Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào Như. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đào Như. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 8 tháng 5, 2024

Quê hương – dấu binh lửa

Đào Như                                                                                                             Bút ký

Lời Phi Lộ:

Trong hơn một tháng nay, từ tháng 10.2014 kênh truyền hình CNN của Mỹ, hàng ngày làm sống lại nước Mỹ trong Những Năm Sáu Mươi của thế kỷ trước qua những thước phim The Sixties. Những biến động của xã hội Mỹ vào thời khoảng này đều được lồng trong khung cảnh của Chiến Tranh Việt Nam/ Vietnam-War.

Những Năm Sáu Mươi của thế kỷ trước là thời đại kinh hoàng của nước Mỹ. Những biến động của Vietnam-War trong Những Năm Sáu Mươi đã hủy hoại xã hội Mỹ, từ đạo lý, nhân văn, đến chính trị, kinh tế và con người.

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2023

Tình già

Đào Như

                                                                                                                               Tạp bút

                                                                                                                      Gửi Lan Hương

unnamed (1)

Ảnh của tác giả

Nhiều lúc nghĩ cũng lạ, cái ý nghĩ về tuổi già cứ đeo đẳng mãi trong trí mình không sao quên nó đi được. Nghĩ cũng tại mình. Tuổi tác là vấn đề thuộc thời gian. Sống lâu lên lão làng. Đó là tự nhiên. Mỗi tuổi đều có những khó khăn riêng cũng như những bịnh tật.

Thứ Sáu, 25 tháng 8, 2023

Dust Child (Bụi đời) của Nguyễn Phan Quế Mai

Đào Như

clip_image002

Dust Child (Bụi đời*) một thiên truyện của Nguyễn Phan Quế Mai, vừa được nhà xuất bản Algonquin Books of Chapel Hill cho ấn hành. Theo bình chọn của Forbes Việt Nam, Nguyễn Phan Quế Mai là một trong 20 người phụ nữ truyền cảm hứng của năm 2021.

Trong phần Epilogue của truyện Dust Child, Nguyễn Phan Quế Mai kể khi đọc câu chuyện của người cựu chiến binh Mỹ tên Jerry Quinn trở lại Sài Gòn tìm kiếm người yêu và đứa con trai của họ đã thất lạc nhau từ năm 1973, 41 năm về trước, tâm hồn bà đã lay động dữ dội, khiến bà thấy phải giúp những cựu chiến binh Mỹ tìm lại vợ con của họ. Những người chiến binh đó bây giờ đã ở vào tuổi ngoài sáu mươi, bảy mươi... Nguyễn Phan Quế Mai, ngỏ lời tri ân trường Đại học Landcaster đã hỗ trợ bà viết luận án tiến sĩ với chủ đề: Tìm hiểu, truy nguyên những vấn nạn gây ra bởi chiến tranh Việt Nam, Hội chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn (Post-traumatic Stress Disorder Syndrome – PTSD) của hơn 2.700.000 chiến binh Mỹ đã phục vụ tai miền Nam Việt Nam. Sự hỗ trợ này đã cho tác giả cơ hội thực hiện lý tưởng của bà. Nhờ thế tác giả đã tiếp cận, phỏng vấn và đã đọc vô vàn tài liệu, sách vở, truyện phim, nói về số phận các cháu Mỹ lai bị bỏ quên tại Việt Nam.

Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2023

Quê hương và lưu đày

Truyện Đào Như

DAO NHU

Tác giả Đào Như

(Tên của các nhân vật đều là hư cấu. Nếu có sự trùng hợp xin đừng ngộ nhận)

Năm 1999 tôi về thăm nhà. Lúc ấy anh tôi bảy tư tuổi. Anh trông yếu hẳn đi. Tóc anh bạc trắng. Xót cho anh, tôi nói:

- Mấy năm đi tù cải tạo bị ngược đãi, tóc anh bạc phơ.

- Đi tù cải tạo là tai-trời-ách-nước, người miền Nam bên này vĩ tuyến 17, sau 1975, ai mà không đi tù cải tạo, kẻ đó không phải người miền Nam. Không phải vì bị ngược đãi mà tóc anh bạc trắng, người anh gầy vì anh giống má.

Chủ Nhật, 27 tháng 11, 2022

Ngày hòa bình đầu tiên

Tùy bút Đào Như

Anh đến gặp tôi vào một sáng mùa Thu tại Chicago, cho tôi hay anh mắc phải bịnh co thắt động mạch chủ. Hiện giờ thường xuyên huyết áp lên cao, khiến anh nhức đầu kinh khủng đến độ nhiều lúc chán nản và vô vọng. Các bác sĩ giải phẫu tim mạch của bịnh viện Cook County-Chicago cho biết bịnh của anh cần phải được điều trị bằng phẫu thuật thay van. Nếu không, anh sẽ sớm phải gặp nhiều tai biến nguy hiểm đến tánh mạng. Còn nếu được giải phẫu, khả năng tử vong cao, nhưng nếu qua được, anh sẽ có cuộc sống vui vẻ hạnh phúc trong một vài năm.

Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2019

Chiều cuối năm

Đào Như

Gửi Đỗ Cung – Nhà Nặn tượng và Phù điêu

Tôi đến thăm anh vào một chiều cuối năm, trong lúc anh ngồi đối diện với tác phẩm phù điêu của anh – Mặt Trời Tự Do một công trình anh hoàn thành một năm sau khi anh và gia đình đến Mỹ theo diện H.O. Anh tiếp tôi với giọng nói trầm buồn, nhưng không kém phần phẫn nộ:

Thứ Sáu, 5 tháng 10, 2018

Văn Hải ngoại sau 1975 (kỳ 76): Đào Như – Hợp lưu

Đào Như là bút hiệu của Bác sĩ Đào Trọng Thể. Trước 1975, ông là một y sĩ tiền tuyến chuyên về phẫu thuật. Định cư tại vùng Chicago, Hoa Kỳ, ông là chuyên gia bệnh tâm thần, và đã thành lập một câu lạc bộ đặc biệt để trợ giúp nhiều đồng hương và cựu chiến sĩ VNCH, cựu tù nhân cộng sản.

dao nhuHình trên: Tác giả nhận giải "Tác Phẩm Xuất Sắc Nhất" viết về nước Mỹ 2005, do nữ nghệ sĩ Kiều Chinh trao tặng.

(theo Việt Báo)

Hợp lưu

Truyện ngắn này, tác giả Đào Chương viết vào năm 1997, cách đây đã hai mươi năm, mà đọc lên vẫn thấy nước mắt rơi vì biết bao đau đớn…

Từ bấy đến nay, đã có hay không những thay đổi, đủ để khiến những hồi ức, những ám ảnh tối tăm, những vết thương ứa máu thôi chiếm cứ trái tim và trí óc những người Việt từng đối xử với nhau như kẻ thù không đội trời chung, cho dù cùng tổ quốc, cùng một mẹ, cùng màu da tiếng nói…

Văn Việt



Thân gửi Nguyễn Mộng Giác

Bác sĩ Văn Kỳ Chương

Trời Chicago cuối tháng tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tập-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay cũng đến.

Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Monet, màu sắc hàì hoà gợi nhớ về một thuở thanh bình. Các anh em chia từng nhóm nhỏ chuyện vãn với nhau.

Hôm nay có hai hội viên mới. Hai anh em chủ động tự giới thiệu. Các anh em cũ và mới nhận ra nhau. Họ kể cho nhau nghe những ai mất, ai còn, những đắng cay lao khổ tủi nhục trong lao tù cải tạo cũng như những buồn tủi cho thân phận đến Mỹ thuộc diện từ thiện H.O (Humanitarian Operation).

Họ cùng nhau ôn lại, chắt chiu từng lời những kỷ niệm chiến đấu bên nhau, nhắc lại những con đường, những xóm làng trong chiến tranh mà họ đã cùng nhau đi qua.

Anh hội viên mới, vừa nhìn thấy trung tá Đồng, liền chạy đến, nói lớn:

-Đại Bàng cũng có mặt ở đây nữa sao?

Trung tá Đồng liền giới thiệu với các sĩ quan trong nhóm:

-Các anh em, đây là đại úy Phúc, trưởng toán viễn thám của trung đoàn 2, sư đoàn 1. Hành quân Lam Sơn 719, đại úy Phúc là người vào Tchépone sớm nhất và đã dẫn bốn toán viễn thám ra khỏi Tchépone an toàn.

-Thưa anh em, vâng, chúng tôi vào Tchépone rất sớm, vì chúng tôi là viễn thám mà! Chúng tôi vào Tchépone trước ngày sáu tháng ba năm bảy mốt rồi sau đó thì đại bộ phận của ta mới vào. Khi tôi vào Tchépone, thì thị trấn Tchépone hoàn toàn bỏ ngõ, quân đội cộng sản rút ra khỏi Tchépone lâu rồi. Tôi linh cảm, mình bị trúng kế. Vô sớm và vào Tchépone sâu hơn ai hết, nhưng rất may được lịnh rút ra khỏi Tchépone sớm nhất. Chậm chân một tí là lãnh đủ. Chúng tôi rút ra khỏi Tchépone về hướng Bắc sau khi ở lại Tchépone hơn hai ngày. Vừa ra khỏi Tchépone vài ba cây số, cả rừng núi dưới chân chúng tôi rung chuyển. Pháo đài B52 đang trút cả căm hờn xuống đầu thù, diệt sạch Tchépone.

Nghe đến đây, nhiều anh em thật sự xúc động vì hành quân Lam Sơn gây tai hại cho anh em cho quân đội Việt Nam Cộng Hoà nhiều quá. Đất nước ta mất mát nhiều quá. Hàng ngàn chiến sĩ Việt Nam cả hai chiến tuyến đã bị pháo đài B52 cày nát trong lúc giao tranh.

Bất thần, trong đám anh em, có người vừa la lớn:

-Thôi dẹp cái chuyện Lam Sơn 719 đi, quí vị ơi, nhức đầu quá rồi!

Đại úy Phúc xoe tròn đôi mắt nhìn người vừa la lớn.

Trung tá Đống nhắc anh Phúc:

-Nhớ, anh đang tham gia buổi điều trị tâm thần tập thể, có tên là “Câu Lạc Bộ 309.81”. Đây là buổi điều trị do bác sĩ Đào Trọng Thể xây dựng để giúp anh em đến Mỹ theo diện H.O. Nhóm 309.81 là ước số quốc tế, để chỉ bịnh tâm thần Hội chứng Hậu chiến, nói theo tiếng Mỹ là “Hội chứng Tâm thần Sau Chấn thương và Stress” (Post Traumatic Stress Disorder Syndromes). Trong nhóm điều trị tập thể này có nhiều anh em mất phần nào khả năng tri thức, họ bị triệu chứng mê sảng và ác mộng.

-Vâng, anh Phúc trả lời, chính tôi cũng bị triệu chứng mê sảng trong lúc ngủ. Vừa chợp mắt là thấy ác mộng. Thức dậy, nhức đầu không làm sao ngủ lại được, thao thức mệt mỏi, chán chường. Vợ tôi bảo có đêm tôi thức dậy ngồi một mình, mở mắt thao láo nhìn vào bóng đêm. Có lúc tôi mê sảng, giãy dụa, đạp nhầm phải vợ. Nhiều lúc nhớ lại anh em nằm xuống cho tự do, dân chủ, độc lâp, mình cảm thấy hổ thẹn và tội lỗi trong sự sống còn nhục nhã của mình. Nhiều lúc lên cơn giận dữ vô cớ, tánh tình nóng nảy bất thường, không sao kiềm chế được.

Hướng về các anh em, anh Phúc nói:

-Nhiều lúc tôi mất cả lòng tin ở tôi, mất cả lòng tin vào nền tảng đạo đức xã hội hiện tại. Trời, Phật, Thương Đế có thật không? Hay chỉ có con người gian ác? Người giết người. Người hành hạ đày ải người. Tại sao dân tộc ta triền miên đau khổ vì chiến tranh chống áp bức, chống xâm lăng. Tại sao cộng sản Việt Nam lại tù đày lao cải hàng triệu công dân Việt Nam yêu nước? Tại sao dân tộc ta chấp nhận nhiều thử thách đớn đau đến như vậy…?

-À… đó cũng là tâm thức chung của các anh em đây, Trung tá Đồng đỡ lời anh Phúc, vì chúng ta cùng có chung một quá khứ, ai cũng là nạn nhân của chiến tranh cả. Anh Phúc, tôi nói cho anh biết người vừa la lớn là sĩ quan trẻ nhất trong câu lạc bộ. Năm bảy lăm, anh ta là trung úy dù, anh ấy chuyển sang dù từ không quân…

Ngừng một chặp, Trung tá Đồng gọi người sĩ quan trẻ đó:

-Anh Cảnh, sao anh lại đau đầu lúc này? Anh có thể cho anh em biết anh gia nhập câu lạc bộ trong trường hợp nào?

-Tôi được giới thiệu gia nhập câu lạc bộ từ bịnh viện tâm thần Chicago Read.

-Nhưng làm sao người ta đưa anh vào Chicago Read?

-Tôi đã nói với các anh em, là đêm hôm đó tôi ngủ không được, đến hai giờ sáng mà vẫn còn nhức đầu ray rứt, nằm đứng không yên, đi lại trong phòng. Tết nhất đến nơi. Đất khách quê người, một thân một mình. Buồn! Buồn lắm! Nhớ lại hồi sáng hôm đó, đến văn phòng xã hội xin được tiếp tục trợ cấp xã hội, nghe nữ cán bộ xã hội người Mỹ phỏng vấn một phụ nữ Việt Nam. Bà ấy đang có thai nhưng không có chồng, không có job. Cũng như mình, bà ta đăng ký xin trợ cấp xã hội. Nghe nó hỏi bà ta những câu thật là mất dạy: “Mày nói thật cho tao nghe, mày ngủ với bao nhiêu thằng đàn ông rồi mày mới được cái thai đó?”.

Vừa nói dứt câu, anh Cảnh bất thần đứng dậy chỉ vào mặt thiếu tá Trường đang ngồi trước mặt, quát lớn bằng giọng Phú Cam – Huế:

-Mi là con đĩ… Mi khinh khi bạo ngược cư xử với người khác như là con đĩ, chính mi trước hết phải là con đĩ. Phải không các anh hỉ?

Người bạn ngồi bên cạnh anh Cảnh kéo anh ngồi xuống, hỏi nhỏ anh:

-Cô ấy nói tiếng Mỹ mà anh nghe cũng được sao?

-Ở đời nhiều cái bất công lắm, khốn nạn lắm, anh Cảnh nói. Năm bảy mươi tôi là sinh viên sĩ quan không quân, phi công. Thầy dạy tôi là các sĩ quan không quân Mỹ. Tôi bay với họ, học lái với họ, dĩ nhiên chúng tôi trao đổi với nhau bằng tiếng Mỹ, không một vấp váp. Năm bảy mốt, tôi được đi học khoá bổ túc lái trực thăng tại Clark Field – Phi Luật Tân. Trước bảy lăm, với các sĩ quan Mỹ, tôi nói tiếng Mỹ thế nào họ cũng nghe, cũng hiểu, đối đáp tường tận. Nhưng khi đến Mỹ với thân phận tỵ nạn, mình nói tiếng Mỹ chỉnh đốn cách mấy đi nữa cũng bị họ “quát”: What you say?! Đến Mỹ tôi biết trước, sau sáu tháng họ sẽ cắt trợ cấp xã hội, mình phải tự sanh nhai. Điều đó cũng đúng thôi, không ai có thể cõng mình mãi trên lưng, mình cũng không muốn ngồi mãi trên lưng ai hay sống bám vào ai. Đến Mỹ việc đầu tiên là tôi lo đi tìm job. Có công ăn việc làm mới hy vọng còn có ngày đứng lên chớ. Nhưng oái oăm thay, không ai chịu nhận tôi. Họ bảo tôi không biết tiếng Mỹ hay nói tiếng Mỹ ngọng. Có ông chủ nhà hàng ăn uống lên mặt thầy đời bảo tôi: “Mày về học tiếng Mỹ thêm vài ba năm nữa, rồi trở lại đây tao sát hạch, nếu được thì tao cố gắng vì nhân đạo cho một chân rửa chén để mà sống”.

Nghe nó nói thế tôi phát điên lên, quát thẳng vào mặt nó: “Ngày xưa trước bảy lăm tại Việt Nam, tao nói tiếng Mỹ thế nào đi nữa, những thằng sĩ quan Mỹ ngay cả cấp tá ngon lành hơn mày nhiều, đều biết và hiểu tao nói những gì, đều “Yes, Sir”. Bây giờ tao đến Mỹ, tao nói tiếng Mỹ đứa nào cũng vặn vẹo, cũng quát what you say, ngay cả những thằng cà bơ như mày…

Nó cũng không vừa gì, cũng điên tiết quát thẳng vào mặt tôi: “Ngày xưa tại Việt Nam tao cần mày. Bây giờ tao mướn mày có lợi gì cho tao? Tất cả chỉ vì lợi nhuận. Tại Việt Nam tao cần mày cũng vì lợi nhuận cho tao”. Thế là mộng rửa chén của tôi không thành.

Nói đến đây anh Cảnh dừng lại để thở… Rồi anh nói tiếp:

-Không phải chỉ vì sự việc đáng buồn sáng hôm đó đâu. Đêm hôm đó, lúc nào tôi cũng nghe tiếng gào thét của bọn Việt Cộng vây quanh nhà tôi lúc nửa đêm, hồi năm bảy sáu, sau khi tôi vượt khỏi nhà tù cải tạo ở Trảng Lớn: “Thằng giặc lái trốn về đây mau ra đầu hàng, nếu không thì đền tội. Đền tội bằng cái chết của mày chưa đủ đâu, nếu mày đầu hàng trễ”. Tôi nghe tiếng thét, tiếng gào như vậy suốt hơn ba tháng rồi, nhất là lúc chiều tối.

Tối hôm ấy, vì nhiều vấn đề dồn dập đến như vậy cho nên đến ba giờ sáng tôi vẫn không ngủ đựơc. Lúc đó tôi mắc tiểu, nên tự động mở cửa nhà ra đứng giữa đường xõng cu mà đái. Bỗng, đèn vàng chiếu thẳng vào mặt tôi, rồi đèn đỏ đèn xanh chớp nhoáng lia lịa, xe cứu thương hụ còi… Hình như một cánh tay nào đó trùm lên người tôi một cái mền ấm. Lúc đó thì tôi hết biết gì nữa… Khi tôi tỉnh dậy mở mắt ra, đã chín giờ sáng, tôi thấy bác sĩ Thể đứng bên cạnh giường tôi. Bác sĩ Trọng chào tôi và cho tôi hay là trong đêm qua tôi mê sảng chạy ra ngoài đường lúc nửa khuya, trần truồng dưới trời lạnh không độ F. Tôi được cảnh sát cấp cứu và tôi đang nằm tại bịnh viện tâm thần Chicago Read. Vài hôm sau bác sĩ Thể nhận tôi về đây. Ngày tôi trình diện bác sĩ Trọng tại đây đúng vào ngày mùng một Tết ta…

Có tiếng ai đó nói ở đầu bàn:

-Nghe sao giống anh Bằng vậy? Hình như anh Bằng cũng bị cảnh sát lượm lúc nửa đêm, chở anh vào nhà thương điên và cũng bác sĩ Trọng lãnh anh về đây phải không?

Bị hỏi bất ngờ trung úy Bằng có vẻ giận. Anh trả lời bằng giọng nói trầm trầm của người già miền biển. Anh sanh tại Hải Phòng:

-Thằng Vận, thằng bá vơ. Có ai đánh mày đâu mà mày đi nói chuyện riêng tư của người khác. Mày phải nhớ không ai có quyền tìm hiểu về tình trạng tâm thần của người khác, ngay cả quan toà cũng vậy, nếu không có giấy cho phép của chúng ta.

Đại úy Vận xin lỗi anh Bằng. Anh Bằng xem chừng nguôi ngoai và có vẻ cảm động:

-Trường hợp của tôi khác với anh Cảnh. Mỗi người một phần số riêng, không ai giống ai cả! Anh Cảnh là không quân và dù. Tôi thì ngược lại. Tôi là hải quân. Tôi là hạ sĩ quan, chuyên về cơ khí. Tôi là lính của công xưởng hải quân Việt Nam Cộng hoà tại Cầu Đá – Nha Trang. Năm sáu mốt, dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm tôi được gửi đi tu nghiệp một năm tại công xưởng hải quân Mỹ, ở Philadelphia. Năm bảy lăm, tôi là trung úy. Cộng sản vì biết tôi có tu nghiệp tại Mỹ mà lại từ hạ sĩ quan ngoi lên trung úy, họ nghi tôi làm tình báo cho Mỹ. Cộng sản bắt tôi đi tù cải tạo tận ngoài Bắc – Quảng Ninh.

Tàu đổ chúng tôi xuống cảng Hải Phòng. Trong lúc chở đợi xe lửa bốc đi Quảng Ninh, tôi nhìn lại Hải Phòng, nơi chôn nhau cắt rốn, thiên đường của tuổi thơ, đã từng bị Mỹ dội bom và bắn phá, bây giờ đổ nát, cũ kỹ trông như một thành phố hoang phế. Nói thật với anh em, tôi khóc.

Sau tám năm đi tù cải tạo tận ngoài bắc, Quảng Ninh rồi Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ, tôi về lại nhà tại Phước Hải – Nha Trang. Bấy giờ nhìn sự đổ nát của gia đình mình: vợ già hẳn đi, còm cõi, ngồi bán thuốc lá ở đầu hẻm. Còn con, đứa lớn đạp xích lô, đứa nhỏ chạy rong chôm chĩa, hay còng lưng trên chiếc bơm xe đạp mà kiếm cơm độ nhật. Người người ăn độn. Nhà nhà ăn độn. Đi ỉa đồng thấy toàn vỏ khoai tím đỏ. Đến năm chín hai, tôi biết mình được đi Mỹ theo diện H.O. như các anh. Lúc đó tôi vừa ngoài sáu mươi. Các con tôi đã có gia đình. Vợ chồng tôi đã có cháu nội, cháu ngoại. Vợ tôi thương con thuơng cháu, nhất định không chịu đi. Thằng Cả nhà tôi nó cũng khuyên tôi không nên đi. Nó tố giác cái tâm địa hắc ám của cộng sản: “Lại một lần nữa họ lợi dụng những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà như một mặt hàng để trả giá với nhau! Tất cả chỉ vì lợi nhuận!”.

Trên hàng ghế phía sau, chợt có người giơ cao nắm đấm:

-Nói thật, lúc đó chúng ta ai cũng biết sự thật bỉ ổi là vậy. Nhưng ai cũng quyết bất cứ giá nào cũng phải thoát khỏi kềm kẹp của chuyên chính vô sản. Lúc ấy chúng ta đang sống thiếu dưỡng khí và người Mỹ mang bình dưỡng khí cấp cứu lại cho chúng ta đúng lúc. Chúng ta vô cùng nhớ ơn người Mỹ. Còn vấn đề chính phủ Mỹ và cộng sản làm ăn với nhau như thế nào trên số phận chúng ta, chúng ta không cần biết. Không có vấn đề luân lý hay đạo đức trong các hành vi chính trị. Lợi nhuận của họ là trên hết. Nghĩ cho cùng, sở dĩ chúng ta bỏ nước ra đi cũng chỉ vì chuyên chính vô sản. Chỉ vì tự do và dân chủ. Chúng ta cần một thể chế đa nguyên. Nếu người cộng sản Việt Nam biết giác ngộ, từ bỏ chuyên chính vô sản, chấp nhận một thể chế đa nguyên thì hay biết chừng nào, không phải riêng cho dân tộc mà cho cả bản thân Đảng Cộng sản Việt Nam.

-Vâng, anh Bằng nói tiếp, lúc ấy thật sự tôi cũng lấn cấn chưa biết tính sao nhưng điều chắc chắn là phải ra đi. Cộng sản vùi dập tôi dữ dội quá, mỏi mòn quá rồi. Không chịu nổi nữa. Tôi thuộc diện đặc biệt: không những là ngụy quân mà còn là Bắc kỳ Công giáo di cư của Diệm. Tôi phải giãi bày cho cả gia đình tôi nghe, nhất là bà nhà tôi. Tôi qua Mỹ sau vài ba năm tôi sẽ về thăm nhà, thăm bà, thăm con cháu. Như ai cũng thấy, biết bao người vượt biên đã về thăm quê hương. Tôi cũng giữ lời hứa với vợ tôi, tôi cũng vừa về thăm bà hồi năm ngoái. .

Có điều khi đến Mỹ, cũng như anh Cảnh, sau sáu tháng nó cắt hết tiền trợ cấp xã hội và phiếu thực phẩm. Ban đầu, tôi cứ tưởng mình già, nó chỉ hăm he vậy thôi, đâu ngờ nó làm thiệt. Lúc đó tôi phải quơ quào kiếm ăn vì tôi chưa đầy sáu lăm tuổi. Tôi cực lực đi tìm việc làm nhưng không có người nào chịu mướn tôi, ngay cả công việc chùi nhà, rửa chén. Họ chê tôi già, không biết nói tiếng Mỹ.

Đến đây, thiếu tá Trần Sáu lên tiếng:

-Già như anh như tôi, dù cho mình có nói tiếng Mỹ hay đi nữa nó cũng không mướn. Nó hỏi những câu quái dị, những đòi hỏi phi lý, thái quá của kẻ thắng thế, của kẻ mạnh hơn, y như bọn cộng sản. Tôi xin việc chùi nhà, làm vệ sinh, nghĩa là lao công chùi cầu tiêu. Thằng Mỹ phỏng vấn nhìn tôi từ đầu đến chân, thiếu điều nó bảo mình nhe răng cho nó xem, như người ta xem răng bò răng ngựa vậy. Nó hỏi: “Mày sáu mươi rồi hả? Mày có bằng hành nghề lao công chùi nhà không?”. Các anh xem, câu hỏi vô lý chưa? Mình mới tới Mỹ chưa đầy sáu tháng, làm sao có bằng cấp hành nghề đươc. Y như thằng cộng sản, quản giáo của tôi hồi bảy chín, hỏi tôi: “Sao ông không chạy theo đế quốc Mỹ?”. Nó hỏi vô lý chưa. Bọn nó nhào vô nhanh quá, làm sao hạng mình chạy cho kịp. Mà Mỹ có bốc mình đâu mà chạy… Thằng Mỹ sau đó nói với tôi: “Mày không có bằng hành nghề, làm sao tao dám mướn mày”. Rồi nó ca tụng tôi nào là tao biết mày là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hoà, nào là mày đánh giặc hay, mày xứng đáng cái job tốt hơn. Nó cảm ơn tôi. Tôi ghê tởm cái lịch sự giả dối bề ngoài của tụi nó. Cái job chùi nhà, chùi cầu tiêu, rửa hố xí đâu có liên quan gì đến việc đánh giặc hay, đánh giặc dở. Đúng là thằng xỏ lá…

Và anh Trần Sáu đi đến kết luận:

-Mong các anh em thông cảm cảnh ngộ những người đến Mỹ tuổi trên sáu mươi như anh Bằng và tôi…

Anh Bằng nói tiếp:

-Vì thế tôi mới làm nghề tự do, đi lượm lon nhôm về bán lại, là bạn thân với những đống rác, cống rãnh. Thùng rác nào tôi cũng dí mũi vào. Cũng nhiều khó khăn lắm. Trên nước Mỹ này, cái lũ yêu nghề tự do như tôi không phải là ít. Nước Mỹ, nghề nào cũng có cạnh tranh cả. Có thế nước Mỹ mới tiến bộ. Cho nên nhiều hôm chỉ “đổi” được năm, bảy đồng, tháng nào cũng ăn đói, hụt tiền nhà làm phiền toái mấy người ở chung. Mùa Đông! Lại mùa Đông! Tôi đi lượm lon nhôm mù cả mắt mà chẳng được mấy cái. Trời lạnh căm căm đói lả người. Tôi không biết gì nữa, cứ đi như một phản xạ. Đến khi hoàn hồn thì thấy đã hai giờ sáng mà cũng không biết mình đang ở nơi đâu, đâm ra hoảng hốt, ngồi xuống vệ đường giữa trời khuya lạnh. Cảnh sát tưởng tôi là tên vô gia cư – homeless, nó nhào đến hỏi. Thấy tôi ú a ú ớ, nó tưởng tôi bịnh tâm thần và vô gia cư, cho nên đưa tôi vào nhà thương điên. Mấy hôm sau, bác sĩ Thể đến nhận tôi và đưa về đây. Vì thế mới gặp và biết các anh em hôm nay. Chuyện đó đã mấy năm rồi!

Nói đến đây anh Bằng mặt cúi xuống. Không ai dám hỏi anh ấy câu nào nữa…

Lúc này vừa có một nhóm anh em đến trễ. Trong nhóm này có anh Hậu. Anh Hậu nhìn ra anh hội viên mới là anh Quân. Anh Hậu hỏi:

-Sao qua trễ vậy?

Anh Hậu hỏi anh Quân bằng một giọng thân mật như người anh cả hỏi thằng em út. Rồi anh Hậu quay lại nói với anh em:

-Anh Quân đi học tập chung với tôi, ở cùng chung một trại với tôi từ Tân Hiệp ra Phú Quốc về Giao Long, chuyển sang Long Khánh, tất cả tám năm ba tháng chẳng rời nhau, đã từng ăn cháo cứt với nhau tại Phú Quốc!

Nói đến đây anh Hậu cười ngất:

-Đó là sự thật chứ không phải là chuyện thần tiên. Trung úy Quân là lính kiểng, truyền tin, bộ binh. Thật sự anh là một nghệ sĩ. Anh là nhà nặn tượng.

Có người hỏi anh Hậu và anh Quân:

-Các anh học tập cải tạo tại Phú Quốc, rồi các anh lại ăn cháo cứt, nghĩa là sao?

Tiếp sau đó, trung tá Đồng yêu cầu anh Hậu và anh Quân nói rõ thêm về việc các anh “ăn cháo cứt tại Phú Quốc”.

Anh Hậu nguyên là đại úy cảnh sát Sài Gòn, trưởng phòng Nghiên Cứu Tội Ác Cộng Sản. Anh sinh tại Sài Gòn. Anh học chưa xong cấp hai. Trước bảy lăm anh có tánh uống rượu. Anh uống rất đúng cữ. Mỗi ngày ba cữ. Mỗi cữ một xị. Anh được cái tánh xuề xoà, dễ dãi, cái gì cũng xa-va. Các thuộc cấp rất thích anh và họ gọi anh là anh Ba Xị. Mặc dầu là người lớn tuổi trong nhóm, nhưng tánh tình anh vui vẻ. Anh em trong nhóm có gì cũng thích bàn bạc với anh vì anh thẳng thắn không câu nệ, trừ phi khi anh lên cơn nhức đầu.

Anh Hậu nhắc lại chuyện cũ:

-Tôi gặp anh Quân tại Trung Tâm 3 Nhập Ngũ, vào ngày trình diện hai sáu tháng sáu bảy lăm, với khoảng ba ngàn anh em khác. Ở đó bốn ngày, sau khi thanh lọc, họ đưa khoảng hai ngàn người trong đó có chúng tôi lên Tân Hiệp – Biên Hoà. Ở Tân Hiệp được sáu tháng thì họ chuyển chúng tôi xuống bến Tân Cảng – Sài Gòn. Khi họ lùa cả ngàn người nhốt dưới hầm tàu, có thể nói anh em chúng tôi đã biết được “cay đắng mùi đời” từ lúc đó. Các anh có thể tưởng tượng mọi chuyện kỳ lạ, quái dị rùng rợn ở trên đời, các anh có giàu tưởng tượng như Sherlock Holmes đi nữa, cũng không thể tưởng tượng nổi cộng sản có thể nhồi bẹp cả mấy trăm người trong cái hầm tàu nhỏ như bàn tay của con tàu cũ kỹ, han rỉ mà hải quân ta chê, bỏ lại. Lúc đầu chúng tôi nghĩ, đây là vụ thủ tiêu tập thể, khỏi cần dùng đến hơi ngạt. Các anh có thể tưởng tượng mỗi người được bốn tấc vuông, ngước cổ lên là đụng phải nóc hầm tàu. Ăn cũng ở đó, ỉa đái cũng ở đó. Lon đựng nước đái cũng là lon đựng nước uống. Nói thật họ cũng để một dãy thùng phuy cho anh em đi ỉa. Ban đầu còn có người đi, nhưng sau không còn ai đi nữa, vì ai cũng đuối sức, lả người. Cộng sản bỏ mặc các thùng phuy ở đó. Có cái cứt đái tràn ngập, không ai đem đi đổ hay điều động người đi đổ. Chỉ có tám tiếng đồng hồ sau khi rời bến, hơi người ở dưới hầm tàu bay ra ngoài hiên, gặp gió mát biển biến thành hơi nước, nhỏ giọt ngay trên hiên cửa sổ của hầm tàu. Như vậy đủ biết trong hầm tàu oi bức đến chừng nào.

Ngày thứ hai, mình mẩy ai cũng dính cứt, cũng thối cứt, ai ai cũng cứt, đâu đâu cũng cứt. Ngay cả khẩu phần lương khô của Trung Quốc khi đến tay mình cũng bay mùi cứt. Dòi bò trên khắp người, trong tóc, sợ nhất nó chui vào lỗ tai. Khó thở, ngột ngạt, ngất xỉu…

Không ai cứu ai được. Cộng sản dĩ nhiên lờ đi. Nhưng có một điều cộng sản không ngờ được, là sức chịu đựng của anh em ta rất phi thường. Sau ba ngày hai đêm chúng tôi vẫn sống nhăn. Người cộng sản Việt Nam cư xử với anh em tệ quá, dã man quá, không chút tình người. Đúng năm giờ chiều thứ ba thì tàu cập bến. Anh em hải quân trong đám, nhận ra ngay đó là đảo Phú Quốc. Chúng tôi được lệnh tẩy uế. Tàu vừa há mồm là chúng tôi nhào đại xuống biển chẳng kể cạn sâu. Sau đó họ đem các thùng phuy đựng cứt và nước đái trong các ngày qua xuống biển rửa qua loa. Ngay chiều tối hôm đó họ nấu cháo. Họ mang cháo nóng đổ vào thùng phuy đó, có thùng còn dính cứt, cho chúng tôi ăn. Lúc đầu tôi với Quân hai thằng không thấy đói, không ăn. Nhưng sau rồi cũng phải ăn. Bát cháo chúng tôi là cháo đáy thùng, cháo đứa nào cũng lợn cợn cứt.

Đại để “ăn cháo cứt tại Phú Quốc” là vậy.

Có người hỏi:

-Các anh ở Phú Quốc bao lâu? Công an hay bộ đội quản giáo các anh?

Anh Quân nói:

-Cái may mắn của chúng tôi ở Phú Quốc là do bộ đội quản giáo. Dù sao cũng là lính với nhau, họ không hắc ám như công an. Như các anh biết, đảo Phú Quốc là một đảo lớn trong nhiều đảo của tỉnh Kiên Giang. Đảo này có nguồn lợi về hải sản, cá cơm, cá mòi. Nước mắm Phú Quốc rất nổi tiếng. Trong lòng đất của đảo Phú Quốc có mỏ đá đen huyền làm đồ trang sức rất đẹp. Rừng Phú Quốc còn có gỗ dênh, chịu được nước mặn và hà, thích hợp cho việc đóng tàu bè đi biển. Vì loại gỗ này mà trong lúc chúng tôi đi tù cải tạo tại Phú Quốc xảy ra một chuyện buồn cười ra nước mắt như sau…

Ngừng một chặp, như để mọi lại trong trí nhớ của mình, anh Quân tiếp tục:

-Chúng tôi ở Phú Quốc bảy tháng, lao động chiếu lệ… Đất hẹp, người đông, vì ngoài chúng tôi còn có một sư đoàn quản giáo. Đến tháng thứ năm thì có một tai biến xảy ra. Vào khoảng xế chiều, chúng tôi đang ngồi trong lều học tập chính trị, thì nghe tiếng chửi thề oang oang. Nhìn ra thấy hai anh bộ đội cộng sản đang khiêng một ông bạn ngụy của ta trên cáng cứu thương. Hai anh bộ đội vừa khiêng vừa chạy cho nhanh, không muốn cho ai nghe ông sĩ quan ngụy chửi, vì anh ấy chửi độc địa lắm. Anh gọi Hồ Chí Minh là thằng cộng sản ác ôn, sát hại đồng bào; Ngô Đình Diệm là thằng độc tài, anh ta còn chua thêm tiếng Tây là dépotiste absurd. Anh gọi Nixon – Kissinger là tội phạm chiến tranh ác ôn nhất của loài người. Một anh sĩ quan cộng sản đi bên cạnh chiếc cáng cốt giữ anh sĩ quan ngụy nằm im, đừng nhảy ra khỏi cáng. Anh sĩ quan cộng sản giận dữ hỏi:

-Anh chửi lắm thế? Ai anh cũng chửi! Anh chửi Bác, chửi Ngô Đình Diệm, chửi Nixon, chửi Kissinger, tại sao anh không chửi bọn Thiệu Kỳ Khiêm?

-Bọn Thiệu Kỳ Khiêm, hả? Ông sĩ quan ngụy vặn lại. Bọn đó là bọn Việt gian, tay sai hạng bét của Nixon, không xứng đáng được chửi.

Việc đó xảy ra chớp nhoáng không đầy mười phút mà sau đó thành đề tài cho chúng tôi âm thầm lo lắng cả tháng. Anh ấy chửi Hồ Chí Minh độc địa quá, sợ tánh mạng anh ấy không an toàn. Ngay chiều tối hôm ấy, cán bộ quản giáo tập hợp anh em chúng tôi và cho hay là anh ấy cùng năm anh em khác đi lao động đốn gỗ dênh theo yêu cầu của lãnh đạo. Trong lúc hạ cây dênh, các anh sơ ý, bị cây dênh ngã đè, khiến một anh gẫy kín xương đùi. Mặc dầu được bất động ngay khi cấp cứu để cho nạn nhân bớt đau, nhưng khi di chuyển thì nạn nhân đau ghê lắm, có người ngất xỉu, hoặc la hoảng, chửi rủa.

Anh Hậu giải thích:

-Khi chuyện đó xảy ra tôi không hay biết gì hết vì lúc đó chúng tôi đi kiếm củi cùng các anh em khác. Chiều tối về, tôi nghe cán bộ quản giáo nói mới hay. Mãi về sau này tôi mới biết người bị gãy kín xương đùi là thằng Chiến, trung úy cảnh sát đặc biệt Sài Gòn – Chợ Lớn. Có thời nó về làm việc với tôi trước bảy lăm. Nó là thuộc cấp cũ của tôi. Hồi ấy tôi cũng lo tánh mạng của nó thật. Thằng đó chửi ẩu.

Không muốn dài dòng thêm nói về chuyện trên, anh Hậu kể tiếp:

-Ở Phú Quốc bảy tháng, rồi họ chuyển chúng tôi về Long Giao (Đắc Lộ). Chúng tôi ở Long Giao mười tám tháng. Ở Long Giao chúng tôi làm ruộng, phá rừng làm rẫy. Sau cùng, họ chuyển chúng tôi về Giá Rây – Long Khánh. Đến năm tám ba, hai thằng chúng tôi được lệnh tha. Tại Giá Rây, công an quản giáo hắc ám hết chịu nổi.

Năm tám hai, vào khoảng tháng năm, trời nóng, lúc xế chiều, sau giờ lao động, anh em xuống lạch nước sông tắm rửa. Tôi mò bắt được một ít vọp (sò) khá lớn. Tôi mải mê bắt vọp, công an gọi tập hợp tôi đến trễ. Thằng công an tay cầm đòn gánh, nó bảo tôi có ý trốn trại, dùng đòn gánh đánh tôi. Tôi tức quá, đánh lại nó. Thằng công an kinh hãi, ngạc nhiên vì tôi dám đánh lại. Hơn nữa tôi có võ, trên cơ nó, tôi tước cây đòn gánh của nó vụt thật xa, rồi đánh nó bằng tay. Tôi đánh nó sưng mặt, bầm tím con mắt trái. Bọn công an nhào vô bốn, năm thằng, đè tôi xuống, lột hết quần áo, buộc tay buộc chân khiêng tôi nhét vào connex. Tôi phản kháng, tôi chửi bọn nó là quân thô bạo, thú vật, vô luân, và bảo tụi nó: “Bắn tao chết đi. Tao không muốn sống dưới sự áp bức của tụi mày nữa”. Bọn công an không nói gì hết, tiếp tục nhét tôi vào connex. Tụi nó bảo “nhốt truồng” cho đáng tội.

Tôi bị nhốt truồng hai mươi tám ngày trong connex. Không tắm rửa, ăn uống, đái, ỉa gì cũng trong connex. Connex làm bằng kim loại, dùng để tải tiếp liệu vũ khí của Mỹ. Mỹ bỏ lại, được Việt Cộng tận dụng trong nhiều việc khác nhau. Cộng sản thích nhất là dùng nó như là xà lim nhốt tù cải tạo trong trường hợp như tôi. Connex có nhiều cỡ khác nhau. Cái connex nhốt tôi thuộc loại trung bình: bề cao khoảng một mét rưỡi, chiều ngang khoảng hai mét và dài khoảng hai mét rưỡi. Phía dưới cách mặt đất khoảng ba tấc, họ đục hai lỗ lớn bằng bàn tay để đưa cơm nước vào và cũng để đổ phân và nước tiểu ra ngoài. Phía trên họ đục một hàng lỗ nhỏ có đường kính bằng một, hai phân cho thoáng, tôi nghĩ vậy. Nhưng tôi lầm. Chính từ hàng lỗ ấy mà ban đêm muỗi đánh hơi người nhào vô, đốt tôi nát người, thành sẹo chai tím đen, dày như bịnh sởi. Khi ngồi trong connex tôi tự an ủi mình, so với những ngày sống dưới hầm tàu trên đường ra Phú Quốc hồi bảy lăm, connex vẫn là thiên đường. Sống trong connex, ngày thì nóng hơn hoả lò, đêm thì lạnh. Mình mẩy bị muỗi cắn sần sùi đen đúa trông không giống ai. Đói khát, nhớp nhúa, sức khỏe hao gầy, nghĩ tới hai mươi tám ngày và đêm dài hơn thề kỷ. Nhiều lúc xuống tinh thần, muốn đập đầu vào connex mà tự vận. Nhưng nghĩ lại, mình chết ai nuôi vợ con mình. Với lại nếu mình đập đầu vào connex mà chết tức là mình làm theo ý họ muốn, theo quỉ kế của họ. Nên lại thôi.

Tôi có chuyện này muốn nói cho anh em nghe. Có buổi xế chiều, trong connex, trời nóng thật nóng, mệt lả người, cứ tưởng mình hết nhuệ khí, tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Tự nhiên tôi thấy trong cơn mơ sảng khoái lạ thường. Có cái gì châm chích ở đầu dương vật. Tôi tỉnh dậy, thấy dương vật mình cương cứng lên và đang bắn tinh một cách sảng khoái cao tận nóc connex. Nhìn kỹ, lúc đó trên đầu dương vật có một chú muỗi đỏ tươi đang say mê hút máu. Tôi nhớ lại câu chuyện của ông giáo Trần Văn Hương. Nghĩ mà thương ông cụ. Cũng giống mình, ông đứng đầu danh sách nhóm Caravelle phản đối cụ Ngô độc tài gia đình trị, nên bị cụ Ngô bỏ tù. Ở trong tù, uất hận, cụ giáo Hương có viết câu thơ tự thán lưu lại cho hậu thế: “Ngồi tù gãi háng dái lăn tăn”… Không ngờ trong hoàn cảnh bi thương cùng cực dưới sự áp bức của chuyên chính vô sản và bị một con muỗi hút máu như vậy, lại có thể làm cho tôi cao hứng đến thế…

Nghe tới đây các anh em đều cười rộ lên.

Có người hỏi:

-Sau đó đúng hai tám ngày, bọn nó có thả anh ra không?

-Đúng hai tám ngày sau, họ thả tôi ra khỏi connex. Các anh em mình, có cả anh Quân đến dìu tôi đi. Sau hai tám ngày ngồi bó gối, đói khát, tôi đi không vững, lạng quạng. Nhiều anh em không nhìn ra tôi vì tôi ốm teo, da như da cóc, muỗi đốt sần sùi. Chính anh Quân và một vài anh em khác tắm rửa, kì cọ và mặc lại quần áo cho tôi. Sau khi về trại bồi dưỡng được một ngày, tôi phải ra hầu toà xét xử vì tôi dám đánh cán bộ quản giáo. Chủ toạ phiên toà là ông phó trưởng trại. Dĩ nhiên là tôi có lỗi và phải biết ăn năn, hối cải và tự nguyện không bao giờ dám tái phạm. Tội phạt nhốt trong xà lim connex hai tám ngày, và do tôi đã thi hành bản án, nên cho về trại!

Chủ toạ phiên toà cũng không quên nhắc tôi: “Hãy tập trung lao động tốt thì cũng có ngày được lệnh tha”.

Đúng vậy, sau đó, giáp đúng một năm tôi được lệnh tha.

Cũng như ai, giấy lệnh tha ghi rõ: “Học tập cải tạo tốt”. Họ quên tội trạng “đánh cán bộ quản giáo” của tôi.

Về nhà, tôi bị bọn công an địa phương, phường khóm quản chế cay nghiệt. Nhìn vợ con đói quá, nhưng không biết làm sao được. Hai năm sau, vừa được xả chế, tôi liều, nhảy ra bán chợ trời kiếm chác để nuôi vợ con.

Tôi gặp mấy thằng đệ tử cũ không phải đi tù cải tạo, ở nhà mánh mung làm ăn, tụi nó chỉ đường-đi-nước-bước cho tôi sống.

Trong việc bán chợ trời, tôi mới tiếp xúc với họ với đồng bào, với con buôn, tôi mới biết được bộ mặt thật sự của mấy ông cách mạng.

Họ cũng vật chất, cũng ăn cắp đồ trong cửa hàng quốc doanh, hợp tác xã ra đưa cho chúng tôi bán chia lời.

Những tên này rất thực tế, không hề phân biệt cách mạng và ngụy, tiền đô thơm hơn tiền Bác Hồ! Nhiều lúc thấy mấy ông cách mạng Bắc Kỳ đứng trả giá một cô gái điếm Sài Gòn giữa chợ trời mà tôi tởm! Chẳng khác gì những thằng lính Tây của thuở xa xưa…

Một hôm, vào khoảng sau mười hai giờ trưa, tôi tìm đến quán cóc, sau Tổng Nha Ngân Khố Sài Gòn cũ, kiếm tí gì lót lòng. Tôi kêu một tô bún ốc ngồi nhâm nhi với đế, hút một điếu thuốc lá thơm Sài Gòn, và tự cảm thấy mình còn một tí phong lưu. Chợt, một tên chân đi khập khiễng đến kéo ghế ngồi chung bàn, đối diện với tôi, đầu đội mũ casquette, kéo sụp xuống theo kiểu Anh Ba Hà Nội. Nó cũng ăn bún ốc. Nghe nó húp xì xà xì xụp theo kiểu nông dân mà phát giận. Tôi nép đầu sát mặt bàn, cố nhìn cho ra mặt nó, vì tôi nghĩ nó là thằng cớm nào đó đang theo dõi tôi.

Đột nhiên, tôi nghe nó hỏi tôi:

-Anh Ba! Anh quên thằng em này rồi hả?

Tôi giật mình nhìn kỹ, vụt la lớn:

-Mày! Thằng Chiến? Mày còn mạnh giỏi sao? Tụi nó thả mày sao? Mày về hồi nào?

Nó rất thản nhiên trả lời:

-Không ai thả ai hết. Tại hồi hôm anh xỉn sớm quá, mới một xị mà anh quệnh quạng, cho nên anh em bảo thằng Út chở anh về.

-Ừ, dạo này tao cũng già rồi. Yếu quá rồi…

-Tụi này ngồi lại tiếp tục, đến khuya mới tan hàng…

Lúc đó tôi mới nhìn chung quanh, và giật mình: chung quanh chúng tôi có rất nhiều công an chìm. Sau đó, nó cho tôi hay là nó được lệnh tha vì thuộc diện sức khỏe, từ năm tám mươi!

Và anh Hầu kết luận:

-Cũng lạ, phải không các anh?

Anh Đạt chăm chú nghe anh Hầu kể chuyện. Có lúc anh cười thích thú. Có lúc anh nhăn mặt bất mãn. Anh Hầu vừa dứt câu chuyện, anh Đạt đặt ngay vấn đề:

-Các anh có biết đi học tập cải tạo như các anh theo diện ngụy quân ngụy quyền, có qui chế hẳn hoi, sướng hơn anh em chúng tôi nhiều. Đánh cán bộ quản giáo mà vẫn được lệnh tha! Chửi Hồ Chí Minh mà vẫn sống nhăn răng! Các anh chưa qua các cửa ngục: Sở Công An đô thành, đề lao Gia Định, Khám Lớn Chí Hoà… Các anh chưa thấm nhuần đạo lý cộng sản…

Hướng về các anh em, anh Đạt tiếp tục:

-Nếu các anh em đã một lần kinh qua khám lớn Chí Hoà thì không bao giờ các anh có thể kể chuyện tội ác của thằng cộng sản với giọng khôi hài lãng mạn được. Ở khám lớn Chí Hoà có một lằn mức rõ ràng: thằng tù và cai ngục.

Thằng tù ở đây đủ loại. Nói theo giáo sư Vương Hổng Sển, nó là “Sài Gòn-Tạp-pí-lù”: Đạo tặc, sát nhân, thường phạm, hình sự, chính trị phạm, cũ có, mới có… Hình như “Nội các của ông Cẩn” mới toanh cũng được bợ vào đây hết, trừ những tên co giò chạy thoát vào giờ thứ hai lăm, với điều kiện được Chú Sam bốc. Thiên chúa cũng như Phật giáo đều có đại diện ở đây. Sau biến cố ngày một tháng tư năm bảy sáu, vụ nổ tại công trường Duy Tân trước Viện Đại Học Sài Gòn, các ông văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ…, hàng hàng lớp lớp đi vào khám lớn Chí Hoà. Văn nghệ miền Nam có lắm thứ: văn nghệ biệt kích, văn nghê đặc công, văn nghệ quốc gia… Các nhà xuất bản, các nhà báo, các trí thức Phật giáo, Thiên chúa giáo, cũng tuần tự đi vào… Oái oăm thay, mấy đời giám đốc Khám Lớn Chí Hoà đều có mặt. Nghiệp báo vay trả, trả vay…

Vào một buổi sáng, đúng mười một giờ trưa, chúng tôi được điều động ra cái sân rộng của khám Chí Hoà với sân khấu được trang trí cẩn thận và uy nghiêm. Cán bộ chấp pháp, trưởng trại của chúng tôi xuất hiện, đứng trên bục, nói lớn:

-Trong chốc lát, các anh sẽ nghe đồng chí chính ủy nói về đường lối và chính sách của Đảng, của Chính phủ cách mạng đối với các anh.

Một lát sau, tên chính ủy đến cùng một đoàn tùy tùng: cần vụ, trợ lý, bảo vệ… Hắn mặc đồ dạ, áo đại cán bốn túi. Trên ngực đầy những huy chương. Hắn xuất hiện, đứng trên bục cao, mặt đanh lại, lạnh như máu cá. Cái cằm của hắn kéo ngược lên, cái vành nón cối của hắn phía trước kéo chúi xuống tận chân mày. Hắn nhìn chúng tôi với đôi mắt nheo lại, chẳng khác nào một tên phát-xít Đức nhìn lũ Do Thái trong các trại tập trung.

Nó hất hàm, lớn giọng:

-Các anh là những binh lính ngụy, những viên chức ngụy, nghĩa là ngụy quân và ngụy quyền!

Lặp lại hai chữ ngụy quân và ngụy quyền, mặt anh Đạt tái lại. Anh quát lớn:

-Ông là Ngụy… Ông là Ngụy… Biết rồi! Khổ lắm!

Đoạn anh cười chua chát, tiếp tục:

-Rồi nó bảo: Nào các anh đưa tay phải lên! Đưa cao lên! Cao lên nữa… Các anh tự xoa tóc mình bằng tay phải… Các anh có thấy gì không?.. Nhất định là có… Phải không?.. Cái đầu của các anh. Sở dĩ cái đầu của các anh còn đó là nhờ sự khoan hồng của đảng và của nhà nước cách mạng… Tội của các anh đúng ra phải chém đầu…

Trong phòng họp vang lên tiếng “Ồ”. Có người nói lớn:

-Nó chơi cha thiệt.

Anh Đạt mặt căng ra, chăm bẳm nhìn vào mặt mọi người đối diện, quát lớn:

-Tao mà biết trước đến nước này thi tao đã không tha tụi mày đâu. Nếu toàn thể quân đội Việt Nam Cộng Hoà quyết tâm mỗi viên đạn là một thằng Việt Cộng, đụng trận là cứ nhắm thẳng vào đầu tụi mày mà bắn, thì chính mày cũng đi đứt từ lâu rồi. Bọn mày một lũ ăn cháo đái bát. Biết bao nhiêu bà mẹ miền Nam trải thân ôm bọn mày vào lòng, nuôi dưỡng, đùm bọc, che chở… Bọn mày lợi dụng lòng yêu nước của họ mà hưởng thụ, sanh con, đẻ cái… Bây giờ bọn mày gọi họ là ngụy: Mẹ ngụy! Vợ ngụy!

Anh vụt đứng dậy, thộp cổ thiếu tá Dũng:

-Tao không khoan nhượng nữa đâu… Quân lạc hậu của loài người, giờ mà còn cai trị đất nước bằng chuyên chính vô sản.

Hai anh ngồi bên cạnh liền kéo anh Đạt ngồi xuống. Anh Đạt giơ tay bưng mặt khóc. Thiếu tá Dũng cũng trào nước mắt, đưa hai bàn tay nắm chặt bàn tay anh Đạt…

Ngoài trời, Chicago vắng lặng. Một vài mảng tuyết còn đọng lại trên nóc phố, như dấu hiệu của mùa đông sắp tàn.

Có ai ở cuối nhóm nói lớn:

-Đâu có phải đến đó là hết. Tên chính ủy còn bảo: Khi các anh làm tờ tự thú, các anh phải nhớ kê khai kỹ lý lịch, đừng khai man. Các anh phải thật thà, thành khẩn. Tôi cho các anh biết, cách mạng và Đảng có cái nhìn thấu suốt cả tam đại, tứ đại của các anh. Các anh có biết những chỉ thị cơ mật của Thiệu đều lọt vào tay của Nguyễn Văn Ngạn? Sau đó nó lại hỏi: Các anh có biết Nguyễn Văn Ngạn là ai không?… Rồi nó tự trả lời: Nguyễn Văn Ngạn là cố vấn thân cận của Nguyễn Văn Thiệu…

Nghe anh Đạt kể, trung tá Đồng không nén được bực tức, anh nói giọng giận dữ:

-Thằng chính ủy nói dóc, nói dối, nói lấy được! Lúc đó tôi cũng tin nó thật. Vì có một thời Nguyễn Văn Ngạn làm cố vấn cho xừ Thiệu. Nhưng sau đó chính Mỹ tố cáo Ngạn là cộng sản nằm vùng. Mẹ, ai mà hiểu nổi mấy thằng Mỹ. Thiệu phải sa thải Ngạn, cho nó đi tù ở Chí Hoà. Tháng chạp năm ngoái, sau khi qua Mỹ được mười một tháng, tôi và Đạt gặp Dục, em thúc bá của Nguyễn Văn Ngạn ở khu chợ Argyle – Chicago. Chúng tôi cứ tưởng Ngạn đang béo bở tại Việt Nam cùng bọn cộng sản. Nhưng tên Dục cho biết là Ngạn sổng chuồng khám lớn Chí Hoà vào ngày hai tám tháng tư bảy lăm, sau đó được Mỹ bốc đi.

Có lẽ vào thời điểm mà tên chính ủy nói về Nguyễn Văn Ngạn với chúng ta trong khám lớn Chí Hoà, lúc đó có thể Nguyễn Văn Ngạn đang rảo bước trên đường phố thủ đô Hoa Thịnh Đốn, hay cũng như chúng ta, hắn cũng đang sống chui nhủi một góc nào đó trên nước Mỹ này. Ai mà biết được. Chính trị, chiến tranh, khốn nạn… Chúng ta là một lũ nạn nhân bi thảm. Chúng ta đã oán trách cha anh của chúng ta để lại cho chúng ta một quê hương nô lệ, nghèo đói, rách nát… Bây giờ, đến chúng ta, chúng ta không để lại được gì cho con em chúng ta, ngay cả một quê hương rách nát. Chúng ta đã đánh mất cả tổ quốc quê hương! Con em của chúng ta, theo cha mẹ lưu vong tại hải ngoại là những đứa trẻ mất nước, mất niềm tin với tổ quốc, mất niềm kiêu hãnh là dân tộc Việt Nam. Chúng ta chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự mất mát to lớn đó. Làm sao chúng ta có thể cứu chữa tội lỗi ấy trước cộng đồng Việt Nam, trước lịch sử dân tộc?

Trung tá Đồng chán nản, đứng dậy sửa soạn ra về. Vừa đẩy ghế vào, anh vừa nói:

-Khi chúng ta ở trong trại tù đày lao cải của cộng sản hay chúng ta đang lầm lũi sống ở đất nước người, ít ra cũng có một lần chúng ta tự hỏi: Chúng ta là ai? Chúng ta là những người chân chính yêu nước? Chúng ta bị phản bội? Chúng ta bị lừa gạt? Hay thực sự chúng ta chỉ là những tên nô lệ? Chúng ta chỉ là những tên lính đánh thuê phi dân tộc? Hiện tại chúng ta sống ở đất nước người với những ràng buộc nào? Với những lý do gì? Hỡi những người cộng sản Việt Nam, các anh nhân danh ai? Các anh nhân danh những gì? Các anh tù đày lao cải hàng triệu người yêu nước. Các anh vùi dập biết bao sanh linh. Sau hơn hai mươi năm các anh vẫn chưa giác ngộ… Cả thế giới, cả đất nước, và cả chúng tôi đang chờ đợi, còn các anh vẫn chưa có lời tự thú…

Trung tá Đồng ngừng lại một chặp, nhìn các anh em và nói:

-Hiện tại chúng ta sống trên nước Mỹ như là những người tỵ nạn chính trị. Người Mỹ có nhìn chúng ta như vậy không? Hay chúng ta chỉ là những con số, những con số nghèo đói như những con số nghèo đói khác ở các quốc gia châu Phi, châu Mỹ La tinh? Hay chúng ta chỉ là những công cụ, những công cụ quá date, ở vào thời kỳ phế thải, đáng được thương hại, cần được cứu tế vì nhân đạo? Ngay cả tên chính ủy, nó có bao giờ đặt những câu hỏi như vậy cho bản thân không? Nó chỉ nói như con vẹt. Nó chỉ nói những gì Đảng Cộng sản cho phép và dạy cho nó nói. Cũng như chúng ta, nó bị gọt dũa và bức bách không biết bao nhiêu lần ở những khoá chỉnh huấn. Những huy chương hào nhoáng mang trên ngực tên chính ủy không có huy chương nào mà không xây trên điếm nhục…

Buổi họp kết thúc, anh em ra về.

Trọng ngồi lại trễ.

Ngoài trời lạnh, đêm xuống thấp dần.

Nhìn lên tường, anh thấy tờ lịch hôm nay đúng ngày ba mươi tháng Tư.

Anh đến cửa sổ nhìn xuống đường, thấy em bé da đen bị lạnh, chạy đến ôm chân mẹ. Người mẹ da đen nghèo khó vén vội vạt áo choàng lên, để em bé chui vào. Bà mẹ cố tìm cách phủ con cho ấm.

Anh nhớ đến mẹ anh. Năm nay Bà chín mươi hai tuổi. Bà đang sống những ngày khốn khó tại quê nhà, Phan Rang…

Anh yêu Bà vô hạn. Anh yêu quê hương tổ quốc. Anh yêu thôn Hà Thanh, xóm Động nhỏ bé khô cằn nằm bên đê sông Dinh – Phan Rang, nơi chôn nhau cắt rún… Có những đêm chiến tranh, những ngày hoà bình, những buổi sáng đầu thôn buổi chiều cuối bãi…

Giờ này mẹ anh đang thức giấc. Ngày vừa lên bên ấy, đêm đang xuống bên này…

Bà lại bắt đầu một ngày hiu quạnh, mong ngóng con về…

Chicago.May.1997

Nguồn: https://vandoanviet.blogspot.com/search/label/Đào%20Như

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Nỗi buồn chiến tranh

Hồi ức Đào Như

Từ lầu cao, ngồi nhìn nắng chiếu sáng rực rỡ cả một vùng rộng lớn nóc phố Chicago và đỉnh tháp Sears Tower, Trọng suy nghĩ về Thạch Hùng, một bịnh nhân mà anh vừa gửi đến bác sĩ Fournier cách đây mươi phút. Anh nhớ lại trong buổi hội chẩn với bác sĩ Fournier về Thạch Hùng cách đó mấy tháng.

Bác sĩ Fournier nói với Trọng:

-Trong mùa Đông vừa rồi, cảnh sát nhặt anh ta dưới hầm của bến xe đò Greyhound, ở Downtown Chicago. Lần đầu tiên tôi gặp Thạch Hùng, anh ấy nói chuyện với tôi nửa tiếng Pháp nửa tiếng Mỹ. May mà tôi cũng có vài năm học tại Viện Đại học Lyon, tôi hiểu được anh ấy. Ngay những phút đầu gặp gỡ, anh anh nói chuyện với tôi có sức thuyết phục lắm. Anh ấy bảo anh ấy đến Mỹ từ phi trường quốc tế của Pháp, Orly, Paris. Anh miêu tả mùa đông Paris lạnh. Mùa thu Paris đẹp. Anh đã sống nương náu trong phi trường Paris nhiều năm, như một kẻ vô gia cư. Anh miêu tả người Pháp nói tiếng Pháp nghe hay, lảnh lót và âm điệu. Anh ấy cũng đi thăm Provence của nước Pháp. Anh xác định Provence là vùng đất miền Nam của Pháp, có nhiều di tích lịch sử văn học, quê hương của Alphonse Daudet. Anh đã viết những bài thơ ngay dưới cái cối xay gió, ở đó Alphonse Daudet đã viết truyện ngắn trữ tình “Les Etoiles”. Anh bảo với tôi, anh đi thăm Provence với cô bạn gái của anh, chính cô ấy mua vé máy bay cho anh một mình đi thăm nước Mỹ. Bây giờ thì anh nhớ cô bé ấy và anh khóc, anh than vãn: “Oh! Brigide Bardot, người em gái nhỏ bé của tôi ơi! Em xinh đẹp làm sao! Đôi môi em lúc nào cũng sẵn sàng chờ đợi anh...”. Đến đây thì tôi mới vỡ lẽ ra là anh ta bị hoang tưởng quá rồi. Anh còn nói thêm có cả Cathérine Deneuve tiễn đưa anh lên máy bay đi Mỹ... Đọc lại hồ sơ, Cảnh sát Chicago khi nhặt anh ấy trong hầm xe bus Greyhound ở trung tâm Chicago, họ tìm thấy trên ngực áo của anh ấy có một túi nylon trong đó có giấy giới thiệu của Trung Tâm Tâm Thần dành cho người Châu Á Thái Bình Dương tại Sacramento, gửi anh ấy đến Chicago để tìm bà con và để điều trị bịnh tâm thần theo lời yêu cầu của anh ấy...

Thứ Ba, 23 tháng 1, 2018

Tết con khỉ

Tạp bút Đào Như

Ông bạn già ở quê nhà, tuần vừa rồi điện thư hỏi tôi: “Tết năm nay ở Mỹ có gì lạ không anh? Ở đây thiên hạ nhắc lại Tết Mậu Thân qua cái tên của Tết Mậu Tí, nghe họ cường điệu mà buồn”! Và để cho tôi đọc cho vui, ông gửi cho tôi ba cái websites của ba tờ điện báo trong nước nhắc đến Mậu Thân.

Nghe ông nói ông buồn, tôi không hiểu sao mà buồn. Ông buồn cái gì? Sự đời nó như vậy, có chi mà buồn. Rồi tôi sực nhớ ra, ông mất một thằng con hồi Mậu Thân. Nó có đi lính tráng thì cũng cam. Lúc ấy nó mới có mười hai tuổi. Nó chết khi nằm ngủ trên võng. Nó bị lạc đạn mà chẳng biết của ai, từ phía nào, cho đến giờ này cũng chưa biết được.

Nghĩ mà thương ông bạn già của tôi, phải chi thằng Hạnh con trai của ông, nó còn sống tới ngày nay, thì nó cũng năm chục tuổi ngoài, ít ra nó cũng cho ông một vài đứa cháu nội. Nó là con trai một của ông, bây giờ ông bạn tôi ngoài bảy mươi cũng như tôi, chỉ sống với mấy đứa cháu ngoại. Đôi khi điện thư cho tôi, ông cũng khề khà: “Ngoại nội là với người ta, với anh! Với tôi chỉ có một”!

Tôi thấy ông bạn già của tôi chân thực, tôi đành nói thật, ở hải ngoại cũng có nhiều người đang liên kết hai chữ Mậu đấy. Họ cũng nhắc lại sư thất bại của phía bên kia trong Tết Mậu Thân. Hàng chục ngàn cán bộ nằm vùng từ nông thôn đến thành thị trong mấy mươi năm đều xuất đầu lộ diện, đều bị diệt sạch.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017

Ngày khai trường

Tạp bút Đào Như


Trong cái nắng oi bức trời cuối tháng Tám, các con em ở Mỹ lại bắt đầu ngày tựu trường. Nhìn cha mẹ dẫn con nhỏ mỗi buổi sáng đón xe bus màu vàng cam để đi đến trường, lòng tôi lại nao nao nhớ lại ngày khai giảng hàng năm ở quê nhà…

Bấy giờ là trời tháng Chín. Ôi “chín mươi ngày nhảy nhót ở miền quê” qua vội quá! Màu “Huyết phượng nở thành bông” (1) cũng tàn lụi trong sự lãng quên của mấy cậu học trò. Tiếng ve sầu râm ran gọi mùa hè cũng tắt lịm tự bao giờ… Các cậu học trò ở quê tôi lại tấp tểnh sách vở lên đường nhập học…

Có cậu bé năm ấy, được mẹ âu yếm dẫn đi đến trường trong buổi nhập học đầu tiên. Mỗi khi nhớ lại về buổi nhập học đầu tiên đi cùng với mẹ, tôi nhớ đến bài viết chan chứa hoài niệm về mẹ và những ngày tựu trường của nhà văn Thanh Tịnh. Tôi say mê đọc đi đọc lại nhiều lần, gần như đã thuộc lòng bài viết ấy: “Hàng năm cứ vào cuối thu khi lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường… Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương Thu và đầy gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm lấy tay tôi, dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn. Hôm nay tôi đi học…”.

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

Hợp lưu

Truyện Đào Như


Truyện ngắn này, tác giả Đào Chương viết vào năm 1997, cách đây đã hai mươi năm, mà đọc lên vẫn thấy nước mắt rơi vì biết bao đau đớn…

Từ bấy đến nay, đã có hay không những thay đổi, đủ để khiến những hồi ức, những ám ảnh tối tăm, những vết thương ứa máu thôi chiếm cứ trái tim và trí óc những người Việt từng đối xử với nhau như kẻ thù không đội trời chung, cho dù cùng tổ quốc, cùng một mẹ, cùng màu da tiếng nói…

Văn Việt

Thân gửi Nguyễn Mộng Giác

Bác sĩ Văn Kỳ Chương

Trời Chicago cuối tháng tư vẫn còn lạnh. Tuy thế anh em đi dự buổi họp điều-trị-tập-thể đông hơn thường lệ. Nhiều anh em sĩ quan ở các nhóm khác, không phải họp hôm nay cũng đến.

Phòng họp dành cho buổi điều-trị-tập-thể của các anh em sĩ quan H.O. tại Asian Human Services Chicago rộng rãi và tươm tất, được trang hoàng trang nhã với những bức tranh ấn tượng của Monet, màu sắc hàì hoà gợi nhớ về một thuở thanh bình. Các anh em chia từng nhóm nhỏ chuyện vãn với nhau.

Hôm nay có hai hội viên mới. Hai anh em chủ động tự giới thiệu. Các anh em cũ và mới nhận ra nhau. Họ kể cho nhau nghe những ai mất, ai còn, những đắng cay lao khổ tủi nhục trong lao tù cải tạo cũng như những buồn tủi cho thân phận đến Mỹ thuộc diện từ thiện H.O (Humanitarian Operation).

Họ cùng nhau ôn lại, chắt chiu từng lời những kỷ niệm chiến đấu bên nhau, nhắc lại những con đường, những xóm làng trong chiến tranh mà họ đã cùng nhau đi qua.

Anh hội viên mới, vừa nhìn thấy trung tá Đồng, liền chạy đến, nói lớn:

-Đại Bàng cũng có mặt ở đây nữa sao?

Thứ Bảy, 29 tháng 4, 2017

Chôn súng

Truyện

Đào Như

Anh Nhân với giọng nói đều đều, có vẻ mệt mỏi vì mất ngủ, anh tự giới thiệu mình và nói về quá trình anh đi trình diện vào ngày 30 tháng Tư 1975:

-Tiểu đoàn địa phương quân của tôi, đóng ở Bến Tre trước bảy lăm. Tôi bị đưa đi tù cải tạo tận ngoài bắc: Hoàng Liên Sơn rồi Lào Kai. Đầu năm tám mươi, họ chuyển chúng tôi về Nghệ Tĩnh, Lý Bá Sơ. Cuối năm tám mươi tôi được “lệnh tha” thuộc diện sức khỏe. Đi tù cải tạo ở ngoài bắc, nghề chính của tôi là xẻ gỗ. Tôi bị tai nạn cây đè, gẫy kín xương đùi trái…

Đoạn anh đưa tay phải cao lên và choàng vai người bạn ngồi bên cạnh, anh bảo:

-Cũng là nhờ đi tù cải tạo tận ngoài bắc mà tôi được biết anh Phùng này đây. Chúng tôi ở cùng chung một trại từ Hoàng Liên Sơn…

Nói đến đây, anh và anh Phùng, hai người ôm nhau. Anh Phùng cảm động, cố nuốt nước bọt, giọng anh ngậm ngùi:

Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

Mây trời tan hợp

Truyện Đào Như

Anh Nhất,

Mau quá anh nhỉ, mới đó đã hai mươi chín năm. Không ngờ đi ăn cưới người cháu vợ ở Cali, gặp lại anh ở phố Bolsa sau gần ba mươi năm. Nhớ ngày nào bốn anh em: Ngọc, Nhất, Tâm, Thể, coi như tứ trụ vây quanh người anh đầu đàn, anh Lê Văn. Ngày 30 tháng tư 1975, anh ấy quyết tâm ở lại. Anh Lê Văn chịu đựng quá nhiều, chuyên chính vô sản tước đoạt anh quá thảm thiết. Biết bao mất mát. Năm 1998 tôi về thăm nhà và ghé thăm anh ấy. Sau bao nhiêu năm trăn trở, đầu anh Lê Văn bạc trắng. Lúc đó anh đúng bảy mốt tuổi. Nụ cười vẫn trên môi. Anh cho tôi hay cách đó hơn một năm anh vừa thoát cơn máu nhồi cơ tim. Anh vẫn nhắc đến tụi mình và vẫn còn lo lắng cho chúng ta như thuở nào: “Ngọc và Tâm ở Pháp, còn toi và Nhất ở Mỹ, sống cách nhau xa quá liệu có liên lạc với nhau chặt chẽ thường xuyên không? Đời sống anh em mỗi ngày một khá hơn chứ?.

Anh Nhất, anh biết không, tôi đành nói dối: “Thời đại bây giờ mà anh. Có cách nhau những hành tinh đi nữa, chỉ cần nhấc điện thoại là nghe được tiếng nói của nhau, hay lên mạng điện thư cho nhau là biết nhau ra sao rồi….

Thật ra cuộc sống tị nạn, như anh đã biết, có nhiều ràng buộc, nhầm lẫn. Kẻ đến trước, người tới sau, gặp nhau cũng khó khăn. Đôi khi gặp nhau lại không nhìn ra nhau…

Nhưng khi nghe tôi nói thế, anh ấy rất mừng rồi anh tự nói về mình: “À! Moi quên. Thời đại tin học, thời đại computer. Toi thấy chưa? Moi lạc hậu quá rồi!.

Thứ Bảy, 25 tháng 3, 2017

Tản mạn giao thừa

Đào Như

The War Memorial Walls

Đêm nay, tôi nhớ về anh, người lính, người bạn và cũng là một bịnh nhân. Trong những lúc khó khăn đơn lẻ, anh đã ghé lại chuyện vãn chia sẻ với tôi. Như anh đã nói: Cuộc đời chúng ta là những mảnh vụn được ráp nối từ nhiều nơi chốn khác nhau mà chúng ta đã đi qua. Nhưng ngoảnh mặt lại, nhìn thấy mình đi qua nhiều đất nước mà bản thân mình đã đánh mất quê hương. Anh thường ray rứt, cho dù quê hương không còn chúng ta, chúng ta vẫn còn quê hương ngày ngày đến với ta trong từng bát cơm, đôi đũa. Đêm đêm quê hương hiện về ấp ủ ta từng giấc ngủ, chiêm bao. Quê hương của chúng ta cũng có những khó khăn như mọi nơi trên thế giới: Hạt mầm phải nẻ đất mà chun ra, “Cây lúa đứng lên cũng phải đạp đất đội trời”.

Chúng ta muốn trút bỏ thân phận lưu vong, trở về với quê hương. Ai? Ai dám tước đoạt lòng yêu nước của chúng ta? Ai dám tước đoạt quyền công dân của chúng ta? Ấy thế mà vẫn có người đấy. Tự do, Dân chủ là văn hóa của dân tộc. Nó được kiện toàn trong lòng của mỗi dân tộc. Tự do dân chủ không thể nào là một thể chế áp đặt từ bên ngoài. Ấy thế mà vẫn có những kẻ đang rắp tâm đấy. Anh có lần nói với tôi là trái đất hẹp quá, nhỏ quá, cằn cỗi quá không đủ đất dung thân cho những người yêu nước như chúng ta! Chúng ta đang xê dịch giữa những bức tường cao khó vượt thoát và anh cảm thấy ngộp thở khi anh thấy khoảng cách của những bức tường ngày càng thu ngắn lại.

Đêm hôm ấy anh gọi tôi. Vâng, anh gọi tôi, vào lúc giao thừa. Đêm hôm ấy, ngoài trời, Chicago, tuyết đổ ngập đường và tê buốt hơn đêm nay nhiều. Anh bảo với tôi là anh buồn lắm. Anh tố cáo cái đầu của anh đang vô cùng căng thẳng, nó sắp nổ tung. Anh cảm thấy đời anh vô vọng. Anh không hiểu là anh sẽ làm gì, chuyện gì sẽ xảy đến cho anh và cho cậu con trai của anh trong một vài giờ tới.

Tôi hỏi anh, anh thấy trong người như thế nào? Anh bảo anh là một vật đang rơi ngoài trọng tâm, đang rơi ngoài thế giới của Newton, nó đang rơi như chiếc F5 của anh bị trúng đạn hỏa tiễn địa không rớt năm 1972… Tôi hiểu ngay điều gì anh muốn nói. Tôi hỏi anh, anh đang có ý định tự tử phải không? Tôi nghe anh cười ngặt nghẽo. Tôi nghĩ gương mặt anh lúc đó trông thật khủng khiếp.

Thứ Sáu, 10 tháng 3, 2017

Giải thưởng Văn Việt và nội hàm hòa hợp hòa giải dân tộc

Đào Như

image

Lễ trao Giải thưởng Văn Việt lần thứ hai tại Sài Gòn hôm 3-3-2017. Ảnh của nhà văn Ngô Thế Vinh

Văn hóa là bộ phận chủ yếu của Nhà Nước. Những nhà văn hóa gồm mọi giới trí thức của xã hội. Họ là những nhà nghiên cứu chân chính về mọi chủ đề: Văn học nghệ thuật, Xã hội Nhân văn, Lịch sử, Chính Trị, Khoa học, Kinh tế, Công nghệ Kỹ thuật, Tôn giáo và Triết học… Một Chính phủ thật sự tôn trọng tinh thần Tự do, Dân chủ, Công bằng Xã hội, đoàn kết thống nhất thì không thể nào thiếu vắng sự hợp tác rộng rãi của các nhà văn hóa. Ngược lại, những nhà văn hóa thường là nạn nhân của chế độ độc tài, độc đảng, chuyên chính, toàn trị. Vì yếu tố lịch sử, ngoài số những nhà văn hóa hiện ở trong nước, Việt Nam hôm nay còn một số lớn, hơn cả trăm ngàn nhà văn hóa, chuyên viên công nghệ cao, được đào tạo từ các nước ngoài. Họ đang sống trên cùng khắp các châu lục, nhất là ở Bắc Mỹ, châu Âu, châu Úc, và các quốc gia lân bang của Việt Nam. Họ đang nắm giữ những vai trò chủ chốt tại các cơ quan tại các Đại học, các tổ chức Giáo dục Đào tạo, tại các Xí nghiệp Công nghệ, tại các tổ chức Tiền Tệ thế giới (IMF-WB), tại các tổ chức Khoa học ngay cả cơ quan Khoa học Không gian NASA của Mỹ, họ là những quân nhân cao cấp, những nhà Tư pháp, những nhà Hành pháp, những nhà lập pháp, thành viên Quốc hội tại các quốc gia mà họ đang sinh sống.

Cùng với tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc, cách đây 16 năm, ngày 29-8-2005, ông Võ văn Kiệt, cố Thủ tướng Chính phủ Việt Nam (1991-1997) đã lên tiếng kêu gọi Đại Đoàn Kết Dân Tộc. Theo ông đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết từ già đến trẻ, từ trên xuống dưới, từ Bắc chí Nam, từ Quốc gia đến Cộng sản và từ trong nước đến hải ngoại… Những lời kêu gọi của ông vào lúc ấy được các giới báo chí trong nước và quốc tế đăng tải và phân tích. Phần nhiều những nhà tường thuật và phân tích, ngay cả báo chí trong nước như các tờ Tuổi Trẻ và Nhân Dân, đều dành cho ông chân tình và thiện cảm, mặc dầu những điều phát biểu của ông nhằm mục đích chống lại hàng ngũ bảo thủ cực đoan trong Đảng Cộng sản Việt Nam. (Xem Đào Như, Việt Nam mười năm sau lời kêu gọi “đại đoàn kết dân tộc” của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, ở đây)

Trong những ngày gần đây cũng có những biểu hiện về tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc. Nhà báo Bùi Tín, nguyên Trung tá Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tổng biên tập báo Nhân dân, ngày 31-1-2017 viết bài tường thuật (xem ở đây) về buổi họp mặt lịch sử hôm 9-1-2017 tại Dinh Độc lập Sài Gòn, tức là Hội trường Thống Nhất ngày nay, giữa các cán binh và thân nhân Hoàng Sa - Gạc Ma, thuộc Quân đội Việt Nam Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm ba năm hoạt động của tổ chức Xã hội Dân sự Nhịp Cầu Hoàng Sa, và cũng là cơ hội để thực hiện giấc mộng hòa hợp hòa giải dân tộc. Đây cũng là lúc cần ghi lại dấu ấn lịch sử: Các cán binh Quân đội Việt Nam Cộng hòa và Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có một thời đứng chung một chiến hào, cùng chung một chiến tuyến chống lại kẻ thù truyền kiếp của dân tộc – bọn Trung Cộng lấn chiếm Biển Đông… Tích cực tham gia góp sức đáng kể cho Nhịp Cầu Hoàng Sa, ngoài những nhà văn, các nhà Sử học, các nhà kinh doanh ở trong nước, còn có các nhà văn nhà báo của cộng đồng người Việt ở hải ngoại như các ông Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái và nghệ sĩ Kiều Chinh.

Chủ Nhật, 5 tháng 2, 2017

Ngày xuân nhớ Văn Cao

Đào Như

image

Văn Cao – ‘Mùa Xuân đầu tiên’

Vào một sớm mai thức sớm, ông già ngâm nga câu hát: “Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về - Mùa bình thường mùa vui nay đã về…”. Nhìn qua khung cửa, mặt hồ Michigan mênh mông băng giá, gió và tuyết, ông già nói một mình: Mới đó mà đã gần 40 năm! Mùa xuân trong suốt gần 40 năm ấy đã lặng lẽ qua khung cửa này. Tại thành phố Chicago này, gần 40 cái Tết đã đi qua cõi lòng ông. Dù ở xa quê hương ngàn vạn dặm, hơn nửa vòng trái đất, mỗi khi Tết về, ông lại tha thiết nhớ quê hương, nhớ đến bài hát: “Mùa Xuân đầu tiên” của Văn Cao. Ông nhớ đến Tết Binh Thìn 1976, chính ông đã chọn bài hát này cho tóp ca Đoàn Thanh niên khoa Ngoại của Bịnh viện Đa Đa khoa Hậu Giang hát để chào mừng Cách mạng. Và sau đó cách mạng và đảng ủy của bịnh viện Đa khoa Hậu Giang phê bình ông và tốp ca đoàn thanh niên khoa Ngoại có thái độ tiêu cực với “Mùa Xuân Đại Thắng”… Rồi ông lại tiếp tục ngâm nga một mình: “…Mùa xuân mơ ưóc ấy đang đến đầu tiên/ Với khói bay trên sông/ Gà đang gáy trưa bên sông/…Niềm vui phút giây như đang long lanh/…”.

Không ngờ sau mấy thập niên vừa mới được quyền cầm bút trở lại sáng tác, Văn Cao vẫn là nguyên ngọc sáng ngời. Văn và Nhạc của Văn Cao vẫn giữ nguyên chất thép của thuở nào. Giữa không khí “Mùa Xuân Đại Thắng”, Văn Cao tự trầm mình trong thế giới của riêng mình. Ông lắng nghe hồn mình tự tình: “nhìn khói bay trên sông/Gà đang gáy trưa bên sông/… Niềm vui phút giây như đang long lanh…”. Nghe dường như có điều gì cô đơn, quạnh quẽ. Văn Cao đang cuối xuống lòng mình. Và buồn. Nỗi buồn thế sự. Nỗi buồn dân tộc. Nỗi buồn về một mùa xuân không ai mong đợi đã đến. Nỗi buồn vận nước còn nhiều nổi trôi, còn nhiều hận thù, còn nhiều đấu tranh: “Người mẹ nhìn đàn con nay đã về/…Từ đây người biết quê người/Từ đây người biết thương người/Từ đây người biết yêu người/…Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu/ Với khói bay trên sông/ Gà đang gáy trưa bên sông/ Một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.”.

Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2017

BÀI TÙY BÚT VIẾT VÀO LÚC HOÀNG HÔN

Đào Như

image

Con đường chiều ta đi có nắng hoàng hôn, có hàng liễu rũ, có hàng phong nhuộm đỏ mùa Thu. Con đường chiều ta đi, con đường lưu vong, của người tỵ nạn, có quê hương, có nhân loại có anh em trong mỗi bước chân đi. Hơn 40 năm ta tiếp tục bước trên Mặt Đường Khát Vọng. Và trước mặt là những triền dốc lên xuống đầy vơi. Ở tuổi vừa ngoài tám mươi, bất kể triền dốc nào cũng là những thử thách mà ta cần phải vượt qua với vô vàn cố gắng. Ta có thể ra đi vào cõi thiên thu sau giấc ngủ đêm nay. Và có thể nhìn thấy lại mặt trời ngày mai, nhân loại, anh em…

Thứ Năm, 26 tháng 1, 2017

NHỚ VỀ “MỘT CÁI TẾT Ở HÀ NỘI”

Đào Như

Sau hơn bốn mươi năm dừng chân ở đất tạm dung, phần nhiều chúng ta đã hơn hai màu tóc trên đầu nhưng vẫn còn nhớ sao ‘Chợ Tết’! Cây tre nêu và tràng pháo chuột nổ lép bép ngoài sân hiện ra trong tâm hồn của mỗi chúng ta đậm đặc từng nét trong những ngày cuối tháng Chạp. Nhớ khói hương ngày Tết như nhớ mùi sữa mẹ thuở còn nằm nôi. Dù cho có hay không ăn Tết nữa, không ai chối cãi được ‘chợ Tết’ ‘sắm Tết’ ‘ăn Tết’ ‘chúc Tết’…đã là một gốc văn hóa dân tộc, một phần quá khứ thân thiết của đời mình nhất là những ai vừa ngoài bảy mươi, tám mươi như chúng tôi.

Nhớ Vũ Bằng, sau khi di cư vào Saigòn 1954 chỉ cách HàNội không đầy hai ngàn cây số, cùng trên quê hương đất nước, đến những năm sáu mươi trong tập “Thương Nhớ Mười Hai” của ông, Vũ Bằng đã ra riết nhớ Tết ngoài Bắc, nhất là chợ Tết trong làng quê. Vũ Bằng minh họa nỗi nhớ Tết bằng những câu thơ “Chợ Tết’ của Đoàn văn Cừ, một nhà thơ mộc mạc chân quê của đất Bắc:

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017

Long lanh quá khứ (kỳ 5)

Truyện

Đào Như

4- THĂM LẠI CHỐN XƯA

Bà Quốc Bảo hỏi Diễm Khánh:

- Vợ chồng Xuân Tường và Bác sĩ Trọng về thăm nước bao giờ?

Chị Xuân Tường liền đỡ lời:

- Thưa dì, vợ chồng con về cách đây 2 hôm. Các con xin lỗi dì, các con đến hầu thăm các dì hơi trễ.

Với nụ cười phớt nhẹ thoáng qua gương mặt trí thức của một người đàn bà gần 70, bà Quốc Bảo nhìn chị Xuân Tường, bà nói:

- Chị đang ngồi đúng vào chỗ mà chị Hai, má chị, ngồi cách đây hơn một tháng, khi bà đến thăm tụi này.

- Thưa dì, má con có cho con hay điều đó… và hôm nay vợ chồng con xin chuyển đến các dì lời hỏi thăm và lời cầu chúc sức khỏe của má con…