Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2014

ĐÒ ƠI

Đò ơi là truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn Quang Lập, khi anh chuyển từ làm thơ sang viết văn xuôi. Lúc ấy Lập đang là lính nghĩa vụ đóng quân ở Đà Nẵng, sau khi tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Hà Nội.

Một ngày kia anh mang bản thảo đến tòa soạn tạp chí Đất Quảng, có vẻ bẽn lẽn ngượng ngùng đôi chút, như hầu hết những người lần đầu viết truyện và muốn công bố.

Truyện đã được in ngay trong số báo mới nhất. Và Lập rất hào hứng gởi tiếp Tiếng lục lạc, cũng một truyện đặc sắc khác, khiến cả người biên tập lẫn người đọc Đất Quảng đều rất vui mừng nhận ra một nhà văn xuôi có thực tài đang được trình làng.

Chỉ mấy năm sau, 1989, Nguyễn Quang Lập đã có tiểu thuyết Những mảnh đời đen trắng, mà trong đó, anh mô tả rất sâu sắc những bi kịch của xã hội đương thời và cảnh báo một tương lai không đáng vui mừng nếu người cầm quyền không nhìn lại và “cập nhật” chính mình cho đồng bộ với yêu cầu của thời đại.

Đúng như một nhà văn đầy ý thức công dân, Nguyễn Quang Lập đã “xông vào” một đề tài khó, và anh đã tiếp tục như vậy cho đến hôm nay, luôn trung thành với chọn lựa của chính mình…

Ngô Thị Kim Cúc

Truyện ngắn

Nguyễn Quang Lập

hiep-dam-co-lai-do-1Người lái đò cắm sào đẩy con thuyền tiến thêm chừng một sải nước rồi nhảy xuống, neo thuyền vào một gốc cây bần mọc chìa ra ngoài mé nước. Nắng chưa tắt hẳn, hãy còn vài giọt bấu víu trên những ngọn cây bần. Phía bên kia sông, một dải nước sáng vàng lấp loáng chạy dài ra cửa sông, trong khi phía bên này, dòng sông đã sẫm màu hoàng hôn. Một vài con bìm bịp đã cất tiếng gọi bạn, đó là âm thanh duy nhất trường tồn trên bến sông này.

Người lái đò đó leo lên bờ, đứng trên một mô đất cao, chống nạnh ngó trân trân về phía bên kia bờ sông, ông đứng yên như một pho tượng đúc sẵn hàng giờ liền. Và khi nắng tắt hẳn, dòng sông trở lên phẳng lặng, chuyển sang màu nâu nhạt thì ông lẩn vào hàng trăm cây bần mọc rậm rạp ở đây. Đến gần có thể nhầm đó là một cây bần chết, rụng lá đã lâu ngày.

Ông đứng như vậy để làm gì? Không ai biết. Hình như đó là một công việc bắt buộc thường nhật của ông trước khi kết thúc một ngày lao lực trên sông nước. Đã mười sáu năm, không sót một buổi chiều nào ông không chôn chân mình nơi mô đất quen thuộc đấy. Và cũng chỉ một dáng dấp, một hướng nhìn đau đáu mong chờ, thấp thỏm ấy, mười sáu năm rồi không đổi.

Điều gì khác chăng, có lẽ cái bức tượng sống ấy bị lớp bụi thời gian bám vào làm cho nặng nề già nua, và người đời dường như đã quên có bức tượng sống ấy trên đời...

Một chiều mưa phùn, dòng sông vốn đã tĩnh lặng u buồn, qua làn mưa ngầu đục đã trở nên hiu quạnh, xa xôi. Một đoàn ca nô chở đầy lính Pháp từ cửa sông chạy xộc vào. Những người dân chài lưới ven sông cho đó là chuyện bình thường chẳng ai để ý đến chúng. Nào ngờ đó là một sơ hở nghiêm trọng dẫn đến cái chết ba trăm nhân mạng xưa nay vẫn cắm cúi làm ăn, ít ai ý thức được rằng mình đang dẫm chân trong cuộc chiến tranh ghê gớm nhất nửa bán cầu này.

Chín chiếc ca nô Pháp vừa bại trận thảm hại ở QK trở về. Trước mắt chúng cảnh thanh bình trên sông nước của những người dân chài lưới là một nghịch cảnh vô lý cần phải xoá bỏ. Súng nổ. Hàng vạn viên đạn xả vào những người dân lương thiện kia. Không một ai kịp ẩn nấp...

Mới đó mà đã ba mươi năm.

Năm ấy người lái đò mới mười ba tuổi. Ông không hiểu sao ông lại không hề trúng một viên đạn nào. Ông đứng chết giấc trên dọi cát cho đến khi đoàn ca nô đã lùi về QV mới sực tỉnh. Ông cúi xuống nhặt hòn đá chạy như điên dại về phía đoàn ca nô. Ông dồn sức ném hòn đá về phía đó. Bây giờ mỗi lần nhớ lại cái hành động điên dại đó ông lại cười gằn, văng ra một tiếng chửi khô khốc: “Ngu!”.

Từ buổi chiều đó ông còn lại một mình trên đời, không cha mẹ anh em bà con cật ruột. Ông bỏ nghề chài lưới về bến sông làm người chở khách đò ngang. Đưa khách qua sông, cái nghề buồn tẻ chán ngắt đối với những ai yêu mến sự xê dịch. Còn ông, ông coi đó là công việc không thể chối bỏ. Đến nỗi ông nghĩ rằng ông không thể chết được nếu còn khách quá giang.

Ngày ngày, từ túp lều cất tạm đơn sơ giữa mấy khóm dứa lưng chừng con đê, ông bước ra bến cắm cúi chèo. Tên thật của ông dường như đã chìm xuống dưới đáy sông, mọi người đều hờ hững gọi ông là Bác lái đò. Người ta gọi ông bằng cái tên đó không phải khi ông ngoài năm mươi mà lúc ông đang là một chàng trai lực lưỡng…

Quãng sông này rất rộng, rộng hơn bất cứ quãng sông nào người ta thường dùng để sang ngang suốt dải đất miền Trung, đã một thời gắn bó với tên tuổi của ông. Ấy là thời máy bay Mỹ đang oanh tạc ở khắp nơi trên miền Bắc Việt Nam. Quãng sông mà ông đã sống chết cùng với nó có cái tên mà người ta thường dùng trong cuộc chiến để chỉ những nơi cực kỳ ác liệt: Tọa độ lửa.

Tên tuổi người lái đò đã chìm lấp dưới đáy sông được người đời vớt lên đặt trang trọng trên các mặt báo trung ương và địa phương: “Bùi Việt Pháo, người anh hùng trên sông nước”, “Người lái đò kiên cường Bùi Việt Pháo”... Thậm chí có một nhà báo nào đó quá hưng phấn gọi ông là “Người đảng viên trung kiên Bùi Việt Pháo”, dù ông chưa hề có tên trong một tổ chức đoàn thể nào. Ông chỉ là xã viên hợp tác xã H, vậy thôi.

Đối với ông, cái chết chẳng có nghĩa lý gì. Sở dĩ ông dầm trong sóng nước và bom đạn mà không chết chỉ vì người đời còn cần đến ông. Chừng nào ông chỉ là thằng vô tích sự thì ông sẽ chết, chết một cách lặng lẽ như mảnh ván thuyền chìm xuống đáy sông này.

Người ta kể lại rằng, vào một đêm, đâu vào khoảng giữa năm 1968, có một vị tướng cùng một đoàn các sĩ quan trung cao cấp qua sông. Khi ông vừa đẩy thuyền đi được vài chục sải bước thì máy bay Mỹ đột nhiên thả pháo sáng. Con thuyền của ông khác nào một vệt mực đen giữa tờ giấy trắng tinh.

Các phi công Mỹ đã phát hiện ra con thuyền, chúng bắt đầu quần lượn. Mọi người đều nghĩ rằng ông sẽ dừng thuyền cho họ nhảy xuống sông bơi ngược lại. Nhưng không, ông vẫn cắm cúi chèo.

-Quay ngược thuyền lại- Vị tướng nói như ra lệnh.

Người lái đò quay lại nhìn vị tướng rồi chẳng nói chẳng rằng tháo tung dây buộc buồm dự phòng cho những chuyến đò dọc. Ông chẳng còn kịp giải thích cho mọi người hiểu rằng chỉ lát nữa bến thuyền xuất phát sẽ nát như tương vì bom Mỹ, rằng ở đây không ai hiểu các quy luật ném bom bằng ông, rằng trên mặt sông trống trải này cũng có nhiều vùng mù, đưa thuyền lọt vào đó coi như an toàn trăm phần trăm. Buồm được gió căng phồng, thuyền bắt đầu lao dọc dòng sông với một tốc độ tăng dần theo một góc áng chừng ba mươi độ.

-Tại sao lại làm thế hả? Hả?

Tất cả đều nhao nhao phản đối hành động liều lĩnh của ông. Người lái đò không đáp lại, ông nghiến răng điều khiển con thuyền. Máy bay Mỹ cắt bom. Những khối lửa và nước bốc lên đổ ập xuống. Con thuyền chòng chành như muốn lật úp xuống.

-Quay lại đi! Hạ buồm!- Vị tướng quát. Trong tình huống cực kỳ nguy hiểm ấy vị tướng quên mình đang “thuộc quyền chỉ huy” của người lái đò. Và khi con thuyền bị một khối nước hất cao, vị tướng hét to:

-Quay lại đi! Có quay lại không? Đồ ngu!

Người lái đò đứng vụt dậy, ông quay người kéo căng dây buồm, ngoái cổ lại, gầm lên :

-Ông mới là đồ ngu!

Rồi như vận động viên thuyền buồm cấp kiện tướng, ông bình tĩnh điều khiển con thuyền vượt qua nửa con sông lọt vào “vùng mù” của các phi công Mỹ. Chúng điên cuồng quần lượn, thả hàng lượt pháo sáng, cuối cùng chúng bỏ bom một dọc dài bên xuất phát rồi bỏ đi. Người lái đò mỉm cười rung đùi thong thả hạ buồm cho thuyền luồn qua bãi bần cập bến an toàn. Vị tướng bước lên bờ, đi được một đoạn, ông gật gù với các trợ lý của mình:

-Té ra không phải lúc nào mình cũng làm tướng được các ông ạ. Thằng cha ấy khá đấy chứ nhẩy!

Không biết câu chuyện hư thực ra sao. Cũng có thể đó chỉ là một trong rất nhiều huyền thoại về ông. Bây giờ chiến tranh qua lâu rồi, chẳng ai nhắc đến cái tên Bùi Việt Pháo nữa, người ta trở lại cái tên nguyên thuỷ của ông: Bác lái đò. Chiến tranh càng lùi xa về dĩ vãng thì tên thật của ông càng chìm sâu khuất lấp dưới đáy sông. Nhưng đối với ông, điều đó thực chẳng có ý nghĩa gì hết.

***

Gần khuya, người lái đò mới chui vào túp lều lá mía. Túp lều quá ọp ẹp, xiêu vẹo. Thế mà nó vẫn đứng hết năm này qua năm khác. Ngay cả cơn bão số mười năm ngoái thổi bay hàng chục ngôi nhà lớn nhỏ ở xã H, riêng nó chỉ rung lên chút thôi. Có lẽ bờ đê và bãi bến đã che chở cho nó. Nó như là bóng dáng của lão lái đò: cũ kỹ, già nua, đơn độc...

Người lái đò lục suất cơm mà hợp tác xã cho người nấu nướng cẩn thận đưa ra tận nơi cho ông. Ông gắp mấy con tôm to để riêng ra rồi với tay lấy xị rượu ở góc lều, cũng của hợp tác xã dành cho, bắt đầu nhấp từng ngụm rượu một. Khi rượu đã ngấm, ông nhai vội mấy miếng cơm rồi nằm gác chân lên một thanh gỗ nhỏ, cất tiếng hát.

Ông không thuộc một bài hát nào hết, ông chỉ hát đi hát lại mỗi câu thuộc từ thời chống Pháp với làn điệu dân ca của riêng ông:

-Ai (ờ) đưa (ư hư… ừ) con sáo (mà) qua (á á a) sông (tòm tòm cắc)

Để cho (ó o ò) con (mà) sáo (í ì i) sổ lồng (úi trời là) bay ngang!

(Tòm tòm cắc!Tùm!)…

Tiếng hát của ông nhỏ dần, rời rạc dần rồi lịm tắt. Ấy là khi ông đã ngủ say.

Nhưng có rất nhiều đêm, tỉ như đêm nay chẳng hạn, sau khi hát chán chê, ông ngồi bó gối nhìn chăm chăm vào ngọn đèn. Ông nhìn mãi... đột nhiên ngửa cổ cười khậc khậc và gầm lên: “Ngu”.

Mới nghe có thể nhầm ông hoài niệm về cái thời ca nô Pháp chạy qua sông và cái chết của ba trăm người dân chài lưới... Nhưng không, có một nỗi đau ghê gớm đang gợi thức cho ông. Đúng hơn, ông đang đau xót nhớ về một tội lỗi của mình.

Ông có năm mươi hai năm sống lương thiện và một giờ gây tội ác. Ông cho đó là tội ác ghê tởm nhất mà tổng số những điều thiện ông có không sao bù đắp nổi. Chuyện đó xảy ra chính trong túp lều lá mía này.

…Vào khoảng nửa đêm, gió bỗng nhiên chuyển hướng, mạnh dần lên. Và mưa. Và sấm chớp. Người lái đò chui vào lều, lấy chăn trùm kín đầu. Mặc cho mọi đột biến ngoài túp lều, ông rỉ rả hát cái câu hát muôn thủơ của ông. Quá quen với rất nhiều cơn bão kiểu này, ông chẳng lo sợ gì, nhưng bao giờ ông cũng buồn.

Ngoài túp lều gió giật từng cơn, mưa dập xuống sông vỡ tan như tiếng nứa vỡ. Mái lều làm bằng lá mía rung bần bật, ướt đẫm, nhỏ từng giọt xuống một góc chiếu.

Tiếng bìm bịp tắt ngấm, khắp nơi ồn ào một thứ âm thanh hỗn tạp. Bỗng thấy mình trống trải, cô đơn, ông nhắm nghiền mắt thương nhớ về một kỉ niệm xa lắc...

Cô gái có khuôn mặt trắng hồng, mái tóc dày buông xuống quá gấu áo, đôi mắt tươi sáng và nụ cười. Ôi chao, cái nụ cười làm cho ngực ông nhói lên... Cô gái ngồi ở mui thuyền, thò tay xuống vốc nước hắt lên áo ông. Cười. Vầng trăng vỡ tan rồi chập lại lấp lánh... “Hò ơi… ví dầu cha mẹ em có đánh chín chục, một trăm… roi, đánh xong rồi (mà) em đứng dậy… ơ… hờ… một hai (là) em vẫn theo… ơ… chàng!”…

Con thuyền nghiêng ngửa giữa dòng. Bàn tay trắng muốt đặt vào ngực ông. Vầng trăng đảo nửa vòng... “Đừng!... Liều!”. Vầng trăng bỗng trồi lên, bay chơi vơi trên mặt nước sương mù:... “Có thương không?...Thiệt thương không?”. Con thuyền quay vòng tròn, trôi vô hướng... “Ghét ghê... này! Đừng anh...”. Lại một lần nữa vầng trăng chao. Gió nổi. Bao nhiêu là gió. “Thôi anh. Kìa...!”.

Thế mà đã qua rồi. Qua lâu rồi. Qua từ lúc nào ông cũng không biết nữa...À ơi... lạnh lùng thay láng giềng ơi… (chứ) Láng giềng lạnh ít… ơi… à… sao tôi lạnh nhiều…”.

-Đò ơi… đò!

Tiếng gọi đò bất chợt mọc lên giữa đêm mưa bão. Người lái đò uể oải chui ra khỏi lều. Gió giật, áo ông bay phần phật. Một bóng người đứng ở mép sông, tấm áo mưa trùm kín từ đầu đến chân.

-Ai đó? Vô đây!

Người lái đò giơ cao đèn bão ngang tầm mắt. Bóng người đó chuyển động chậm chạp về phía ông.

-Cháu ở đường 12 mới về... Muốn qua sông...- Tiếng một phụ nữ cất lên trong trẻo. Dưới quầng sáng đỏ quạch của đèn dầu, ông nhận ra một cô gái khoảng hai mươi nhăm tuổi. Khuôn mặt hơi dài, ướt đẫm nước mưa.

-Muốn cũng không được. Chị vào lều trú tạm, khi mô lặng gió tôi đưa qua.

Nói rồi ông chui vào lều, để lại cô gái đứng như trời trồng giữa cơn gió. Một lát sau chị lặng lẽ chui vào lều. Chị ngồi xuống mép chiếu, vắt áo mưa ngoài cửa lều che gió, khẽ thở dài:

-Ôi dào... mưa với gió! Nếu không có chiến tranh người ta đã làm một cái cầu qua đây rồi.

-Cầu mô cho thấu, sông ni rộng hơn một cây số- Vừa nói, ông vừa ném cái chăn chiên về phía chị- Trùm vào người cho nó ấm. Muốn ngủ thì cứ ngủ.

Chị đón tấm chăn, vui vẻ quấn hết vào người, ngồi tựa vào vách lều.

-Bác biết cữ này mưa gió còn lâu không?

-Tùy... tùy ông thiên lôi.

-Ông trời cứ thế này đến sáng thì gay, bác nhỉ?

-Ừ.

Người lái đò uể oải trả lời, ông cúi xuống tìm xị rượu dự trữ giấu ở dưới tấm gỗ mục. Bây giờ đã hết tôm tươi, chỉ còn mấy con cá khô nướng. Ông xé nhỏ, bỏ vào miệng nhai nhóp nhép. Chợt nhớ đến người khách ông ngẩng lên:

-Chị đã cơm nước chi chưa? Còn cơm nguội đó, nhiều lắm.

Người khách buồn ngủ ríu mắt, nghe ông hỏi, nhìn ông cười gắng:

-Dạ cám ơn bác. Cháu ăn rồi.

Người khách ngửa cổ ngáp, rồi không chịu được cơn buồn ngủ đang đến, chị ngoẹo đầu thiếp đi.

Người lái đò trở lại thú vui thường nhật của ông: Uống rượu từng ngụm nhỏ, nhai hết mấy con cá khô... và rỉ rả hát. Ngoài kia gió vẫn giật liên hồi. Mưa mỗi lúc một to hơn. Ông hát mãi cho đến khi tai ông chỉ còn nghe tiếng u u. Ông ngủ, ngáy như sấm.

Mái lều tự nhiên trổ một lỗ nhỏ, những giọt mưa lọt qua rơi đúng vào cổ ông. Ông mở mắt nhìn, chưa hiểu lý do vì sao mình thấy lạnh. Chợt ông thấy một gương mặt phụ nữ đang tươi tắn mỉm cười- có lẽ người khách đang có một giấc mơ vui- những sợi tóc mai rung rung.

Ông quay mặt đi cố nhớ vì sao lại có một gương mặt phụ nữ ở đây? Và lờ mờ nhớ ra. Ông nhắm mắt thở đều. Nhưng bấy giờ ngọn đèn bão lại làm cho ông chói mắt. Ông mở to mắt nhìn chằm chằm ngọn đèn. Ngọn đèn tỏa ra thứ ánh sáng yếu ớt, vàng nhợt. Khuôn mặt phụ nữ đang cười. Mấy giọt nước mưa còn đọng lại hai bên cánh mũi và đuôi mắt chợt lóng lánh.

Gió thổi ngọn đèn khẽ lay, những giọt nước mưa bỗng chuyển dộng... Phất phơ những sợi tóc mai... Ngọn đèn trước mắt ông bỗng nhoè dần... Tiếng sóng vỗ. Gió. Túp lều như chao đảo. Bỗng mọc lên một vầng trăng vỡ tan ra rồi chập lại, lấp lánh lấp lánh...

Trước mắt ông gương mặt người phụ nữ bỗng nhạt nhòa trong ánh sáng mơ hồ của ký ức xa xôi... Thốt nhiên vọng về tiếng hát “Hò ơi… ví dầu cha mẹ có đánh chín chục, một trăm roi, đánh xong rồi (mà) em đứng dậy… ơ hờ… một hai (là) em vẫn theo… ơ… chàng”.

Vầng trăng vẫn trồi lên bay chơi vơi giữa mặt nước sương mù. Con thuyền vẫn nghiêng ngửa giữa dòng. Vầng trăng đảo nửa vòng, lại nửa vòng trăng chao...

Người phụ nữ khẽ cựa mình, đưa tay vuốt nhẹ tóc, rồi ngủ yên. Một giọt nước từ trán lăn xuống khoé môi, sáng vàng lóng lánh... “À ơi… lạnh lùng thay láng giềng ơi… (chứ) láng giềng lạnh ít… ơi à… sao tôi… mà tôi… ư… lạnh (ơ) nhiều…”.

Ông lao về phía khuôn mặt tươi tắn đang cười. Ông ghì chặt. Một tiếng kêu thất thanh. Ngoài túp lều mưa bão vẫn đầy trời.

***

Đồ chó!

Người lái đò bừng lỉnh. Tiếng chửi vừa ném xuống mặt ông hình như bay ra từ phía góc mái lều. Ông sững sờ ngồi dậy. Ngoài kia vẫn tiếng bìm bịp đập với tiếng sóng. Tiếng kêu kiên nhẫn, sầu não của loài chim ấy đêm nào cũng vọng về làm cho ông ngày mỗi mệt mỏi, rã rời. Ông nằm xuống gối đầu lên hai tay mình, cố quên đi tiếng vọng vừa phát ra. Ông thở đều đều lẩm nhẩm đếm từng tiếng sóng...

Đồ chó!

Người lái đò ngồi bật dậy, ông hoảng hốt sờ soạng khắp lều. Ông ngồi ngẩn ngơ không biết mình muốn tìm gì. Ông thấy sợ. Ngồi co ro vào một góc lều, trông ông giống như một con mèo đói rình mồi. Ông biết tiếng chửi ấy là của người đàn bà kia. Mười sáu năm về trước, tiếng chửi ấy đã ném vào mặt ông cùng với những cái tát điên dại của chị.

Đêm nay là đêm thứ bao nhiêu tiếng chửi ấy vọng về ông cũng chẳng còn nhớ nữa. Ông có cảm giác tiếng chửi ấy dường như lưu trữ khắp nơi, nó thường trực ở bất cứ nơi nào ông tìm đến để kiếm sự yên tĩnh.

Sau cái đêm dữ đội ấy, ông như một kẻ câm. Ông lặng lẽ cắm cúi chèo, chèo và chèo. Bom đạn Mỹ cứ giáng xuống còn ông cứ chèo. Đôi khi ông cầu trời cho một mảnh bom nào đó cắm sâu vào ngực. Thế mà suốt tám năm chiến tranh phá hoại ông không hề bị một vết xước.

Tin tức về số phận người đàn bà ấy, qua những người đi đò như một mạch nước ngầm âm thầm chảy qua đời ông. Người ta kể rằng, ở xã N. vợ ông chủ tịch xã có thai với một thằng vô lại nào đó đã bị ông chủ tịch xã ruồng bỏ. Cô ta ẵm đứa con vô thừa nhận chưa tròn tháng tuổi lang thang phiêu bạt khắp nơi. Giờ không biết về đâu.

Sau người ta lại kháo rằng, tự cô ta trốn đi, đâu như trốn theo người tình thì phải. Ông chồng của cô căm lắm, thề tìm được cái thằng chung chạ với vợ ông thì ông sẽ chém ra ba khúc vứt xuống sông.

Cuối cùng, người lái đò hay rằng, người đàn bà ấy tên là Túc. Chị là trung đội trưởng thanh niên xung phong được đơn vị cho về thăm chồng hai ngày. Chẳng ngờ khi về đến nhà anh chồng đi vắng. Chị quay lại đơn vị rồi chín tháng mười ngày sau chị sinh được một đứa con trai. Chị ôm con trốn đơn vị lang thang hơn tháng trong rừng, chị quay về gõ cửa nhà mình thì anh chồng đã đẩy chị ra khỏi ngõ…

Từ đấy đến nay không còn ai nhắc đến chuyện ấy nữa. Đối với tất cả đó có thể là tai biến nhỏ nhoi trong chiến tranh, nhưng người lái đò thì nhớ lắm, nhớ từng chi tiết nhỏ chuyện kể của người đời.

Thế ra mười sáu năm qua, người đàn bà tội nghiệp kia bị bao nhiêu nước bọt của người đời phỉ nhổ vào mặt. Còn ông? Chưa một ai nghĩ ông một là thằng đàn ông khốn nạn. Những năm chiến tranh, ông là một anh hùng trên sông nước. Chính ông đã cứu thoát cho bao nhiêu sinh mạng. Hàng ngàn người đang sống cùng thời với ông mang ơn ông. Hòa bình lập lại, ông là người đàn ông hiền lành, cần cù, không vợ con, không họ bàng thân thích... và ông đã được sống trong sự đùm bọc thương yêu của mọi người.

Chỉ đêm về, khi tất cả âm thanh của cuộc sống đã hoà tan trong sóng nước, khi một mình ông đối diện trong tĩnh lặng u buồn và ngọn đèn dầu đỏ quạch thì tiếng chửi của người đàn bà tội nghiệp kia ở đâu đó lại dồn về...

Mấy tháng sau hoà bình, lấy cớ với ban quản trị hợp tác xã là ông muốn đi đây đó một thời gian, ông cố cất công đi tìm người đàn bà đó. Tìm, nhưng ông cũng khá mơ hồ về mục đích.Tìm để làm gì? Ông không biết, không biết đâu, đừng hỏi ông điều ấy.

Gần ba chục lâm, nông trường, nhà máy xí nghiệp phụ nữ tên là Túc ông đã gặp, đều một lần chồng đều đang rất hạnh phúc. Khi đã cạn tiền, kiệt sức ông trở về với bến đò của ông, lại cắm cúi chèo và chèo. Và chiều chiều ông lại đứng trên mô đất cao ngóng về phía bờ bên kia. Ông ngóng đợi người đàn bà kia trở về. Ông đứng trong nỗi mong chờ tuyệt vọng đã mười sáu năm nay.

Đã gần ba giờ sáng rồi mà người lái đò không hề chợp mắt. Ông uống rượu nhiều hơn mọi đêm. Uống miết mà không thấy say. Đêm nay trong ông đang xảy ra những xáo động ghê gớm.

Chiều qua ông vừa hay tin rằng người chồng của người đàn bà kia đã về ở thị trấn B. Cách bến đò bên kia chừng một cây số. Anh ấy tên là Tâm, trước làm chủ tịch xã N nay về làm phó chủ tịch huyện. Thế là ông sẽ biết người đàn bà ấy ở đâu, nếu như ông liều mạng đến tự thú, ông nghĩ vậy. Nhưng ông sợ. Một cảm giác ghê rợn tự nhiên chạy dọc sống lưng khi nghĩ đến giây lát tìm gặp người đàn ông ấy. Rồi ngày mai cả huyện sẽ biết đến chuyện của ông. Và ông- “Vị anh hùng trên sông nước” sẽ bị coi là một thằng khốn nạn.

-Một thằng khốn nạn! Khơ! Khơ! ...

Người lái đò bỗng bật ra tiếng cười chua chát.

Bây giờ người đàn bà ấy ở đâu? Có thể cô đã chết vì không chịu được sự sỉ nhục của người đời. Có thể cô ta đáng sống cơ cực cùng với đứa con trai ở một nơi heo hút nào đó... Tại sao cô ta không được sống hạnh phúc? Tại sao?... Ông khẽ lắc đầu, ngửa cổ uống hết số rượu còn lại trong chai. Rồi ông nhớ về cái đêm ấy... Khuôn mặt thanh tú của người đàn bà bỗng nhăn nhó.

Đôi mắt to sáng của chị đỏ rực dữ tợn, man dại:

-Đồ chó!

Một cái vỏ chai đập vào thái dương ông.Vô hồi những cái tát. Người đàn bà vùng chạy ra khỏi lều giữa lúc cao điểm của cơn bão, chị giật tung dây neo thuyền, đẩy thuyền ra sông. Người lái đò ngồi đờ đẫn, rũ rượi một lúc lâu rồi chợt nhớ ra mình phải làm gì, ông chạy ào ra bến. Con thuyền đã rời bến một quãng xa. Ông nhảy xuống sông gắng sức bơi đuổi theo.

Ông bám vào mạn thuyền chực leo lên.

-Buông ra!

-Chị không đi một mình được đâu.

-Mày còn nói được câu ấy à?

-Chị để tôi chèo...

-Buông ra không? Đồ chó.

Người đàn bà vung mái chèo giáng hết sức xuống đầu ông. Ông rú lên, buông mạn thuyền, chìm hẳn xuống dòng sông. Tỉnh dậy, ông ngơ ngác thấy mình nằm trần truồng trơ trọi trên doi cát bên kia cùng với con thuyền đã neo buộc cẩn thận. Ông không cách nào giải thích được tại sao lại như thế. Chỉ có điều là ông nhớ, nhớ ghê lắm...

Bây giờ rượu không còn một giọt. Ông thấy cổ ông ngứa quá. Ông thò tay gãi nhưng tìm mãi không biết cổ mình ở đâu. Ông nhắm nghiền mắt. “Cố mà ngủ, ngủ là chết... chết là hết... là quên hết. Khỏe!”.

Ông thấy người nhẹ hẳn, bập bềnh, bập bềnh...

-Đò ơi… đò! Đò ơi… đò! Đò ơi…!

Tiếng gọi vang lên ào ạt như tiếng sóng nhịp ba vô hồi đập vào bến. Người lái đò ngồi bật dậy, chạy ào ra. Rõ ràng là ông vừa nghe tiếng gọi đò trong vắt của một phụ nữ trẻ. Tiếng gọi ấy lâu nay đã tiềm ẩn trong ngực ông, đó chính là tiếng gọi đò của người đàn bà mà ông đang chờ đợi, làm sao ông nhầm lẫn được.

Ông nhảy lên thuyền hối hả chống thuyền đi. Rồi ông ném cây sào vào lòng thuyền, cầm lấy mái chèo nghiến răng chèo. Mồ hôi ông ướt đẫm. Con thuyền lao trong sương mù với tốc độ hiếm có từ ngày người lái đò chỉ huy nó.

Thuyền cập bến. Một dải cát dài ướt đẫm sương đêm. Tịnh không một bóng người. Người lái đò khuỵu chân, gục đầu xuống bờ cát. Ông biết ông đã nhầm lẫn. Thực ra đó là dư vang ký ức đau buồn của ông vọng về.

Ông gượng đứng dậy, ngửa mặt lên trời, lảo đảo xiêu vẹo như một kẻ trọng thương sắp ngã gục. Nhưng ông không ngã. Ông đi, cứ đi... Rồi ông kinh ngạc thấy mình đang đứng trước của nhà ông Tâm phó chủ tịch huyện. Ông dập cửa. Nghiến răng đập cửa.

Cửa vẫn đóng kín mít. Trong kia, mọi người đang ngủ say, họ mơ hồ nghe tiếng đập cửa nhưng không ai chịu trở mình. Có lẽ họ cho rằng đó là tiếng của những ngọn gió ngoài bờ sông, thỉnh thoảng vẫn dội về...

Ba Đồn 02/ 1986

VĂN NGHỆ SĨ VIẾT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (12): “ÔNG CÓ BIẾT CHỮA PHIẾU CƠM KHÔNG?”

Trần Ngọc Tuấn

clip_image002

Nhà văn Nguyễn Quang Lập

(Viết tặng nhà văn Nguyễn Quang Lập chủ Blog “Quê Choa” vừa bị bắt “quả tang”?! khi đang viết văn tại gia). Cái tít của bài này. Cũng là câu hỏi đầu tiên của tôi khi gặp nhà văn Nguyễn Quang Lập.

Lâu rồi, (mình không có thói quen đếm tháng với năm). Mình với Lập có nhiều bạn chung trong giới làm cái “Nghiệp” chứ không phải “Nghề” gọi cho nó có vẻ “sang trọng” là viết văn. Quen nhau từ lúc nào nhỉ hở Lập? Hình như, cái thời ông còn dùng Yahoo -360 -Plus thì phải. “chát chít”, “Còmmen” rồi xin số phone, rồi trao đổi bài.

Khi nào thật cần (chuyện bài vở xin bài này bài nọ) mình mới phone cho Lập. Cái thằng này, nó nói chuyện rất ngắn, chỉ đủ hàm lượng thông tin. (Hình như nó lo mình gọi từ nước ngoài về tốn tiền hay sao ấy?). 

Lập là vậy. Chỉnh chu, nghiêm túc, sống rất tình cảm. Chỉnh chu với vợ con, bạn bè. Cái giới tạm gọi là văn nghệ sĩ thường sống rất bựa. Lười tắm, nhậu nhẹt, trai gái ba lăng nhăng (mình tự thấy mình cũng thế) khi tự phê một cách trung thực và sâu sắc, có một chút…”tâm tư”.

Hôm mình về Việt Nam. Trong danh sách những người mà mình cần gặp, và phải gặp đầu tiên là “Bọ Lập”. Về, suốt ngày say, nhậu với anh Tạo (Nguyễn Trọng Tạo) lại nhớ Lập viết trong “Bạn Văn”…”Cô nào mà yêu ông Tạo thì phải dùng đũa gắp chim…”. Mình nhắc lại, anh Tạo cười: ý nó trêu anh lười tắm, nhưng bây giờ anh sạch rồi. Yêu anh lắm nó mới viết như thế.

DẠY-HỌC VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG (11): Dạy Văn có phải là dạy các em nói dối?

Võ Thị Mỹ Ngà

Bài viết ngắn dưới đây của một sinh viên Sư phạm Văn chia sẻ nỗi băn khoăn về việc dạy Văn ở trường phổ thông: Dạy Văn là dạy gì?

Cô giáo ra đề Văn: “Em hãy tả bố em”. Cuối giờ, duy nhất một học sinh nộp giấy trắng. Cô giáo hỏi: “Sao em không viết bài?”, học sinh: “Thưa cô, em không có bố”. Cô giáo: “Thế sao không nhìn bố của các bạn mà viết?”. 

Đấy là câu chuyện có thật.Câu nói của cô giáo có thật. Xót xa thay!  Từ lúc tôi là sinh viên Sư phạm Văn, có một điều tôi luôn băn khoăn: Dạy Văn là dạy gì? Nhiều khi dạy Văn dường như là dạy cho các em nói dối?

Giáo viên dạy các em viết văn hay.Chứ không dạy các em viết văn thật.

Dư âm lễ “mừng lên bảy” của Trung tâm Minh triết

Nguyễn Đăng Thính - Phóng viên Trung tâm Minh triết

Các ý kiến thảo luận “nóng lên” quanh câu chuyện làm thế nào dùng minh triết để bảo vệ chủ quyền đất nước nói chung và đặc biệt là chủ quyền đối với biển đảo – những vùng đã bị cưỡng chiếm và những vùng hiện còn giữ được.

clip_image002

Hiếm có cuộc tọa đàm nào để lại khá nhiều dư âm như sự kiện “Mừng lên bảy” của Trung tâm Minh triết được tổ chức tại Viện SENA, 35 Điện Biên Phủ, Hà Nội, hôm 13/12/2014.

MATSUO BASHÔ Bậc Đại Sư Haiku (2)

Ueda Makoto & Nguyễn Nam Trân

Chương 2

BASHÔ VÀ HAIKU

Năm chặng đường đi tìm một phong cách nghệ thuật

Dẫn nhập:

Bài viết dưới đây phỏng dịch chương thứ hai của quyển sách đề cập đến haiku theo nghĩa hẹp. Chú thích dựa trên quyển Zuchin Bashô Zenku (Tụ trân Bashô toàn cú, 2004) của nhà nghiên cứu Hori Nobuo và những tư liệu khác.

Chỗ Của Một Nhà Văn Không Phải Ở Trong Tù

Huy Đức

Cho đến 16:00 chiều nay, 15-12-2014, khi chị Hồ Thị Hồng yêu cầu, cơ quan An ninh Điều tra vẫn không trình ra được phê chuẩn của Viện kiểm sát về việc tiếp tục giam giữ chồng chị. Theo đúng Luật, nhà văn Nguyễn Quang Lập phải được ra khỏi trại giam từ lúc 9:00 sáng nay, tính từ thời điểm anh bị mất tự do ngay khi đang ở trong nhà mình (anh bị đưa vào tù từ lúc 14:00 ngày 6-12-2014).

Nguyễn Quang Lập đến với thế giới blog rất tình cờ. Tai nạn giao thông vào năm 2001 thực sự là một biến cố lớn lao trong đời anh. Nó biến một người đàn ông ở độ tuổi 40s đầy năng lượng thành một người tàn phế. Anh hôn mê suốt ba tháng và nhiều tháng sau đó gần như chỉ nằm một chỗ.

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ (KỲ CUỐI)

Tiểu thuyết

Nhật Tuấn

Hai mươi tám

Trận mưa đầu mùa đã đổ xuống bất ngờ, đổ hết trong khoảng khắc trắng xóa rừng núi rồi biến mất như đã trốn vào đâu đó để âm thầm tích nước báo hiệu những trận sau còn dữ dội hơn. Tôi ngồi bó gối trong cái lán nhỏ chen chúc cả bốn con người trong cuộc họp để ông toán trưởng long trọng báo tin:

“Tôi vừa nhận được điện... Ban chỉ huy đã chính thức giao cho đồng chí Hiếu thay tôi làm toán trưởng. Tôi đã bàn giao xong các tài liệu và bản đồ... Từ nay các đồng chí phải nghiêm chỉnh chấp hành mọi phân công của đồng chí toán trưởng mới.”

GIỖ ĐẦU NELSON MANDELA (5/12/2014)

TƯỢNG ĐÀI NELSON MANDELA CỦA MARCO CIANFANELLI

Năm 2012, kỷ niệm 50 năm Nelson Mandela bị bắt giam, nghệ sĩ thị giác Marco Cianfanelli đã sáng tạo nên tượng đài độc đáo này để vinh danh ông. Một tác phẩm sắp đặt gồm 50 cột bằng thép được cắt bằng laser, vẽ nên khuôn mặt Madiba khi nhìn từ xa, tại KwaZulu-Natal, Nam Phi, nơi ông bị bắt vào năm 1963.

50 chiếc cột có độ cao 6,5 và 9m, mỗi chiếc chôn vào bệ bằng bê tông.

Tác giả cho biết: “Tác phẩm nói lên sức mạnh thúc đẩy cuộc chiến đấu qua tính biểu tượng của việc bắt giam Mandela. 50 chiếc cột tượng trưng cho 50 năm giam cầm, nhưng cũng gợi lên ý tưởng một số lượng lớn làm nên tổng thể: sự đoàn kết. Nó chỉ rõ sự trớ trêu: việc giam giữ đã đúc nên thần tượng của cuộc đấu tranh, tạo men cho làn sóng kháng cự, đoàn kết và nổi dậy vì sự thay đổi chính trị và nền dân chủ”.

VĂN NGHỆ SĨ VIẾT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (10): CÓ PHẢI NGUYỄN QUANG LẬP VÌ TIỀN LÀM BẬY?

Nhà thơ Mai Văn Hoan

Nguyễn Quang Lập có tội hay không có tội? Nếu có tội thì là tội gì? Động cơ của việc phạm tội?… Đó là những câu hỏi mà công chúng đang chờ lời giải đáp của những người có trách nhiệm.

   Đứng trước một sự việc mỗi người đều có quyền bày tỏ thái độ, quan điểm của mình. Từ hôm nhà văn Nguyễn Quang Lập bị bắt (6-12-2014) đến nay có hàng trăm tờ báo trong và ngoài nước đưa tin, có hàng nghìn người tham gia tranh luận trên các trang mạng xã hội. Điều đó chứng tỏ việc Nguyễn Quang Lập bị bắt đã gây sự chú ý đặc biệt của cộng đồng. Có người gọi đó là “cơn địa chấn”. Vụ việc Nguyễn Quang Lập được quan tâm đặc biệt là vì Nguyễn Quang Lập là nhà văn, nhà viết kịch (kịch bản sân khấu và điện ảnh) khá nổi tiếng, là chủ trang blog Quê Choa thu hút hàng trăm triệu lượt người truy cập. Tất nhiên, tính cách của Lập, văn chương của Lập, việc làm của Lập có người không thích, không đồng tình. Âu cũng là chuyện bình thường. Nhưng thiết nghĩ: tạo được sức hút để độc giả đến với mình như Nguyễn Quang Lập thì không phải bất cứ ai cũng làm được. Đa số cư dân trên các trang mạng đều bày tỏ sự khâm phục và chia sẻ niềm cảm thông sâu sắc với nhà văn Nguyễn Quang Lập khi nghe tin anh bị bắt. Lẻ tẻ cũng có những bài viết lên án, quy kết Nguyễn Quang Lập. Đọc những bài quy kết, lên án Nguyễn Quang Lập, tôi thấy người viết có phần vội vàng quá chăng?

VĂN NGHỆ SĨ VIẾT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (11): VÀI Ý NGHĨ LAN MAN SAU NGÀY BỌ LẬP BỊ BẮT

Lê Công Tư

Chắc chắn là trước khi thực sự bị bắt Bọ Lập đã phải sống thường xuyên với cái tâm trạng là một ngày nào đó công an sẽ tới dẩn đi, sống thường xuyên với một tâm trạng như vậy cũng là một cách tự nguyện vác thập giá.

Cây thập giá nào cũng thế, sự cứu chuộc chỉ có cơ may mở ra lúc chết, còn với sự sống nó là một gánh nặng, một hoạn nạn, tai ách của một kiếp tồn sinh mà không phải ai cũng chịu đựng được.

Xin được nghiêng mình cảm phục.

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Đừng có thêm những “con quỷ gớm ghiếc” quanh Hồ Gươm

Lê Phú Khải

Nhà văn Nguyễn Đình Thi có nói: Ông bà ta xưa nay không xây dựng một ngôi chùa bao giờ cả. Ông bà ta chỉ xây dựng phong cảnh một ngôi chùa.

Vì thế, trước khi đến một ngôi chùa dù ở một làng quê hay miền sơn cước, người ta được đi trong không gian phong cảnh của ngôi chùa. Đó là những lối mòn dưới những tán lá của những khu vườn u tịch, hay leo những bậc đá của một ngôi chùa ở tận lưng chừng đồi, lưng chừng núi… Chỉ có những kẻ ngu dốt mới xem xét một ngôi chùa to hay nhỏ mà không biết mình đang ở giữa một toàn cảnh, mắt có thể nhìn thấy đồng lúa bao la bên dưới, tai được nghe một bản đàn trong yên lặng… tâm hồn đắm trong cõi hư vô!

Kiến trúc của ông bà ta là như thế. Nó không chèn ép thiên nhiên. Nó không “đấu tranh”, “cải tạo” một cái gì cả, nó hoà hợp với tám hướng mười phương của trời đất. Vì thế, tôi rất dị ứng với những kiến trúc mà người ta đã xây dựng lên xung quanh Hồ Gươm Hà Nội từ sau năm 1954 đến nay. Nó phá nát cảnh quan Hồ Gươm. Người Pháp xưa kia đã xây dựng những công trình quanh Hồ Gươm rất hài hoà với phong cảnh nên thơ của hồ. Cậu bé ở quê Trần Đăng Khoa, lần đầu lên thủ đô đã nhận ngay ra nét thơ mộng đó:

Đi. Ghi. Việt Nam 2012, mùa hạ

(tiếp theo và hết)

Lê Minh Hà

9.

Cái thoáng đãng đó, cái chậm rãi yên bình của những ngày tháng đó người ta có thể tìm thấy ở một thành phố khác: Đà Nẵng.

Có phải nhu cầu tìm cho mình xanh và sạch, yên tĩnh, mà vẫn tiện nghi để sống chậm lại làm cho nhiều người Hà Nội ngợi ca Đà Nẵng, đoan quyết rằng Đà Nẵng là thành phố đáng sống nhất Việt Nam? Mà chẳng cứ người Hà Nội, người Sài Gòn cũng.

Người giương buồm cho đổi mới giáo dục

NGUYỄN THỊ VÂN

(DỰ ÁN CNGD, ĐH FPT)

Những người làm cải cách giáo dục, đặc biệt là giáo dục Tiểu học đều biết đến ông với tư cách một nhà giáo cấp tiến. Tuy không có học hàm Giáo sư nhưng các công trình nghiên cứu giáo dục của ông khiến những người trong giới học thuật phải kính nể. Ông đã dành cả cuộc đời của mình cống hiến cho giáo dục với cái tâm trong sáng, không vì danh, không vọng lợi. Ông là nhà giáo Phạm Toàn.

Chân dung Phạm Toàn

clip_image002Phạm Toàn là người gây được thiện cảm với mọi người ngay từ lần đầu gặp mặt, bởi ông là người rất có duyên với đám đông, và đặc biệt là trẻ nhỏ.

Có người từng liên hệ với tôi, nhắc đến ông với cái tên GS. TSKH Phạm Toàn, không hiểu sao tôi thấy “không thoải mái”. Lúc đó tôi nghĩ, có lẽ Phạm Toàn cũng không thích được gọi với cái danh hiệu đó. Lẽ thường, người ta chỉ lăn xả vào làm việc vì tiền bạc, địa vị hay danh tiếng. Ông thuộc số ít những người làm việc vì cái chung của xã hội.

Là một nhà văn, nhà giáo, và đồng thời là một nhà nghiên cứu, Phạm Toàn đã dành hơn 50 năm làm việc trong lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu về tâm lí học dạy học, tìm hiểu và phát triển các quy trình học tập cho trẻ em. Ông tham gia hàng loạt dự án nghiên cứu, giảng dạy, biên soạn sách cho học sinh dân tộc thiểu số, sách tâm lý giáo dục và bộ sách Công nghệ giáo dục cho học sinh trường Thực Nghiệm.

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

THIỀN SƯ KIẾN ĐỨC

VUNGOCTIEN.IMAGEVũ Ngọc Tiến sinh năm 1946 tại Yên Thái, nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội.

Năm 1966, ông bắt đầu có tác phẩm đăng báo với bút danh Vũ Liên Châu, nhưng đến 1969 thì nghỉ viết.

Năm 1994, ông trở lại cấm bút với nhiều bút danh: Vũ Mai Hoa Sơn, An Thái, An Thọ, Vũ Ngọc Tiến… Ông viết ký, phóng sự, điều tra, truyện ngắn, phê bình, tiểu luận đăng trên các báo: Văn Nghệ, Văn Nghệ Trẻ, Người Hà Nội, Tia Sáng, Tuần Tin Tức… và khoảng 100 kịch bản, lời bình cho các phim tài liệu truyền hình. Có thời gian ông làm Thư Ký Tòa Soạn cho tạp chí Thế Giới Vi Tính- PCWorld Việt Nam Series B.

Tác phẩm:

-Cố nhân (tập truyện, NXB Hà Nội, 1997)

-Mười hai con giáp (tập truyện, NXB Hà Nội, 1998)

-Tội ác và sám hối (tập truyện, NXB Công an nhân dân, 1999)

-Những truyện ngắn về tình yêu (tập truyện, NXB Thanh Niên, 2001)

-Khói mây Yên Tử (tiểu thuyết lịch sử, NXB Văn hoá Thông tin, 2001; NXB Kim Đồng tái bản 2002)

-Quân sư Đào Duy Từ (tiểu thuyết lịch sử, NXB Kim Đồng, 2002)

-Giao Châu tụ nghĩa (tiểu thuyết lịch sử, NXB Kim Đồng, 2002)

-Câu lạc bộ các tỷ phú (Ký và phê bình, tiểu luận, NXB Hội nhà văn, 2002).

Đợi bão

thichhoctoan

Bão sắp đi vào Bay Area. Đêm nay bão to, gió lớn, trên đỉnh đồi nơi mình ở gió sẽ rít càng khiếp. Nghe đài địch nói có thể cây đổ, mất điện mất nước. Lại còn nghe nói mình ở đúng khe nứt lục địa, không biết chừng có núi lửa động đất để mình rơi tụt vào trong lòng đất thì vui. Tất tả chạy đi mua nước, hoa quả khô và nến để dự trữ đề phòng.

Mặc cho bão, sinh viên Berkeley tối nay biểu tình rầm rộ. Phố College tắc cứng, thấp thoáng mầu cờ đỏ. Vẫn lại phản đối mấy vụ cảnh sát bắn chết, kẹp cổ tắc thở người da đen. Cảnh sát giết người không mang vũ khí, ấy thế mà bồi thẩm đoàn vẫn quyết định không truy tố. Ở chỗ nào cũng vậy, cuộc sống tưởng như hiền hoà, bỗng dưng hận thù phụt lên hung dữ từ những vết nứt của lịch sử.

“CÁI ÁC CHỈ TỒN TẠI KHI CON NGƯỜI CÒN SỢ HÃI” (TÂM SỰ MỘT BẠN TRẺ TRƯỚC HIỆN TÌNH ĐẤT NƯỚC)

Văn Việt: Nhà thơ Hoàng Hưng vừa gửi tới VV hai lá thư mà ông vừa nhận được của một bạn trẻ không nêu tên. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc những dòng thư nói lên tâm sự chân thành của số không ít người trẻ trước hiện tình đất nước, những con người bình thường đang vượt qua nỗi sợ để dám là chính mình, nói lên tiếng nói chân thật của lòng mình. Vị nào đó đã nói: Người ta có thể nói dối một trăm, một ngàn, một triệu người, nhưng không thể nói dối cả một dân tộc. Cũng như vậy, người ta có thể bịt miệng một trăm, một ngàn người, nhưng không thể bịt miệng cả một dân tộc, vì những người từng sợ hãi sẽ đến lúc không còn biết sợ. Và lúc ấy, chính những kẻ làm con người sợ hãi sẽ phải sợ hãi.

van viet thuLá thư thứ nhất

(12/10/2014)

"... Thưa chú, trang blog Quê Choa là một trang con vào đọc hằng ngày vì thông tin tổng hợp, đa chiều và có nhiều sự thật. Con là kẻ sinh sau đẻ muộn nên không biết và chứng kiến những sự thật lịch sử về Cải cách ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm hay vụ án xét lại của những thập kỷ trước. Nhờ những trang blog của các cô, các chú mà con được chạm vào sự thật bị chôn vùi, bị lãng quên đó. Học lịch sử thật như nó vốn có để mình có con đường đi đúng đắn trong hiện tại nên con đã không bị bịt mắt, bị lừa dối như trước kia. Con cảm ơn các cô chú đã dũng cảm viết lên sự thật lịch sử và cảm ơn công nghệ thông tin hiện đại đã truyền tải đến cho mọi người dân có quan tâm.

Con cũng đọc các bài chú viết trên trang bauxite nên rất vui khi biết chú đã từng thực tập khóa tu mùa hè tại Làng Mai Pháp quốc vì con cũng là con của Sư Ông đang thực tập với tăng thân tại Hà Nội. Ngàn năm nay, dân tộc ta được sống trong giáo lý đạo Bụt hiền từ nên rất thuần hậu, cần cù, đáng yêu.

Bùi Ngọc Tấn và ‘Hậu Chuyện Kể Năm 2000’[i]

Trần Phong Vũ

“Hậu Chuyện Kể Năm 2000” là tác phẩm mới nhất của nhà văn Bùi Ngọc Tấn do tủ sách Tiếng Quê Hương ấn hành. Sách sẽ chính thức giới thiệu với độc giả hải ngoại vào những ngày cuối Tháng Mười Hai năm 2014. Chớm bước vào tuổi 80 lại đang mang nhiều chứng bệnh sau những tháng năm nhọc nhằn, lao khổ về vật chất cũng như tinh thần, nhà văn họ Bùi tự coi “Hậu Chuyện Kể Năm 2000” là tác phẩm cuối đời của ông. Dưới đây là lời giới thiệu tác phẩm của tủ sách Tiếng Quê Hương. Xin trân trọng gửi tới quí độc giả bốn phương.

clip_image002

Tác giả Bùi Ngọc Tấn. (Hình: nguyentrungdao.info)

Nhân nghe GS Ngô Bảo Châu có dự định viết blog (khi biết tin Nguyễn Quang Lập bị bắt...)

Trương Nhân Tuấn

Khi một xã hội chết lâm sàng.

Xã hội Nga thời Sô-viết đã chết lâm sàng nếu chỉ có một khoa học gia Sakharov mà không có nhà trí thức Sakharov.

Khoa học gia Sakharov lẫy lừng trong xã hội Sô-viết vào thập niên 60 sau khi thành công thử nghiệm quả bom nhiệt nguyên tử đầu tiên, Tsar Bomba, với sức tàn phá 50Mt, vượt xa mọi trái bom khác hiện hữu trên thế giới. Sakharov là niềm hãnh diện không chỉ của dân tộc Nga mà còn là bằng chứng vượt trội về khoa học của xã hội chủ nghĩa đối với xã hội tư bản Tây phương.

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

Triển lãm tranh của hoạ sĩ Nguyễn Đại Giang

 

(05 – 12/12/2014)
Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc

Họa sĩ Nguyễn Đại Giang sinh năm 1944 tại Hà Nội và đã rời Việt Nam một thời gian dài, hiện nay ông đang hoạt động sáng tác tại Mỹ. Sự chuyển dịch ấy đã bắc cầu cho tư tưởng mang tính phương Đông là gốc rễ trong ông được kết hợp với các kinh nghiệm làm việc ở phương Tây giúp ông sáng tạo nên một thế giới trừu tượng của riêng bản thân mình.

Triển lãm gồm 20 tác phẩm vẽ trên chất liệu sơn dầu và arylic. Các tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Đại Giang trông giản đơn, chúng không chỉ đơn thuần là một phần của hội họa trừu tượng mà có một sức hấp dẫn lớn chính là càng nhìn ngắm những bức tranh này, người xem bất giác sẽ mỉm cười thích thú. Điều đó cho thấy tác giả vẽ nên những bức tranh này không phải do cảm xúc bất chợt mà có lẽ đó là một phản ứng của tác giả với sự đổi thay của cuộc sống một cách nghiêm túc, phác họa những hình hài mang tính nhị nguyên của cuộc sống khi ông nhìn ngắm và cảm nhận cuộc sống ở Mỹ, một đất nước với biểu tượng giấc mơ Mỹ (American Dream) với tư cách là một người Á Đông.

VĂN NGHỆ SĨ VIẾT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (8): NGUYỄN QUANG LẬP VÀ TÔI

NGÔ XUÂN HỘI

clip_image002

Tối nay rỗi, chẳng biết làm gì, buồn, mới giở Bạn văn của thằng Lập ra xem. Sách thằng này mình đọc không thiếu cuốn gì, riêng Bạn văn thì đọc từ khi nó in rải trên mạng, đến khi tập hợp thành sách đọc lại một lần nữa, sau đó ra hiệu sách mua mỗi lần vài ba cuốn để tặng bạn bè, lai rai cũng phải đến vài chục, lại còn bắt nó ký tặng riêng nữa.

Cầm sách trên tay, nhìn chân dung hý họa mấy ông nhân vật đã thấy buồn cười. Giở tình cờ gặp bài Tạ Vũ, đọc một thôi lại buồn cười hơn nữa, thấy cứ như ông Tạ Vũ đang liêu xiêu đứng trước mắt mình. Mới đọc thêm một ông nữa, Đỗ Chu; lại thêm một ông nữa nữa, Hoàng Ngọc Hiến…

Đến lúc ấy trong phòng mình không chỉ một Tạ Vũ, mà Đỗ Chu, Hoàng Ngọc Hiến, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Phạm Xuân Nguyên, đủ cả. Ông nào ra ông ấy, không lẫn vào đâu được. Lại nhớ đến lời nhận xét của thằng Trần Chấn Uy, Ông (tức thằng Lập) viết chân dung hay hơn Setephan Xvaig, hay hơn Kônxtantin Paustovxki, nhưng kém Macxim Gorki. Mình thấy thằng Uy nói có lý, nhưng theo mình những nhân vật của Macxim Gorki nhân cách lớn, nào L. Tônxtôi, nào Sêkhôp, cứ để họ cho thằng Lập viết xem, cũng chả kém. Thằng Uy gật đầu thừa nhận. Mình cũng viết chân dung, viết xong cái nào gửi đăng báo ngay cái ấy, đến khi đọc lại, thấy lạ hoắc. Còn nó, chỉ cần mấy nét chấm phá là đóng đinh nhân vật vào đầu người đọc ngay.

Đi. Ghi. Việt Nam 2012, mùa hạ

Lê Minh Hà

… Mỗi bước thêm yêu Người… Tổ Quốc ơi… (Tân Huyền)
… Người ta còn muốn gì Người nữa? Việt Nam ơi...(Lưu Quang Vũ)

1.

Tôi có một giấc mơ…

Đến Hàn Quốc. Nhưng không phải là tới vương quốc của Pạc tổng thống đã cho lính mình sang giúp lính Mỹ uýnh nhau ở Việt Nam một thời đâu. Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ(1). Tới Bình Nhưỡng. Tới Bắc Triều Tiên. Sao người ta không gọi cái nước kia là Nam Triều Tiên nhỉ? Bao nhiêu năm gọi quốc gia đó là Triều Tiên, chẳng ai nói nhịu sang Tiên Triều, đoàng cái, dịch tên nửa nước người ta thành Hàn Quốc, quên cha nó cái chuyện nước họ rồi thể nào cũng phải thống nhất như nước mình. Kể cũng là vô tâm thật.

LÊ HIẾU ĐẰNG - NGƯỜI XIN CHẾT CHO QUÊ HƯƠNG

Giỗ đầu luật gia Lê Hiếu Đằng

Khánh Trâm

Bài “Tự nguyện” với những câu thơ: “Nếu là chim tôi sẽ làm loài bồ câu trắng, nếu là hoa tôi sẽ làm một đóa hướng dương, nếu là mây tôi sẽ làm một vầng mây ấm, là NGƯỜI tôi xin chết cho quê hương”. Lời bài hát được cất lên sau điếu văn của BS Huỳnh Tấn Mẫm đọc trong buổi tang lễ luật gia Lê Hiếu Đằng trước giờ phút đưa anh về nơi chín suối, ngày 26/1/2014.

Vâng, mới đó mà đã gần một năm. Phút giây gia đình, bạn bè, người thân…cùng cất tiếng hát, tôi chìm trong lời ca “là NGƯỜI tôi xin chết cho quê hương” bởi đó chính là hình ảnh người đàn ông đang sắp từ biệt cõi trần nhưng đã để lại nhiều hình ảnh đẹp, với cả ước mơ và những trăn trở….

TRÍ THỨC NÓI VỀ NGUYỄN QUANG LẬP

… Thương Bọ Lập quá. Theo cái đà này, chắc phải chịu khó viết blog.

GS Ngô Bảo Châu

FB Chaungo

… Trên trang blog Quê Choa, nhà văn này đã sớm tỏ rõ ông chính là một trí thức thứ thiệt, có cái nhìn sắt bén về thế thái nhân tình, về hiện tình xã hội – chính trị Việt Nam. Ông không ngần ngại đăng tải những bài khá nhạy cảm, những lập trường phản biện khá dứt khoát có thể làm cho cơ quan chức năng khó chịu.

Thái độ của ông chính là thái độ của một nhà văn chân chính, một kẻ sỹ có tinh thần trách nhiệm với xã hội mình đang sống, tuy bị tai nạn ngặt nghèo vẫn hết mình  cống hiến. Khác với Nguyễn Khải, phải chờ đợi đến cuối đời mới đi tìm cái tôi đã mất, Nguyễn Quang Lập nhìn lại chính mình, chính cái lò sản sinh ra mình ngay trong giai đoạn sung mãn nhất của cuộc đời một nhà văn.

Thứ Năm, 11 tháng 12, 2014

YÊU CẦU TRẢ TỰ DO CHO NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG LẬP TỨC BLOGGER QUÊ CHOA

Những người khởi xướng rất mong được bạn đọc hưởng ứng. Nếu tán đồng Yêu cầu này, xin anh/chị gửi thư về địa chỉ bolap2014@gmail.com và cho biết đầy đủ thông tin (viết có dấu): tên họ, nghề nghiệp, chức vụ (nếu có), địa chỉ cư trú (tên tỉnh/thành phố Việt Nam hoặc tên quốc gia ngoài Việt Nam).

Kính gửi:

- Ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước CHXHCNVN

- Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng nước CHXHCNVN

- Ông Trần Đại Quang, Bộ trưởng Công an nước CHXHCNVN

Chúng tôi ký tên dưới đây, những đồng nghiệp văn bút, những bạn đọc của nhà văn Nguyễn Quang Lập tức blogger Quê Choa, những người hoạt động trong các lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, những người quan tâm đến quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận của công dân và những quyền con người căn bản được Hiến pháp nước CHXHCNVN bảo vệ và được quy định trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam đã ký kết và tham gia,

Thư của tử tù Nguyễn Văn Chưởng gửi mẹ từ nơi biệt giam trại tù Trần Phú

FB Thúy Nga

Nguồn: https://anhbasam.wordpress.com/2014/12/10/3163-thu-cua-tu-tu-nguyen-van-chuong-gui-me-tu-noi-biet-giam-trai-tu-tran-phu/

Hải Phòng, ngày 07/04/2009

Mẹ và đại gia đình kính mến!

Con ở trong này bây giờ cố gắng cải tạo thật tốt để không khỏi phụ công mẹ dạy bảo nhưng con là mình bị oan nên nhiều lúc bức xúc lắm mẹ ah. Con sẽ luôn giữ gìn sức khỏe thật tốt và nghe lời Ban giám thị sẽ không hát to nữa đâu.

VĂN NGHỆ SĨ VIẾT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (6): Quả tang

Tặng Nguyễn Quang Lập
Hoàng Dũng

Chúng tao đã bắt quả tang mày uống nước
Chúng tao đã bắt quả tang mày ăn cơm
Chúng tao đã bắt quả tang mày thở ra
Chúng tao đã bắt quả tang mày hít vào
Chúng tao đã bắt quả tang mày cười nói
Chúng tao đã bắt quả tang mày khóc lóc
Chúng tao đã bắt quả tang mày đang sống
Còn oan nỗi gì!

VĂN NGHỆ SĨ VIẾT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (7): Ua chầu chầu Nguyễn Quang Lập

Ngô Minh

(TNTS) Nguyễn Quang Lập bắt đầu được bạn đọc chú ý từ những truyện ngắn đầu tiên xuất hiện trên Sông Hương như Người lính hay nói trạng, Đò ơi,  Cây sến lửa… Lúc đó Lập 30 tuổi, chưa vợ, chuyển từ bộ đội điều khiển tên lửa ở Đà Nẵng về Huế. Mọi người xôn xao tìm đọc.

Còn Lập thì suốt ngày đi uống rượu và nói trạng ngất ngư. Lập thông minh, hóm hỉnh, nói năng tếu táo, có khi bốc đồng, nhưng rất thật bụng. Hắn đặc biệt giỏi kể chuyện tiếu lâm. Sau Đại hội Nhà văn trẻ lần 3 (1987) ở Hà Nội, các nhà văn được tham quan Nhà máy thủy điện Hòa Bình đang xây dựng. Trên xe, Lập kể chuyện  tếu làm mọi người cười nghiêng ngả.

Đại loại những chuyện như nhà văn Huế ngu ngơ lặn lội vô Sài Gòn mua thuốc bổ cho vợ  uống để vợ “múp” rờ cho mát tay, lại mua phải thuốc tăng trọng lợn, nên cô cũng mập thù lù như thùng phi, chuyện xây nhà lầu cho văn nghệ sĩ không cần xây hố xí... Tay tài xế cười ngất ngư, đít cứ nhấp nhổm. Không nhịn được cười, nó kêu lên: “Đừng tếu nữa các bác ơi, đường đèo núi, em mà lạng tay lái là xe xuống vực đấy!”.

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ (KỲ 12)

Tiểu thuyết

Nhật Tuấn

Hai mươi lăm

Những giọt mưa đầu tiên đã rơi xuống nỗi lo lắng của bọn tôi khi đỉnh Hùa Ca vẫn mù mịt đâu đó mà năng xuất hàng ngày lại quá ì ạch. 1500 mét... 1200 mét... 800 mét... Con số ông toán trưởng đưa ra sau mỗi lần cộng sổ buổi chiều làm thằng học giả càng thúc chúng tôi phát cây nhanh hơn nữa, ngủ trưa ít đi và buổi chiều về muộn hơn.

Tuy nhiên cái mớ bùng nhùng dây leo cứng như chiếc đũa, ken đặc như mắt lưới ngay trên sườn núi đá dốc chẳng để chúng tôi tiến nhanh hơn được nữa mặc dầu suốt ngày thằng nào thằng nấy luôn chân luôn tay vùng vẫy như con ruồi mắc mạng nhện. “chịu thôi, tao chịu thôi, hết tỉ rồi...”, thằng cấp dưỡng đã phải la lên khi thằng học giả toét còi thúc đi làm sau một lần nghỉ trưa ngắn ngủi. Nó vứt dao, vứt thước nằm lăn trên đám rễ cây bùng nhùng, mắt nhắm nghiền, miệng thở hồng hộc. Thằng học giả cắm cúi phát cây phía trước, được một quãng, nhận ra chỉ có mình nó đang dấn tới, nó đành quay lại chỗ thằng cấp đường đang nằm.

Trần Đình Hượu, Về đặc sắc văn hoá Việt Nam

Trương Hồng Quang

clip_image001

Giáo sư Trần Đình Hượu (1926-1995) và nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong lần gặp gỡ đầu tiên, tại nhà riêng của nhà giáo – nhà phê bình Văn Tâm, Hà Nội mùa Thu 1993 (Ảnh của Trương Hồng Hải)

Ðây không phải là một bài viết độc lập, mà được ghép từ nhiều chuyên luận khác nhau của Giáo sư Trần Ðình Hượu (1928-1995) đã viết từ năm 1986 trở về trước ở trong nước. Văn bản này là một tập hợp dưới dạng „collage“, lần đầu đăng trên Tạp chí „Ðối thoại“, số 4, 1992, Berlin và sau đó được in lại trên Tạp chí „Văn hoá – Nghệ thuật“, số 6/2001, Hà Nội. Hôm nay nhân TS. Nguyễn Đức Mậu vừa giới thiệu trên FB một bài viết mới về Thầy Hượu – tôi xin phép được dùng cách gọi này, vì mình may mắn cũng từng được là học trò dự thính của ông trong thời gian hai năm sống ở Hà Nội (1985-1986) – xin đăng lại văn bản này trên Blog của mình, trước hết như là một kỷ niệm cá nhân đặc biệt với Thầy. Ngày nay tác phẩm của Trần Đình Hượu đã được phổ biến rộng rãi trong giới nghiên cứu, nhưng đến mùa hè 1986, lúc tôi rời Việt Nam để trở lại châu Âu, phần lớn các bài viết của ông mới chỉ có dưới dạng bản thảo đánh máy. Tôi không thể nào quên lần cùng với Nguyễn Đức Mậu đạp xe sang thăm Thầy ở Gia Lâm, chỉ một vài ngày trước lúc lên đường, và được phép của Thầy, gần như đã thức thâu đêm chép tay nhiều đoạn, nhiều câu mà mình tâm đắc. Nhiều trích đoạn chép tay đó về sau đã được đưa vào văn bản collage này, với một cách bố cục và những điểm nhấn chủ quan từ giác độ của một người học trò không có may mắn được học một cách hệ thống với Thầy. Xin tặng lại cho các bạn đọc hôm nay, đặc biệt các bạn trẻ với những xuất phát điểm tương tự như tôi hơn hai mươi năm trước, tôi tin các bạn sẽ tìm thấy ở đây những suy tưởng vẫn còn nguyên tính gợi mở, được phát triển trên một vốn kiến văn sâu rộng và được diễn đạt với một sự lịch lãm hiếm có.

Trương Hồng Quang

Thông điệp của Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc trong Ngày Nhân quyền 2014

Ban Ki-moon

Dịch bởi CTV Phía Trước

Ngày Nhân quyền, chúng ta cất cao tiếng nói.

Chúng ta khước từ những thể chế không công nhận quyền của mỗi con người hoặc mỗi tổ chức.

Chúng ta tuyên bố rằng Nhân quyền là dành cho tất cả chúng ta và trong mọi lúc: bất kể chúng ta là ai và bất kể chúng ta được sinh ra ở đâu; không phân biệt giai cấp, quan điểm hay giới tính.

Đây là vấn đề công lý cá nhân, tính ổn định xã hội và sự phát triển toàn cầu.

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

TOMAS GOSTA TRANSTROMER

Giải Nobel Văn Chương 2011

Cao Thu Cúc dịch và giới thiệu. 

 

clip_image002[4]

 Tomas Gosta Transtromer sinh ngày 15-4-1931 là một nhà văn nhà thơ và là dịch giả người Thuỵ Điển. Thơ của ông đã được dịch ra hơn 60 thứ tiếng. Transtromer được công nhận là một trong những nhà văn Bắc Âu quan trọng nhất kể từ sau Thế Chiến II. Giới phê bình văn học ca ngợi thơ ông “... đã ghi lại cảnh sắc những mùa đông dài của Thuỵ Điển, sự chuyển đổi bốn mùa và vẻ đẹp của thiên nhiên... cũng như sự bí ẩn và kỳ diệu ẩn dưới vẻ đơn điệu của cuộc sống thường nhật.”

 

Ông tốt nghiệp ngành tâm lý học tại trường Đại Học Stokholm, ngoài ra, ông còn học thêm lịch sử, tôn giáo và văn chương. Ông làm thơ rất sớm, từ hồi còn học trung học, năm 1954 ông  xuất bản tập thơ đầu tiên gồm 17 bài.

Năm 1960- 1966, ông là một nhà tâm lý học đáng kính, ông thường làm việc tại  trung tâm thiếu niên phạm pháp, những người phạm tội tàng tật, và những người nghiện ma tuý. Trong thời gian đó, ông vẫn tiếp tục làm thơ.

Năm 1990 ông bị đột quỵ, bị liệt nửa người và không nói được. Tuy nhiên ông vẫn tiếp tục viết và xuất bản thơ . Năm 2004 ông xuất bản tập The great Enigma.

Ngoài việc viết văn, làm thơ. ông còn chơi dương cầm và ông vẫn tiếp tục đàn sau khi bị đột quỵ mặc dầu chỉ với một tay trái, dù vậy, ông vẫn đi trình diễn độc tấu dương cầm khắp Châu Âu.

Nhà báo và nhà kiểm duyệt (3)

Phạm Thị Hoài

Bài liên quan:

Cuốn sách về một điệp viên không hoàn hảo

Những chỗ bị kiểm duyệt sửa đổi và cắt bỏ trong bản dịch cuốn “Điệp viên Z21. Kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” của Thomas A. Bass

Bản dịch trọn vẹn: Thomas A. Bass – Điệp viên yêu chúng ta. Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn

Trao đổi lại với ông Thomas A. Bass về phần biên tập ban đầu cuốn sách của ông mà tôi tham gia

Thomas A. Bass – Phản hồi độc giả nhân lần xuất bản tại Berlin

Thomas A. Bass – Rừng Sát: hiện tượng kiểm duyệt tại Việt Nam (Bản dịch mới – Kỳ 1)

Thomas A. Bass – Rừng Sát: hiện tượng kiểm duyệt tại Việt Nam (Bản dịch mới – Kỳ 2)

Nhà báo và nhà kiểm duyệt (1)

Nhà báo và nhà kiểm duyệt (2)

Chủ nghĩa hiện đại trong thơ miền Nam 1954-75

Nguyễn Hưng Quốc

clip_image002

Một vấn đề quan trọng: nếu Thơ Mới trong thời kỳ 1932-45, như hầu hết các nhà phê bình đã nhìn nhận, chủ yếu là một nền thơ lãng mạn chủ nghĩa, vậy thơ từ 1954 đến 1975 ở miền Nam là thơ gì?

Ở khía cạnh này, trong bài “Nỗi buồn trong thơ hôm nay”, Thanh Tâm Tuyền nêu lên một luận điểm rất đáng chú ý. Theo ông, Thơ Mới, mượn một thuật ngữ của Nietzsche, một thứ nghệ thuật Apollo, một “nghệ thuật của mơ mộng, một cái đẹp kết lại được ở hình thức có mẫu mực; nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bình yên nhìn ngắm và chấp nhận đời sống”, dần dần nhường chỗ cho một thứ nghệ thuật khác, nghệ thuật Dionysus, tức thứ nghệ thuật “phá vỡ những hình thức sẵn có, hỗn loạn trong niềm cảm xúc, một nghệ thuật của say sưa, một vẻ đẹp hãi hùng mọi rợ, nghệ thuật bắt nguồn từ một nhân sinh quan bi thảm, đắm chìm trong khổ đau không bao giờ chấp nhận” (1).

Rất nhiều học giả Tây phương đã chứng minh: một nền thơ mang tinh thần Dionysus thực chất là một nền thơ hiện đại chủ nghĩa (2). Dĩ nhiên không phải tất cả, nhưng một số khá đông các nhà thơ miền Nam, đặc biệt những người có nhiều tham vọng sáng tạo, đã gặp gỡ, hoặc đúng hơn, đã gần gũi, ở một số khía cạnh nào đó và với một mức độ nào đó, các nhà hiện đại chủ nghĩa (modernists) ở Tây phương từ mấy thập niên cuối của thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20.

VĂN NGHỆ SĨ VIẾT VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (5): O HỒNG

Phạm Ngọc Tiến

clip_image002

Chiều nay đang đi công việc cùng mấy nhóm thiện nguyện ở miền núi Thái Nguyên thì nhận được điện thoại của diễn viên Hồng Ánh. Ánh nghẹn giọng bảo anh Tiến nói chuyện với chị Hồng này. Mình đã biết tin Nguyễn Quang Lập bị bắt nhưng khi nghe vợ Lập nói thì mình không kiềm chế được cảm xúc. Thương Hồng quá. Trong nhóm vợ đám nhà văn bọn mình thì Hồng là người vợ nhất nhiều thứ. Ngẩn ngơ nhất, hiền lành nhất, nghèo nhất, nhẫn chịu nhất, cực nhọc nhất. Thậm chí bị chồng bắt nạt nhất. Hồng có khuôn mặt phúc hậu đúng loại đàn bà vượng phu ích tử. Nuôi 3 đứa con chưa kể cái nghèo đằng đẵng đeo bám nội chỉ tính cú chồng bị tai nạn liệt nửa người bết xà lết mấy năm trời mãi sau mới thập thễnh đi lại được đã đủ phong cho Hồng là nữ tướng. Ngần ấy năm trời chơi với nhau chưa bao giờ mình thấy Hồng cáu kỉnh. Khách khứa của chồng nhiều chẳng ngày nào không có, Hồng xoay xỏa từ đồ ăn đến thức nhắm rồi dọn dẹp và chịu đựng sự ồn ào của khách. Hiếm có ai lại được như Hồng. Đã thế chồng lại hay đùa nhả. Lập nói oang oang trong bữa rượu, ngày xưa tao đẹp giai nhiều cô xinh như hoa hậu yêu nhưng tao chọn Hồng vì lúc đó mới đi nước ngoài về có trăm vòng bi bán tiêu đã đời. Hồng nghe cười hồn nhiên.

Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

Uỷ ban Bảo vệ Ký giả lên tiếng về những vụ bắt bớ bloggers Việt Nam

Hoài Hương-VOA

clip_image002Vụ Việt Nam bắt giữ chủ trang blog Quê Choa Nguyễn Quang Lập, blogger thứ nhì trong chưa đầy hai tuần lễ, cho thấy Việt Nam đang đẩy mạnh chiến dịch trấn át giới bất đồng chính kiến, theo các hãng tin quốc tế.

CÁC VĂN NGHỆ SĨ NÓI VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (4): MỘT CON THUYỀN

Phạm Thị Hoài

Năm ngoái, anh Lập đề nghị tôi đứng tên phụ trách Quê Choa. Đó là thời điểm Nghị định 72 chuẩn bị có hiệu lực. Quê Choa đã tự điều chỉnh, như nhiều lần trước đó. Lúc chỉ đăng bài của chính Bọ. Lúc tạm đóng phần bình luận của độc giả, rồi mở lại, rồi đóng hẳn. Lúc thêm chế độ đánh giá bài, rồi lại bỏ. Lúc tạm dừng đăng bài, chỉ điểm tin từ báo chí nhà nước và một số hãng tin lớn quốc tế. Lần này, chủ trang thận trọng kèm lời ghi xuất xứ: “Bài của tác giả gửi Quê Choa” và tin cậy vào sự ủng hộ của bạn bè. Trang của anh, ngoài nội dung thông tin, còn có thể coi là một hàn thử biểu đo thời tiết chính trị ở Việt Nam. Thời tiết thoáng đãng hơn, không khí cởi mở hơn, Quê Choa xông pha hơn, đăng lại cả bài của những tác giả bị nhà nước Việt Nam khóa chặt trong danh sách đen. Mây mù bắt đầu kéo lên, Quê Choa nhẹ nhàng lui lại một bước, hai bước, có khi cả ba bước. Anh Lập là tất cả, chỉ trừ cực đoan.

CÁC VĂN NGHỆ SĨ NÓI VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (3): THƯƠNG NHỚ BỌ LẬP

Huỳnh Ngọc Chênh

Nguyễn Quang Lập rất ít đi nhậu lai rai, bởi Bọ khi đã uống thì phải uống rượu ngon và đúng bạn hiền. Bạn lạ và rượu lạ Bọ rất dị ứng. Do vậy lâu lâu tìm ra rượu ngon chúng tôi mới gọi Bọ. Mà sao rượu ngon vẫn có đều đặn. Thật ra chúng tôi nhờ Bọ mới có rượu ngon để uống. Hôm nào mời được Bọ, chúng tôi hô lên: Hôm nay có Bọ đấy nhé thế là có những người yêu Bọ tự nguyện mang rượu đến.
Thú vui của Bọ là xem bóng đá, bất cứ trận nào của ta, của tây bọ đều xem cả. Những hôm đó dù có rượu ngon dụ Bọ ra khỏi hang ổ, Bọ cũng không đi. Hôm ni thấy có trận bóng VN đá với ai đó đang ồn ào khắp nơi, tự dưng thương Bọ quá, không biết trong đó các “bạn dân” có có cho anh xem bóng đá hay không.  Thế là qua đêm thứ hai rồi Bọ nhẻ. Thương Bọ quá đi thôi. Công việc hàng ngày của Bọ là ngồi vào bàn sáng tác. Bọ viết rất nhiều. Rất nhiều sách của Bọ viết ra được in và bán rất chạy.

CHỈ CÓ NHỮNG NGƯỜI CHƯA BỊ BẮT

Người Buôn Gió

Năm nọ đến một nước nọ chơi. Thật tình cờ, bà con ở đó bảo hôm nay có một cuộc hội thảo về tự do nhân quyền ở Việt Nam tại toà nhà kia. Một số nghị sĩ của hai đảng lớn nhất nước này và một nhóm luật sư ở Việt Nam sẽ thảo luận về vấn đề tự do ngôn luận, quyền tự do của con người trong xã hội Việt Nam.

Đoàn luật sư Việt Nam có 3 người. Một chị có vẻ là sếp, ánh mắt sắc lạnh không nói gì chỉ ngồi quan sát. Còn anh luật sư và chị luật sư đăng đàn nói tiếng Anh như gió.

Bà con hải ngoại thật tinh ý, vài người nhìn thấy vẻ khó khăn của mình khi nghe. Lập tức họ rỉ tai nhau, lúc sau có ngay một chị Việt Kiều giỏi tiếng Anh và tiếng sở tại đến ngồi cạnh mình để dịch cho mình nghe.

CÁC VĂN NGHỆ SĨ NÓI VỀ NGUYỄN QUANG LẬP (2): CÂY GẬY CỦA BỌ LẬP

Tuấn Khanh

clip_image002

Trong buổi tối ngày 6-12, khi ngồi ngẫm nghĩ về Bọ Lập, điều tôi thắc mắc là người ta có cho ông mang theo cây gậy của mình hay không. Đơn giản vì đôi chân của ông đã rất yếu, Ngay cả khi có cây gậy kề bên, cũng ít khi nào người nhà để ông đi một mình.

LÚC NỬA ĐÊM

Truyện ngắn Di

(tiếp theo và hết)

Tôi không gặp lại Sam cho đến khi chị ra trường. Lễ tốt nghiệp của khối Lớn diễn ra vào mùa hè, giữa độ tháng năm. Tôi nghe nói, Sam sẽ được chuyển tới một ngôi trường lớn hơn, nằm ở phía đông và gần bờ biển. Chị chào tôi khi khối Lớn diễu hành khắp sân trường, tôi đứng đầu hàng của lớp nên chúng tôi có thể thấy nhau ngay. Khuôn mặt Sam vẫn chẳng thay đổi gì so với buổi chiều hôm đó, đôi mắt chị vẫn có cái vẻ của một vết rạn vừa mới khóc xong, làn da tái nhợt nhạt hẳn đi dưới ánh nắng chói chang của một ngày chính hạ, và tôi tự hỏi có khi nào ở đó có cả một sức nặng, một lực đè đang nghiến lên đôi vai đang giương ngang của chị hay không. Tôi mỉm cười đáp lại.

DẠY-HỌC NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG (10): HỌC TRÒ NHỎ TẬP LÀM THƠ

 

Hoàng Hưng

 

Ai cũng biết học Ngữ Văn ở cấp tiểu học không thể thiếu hoạt động “sáng tác” của học trò, chủ yếu là Thơ. Từ chỗ quan niệm đó chỉ là hoạt động “ngoại khoá cho vui”, giáo giới ngày càng thấy tác dụng lớn của việc này, cũng như việc đọc sách, đối với chương trình chính khoá.

 

Xin dẫn một số bài thơ của học trò lứa tuổi nhỏ qua thời gian và không gian mà tôi có được, để các nhà soạn sách Văn tiểu học kiểu mới có thêm tư liệu tham khảo.

Về sự khủng bố của quảng cáo

Hans Magnus Enzensberger (1)

Trước đây quảng cáo chỉ gây khó chịu. Ngày hôm nay nó phục vụ cho việc giám sát toàn phần (Spiegel)

Nó ồn ào từ xưa đến nay. Trên một số quảng trường ngày hôm nay người ta còn nghe được tiếng của người rao chợ. Tiếng rao nhức óc, nhưng vô hại. Vào dạo cách mạng công nghiệp đẩy sự tiêu dùng đại chúng lên tới độ toàn thịnh, chào hàng đã giải phóng cho mình khỏi sức phổi gào của những thợ thủ công và những bà bán hàng trên chợ. Nó chuyển sang hình thức hoạt động công xưởng. Mà tuy thế chưa bao giờ môi trường chào hàng hoàn toàn rũ bỏ được tăm tiếng đáng sợ của mình. Trong những đám cho mình là tốt đẹp hơn, lâu trước đó coi cái việc tự tâng bốc mình hay là sản phẩm của mình là điều dung tục. Rằng cái ngạch này đã rửa tội đầu thai vào quảng cáo, bởi vì cái từ danh giá này với những âm chìm gợi tình nghe hay hơn, thì cái mẽ bên ngoài của nó cũng không khá hơn. Ngày hôm nay người ta viết trên các-vi-dít địa chỉ liên lạc của hãng. Cả cái đó cũng không giúp được gì. Và kể cả một nhà thiết kế đồ họa có sắm thêm cho mình chức danh giám đốc nghệ thuật, có thể anh ta lên một cấp bậc lương cao hơn, nhưng trước sau người đời nhìn thấy trong con người anh ta một gã vớ vẩn.