Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Vĩnh Quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vĩnh Quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

Tiếng khóc lớn trong thơ Việt

 Vĩnh Quyền

Trần Vàng Sao

1.

Cuối thập niên 60 thế kỷ trước, tại Trường Quốc Học – Huế, tôi học văn và công dân giáo dục với một nhân vật ngoại hạng trong mọi chiều kích: Nhà thơ yêu nước Ngô Kha. Ấy là thời gian Thanh Tâm Tuyền và Ngô Kha xuất hiện như hai nhà thơ siêu thực đầu tiên trong thi ca Việt Nam. Sau đây là mấy câu tôi thuộc lòng: “bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông/ đọc diễn văn truy tặng người đãng trí/ ngày nằm bệnh tôi mơ thấy vòng tay núi/ khúc hát ngu ngơ của bông lau/ tháng giêng từ giã thuốc đắng đi tìm cỏ may/ tôi không thấy nàng mặc áo chim/ chỉ có người hư vô và mặt trời/ tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu…” (Ngô Kha, Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí). Một lần, thầy khuyên tôi tìm đọc bài Bài thơ của một người yêu nước mình. Là lần đầu tôi biết đến Trần Vàng Sao.

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2024

Hãy chạm khẽ vào tâm thức biển hiện đại trong tiểu thuyết Inside Infinity của Vĩnh Quyền

Vĩnh Quyền

image  

Là tên đề tài luận văn dự kiến của một sinh viên người Mã tại Đại học Chulalongkorn. Em cho biết đang bóc tách các mảnh văn bản mang tải yếu tố biển trong tiểu thuyết Inside Infinity và xâu chuỗi theo ý định kiến giải riêng. Nếu nhà văn bắt đầu từ khái niệm 50-50 qua từ thuần Việt "đất nước" - đất dài đến đâu nước biển bao che đến đấy; qua truyền thuyết quốc tổ Việt - 50 con theo cha Lạc Long Quân lên non 50 con theo mẹ Âu Cơ về biển; bản liệt kê cái nhìn ra biển qua các đời vua Việt; Hoàng Sa và những cái tên không được phép lãng quên; lời thề trên đỉnh sóng bạc đầu, … thì sinh viên này bắt đầu với trận "thủy chiến vòi rồng Việt-Trung" đương đại dưới chân dàn khoan trái phép HD-981 trong vùng biển Đông, tháng 5.2014:

Thứ Hai, 7 tháng 8, 2023

Thái Ngọc San và lũ phượng hoàng lỗi hẹn

Vĩnh Quyền

Ngày giỗ một người anh văn nghệ Huế

image

Trong những bữa rượu tôi hay đòi anh San kể chuyện làm báo thời "xuống đường" long đong lận đận mà hào sảng ở Huế, thời cộng tác các bán nguyệt san, nguyệt san lừng lẫy ở Sài Gòn như Văn, Văn Học, Trình Bày, Đối Diện, Ý Thức… Cũng là thời anh lang bạt kỳ hồ sau ba lần bị bắt lính, ba lần đào ngũ, liên tiếp tù lao công đào binh… Nhưng anh thường kiệm lời, có lần đang giữa chuyện thì ngừng lại, xao lãng trong khói thuốc mà người đối diện hiểu tốt nhất là hãy để yên cho anh rẽ trôi vào mù sương quá khứ. Cả những lúc có bạn cùng thời kể chuyện anh trước mặt anh, tôi thấy anh chỉ cười cười, không nhận không cãi cũng không mấy khi vào cuộc. Có chuyện làm tôi nhớ mãi: Những năm 1960 thơ chưa có khái niệm "nhuận bút" nhưng anh San nhận được nhuận bút thơ ngay khi nộp bản thảo. Và tình huống rất chi… Thái Ngọc San: Về phép tại Sài Gòn, anh hốc hác bước vào tòa soạn Văn với nửa gương mặt ám khói thuốc nổ B.40, và với những bài thơ còn nồng mùi trận mạc nghĩa đen. Thư ký tòa soạn Trần Phong Giao liền ứng nhuận bút, mà cả hai hiểu là món quà thân tình và sang trọng, nhằm giải quyết cái khó cấp thời của thi sĩ một cách... văn nghệ.

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2023

Người Hát Đồng Dao và Kẻ Đốt Thuyền

Vĩnh Quyền

Zac Herman. (Hình: Rizwan Mujeebuddin)

Zac Herman. (Hình: Rizwan Mujeebuddin)

Từ lâu trên thế giới đã vang dội những cái tên sáng tác bằng ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ như Vladimir Nabokov (Nga), Joseph Conrad (Ba Lan), André Brink (Nam Phi), Elif Safak (Thổ), Jack Kerouac (Pháp-Canada), Samuel Beckett (Ai-len), Agota Kristof (Hungary), Rolando Hinojosa-Smith (Mỹ), Anna-Kazumi Stahl (Mỹ-Nhật)… Ngôn ngữ thứ hai họ sử dụng là những ngôn ngữ phổ biến nhất trên trái đất: Anh, Pháp và Tây Ban Nha.​

Trường hợp song ngữ Zac Herman

Zac Herman là trường hợp khác: một nhà văn trẻ người Mỹ viết truyện, làm thơ song ngữ, mà ngôn ngữ thứ hai là tiếng Việt, đăng trên báo Việt (Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động), xuất bản tại các nhà xuất bản Việt Nam.

Trước Zac tôi từng biết hai người nước ngoài giỏi tiếng Việt như tiến sĩ ngôn ngữ học Ivo Vasiljev (Tiệp Khắc), dịch giả Việt-Tiệp, và Joe Ruelle (Canada). Với bút danh ‘Dâu’ hoặc ‘Dâu Tây’, Joe thường xuất hiện trên các báo Việt những bài viết tiếng Việt thông minh, dí dỏm và đã xuất bản hai đầu sách: Tớ là Dâu (2007) và Ngược chiều vun vút (2012), thiên về văn truyền thông, tiểu phẩm.

Trong khi đó Zac hướng đến tiếng Việt trong môi trường văn chương. Nhìn vào mối quan tâm và hoạt động của anh đối với tiếng Việt chắc nhiều người Việt sẽ thấy quý mến anh và không khỏi băn khoăn về bản thân: Dịch 10/16 truyện ngắn trong tập The Dusk Wolf / Sói Hoàng Hôn của Vĩnh Quyền (NXB Hội Nhà văn, 2015) – sáng tác tập truyện song ngữ Who Can Fly? / Ai Biết Bay? (NXB Hội Nhà văn, 2016) – ba năm đọc và dịch bộ truyện cổ Việt Nam sang tiếng Anh (NXB Thế Giới, tập I, 2017) – sáng tác tập thơ song ngữ Dragon Beach / Bãi Biển Rồng (xuất bản vào cuối năm 2017) – đang nghĩ đến việc đọc tiếng Việt cổ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và dịch sang tiếng Anh…

Đôi khi tôi không biết rồi Zac sẽ chuyên tâm dịch văn học Việt-Anh hay sáng tác song ngữ Anh-Việt, hoặc song song. Nhưng tôi biết chắc một điều: những gì Zac dành cho tiếng Việt khởi từ tình yêu và niềm vui sáng tạo.

Người hát đồng dao cuối cùng và kẻ đốt thuyền trong mơ

Thơ giới thiệu trong tập Bãi Biển Rồng được sáng tác những năm gần đây, là những năm Zac Herman chọn Việt Nam làm nơi sống và yêu thương. Chúng đứng cạnh nhau mà khác đến mức đối lập về cấu tứ cũng như hình thức thơ.

Đôi khi giản dị như ghi chép một mẩu chuyện ngày thường gặp tình cờ trên đường phố.

Người bán vé số, bố trẻ
Có con gái nhỏ hơn tuổi.
Bố đưa xấp vé số
Thả bé yêu như thả cún
Vào quán cà phê ngoài trời.

Bé ngây thơ đến bên khách
Lẽ tự nhiên, khách mua vé

(Người bán vé số)

Đôi khi như tường thuật một chuyến đi đáng nhớ với những con người cụ thể trong không gian thời gian cụ thể.

Bắt xe đi Ninh Bình; bầu trời mù xám
Thuyền chèo lắc lư, trôi vào động Tam Cốc
Chùa Bái Đính khôi nguyên, Hoa Lư đổ nát
Cúc Phương lặng xanh. Quay về phố lạnh
Ăn tôm và dứa, uống trà gừng nóng
Cà phê ngoài trời. Cô chủ lúc đầu e dè
Mở lòng ra khi tôi nói tiếng Việt

(Một chuyến đi, một bạn cũ)

Và nếu ta chưa biết nhà thơ người Mỹ đã và đang dành nhiều thời gian đọc Thơ mới Việt Nam (1932-1945) hẳn sẽ ngỡ ngàng khi gặp dòng ghi chú phong cách ‘cổ điển’ ngay dưới tựa đề bài thơ trên.

Cảm hứng bài Gửi Trương Tửu của Nguyễn Vỹ.

Thậm chí trong Bãi Biển Rồng ta còn gặp Zac Herman như một trong những kẻ hát đồng dao cuối cùng với cái nhìn trẻ thơ trong veo và nhân ái trước thế giới chung quanh.

Voi sở thú
Già cằn cỗi
Da khô nẻ
Bụi phủ đầy
Gầy trơ xương

(Voi sở thú)

Thật ra cái mà ta thoáng tưởng gần gũi, thậm chí ‘cổ điển’ kia là một trong hình thức mở của thơ hiện đại, hướng đến nghệ thuật tối giản. Cảm giác đó càng rõ khi đọc những bài thơ không có câu chuyện nào của Zac.

Một giọng nói
Đầy căn phòng
Không biết chắc
Có hay không

(Giọng nói)

Không bất kỳ không gian, thời gian.

Một nơi nào không tên
Không thể gọi tên, tồn tại
Trong đầu

(Trong đầu)

Nhân vật ngôi thứ nhất cũng không hẳn là cái tôi tác giả.

Một giọng nói
Đầy căn phòng
Tôi biến mất
Có đôi lần
Tôi là tường
Có đôi lần
Tôi khoảng không

(Giọng nói)

Thơ Zac thuần túy sinh ra từ suy tư hay cảm giác.

Ngón tay vô dụng
Cảm giác
Không còn liên lạc
Bàn tay bẻ vụn
Những thỏi đất

(Quay về)

Từ cơn mê sảng.

Mê sảng trên sàn tôi tự hỏi
Cơ may nào tôi hiện hữu lúc này

(Bóng ma)

Và cả từ nỗi ám ảnh cái chết.

Người ta sẽ đến mang ghế đi
Buông rèm, lần nữa phòng lại tối
Mấy trang ghi chép, xâu chìa khóa
Ví da đã cũ để trên bàn
Chỉ có thế còn lại của tôi

(Còn lại)

Có thể nhận ra thơ Zac hầu hết là kết quả của quá trình khép kín giữa quan sát suy ngẫm – thăng hoa cảm xúc – và hội nhập chủ thể với khách thể. Nhà thơ được đánh thức bởi khoảnh khắc diệu kỳ, hoặc đắm chìm vào chi tiết nhỏ nhặt, quen thuộc đến mức ta thường trượt qua trong đời sống. Chẳng hạn ba ô cửa sổ trên bờ tường một ngôi nhà cao tầng.

Ba ô cửa trên góc tường
Vài chậu kiểng héo tô điểm
Bồ câu trắng, hồng bay đến
Tìm chỗ trú vào ban mai

Rồi đến một lúc chính người quan sát-nhà thơ biến thành ô cửa thứ tư trong toàn cảnh.

Ba ô cửa trên góc tường
Từ ô cửa nhà, tôi ngắm

(Ba ô cửa)

Thơ Zac lắm khi như lạc vào cõi giới tịch mịch Đông phương, cả tứ lẫn lời, nhưng cuối cùng vẫn là một căn cước thơ hiện đại Mỹ, khác chăng là một người Mỹ tha hương – American expatriate, rong ruổi khám phá cái tôi trong một nền văn hóa dị biệt. Và ta lạnh người khi nhà thơ dự cảm nơi ban đầu chọn làm điểm dừng sẽ là miền an nghỉ vĩnh cửu.

Trên bãi biển rồng, tôi cắm trại
Tự nhủ ‘từ hôm nay
Mình sống giữa các con rồng’

Lặng yên, trong những hàm rồng, lìa đời

(Bãi biển rồng)

Lựa chọn này không là thoáng chốc mà được nuôi dưỡng, lớn dần một quyết định, bình thản và giản dị dẫu vẫn có nước mắt trong lòng kẻ đốt thuyền, ở lại.

Giản dị. Như tôi đã muốn
Phải nhắc mình khi đứng dậy bước đi
Rằng tôi chẳng thể rời xa bãi biển
Là điều tôi biết
Từ khi đốt thuyền
Và khóc thầm lặng

(Giản dị)

Một lựa chọn vừa hạnh phúc vừa mất mát hệ quả như vậy hẳn lời nói ngày thường sẽ không diễn đủ, nên phải nương đến đôi cánh của thơ. Nhưng nếu thơ cũng bất lực, thì sao hở Zac?

***

TRÍCH TỪ TẬP THƠ SONG NGỮ DRAGON BEACH / BÃI BIỂN RỒNG

BÃI BIỂN RỒNG

Trên bãi biển rồng, tôi cắm trại
Tự nhủ ‘từ hôm nay
Mình sống giữa các con rồng’.
Rồng ngủ ở dưới cát
Vào ban ngày.
Đêm, khi trời dịu mát–
Khi trời êm đềm, chúng hiện ra.
‘Mày không sợ bọn tao sao?’ Chúng nói,
Xúm quanh lều, chúng thở
Hơi thở gầm gừ sưởi ấm người tôi;
Tôi trả lời khẽ như một thở dài.
Lặng yên, trong những hàm rồng, lìa đời.

DRAGON BEACH

On Dragon Beach I staked my tent
And told myself, ‘From today
You live among the dragons.’
The dragons slept beneath the sand
During the day.
At night, when it was cool–
When it was calm, they would appear.
‘Are you not scared?’ They said to me,
Gathered round my tent. They breathed
Heavy bellowed breaths that kept me warm;
I answered softly, almost like a sigh.
Quietly, cradled in their jaws, I died.

CÒN LẠI

Chiều muộn ngày nắng hanh tháng Sáu
Đong đưa vàng hoa thêu mẫu đơn
Tán cọ bồng lên cơn gió cuốn
Sàn trống, ghế anh đào ngập sáng
Tầng hai biệt thự một thư phòng.
Tôi đã rời đi trong phút giây
Áo choàng lưng ghế vẫn còn đấy
Như thể một mai tôi sẽ về.
Người ta sẽ đến mang ghế đi,
Buông rèm, lần nữa phòng lại tối
Mấy trang ghi chép, xâu chìa khóa
Ví da đã cũ để trên bàn
Chỉ có thế còn lại của tôi.

WHAT’S LEFT

The late afternoon on a sunny June day
Sways in the embroidered gold peonies
A gust heaves the palm canopy
Light floods the bare floor and cherrywood chair
In the second floor workspace of the villa.
I am gone from the chair, gone recently
Since the striped collared shirt is
Still draped on its back, as if I’d return.
Someone will come and take out the chair,
Close the curtain making the room dark again
A few handwritten notes, ring of keys,
And an old wallet on the table is
What’s left of me.

GIẢN DỊ

Giản dị. Hải âu bay vút miền lạnh
Nơi tôi ngủ đêm qua
Ngoài tầm đầu ngọn triều
Chờ cái chạm của biển
Hạt cát trôi vào miệng
Vốc nước mặn, uống
Với lòng biết ơn.
Giản dị. Như tôi đã muốn
Phải nhắc mình khi đứng dậy bước đi
Rằng tôi chẳng thể rời xa bãi biển
Là điều tôi biết
Từ khi đốt thuyền
Và khóc thầm lặng.

SIMPLE

Simple. Gulls dart over cold land
Where I slept last night
Beyond the reach of the sea
A touch I sought in the dark
Sand between my teeth
I drank a palm of salt water
Swallowed it gratefully.
Simple. Like I wanted to be
I reminded myself as I stood up to go
Since I could no longer exit the beach
I had made sure of that
When I burned the boat
And wept quietly.

Thứ Bảy, 26 tháng 2, 2022

Thư ngỏ của các nhà khoa học và các nhà báo khoa học người Nga phản đối chiến tranh với Ukraine

Nguồn: http://trv-science.ru/2022/02/we-are-against-war/

Vĩnh Quyền dịch

image

Chúng tôi, các nhà khoa học và nhà báo khoa học người Nga, tuyên bố phản đối mạnh mẽ cuộc tấn công thù địch bằng lực lượng vũ trang của nước ta vào lãnh thổ Ukraine. Bước đi chết chóc này dẫn đến thiệt hại nặng nề về tính mạng con người và hủy hoại nền tảng hệ thống an ninh quốc tế đã được thiết lập. Trách nhiệm gây ra một cuộc chiến tranh mới tại Châu Âu hoàn toàn thuộc về Nga.

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2021

Tấm mạng được vén lên

Vĩnh Quyền

Hơn năm năm qua tôi ba lần xem phim này và lần nào cũng cảm kích đặc biệt. https://www.youtube.com/watch?v=i1hi5yaaPoA

Lịch sử chứng minh ở đâu và lúc nào có trấn áp tự do sáng tạo thì nơi ấy và lúc ấy có phản kháng, bằng nhiều hình thức. Đôi khi người nghệ sĩ vô tình “mang ơn” quyền bính tăm tối: Chính tham vọng kiểm soát tất cả đã tạo tình thế thúc bách, sức nén dữ dội để bật ra tác phẩm đặc sắc.

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

40 năm chiến tranh Trung Quốc – Việt Nam: Nghĩ về lịch sử và cái gọi là lịch sử

(Rút từ facebook của Vĩnh Quyền)

Tôi phân biệt cực đoan “văn hóa” bành trướng Trung Quốc với văn hóa Trung Hoa, một trong vài nền văn hóa lớn của nhân loại. Chỉ riêng từ “lịch sử” trong văn tự Trung Hoa đã khiến tôi nghĩ ngợi nhiều trong những ngày trước ngày 17.2 lịch sử.

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2018

Trần Vàng Sao Nguyễn Đính: Tiếng khóc lớn trong thơ Việt

Vĩnh Quyền
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, kính mắt

1.
Cuối thập niên 60 thế kỷ trước, tại Trường trung học Quốc Học – Huế, tôi học văn và công dân giáo dục với một nhân vật ngoại hạng trong mọi chiều kích: Nhà thơ yêu nước Ngô Kha. Ấy là thời gian Thanh Tâm Tuyền và Ngô Kha xuất hiện như hai nhà thơ siêu thực đầu tiên trong thi ca Việt Nam, và trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí của thầy gây chấn động văn đàn: bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông/ đọc diễn văn truy tặng người đãng trí/ ngày nằm bệnh tôi mơ thấy vòng tay núi/ khúc hát ngu ngơ của bông lau/ tháng giêng từ giã thuốc đắng đi tìm cỏ may/ tôi không thấy nàng mặc áo chim/ chỉ có người hư vô và mặt trời/ tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu… (Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí). Một lần, thầy nói với học trò hôm nay giỗ đầu Trần Quang Long người bạn thiết, và hào sảng đọc thơ anh. Là lần đầu tôi tiếp xúc bài Thưa mẹ, trái tim. Lần khác, thầy khuyên chúng tôi tìm đọc bài Bài thơ của một người yêu nước mình. Cũng là lần đầu tôi biết đến Trần Vàng Sao.
Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018

Thơ Trần Vàng Sao – Giọt lạ lưng trời mưa Huế

Vĩnh Quyền

Chân dung nhà thơ Trần Vàng Sao.

Chân dung nhà thơ Trần Vàng Sao.

Năm 1988 lần đầu tiên thơ Trần Vàng Sao đã được đăng trên tạp chí Sông Hương – Năm 2005 NXB Giáo dục đã chọn “Bài thơ của một người yêu nước mình” của Trần Vàng Sao vào danh sách 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 – Năm 2012 NXB Hội Nhà văn đã xuất bản trường ca “Gọi tìm đồng đội” của Trần Vàng Sao – Năm 2013 Quỹ Phùng Quán đã trao tặng thưởng ấn phẩm trường ca “Gọi tìm đồng đội” của Trần Vàng Sao. Bao giờ chúng ta sẽ có tuyển thơ Trần Vàng Sao? Sớm muộn rồi phải có. Chỉ mong đừng quá muộn.

Thứ Tư, 27 tháng 9, 2017

‘từ khi tôi đốt thuyền’

Vĩnh Quyền

image

Zac Herman

Tác phẩm văn học song ngữ là phân khúc khiêm tốn nhất trong thị trường sách Việt Nam. Dù văn nhân Việt trong quá khứ có truyền thống sử dụng đồng thời hai văn tự Hán, Nôm – và thêm văn tự thứ ba ‘quốc ngữ la-tinh’ từ cuối thế kỷ 18 – nhưng hiện nay sáng tác song ngữ là công việc không tưởng ở Việt Nam, có chăng chỉ là hiện tượng lẻ loi.

Từ lâu trên thế giới đã vang dội những cái tên sáng tác bằng ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ như Vladimir Nabokov (Nga) Joseph Conrad (Ba Lan), André Brink (Nam Phi), Elif Safak (Thổ) Jack Kerouac (Pháp-Canada) Samuel Beckett (Ai-len), Agota Kristof (Hungary) Rolando Hinojosa-Smith (Mỹ), Anna-Kazumi Stahl (Mỹ-Nhật)… Ngôn ngữ thứ hai họ sử dụng là những ngôn ngữ phổ biến nhất trên trái đất: Anh, Pháp và Tây Ban Nha.

Trong bối cảnh như vậy càng thấy rõ Zac Herman là trường hợp khác, cá biệt, thậm chí chưa từng có trước đây: một nhà văn người Mỹ viết truyện, làm thơ song ngữ, mà ngôn ngữ thứ hai là tiếng Việt, đăng trên báo Việt (Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động), xuất bản tại các nhà xuất bản Việt Nam.

Thứ Sáu, 23 tháng 6, 2017

Phim tài liệu Mỹ:

Nơi cất giữ tốt nhất những gì đã xảy ra giữa hai dân tộc

Vĩnh Quyền
Film The Vietnam War
Sau sáu năm thực hiện, từ tháng 9 năm 2017 bộ phim tài liệu The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) gồm mười phần với tổng thời lượng 18 tiếng sẽ lên sóng truyền hình toàn nước Mỹ qua hệ thống PBS (Public Broadcasting Service, mạng truyền thông công cộng bất vụ lợi với 349 đài truyền hình thành viên tại Hoa Kỳ). Như vậy, cùng với giải Pulitzer 2016 trao cho tiểu thuyết The Sympathizer (Cảm tình viên) của nhà văn Mỹ gốc Việt Nguyễn Thanh Việt, bộ phim mới đang được giới truyền thông dành nhiều quan tâm này cho thấy người Mỹ vẫn chưa thể quên cuộc chiến tranh giữa hai nước dù nó được cho là đã kết thúc hơn 40 năm. Đó cũng là một trong những lời bình mở đầu bộ phim.
Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

THÁI NGỌC SAN v à b ầ y p h ư ợ n g h o à n g l ỗ i h ẹ n

Vĩnh Quyền

Văn - Vĩnh QuyềnMột thời tôi và nhà báo Nguyễn Trung Dân, giờ phụ trách Chi nhánh Miền Nam NXB Hội Nhà văn, mỗi lần rủ nhau về Huế, hai đứa thường nói đi thăm anh San, ra anh San chơi hè. Như thể ở thành phố của những người thú vị ấy thì Thái Ngọc San là người thú vị nhất.

Tôi đang viết văn và chỉ biết viết văn thì Nguyễn Trung Dân rủ viết báo. Không thuyết lý gì hết, cứ trong bữa rượu, nghe tôi xuất bản miệng chuyện chi hạp ý, Dân vỗ tay xuống bàn: viết, viết cái đó cho tui. Cho tui là cho báo Quảng Nam-Đà Nẵng Chủ Nhật, nơi Dân làm thư ký tòa soạn. Có lần tôi tình cờ nói đất Quảng tự hào có ngũ phụng tề phi, nhưng thu thập tư liệu viết tiểu thuyết lịch sử, tôi thấy năm ông tiến sĩ đồng khoa Mậu Tuất -1898 không để lại sự nghiệp đáng kể, một ông còn dính nghi án báo tin cho Khâm sứ Trung kỳ ngăn chận kịp thời cuộc khởi nghĩa Duy Tân 1916, vậy mà hàng năm đến dịp khai giảng - bế giảng năm học, quan chức ngành giáo dục cũng như chính quyền tỉnh thường khuyên học sinh phải xứng danh truyền thống ngũ phụng tề phi, việc sai này phải sửa dù muộn. Dân lại vỗ tay xuống bàn: viết cho tui. Hệ quả là tôi bị một số trí thức, đồng nghiệp không hài lòng ra mặt, dù bài báo có một cái kết công bằng: Rằng đất Quảng có một ngũ phụng khác được cả nước kính ngưỡng: Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp. Năm ông tiến sĩ, phó bảng này tuy không cùng cất cánh từ một khoa thi (tề phi) nhưng họ bay cùng một hướng yêu nước thương nòi.

Chuyện đến tai Thái Ngọc San, anh cười khắc khắc bảo tôi: thằng ‘mệ’ (cách người Huế gọi người hoàng tộc) ni ngó tào lao rứa mà có chất làm báo, bữa ni viết cái chi hay gửi tau. Gửi tau là gửi Sông Hương, nơi anh làm thư ký tòa soạn. Từ đó, tôi trở thành cộng tác viên tạp chí này.

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2017

Đọc “Đạo quân Trung Quốc thầm lặng”, ngẫm về nghề viết phóng sự

Vĩnh Quyền

imageTôi là kẻ kiệm lời khen. Thế nhưng, suốt gần hai tháng đọc đối chiếu Anh Việt bản dịch trường thiên phóng sự China’s Silent Army (Đạo quân Trung Quốc thầm lặng)(*) trước khi xuất bản theo yêu cầu của NXB Hội Nhà văn khu vực phía Nam, trong đầu tôi thường xuyên bật lên câu tán thưởng ‘kỳ vỹ, kỳ vỹ… ’. Nôm na là lớn lao-mới mẻ-thú vị làm sao! Tôi cũng đã ngợi khen dịch giả – tiến sĩ Nguyễn Đình Huỳnh – ‘có mắt xanh’ lẩy ra một cuốn độc đáo giữa biển sách viết về Trung Quốc thời không còn giấu mình. Nhân dịp China’s Silent Army tái bản vào đầu năm 2017 tôi chia sẻ cùng bạn đọc Văn Việt những suy nghiệm về nghề viết phóng sự nhặt được từ tác phẩm báo chí bậc thầy này.

Phẩm chất và tư cách nhà báo

Tác giả China’s Silent Army là hai nhà báo người Tây Ban Nha chuyên về Trung Quốc và khu vực châu Á-Thái Bình Dương: Juan Pablo Cardenal và Heriberto Araújo. Năm 2003 Juan Pablo Cardenal thường trú tại Thượng Hải cho báo El Mundo, sau đó tại Singapore rồi Bắc Kinh cho báo El Economista. Heriberto Araújo thường trú tại Bắc Kinh từ năm 2007 cho AFP trang tiếng Tây Ban Nha. Sau khi xuất bản China’s Silent Army, Juan tác nghiệp ở Hồng Kông còn Heriberto trở thành phóng viên tự do cho các báo tiếng Pháp và Tây Ban Nha.

Juan và Heriberto có điểm chung về lý tưởng nghề nghiệp. Thường trú tại Bắc Kinh, trái tim và đầu não của Trung Quốc, hàng ngày họ được tiếp xúc khối lượng lớn thông tin về đất nước đang trỗi dậy thành gã khổng lồ châu Á, chứng kiến sức chuyển động âm thầm đồng thời mãnh liệt của thời kỳ đầu vươn mình khai cuộc chinh phục thế giới bằng cách riêng của Trung Quốc. Và cả hai thấy không thỏa đáng với công việc ở văn phòng thường trú: “Trong khi đó, ngày nào chúng tôi cũng chỉ viết về GDP và các biến số kinh tế vĩ mô khác của Trung Quốc. Không thể chịu đựng nổi điều này khi chúng tôi có thể nhìn thấy lịch sử đang đổi dòng ngay trước mắt mình, ở các giếng dầu Angola, các mỏ sắt Peru và những khu chợ Trung Á ngập hàng Made in China... Hãy trở lại với nghề báo thực sự, một tác phẩm báo chí chỉ có ý nghĩa và giá trị khi được thực hiện tại chỗ. Nói cách khác, chúng tôi phải đi đến tận những nơi nhìn được rõ nhất dấu chân của gã khổng lồ Trung Quốc. Đã đến lúc rời bỏ văn phòng với điều hòa không khí và các phương tiện truyền số liệu kinh tế để đi châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, tự mình nhìn thấy, va chạm và nếm trải cách thức Trung Quốc trở thành một thế lực toàn cầu”.

Quan trọng hơn, Juan và Heriberto quyết định nghỉ việc tại nơi họ đang làm việc: báo El Economista và hãng tin AFP. Họ cũng quyết định không tìm nhà tài trợ mà dùng tiền tích lũy “đầu tư” vào hai năm di chuyển khắp thế giới và viết China’s Silent Army. Ứng xử nghề nghiệp này thường làm nóng các cuộc họp báo sau đó. Juan ngắn gọn giải thích, “chúng tôi cần độc lập tài chính để thiên điều tra được độc lập”.

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

Đọc lại Giải Pulitzer báo chí 2004

BURIED SECRETS, BRUTAL TRUTH

Khi Sự Thật Trên Hết

Vĩnh Quyền

SỰ THẬT ĐỨNG TRÊN PUSKIN

TRÊN NHÂN DÂN NGA

VÀ TRÊN CẢ NƯỚC NGA

DOSTOIEVSKI

Bằng sự thật và chỉ bằng sự thật nước Nga mới được phụng sự lý tưởng nhất, nhân dân Nga mới được phục vụ tận tụy nhất. Dostoievski muốn nói như thế từ 150 năm trước. Nhà văn không nhằm vào nhà báo khi phát biểu, mà là các nhà hoạt động chính trị, vào giới cầm quyền. Nhưng lời nói ấy, cho đến nay và mai sau, lại có thể “tư vấn” cho những ai chọn nghề báo làm nghiệp dĩ. Rằng : Có những sự thật như thể “vạch áo cho người xem lưng”, như thể phơi lộ vết chàm lỡ nhúng để làm tổn thương chính mình, “người mình”, đất nước mình trước thiên hạ. Nhưng ngẫm cho cùng, và thực tế đã chứng minh mạnh mẽ rằng, nói lên sự thật – đặc biệt là loại sự thật làm đau xót cả cộng đồng mà bản năng con người luôn muốn che đậy – là một trong những phẩm chất làm vinh danh cộng đồng ấy, đất nước ấy, dân tộc ấy. Phải có trình độ dân trí cao, tổ chức xã hội cao, có hệ thống pháp lý minh bạch, có đời sống dân chủ mới có đất cho sự thật lên tiếng nói.