Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nguyễn Hưng Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 11 tháng 2, 2018

Văn học miền Nam 54-75 (454): Tô Thùy Yên (kỳ 3)

Thơ Tô Thùy Yên

Nguyễn Hưng Quốc


Trong hai bài “Thơ sau 1954” mới đây, tôi đi đến một nhận định chính: thơ Việt Nam, đặc biệt ở miền Nam, từ 1954 đến 1975, là dòng thơ của cái tôi ý thức với những ám ảnh khắc khoải mang đầy tính siêu hình.

Tiêu biểu nhất cho cái tôi ý thức ấy có lẽ là thơ của Tô Thuỳ Yên.

Thơ Tô Thuỳ Yên không hoàn toàn mới. Thơ Tô Thuỳ Yên là sự kết hợp hoàn chỉnh và đẹp đẽ giữa hai yếu tố mà giới phê bình lý luận văn học tại Việt Nam thường nói đến: tính dân tộc và tính hiện đại. Có thể dễ dàng tìm thấy trong thơ Tô Thuỳ Yên vô số những dấu vết của truyền thống bên cạnh vô số những điểm cách tân độc đáo: cả hai hài hoà với nhau làm cho thơ ông, ở những bài thành công nhất, có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển.

Tô Thuỳ Yên, theo tôi, trước hết là một nhà thơ trí thức. Hãy đọc lại các bài thơ đầu tay của Tô Thuỳ Yên đăng trên Sáng Tạo và Thế Kỷ 20 vào cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960 (1). Đã đành là chưa có bài nào thật xuất sắc. Song tất cả đều thể hiện hai niềm băn khoăn chính: định nghĩa thơ và định nghĩa mình với tư cách là một nhà thơ (2). Qua đó, có thể thấy một đặc điểm lớn trong phong cách Tô Thuỳ Yên: ông bắt đầu sự nghiệp làm thơ một cách đầy tự giác. Ông không cậy vào cảm hứng, vào năng khiếu, như hầu hết những người làm thơ khác.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (141): BÙI GIÁNG (6)

Trường Hợp Bùi Giáng

Nguyễn Hưng Quốc

Khi viết về thơ ở miền Nam trước 1975 cũng như thơ trong nước sau 1975, tôi ít nhắc đến Bùi Giáng. Không phải vì tôi đánh giá ông thấp. Ngược lại. Tôi đồng ý với Mai Thảo: Bùi Giáng là một tài thơ trác tuyệt. " Có Ông, thi ca mới đích thực có biển có trời" (1). Càng đọc Bùi Giáng tôi càng thấy ông lạ lùng. Con người ông lạ lùng: nói như Thanh Tâm Tuyền, qua lời kể của Mai Thảo, Bùi Giáng là người " ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ thơ, làm thơ" (2). Thơ ông càng lạ lùng, lạ lùng đến nổi ai cũng ngại ngùng khi viết về ông. Kể chuyện về ông: có, nhưng phê bình thơ ông: chưa. Có lần, Thanh-Tâm-Tuyền gọi Bùi Giáng là một " thiên tài tự hủy ghê gớm nhất của thi ca Việt Nam hiện đại" và là " một hồn thơ bị vây khốn" (3). Bị vây khốn bởi cái gì? Theo tôi, Bùi Giáng bị vây khốn, trước hết, bởi những hoài nghi, những dằn vặt. Thì một số khá đông các nhà thơ khác ở miền Nam thời kỳ 1954-1975 cũng hoài nghi, cũng dằn vặt. Song, có điều, không ai sống đến tận cùng sự hoài nghi, sự dằn vặt như là Bùi Giáng. Thơ Bùi Giáng là những phún thạch phun lên từ hỏa diệm sơn của hồn ông. Nhưng khác các nhà thơ khác, Bùi Giáng lại ngụy trang thảm kịch của mình bằng một giọng cợt nhã, bông đùa. Trong một bài viết về Hàn Mặc Tử, sau khi ghi nhận thơ Hàn Mặc Tử là " một tiếng thét và một lời than. Tiếng thét đầy máu, tiếng than tràn ngập hư vô. Lúc hãi hùng khiếp đảm, lúc quạnh quẽ lạc phách xiêu hồn" , Bùi Giáng nhắc đến thơ của chính ông như một sự so sánh:

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2015

VĨNH BIỆT NHÀ VĂN VÕ PHIẾN


Văn Việt vừa được tin nhà văn Võ Phiến qua đời vào ngày 28/9/2015 tại Santa Ana, bang California (Hoa kỳ), thọ 90 tuổi. Ông là một nhà văn độc đáo, đa tài, một tên tuổi nổi bật của Văn học Miền Nam 1954-1975, một tài năng của văn học hiện đại Việt Nam; là người đóng góp tích cực vào việc xây dựng nền văn chương tiếng Việt Hải ngoại sau 1975. Văn Việt xin thay mặt các cây bút cộng tác viên và bạn đọc thành kính thắp nén nhang bái vọng linh cữu nhà văn, cầu chúc hương hồn ông yên nghỉ cõi vĩnh hằng, và chia buồn cùng tang quyến. Võ Phiến sẽ trường tồn qua các trang viết sâu nặng tình tự dân tộc của ông.

  

Văn Việt xin đăng tải ở đây một trong những bài viết mới nhất về nhà văn Võ Phiến
Phong cách Võ Phiến
Nguyễn Hưng Quốc
Ít nhất từ 1986, từ khi vượt biên và định cư tại Pháp, sau đó, qua Úc, tôi đọc Võ Phiến khá thường xuyên. Khi ông không in sách mới thì tôi đọc lại sách cũ. Cơ hồ nghiện. Lâu, không đọc ông, có cảm giác gần như nhớ nhung cái gì.
Cái gì đó là gì? Nhiều lần tôi tự hỏi tôi. Vẫn không sao trả lời được. Chỉ thấy nỗi nhớ nhung ấy dường như tương tự nỗi nhớ nhung đồng quê, sông núi: sống ở thành phố lâu, nhìn mãi những toà nhà cao ngất, những con đường thênh thang và thẳng tắp, nhìn mãi những cửa kính lấp lánh, những ánh đèn xanh đỏ nhấp nháy, những bảng hiệu màu sắc loè loẹt, chúng ta cảm thấy ngột ngạt, đâm ra thèm thuồng một cái gì mênh mông, hoang dã: một cánh đồng, một ngọn đồi, một con suối, một rừng cây. Đọc Võ Phiến, với tôi, không chừng cũng thế: trên trang sách của ông, ngôn ngữ cứ như thiên nhiên, rộng rãi, linh động, mát mẻ và tươi roi rói, ở đó, ngỡ thấy được các con chữ đang nhảy múa, đang lấp lánh, đang thở phập phồng. Tôi đâm mê giọng văn ông, ngôn ngữ ông trước khi chú ý đến những gì ông nói.
Điều tôi thú nhất khi đọc Võ Phiến là có cảm tưởng không phải đang đọc sách mà là đang nghe ông trò chuyện. Đó là một người trò chuyện cực hay, vừa sâu sắc lại vừa duyên dáng, đặc biệt là linh động: lúc thì lớn tiếng, lúc thì hạ giọng, lúc thì nghiêm trang, lúc thì cười cợt, lúc thì quyết liệt, lúc thì khoan hoà. Lúc thế này lúc thế kia song bao giờ cũng nhanh nhẹn, thông minh: trong một bài viết, ông chuyển từ ý này sang ý khác, từ giọng này sang giọng khác, cứ thoăn thoắt, thật tài tình. Ông có lượng hiểu biết thật rộng rãi để tha hồ tung hoành. Ông cũng có thật nhiều những ý nghĩ độc đáo, những phát hiện tinh tế, bất ngờ để thỉnh thoảng làm cho độc giả phải giật thót cả người. Ông có vốn từ vựng cực giàu, phần lớn là những từ còn hôi hổi sự sống, như mới mang thẳng từ đường phố, từ chợ búa vào. Vốn từ ấy lại được ông sử dụng một cách thần tình, trong những cấu trúc câu uyển chuyển, nhẹ nhàng và rất linh hoạt. Đặc biệt hơn cả là khẩu khí của ông: sau mỗi câu văn dường như thấp thoáng một nụ cười. Ví dụ trong Văn học Miền Nam, tổng quan, có đoạn ông viết:
“...đứng về phương diện phái tính, văn học Miền Nam thời kỳ 1954-75 càng ngày càng nghiêng về nữ phái. Thời gian ủng hộ hồng quần. Thoạt đầu trên văn đàn nghe tiếng ồm ồm, cuối cùng nghe ra eo éo.” (tr. 47).
Cách viết như thế khiến hơi văn của Võ Phiến trở thành dí dỏm và quan trọng nhất, tạo nên cảm giác thân mật, gần gũi giữa người viết và người đọc.
Có thể nói đặc điểm nổi bật nhất trong văn phong Võ Phiến là ưu thế của lời nói.
Đó cũng là đặc điểm chung, rất dễ thấy ở các nhà văn gốc miền Nam như Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển, Hồ Trường An, Kiệt Tấn, v.v... Có điều khác với các nhà văn miền Nam thường xuề xoà đến dễ dãi và tuệch toạc đến độ lắm lời, câu văn của Võ Phiến thường vừa thân vừa thâm, vừa vui vừa sắc, vừa có vẻ như bộc trực lại vừa như lấp lửng, gợi những hàm ý xa xôi. Nó có vẻ như lời nói nhưng nó lại được cấu trúc một cách chặt chẽ, không mắc cái tật rườm rà thường thấy ở lời nói. Nó là lời nói đầy tính nghệ thuật. Ở phương diện này, có thể nói, Võ Phiến vừa có công văn chương hoá khẩu ngữ, lại vừa có công văn xuôi hoá câu văn xuôi Việt Nam vốn, cho đến nay, ở rất đông người, vẫn còn chịu ít nhiều ảnh hưởng của thứ mỹ học biền ngẫu ngày xưa: thích chút đăng đối, thích những “nhãn tự”, những “thần cú” và đặc biệt thích nhạc điệu trầm bổng, du dương, có khi hơi hơi rổn rảng.
Võ Phiến không những đem khẩu ngữ vào văn học, điều đã có nhiều người làm dù trình độ nghệ thuật có thể không bằng ông. Điều đáng để ý hơn ở Võ Phiến là đôi khi ông biến văn viết thành văn nói. Vẫn là văn viết, nhưng cái giọng lại là giọng của một người đang nói, lâu lâu la lên: “Ối!”, “Ối dào!”, “Ấy!”, “Gớm!”, “Kỳ cục!”, v.v... Chưa hết. Từ khoảng giữa thập niên 1960, có lẽ, nếu tôi không lầm, bắt đầu từ bài “Lối yêu hôm nay” trở đi, Võ Phiến hay đem vài câu đối thoại để lẩn vào giữa những đoạn phân tích, lý giải. Bài văn thường có nhiều giọng, nhiều bè. Tính chất nghiêm trang của cuộc thảo luận nhạt nhoà hẳn đi.
Dẫu sao, những đoạn đối thoại như vậy trong các tác phẩm biên khảo của Võ Phiến trước 1975 cũng không nhiều. Trong các tập Tiểu luận, Tạp luận  Tạp bút trong Võ Phiến Toàn Tập do nhà Văn Nghệ ấn hành, loại trừ các bài phỏng vấn cũng như các bài viết sau 1975, mỗi tập - 3, 4 trăm trang - chỉ có khoảng bốn hay năm đoạn đối thoại, mỗi đoạn thường chỉ có vài câu, hoạ hoằn lắm mới kéo dài vài trang. Từ năm 1990, bắt đầu với bài “Đối thoại về bom nguyên tử”, thừa thắng xông lên, Võ Phiến đối thoại ào ào: đối thoại về thịt cầy, về thơ dịch, về dịch thơ, về tả cảnh, về kiện cáo, và gần đây, đối thoại “bâng quơ về viết chơi”. Trừ bài sau cùng, các bài khác đều được Võ Phiến tập trung in trong một quyển sách mỏng mang cái tựa khá tiêu biểu: Đối thoại. Điều này khiến cho Đặng Tiến, người theo dõi sáng tác của Võ Phiến đều dặn, kỹ lưỡng, nhạy bén và chí tình, cũng đâm ngạc nhiên: “Cái gì vậy cà?” (1) Ngạc nhiên thì cứ ngạc nhiên, song theo tôi, có điều không thể phủ nhận: càng già, Võ Phiến càng “nói” nhiều; trước, thuở bắt đầu cầm bút, ông chỉ viết, sau, ông vừa viết vừa nói, cuối cùng, gần đây, dường như ông chỉ nói.
Hơn nữa, ngoài những trường hợp “nói” công khai, đàng hoàng trong các bài viết sử dụng rặt một thể văn đối thoại, với chữ “đối thoại” sờ sờ trong cái tựa hoặc những dấu gạch ngang ở đầu câu, Võ Phiến còn nói lén, nói chùng, nói thầm trong cả những bài viết không hề có dấu vết gì của thể văn đối thoại cả, ở những bài nghị luận chay. Trong Văn học Miền Nam, tổng quan, có đoạn ông viết:
“Trong vòng hai mươi năm người độc giả Miền Nam không phải chỉ lăm le đổi giống, họ còn bị trụt tuổi nữa. Trước, họ đứng tuổi, về sau họ trẻ dần trẻ dần, cuối cùng họ sắp thành trẻ nít.
Thật vậy, giai đoạn trước là của những Nguyễn Mạnh Côn, Doãn Quốc Sỹ, Võ Phiến, Vũ Khắc Khoan, Bình Nguyên Lộc, Mặc Đỗ v.v... Không một ai trong số ấy có hạng tri kỷ vị thành niên cả. Không có thiếu niên nào khoái đọc Thần tháp rùa, Mưa đêm cuối năm, Bốn mươi... Sau đó là giai đoạn của Nhã Ca Bóng tối thời con gái, của Nguyễn Thị Hoàng, của Hoàng Ngọc Tuấn Hình như là tình yêu v.v... tức của nam nữ thanh niên thuộc tuổi đôi mươi. Sau nữa, đến giai đoạn của Duyên Anh, Từ Kế Tường, Đinh Tiến Luyện, của Nhã Ca Trăng mười sáu, của Hoàng Ngọc Tuấn Thư về đường Sơn Cúc..., là giai đoạn của tuổi sợ ma, tuổi biết buồn, tuổi thích ô mai, của “tuổi ngọc”, tuổi ngu ngơ v.v... Gớm, mới hồi nào người lớn làm văn chương để thưởng thức với nhau nói toàn chuyện cao xa, chẳng thèm biết đến các oắt tì kia muốn gì; bây giờ bao nhiêu danh sĩ xúm ùa nhau tán tụng o bế các cô các cậu kỹ quá. Cả văn cả nhạc cùng nhau gây thành một cao trào thiếu nhi: lão nhạc sĩ Phạm Duy dạo ấy cũng xoắn xít hơi nhiều xung quanh “tuổi mười ba mười bốn”, không sao?” (tr. 85).
Đọc, chúng ta có cảm tưởng Võ Phiến không chịu ngồi yên; ông nhảy xổ lên trên trang sách, ông phân tích, ông bình luận rồi ông ngạc nhiên, châm biếm, trầm trồ, khen chê rối rít. Ông không chỉ dùng kiểu câu tường thuật mà còn dùng các kiểu câu khác: cảm thán, nghi vấn. Ông gọi các độc giả trẻ là “thiếu niên” rồi “trẻ nít” rồi “oắt tì” rồi “các cô các cậu”. Để tả hiện tượng văn nghệ sĩ chiều theo thị hiếu của “các cô các cậu” ấy, ông không chỉ dùng chữ “tán tụng” mà còn dùng chữ “o bế”, “xoắn xít” vốn là những từ chứa nhiều hình tượng, đậm sắc thái biểu cảm và gần với khẩu ngữ hơn. Thành ra, đọc ông cứ ngỡ như nghe ông nói. Các loại khẩu ngữ ấy làm cho giọng văn Võ Phiến, trong phần lớn các trường hợp, thành ra dí dỏm, hơn nữa, càng ngày càng dí dỏm.
Nói đến cái vui, cái dí dỏm trong văn Võ Phiến, tôi biết, chả có gì mới mẻ. Tôi chỉ nhấn mạnh đến nhận xét: “càng ngày càng...”. Nghĩa là, theo tôi, chất “nói”, chất đối thoại và từ đó, cái vui, cái dí dỏm trong giọng văn Võ Phiến không hẳn là cái gì “bẩm sinh”, “cố hữu”. Phần nào đó là những điều ông thụ đắc dường như một cách rất tự giác trong quá trình rèn luyện ngòi bút. Không kể tư tưởng và kỹ thuật, chỉ xét riêng ở phương diện ngôn ngữ, công việc rèn luyện ấy, theo tôi, có thể tóm gọn thành hai điểm: Nam Bộ hoá và khẩu ngữ hoá.
Chúng ta biết Võ Phiến sinh ra và lớn lên ở miền Trung, trưởng thành trong bầu khí quyển văn học của miền Bắc với những Nguyễn Tuân, Hoài Thanh, Nhất Linh và cả nhóm Tự Lực văn đoàn nói chung. Ông chỉ vào Sài Gòn khi đã ngoài ba mươi tuổi. Có điều, khác với hầu hết các nhà văn miền Trung hay miền Bắc khác đồng thời, khi vào Sài Gòn, Võ Phiến chú ý ngay đến cá tính của người miền Nam và văn phong của các tác giả trong Nam. Bài “Cá tính văn học miền Nam” của ông đăng trên Bách Khoa năm 1959 - năm ông thuyên chuyển từ Qui Nhơn vào Sài Gòn - là một trong vài bài viết sớm nhất và đến nay, vẫn là bài viết sắc bén nhất về đề tài này. Ông ý thức rất rõ: “Nghĩ về cá tính miền Nam chẳng qua chỉ là băn khoăn về một phương diện trong vấn đề định hướng văn nghệ lúc này”. Nghĩ đến chuyện định hướng cho cả nền văn nghệ miền Nam lẽ nào Võ Phiến lại không nghĩ đến chuyện định hướng cho ngòi bút của mình?
Ở khía cạnh ngôn ngữ, đặc điểm nổi bật nhất của văn phong miền Nam chính là việc khai thác đến tận cùng khả năng của khẩu ngữ. Tuy nhiên, tôi tin là Võ Phiến nhận thức tầm quan trọng của khẩu ngữ có phần muộn hơn, có lẽ vào giữa thập niên 1960, nhờ loại truyện đăng từng kỳ trên các nhật báo mà chúng ta quen gọi là phơi-dơ-tông. Theo Võ Phiến, sức hấp dẫn chính của các truyện phơi-dơ-tông là ở đàm thoại. Trong quyển Chúng ta, qua cách viết, ông phân tích sắc sảo đặc điểm của đàm thoại trong tiểu thuyết trước và sau 1954, tuy nhiên, ở đây, liên quan đến vấn đề chúng ta đang bàn, tôi chú ý nhất đến luận điểm chính của Võ Phiến về chức năng của đàm thoại trong tác phẩm văn học, chủ yếu là tiểu thuyết: “Đọc đoạn truyện có đàm thoại, độc giả thoát được cái cảm tưởng nặng nề phải đối diện mãi mãi với một tác giả nói luôn mồm”. Có lẽ nghĩ như thế, tin như thế, ông bắt đầu chêm vào các bài văn nghị luận một số đoạn đối thoại ngăn ngắn chăng? Có thể lắm.
Ở đây lại nảy ra vấn đề là: tại sao nghĩ như thế, tin như thế, mà trước 1975, ở Miền Nam, Võ Phiến lại không hề có ý muốn tận dụng yếu tố đàm thoại trong tiểu thuyết và cũng không hề đi quá vài câu đối thoại ngăn ngắn lạc loài giữa các bài văn nghị luận, tuỳ bút? Tại sao sau 1975, khẩu ngữ không còn rón rén như trước mà nhất tề đồng khởi trên các trang viết của Võ Phiến? Tại sao những bài đối thoại về bom nguyên tử, về thịt cầy v.v... chỉ xuất hiện từ 1990? Tại sao gần đây Võ Phiến lại “nói” nhiều?
Tôi ngờ lý do chính là vì Võ Phiến... sợ.
Trước hết là sợ cái cũ, cái sáo. Trong một lá thư gửi tôi ngày 5.9.1995, sau khi nhắc lại sự tích một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp, cứ mỗi lần bị thương lại nằm sấp xuống đất một hồi là khoẻ lại vì đất là mẹ, đất truyền cho sức sống và sức mạnh, Võ Phiến viết:
“Văn chương là ngôn ngữ. Ngôn ngữ văn chương có thời bị bọn phù thuỷ văn chương bám vào hút hết sinh khí, trở nên ẻo lả, xanh mướt, èo uột, vô hồn. Những thời kỳ như thế, văn chương cần nằm sấp xuống ôm lấy đất. Thoại ngữ, tiếng nói hằng ngày, của cuộc sống, của quần chúng; nó là chất tươi, nó mang sinh khí. Những nhà cách mạng văn hoá trong cuộc vận động Ngũ Tứ bên Tàu cũng từng bắt ngôn ngữ nằm sấp hít đất một hồi để hồi sinh. Bạch thoại thay thế văn ngôn rõ ràng là giải pháp hay.”
Võ Phiến kể tiếp, riêng trong trường hợp của ông, nhìn thấy những sáo ngữ có lúc tràn lan khắp nơi, ông nổi doá xổ... nôm.
“Nổi doá như vậy chắc chắn là hình thức nổi doá hoà nhã nhất, không mảy may bạo động. Mình chỉ mỗi ngày mỗi xuề xoà dễ dãi, ăn nói huỵch toẹt, bất cứ chuyện triết, chuyện văn, chuyện thơ gì, cứ huếch hoác, vừa nói vừa cười khơi khơi, bằng cái ngôn ngữ của người ngoài đường phố. Rốt cuộc sau bốn chục năm cầm bút, mình trở lại viết cái tiếng của người chỉ có mồm mà không từng có bút bao giờ. Viết được vậy “đã” lắm.”
Sau nữa là vì sợ cô đơn. Ở Võ Phiến, nhu cầu trao đổi, nhu cầu giao cảm hình như khá lớn. Cuộc đời cầm bút của ông cứ càng lúc càng nghiêng dần về khía cạnh giãi bày, tâm sự. Khi mới bước vào làng văn, ông thường viết truyện, hoặc truyện ngắn hoặc truyện dài, sau đó, ông đi hẳn vào thể tuỳ bút. Khác với truyện, ở tuỳ bút, ông có thể trực tiếp bộc bạch những gì ông cảm, ông nghĩ, không cần phải qua trung gian của các nhân vật - những kẻ dù là giả vẫn luôn luôn đòi hỏi tác giả, người sáng tạo ra chúng, phải tôn trọng quyền sống của chúng, quyền có tính cách riêng và số phận riêng của chúng, nói tóm: cái quyền làm nhân vật. Sau năm 1975, vẫn viết tuỳ bút, song ông chọn hình thức thư từ, hết Thư gửi bạn (1976) đến Lại thư gửi bạn (1979). Để làm gì? Để sử dụng ngôn ngữ trực tiếp được dễ dàng, thoải mái hơn. Từ Thư gửi bạn, Lại thư gửi bạn đến Đối thoại là một bước rất gần. Chiều hướng của sự thay đổi ở đây là: nhu cầu nói, nhu cầu trực tiếp phát ngôn càng ngày càng mạnh.
***
Chú thích:
1. Đặng Tiến (1991), “Võ Phiến đối thoại về thịt cầy “, Thông Luận số 35 (2.91), tr. 17-9; sau in lại trong Đối thoại của Võ Phiến, tr. 155-68.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nguồn: http://m.voatiengviet.com/a/2682021.html
Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (106): VÕ PHIẾN


Nguyễn Hưng Quốc 
CHƯƠNG VI
NGƯỜI VIẾT TRUYỆN

Hai mươi năm sau ngày Sài Gòn sụp đổ, nhìn lại văn học miền Nam thời kỳ 1954 - 1975, chúng ta dễ nhận ra một điều: Trong vô số những nhân vật được vô số các nhà văn khai sinh ra thời ấy, dường như chỉ có các nhân vật của Võ Phiến là còn sống sót. Nhớ đến các nhà văn khác, chúng ta nghĩ đến một trào lưu, một khuynh hướng, một tư tưởng, một phong cách hoặc một không khí, nhớ đến Võ Phiến, chúng ta nghĩ đến, trước hết, những người như anh Bốn Thôi với nét mặt rầu rầu nguội lạnh và thói quen nghếch mặt lên không mằn mò nhổ từng sợi lông mũi, ông Ba Thê Đồng Thời với thành tích thất nghiệp triền miên và những lá Thư Gửi Bạn bao giờ cũng bắt đầu bằng hai chữ “Cher ami” (bạn thân), chị Bốn Chìa Vôi nhếch nhác, vú bỏ lòng thòng, tính tình giả lả, vừa hay lam hay làm lại vừa thích nói tục, ông Triêm với dáng đi lóm thóm và những giấc mộng đế vương hằng đêm v.v... nghĩa là, chúng ta nghĩ đến, trước hết, những nhân vật của ông.
Thứ Năm, 28 tháng 5, 2015

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (105): VÕ PHIẾN


Nguyễn Hưng Quốc

CHƯƠNG V
NHÀ TÙY BÚT

Cả Nguyễn Hiến Lê lẫn Đặng Tiến, khi viết về tùy bút Võ Phiến, đều nhắc đến đoạn văn Võ Phiến tả một quán hủ tiếu ở Cần Thơ:
Mỗi người có một cách biểu lộ sự hào hứng. Riêng cái cách của người chủ quán hôm ấy, trời ơi, trông mà mê. Hai tay ông ta thoăn thoắt, chặt khúc xương, xắt lát thịt, gắp mớ ớt, múc vá nước từ trong thùng đổ ra tô, xóc xóc mớ hủ tiếu vừa mới trụng qua nước sôi, rắc một tí tiêu bột v.v... Tất cả bấy nhiêu cử chỉ đều rập ràng, hơi có vẻ nhún nhẩy. Mỗi cái quơ tay, cái nhấc lên hạ xuống đều như có gì quá mức cần thiết một chút. Mỗi cử chỉ bao hàm bảy tám phần cần thiết, lại thêm vài ba phần thừa thãi, chỉ để cho đẹp mắt, để biểu diễn sự thích thú trong công việc. Động tác nghề nghiệp gần chuyển thành sự múa men. Một điệu vũ ca ngợi lao động.
Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Chủ nghĩa hiện đại trong thơ miền Nam 1954-75

Nguyễn Hưng Quốc

clip_image002

Một vấn đề quan trọng: nếu Thơ Mới trong thời kỳ 1932-45, như hầu hết các nhà phê bình đã nhìn nhận, chủ yếu là một nền thơ lãng mạn chủ nghĩa, vậy thơ từ 1954 đến 1975 ở miền Nam là thơ gì?

Ở khía cạnh này, trong bài “Nỗi buồn trong thơ hôm nay”, Thanh Tâm Tuyền nêu lên một luận điểm rất đáng chú ý. Theo ông, Thơ Mới, mượn một thuật ngữ của Nietzsche, một thứ nghệ thuật Apollo, một “nghệ thuật của mơ mộng, một cái đẹp kết lại được ở hình thức có mẫu mực; nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bình yên nhìn ngắm và chấp nhận đời sống”, dần dần nhường chỗ cho một thứ nghệ thuật khác, nghệ thuật Dionysus, tức thứ nghệ thuật “phá vỡ những hình thức sẵn có, hỗn loạn trong niềm cảm xúc, một nghệ thuật của say sưa, một vẻ đẹp hãi hùng mọi rợ, nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bi thảm, đắm chìm trong khổ đau không bao giờ chấp nhận” (1).

Rất nhiều học giả Tây phương đã chứng minh: một nền thơ mang tinh thần Dionysus thực chất là một nền thơ hiện đại chủ nghĩa (2). Dĩ nhiên không phải tất cả, nhưng một số khá đông các nhà thơ miền Nam, đặc biệt những người có nhiều tham vọng sáng tạo, đã gặp gỡ, hoặc đúng hơn, đã gần gũi, ở một số khía cạnh nào đó và với một mức độ nào đó, các nhà hiện đại chủ nghĩa (modernists) ở Tây phương từ mấy thập niên cuối của thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Sống và viết giữa các nền văn hóa

Nguyễn Hưng Quốc

clip_image001

Sống và viết như những người lưu vong là một bi kịch. Đành rồi. Nhưng đó là một bi kịch... đầy may mắn.

Thì cũng vẫn là bi kịch. Vẫn nỗi đau đớn bị giằng xé giữa quá khứ và hiện tại, giữa ký ức và nhu cầu hội nhập. Vẫn niềm cô đơn gần như tuyệt đối của một kẻ, trong đời sống hằng ngày, sử dụng một thứ ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ của mình, và trong sáng tác, sử dụng một ngôn ngữ không phải là thứ ngôn ngữ thông dụng trong xã hội. Vẫn cảm giác day dứt của những kẻ bị bứt rễ, bị trôi giạt, lúc nào cũng đối diện với tính chất bất định ngay trong ý thức về bản sắc của chính mình. Và vẫn những nỗi ngậm ngùi không thể tránh được của những kẻ ngơ ngác đứng bên lề, không những bên lề nền văn học nơi mình cư ngụ mà còn bên lề cả nền văn học ở cố quốc.

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Nhà văn…không là ai?

Nguyễn Hưng Quốc

clip_image001

Liên quan đến chuyện "viết cho ai?", tôi nghĩ, có một vấn đề khác cũng cần được đặt ra: Nhà văn là ai?

Câu trả lời chắc chắn không đơn giản. Khái niệm nhà văn thay đổi theo thời gian: ngày xưa, ở Việt Nam, bất kể ở những tài năng lớn hay nhỏ, tư cách nhà văn đều bị chìm khuất, thật mờ nhạt, đằng sau tư cách của những ông quan, ông đồ, ông cử hay ông tú. Khái niệm nhà văn cũng thay đổi theo thể loại: trong ý nghĩa này, nhà văn chỉ là tên gọi chung cho nhiều loại người khác nhau, từ một nhà thơ đến một nhà tiểu thuyết, một nhà tuỳ bút, một nhà viết kịch hoặc một nhà phê bình và lý luận văn học. Khái niệm nhà văn còn thay đổi theo phương pháp sáng tác người ta sử dụng: một nhà cổ điển, một nhà lãng mạn, một nhà hiện thực, một nhà siêu thực, một nhà hiện đại chủ nghĩa hoặc một nhà hậu hiện đại chủ nghĩa... Khái niệm nhà văn cũng thay đổi theo những mục tiêu mà người ta, qua động tác viết, nhắm tới: có người viết để độc giả tiêu khiển, có người viết để tuyên truyền cho một quan điểm và để kích động tâm lý của quần chúng, có người viết để thoả mãn lòng say mê đối với chữ nghĩa, cũng có người viết để chỉ gửi lòng mình vào thiên cổ, với hy vọng, may ra...