Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Hiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Thanh Hiện. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2019

Những tin tức về một ngôi làng (kỳ 5)

Tiểu thuyết Nguyễn Thanh Hiện

29.

cứ hát, mà không biết hát thế là sao, hát về gì, bài hát cứ thế tồn tại qua những năm tháng, ngó lên hòn núi Chớp Vung, thì ở làng tôi ngày ngày mở cửa là thấy núi, ai lại không nhìn thấy ngọn Chớp Vung, nhìn thấy ở đây là nhìn lên, vì núi cao hơn người, nhìn, tương quan vừa có tính cách vật thể: khi hai sự vật gần nhau, vừa hàm súc nghĩa thiêng liêng: con người và sông núi, cuộc gắn bó làm nảy sinh những khái niệm vĩ đại về tổ quốc, về đất nước non sông, núi Chớp Vung nằm trong dãy núi Mun ở phía nam làng tôi, vào những ngày mùa nắng, tựa cửa nhìn thì thấy núi xanh tươi, nhưng vào mùa đông, sau những cơn mưa, tạnh nước, mây bắt đầu vần vũ trên dãy núi Mun, đứng tựa cửa nhìn, một chặp, núi Chớp Vung ngập trong mây, chỉ còn nhìn thấy cái đỉnh núi trông tựa chiếc vung (nồi) úp lơ lửng giữa bầu trời buồn bã, hồi học trường huyện, trong bài luận văn thầy ra, tả về mẹ, tôi ví ngọn núi Chớp Vung như bầu sữa mẹ tôi, nếu dân tộc tôi sinh ra từ sữa mẹ Âu Cơ, thì vú mẹ Âu Cơ không lớn hơn núi Chớp Vung là gì, nhưng ngó lên hòn núi Chớp Vung/thấy đôi con thỏ nằm chung với mèo thì câu hát ru mẹ tôi ru tôi thuở ấy lại chuyển sang một thứ không gian thời gian bắt người ta phải nghĩ ngợi, ở làng tôi, từ em bé lên năm đến bà cụ chín mươi đều thuộc câu hát ru vừa lạ vừa quen này, chờ để nhìn thấy thỏ và mèo xuất hiện ở núi Chớp Vung là một trong những niềm vui (lớn) buổi ấu thơ của bọn trẻ chúng tôi, phải là mùa mưa để toàn bộ ngọn núi được thu nhỏ lại, chỉ còn là một chiếc vung úp nơi bầu trời, lúc bọn trẻ chúng tôi cho là dễ nhìn thấy nhất lũ thỏ và mèo, những con thú hoang trên núi, cứ tụ tập thành đám nơi hiên hè nhà ai đó trong làng, có khi là ngồi suốt buổi, suốt ngày, chờ, tưởng tượng về một thế giới hoang vu đã thành niềm háo hức của tuổi ấu thơ chúng tôi, chúng tôi đã chờ suốt buổi ấu thơ, và lũ thú ấy vẫn còn nguyên trong trí tưởng tượng của mình, sao lại có hai con thỏ nằm chung với mèo ở đây vậy mẹ, lúc học ở trường huyện tôi còn theo hỏi mẹ tôi, thì mẹ tôi cũng như những bà mẹ khác trong làng, ru con bằng câu hát có lũ thú trên núi, hát mà không biết hát thế là sao, tôi muốn hỏi mẹ là tại sao có chuyện thỏ nằm chung với mèo (một con nhút nhát, một con hay rình rập kẻ khác, khó có chuyện hòa hợp giữa hai tính cách ấy) mẹ tôi có lẽ bí, xưa nay vẫn hát nhưng nào hiểu hết nghĩa của câu hát, hai hay ba bốn năm sáu con thỏ gì nằm chung với mèo cũng được con ạ, mẹ tôi trả lời để cho có chuyện, tôi hát thử trong đầu (ngó lên hòn núi Chớp Vung/thấy bốn con thỏ nằm chung với mèo) thì thấy quả âm vận câu hát vẫn không đổi, nhưng ở núi Chớp Vung không phải chỉ có mỗi chuyện lạ thỏ nằm chung với mèo, chính núi là hóa thân của lòng thủy chung, chàng đi hái lá bần bần cho nàng uống lúc sinh con, hai năm rồi ba năm rồi sáu bảy chục năm chàng vẫn chưa về, nàng ôm con chờ, và đã chết hóa thành ngọn Chớp Vung (vẫn kiểu vọng phu tồn tại trên khắp mặt đất) rừng núi ở đây đã giấu trong nó lòng chung thủy, rốt cuộc, tôi cũng chỉ loanh quanh với những khái niệm duy lý (về sự hòa hợp, về lòng thủy chung) chẳng thể giải quyết được vấn đề vì sao có một câu hát ru khó hiểu (sao không nhìn thấy những thứ dễ nhìn thấy hơn khi nhìn lên núi, rừng cây xanh tươi chẳng hạn, hay con suối nước đổ trắng xóa, hay mây vần vũ đình núi vào những ngày mưa…) tôi cũng bí như mẹ tôi cho đến khi đọc được những gì ông nghè Quân chép trong văn tập Rối Rắm.

(bấy giờ ta bỗng thốt lên những lời chẳng ăn nhập vào đâu)

bấy giờ ta cũng thấy tâm can nhừ nát như bao nhiêu người khác trong làng, cái ngả ba lịch sử chết tiệt ấy, bấy giờ ta thấy như mình đang rơi vào thứ trận đồ lầm than, mộng mị, giống như những gì ta đọc thấy trong những cuốn tiểu thuyết cổ trang, chứ còn gì nữa, làng xóm thân thuộc bỗng trở thành trận địa vừa có tiếng súng nổ vừa ẩn giấu trong sự im lặng giả tạo những mưu đồ,

có đến hai nhà, không phải, có đến ba nhà, đúng hơn là ba nhà, dù đang thất thế, hay đang đổ nát, hay đang khởi lên, phải kể ra lúc bấy giờ có cả thảy là ba triều đại, mà dường như cả ba đều thấy ở mình bóng dáng chiêu dương, đều nghĩ mình là buổi sớm mai đầy hoa thơm cỏ lạ, thứ chủ quan luôn mang trong mình bóng dáng của chết, sự thật thì bấy giờ ở đâu cũng có thể nói là đêm trường lịch sử, thì chuyện mới xảy ra đó, ngay ở trong làng, nhưng đố ai có thể nói sự thật nó là thế nào, bấy giờ thì chẳng ai có thể nói được sự thật, kẻ qua sông Linh Giang truyền hịch gọi kẻ khác là giặc, kẻ bước ra từ núi rừng Tây Sơn thượng đạo gọi kẻ khác là thù chung của muôn dân, kẻ bôn tẩu phương nam gọi kẻ khác là kẻ thoán nghịch, đêm nằm nghe tiếng chó sủa trong làng và những bước chân vội vã trên con đường trước ngõ, ta cứ nghĩ là mình sắp bị mang đi, mang đi đâu ta chẳng biết, nhưng cứ có cảm tưởng là sắp bị người ta mang đến một ngõ ngách nào đó, bấy giờ lịch sử như những ngõ ngách tối tăm, bụi bặm, thường trực trong nghĩ ngợi của ta là nỗi sợ hãi, sợ ngã xuống nơi không còn có tiếng cười nói của con người, vào một đêm cuối xuân, cây cỏ trong làng còn gượng tươi xanh, vừa mới tối lũ chó trong làng đã sủa ối óng, như thể có đám người nào đó đang tràn vào làng đuổi giết lũ chúng, lũ chó sợ cũng phải, thường, kẻ lạ, đêm vào làng bắt ai đó trước phải giết lũ chúng, lần này thì như hết thảy lũ chó trong làng cùng sủa lên, tiếng chó sủa khiến tâm can ta nhừ nát như thể đang bị ai đó băm ta thành mảnh, sáng ra, ta cứ tưởng rất nhiều trai tráng trong làng đã bị người ta bắt đi như những lần trước, nhưng không phải, chỉ có mỗi ông hương trưởng Thời bị mất tích (bấy giờ thì gọi người đứng đầu trong làng là hương trưởng cũng được mà gọi là lý trưởng cũng được) người làng ta âm thầm tỏa đi tìm, nhưng chẳng thấy ông hương trưởng cũng chẳng thấy xác ông đâu cả, vợ con ông hương trưởng Thời đóng cửa khóc, ở cái thời đâu phải cứ muốn khóc là khóc muốn cười là cười, vợ con ông hương trưởng chờ, cả làng chờ, một tháng, hai tháng, rồi sáu bảy tháng, chẳng có tin tức gì, một hôm có người làng trông thấy ở sườn núi Chớp Vung xác người chết đã thối rữa, nhờ bộ râu và con dấu của trưởng làng còn nằm trong thắt lưng quần, người ta mới biết đó là ông hương trưởng Thời, nhưng chẳng ai dám nói chắc ông hương trưởng sợ, đi trốn, rồi chết trên núi, hay là người ta giết ông rồi đem bỏ trên núi, người làng ta lại âm thầm mang xác ông hương trưởng về nhà ông để khâm liệm, ta đến thăm, nhìn kẻ chết, cố nén nước mắt, thời buổi mạng sống con người nhỏ biết bao, ta chợt ngó lên hòn núi Chớp Vung thấy đôi con thỏ nằm chung với mèo.

________________

Ghi chú:
đoạn văn trên là trích trong văn tập Rối Rắm của ông nghè Lê Quân, tựa đề là do tôi đặt, văn tập chắc được làm vào khoảng cuối thế kỷ 18, ai đó bấy giờ đã đọc văn ông nghè Quân, và câu thơ lục bát đã truyền ra ngoài thành câu hát ru.

30

tôi lại đi núi Mun, tôi đi núi Mun bao nhiêu lần rồi nhỉ, chẳng còn nhớ, chưa có gì cả, chỉ là giấc mơ, lũ chim núi đã bắt đầu đổi giọng, như không còn nghe thấy thứ âm vực trầm buồn trong cách thúc bách những đám mây lẻ loi hãy mau quay về phương bắc nơi sản sinh những âm vang màu xám, tiếng chim thánh thót, có phần cao trào, gấp rút, nhưng vẫn lắng đọng những kết tập nghìn năm, hót là sự kết tập tinh hoa của một loài giống lấy chốn trời cao làm chỗ nương thân

phủ lên câu chuyện kể là những lời nguyền rủa đã tan thành những bụi bám vào chỗ thâm cùng trí nhớ, nhưng ai nguyền rủa và nguyền rủa ai là chẳng thể diễn giải, thứ ký ức trắng ấy tựa thứ thi ca vô thức luôn trỗi dậy vào những lúc cảm nhận được nỗi thống khổ đẹp nhất, mà cũng chẳng cần nói ra tên triều đại ấy, tên vì vua ấy, bởi tất cả những triều đại tội lỗi và những ông vua tội lỗi là cùng chung danh mục

cứ phủi đi rong rêu bám trên mặt đá sẽ nhìn thấy dấu vết

nói lên chùa Nước Nâu thực ra là tôi lên suối Nước Nâu trên dãy núi Mun tương truyền có ngôi chùa ngay cạnh suối đã đổ nát tự những thế kỷ trước để tìm lại những thứ chỉ có kẻ ngu ngốc như tôi mới cất công đi tìm, thứ tôi tìm là một khái niệm mong manh thỉnh thoảng người ta lại lôi ra khỏi dòng chảy lịch sử rồi lại hô hoán là không phải, cả suối Nước Nâu lẫn dãy núi Mun là nằm trong số những sông núi hạng bét của đất nước tôi, có nghĩa, nếu tôi không nói ra, thì chẳng ai biết chúng ngoài những kẻ cày ruộng dưới chân dãy núi ấy, vào một sáng một ngày nắng nóng những người làm than củi ở làng tôi vào núi Mun phát hiện thấy một ngôi chùa mái tranh vách lá đã được dựng lên bên bờ con suối đá, vị trụ trì là một chàng trai trẻ bảo người đệ tử duy nhất của mình, một ni cô xinh đẹp, đón những người làm rừng vào chùa để nghe giảng kinh, chuyện kể bắt đầu như vậy, mấy trăm năm qua vẫn cứ bắt đầu như vậy

cứ phủi đi rong rêu bám trên mặt đá sẽ nhìn thấy dấu vết 

tôi ngồi nơi bờ suối Nước Nâu, đã sang hạ, nhưng suối vẫn còn dòng chảy, cố tìm trên con nước lung linh chút dấu vết của kẻ đang đêm thoát khỏi cuộc truy sát của một vương triều đang rũ rượi trong tranh giành ngôi báu, núi Mun… núi Mun, chỉ nhìn thấy trong niềm lặng yên sử lịch tiếng thì thầm của xứ sở, ngày ấy… đã để lại lời truyền tụng: Nguyễn Phúc Lan, con trai thứ của Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) vừa lên ngôi báu đã giết sạch đồng đảng của em ruột mình, Nguyễn Phúc Anh, nhưng lại bỏ sót một viên quan trẻ của Anh vốn là người tình của quận chúa Ngọc Khoa, con gái thứ ba của Sãi vương… (việc một người sống sót trong cuộc thanh trừng đẫm máu lại dẫn đến một cuộc tu, một cuộc tình, và một cuộc thanh trừng đẫm máu khác)

cứ phủi hết rong rêu trên mặt đá là thấy được thứ khái niệm mong manh thỉnh thoảng người ta lôi ra khỏi dòng chảy lịch sử rồi lại hô hoán là không phải: khái niệm về một khúc sử tăm tối

cũng có lúc người ta nghĩ đến một lúc nào đó vị trụ trì chùa Nước Nâu, sư Minh Từ, người thoát chết trong thanh trừng ở kinh, và ni cô xinh đẹp, vốn là quận chúa Ngọc Khoa trẻ tuổi, sẽ cho ra đời một anh sư con, nhưng không, nơi bờ suối Nước Nâu có đủ thứ rau quả đủ đổi gạo nấu cho nhà chùa, đêm người xứ Rừng Trên nghe tiếng kinh kệ từ trên núi vẳng xuống, ai cũng nghĩ đất Phật là chốn bình yên, thầy trò sư MinhTừ vừa kinh kệ vừa cuốc đất trồng rau, đêm đông khí núi buốt xương, Ngọc Khoa trải tóc làm chăn đắp cho Từ bớt lạnh, nắng rừng nung đốt trưa hè, Từ xuống nằm nơi lòng suối đá, có Ngọc Khoa kề cạnh, thịt da truyền cho nhau sức vĩnh hằng, chẳng lẽ Phật chẳng vui khi thấy giữa chốn trần ai nảy sinh cuộc tình duyên kỳ tuyệt, núi không nói ra, chim rừng không nói ra, người Rừng Trên không nói ra, giấu kỹ đoạn đời đày đọa của một kiếp người là trái với đạo trời sao, năm tháng chẳng làm vơi chút nào sự kỳ tuyệt kia, chỉ khiến cho tóc của Từ và Ngọc Khoa bớt đi màu trẻ trung

núi Mun, núi Mun… dãy núi gắn liền với lịch sử làng tôi, mãi mãi, tôi muốn nói những lời thật lòng về nó, để cho tôi không còn phải khổ sở nghĩ hoài về nó, núi, như hình ảnh, hay như những lời lặng lẽ và cẩn mật, bởi núi chứa đựng quá nhiều những sự tích như những gì được nén giữa đằng đẵng tháng năm (nén, và vang động) chốn vũ trụ nhỏ nhoi nhưng chạm vào lại vang lên những ngữ nghĩa huyền nhiệm

cứ phủi đi rong rêu bám trên mặt đá sẽ nhìn thấy dấu vết 

vào một sáng, khi mặt trời soi rõ núi rừng, những người làm rừng vào núi Mun đã nhìn thấy cảnh hành hình diễn ra ở chùa Nước Nâu: vị sư trụ trì và ni cô của chùa đều bị trói chặt, đặt nằm sát bên nhau ở sân chùa, lúc người cầm đầu đám lính triều hô chém, thì đầu của hai người cùng văng ra một lúc… mấy trăm năm qua truyện vẫn được kể như thế 

hay núi là mật ngôn

31.

với trường hợp ông Hoành (Lê Hoành, cháu mấy chục đời của ông nghè Lê Quân) thì không phải mật ngôn, mà là triết ngôn, rượu vào ta, trời đất vào ta, ông Hoành nói, triết ngôn về rượu của ông, triết ngôn là cách nói của tôi, người chép sử làng, để cho thấy tầm quan trọng của một sự kiện mang tính chất xã hội học, thật ra thì chẳng có hệ thống triết học nào ở đây cả, triết ngôn chỉ là từ ngữ người chép sử làng muốn cường điệu một chút cho sang trọng ngôi làng quê heo hút của mình, sự vĩ đại không thuộc về ngôn từ, mà thuộc về việc làm của ông Hoành, đậu tú tài văn chương, rồi đi làm thông dịch cho lính Mỹ trong chiến tranh, rồi bị người mình bắt làm tù binh, rồi được người mình cho về ngôi làng của mình, ông Hoành cày ruộng, nuôi dê (cày ruộng để có lúa ăn và nuôi dê để có sữa uống) thằng cha này định chống lại cuộc toàn cầu hóa trong cái thế giới phẳng này chắc, mấy nhà thông thái ở kinh nghe chuyện ông Hoành thì phát biểu thế, đùng cái, ở cái tuổi bảy mươi, ông Hoành neo lại với thứ triết học về rượu của ông: rượu vào ta, trời đất vào ta, con người đã đi khắp mặt đất, uống đủ thứ rượu Âu rượu Mỹ, đọc đủ các thứ sách vở văn chương triết học, bỗng phát hiện ra con đường đi của rượu, một cuộc hành trình khép kín, như kiểu triết học vòng tròn của miền phù sa Ấn Hằng, con người làm ra lúa gạo, rồi đem lúa gạo chưng cất thành rượu, rồi rượu lại vào trú ngụ trong con người (con người - lúa gạo - rượu - con người…) ông Hoành nghĩ ra thuyết lý, và thực hành thuyết lý, nhưng thưa cụ, vì sao cơm rượu phải ủ giáp năm mới đem ra chưng cất, tôi hỏi (bấy giờ, ở trong làng, mọi người đều gọi ông là cụ Hoành, mà ông Hoành, ý chừng cũng rất thích người ta gọi mình là cụ) hạt gạo vốn mang trong mình tiếng nói của trời đất giờ đem ấp ủ chúng giữa trời đất suốt cả năm là để cho tiếng nói ấy rõ hơn, ông Hoành giải thích, đấy là cuộc trò chuyện đầu tiên về rượu giữa tôi và ông Hoành, bao nhiêu năm qua, ở dưới chân dãy núi Mun, làng tôi, vẫn âm thầm diễn ra sự kiện như thể cơn gió trong lành chợt thoảng qua giữa cái oi bức của thời thế và những áp lực chết người của cơm áo, cũng ngắn ngủi thôi, nhưng những nói cười vui vẻ đã cất lên, một khoảnh bình yên, một hai ngày gì đó thôi, rượu vào ta, trời đất vào ta, một cuộc giao hòa kỳ tuyệt giữa con người và trời đất đã được xác lập giữa cuộc chuyển động ồ ạt của thế giới: ngày rượu ông Hoành, cũng chỉ một vài vuông thóc gì đó thôi (thóc tự tay ông Hoành làm ra) đem xay thành gạo, mồng bảy tháng chạp (âm lịch) năm trước đem ủ làm cơm rượu, mồng bảy tháng chạp năm sau đem ra chưng cất, rượu của lão Hoành này có đủ thi vị của mùa, uống rượu của lão Hoành này là nhảy tỏm vào giữa cuộc chuyển động của mùa, bài phát biểu của ông Hoành trong ngày rượu ông Hoành, hàng năm, vào mồng bảy tháng chạp âm lịch, cả làng tôi kéo đến nhà ông Hoành để uống rượu với ông, rượu chính tay ông Hoành đứng ra chưng cất, rượu chưng cất tới đâu uống tới đó, uống rượu nóng, uống cho đến khi không còn giọt rượu nào mọi người mới được về, vào ngày ấy, ở làng tôi, chỉ trừ những em bé, còn lại, tất cả đều say (cả những ông bà lão cũng sắp kết thúc cuộc đời) có thể đều say nằm cho đến ngày hôm sau, có nghĩa, dừng lại chuyện cày bừa, heo qué, dừng lại tất cả, để trải qua những phút bình yên giữa cuộc sống bất trắc, mỗi năm uống rượu một lần, say một lần, để được bình yên một lần, đó, cốt lõi triết học về rượu của ông Hoành, nếu muốn nói đó là triết học, nhưng đó có phải là khởi xướng cho một nền văn hóa mới dưới chân dãy núi Mun thì tôi không biết.

_____

Tôi phỏng vấn (chớp nhoáng) ông Hoành:

(Có một cái gì đấy đang cựa quậy)

thưa cụ, để cho dễ nhớ đối với mọi người, cụ có thể tóm tắt cuộc đời cụ, cho tới hiện giờ, một cách vắn tắt?

được sinh ra dưới chân dãy núi Mun, gần gũi với gió chướng sơn lâm, ngày ngày nằm nôi, bú sữa mẹ, và có thể nghe cọp gầm trên núi, rồi ăn cơm, uống nước, lớn lên, đi lòng vòng trong làng, để cày ruộng, chăn bò, rồi ăn chữ, rồi ra khỏi làng, lòng vòng trên mặt đất, chán, quay về, thì làng xóm cũ hơn xưa, có thể là rất buồn, tự làm ra rượu, để uống

và những ngày đi lòng vòng trên mặt đất, có thể nói vắn tắt, cụ đã nhìn thấy những gì?

nhiều lắm, nhưng có thể nói gọn thế này, thấy con người đang đi trên đường, đông lắm, có lúc dừng lại khóc, rồi lại đi, có khi lại dừng lại, cười, hay nhảy múa, hay ca hát, hay la hét, có khi lại dừng lại để ca ngợi nhau, hay chửi bới nhau, hay bắn giết nhau… nói tóm, ta có cảm tưởng tất cả là đang lạc đường

chỉ có thế sao?

chỉ có thế

nhưng cụ, thì cụ có nghĩ mình lạc đường?

không đời nào, vì ta đã trở về nơi ta sinh ra

xin cụ nói cho dễ hiểu hơn một chút?

còn nhớ đường trở lại nơi ta từ lòng mẹ chui ra mặt đất tức trong ý thức của ta còn nguyên hình ảnh nguyên sơ

như thế, kẻ không bao giờ lạc đường là kẻ không bao giờ đánh mất cái đã làm nên hình dạng người nguyên sơ của mình?

nói như thế cũng được, nhưng nó có vẻ im lìm quá, phải thêm vào như thế này, sở dĩ ta không thể đánh mất ta, tức ta không thể để ta biến thành đồ vật, bởi trong ý thức ta có một cái gì đấy đang cựa quậy.

32.

và bây giờ là chuyện ăn chữ tôi trích trong văn tập Rối Rắm của ông nghè Quân:

chúng ăn chữ no nê rồi thì nhả ra đủ thứ, lúc đầu là ta thấy chúng nhả ra hoa bướm lượn lờ trên những đài, những các, những lâu, những biệt thự, biệt phủ, chúng ra khỏi nhà là rập rình xa mã, tiếng ngựa hí vang lừng giữa buổi chiều dạ hội mỹ nữ mỹ nhân hoa khôi hoa hậu dập dìu như nước chảy hoa trôi, nhưng đi đâu chúng cũng nhớ về nơi ăn nằm của chúng như thứ hang ổ sầm uất và vĩ đại theo cách nhìn đương đại, chữ vào bụng chúng rồi thì biến chúng thành những hoa bướm lượn lờ trên da tóc giai nhân, chữ vào bụng chúng thì làm cho thân thể chân tay chúng dịu dàng ra, làm cho tiếng cười nói của chúng mềm ra, để ôm ấp những hoan lạc cuộc đời luôn làm cho kẻ khác lầm tưởng những vòng tay của chúng là vòng tay của kẻ thanh cao, mà thật, chữ vào thì những đồng tiền chúng kiếm được qua những ngõ ngách dơ bẩn lập tức biến thành những đồng tiền có vẻ danh giá (vì những xuất xứ của chúng được hô lên luôn mang tính toàn cầu, tiền được chuyển từ ngân hàng thế giới, tiền được chuyển từ ngân hàng xuyên quốc gia, vân vân- những chữ tôi thêm vào(*) nói cách khác, không ẩn dụ, đồng tiền dơ bẩn sau khi được chữ nghĩa làm phù phép thì biến thành những chốn trú ngụ như chốn thần tiên trên mặt đất, mà thật, đứng giữa những chen chúc nghèo nàn, những khu phố ổ chuột, những mái ấm dưới gầm cầu, những dịch chuyển vô chừng giữa nắng mưa, sẽ sững sờ, hay sẽ thẫn thờ, rất lâu, trước những gì như phép màu của các vị thần có những cái tên vô cùng mới mẻ (corporation, hay group, hay tập đoàn, cũng thế- những chữ tôi thêm vào) ngày đêm chúng dùng chữ nghĩa mỹ miều hoa gấm khêu gợi, mời mọc tưng bừng, rằng mọi người hãy đến với chúng, ăn chữ no nê rồi thì ngoài việc nhả ra hoa bướm, chúng còn nhả ra những cách thức làm ra thức ăn, chữ và thức ăn, chúng đã dùng chữ huy động cả những động vật, cả những thực vật, cả những khoáng vật, tức cả những sinh vật lẫn bùn đất, cộng tác với chúng, ở những nơi kín cổng cao tường, một cuộc nghìn năm lồng lộng bóng dáng của chuyển động ồ ạt như những bước đi ồ ạt của các vị thần, để làm ra các thứ thức ăn cho con người, ngày đêm quay cuồng với niềm đam mê nhan sắc giàu sang, chúng đã quên bẵng, hay chẳng còn nhớ chút nào, rằng con người là ăn những thứ thức ăn khác hẳn với những thức ăn của loài cầm thú, ôi, thời chữ làm ra thức ăn, thời con người ăn chữ, ăn chữ no nê rồi, ngoài việc nhả ra hoa bướm và nhả ra thức ăn, ta còn thấy chúng nhả ra thứ sản vật đẹp như những đám mây ngũ sắc trên trời buổi sớm mùa xuân có tiếng hót của chim sơn ca thơm lừng mùi đất, không, còn đẹp hơn thế, bởi đây là những sản vật con người ăn vào sẽ thấy mình bay bổng tận chốn cao ngất cao sang cao cả còn có tên là cõi hạnh phúc, cõi tự do, nó là cõi đời mới (chữ của ông nhà thơ Tản Đà hồi những thế kỷ trước- chú thích của tôi) sau khi ăn những sản vật của chúng, con người sẽ bỏ lại tất cả tất cả những lầm than thống khổ, vạn tuế chữ nghĩa, lũ người chế biến hạnh phúc và tự do luôn mồm ca ngợi, o bế chữ nghĩa, ăn chữ no nê rồi, ngoài việc nhả ra hoa bướm, thức ăn, nhả ra hạnh phúc và tự do, ta thấy chúng còn nhả ra những cách thức chế biến rác, tức, chế biến từ những thứ thế giới đã vứt bỏ từ lâu, những thi văn ca tụng đám vua chúa tàn bạo, những cuốn sử chép không thật, những thuyết lý từng mang lại chết chóc cho con người, ta thấy chúng cong môi lại để nói lại thành những lời mới mẻ từ những gì từ lâu đã thành rác rưởi, ôi, thời con người chế biến chữ cũ thành chữ mới, thời con người chế biến chữ từ rác, ta đã gặp đứa ăn chữ, thằng bạn nối khố của ta, đến chết ta cũng chẳng thể tha thứ cho thằng đó, vào một sáng mùa hạ, nơi kinh sư, các quan triều đi chầu buồi sáng nhiều kẻ vẫn còn cho ngựa đủng đỉnh trên đường phố, ta rời làng quê đi kinh sư lần này là để thăm thằng bạn cùng làng đang làm quan ở bộ lễ, ta phải đi cho biết vì có nhiều lời đồn rằng bạn ta đang xu nịnh vua để ngoi lên địa vị cao hơn, ta biết anh ta đang làm chức quan nhỏ, chỉ là nằm nhà để sao chép các thứ sử sách cho bộ lễ, do đi ngựa cả đêm nên mới sáng sớm ta đã có mặt ở kinh sư, bạn ta có vẻ bối rối khi thấy ta xuất hiện đột ngột, anh ta vội vã cất vào hộc bàn những giấy tờ đang viết hay đang đọc gì đấy lúc ta vừa bước chân đến cửa, ta có hồ nghi về một việc làm không đàng hoàng, xa bạn lâu ngày chưa kịp mừng đã thấy tức giận, ông đang giấu ta chuyện gì có phải không, ta hỏi, và nhìn thấy trên mép bạn ta đang dính đầy những mẫu tự hình nêm, có giấu gì đâu, bạn ta lắp bắp nói, ta liền lôi trong hộc bàn ra: một bản viết trên giấy papyrus với chằng chịt những chữ hình nêm, một bản viết trên giấy hẩm bằng chữ Nôm, những lời bàn của các pharaong, các vua Ai Cập cổ đại, về cách trị nước, hắn đang học làm vua ư, vừa thoáng nghĩ thế ta đã nghe như máu trào lên óc, chẳng nửa lời từ biệt, ta lẳng lặng lên ngựa, quay về, biết đâu chữ nghĩa lại giúp hắn trèo lên chỗ ngồi hắn mong ước, trên đường về lại quê, ta nghĩ mãi nghĩ mãi về thằng bạn nối khố của ta

_____

(*) Xin lỗi cụ nghè Lê Quân, cũng chỉ vì muốn cho bài viết của cụ hợp với đương đại mà tôi đã thêm một số từ vào bài viết của cụ

33.

nhưng ở làng tôi, có một người, ông Hai khép cối xay lúa, lúc sinh thời chẳng có mấy chữ nghĩa, sau khi chết lại ra người thông thái, ông đã trở lại làng chỉ để làm mỗi công việc là giải đáp chất vấn của tôi, thứ chất vấn nghịch ngợm của tuổi thơ, hồi ấy, tôi đã buột nói ra vào lúc ông ấy vừa hoàn tất một công trình vào thời ấy có thể nói là thành quả trí tuệ của những người đi chân đất (có phải ông Hai đương lái cỗ máy xay lúa đi chơi hay không?) nói rõ ra là tôi đã đưa ra câu hỏi đúng vào lúc ông Hai khép cối xay lúa đang làm thử công việc xay lúa, tức là lúc cái cối xay lúa đương thử chức năng xay của nó.

qua cũng phải nói cho em rõ là hồi ấy qua dư sức để trả lời em, có điều bấy giờ cứ mở miệng ra để nói thì lại thấy mình thiếu hụt lời lẽ để nói ra một sự việc mà chưa chắc là ông cha ta thời trước đã có thể nói ra

với tuổi thơ của tôi hồi ấy thì ông Hai khép cối xay lúa là một tay đầy quyền lực, dám lấy đất ở mấy ụ mối chỗ miếu âm hồn đầy ma quỉ để khép cối xay lúa chẳng phải quyền lực là gì, cái cối xay lúa của nhà tôi chưa phải đến lúc bỏ đi, nhưng cha tôi vốn là tay đi chân đất thuộc loại chơi sang trong làng, mẹ lũ nhỏ hãy đi kêu ông Hai khép cối xay, quyết định đưa ra vào bữa ăn tối, tờ mờ sáng bữa sau là tôi đã thấy ông thợ cối xay lúa đầy quyền lực ấy đến gặp cha tôi, cái cối xay mới khép có hơn năm đã hư rồi sao, ông Hai hỏi, chưa, nhưng mẹ của lũ nhỏ muốn có cái cối xay mới để ở trong nhà, cha tôi nói, bản hợp đồng thi công vắn tắt được ký kết giữa tay đi chân đất chơi sang là cha tôi với tay khép cối xay đầy quyền lực.

thì em cũng thấy đấy, hồi ấy thì coi như một mình qua phải đi khắp nơi để làm thứ công việc coi như ngoài qua là chẳng còn ai, đương hai cái vỏ cối là mất một buổi, khép thớt cối trên cũng mất một buổi, nhưng khép thớt cối dưới là phải mất một ngày, thì em cũng biết đấy, dòng họ nhà qua đến qua là đời thứ bảy làm nghề khép cối xay lúa, tại sao không nói làm cối xay lúa mà là khép cối xay lúa em biết không, là ý nói cối xay lúa cốt ở bộ răng của nó, mà làm bộ răng tức là khép những mảnh gỗ ấy lại với nhau cho thành cái thế trận răng sao cho nó làm được công việc chủ yếu của cái cối xay lúa là sau khi xay thì lúa được bóc hết vỏ

bấy giờ tôi mê việc xem khép cối xay lúa đến nỗi cứ mong cho cái cối xay lúa của nhà mình phải hư gấp đi để cho tôi lại được gặp con người đầy quyền lực ấy, từ chiếc bao lác cũ kỹ là ông ấy bắt đầu trút ra một công cuộc, đối với tôi lúc bấy giờ, nếu nói theo cách nói ngày nay, là công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, những vật dụng thần kỳ là được trút ra từ một chiếc bao cũ kỹ, tôi nhớ, hết thảy chúng là được làm từ tre, gỗ, những mảnh gỗ vuông vức khoảng bàn tay của con người là được bào chuốt bóng láng mà ông ấy gọi là bộ răng xay, những vồ, đục, hết thảy chúng là được tạo ra từ thứ gốc tre khô rắn chắc, cho nên khi một chiếc vồ chạm vào một chiếc đục thì vang lên rặt thứ âm vang đồng ruộng, những đất ụ mối dẻo dai cướp từ tay lũ ma quỉ ở gò miếu âm hồn là được cho vào các vỏ cối, có phải đấy là lúc ông ấy muốn tỏ cho cả thế giới biết sự tồn tại của ông như một thứ quyền lực, những động tác mạnh mẽ nhất của cơ thể là được ông đem ra dùng vào việc nén thứ đất mang mùi ma quỉ vào các vỏ cối, và, cái giờ phút quyết định của công trình là chẳng phải kém phần long trọng khi đem so một cách khập khiễng với chuyện lắp nối phi thuyền của ngày hôm nay, bấy giờ là ông nghiêm cẩn rải những chiếc răng gỗ lên thứ đất mang mùi ma quỉ, tức khắc, đám răng gỗ chuyển thành thế trận, và dường như toàn bộ trí não của ông lúc bấy giờ là được đem phổ hết vào cái thế trận răng như một thứ hòa âm kỳ tuyệt của nền cơ học cổ điển, thì chẳng phải việc tạo tác một chiếc cối xay lúa là thuộc về những khám phá cơ học cổ điển hay sao, tôi nói là hòa âm bởi bấy giờ là ông bắt đầu cúi xuống với những đục, vồ, và bắt đầu nén, vỗ, nện, thứ âm vang đồng ruộng là cứ tiếp tục vang lên, đam mê và cuồng nhiệt, cho đến lúc ông ấy ngẩng lên, vung nhẹ người một cái như thể để rũ bỏ hết những sai lầm khiếm khuyết trong công cuộc điều chỉnh thế trận răng

phải rồi, là qua cũng phải nói cho em biết, là hồi ấy qua nghe nói ở bên Tây họ muốn làm một cỗ máy gì đó là phải làm bằng kim khí, chứ không như ở xứ mình, phải nói là cha ông ta rất tài giỏi mới nghĩ ra được cái cách làm một cỗ máy xay lúa mà chỉ làm bằng đất với tre với gỗ.

như thế là ông ấy trở lại làng tôi chỉ để làm mỗi công việc nói cho tôi hiểu một cách tường tận về cái cối xay lúa, ông Lê Quí Đôn, tiếng là nhà bác học của nước ta, nhưng hồi cuối thế kỷ 18, khi vào ngồi làm quan ở Phú Xuân, viết sách Phủ Biên Tạp Lục, lúc nhắc đến đất Thuận Hóa, tức cũng là nhắc đến làng tôi, chỉ nói nhiều đến dệt vải, dệt chiếu, làm nón, đúc nồi, đúc mâm, tiếng là nhà bác học mà khi nói đến việc làm ruộng là cái nghề chính của dân đi chân đất ở Thuận Hóa, chỉ nói một câu Ba phủ Qui Nhơn Quảng Ngãi Gia Định thì thóc gạo không kể xiết, không hề có nửa câu nói đến cái cối xay lúa, là thứ không thể không đi kèm với thóc gạo, còn ông Phan Huy Chú, cũng là nhà bác học của nước ta, hồi đầu thế kỷ 19 bắt đầu soạn sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, đến hơn nghìn trang, nhưng cũng chẳng có nửa câu nói về cái cối xay lúa.

thì qua cũng phải nói thiệt với em, là hồi ấy, lúc em hỏi có phải là qua lái cỗ máy xay lúa đi chơi hay không, thì thiệt tình là cầm cái giằng xay, qua vừa xay thử cái cối xay mình vừa khép xong, qua vừa nghĩ tới mấy nước Chà Và, Ấn Độ, thiệt tình là bấy giờ qua cứ ao ước làm sao mình có được một cái quần lãnh, hay một cái áo lụa, là lãnh với lụa của mấy nước ấy đấy.

phải nói là ông ấy chết chỉ mấy chục năm mà cách thức nói năng khác hẳn với hồi còn sống, ông mô tả về sự tồn tại của một cái cối xay lúa như là sự tồn tại của cái yếu tố là làm sao cho bộ răng xay của nó làm được công việc bóc vỏ lúa, sự tồn tại của cái này là đặt trên sự tồn tại của cái kia, cái cách nói của một kẻ có tư duy hẳn hoi, chẳng lẽ sau khi chết thì ông Hai khép cối xay lúa đã trở thành nhà tư tưởng.

chẳng có gì đâu, thời trước xa thời của qua thì nghe nói là thằng Tàu nó làm tê liệt, rồi tới thời của qua thì thằng Tây nó cũng làm tê liệt, dân đi chân đất bọn ta cũng dễ bị tê liệt lắm, thì có sao đâu, em cứ nói với con của em, rồi con của em nó sẽ nói lại với con của con của em, những điều qua nói ra đây là do qua nghĩ ra, là tổ tiên ta tài giỏi mới nghĩ ra được cái cối xay lúa, cầm cái giằng xay để xay thì thấy mình như đang đi đâu đó thiệt xa, thấy đi thiệt xa mà là chửa đi, cầm cái giằng xay để xay thì thấy mình đang ở yên một chỗ, ở yên mà không phải là ở yên, tức là thấy mình đang lẩn quẩn ở trong cõi, mà dẫu biết mình chỉ lẩn quẩn trong cõi thì cũng tránh được cái nạn tê liệt trí não. 

thì cứ coi như ông ấy là cha đẻ hệ thống triết học ấy

34.

một niềm thống khổ ngự trị từ lâu, hay một niềm vui vừa ngang qua cuộc đời ai đó, hay một tỉnh thức sau những năm tháng u mê, hay một cuộc trở về tưng bừng của một người chết đã quá lâu… rốt cuộc ngôi làng tôi đã sinh ra ở đó có phải là chốn trải nghiệm của tồn tại hay không, ba mươi người chứ không phải bốn mươi người như nhiều người tưởng, đến Rừng Trên, vùng rừng núi kéo dài của dãy núi Mun trùng điệp, ở đấy không phải chỉ có ba mươi người, còn có rừng cây sầm uất, còn có những con suối đầy muỗi vắt, còn có lũ chim kêu réo suốt ngày, có lũ thú hiền hậu, thỏ, nai, có lũ thú hung dữ, voi, gấu, cọp, một cuộc tranh giành chỗ ở, âm thầm và khốc liệt, hàng ngày có bao nhiêu thứ ngã xuống, đám cây rừng ngã xuống, lũ thú rừng ngã xuống, chim chóc ngã xuống, con người ngã xuống, sơn lâm chướng khí ăn con người, muỗi vắt ăn con người, rắn rít và voi cọp ăn con người, còn con người thì ăn cây rừng, ăn chim chóc, ăn nai thỏ voi cọp, cuộc ăn qua ăn lại diễn ra trong bao nhiêu năm tháng không ai biết, cuối cùng thì trong số những người đến Rừng Trên có người trò chuyện được với muông thú, người ấy nói những gì với lũ chúng không ai biết, cuối cùng, lũ muông thú lùi sâu vào chỗ núi rừng sâu hơn, nhường đất Rừng Trên cho con người, khi con suối Tượng (hợp lưu của hết thảy những con suối phát nguồn từ núi Mun, con suối còn mưa còn nước, hết mưa hết nước) chảy ngang qua miền đất có lúa khoai lên xanh, và người ta gọi nó là sông Tượng, thì những người đã đến Rừng Trên buổi ấy chỉ còn lại ba người, mấy trăm năm chuyện vẫn được kể như thế, khiến những kẻ hậu sinh luôn sống trong niềm thao thức rằng có phải nơi mình sinh ra là chốn thể nghiệm về một cộng đồng xã hội gồm có cả những sinh vật tư duy, những loài giống con người, và những sinh vật không có tư duy, những rắn rít, chim chóc, voi, cọp, và tạo tác đã thất bại, nửa khuya tôi nằm nghĩ ngợi về cuốn sử làng tôi đang viết, nhưng anh có biết mọi chuyện bắt đầu từ đâu không, ông Quân (ông nghè Lê Quân ở làng tôi hồi cuối thế kỷ 18) chợt xen vào khiến tôi nghĩ ngợi rất nhiều, sao lại là ông nghè Quân nhỉ, nếu là chuyện thật thì cuốn sử tôi đang viết có thêm những kiến giải của một bậc đại bút mấy trăm năm trước, thưa, kẻ hậu sinh đang lắng nghe đây, tôi nói, ngoài bờ rào vườn nhà tôi con ấp muỗi đã thức dậy, một tiếng vỗ cánh nhẹ gõ lên bóng đêm như đang khắc vào dịch chuyển một cuộc hội ngộ chưa từng, bao giờ cũng là một tiếng vỗ cánh của con ấp muỗi, có vẻ như một cách nói ra thành lời của tồn tại, nhưng cách nói của ông nghè Quân lại giống như một cuộc làm chậm lại, hay ngưng lại chốc lát rồi lại tiếp tục trôi, của một dòng chảy trôi qua những ngõ ngách bất trắc, khởi đầu mọi sự là im lặng chăng, ông nghè Quân bắt đầu câu chuyện, nhưng không được, nếu thế cái gì sinh ra những vang động sau đó, tiếng rền của núi, hay tiếng gào khóc của con người nơi mặt đất, hay khởi đầu của mọi sự là cuộc vang động lớn nhất trong những vang động, nhưng nếu thế cái gì sinh ra những im lặng sau đó, nghìn năm bờ đá lặng câm nơi bờ suối, mà trời đất cũng có nói gì đâu, trời đất vẫn lặng im theo nghĩa rộng nhất của từ này, hay khởi đầu mọi sự là cả im lặng lẫn vang động lưng trời, nhưng nếu thế thì cái gì sẽ giải thích cho những gì đã xảy ra sau đó, chỉ là thế này, hoặc chỉ là thế kia, hoặc là chân lý, hoặc là sai lầm, một ngày tháng bảy, nắng, lúa trên đồng làng đang khô héo vì những tháng liền không mưa, ở trong vườn nhà ta đám cây ăn trái cũng đang chờ nước như lúa trên đồng làng, ta thấy chúng bơ phờ như thể đang lạc lõng giữa một thế giới có vẻ như không còn có mối liên quan nào giữa các sự vật, có, bên dưới những tàng cây của chúng lũ gà đang trốn nắng, nhưng đấy đâu phải chốn nương thân của đám gia cầm chỉ còn trông chờ vào mỗi việc tìm kiếm các thứ côn trùng gần như đã cạn kiệt ở bên dưới mặt đất trong vườn nhà, cái buổi, chỉ có mỗi chuyện nắng, đã làm rối tung lên mọi thứ trong một ngôi làng nhỏ bé, ta cứ cảm thấy như có kẻ nào đấy, ai nhỉ, đang mỉm cười nhìn ngắm bọn ta: lúa héo trên đồng làng, đám cây cối và đám gà đang đói khát ở trong vườn, và ta, kẻ như đang bị tước hết mọi quyền lực trong việc cai quản đất đai, chẳng lẽ có ai đó đang đùa giỡn với bọn ta, nhưng bà lão nhà bên lại chạy sang như để cầu cứu ta, kẻ có nhiều chữ nghĩa nhất trong làng, hãy cứu lấy con trai của già này, bà lão phều phào, bà ấy cứ tưởng chữ nghĩa của ta sẽ ngăn được cơn giận dữ của lịch sử, ta đã chạy sang nhà bà lão, thì một mảnh hồn trần đang bị hất tung ra khỏi cuộc tồn tại, một người đàn ông đang giãy dụa trên máu, kẻ xóa sổ cuộc sống của một con người là một kẻ nỗi giận dữ gần như để lộ ra hết trên nét mặt và trong cung cách cầm cây gươm, ai muốn ngược chính nghĩa thì chết, kẻ ấy thét, rồi lệnh cho đám tùy tùng rời khỏi nhà bà lão, ta biết khi một người nhân danh chính nghĩa nhất định là phải đến từ một ngõ ngách lịch sử nào đó vẫn tự coi mình chính nghĩa, nhưng nực cười, con trai bà lão, con người vốn là kẻ hiền lành nhất làng trong cách nhìn của kẻ nhân danh chính nghĩa lại là kẻ ngược chính nghĩa, tự dưng lũ quạ lại kéo đến dày đặc bầu trời trên đầu ta, để tiễn biệt một con người vừa mới rời bỏ cuộc sống, hay chỉ vì mùi máu, hay chỉ vì lũ gà đang sắp chết trong những khu vườn trong làng, lũ quạ, nếu kéo tới tìm mồi, lại cũng là một lũ sát thủ, ta, kẻ nhiều chữ nghĩa nhất làng, vẫn không hiểu tại sao chỉ trong một khoảnh ngắn ngủi thế lại có thể diễn ra bao nhiêu thứ , cũng như sau đó, khi ấy ta chết cũng đã khá lâu, cũng không hiểu tại sao lại diễn ra như thế, ta đã gặp lại đúng cái thằng cha đã xách gươm chém chết con trai bà lão hồi ấy, bây giờ thằng cha ấy cũng cầm đầu một đám người cũng có vẻ buồn bã như lúc thằng cha ấy chém chết con trai bà lão, chết rồi cũng có những nỗi buồn giống như khi chưa chết hay sao, và khi nhìn thấy ta, thằng cha ấy, vẻ mặt cũng kiêu căng như hồi ấy, là người chép sử làng anh có biết như thế là thế nào hay không, chẳng lẽ loài người chỉ có mỗi thứ lịch sử, nay diễn ra ở nơi này, mai diễn ra nơi kia, một cuộc đùa nghịch ư… một giấc mơ vô cùng rối rắm, thức dậy, tôi nằm nghĩ mãi nghĩ mãi những lời ông nghè Quân trong mơ

35.

cuối cùng thì chúng tôi cũng có được cuộc đoàn tụ, cha mẹ tôi, anh Hai Lực tôi, và tôi,

liệu con có làm được hay không, thấy anh tôi loay hoay sắp xếp lại những xương chân xương tay, cha tôi nói,

còn mẹ tôi chỉ ngồi lau nước mắt,

anh trai tôi chết trước cha mẹ tôi, chết đến hai lần, lần đầu là bị treo cổ trong cuộc thanh trừng đẫm máu của làng, và lần sau là bị trúng bom chết ở gò thổ mộ của làng,

mấy cái xương chết tiệt hành hạ con suốt, anh Hai Lực tôi nhìn cha mẹ tôi, nói, chẳng tỏ chút đau đớn, nhưng tôi cũng phải đi lấy cuộn băng để giúp anh ấy băng bó lại chân tay,

đêm tháng ba, lũ côn trùng nơi bờ rào trước nhà đã bắt đầu tấu lên bản dạ khúc giữa đêm, tôi gọi là dạ khúc là để cho cuộc đoàn tụ chỉ có thể diễn ra trong đêm trở nên sang trọng,

buồn, cha tôi kêu buồn khi nghe tiếng côn trùng nơi bờ rào, tôi nói đêm nào chúng lại chẳng ra rả như thế,

mẹ tôi đi kiếm cái rổ trầu, tôi nói để con đi lấy cho, ba mươi mấy năm tôi vẫn giấu kỹ cái rổ trầu của mẹ trong tủ gỗ,

uống trà đi kẻo nguội, tôi nói với cha tôi và anh tôi, tôi đã pha sẵn trà tự lúc cha tôi nhắn gửi qua ngọn gió đầu hôm rằng đêm nay cha mẹ và anh trai tôi sẽ trở về nhà,

cuộc đoàn tụ như giấc mơ thế kỷ, anh Hai Lực tôi nói, nhúc nhắc đến bên bàn nước, bưng trà uống, 

thế nào, con thương lượng có được không, cha tôi hỏi,

dạ không được, không thể có bất cứ một cuộc gặp gỡ nào giữa những người còn sống và những người đã chết, đó là thứ học thuyết mới nhất nhà cầm quyền vừa phổ biến trong xứ sở chúng ta, tôi nói, tôi biết cha tôi đang để hết tâm trí vào việc làm sao duy trì cuộc đối thoại ông cho là cần thiết cho sự tồn tại của nhân loại, cuộc đối giữa những người chết và những người đang sống, với ông, cuộc trò chuyện giữa quá khứ và hiện tại như những kinh nghiệm sinh tử trong cuộc tiến hóa đầy gian truân của con người, trở về lần này tôi thấy cha tôi có vẻ gì khác hơn những lần trước, buồn và âu lo, hay là ông muốn nói với tôi điều hệ trọng gì đó trước khi mãi mãi không còn được gặp lại tôi, cho đến lúc sắp sáng, ông mới nói ra,

ta đã qua chín mươi chín cõi chết, nói bằng ngôn ngữ của kẻ lưu đày, nhìn bằng đôi mắt của một người đã rời bỏ thế gian, ta rời bỏ thế gian đã lâu, nhưng vẫn cứ vương vất trong thứ trí nhớ có vẻ đã ra khỏi ta ngày ấy, tiếng con nghé con lạc mẹ buổi chiều hôm, và nửa khuya, con chim ấp muỗi vỗ cánh bay lên khỏi bờ rào trước ngõ, ảo ảnh, hay không là ảo ảnh, có vẻ như vẫn chưa ra khỏi thứ trí nhớ có vẻ đã ra khỏi ta ngày ấy, trưa ra, thấy ai ngửa mặt nhìn trời hát dưới nắng, rằng con rắn đen đang trườn bò đi giữa đất nước, ai có thể kể ra cho hết những cuộc tháo chạy ngẫu nhiên của các sự vật, tối ra, thấy có ngọn gió thổi qua hàng cây trước ngõ, một người đi, rồi trăm nghìn người đi, những nghìn năm qua người ta vẫn cứ đi tìm, thế giới như một cuộc tìm kiếm bất tận, ta đã qua chín mươi chín vương quốc của những người chết, ở đây không có cái lớn nhất, không có cái không lớn nhất, ở đây, ta nhìn thấy những ngu xuẩn và cố chấp đang chập choạng như không chốn nương thân, những ngu xuẩn và cố chấp vẫn ẩn náu trong thứ sách vở văn chương không làm cho con người ta vui, ẩn náu trong sự tàn bạo của loài người, ở đây là những vương quốc của bình đẳng, sự bình đẳng về cái chết, ta đã qua chín mươi chín vương quốc của sự bình đẳng, vừa giả làm vua vương quốc vừa giả làm thần dân của vương quốc, ta trò chuyện với ta, thưa quốc vương, có phải học thuyết về cái chết là nền tảng cho sự tồn tại của vương quốc chúng ta, ở đây chẳng có học thuyết nào cả, học thuyết chỉ là ngôn ngữ của trần gian nhằm để an ủi nhau về sự nhỏ bé và ngắn ngủi của kiếp con người, vị quốc vương nói, và nhìn ta với ánh mắt nghiêm khắc, ta sợ, sờ thử lên đầu, sờ thử lên chân tay, thì thấy như là máu đang lưu chảy trong châu thân,

tôi thấy cha tôi khóc, lần đầu tiên, sau khi ông chết, tôi đã thấy cha tôi khóc, 

nhưng lão trưởng làng ấy có còn sống hay không, cha tôi chợt quay sang hỏi tôi,

và đã có tiếng gà gáy sáng đâu phía cuối làng vọng lại, 

gà nhà ai gáy lớn tiếng quá vậy, mẹ tôi nói, vẻ luyến tiếc, vì chẳng còn có thể ở lại được nữa,

con phải đi trước đây, anh Hai Lực tôi nói, và vội vã băng ra ngõ, đã có nhiều tiếng gà rộ lên trong làng, tôi biết anh ấy rất sợ nhìn thấy lại ngày của trần gian, 

lão trưởng làng đã bỏ tù cha vì tội đọc sách suốt ngày suốt đêm đã chết lâu rồi, tôi cũng chỉ kịp thông báo với cha tôi mỗi thông tin ấy của làng, vì ông đã dắt mẹ tôi đứng lên,

mẹ rất tiếc là không thể đem theo cái rổ trầu, mẹ tôi nói, nhìn tôi, và lau nước mắt,

lịch sử chỉ là một thứ bản nháp, chẳng có gì là chắc chắn hết, chẳng có gì là thật hết, con ạ, cha tôi dặn tôi, rồi dắt mẹ tôi băng ra ngõ,

giã tháng 8.2014 tháng 12.2017

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2019

Sự sơ hở của thế giới (Trường ca)

Nguyễn Thanh Hiện

I

vào những lúc lũ côn trùng ngoài bờ rào nhà tôi xướng lên, đêm mở ra khoảnh khắc kỳ diệu, ở đó, các vị thần cổ đại có thể tìm thấy lại chỗ đứng xưa cũ của mình, những người hát rong chết những nghìn năm trước có thể cảm thấy yên lòng, và trong cuộc hành trình đi tìm cái có thể tôi và em có thể dừng chân chốc lát để thử lắng nghe ở cuối buổi đoạn trường có ai nói gì không

Thứ Ba, 17 tháng 9, 2019

Những tin tức về một ngôi làng (kỳ 4)

Tiểu thuyết Nguyễn Thanh Hiện

22.

ở làng tôi có thứ tiếng động có vẻ đều đều như tiếng mưa rơi, nhưng không hoàn toàn như tiếng mưa rơi, mà như ai vỗ nhịp trên rừng, tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác, có vẻ như không thể khác đi được, cứ thế, có vẻ đều đều như tiếng mưa rơi, đôi khi lại quên, như thể chẳng còn tồn tại, nhưng không phải, quá khứ có vẻ như thứ vật thể rất bền bĩ trong ký ức tôi, tôi vẫn nhớ ở làng tôi có thứ tiếng động như ai vỗ nhịp trên rừng, còn tôi thì ra đồng làng để đuổi chim, tôi ra đồng làng để đuổi lũ chim ăn trộm lúa, tháng chạp, lúa trì chín, lũ chim lại về, bầu trời xám cứ thấp xuống, như thể có nỗi niềm bí mật nào đó đang đè lên vai tôi, tháng chạp, ruộng lúa chín, tôi, lũ chim, và thứ tiếng động như ai vỗ nhịp trên rừng, ngôn ngữ của thứ vật thể tạo dựng tự buổi con người nhận ra mối liên quan giữa các sự vật, ngôn ngữ cái mõ gió, thứ âm thanh như thể có ai vỗ nhịp trên rừng, hiện hữu giữa dòng sống đầy khiếm khuyết, con nai cướp giật của rừng, con chim cướp giật của người, tháng chạp, lúa trì chín, lũ chim kéo về, bầu trời trên đồng làng có vẻ quên mất thời phân chia tách bạch, những hữu thể chao động, lầm lạc, bất ưng giữa các ranh giới phù vân, một người đi giữa cuộc bể dâu mang theo cả hình hài bầu trời rộng lớn lẫn những tỉ mỉ của thứ chủ thể chật cứng niềm thiển cận trần gian, tôi ra đồng làng giữ không cho lũ chim ăn trộm lúa trên đám lúa đang chín của nhà tôi, nhưng lại bị lũ chúng mê hoặc, cứ ngóng cổ lên bầu trời trên đầu coi thử có con chim trong câu chuyện cổ tích mẹ tôi kể hay không… một hôm chim lại về đậu ở bờ giếng nước sau nhà, có khách… có khách (con chim đậu bờ giếng nước kêu trong lời kể của mẹ tôi) sao chim lại xưng là khách với con người nhỉ, sao mình lại ra đồng làng để đuổi khách của con người nhỉ, tôi ra đồng làng đuổi chim lại nghe thắc mắc trong lòng, gió sớm mai chợt nổi lên, cái mõ gió khua lên như ai vỗ nhịp trên rừng, lũ chim đang sà xuống ruộng lúa nhà tôi vội vã bay lên, sao khách của con người lại đi ăn trộm lúa của con người nhỉ, gió lại ngừng, cái mõ gió không còn khua, lũ chim lại sà xuống ruộng lúa nhà tôi, mãi sau này, khi đã có chút vốn liếng kiến thức sách vở, tôi mới nghiệm ra nhịp điệu của tồn sinh, gió làm rung cái mõ gió, lũ chim từ ruộng lúa bay lên, tả tơi một cõi đi về, huyễn mộng quyện lấy cây cột chống ngôi nhà hữu thể, ý thức, hay nghĩ ngợi, cũng là nó, ai đó lại đem đặt tên cho cây cột chống nhà, ý thức là cây cột chống ngôi nhà hữu thể, một sớm đi về nghe gió thổi đầu non, không phải, gió thổi qua đồng làng tôi làm cho cái mõ gió rung lên những âm thanh như ai vỗ nhịp trên rừng, lũ chim ăn trộm lúa, và không ăn trộm lúa, tôi ngồi ở bờ ruộng lúa nhìn lũ chim, cái mõ gió khua lên như có ai vỗ nhịp trên rừng, tôi vội vã giơ tay lên trời, tôi giơ tay lên trời vẫy, bấy giờ tôi cũng không biết là tôi đang đuổi chim hay vẫy gọi lũ chim, như thể vẫn còn sót lại nơi đây một cái gì đó chung của trời đất, tất cả là một, như ông Parmenid của nước Hy Lạp cổ đại nói, có vẻ như ruộng lúa đang chín, lũ chim, cái mõ gió và tôi là cùng thoát ra từ một cuộc sinh nở

Thứ Sáu, 13 tháng 9, 2019

Những tin tức về một ngôi làng (kỳ 3)

Tiểu thuyết Nguyễn Thanh Hiện

14.

đối với tuổi thơ tôi thì ngôi làng của tôi là thế giới thu nhỏ và những nhân loại bất hạnh là cha mẹ tôi và anh Hai Lực của tôi, nhưng đấy chỉ là khi đã có vốn liếng kiến thức để nhìn lại cuộc đời mình, còn bấy giờ, chuỗi ngày tuổi thơ, hết thảy những gì diễn ra chung quanh, làng xóm tôi, gia đình cha mẹ anh em tôi, như một cuộc hòa âm kỳ diệu, hết thảy như đang quyện vào nhau, con người và đất đai, con người và con người, tôi không hiểu hết, nhưng thấy rất vui, cuộc sống như những gì rất lạ, nhưng vô cùng quyến rủ, những cánh đồng cày nhộn nhịp tiếng bò, tiếng người, mùi thơm của đất, mùi thơm của cỏ, những cơn mưa bất chợt đổ xuống xóm làng, lũ chim chóc cứ bay đi bay về xóm làng, có thể là trong lòng tôi vui nên nhìn mọi người đều vui, ngay những ngày thiếu khó, nhà tôi ăn cháo ăn khoai thay cơm, tôi cũng thấy rất vui, mưa, những cơn mưa mùa đông hạn chế đến mức tối đa sự dịch chuyển của con người, tôi theo con bò cái đẻ ra gò thổ mộ của làng, con bò gặm cỏ trong mưa, còn tôi thì ngồi thụp xuống bên trong cái áo tơi mưa chằm bằng lá núi, tự nhiên tôi có một ngôi nhà ở giữa mưa, chiếc nón lá đội đầu của tôi là mái che ngôi nhà, còn cái áo tơi mưa chằm bằng lá núi là phần còn lại của toàn bộ ngôi nhà, ngồi trong ngôi nhà ở giữa mưa tôi cứ tưởng là mình đang bình yên, thật ra thì không phải thế, vào những tháng năm đói khó, cái áo tơi mưa chằm bằng lá núi gắn liền với cuộc sống của nhà tôi, thế giới là những cơ may, và cái cơ may ấy đã diễn ra ở một miền quê heo hút, hãy cứ thử tưởng tượng, lúc bấy giờ, ở các nơi trên mặt đất, mùa đông người ta ra đường bằng các phương tiện xe cộ, nếu là đi bộ thì mặc áo mưa bằng các thứ vải đi mưa, trong khi đó ở quê tôi, mùa đông ra đường, người ta mặc cái áo mưa chằm bằng lá núi như bộ lông của một con chim đại bàng, tôi cứ muốn diễn tả như thế nào để cho hết thảy mọi người đều có thể hình dung cái áo tơi mưa chằm bằng lá núi ở quê tôi, năm ngày một phiên chợ huyện, cứ hết năm ngày thì anh Hai Lực tôi lại gánh gánh áo tơi chằm bằng lá núi đi chợ huyện, khi quay về thì có cả gạo nấu, cả mắm, cá, từ quê tôi xuống chợ huyện khoảng mươi cây số, về sau, khi tôi đã có thể cùng anh tôi gánh áo tơi đi chợ huyện, tôi mới hình dung ra, vào mùa đông, cuộc sống của nhà tôi là gắn liền với những cơn mưa và những cái áo tơi chằm bằng lá núi, trời hết mưa, nhà ta cũng hết gạo nấu, từ lâu, mẹ tôi cũng đã tổng kết về cuộc sống về mùa đông của nhà tôi, cái cơ may của thế giới là có một miền đất vào mùa đông người ta ra đường còn chịu mặc cái áo tơi làm bằng lá núi, vào những ngày mùa đông, cha mẹ tôi cặm cụi ngồi chằm từng tấm áo đi mưa, kết những chiếc lá núi to lớn và không thấm nước thành từng tấm thì gọi là chằm, lá núi là do anh Hai Lực tôi đi lấy ở núi Mun, vùng rừng núi phía nam làng, những ngày không đi chợ huyện, anh tôi lại vào rừng Mun, mùa đông năm ấy, phiên chợ huyện nào anh Hai Lực tôi cũng gánh áo tơi quay về, tôi thì cha tôi đã đặt cách cho việc chăm sóc con bò cái đẻ, trời mưa, tôi lừa con bò cái đẻ ra gò thổ mộ của làng, con bò gặm cỏ trong mưa, còn tôi thì ngồi trong ngôi nhà làm bằng áo tơi và cứ thấy thắc mắc trong lòng là tại sao đến lúc ấy thì người ta không còn mua áo tơi làm bằng lá núi của anh Hai Lực tôi, tôi cứ muốn diễn tả thế nào để cho mọi người đều có thể hình dung cảnh tôi ngồi trong căn nhà lá giữa mưa để nghĩ ngợi về cái lý do tại sao người ta không còn mua áo tơi của nhà tôi, thứ vật thể cho đến lúc viết địa chí của làng vẫn cứ thấy lấp lánh trong ký ức tôi: cái áo tơi chằm bằng lá núi, rồi bấy giờ con bò cái đẻ đã làm tôi bối rối, nó trở dạ đẻ trong mưa, con bò cứ nằm dài ra trong mưa, thở hổn hển, sáng ấy, trời mưa to, ngoài tôi ra, chẳng có đứa nào trong làng lùa bò ra gò thổ mộ của làng, tôi chưa kịp kêu la cầu cứu thì con bò cái đã sinh con xong, con nghé con vùng chạy trong mưa, thì chẳng phải tôi đã nhường ngôi nhà bằng áo tơi cho con nghé đó sao, vừa dứt mưa là tôi liền lấy áo tơi của mình làm tả cho con nghé, tôi ẵm con nghé chạy trước, con bò cái lúc thúc chạy theo sau, trưa ấy, cả nhà tôi ăn khoai mì luộc, con bò cái đẻ uống nước cám, còn con nghé con bú mẹ, tôi vẫn nhìn thấy những nụ cười trên gương mặt cha mẹ tôi và anh Hai Lực tôi, chẳng lẽ cha mẹ tôi và anh trai tôi lúc bấy giờ đã đến được một thứ bến bờ nào đó ở bên ngoài mọi nỗi bất hạnh.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2019

Những tin tức về một ngôi làng (kỳ 2)

Tiểu thuyết của Nguyễn Thanh Hiện

5.

những tin tức về làng tôi là thế, luôn mang tính chất hồi cố, nhớ lại, chuyện của ngày hôm trước, năm trước, chuyện của thế kỷ trước, hay nghìn năm trước, vừa rõ ràng, chân xác, vừa mơ hồ, phiêu diễu, những tin tức như thế là còn nhiều, quá nhiều là khác, đọc là thấy chúng như một thứ tiểu thuyết, hay tiểu truyện, hay thậm chí là tiểu luận được gửi vào hình dạng văn chương luôn co giãn, thúc ép, khơi gợi, cuối cùng là dẫn đến cuộc bùng nổ (tất yếu xảy ra) làm vỡ toang thứ đại tự sự hào nhoáng đang cố che đậy những khuyết tật lịch sử chết người của một miền đất.

Thứ Sáu, 6 tháng 9, 2019

Những tin tức về một ngôi làng (kỳ 1)

Những tin tức về một ngôi làng là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Thanh Hiện, viết về một ngôi làng rất thật mà cũng vừa hư ảo, như được lọc ra từ một giấc mơ của quá khứ lẫn vào hiện tại, bằng một thứ ngôn ngữ chưng cất như thơ và những cảm xúc vẫn đang dồn dập trong một trái tim vừa đỏ vừa xanh. Xanh vì tất cả những gì cao quý/đẹp đẽ/nhân văn hàm chứa trong từng câu chữ, còn đỏ là Vì tất cả máu đã đổ ra, cho những thứ chẳng biết để làm gì…

Như không thể khác được.

Vì đó là lịch sử.

Và là lịch sử của một ngôi làng Việt Nam từ một quá khứ chưa xa.

Tiểu thuyết về lịch sử một ngôi làng, có vẻ như rất nặng, rất đau buồn, rất kỳ lạ… vậy mà khi đọc xong người ta cứ phải muốn trở lại đọc từ đầu, để rõ hơn cái gì đã xảy ra, cái gì lẽ ra nên và không nên, cái gì tác giả muốn nhắn gởi, khi vắt tim óc ra để nhờ câu chữ giữ lại dùm mình.

Một vài câu trích từ các chương sách:

Về lịch sử: “Lịch sử chỉ là một thứ bản nháp, chẳng có gì là chắc chắn hết, chẳng có gì là thật hết, con ạ, cha tôi dặn tôi, rồi dắt mẹ tôi băng ra ngõ…”/“Lịch sử là những con người ngã xuống cùng với giấc mơ của mình…”/“Cứ phủi hết rong rêu trên mặt đá là thấy được thứ khái niệm mong manh thỉnh thoảng người ta lôi ra khỏi dòng chảy lịch sử rồi lại hô hoán là không phải…”.

Về rượu: Hạt gạo vốn mang trong mình tiếng nói của trời đất giờ đem ấp ủ chúng giữa trời đất suốt cả năm là để cho tiếng nói ấy rõ hơn..”/“Rượu vào ta, trời đất vào ta…”/“Rượu chưng cất tới đâu uống tới đó, uống rượu nóng, uống cho đến khi không còn giọt rượu nào mọi người mới được về, vào ngày ấy, ở làng tôi, chỉ trừ những em bé, còn lại, tất cả đều say…”.

Về nghề viết: “Ta thấy chúng còn nhả ra những cách thức chế biến rác, tức, chế biến từ những thứ thế giới đã vứt bỏ từ lâu, những thi văn ca tụng đám vua chúa tàn bạo, những cuốn sử chép không thật, những thuyết lý từng mang lại chết chóc cho con người, ta thấy chúng cong môi lại để nói lại thành những lời mới mẻ từ những gì từ lâu đã thành rác rưởi, ôi, thời con người chế biến chữ cũ thành chữ mới, thời con người chế biến chữ từ rác…”.

Xin trân trọng giới thiệu cùng các bạn.

VĂN VIỆT

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

Những vầng trăng bặt dạng/Dưới bóng những cô gái tuổi hoa/Bốn

Nguyễn Thanh Hiện

tặng Như Quỳnh de Prelle

4.

khi tôi đến nơi thì thành phố đã đủ ánh bình minh, Bruxelles như đang bị nhuộm trong màu cổ kính Gallia Belgica, màu  của La Mã thần thánh, của gia tộc Habsburg, và của  Caroling vương triều đầy quyền lực… không, bây giờ Bruxelles là trái tim Châu Âu, trái tim của hội họa, của kiến trúc, của những văn chương kỳ ảo,  nó, sự pha tạp của tất cả những khôn ngoan và vẻ đẹp thuần khiết, và Celt, và German, và Frank, và những chuyến cướp biển, đám  cướp biển Viking bước lên bờ mang theo cái lạnh lẽo lắng đọng đến chết người của  văn chương phương bắc, Royaume de Belgique, hay Koninkrijk België, hay Königreich Belgien, nó là nước Bỉ [theo cách gọi của đất nước tôi] không ẩn chứa điều gì cả, nhưng là ẩn chứa tất cả, tôi  đi vòng qua một gốc sồi xanh để tìm nhà nàng, ngôi nhà nấp dưới bóng những con chữ, buổi sáng phủ định không có hoa cắm trong phòng,  nhưng có sách về vẽ siêu thực nàng mới mượn từ bảo tàng Magritte, tôi từ phương đông đến trong thứ màu áo cũ kỹ có pha chút cổ kính của thời Thăng Long mang gươm đi mở đất, trời, ông có vẻ giống với ông lão trong bộ tranh nhị thập tứ hiếu của Lý Văn Phức, nàng kêu, tôi chỉ cười, và im lặng, rồi lát sau, nàng đã mang tất những họa phẩm của hai đứa con nàng ra khoe với tôi, nước Nam mình đó ông, chúng vẽ bên ngoại chúng, ông ạ, những cảnh đồng quê ở đất  nước tôi đang trong mùa gặt, em đã từ đó đến đây trong nỗi niềm của kẻ dịch chuyển giữa cuộc chuyển động ầm ào của đương đại, nàng nói, và đã đem tổ quốc mình đặt lên trái tim con trẻ, một cuộc kéo dài ra thế giới, tôi tiếp lời nàng, ở ngoài đường, dường như đám các nước trong Liên minh châu Âu đang kéo đến trụ sở liên minh để bàn tiếp về chuyện Brexit, ở đây rất nhiều hoa, ông có thích hoa không, nàng chợt hỏi, tôi nói là mình rất thích hoa, bởi nó tượng trưng cho những gì trinh khiết, trong thế giới thực vật, mà mới thoạt nhìn chúng ta có cảm tưởng như yên bình và hiền lành biết bao, tràn ngập một tinh thần tuân phục và tĩnh mịch(*)… nàng nói, và có vẻ rất xúc động, em vừa trích dẫn Maurice Maeterlinck phải không, dạ phải, cách nói của Maurice Maeterlinck làm cho em luôn phải nghĩ đến những gì sâu thẳm của cuộc sống, nàng nói, tôi nhìn ra gốc sồi xanh to tướng ở trước nhà nàng, Maurice Maeterlinck đang nói về Othello của Shakespeare mà như đang nói về tôi, kẻ đang đi tìm cái có thể… tôi đã lớn lên để tin rằng một ông già ngồi trên chiếc ghế bành của mình, kiên nhẫn chờ, với ngọn đèn bên cạnh, để cho đôi tai vô thức hướng đến tất cả những luật lệ đời đời ngự trị trên ngôi nhà của mình, giải thích, không thấu hiểu, sự im lặng của cửa ra vào và cửa sổ và giọng  run rẩy của ánh sáng, bản tường trình với bộ óc bị biến dạng về sự hiện hữu của linh hồn và số phận  của ông-một ông già, không phải nhận thức được đó là tất cả sức mạnh của thế giới này, giống như quá nhiều những người phục vụ cẩn trọng, đang lẫn lộn và thao thức trong căn phòng của mình, những người nghi ngờ không phải chính bản thân mặt trời  cung cấp cho cái mảnh đất nhỏ bé để đương đầu khi bọn họ rơi vào nghèo nàn, hoặc nghi ngờ tất cả những ngôi sao trong bầu trời, và  mỗi tăng trưởng linh hồn là trực tiếp liên quan đến việc nhắm mắt xuôi tay, hoặc một ý nghĩ rằng mùa xuân đã đến. (**)

(*) L’Intelligence des fleurs (The Intelligence of Flowers) – Trí tuệ Của Hoa, Maurice Maeterlinck, 1862-1949, nhà viết kịch nhà thơ nhà triết học Bỉ, Noben văn chương 1911

(**) https://en.wikipedia.org/wiki/Maurice_Maeterlinck#cite_ref-37:

I have grown to believe that an old man, seated in his armchair, waiting patiently, with his lamp beside him; giving unconscious ear to all the eternal laws that reign about his house, interpreting, without comprehending, the silence of doors and windows and the quivering voice of the light, submitting with bent head to the presence of his soul and his destiny—an old man, who conceives not that all the powers of this world, like so many heedful servants, are mingling and keeping vigil in his room, who suspects not that the very sun itself is supporting in space the little table against which he leans, or that every star in heaven and every fiber of the soul are directly concerned in the movement of an eyelid that closes, or a thought that springs to birth

Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2018

Nguyễn Thanh Hiện trong Những tổ khúc rời

Nguyễn Thanh Hiện, người ở cõi nhân gian xa lạ


Như Quỳnh de Prelle

20180727_172844

Những ai yêu thi ca đương đại không thể không biết Nguyễn Thanh Hiện, người của chữ, chữ của người của những trường ca bất tận, của suy tưởng và triết luận. Nguyễn Thanh Hiện viết như điên, nghĩa là viết nhiều, viết nhiều đọc không thể kịp với tốc độ xuất hiện tác phẩm của anh. Anh còn chịu khó đọc những người trẻ như chúng tôi và chúng tôi chưa một lần nhận ra khoảng cách thế hệ, khoảng cách chữ bởi tư tưởng của những người của thi ca tràn ngập trong tâm trí và đời sống.

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

hay là có đổ nát ở đâu đấy

Truyện Nguyễn Thanh Hiện

nếu tự nhiên lên tiếng với con người về cách thế tồn tại về những tai ương hay loan báo những tín hiệu tốt lành là chuyện có thật thì tôi phải viết lại lịch sử của loài chim trăm con, trăm con không phải là số lượng, mà là tiếng hót, trăm con khó cột, tiếng hót của một loài chim vùng sông Tượng núi Tượng qua diễn giải trần gian trong câu chuyện [lâu đời] về ông Cả Lựu sáng cỡi ngựa đi tối cỡi ngựa về, câu chuyện như một phần đời sống của tổ tiên người làng tôi, trải dưới chân dãy núi nơi như chuyện gì cũng có thể xảy ra, trong những năm tháng mù tăm, đẹp, nhưng có quá nhiều bất trắc, kẻ đời sau, buổi sớm tinh sương thức dậy, nghe chim trăm con kêu, không thể không nghĩ ngợi, cuộc chuyển ngữ như làm cho thế giới loãng ra, lưu chảy, khi vật thể nói, giọng nói, và ý nghĩa, nói là chảy đi những âm thanh và khái niệm, cũng có thể là chảy đi im lặng và những khái niệm về im lặng [như khi đá nói hay khi một cuộc tình nói] và luôn được tiếp nhận và thuật lại [nếu có] trong tư thế đa phương, kẻ tiếp nhận có thể nói giọng khác đi, tiếng hót của chim được nói lại bằng cách của con người, trăm con khó cột là cách nói khác của con người, ý nghĩa có thễ đã bị mất đi, tâm trạng của chim có thể đã hoàn toàn mất hút vào khoảng đa thanh sắc của vũ trụ trời đất, ngôn ngữ là cuộc chơi phong lưu và nguy hiểm nhất của hiện tồn, cho nên thi ca luôn là cuộc chuyện trò bất tận, nói mãi về thế giới, không hết, cho nên ngộ nhận và hận thù, trăm con khó cột cũng chỉ là cách nói khu hẹp nơi nửa góc trần gian là ngôi làng tôi heo hút, buổi sớm tinh sương nghe chim trăm con kêu trên dãy núi phía nam làng [núi Tượng] không thể không nghĩ về một người, trong nghĩ ngợi của hết thảy các thế hệ người làng tôi, ông Cả Lựu sáng cỡi ngựa đi tối cỡi ngựa về, có một hôm, tối ông Cả Lựu không cỡi ngựa về làng, ở lại trong núi, và chết thành chim, con chim trăm con… các xứ Cò Đen(?) Kẻ Dã (?) phủ Qui Nhơn thì sản xuất ngựa, ngựa sinh trong hang núi thành đàn hằng trăm nghìn con, có con cao tới hai thước rưỡi và ba thước trở lên, người địa phương tập dạy cho chở thồ hàng hóa sang Phú Yên, cho đến đàn bà buôn bán đi chợ hay đi xa cũng cỡi ngựa là thường [trích Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, quyển VI, nói về sản vật phong tục xứ Thuận Quảng] có thể khi ông Đôn được chúa Trịnh đề bạt làm quan Tham thị quân vụ đất Thuận Quảng, lúc ngồi ghế quan ở Phú Xuân, nghe câu chuyện kể về phủ Qui Nhơn của một kẻ thuộc hạ nào đó [làng tôi, thời ông Đôn làm quan ở Phú Xuân, là thuộc phủ Qui Nhơn, đất Thuận Quảng] ông liền cất bút chép và Phủ Biên Tạp Lục, ngựa của ông Cả Lựu, theo truyền thuyết của làng, cũng nuôi trong các hang đá ở núi Tượng, cũng hằng trăm hàng ngàn con, nhưng không phải để thồ hàng hóa đi Phú Yên hay để cho đàn bà cỡi đi chợ, có thể, một thuộc hạ nào đó của ông Đôn đã kể cho ông nghe truyền thuyết về ông Cả Lựu ở phủ Qui Nhơn, nhưng những chi tiết gây bất lợi cho chính quyền họ Trịnh lúc bây giờ ông Đôn đã không chép vào Phủ Biên Tạp Lục, truyền thuyết đại khái như vầy: Đất Rừng Trên bỗng thức dậy với tiếng ngựa hí, và tiếng ca hát của con người, ngựa nuôi hàng trăm hàng ngàn con trong các hang đá ở rừng núi Tượng, ông Cả Lựu sáng cỡi ngựa đi, tối cỡi ngựa về, người Rừng Trên đi chăn ngựa với ông Cả Lựu mỗi ngày một đông, ta nói với những người anh em, ngựa là chiến mã và người chăn ngựa là chiến binh, ta và những người anh em một ngày nào đó sẽ nghe thấy được tiếng con chim núi hót vui hơn, ông Cả Lưu nói, ban ngày, lũ ngựa đi ăn cỏ trong núi, những người chăn ngựa đi làm cung tên, đêm, lũ ngựa ngủ rất ít vì phải cùng con người tập bắn cung, tập xông trận, vào một đêm cuối tháng, trời tối mịt mùng, ông Cả Lựu đọc bài thơ nguyệt tận rồi múa gươm với những người anh em chăn ngựa, bài thơ có đoạn: trăng trốn vào tuế nguyệt/ bỗng mặt trời hiện giữa vòng tay những người chăn ngựa, vào khoảng nửa đêm thì lũ người hung bạo tràn vào rừng núi Tượng, huyết chiến đã xảy ra, nhưng cuối cùng hết thảy những người chăn ngựa và hết thảy lũ ngựa đã bị giết chết, ông Cả Lựu cũng bị giết chết hóa thành chim trăm con, lịch sử đã lui về phía cũ, nhưng mỗi lần nhắc chuyện cũ, ánh mắt người làng tôi lại sáng lên, có vẻ niềm mơ ước của quá khứ vẫn còn nguyên trong lòng người làng tôi, tổ tiên người làng tôi đã chết [đến hằng chục hằng trăm] cho một ngày thấy được tiếng con chim núi hót hay hơn, mơ ước không thành, lại nghe con chim núi hót bưồn hơn, trăm con khó cột, niềm luyến tiếc lũ ngựa, hay luyến tiếc giấc mơ không thành…

Thứ Tư, 11 tháng 10, 2017

Ở miền đất ấy (kỳ3)

(Tiếp theo và hết)

Tiểu thuyết Nguyễn Thanh Hiện 

thế giới là cuộc tháo chạy ngẫu nhiên của các sự vật

22.

Những ngày ở núi Đưng đi tìm Liêu, tôi phải đương đầu với những nguồn ý kiến trái ngược nhau về việc mất tích của Liêu. Ở núi Đưng bỗng dưng người ta cũng bàn tán nhau về chuyện vì sao Liêu không còn nữa. Đúng hơn, không phải bàn tán, mà rỉ tai nhau. Ông Din hiệu trưởng bỗng rỉ tai tôi, rằng Liêu đã có chửa nên xấu hổ bỏ làng đi. Tôi rất hoảng, y như lúc nghe tin Liêu chết. Nhưng thầy có tin đấy là chuyện thật không? Tôi hỏi trong tâm trạng hoang mang. Ông ấy lắc đầu, bảo Liêu là một cô gái tốt. Người nói với ông Din chuyện Liêu có chửa lại là bà Din. Bà Dên bỗng rỉ tai tôi là có người nói với bà như thế. Tôi hỏi người ta nói gì, thì bà ấy khóc, bảo Liêu đã có chửa, nhưng không phải chửa ai đó, mà là chửa ma xoát. Theo sử Giót, người Xoát muốn chiếm hết thảy các nước trên thế gian để bắt hết thảy đàn bà phụ nữ trên mặt đất này phải đẻ ra giống Xoát. Con Liêu đã chết, sao có kẻ còn độc mồm độc miệng ăn nói thế. Ông Dên than thở với bà con trong làng. Nhưng bà Dên thì cho đây là chuyện thật. Vì theo bà, con ma xoát không giết được Liêu trong bụng mẹ, nên giờ lại giết Liêu bằng cách làm cho Liêu có chửa. Bỡi có chửa với ma xoát có nghĩa cả xác thân lẫn hồn phách của Liêu đã bị loài ma ấy đem về thế giới của chúng. Phải cúng giải oan cho con gái ta thôi. Bà Dên một hai bảo ông Dên phải cúng ma xoát, để chúng thả Liêu về lại núi Đưng. Em nghĩ là có kẻ đã bịa ra chuyện ấy. Cô Nà công nhân lâm trường bỗng rỉ tai tôi. Theo Nà, có ai đấy muốn làm hại Liêu, nên đã bịa ra chuyện Liêu có chửa với ma xoát. Vì có lời đồn đại Liêu có chửa với ma, nên cô ta đã phải bỏ làng ra đi. Nhưng vì đâu người ta lại muốn hại Liêu? Tôi hỏi. Nà bảo không biết, cô cũng đoán vậy thôi. Không chừng là thằng Lình con trai ông Đung trưởng làng Mừa đã bịa ra chuyện con Liêu có chửa. Ông Din lại rỉ tai tôi. Theo chỗ ông biêt thì Lình, công nhân lâm trường núi Đưng, có tình ý với Liêu từ lâu. Trên đường đến lâm trường, Lình thường ghé lại trường học để gặp Liêu. Hầu như là ngày nào anh ta cũng ghé lại trường. Rồi bỗng không thấy anh ta đến nữa. Chắc là con Liêu không thích thằng Lình, nên nó đã không đến nữa. Ông Din hiệu trưởng nói. Nhưng như thế thì anh ta bịa ra chuyện Liêu có chửa để làm gì? Tôi hỏi. Chuyện gái trai yêu đương là ghê gớm lắm, thằng Lình nó thù con Liêu, anh rõ chưa. Ông Din nói. Như thế, theo ông Din, lời đồn đại Liêu có chửa là xảy ra sau khi Liêu không còn. Trong lúc Liêu không còn, Lình đã nói ra thế cho bõ giận, thế thôi.

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

Ở miền đất ấy (kỳ 2)

Tiểu thuyết Nguyễn Thanh Hiện 

thế giới là cuộc tháo chạy ngẫu nhiên của các sự vật


12.

Ông Phưa trưởng làng Mung bảo trước khi có mưa lớn, chính mắt ông trông thấy Liêu đi ngang qua nhà ông. Tôi hỏi sau đó bao lâu thì trời đổ mưa. Ông Phưa nói ước chừng Liêu vừa qua khỏi suối Mung. Ông nói thế là nghĩ rằng Liêu qua suối Mung để đến trường dạy học. Nhưng ông Din hiệu trưởng nói một cách chắc chắn rằng hôm đó Liêu không đến lớp. Như thế có nghĩa Liêu qua suối Mung, rồi qua suối Dang, để đến lâm trường Núi Đưng, và bà Mãng đã trông thấy. Ông Phưa bảo nếu quả thế thì khi Liêu ở lâm trường quay về sẽ gặp lũ đang xuống trên suối Dang. Tôi và ông Phưa đi dọc theo lòng suối Dang đã cạn hết nước, và đưa ra bao nhiêu giả dụ. Giả dụ Liêu bị lũ cuốn, dạt ở đâu đó ở suối Dang, thì còn trông thấy xác. Giả dụ Liêu bị lũ cuốn ra sông Cái, rồi trôi luôn sang nước Lào, thì coi như chẳng còn tung tích. Ở núi Đưng, suối nào cũng đổ ra sông Cái. Còn sông Cái thì chảy sang nước Lào. Người làng đã đi hết các sông suối ở núi Đưng. Đã tới chỗ con sông Cái chảy sang nước Lào. Nó không còn nằm ở đất này đâu. Ông Phưa bảo.

Thứ Hai, 9 tháng 10, 2017

Ở miền đất ấy (kỳ 1)

 Tiểu thuyết Nguyễn Thanh Hiện 

thế giới là cuộc tháo chạy ngẫu nhiên của các sự vật

Chỉ với 23.786 từ, tác phẩm của Nguyễn Thanh Hiện vẫn có đủ tầm vóc của một tiểu thuyết đầy đặn. Không chỉ ở cấu trúc và nội dung, không chỉ ở những tầng lớp chữ nghĩa giàu sức gợi, nhân lên sự giàu có của ngôn từ, nó còn mang vẻ đẹp của một bài thơ ngợi ca, chắt ra từ nước mắt và những mất mát của một lịch sử…

“là không có gì hết, nhưng cái gì cũng có, là không biết gì hết, nhưng cái gì cũng biết. Có với không, không với có, bỗng quấn quít lấy nhau, cất tiếng khóc thê thảm. Nước mắt chảy, một phần thành đất, một phần thành nước, một phần thành loài người, muông thú và cây cỏ…”.

Tiểu thuyết này vừa được nhà văn Nguyễn Thanh Hiện gởi đến, nó đã mất 14 năm để hoàn tất (2003- 2017). Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Văn Việt



1.

Tôi lên cao nguyên miền Trung là để lấy tư liệu cho luận văn tốt nghiệp đại học của mình. Luận văn về sự hình thành các tập tục của các dân tộc ít người ở Tây Trường Sơn. Trên đường về lại thành phố, tôi ghé vào làng Dang dưới chân núi Đưng là để thăm chơi cho biết, vì bấy giờ việc lấy tư liệu coi như đã hoàn tất. Mùa hạ ở núi Đưng có hoa muồng rực thắm giữa màu lá rừng đương ngả màu, tựa bức tranh cổ u tịch  bỗng hiện ra ở đâu đấy một chút le lói. Khách đường xa suốt tháng trời chỉ chăm chắm mỗi việc săn tìm tư liệu là tôi, phút chốc cũng thấy lòng nhẹ bỗng trước cảnh nước non mới lạ. Núi Đưng không cao, chỉ đứng đó như sự che chở cho cuộc sống lẻ loi đương diễn ra trong một vùng trũng rộng lớn, có thể gọi là cuộc bình nguyên trên cao nguyên. Khi người khách đường xa là tôi đã ngồi vào một chỗ ghế học của một lớp học vùng cao, thì cả đám học trò con trai con gái lên năm lên bảy, ở trần có mặc áo có, lẫn cô giáo dạy học, vẫn tự nhiên như không, như con suối Dang đối với tôi, lúc tôi đứng trên bờ của nó ngắm nhìn trời đất. Lũ học trò dường đã xong việc tập viết, làm toán, đang ngồi hóng cổ nghe cô giáo kể chuyện.

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

Thơ Nguyễn Thanh Hiện

Nơi trú ẩn những ký ức rời rạc

viết tặng Qui Nhơn, thành phố tôi đang sống


[một]

đấy là nơi tôi đã sống rất nhiều năm tháng với những ngoại lệ của một kẻ tự biết mình chẳng mang lại tích sự gì cho một nơi như thể chốn thể nghiệm của những cuộc chơi

nhưng đấy là thành phố, tự bao giờ chẳng biết, tôi đã giành cho một tình yêu tuy chẳng thể diễn tả được bằng lời, nhưng nửa khuya thức giấc không nhìn thấy ngọn đèn đường trước nhà [vẫn thường hay có sự cố không còn chiếu sáng như thế] khiến tôi cứ cảm thấy như sắp đón nhận điều chi chẳng lành, thiếu đi một ngọn đèn đường, hay thiếu đi bước chân nặng nhọc của người chị quét đường, thiếu đi một chút gì bất kỳ nơi thành phố tôi đang sống cũng khiến cho tôi cảm thấy bất an

có những người đến đây kêu to lên bọn họ rất yêu nơi đây, bọn họ làm ra những thơ, bọn họ làm ra những bài hát, ca ngợi thành phố nơi tôi đang sống để được kẻ khác ca ngợi khiến lũ chim én nổi giận, hãy đi đi, đây chẳng phải nơi dành cho sự giả dối, trên bầu trời trên đầu thành phố, lũ chim én đang tức giận, em biết không, thành phố nơi tôi đang sống vốn là đất của lũ chim én [trên tất cả các bản đồ đất nước đều ghi nơi tôi đang sống là đất của chim]

em cứ tin tôi, những điều vừa nói là rất thật, và em hãy tin tôi đi về phía tây thành phố nơi tôi đang sống, em sẽ gặp những chiếc xe ngựa cũ kỹ chạy lộc cộc trên con đường ngang qua chốn kinh thành đổ nát, em sẽ được nghe những tiếng nói của quá khứ

Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

Những bài hát rong đương đại (kỳ 5)

Trường ca

Nguyễn Thanh Hiện

 

CHƯƠNG NĂM

NHỮNG NGỌN GIÓ NỔI LÊN TỪ BIỂN AEGEAN

Nếu có ai đó tìm kiếm từ cuộc sống tốt đẹp một cái gì vượt quá chính nó

thì đó không phải là cuộc sống tốt đẹp mà anh ta đang tìm kiếm.

PLOTINUS

Và trong chuyến du hành không định hướng

ta đã trải qua những khoảnh

khắc diệu kỳ

Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

Những bài hát rong đương đại (kỳ 4)

Trường ca

Nguyễn Thanh Hiện


CHƯƠNG BỐN
ÂM VANG CƠN LŨ

Giờ đây tôi không làm gì hết, chỉ nghe,
Để lấy những điều nghe được làm giàu bài hát này...
WALT WHITMAN (*)
(*) trích Lá Cỏ của Walt Whitman, bản dịch của Vũ Cận

 

Và một hôm
em đến
xin chào hạt bụi
giọng nói nghe hiền như mây mùa thu
và ta
lại tiếp tục cuộc dong ruổi vào chốn cát bụi…

 

như trong gió có mùi vị của tai ương

ở cao nguyên Anatolia ta trò chuyện với một nhà triết học

vốn là vua của một xứ sở cận kề thành Troa

bấy giờ là đang mùa thu

những ngọn gió thổi lại từ phía biển Đen như mang theo mùi vị của tai ương

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

Những bài hát rong đương đại (kỳ 3)

Trường ca

Nguyễn Thanh Hiện

 

CHƯƠNG BA

AI GIẢI PHÓNG CÁC VỊ THẦN

 

Về chân lý, chắc chắn không người nào biết được

và sẽ không bao giờ biết được dù đó là các vị thần…

XENOPHANES

Và nơi sa mạc mênh mông ấy, ta bước đi,

chân như không chạm đất, rồi một hôm, ai đó

gọi ta là hạt bụi, xin chào hạt bụi…

 

lời tra vấn nơi sa mạc

ta đi, và con quái vật ấy cứ lẽo đẽo theo ta, hỏi ta là ai, ta nói ta là ta chứ còn là ai, nó cười, bảo, thì ta là ta chứ còn là ai, rồi chào tạm biệt ta, trưa, con quái vật lại đón ta, cát nóng như thiêu đốt, con quái vật lại hỏi ta là ai, ta lại nói ta là ta chứ còn là ai, nó lại cười, bảo, thì ta là ta chứ còn là ai, rồi lại chào tạm biệt, ra đi, đêm, khi sa mạc rơi vào bóng tối mênh mông, con quái vật lại đến, nhưng anh là ai, nó lại hỏi câu hỏi đã từng hỏi, và ta lại nói ta là ta chứ còn là ai, nó lại cười, và chào tạm biệt, ra đi, những ngày tiếp theo đó, cứ mỗi ngày con quái vật ấy lại đến gặp ta một lần, nhưng anh là ai, mỗi ngày nó lại hỏi ta một lần câu hỏi từng hỏi, cho đến hôm ta ra khỏi sa mạc, chẳng còn con quái vật nào theo ta, nhưng cứ sáng ra thì ta lại nghe hỏi, nhưng anh là ai, cứ sáng ra là lại nghe câu hỏi ấy vang lên trong tâm tưởng, và ta thì cũng chưa tìm được lời đáp nào, ngoài cách nói ta là ta chứ còn là ai

Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

Những bài hát rong đương đại (kỳ 2)

Trường ca

Nguyễn Thanh Hiện

CHƯƠNG HAI

PHÙ SA VÀ GIÓ

 

Phía bên này là cuộc sống

và phía bên kia là cái chết

và ngược lại

SẤM NGÔN TRÊN NÚI CÔ QUẠNH

 

Và một hôm, vào cuối thế kỷ

có một người từ bờ con sông lớn đi vào làng

hãy theo ta

người ấy nói

và ta

bắt đầu cuộc dong ruổi vào chốn nghìn năm cát bụi…

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2017

Những bài hát rong đương đại (kỳ 1)

Trường ca

Nguyễn Thanh Hiện

Văn Việt vừa nhận được Trường ca Những bài hát rong đương đại của nhà thơ Nguyễn Thanh Hiện.

Hy vọng, chia sẻ của nhà thơ sẽ phần nào giúp bạn đọc trong việc tìm hiểu bản trường ca giàu suy tưởng và tràn đầy cảm xúc này:

Ánh sáng và bờ vực tối. Hai cảnh giới luôn bày ra trong cuộc hành trình tự hoàn thiện mình của con người. Ngay tự buổi chưa có một giọng nói riêng, con người đã nỗ lực tìm kiếm tự tạo những năng lực vượt trội để loài giống mình vượt khỏi giới hạn của một động vật bình thường. Những nền văn minh của con người, thứ ánh sáng vụt sáng lên trong quá khứ, như những bài tình ca về sự bùng nổ trong nhận thức thế giới. Đồng hành với những khám phá làm ra thức ăn, nền văn minh lớn nhất của con người trong quá khứ, là những nghệ thuật hang động: thi ca, hội họa và nhảy múa. Thi ca nghệ thuật mang trọng trách đẩy lùi sự man rợ vẫn luôn diễn ra trong những tháng năm chưa có lịch sử. Nhưng man rợ như thứ tính cách có tính định mệnh luôn tồn tại trong cuộc hành trình đi tìm cái có thể của con người. Những man rợ thời văn minh đương đại còn man rợ hơn cả những man rợ thời tiền sử. Nghĩ ngợi về cuộc tiến hóa đầy khắc nghiệt của loài giống mình, người viết bỗng thấy mình như đang lưu lạc giữa cuộc tuần hoàn. Từ đó thi ca cất lên thứ tiếng nói thành thật về thế giới người viết đang sống. Một bài ca thật dài như những giả định về những sự thật lịch sử người viết đã nhìn thấy trong cuộc rong chơi giả định của mình.”

Giã, tháng ba 2017

NTH

Văn Việt

 

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

TA VẪN LÀ HẠT BỤI 

Nguyên sơ là chẳng muốn để cho mình

trở nên hoen ố giữa cuộc đọ sức sinh tử

giữa bóng tối và minh triết, nhưng con

người thì vẫn kẹt giữa hai nửa trần gian,

cuối cùng thì thi ca đã dấy lên, nhưng

đấy cũng mới chỉ là những mảnh vụn

của khôn ngoan, mà con người là cần đến

những dòng chảy của cảm hứng trí tuệ…

Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2017

Những tổ khúc rời

 

Nguyễn Thanh Hiện 

               viết tặng Sài Gòn yêu dấu

 

Thơ - Ng T Hiện 0 đôi vai Sài Gòn

 

Tôi bắt đầu với nơi trú ẩn ký ức của mình bằng tiếng dương cầm từ ngôi biệt thự cổ kính

đổ ra con đường đầy cây cổ thụ,

Sài Gòn những năm 65 67 đêm có tiếng súng vọng về từ  phía cửa ngõ tây bắc,

chiến tranh có làm cho Sài Gòn buồn bã,

nhưng vẫn lừng lững những phố thị sang trọng và quyến rủ