Danh Ngôn

Những nhà văn xuất chúng luôn luôn là những nhà phê bình nghiêm khắc nhất đối với chính tác phẩm của mình.

(The best authors are always the severest critics of their own works.)

Lord Chesterfield, chính khách, nhà văn Anh. (1694-1773). Thư gởi con trai, 6 tháng Năm 1751

Tôi có một nhà phê bình đòi hỏi quá quắt hơn các bạn: đấy là cái tôi thứ hai của tôi.

(I have a critic who is more exacting than you: it is my other self.)

Jean Meisonier, họa sĩ Pháp. Trong tuyển tập của Alice Hubbard, An American Bible, tr. 192, 1946

Hỏi một nhà văn đang sáng tác ông ta nghĩ gì về các nhà phê bình cũng giống như hỏi một cột đèn cảm thấy thế nào về các con chó.

(Asking a working writer what he thinks about critics is like asking a lamppost how it feels about dogs.)

Christopher Hampton, nhà soạn kịch sinh tại Bồ Đào Nha 1946 hiện sống tại Anh. Trong Sunday Times, (London), 16 tháng Mười 1977

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thơ Trần Vàng Sao – Giọt lạ lưng trời mưa Huế

Vĩnh Quyền

Chân dung nhà thơ Trần Vàng Sao.

Chân dung nhà thơ Trần Vàng Sao.

Năm 1988 lần đầu tiên thơ Trần Vàng Sao đã được đăng trên tạp chí Sông Hương – Năm 2005 NXB Giáo dục đã chọn “Bài thơ của một người yêu nước mình” của Trần Vàng Sao vào danh sách 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 – Năm 2012 NXB Hội Nhà văn đã xuất bản trường ca “Gọi tìm đồng đội” của Trần Vàng Sao – Năm 2013 Quỹ Phùng Quán đã trao tặng thưởng ấn phẩm trường ca “Gọi tìm đồng đội” của Trần Vàng Sao. Bao giờ chúng ta sẽ có tuyển thơ Trần Vàng Sao? Sớm muộn rồi phải có. Chỉ mong đừng quá muộn.


1. Cuối thập niên 60 thế kỷ trước, tại Trường trung học Quốc Học – Huế, tôi học văn và công dân giáo dục với một nhân vật ngoại hạng trong mọi chiều kích: Nhà thơ yêu nước Ngô Kha.

Ấy là thời gian Thanh Tâm Tuyền và Ngô Kha xuất hiện như hai nhà thơ siêu thực đầu tiên trong thi ca Việt Nam, và trường ca “Ngụ ngôn của người đãng trí” của thầy gây chấn động văn đàn: bây giờ tôi mang hoa đến dòng sông/ đọc diễn văn truy tặng người đãng trí/ ngày nằm bệnh tôi mơ thấy vòng tay núi/ khúc hát ngu ngơ của bông lau/ tháng giêng từ giã thuốc đắng đi tìm cỏ may/ tôi không thấy nàng mặc áo chim/ chỉ có người hư vô và mặt trời/ tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu… (Trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí).

Một lần, thầy xúc động nói với học trò hôm nay giỗ đầu Trần Quang Long người bạn thiết, và hào sảng đọc thơ anh. Là lần đầu tôi tiếp xúc bài “Thưa mẹ, trái tim”. Lần khác, thầy khuyên chúng tôi tìm đọc bài “Bài thơ của một người yêu nước mình”. Cũng là lần đầu tôi biết đến cái bút danh như một thách thức chế độ Sài Gòn: Trần Vàng Sao. Hai bài thơ nói trên rồi trở thành một phần ký ức tuổi mới lớn của tôi.

Bên cạnh một Trần Quang Long đanh như tạc đạn nổ ngang tai: nếu thơ con bất lực/ con xin nguyện trọn đời/ dùng chính quả tim làm trái phá/ sống chết một lần thôi (Thưa mẹ, trái tim - 1966), Trần Vàng Sao trong “Bài thơ của một người yêu nước mình” dàn trải đến 155 câu, xâu kết nhiều thi ảnh đẹp và tang tóc về quê hương với điệp khúc xoáy vào tim óc: Tôi yêu đất nước này xót xa - Tôi yêu đất nước này khôn nguôi - Tôi yêu đất nước này như thế - Tôi yêu đất nước này lầm than - Tôi yêu đất nước này chân thật - Tôi yêu đất nước này áo rách - Tôi yêu đất nước này những buổi mai…

Anh Long anh Đính hoạt động trong phong trào sinh viên yêu nước rồi kẻ trước người sau nối nhau “nhảy núi”. Thầy Ngô Kha tiếp tục cuộc chiến trên đường phố và trong nhà tù, để rồi bị thủ tiêu ngày 30.1.1973, ba ngày trước Tết Nguyên đán Quý Sửu. Mãi nhiều năm sau mới có người lên tiếng xác nhận xác thầy vùi đâu đó giữa đồng An Cựu. Như chính thầy đã linh cảm: buổi chiều phơi thây ngoài cánh đồng/ và người tù hát bài ca của đất.

2. Mấy năm sau năm 1975, sau cú sốc đổi đời tất tật gần như chỉ sau một đêm, tôi mừng thấy mình thỉnh thoảng lại đọc thơ. Có những chiều hoang tôi mải ngẩn ngơ với thứ tiếng Việt chưng cất, hóa vàng như hoa về trong đêm hơi, mùa em thơm nếp xôi của Quang Dũng, hay em nằm đắp khói sương, sao xót xa như rụng bàn tay của Hoàng Cầm. Rồi một mùa đông về nhà dọn tủ sách ướt lụt, nhặt được xấp giấy manh chép “Bài thơ của một người yêu nước mình” từ bảy, tám năm trước.

Ngồi bệt xuống sàn ẩm và ngai ngái mùi bùn non sông Hương, dỡ từng tờ dính bết vào nhau gợn sóng lăn tăn, tôi đọc trong ánh chiều nhá nhem ngày cắt điện. Lúc này tôi dành mối quan tâm cho ngôn ngữ và cấu trúc, và chợt nhận ra một Trần Vàng Sao làm thơ cách tân, và nảy ý muốn gặp tác giả uống chén rượu chơi, và dừng lại ở đó.

Nhưng từ đó tôi lắng nghe chuyện đời anh mỗi khi có dịp, những chuyện sau này thành giai thoại. Năm 1983, tôi gặp Trần Vàng Sao, dẫn đường là nhà báo Nguyễn Trung Dân, hiện là giám đốc chi nhánh phía Nam của NXB Hội Nhà Văn, cũng là người chủ trương xuất bản tập trường ca “Gọi tìm xác đồng đội” (2012), đánh dấu sự kiện lần đầu tiên một nhà xuất bản trong nước xuất bản tác phẩm của Trần Vàng Sao.

Từ đó, những lần về Huế tôi đến thăm anh, huyên thuyên chuyện đời chuyện văn bên ly rượu, buồn có vui có. Lúc ấy cuộc sống còn nhiều thiếu thốn, thỉnh thoảng anh bảo tôi “hết giấy, mi kiếm cho tau một ít, loại dùng rồi còn một mặt cũng được”. Anh không nói ra nhưng tôi biết anh cần giấy làm thơ, viết hồi ký. Rất nhiều người, thân cũng như sơ, trong câu chuyện hay trong bài viết liên quan đến anh, thường mô tả anh luôn tỏ vẻ sợ hãi, như biểu hiện của một thứ hội chứng nào đó.

Riêng tôi, tôi không nghĩ vậy, dù gần như thường xuyên nghe anh lo lắng “rứa can chi không bây hè” mỗi khi động đến chuyện viết lách in ấn của bản thân. Nói như vậy tôi hoàn toàn không có ý cho rằng anh không thực. Mà theo tôi đó là hình thức phản vệ, thậm chí là trò giễu. Bởi đơn giản, tôi đọc thơ anh khá nhiều, đủ để nghiệm rằng, thơ anh là một tiếng khóc lớn, nhưng nhất định là tiếng khóc của một kẻ uy vũ bất năng khuất: bây giờ cho tới cuối đời/ thì tôi vẫn cứ như tôi thế này (Lục bát). Aristotle nói thơ thật hơn lịch sử, tôi xin phép nhại triết gia: thơ thật hơn nhà thơ.

3. Trở lại chuyện quan trọng. 35 năm trước, tôi đọc ra Trần Vàng Sao là một nhà thơ cách tân. Năm ngoái, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến xuất bản công trình nghiên cứu 1100 trang, “Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975-2015”, ghi nhận Trần Vàng Sao là 1 trong số 69 nhà thơ cách tân trong 40 năm qua. Theo tôi, trường hợp Trần Vàng Sao, anh đã làm thơ cách tân từ những năm đầu thập niên 60 thế kỷ trước.

Gần như đời thơ Trần Vàng Sao chỉ theo đuổi một đề tài: Đất nước và Tôi. Nhưng Đất nước trong thơ anh không theo dòng sử thi trầm hùng bi tráng quen thuộc của thơ ca Việt, mà thật và gần như manh áo rách của mẹ, tiếng chó sủa đầu ngõ, cơn mưa tối tăm mặt mũi, những bông mía trắng gió thổi ven sông…

Tôi trong thơ Trần Vàng Sao là cái tôi cá nhân một Nguyễn Đính yêu mẹ, yêu đất nước mình, cũng là Nguyễn Đính chính danh bi kịch một đời “lên bờ xuống ruộng”: tôi ký tên tôi/ nguyễn đính/ thơ tôi là đời tôi là tôi đây…/ hãy lấy thơ tôi đắp mặt cho tôi… (Sự tích tôi làm hề). Đó là chỉ dấu đầu tiên của thơ cách tân.

Lại cũng là cái tôi hóa nhập người khác, như người mất trí, như thằng hề, hoặc một lúc cả hai – thằng hề mất trí: Tôi đeo mặt nạ vẽ tôi là hề/ Rồi thổi kèn nhảy múa một mình tôi…/ Khán giả vỗ tay la ó/ Tôi cười thật to…/ Tôi xin cất mặt nạ ra cúi chào mọi người thân mật/ Không có ai ở trong và ở ngoài sân khấu này/ Đêm có mùi cỏ khô và rơm ướt… (Khoảng trống ngoài sân khấu).

Đặc sắc nhất vẫn là cái tôi tài hoa chân thật nghệ thuật trong bài “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình”. Ở tuổi đỉnh cao của đời một đàn ông, Nguyễn Đính - Trần Vàng Sao nói gì về mình? Ai chưa đọc hãy tìm đọc. Ai đọc rồi nên đọc lại. Đọc để biết đau đớn, đọc để còn hy vọng…

Thơ Trần Vàng Sao vẫn có nhạc tính của ngữ điệu tự nhiên nhưng thường không vần, trúc trắc, gập ghềnh, dài ngắn tùy hứng, chỉ cốt thể hiện trạng thái cảm xúc: Tôi thèm một miếng mỡ/ Miếng mỡ to và dày nằm trong một thứ nước đặc đóng váng/ Miếng mỡ ở trong miệng tôi/ Tôi cắn/ Miếng mỡ kêu bụp đứt ngang/ Nước chảy giữa hai hàm răng/ Tôi nuốt/ Miếng mỡ trôi qua cuống họng/ Tôi mất đà/ Gió thổi chao ngọn đèn… (Bây giờ tôi trông mỗi ngày có gạo ăn).

Những lát cắt, những mảnh ghép thi ảnh đa chiều, thường rơi vào cuối đoạn, mở ra những liên tưởng thật bất ngờ và xao động. Ngôn ngữ ngày thường chảy thấu vào mạch thơ Trần Vàng Sao tự nhiên như lời nói cuộc đời thô mộc ngoài kia mà sao đọc chảy nước mắt: con tôi là Phan Văn Tốt/ cấp bực trung sĩ/ vào Nam năm 1968/ chết đâu ở Quảng Trị/ có ai biết xác con tôi chôn ở đâu không/ chỉ cho với/ tôi chỉ có một thằng con/ tôi không còn ai hết/ tôi là Phan Văn Sáu/ 72 tuổi/ ăn mày ở thị xã Phú Thọ… (Gọi tìm đồng đội).

Và tôi muốn nói thêm về một chỉ dấu của thơ cách tân: làm mới vốn văn học truyền khẩu dân gian. Trước hết thử nghe “bà Huế” chưởi mất gà: tau chửi cho tan nát tông môn họ hàng cái quân khốn kiếp/ cái quân vô hậu kế đợi đã ăn hết của tau bảy con gà xám, tám con gà vàng/ bay ăn chi mà ăn ác nhơn ác nghiệp, ăn một lần một chục rưỡi con gà/ bay ăn cho chồng bay sợ, cho con bay kinh/ bay ăn cho ngả miếu sập đình, cho mồ cha bay chết hết để một mình bay ngồi đó mà ăn… để thấy Trần Vàng Sao tỏ ra xứng đáng là “hậu duệ”: Kêu trời không thấu/ tau phải câm miệng hến/ không được nói/ không được la hét/ nghĩ có tức không/ tau chưởi/ tau phải chưởi/ tau chưởi bây/ tau chưởi thẳng vào mặt bây/ không bóng không gió/ không chó không mèo/ mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước/ giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây/ đặng nghe tau chưởi… Mong nhà thơ sớm được trả lại thứ đã bị đánh cắp.

Nguồn: https://laodong.vn/van-hoa/tho-tran-vang-sao-giot-la-lung-troi-mua-hue-591703.ldo