Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Thơ Bùi Chát – Tìm thơ trong hành động sáng tạo

 (Về tập Chúng ta đang trôi đi đâu, Nxb Đà Nẵng, 2025, của Bùi Chát [1])

Lê Hồ Quang

 Chỉ nhìn trên mục lục, cũng có thể thấy khá rõ tính chất tập trung trong chủ đề của tập thơ này, chẳng hạn: Để bắt đầu một bài thơ, Bài thơ – hai cách xử; Nói với nhà thơ về thơ, Thơ… là mây trắng, Thơ là gì?... Lời đề từ cũng dành để nói về thơ: Thơ/ Ở bên trong/ Tôi đã lấy ra và cấu trúc lại. Riêng trong phần Những ý nghĩ trở lại (Thơ điện tín), kéo dài từ trang 55 đến 100, xuất hiện hàng loạt câu định nghĩa về thơ và sự sáng tạo, cô đọng và hàm súc như châm ngôn. Nội dung tiểu luận trong phụ lục (tác giả gọi là phần Ngoài mục lục) cũng bàn về thơ và nghệ thuật, thông qua một hiện tượng biến đổi ngôn ngữ trong bối cảnh lịch sử, chính trị cụ thể. Tóm lại, từ nhan đề tác phẩm đến bố cục nội dung các phần, đến tần số xuất hiện của các từ/ cụm từ khóa…, tất cả dường như đều nằm trong chủ ý kiến tạo một cấu trúc mang tính điều hướng tiếp nhận. Dưới áp lực tổng thể đó, dễ hiểu vì sao nhiều độc giả có xu hướng đọc tập thơ này như một cấu trúc triết lí về thơ, về nghệ thuật.

Tuy nhiên, với tôi, điều ấn tượng nhất mà tập thơ đem lại không phải là những định nghĩa – triết lí cụ thể (nhiều khi rất hài hước, thú vị), mà nằm là ở tinh thần xây dựng và phá bỏ các định nghĩa. Thơ được Bùi Chát thể hiện như một quá trình định nghĩa và tái định nghĩa liên tục. Tìm thơ, từ góc nhìn này, không phải là tìm một định nghĩa mang tính ổn định, hoàn tất mà là tìm một diện mạo nghệ thuật đang liên tục biến đổi trong tư duy và thực hành ngôn ngữ của tác giả.

Bằng lối diễn đạt hài hước, mang sắc thái giễu nhại, trong bài thơ Miệng, Bùi Chát nhấn mạnh tính hành động của ngôn ngữ (làm thơ là hành động cất lời, là “mở miệng”), đồng thời đề xuất một thái độ mở, mang tính thực tiễn với ngôn ngữ và với thơ (rộng hơn là với nghệ thuật và đời sống), thông qua/ bằng chính ngôn ngữ:

Khởi thủy là lời

 

Để có lời

Chúng ta

           Phải mở miệng

 

Khởi thủy của lời

        Là

Khởi thủy của khởi thủy

        Là

MIỆNG - LƯỠI - THẾ - GIAN

Tuy nhiên, một khi ý thức về ngôn ngữ, về thơ, và rộng hơn là về đời sống như một hành trình vận động liên tục, tác giả đối mặt với một câu hỏi mang tính quyết định: chúng ta sẽ tồn tại như thế nào trong/ trên dòng chảy ấy? Hoặc, nói cách khác, trên dòng chảy vô hạn định của lời, của ngôn ngữ, cũng là của đời sống miệng-lưỡi-thế-gian - một thực tiễn sống động, phức tạp, chứa đựng không ít bất trắc, thậm chí hiểm họa - Chúng ta đang trôi đi đâu?!

Câu hỏi này được đặt ra trong nhan đề của tập thơ và cũng là câu hỏi được nhắc lại trong bài thơ cùng tên, khẳng định sự “đang trôi” của tất cả: chúng ta, ngôn ngữ, tình yêu, nỗi cô đơn…

Giữa tôi và em

Giữa em và nỗi cô đơn của em

Là một khoảng cách không đủ an toàn

 

Cho sự tồn tại thiết thực

 

Của ngôn ngữ

 

Chúng ta đang trôi đi đâu?!

Bài thơ có lời đề từ khá hài hước – “ba mặt không lời”. Đương nhiên, đấy là cách chơi chữ dựa trên sự liên tưởng với tình huống đối chất "ba mặt một lời" thẳng thừng, sòng phẳng, nhằm nhấn mạnh nỗi bất lực của con người cũng như sự bất định của ngôn ngữ trong đời sống và thi ca. Sứ mệnh là một bài thơ đáng lưu ý khác. Nó xác định “sứ mệnh” của người sáng tạo đích thực là chống lại chính mình. Đó là hành trình con người "đến và tiếp tục", với tinh thần mạnh mẽ, không thỏa hiệp, nhằm đạt đến thơ và tự do:

Tôi đến và tiếp tục

Chống lại tôi

Như đã từng chống lại tôi

Chống lại sự vô nghĩa

Của ý nghĩa

Của các biểu tượng

Cuộc sống luôn vận động. Ngôn ngữ luôn vận động. Tại sao thơ có thể bất biến? Quan niệm về thơ, về sáng tạo của Bùi Chát, do đó, thường được thể hiện qua những tình huống hài hước, những tương quan mâu thuẫn, nhằm đối thoại với những quan niệm được xem là chân lí hiển nhiên trước đó.

Thí dụ bài thơ sau đây - Mẹ. Định nghĩa về mẹ của Bùi Chát được xác lập trong tương quan đối chiếu với vô số định nghĩa đã biết, đã có về mẹ. Vì vậy, ý niệm về Mẹ được xây dựng trên cấu trúc phản đề (không phải/ mà là):

Hẳn nhiên không phải dòng sông, hạt gạo

Quê hương hay kí ức gì cả

 

Cũng chưa bao giờ là gì đó thực sự tệ hại

 

Mẹ

 

Là mẹ

 

Có chồng và thiệt nhiều con

Đó là điều luôn được biết đến.

Mẹ/ Là mẹ/ Có chồng và thiệt nhiều con. Một định nghĩa ngắn gọn, trực diện. Tại sao nhất định phải đi đường vòng tu từ nếu có thể nói trực diện? Có lẽ, câu hỏi này mới là nội dung đích thực của văn bản. Tất nhiên, tu từ không có lỗi. Thi tính không có lỗi. Lỗi nằm trong kiểu tư duy đồng phục, trong thứ ngôn ngữ chải chuốt, bóng bẩy nhưng lạnh chuội, hoàn toàn mất đi khả năng diễn đạt tư tưởng và những vấn đề thực sự của đời sống. Ở đây, vấn đề đặt ra không phải là đòi hỏi thay đổi thuần túy về mặt hình thức hay ngôn ngữ, mà là đòi hỏi sự thay đổi trong nhận thức và tư duy sáng tạo.

Đẹp cũng là một từ khóa, một tính chất thẩm mĩ, một chủ đề thơ truyền thống. Bùi Chát biến “đẹp” trở thành một câu chuyện “cổ tích”, xưa cũ và hài hước:

Vì quá tầm thường

Thế giới sẽ không thể cứu mình

Thoát khỏi chính mình

 

Cái đẹp đến

Giải phóng thế giới

 

Từ đó con người

Luôn phải lệ thuộc

Cái đẹp.

Tinh thần và cách ứng xử này xuất hiện phổ biến trong phần Những ý nghĩ trở lại, nơi mà triết lí về cái đẹp xuất hiện khá thường xuyên, theo kiểu “nói ngược” đầy khiêu khích, hài hước. Ví dụ:

- Mục tiêu khi làm nghệ thuật là để đạt tới nghệ thuật chứ không phải là đạt tới cái đẹp (108)

- Cái đẹp chẳng để làm gì (109)

- Trong nhiều trường hợp, cái đẹp chỉ phá hỏng nghệ thuật (110)

- Cái đẹp lúc có lúc không, nhưng cái đặc biệt lúc nào cũng làm nên nghệ thuật (111)

- Cái đẹp hãy còn chưa chết, làm một cái gì đó cho nó chết hẳn đi (167)…

Quan niệm về người mẹ tảo tần hy sinh hay quan niệm thơ thì "phải hay", "phải đẹp”… từ lâu đã trở thành mẫu số chung trong nhận thức, lí tưởng thẩm mĩ của số đông. Đó là lí do tác giả thường chọn cách nói ngược, với giọng điệu trực diện, khiêu khích, buộc người đọc, sau tiếng cười vì bất ngờ hoặc cảm giác khó chịu, bắt đầu phải nghĩ lại về vấn đề. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng tác giả không chống lại “thơ hay”, “cái đẹp” hay “ý nghĩa”, “giá trị” của nó. Cái anh thực sự chống lại là tính bất biến, máy móc trong những quan niệm đã được mặc định về chúng.

Tương tự, mô hình câu định nghĩa về thơ, với cấu trúc “Thơ + là”, vốn được gợi cảm hứng từ câu thơ nổi tiếng của Lưu Quang Vũ (Thơ tôi là mây trắng của đời tôi). Bùi Chát đã mô phỏng, cải biên và phát triển thành vô số dị bản với không ít hài hước: Thơ tớ là mây trắng của đời tớ/ Thơ ai là mây trắng của đời ai/ Thơ ngây là mây trắng của đời ngây/ Thơ dại là mây trắng của đời dại… Qua cách ứng xử của Bùi Chát với thơ Lưu Quang Vũ (trong trường hợp này, có thể xem như một “điển phạm” thi ca), ta có thể thấy gì? Thứ nhất, nó khiến ta phải nghĩ lại về tính duy nhất, độc sáng của văn bản trong sáng tác, bởi mỗi văn bản được tạo ra trong hiện tại thực chất là “liên văn bản” với vô số văn bản khác, đã được tạo ra từ trước. Thứ hai, có thể xem sự lắp ghép câu chữ cơ học, đầy ngẫu hứng, hài hước này là một cách “tái chế thơ” theo kiểu của Bùi Chát (đã được anh thực hiện không ít lần trước đây), qua đó, nhắc ta tỉnh táo hơn với quan niệm “thiêng hóa” mù quáng về thơ. Đó cũng là một hành động mang tính giễu nhại, khiêu khích đối với kiểu tư duy đồng phục, rập khuôn, xuất hiện không ít trong lịch sử sáng tác và tiếp nhận. Thứ ba, về thái độ tác giả. Đây có phải là một thái độ nhạo báng người đi trước không? Tôi nghĩ không phải vậy. Đấy là một thái độ ứng xử mang tinh thần hậu hiện đại, cởi mở và hài hước. Ngoài ra, hành động “chơi thơ”, “nghịch thơ” này cũng bộc lộ một cái nhìn khá tỉnh táo và thực tế của người đi sau trong một bối cảnh sáng tạo mà mọi cái dường như chỉ là lặp lại, trong khi, nói như Umberto Eco, “sự ngây thơ đã bị đánh mất” [2].

Trong thơ, Bùi Chát sử dụng khá thường xuyên các thủ pháp liên văn bản, cắt dán, giễu nhại…, đem lại nhiều phát hiện bất ngờ và hài hước về đời sống và nghệ thuật (chẳng hạn: Trong nhiều trường hợp, cái đẹp chỉ phá hỏng nghệ thuật; Chơi với cái vô nghĩa bao giờ cũng thú vị và phức tạp hơn những gì ta tưởng; Nghệ thuật vị cái gì cuối cùng cũng chỉ là vị tác giả; Nghệ thuật về cơ bản là để mua vui, ít nhất là cho tác giả và nhà sưu tập;…). Thơ anh giàu tính khẩu ngữ, nhiều khi như lời nói bông lơn, tầm phào, mang tính giễu nhại suồng sã: Thất bại – bà ngoại thành công; Đi một ngày đường, học một giường khôn; Cái xấu giấu cái ngu; Vú bự không qua khỏi đầu; Thơ nhiều để làm gì?... Đưa những câu chữ này vào tập và gọi chúng là thơ (Thơ điện tín), hành động của Bùi Chát ít nhiều gợi nhớ đến Marcel Duchamp vào năm 1917, khi nghệ sĩ này gửi một chiếc bồn tiểu đến cuộc triển lãm khai mạc của Hiệp hội Nghệ sĩ Độc lập tại New York và tuyên bố nó là “một tác phẩm nghệ thuật bởi hành động lựa chọn của nghệ sĩ”. Đấy là một hành động “gây hấn” có chủ ý, nhằm đặt lại nhận thức về bản chất của tác phẩm nghệ thuật và hành động sáng tạo. Tương tự, thơ Bùi Chát, theo tôi nghĩ, ngoài việc “mua vui cho bản thân” (92), như tác giả nói một cách hài hước, ở mặt tích cực nhất, có khả năng tạo nên cú sốc nhận thức, buộc người đọc, sau cảm giác bực bội hoặc phản ứng khó chịu, có thể phải xem xét lại nhận thức, quan niệm của mình và có một thái độ khách quan hơn với những quan niệm khác mình.

Bùi Chát xem thơ (và nghệ thuật nói chung) như một trò chơi, thậm chí là một trò chơi vô nghĩa. Anh nhấn mạnh: “Chơi với cái vô nghĩa bao giờ cũng thú vị và phức tạp hơn những gì ta tưởng”. Cần hiểu điều này như thế nào? Tôi nghĩ điều này trước hết nhằm nhấn mạnh nhận thức về thơ như một thực hành cá nhân của người viết. Đồng thời, nó đề cao tính chất phi vụ lợi, tinh thần tự do và tính giải trí của thơ. Mặt khác, nó cũng cho thấy ý thức về một bối cảnh sáng tác và tiếp nhận mới trong xã hội tiêu dùng hiện đại, với nhiều giá trị, chuẩn mực đang bị đảo lộn, thay thế hoặc xác định lại. Nếu đặt lựa chọn “chơi với cái vô nghĩa” vào bối cảnh rộng hơn của đời sống nghệ thuật đương đại, có thể thấy đằng sau đó còn là sự hoài nghi đối với những chức năng và giá trị vốn được mặc định cho nghệ thuật. Như vậy, “chơi với cái vô nghĩa” đâu phải là một hành động vô nghĩa? Nó là một lựa chọn mang tính quan niệm của người viết. Nhấn mạnh tình thế khó khăn của người nghệ sĩ trong bối cảnh sáng tác đầy biến động phức tạp, tác giả cũng nhấn mạnh tinh thần, tâm thế sáng tạo tự do và nhẹ nhõm: “Việc của nghệ sĩ là chỉ cần sẵn sàng, phần còn lại là sự lựa chọn của tình huống”. Tác giả không lựa chọn và gò ép các tình huống để biến nó thành các biểu tượng và thông điệp. Anh viết: “Về cơ bản, nghệ thuật của tôi không chứa đựng một ý nghĩa nào cả”. Trao ý nghĩa vào tay người tiếp nhận, anh cũng viết, khá hài hước: “Quan hệ giữa tác phẩm, nghệ sĩ và người thưởng ngoạn là một quan hệ khá phức tạp và kì dị. Dù có ba mặt một lời thì cũng đường ai nấy đi mà thôi” (134). Một khi đã thấy rõ tình thế sống cũng như tình thế viết/ sáng tác ấy, có lẽ người nghệ sĩ chỉ cần một thứ - tinh thần tự do, tập trung vào con đường mình đi, tin vào điều mình nghĩ và “sẵn sàng thất bại”!

Nhấn mạnh vai trò, sức mạnh của ngôn ngữ, khả năng sinh ra tư tưởng, ngôn ngữ và cảm xúc không có nghĩa là cố định ngôn ngữ vào một số công thức, chuẩn mực mang tính thiên kinh địa nghĩa. Ngôn ngữ của đời sống và thơ ca, nghệ thuật không phải là tử ngữ mà là sinh ngữ. Chúng luôn nẩy nở, sinh sôi, trở thành củi mục, rác rưởi, hạt mầm và tiếp tục tái sinh. Chúng “luôn trôi”:

Không phải cảm xúc

Mà chính là ngôn ngữ

Sinh ra thơ

Sinh ra tư tưởng

Sinh ra ngôn ngữ

Và sinh ra cảm xúc thơ

Và chúng “luôn trôi” trong hành động sáng tạo của mỗi cá nhân:

Nếu bạn là nhà thơ, hãy hỏi chính bạn

Mỗi nhà thơ đều có câu trả lời.

Dù rất đề cao ngôn ngữ, Bùi Chát không tìm kiếm thứ ngôn ngữ thơ của trò chơi chữ nghĩa duy mĩ, đặc dị, khép kín trong thế giới nội cảm của chủ thể. Chữ của Bùi Chát nhìn chung không “đẹp”, không “nên thơ”, thậm chí suồng sã, đối nghịch với chữ - thơ trong nhiều sáng tác truyền thống, vốn được mặc định là “đẹp”, “giàu chất thơ”. Đó là thứ chữ của vỉa hè, đường phố, của đại chúng. Nó thẳng thừng, thô ráp, gây sốc, thách thức những ý niệm về thơ và cái nên thơ ở độc giả. Chính vì thế, đây cũng là một điểm dễ gây tranh cãi. Tuy nhiên, cần thấy rằng đằng sau một số ngôn từ biểu đạt có vẻ lệch chuẩn ấy là ý thức tìm kiếm một hình thức biểu đạt vượt ra khỏi kinh nghiệm thi pháp truyền thống và nỗ lực tiệm cận một thực trạng đời sống khác, nơi đô thị hiện đại.

Từ chỗ lập ngôn “chúng tôi không làm thơ” cho đến việc đặt ra câu hỏi trực diện “thơ là gì?”, với tập thơ này, có vẻ như Bùi Chát đang hướng tới cái đích tìm kiếm và xác lập một hệ giá trị thẩm mĩ thông qua một cấu trúc văn bản có tính tập trung và tiết chế hơn. Nhưng, như đã phân tích ở trên, câu trả lời về thơ của Bùi Chát chắc chắn không phải nằm trong những gạch đầu dòng định nghĩa có tính ổn định, đóng kín. Quan điểm, thái độ thơ đó cần phải quan sát trong hoạt động thực hành của nghệ sĩ, cụ thể là qua cách tác giả xây dựng các định nghĩa về thơ.

Có một đặc điểm khá lạ trong cách định nghĩa của Bùi Chát. Dường như anh không ngần ngại tự mâu thuẫn khi phát ngôn. Hãy đọc kĩ phần Những ý nghĩ trở lại (Thơ điện tín). Đây là phần tập trung trình bày những câu định nghĩa ngắn gọn về thơ và nghệ thuật. Nếu trước đó anh định nghĩa Thơ là A thì sau đó anh có thể phủ nhận ngay bằng định nghĩa Thơ là B. Ví dụ về thơ, Bùi Chát viết ở câu 11: Thơ dở sẽ không gõ cửa nhà bạn, một khi bạn không làm thơ, và ở câu 22: Muốn có thơ hay, trước tiên bạn phải làm thơ. Hoặc nói về nghệ sĩ, ở câu 76: Nghệ sĩ, không nhất thiết phải nói điều gì qua tác phẩm, nếu cần nói tự thân tác phẩm sẽ biết cách. Và ở câu 77: Hãy nói bằng miệng! Đừng nói bằng nghệ thuật. Một ví dụ khác – về ý nghĩa của tác phẩm. Tác giả viết ở câu 138: “Khoái cảm của một nghệ sĩ là tạo ra được tác phẩm vô nghĩa. Một tác phẩm hoàn toàn vô nghĩa là một thành công lớn.” Nhưng ở câu 139, anh viết: “Không phải tác giả muốn tác phẩm của mình vô nghĩa thì nó vô nghĩa. Tác phẩm vô nghĩa hay đầy ý nghĩa thường do sự góp sức của người thưởng ngoạn”. Và ở câu 182: “Nghệ sĩ không nên và không có quyền phủ nhận toàn bộ ý nghĩa trong tác phẩm của mình. Vì một khi tác phẩm được ra đời, nó phải mang trong mình một ý nghĩa tự thân nào đó”. Tác giả sơ suất và đã tự mâu thuẫn chăng? Không, tôi nghĩ đấy là một sự sơ suất cố ý. Nó nhằm diễn tả tính chất phức tạp, mâu thuẫn của thơ, của sự sáng tạo và vô số vấn đề khác của đời sống bằng chính sự mâu thuẫn của định nghĩa. Chẳng hạn, ý niệm về giá trị, ý nghĩa của thơ đều phải bắt đầu từ hành động làm thơ. Khởi thủy từ ngôn ngữ, từ việc thực hành sáng tạo mới có hành động định giá. Thơ hay hoặc dở, có ý nghĩa hay vô nghĩa…, thực ra đều là hệ quả/ hậu quả của hành động làm thơ, tiếp nhận thơ, vốn đầy mâu thuẫn v.v.

Như vậy, vấn đề không nằm ở việc các định nghĩa sai hay đúng, mà nằm ở chỗ, chính việc các định nghĩa xuất hiện nối tiếp, phủ định và làm lung lay lẫn nhau khiến ta nhận ra rằng, thơ không phải là một ý niệm khép kín với bản chất duy nhất.

Để khỏi dài dòng, tôi sẽ không tiếp tục phân tích, chỉ xin nói thêm rằng, cách đặt những định nghĩa/ quan điểm mâu thuẫn tiếp nối này, vô hình trung, tạo nên một tình huống mang tính giễu nhại, gợi liên tưởng tới những cuộc tranh cãi nghệ thuật khá ồn ào gần đây trong đời sống nghệ thuật Việt Nam đương đại. Bằng cách tái hiện, tạo dựng những tình huống nhận thức mâu thuẫn xảy ra liên tục, tức thì, như một hiện tượng bình thường trong tư duy và đời sống, phải chăng đây là một hình dung thực tế về tính chất bất định của nhận thức, sự “hỗn độn” của tri thức và đời sống, sự hài hước và vô nghĩa của đòi hỏi chân lí tuyệt đối, trong một nhãn quan mang tính hậu hiện đại?

Nhấn mạnh tính chất “trôi”, “đang trôi” (cũng là chủ đề cuộc triển lãm tranh của Bùi Chát vào tháng 7/2025 - Đang trôi) là nhấn mạnh tính chất mở, tính hiện đại, tiếp diễn của sáng tạo. Nghịch lí là ở chỗ, trong khi nghệ sĩ nỗ lực cố định hóa đối tượng, để đưa ra một định nghĩa nghệ thuật sát đúng nhất, rất có thể, đối tượng đã vượt khỏi chính định nghĩa đó và đã mang một hình hài, bản dạng hoàn toàn khác so với chính nó, trước đó. Quá trình sáng tạo, bởi vậy, dường như là quá trình “chúng ta đang trôi”, đang đối diện với sự bất khả. Hiện tượng gây bối rối này không chỉ đúng với ngôn ngữ hay thi ca mà cả với con người trong bối cảnh đời sống hiện tại. Chúng ta đang trôi đi đâu?! vừa là một câu hỏi vừa mang dáng dấp một lời tự nhắc, tự thán. Nó nhắc nhở về một tinh thần sáng tạo tự tin và tự do. Tuy nhiên, cũng chính ở đây, nhiều câu hỏi hóc búa vẫn còn để ngỏ. Chẳng hạn, liệu có phải mọi trò chơi ngôn ngữ đều có giá trị nghệ thuật? Ranh giới giữa “giải thiêng” và “tùy tiện” ở đâu? Sự lặp lại thủ pháp giễu nhại có dẫn đến công thức mới không?... Tôi nghĩ cũng cần phải nói thêm điều này. Trong khi toàn bộ tập thơ liên tục phủ nhận những định nghĩa có tính bất biến thì bản thân việc tập hợp hàng loạt phát ngôn về thơ, nghệ thuật và sáng tạo trong một cấu trúc khá tập trung cũng khiến chúng có xu hướng hiện diện như một thứ “tuyên ngôn”. Điều đó tạo nên một nghịch lí: chính hành động chống định chế lại có nguy cơ sản sinh một định chế mới.

Có thể nói, với Bùi Chát, thơ không phải là một ý niệm cố định, khép kín. Nó hình thành trong quá trình thực hành ngôn ngữ, trong những cách hiểu đối lập, mâu thuẫn, trong những tình huống sáng tạo đầy bất ngờ, nghịch lí... Nó hình thành trong định nghĩa và trong chính hành động phá bỏ định nghĩa để tiếp tục mở ra những khả năng định nghĩa khác. Đó là một ý niệm mở. Tìm thơ, vì thế, là tìm trong hành động sáng tạo.

Vinh, 17/6/2026

L. H. Q.

[1] Bùi Chát tên thật là Bùi Quang Viễn, sinh năm 1979, là một nhà thơ, họa sĩ. Đã xuất bản bảy tập thơ. Chúng ta đang trôi đi đâu là tập thơ mới nhất của tác giả.

[2] Umberto Eco (2004), Đi tìm sự thật biết cười, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, trang 98.