đạt được sự yêu thích nhất định của độc giả nước ngoài. Khác với quan niệm của Trung Quốc về văn học thị trường, ở Việt Nam, văn học thị trường còn chưa được chính thức xem là dòng văn học hữu cơ, một hướng phát triển của văn học dân tộc.

Bài viết của chúng tôi muốn khái quát những đặc điểm, diện mạo của văn học thị trường Trung Quốc, diễn biến của văn học thị trường Trung Quốc trong giai đoạn 2010 – 2015, từ đó đưa ra một vài suy nghĩ đối với văn học thị trường Việt Nam hiện nay.

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

Sự đổ vỡ nội tâm của sáng tác

(Phần hậu ký của tiểu thuyết Đinh trang mộng)

Diêm Liên Khoa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh dịch

image10 giờ sáng tháng tám năm 2005, tôi hoàn thành trang cuối của cuốn tiểu thuyết Đinh trang mộng. Khi hạ bút ở dòng cuối cùng, tôi ngồi cô độc, bần thần trước bàn làm việc. Đột nhiên trong tôi dấy lên cảm giác buồn bực bất an, không biết phải làm sao, dường như tôi cần được tâm sự với người khác về cảm xúc đang trào dâng trong tôi. Điều đó thôi thúc tôi mãnh liệt đến nỗi giống như một người nghiện ma túy cần thuốc ngay tức khắc. Nhưng thời điểm ấy, vợ tôi trở về quê hương Hà Nam, con trai học ở Thượng Hải, lại đang lúc lên lớp, bạn bè tri kỷ của tôi chỉ có vài người. Điện thoại khi đó rõ ràng không tắt máy, mà là nằm trong vùng phủ sóng. Tôi gọi liền mấy cuộc. Cuối cùng, không hiểu tại sao, tôi vứt ống nghe lên bàn, ngồi phịch xuống đất, không ngăn nổi hai hàng nước mắt rơi lã chã. Cơ thể tôi cạn kiệt sức lực như bị rút thịt xương, cảm giác cô độc mà vô vọng ghê gớm bủa vây lấy tôi, như thể tôi bị ném xuống một biển lớn không người, một hòn đảo cô độc không có cỏ cây chim chóc…

Tôi ngồi cô độc trên ghế sô pha trong phòng khách, mắt mở trừng trừng nhìn lên bức tường màu tuyết trắng xóa, cơ hồ đang nhìn vào bên trong một cuốn tiểu thuyết như “một tấm khăn tang phiêu động tựa tuyết trắng” và như “câu đố mà nhà nhà đều dán lên cửa trong các căn hẻm lâu đời”, lại phảng phất như đang nhìn vào một “đồng bằng không có người ở mà rộng lớn vô hạn”. Thứ nội tâm đau khổ, tuyệt vọng và bơ vơ không nơi nương tựa đó, tôi đã từng trải qua vào cuối năm 1997, khi viết xong Nhật quang lưu niên, và, tôi cũng từng trải qua, vẫn cảm giác đó, vào tháng 4 năm 2004, khi hoàn thành Thụ hoạt. Nhưng cả hai lần ấy, cảm giác đau đớn của tôi đều không đến mức mãnh liệt như khi viết xong Đinh trang mộng, một cảm giác rất khó diễn tả bằng lời.

Tôi biết rằng, nỗi tuyệt vọng mạnh mẽ này, không vẻn vẹn chỉ là kết quả của một lần hoàn thành Đinh Trang mộng, mà là một quá trình nghiệm sinh về cảm giác đổ vỡ tự bên trong của sự viết, là một đài tưởng niệm cho sự kết thúc của Đinh Trang mộng. Từ năm 1994, khi bắt đầu khởi bút viết Nhật quang lưu niên, tới năm 2002 viết xong Thụ hoạt, cho đến năm 2005 hoàn thành Đinh Trang mộng, đó là những năm tháng chồng chất, tích lũy bao nỗi khổ đau và mệt nhọc của tôi. Ánh sáng mặt trời từ ngoài cửa sổ nhạt dần, chiếu rọi qua căn phòng, làm cho hình ảnh của làn bụi bay trong không khí nơi phòng khách có thể nhìn thấy rõ, giống như vô số linh hồn trong tiểu thuyết đang thì thầm vào tai tôi. Sau đó, tôi ngồi ngây ra như một khúc gỗ, nước mắt đầm đìa, tâm trí tôi trống rỗng mà hỗn loạn vô trật tự.

Tôi không thể nói rõ được vì sao mình đau khổ, vì sao mà rơi lệ, tại sao lại cảm thấy tuyệt vọng và bất lực chưa từng có như thế. Là vì cuộc sống của bản thân chăng? Hay vì thế giới bên ngoài? Hay vì quên hương Hà Nam của tôi? Hoặc thậm chí, vì còn biết bao nhiêu người bị bệnh AIDS ở các tỉnh và khu vực mà tôi không biết được? Cũng có thể, do công việc sáng tác của tôi, đối diện với thời điểm hoàn thành Đinh Trang mộng, tôi đã vắt kiệt sức của mình, tưởng như đã đi đến tận cùng con đường. Vì vậy, tôi không biết mình ngồi khóc hết bao nhiêu nước mắt, không biết mình khi nào ngừng khóc, rồi bỗng trở nên câm nín, không động đậy, không thốt nên lời. Chỉ nhớ rằng, buổi trưa hôm đó tôi không ăn uống gì. Vào khoảng 1 giờ, tôi đi ra khỏi nhà, men theo phần đường của người đi bộ trên tuyến đường sắt Bắc Kinh số 13 cách nhà tôi không xa, đến một nơi hoang vắng không bóng người. Và, lại một lần nữa, cô độc ngồi bên cạnh bìa rừng, cho đến khi mặt trời lặn mới lần trở về nhà. Lúc đó, tôi mới cảm thấy ý thức dần dần hồi phục, cảm thấy mình đang sống lại, cảm thấy những nhu cầu trần tục tất yếu đối với đời sống cá nhân.

Thứ Ba, 12 tháng 12, 2017

Diêm Liên Khoa – “người đến muộn” tiên phong

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Nhà văn Diêm Liên Khoa được đánh giá là một gương mặt tiêu biểu của văn học Trung Quốc đương đại. Dù thành danh muộn trên văn đàn, nhưng trong việc khai thác các vấn đề nóng bỏng của xã hội, đối diện và dũng cảm phản ánh hiện thực đời sống Trung Quốc hiện nay, Diêm Liên Khoa là một người tiên phong.

Viết trong bóng tối của Trung Quốc

clip_image002

Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

Văn Giá giới thiệu thơ Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Cảm nhận chung, tràn lên thơ Hạnh là một âm điệu buồn, lắm khi u buồn, nhưng quyết không bi lụy và tuyệt vọng. Trên cái gam buồn ấy, bất ngờ chồi lên những câu thơ non tươi, thanh sáng. Nguồn thi cảm của thơ Hạnh được chưng cất từ hai mạch chảy: những tri thức văn hóa chiều sâu và đời sống thế tục hiện thời. Thơ Hạnh là một trong những dấu chỉ cho thấy đang có một nỗ lực làm mới thơ từ những người trẻ, rất trẻ.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Giới thiệu chùm thơ của một gương mặt thơ trẻ: Nguyễn Thị Thúy Hạnh

 

(Rút từ facebook của Văn Giá)

Mấy hôm nay, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến và nhà thơ Hoàng Xuân Tuyền đang náo nức mở trang thơ Hậu hiện đại. Điều này, thể hiện một ao ước làm mới thơ hiện nay. Điều này cũng là một chỉ dấu cho biết thơ hiện nay đang vào hồi bế tắc.

Cách đây ít hôm, một nhà thơ có quan hệ rộng rãi với các tổ chức văn hóa quốc tế (dự định giới thiệu một vài gương mặt thơ trẻ hiện nay để tham dự một cuộc sinh hoạt thơ do một tổ chức quốc tế thực hiện tại Việt Nam) có bảo tôi giới thiệu vài cây bút thơ trẻ để chọn, với điều kiện phải mới về tên tuổi, đặc biệt phải mới về thơ. Tôi cảm thấy rất khó. Có thể mình chưa bao quát hết. Phần mà bao quát được thì lại không phải là mới...

Cuối cùng, hình như cũng là một cơ duyên, tôi đã tiến cử cây bút thơ trẻ Nguyễn Thị Thúy Hạnh.

Thơ Hạnh là thơ mang tâm thế của một nguòi trẻ, một trí thức trẻ, ngưới có điều kiện tiếp xúc với các nền văn hóa/văn học thế giới, một người làm thơ không chịu dễ dãi, có kỷ luật trong viết và xuất hiện. Lối viết của Hạnh đầy u buồn, lắm khi tuyệt vọng, với nhiều ám ảnh về sự tan rữa, cái chết, ngột ngạt, mộng mị, hoang loạn... trong những biểu đạt thanh tân.

Tôi tin thơ Hạnh xuất hiện lúc này, khiến những ai tha thiết với thơ ca có hy vọng để tin rằng thơ vẫn đang vật vã để làm mới, và chỉ có thể được làm mới từ những người trẻ.

 

***
Chùm thơ 5 bài của Nguyễn Thị Thúy Hạnh

HÀ NỘI

Em lộ một nốt ruồi
Đường cong em vừa thở
Em lộ tê tái mùi
Hà Nội đêm nồng nhớ

Hà Nội của tôi
Hà Nội từ bi
Hà Nội thiu thiu nửa tỉnh nửa mê
Lem nhem khói bụi và đăm đắm đêm khuya
Hà Nội em
Môi hồng như vết thương he hé

Giai nhân nhìn tôi màu mắt cà phê
Tôi nhúng nỗi cô đơn vào sữa
- Truyền hình chiều nay lại một tin buồn nữa
Và chúng ta sớm mai vẫn thức dậy 6 giờ

Bàn tay tôi mười ngón lắng nghe
Tiếng gió đưa trên nóc nhà thờ lớn
Biển hiệu quảng cáo và chữ Hán trên cửa chùa lên tiếng
Tiếng bi bô của cây cỏ làm người

Nhưng đêm nay ai lắng nghe tôi
Khi tôi viết bằng một ngôn ngữ khác?

Hà Nội tôi và Hà Nội em
Hà Nội thơm những da thịt hở
Đừng khóc nhé những đôi môi màu đỏ
Chúng ta còn sống đây Hà Nội còn thở
Mỗi sớm mai vẫn lộng lẫy ra đường
Sau lưng tôi
Một chiếc bóng bị thương.

18/11/2016

MƯA LĨNH NAM

Lĩnh Nam mưa
chiều quái nắng
anh chích ngón tay
chảy giọt máu buồn

anh chăn đường chiều
chín mươi chín dấu chân thiếu một
đêm nay ta bói Đường thi
cỏ Lĩnh Nam buồn rối tóc em lùa
nghìn nụ hôn dao cứa
anh hôn em môi trắng
răng trắng
tóc trắng
da trắng
ngực trắng
tràn thân thể trắng
trắng sinh lời
ngón tay trắng
bàn chân trắng
xương trắng
thịt trắng
tử vi trắng
số trắng
phận trắng
tzắng Man Nương
anh yêu em mộng khép không thành
mái tóc em một cầu
vồng gãy
anh yêu em giai nhân cỏ dại
Lĩnh Nam mưa tốt máu tươi

18/2/2017

MỸ DẠ NGÂM

Những bàn tay tự tử trong gió
những cánh hoa đội mồ để múa
tôi ngắm đêm
mưa như sóng mênh mông
Mưa trong trăng
Vành môi cong cong
Lấp lánh nước mắt

Thập giá thơ
Treo những cơn đau
Kéo dài nghìn năm
Mỏi thân xác tôi
Những câu thơ chữ thập

Ngày hôm sau bình yên
Cơn gió anh hôn những giọt nước mắt
Trên môi em

TRONG NỖI ĐAU RÙNG RỢN

Những con sâu bò trên cánh huệ
Nỗi buồn đục khoét trái tim
– Phải chăng sự trong sáng không thể nào bao bọc
Em lặng thinh
Bấm một cung đàn . . .
Sự buốt lạnh từ cánh huệ truyền sang
Nhuộm trắng mái tóc
Em thay nước của bình hoa
Những con sâu không biến mất
Trong bức tranh của em
Hoa huệ trắng vẫn là hoa huệ trắng
Nhưng từ ký ức
Hương thơm không làm quên lãng
Những con sâu trên cánh hoa.

ĐÊM VIẾT Ở BẮC KINH
Cái giá phải trả cho những câu thơ của anh
Là một trái tim vỡ tan

Như đoàn tàu rời ga nỗi khổ
Em đi đâu?
Ngày nắng hạ chói tiếng chim
Mùa thu tóc khói
Giọt nước mắt không chịu khô trong lòng tay
Khoét sâu trong anh chín tầng cô đơn

Em đi đâu?
Anh nghe trái tim khô giòn đang vỡ
Em như đợt tuyết tan vào mùa tuổi trẻ
Để lại cho anh nỗi đau nóng bỏng cuối cùng
Những cơn gió như nghìn mũi kiếm
Trên da thịt ngôn ngữ tứa máu
Anh gối đầu trên những câu thơ tiền nhân
Đêm mơ thấy Nguyễn Trãi bị chặt đầu
Và Nguyễn Du già nua vớt bóng nàng Kiều

Anh mơ thấy em mỏng mảnh bước vào
Khuôn mặt như mảnh trăng vỡ
Tết Đoan ngọ
Anh chèo thuyền trong tâm linh vớt những câu thơ thoi thóp thở
Khóc òa nỗi tủi thân xứ sở
Trên tay anh là gò má em thơm
Như bông hồng nở trong cấm cung
Anh muốn vẽ em như bầu trời quê hương
Trong lành và bình yên
Nơi đổ nát và hiểm nguy anh sống

Trong tim anh
Nỗi linh cảm là bóng mây đen
Em đừng buồn, đừng giận, đừng thương
Khép nép cười sau cánh cửa Phật
Ni cô trao cho anh một chiếc áo thơ
Chẳng thể tránh được tài hoa thì mệnh bạc
Nước mắt rơi như cầu kinh
Cho anh đất khách hoang bạt

Những người bạn anh
Người da đen nhảy múa trong ánh lửa
Khoảnh khắc quên đi một châu Phi đói nghèo
Người châu Âu thở than về đồng Euro sụt giảm
Anh muốn mua lại một thế giới đã mất giá
Chôn vùi những giấc mơ thanh thản
Người Nhật và người Hàn bàn về phương pháp tự sát
Bên rượu sake và rau kim chi
Máu người bạn học tự tử đỏ trái tim anh
Nỗi buồn như mảnh xương vỡ trong thân
Người đạo Hồi cầu thánh Ala
Mỗi ngày gặp nhau đều bàn về tôn giáo
Tâm linh nào cho anh neo đậu
Niềm tin nào?

Anh giả vờ yêu em
Giả vờ tin mình tử tế
Đức tin cay đắng của tuổi trẻ
Anh phải làm gì?
Những mũi tên lạc lõng trong không trung
Có thể trúng một trái tim bất hạnh
Anh không khóc cho định mệnh
Anh chỉ khóc khi, ngôn ngữ của anh là ngôn ngữ cuối cùng.

(Trích trong tập bản thảo "Di chữ" sắp xuất bản)