Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Ba, 18 tháng 11, 2014

Hồi ức và suy niệm về chuyện thầy trò

Tiêu Dao Bảo Cự

HSSGHôm nay tròn một tháng kể từ khi quyết định quản chế có hiệu lực, tôi phải đến trình diện Ủy ban Nhân dân phường theo quy định. Từ hôm kia, tổ trưởng dân phố đã đến gặp tôi bảo công an nhắc tôi làm báo cáo tình hình chấp hành quyết định quản chế trong tháng để thông qua tổ dân phố và khu phố trước khi đến phường. Việc này đã được chủ tịch Ủy ban Nhân dân phường thông báo trong ngày tôi trình diện tháng trước. Tôi đã suy nghĩ về vấn đề này và quyết định từ chối không làm. Tôi ghét cái trò báo cáo này. Vả lại tôi báo cáo có ích gì. Công an và chính quyền địa phương theo dõi giám sát chặt chẽ và họ hãy tự đánh gía lấy. Tôi xem lại quy định vấn đề quản chế, có điều khoản nói người bị quản chế phải báo cáo khi đến trình diện hàng tháng tại ủy ban Nhân dân phường nhưng không nói cụ thể phải làm văn bản thông qua tổ và khu phố. Tôi muốn nhân dịp này trắc nghiệm thái độ của công an. Trước đây tôi đã thử không chấp hành lệnh triệu tập của Công an Thành phố và sau đó nhận được quyết định quản chế, bây giờ tôi không làm văn bản báo cáo xem thử họ làm gì. Tôi đã bị quản chế thời hạn tối đa 2 năm theo quy định, họ có tăng thêm được không. Tôi không muốn rắc rối nhưng cũng không muốn bị công an ép. Tôi phải cho họ thấy tôi không phải là người nhát sợ và dễ bị khuất phục.

“Triết lý Con Heo”, sách của Lưu Hiểu Ba

Đoàn Thanh Liêm

(Ấn bản tiếng Pháp: La Philosophie du porc et autres essais.

Tác giả: Liu Xiaobo – Nhà xuất bản Gallimard ấn hành năm 2011)

LHBLưu Hiểu Ba là một nhân vật rất nổi danh trên thế giới ngày nay, đặc biệt kể từ lúc ông được cấp phát giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2010 vừa qua. Và cũng giống như trường hợp của bà Aung San Suu Ky người Miến Điện và của nhà bác học Andrei Sakharov người Nga trước đây vì bị chính quyền nước mình ngăn cản, nên đã không thể có mặt trong buổi lễ trao giải tại thủ đô Oslo của vương quốc Na Uy, ông Lưu Hiểu Ba vì đang bị giam giữ trong tù tại Trung Quốc, nên cũng đã vắng mặt trong dịp này. Sự kiện này lại càng khiến công luận khắp thế giới chú ý, và cũng là một điều gây bất lợi cho uy tín của giới lãnh đạo chính quyền Bắc Kinh.

Mới đây, vào đầu năm 2011 nhà xuất bản Gallimard ở Pháp đã cho ấn hành một cuốn sách gồm nhiều bài tiểu luận của ông Lưu viết trong vài chục năm gần đây, với nhan đề thật tức cười ngộ nghĩnh lấy từ tiêu đề của một bài tiểu luận, đó là “Triết lý con heo” như đã được ghi nguyên văn tiếng Pháp ở trên. Sách dày trên 500 trang với bài tựa ngắn của Cựu Tổng thống Vaclav Havel ở Tiệp Khắc. Và bài giới thiệu khá chi tiết dài 30 trang của chuyên gia nổi tiếng về Trung Quốc là Jean-Philippe Béja đích thân tuyển lựa và dịch các bài tiểu luận thật đặc sắc của một nhân vật được học giới Trung Hoa gọi là “con hắc mã” (heima = dark horse) của văn đàn Trung Quốc hiện đại.

CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở LIÊN XÔ (8)

Anatoly Till

Phạm Nguyên Trường dịch

Tội ác

Ngay sau cách mạng năm 1917 phong trào “sáng tạo pháp luật” phát triển như vũ bão. Các tòa án tự phát, được trung ương khuyến khích, thực thi việc xét xử và trừng phạt, không dựa vào luật pháp mà dựa vào “nhận thức pháp lí cách mạng”. Đồng thời những vụ trừng phạt bên ngoài tòa án cũng được thực hiện.

Ban đầu chính quyền trung ương chỉ quy định trách nhiệm hình sự cho những hành động cụ thể riêng biệt[1]. Các địa phương (tỉnh, huyện và thành phố) tự ban hành các khung hình phạt, kể cả tử hình, cho những hành vi khác nhau, mà có khi đơn giản chỉ vì “thuộc giai cấp bóc lột”. Các bộ và cơ quan ngang bộ cũng quy định cả trách nhiệm hình sự. Thí dụ, nghị định của Hội đồng dân ủy ngày 8 tháng 11 năm 1917 quy định độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực thông cáo[2] (một kiểu kiểm duyệt), còn Dân ủy về báo chí quy định trách nhiệm hình sự trong việc vi phạm nghị định của Hội đồng dân ủy trong đó có việc tịch thu tài sản và phạt tù từ 3 đến 4 năm[3]. Chỉ có điều trước khi công bố để đưa vào Bộ văn bản pháp quy, bất cứ văn bản nào, của bất kì cơ quan nào cũng đều phải được Hội đồng dân ủy phê duyệt.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ (KỲ 2)

Tiểu thuyết

Nhật Tuấn

Ba

Khi tiếng còi toét lên vào lúc sáng sớm, cái đáng sợ nhất đối với tôi là phải cởi bỏ bộ quần áo ấm và sạch để xỏ vào người bộ phòng hộ lao động lâu ngày không được giặt vì ở trên cao rất hiếm nước, dày cộp đất cát, mồ hôi và bồ hóng của những buổi tối, đi rừng về hơ nó trên ngọn lửa. Suốt ngày, cái bộ đồ dã chiến đỏ lúc nào cũng tạo cho tôi một cái mùi như mùi... ổ chó. Mỗi lần thay quần áo, thấy tôi cứ ngập ngừng mãi, thằng cấp dưỡng lại cười riễu:

“Nhịn đánh răng rửa mặt đi, năm ngày có năm bi đông nước là đủ giặt quần áo đấy”.

CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở LIÊN XÔ (kỳ 7)

Ananatoly Tille

Phạm Nguyên Trường dịch

Chương 10. Luật hình sự

Chính sách về hình pháp

Lịch sử của “chính quyền Xô viết” là một chuỗi dài, không thể nào kể hết, những tội ác chống lại nhân dân, là một vụ diệt chủng thật sự mà Hitler không thể nào so sánh được. Thực chất nó là một chính quyền tội phạm. Danh sách những tội ác mà nó đã phạm ở nước ngoài cũng dài vô tận (Hungary, Tiệp Khắc, Ba Lan, Afghanistan, các nước vùng Baltic…)

CHUYỆN VUI NHƯNG KHÔNG THỂ CƯỜI

Tô Văn Trường

Ở Việt Nam đang xuất hiện ngày càng nhiều “Hai Lúa”.  Hai Lúa thần đèn di chuyển nhà, Hai Lúa chế tạo máy công cụ nông nghiệp, Hai Lúa sản xuất giống, Hai Lúa lò đốt rác, Hai Lúa máy bay, Hai Lúa tàu ngầm, nay lại thêm Hai Lúa xe bọc thép. Mà lần này sản phẩm của Hai Lúa xe bọc thép được quân đội Campuchia đặt hàng và ông Hai Lúa Trần Quốc Hải thành công vượt trội đến mức được Nhà nước Campuchia tặng thưởng huân chương đại tướng quân kèm theo là biệt thự, và xe ô tô khi ở tại thủ đô Phnompenh. Đây là điều trên cả tuyệt vời.

clip_image002

Ông Trần Quốc Hải (giữa) bên những chiếc xe bọc thép do ông sáng chế cho Campuchia . Ảnh Lâm Ngọc

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2014

THƠ TỪ QUỐC HOÀI

            Thánh lễ

 

Tu Quoc Hoai - nvtphcmChầm chậm trôi những chiếc lá thời gian

chầm chậm dòng sông ký ức

mặt trời mê ngủ

giữa vòng tay mây gió

cỏ mật lấm tấm hoa

bước chân tan trong sương biết Người về đâu?

 

những chiếc chuông rực rỡ

làm cơn mưa ngược về trời

anh bắt gặp nụ cười

trong suốt suối đáy mắt

bài hát sóng sánh hương

giữa nụ và chồi

 

trên đất da non

                                  anh tự bày Thánh Lễ.

THẢO LUẬN DẠY-HỌC NGỮ VĂN (3): THỬ TÌM HIỂU VIỆC DẠY-HỌC VĂN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG ÂU MỸ

Hoàng Hưng

sa_ch HS 1-Trước khi nói về môn Ngữ Văn, xin có một ý kiến chung về kế hoạch cải cách chương trình (CT), sách giáo khoa (SGK) đang được bàn luận mãi chưa dứt từ diễn đàn Quốc hội đến các phương tiện truyền thông. Điều đáng lo nhất là cho đến nay, ý tưởng cấp tiến “Một CT, nhiều SGK” được cấp lãnh đạo cao nhất (Bộ Chính trị ĐCS) thông qua, nhưng thực tế vẫn chưa được hiểu đúng ở mọi cấp, mọi giới. Dẫn chứng gần nhất là một trong bốn vị “tứ trụ”, đã đến “công đoạn” nghe báo cáo về phương pháp thực hiện ý tưởng này rồi mà vẫn còn thốt lên: “Đa thư loạn mục!”, thì có nghĩa là vị ấy không hiểu gì về bản chất vấn đề!

Việc có một hay mấy bộ SGK tất nhiên tùy thuộc tình hình, yêu cầu thực tế từng nước, nhưng xu hướng tiến bộ nhất, phổ biến ở các nước tiên tiến, vẫn là: Chỉ tập trung thống nhất Chuẩn Cốt lõi hay Chương trình, mà mở rộng cho nhiều loại SGK. Nguyên nhân lớn nhất là do nguyên tắc sau đây của giáo dục hiện đại: Việc dạy phải phù hợp sát với đối tượng người học. Ngày nay nhiều nước còn đưa ra yêu cầu giáo dục “cá biệt hoá” đến từng học sinh. Ở nước ta, chưa dám tham vọng “cá biệt hoá” như thế, nhưng chỉ riêng sự khác biệt vùng miền rất lớn (thành thị - nông thôn – miền núi, Bắc – Trung – Nam…) đã cho thấy rất nên có nhiều loại SGK. Chưa kể những sáng kiến phong phú về phương pháp dạy trong giáo giới chưa được khai thác, phát huy do tình trạng “bao cấp tư duy” kéo dài, nếu được “cởi trói”, có thể cho ra nhiều kiểu SGK rất đa dạng, hiệu quả.

NGUYỄN MINH CHÂU

VÀ NHỮNG TRĂN TRỞ ĐỔI MỚI TƯ DUY NGHỆ THUẬT

Lã Nguyên

NMC1. Số phận văn chương của Nguyễn Minh Châu gắn liền với những bước đi cơ bản của nền văn học Việt Nam ở nhiều thời điểm lịch sử cụ thể. Nguyễn Minh Châu vào nghề rồi trở thành người bạn tinh thần tin cậy của đông đảo bạn đọc vào quãng những năm sáu mươi. Ở thời điểm ấy, nền văn học Việt Nam đã vượt qua một chặng đường dài, như mạch nước qua bao ghềnh thác nay đã hoá thành sông, có dòng chảy ổn định. Cùng với Cửa sông, Những vùng trời khác nhau, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi nhà, Nguyễn Minh Châu thả con thuyền văn chương của ông xuôi theo cái dòng chảy đang có sức cuốn hút mạnh mẽ ấy.

Là con đẻ của cách mạng và những cuộc chiến tranh lớn, văn học Việt Nam trước năm 1975 không thể không mang những đặc điểm của một nền văn học thời chiến. Chiến tranh và cách mạng bao giờ cũng có nhu cầu đặt lên trên hết vấn đề chúng ta và chúng nó, vấn đề dân tộc, cộng đồng và lịch sử. Gắn bó với vận mệnh của Tổ Quốc, trước 1975, nền văn học của chúng ta về cơ bản là nền văn học sử thi. So với văn học tiền chiến, nhân tố cách tân nghệ thuật quan trọng bậc nhất của nó là sự phát hiện ra nội dung cộng đồng trong dời sống xã hội và phương diện cộng đồng trong ý thức cá nhân. Chưa bao giờ, những hình tượng tập thể, hình tượng Tổ Quốc, nhân dân, và những hình tượng tiêu biểu cho nhân dân, cho Tổ Quốc hiện lên trong văn học rực rỡ và đẹp đẽ như thế. Cũng chư bao giờ, cái tình của con người đối với Tổ Quốc, với nhân dân, tình đồng chí, đồng đội… được văn học thể hiện sâu sắc và cảm động như thế. Trong những thành tựu chung ấy có phần đóng góp của Nguyễn Minh Châu. Cửa sông, Dấu chân người lính, Lửa từ những ngôi nhà là những trang viết hào sảng về những ngày hào hùng bậc nhất trong lịch sử dân tộc.

Vài ký ức về ba tôi

(Viết trong những ngày Vu Lan Báo Hiếu tháng 07 năm Giáp Ngọ)

Vũ Trọng Khải

VTKCó lẽ, hầu như mọi người đều có cảm giác hối tiếc, ân hận sau cái chết của cha, mẹ mình. Tại sao lúc cha, mẹ còn sống, mình đã không làm điều này hay điều kia để chăm sóc báo hiếu cha, mẹ mình. Giá mình đã làm điều này thì cha, mẹ mình sẽ vui hơn, hay có thể sống thêm được ít năm tháng nữa cùng con, cháu…! Nhưng lịch sử làm gì có chữ “nếu” hay “giá như”. Thế là, mỗi người chúng ta tiếp tục sống sau khi cha, mẹ qua đời trong niềm hối hận sâu sắc, cho đến khi mình chết và “nhường” lại niềm hối hận ấy cho con cái mình. Phải chăng điều này là muôn thuở? Là như ông bà ta đã dạy “nước mắt chảy xuôi”, “một mẹ nuôi được trăm con, nhưng trăm con không nuôi được một mẹ”…? Để bù lại, người ta lại tìm cách gặp lại cha, mẹ mình bằng cách “gọi hồn”. Người ta thường hỏi hồn cha, mẹ mình rằng cha, mẹ có điều gì buồn lòng vì con, cháu không? Chúng con có thể làm gì bây giờ để cha, mẹ được vui vẻ hạnh phúc hơn ở thế giới bên kia? Hầu như mọi người đều nhận được câu trả lời rằng: Cha, mẹ không có gì buồn phiền về con, cháu và cũng không cần con, cháu phải làm gì cho cha mẹ, ngoài việc cúng giỗ gia tiên, cửu huyền thất tổ cho tử tế!

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (49): Nhốt gió

Truyện ngắn

Bình-nguyên Lộc

BNL-1Cả bàn ăn đều kinh ngạc. Tạo thả rơi đôi đũa xuống bàn như ngày xưa Lưu Huyền Ðức nghe Tào Tháo khen mình anh hùng. Vợ chàng nghẹn ngào vì miếng đồ ăn đang nuốt giữa một xúc động quá mạnh. Mẹ chàng bình tĩnh hơn, ngậm miếng cơm đang nhai, mỉm cười một cách nhẫn nại. Những nét nhăn trên mặt bà chỉ thấy hơi nhăn thêm một chút. Ðó là tất cả phản động của một bà cụ đã bao năm đau khổ vì bao đảo lộn của cái xã hội rất xa lạ đối với bà. Thằng Hòa, con Loan, con Mỹ, tuy không hiểu gì cùng hoảng sợ, thôi không cãi nhau nữa. Chúng bỏ trở vào dĩa những món ăn vừa gắp lên, bộ lấm lét như có tội. Cả thảy đều nhìn trừng trừng thằng Kiệt nó đang khó chiu, và, như giận lẫy, nó tỏ một vẻ khiêu khích còn đáng giận thêm.

Ruồi mặc sức mà bay vù vù, mà đậu lên các món ăn, trong sự im lặng nặng nề ấy. Hơi nước mặc sức mà đọng chung quanh mấy ly nước đá không ngón tay nào rớ tới ly để xóa những mụt nước trắng mờ đang đơm lổm chổm trên vách pha-lê. Cùng với tim của người quanh bàn, thời gian như ngừng hẳn lại.

Ðoạn chót của bữa cơm chiều hôm ấy không kéo dằng dai như mọi ngày, và ngoài tiếng chén đũa khua, không còn nghe lời nào khác.

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Với tôi, Làng Mai là một công án

Hoàng Hưng

Bài này viết ngay sau hai khóa tu Mùa Hè 2012 ở Làng Mai và Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu, nhưng tôi muốn nghe ngóng lòng mình qua thời gian sau khi những bồng bột tan đi, còn những gì đọng lại. Mãi một năm sau tôi mới công bố trên mạng Bauxite Vietnam. Hôm nay, trong tâm trạng lo âu cùng với hàng triệu người Việt Nam, Phật tử cũng như không tôn giáo, theo dõi từng giờ tình trạng sức khoẻ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sau khi Cụ bị xuất huyết não, tôi xin Văn Việt cho đăng lại bài này, để bạn đọc có thể hiểu phần nào về Sư ông và tăng đoàn Làng Mai, một thành công lớn trong việc truyền bá văn hoá Việt đích thực ra khắp năm châu.

Trên chuyến bay từ Paris đến Reykjavik, thủ đô Iceland, tôi không khỏi mỉm cười khi thấy trên màn hình giới thiệu du lịch có những từ “mindfulness” (chánh niệm), “meditation” (thiền), “here and now” (bây giờ và ở đây). Hôm trước cũng nghe một thiền sinh ở Làng Mai (LM) chia sẻ rằng cô thích thú khi nghe một nữ tiếp viên hàng không nói với khách: “Please have mindfulness to bring your luggage down…” (xin chánh niệm khi đưa hành lý xuống…). Thiền tập đã đi vào đời sống người châu Âu đến vậy, có phần ảnh hưởng khá lớn của LM.

Con bửa củi

Nguyễn Hoàng Anh Thư sinh năm 1975 tại Huế, học trung học tại trường Quốc Học và đại học tại Đại Học Sư Phạm- Huế, ngành Ngữ Văn.

Chị làm thơ, viết truyện ngắn đăng ở các website và các tạp chí Da Màu, Hợp Lưu, Sông Hương... và một số báo in trong nước.

Hiện chị đang giảng dạy tại trường trung học Đồng Khánh, Hai Bà Trưng- Huế.

NGUYEN HOANG ANH THUTruyện ngắn

Nguyễn Hoàng Anh Thư

Nó lần lượt bỏ từng ngày qua vào nằm trong một cái lu, lâu ngày nó lên men ẩm mốc sau vườn nhà. Mẹ hỏi: "có mùi gì lạ thế con?". Nó không biết: "con cũng nghe có mùi lạ". Kí ức thầm thì vào tai nó: "bạn lấy nó ra dùng trong bữa trưa nay nhé, men đã đượm mùi". Sáng nay, con bửa củi màu đen bóng loáng vẫn còn nằm gọn trong cái hộp diêm, nó bảo: "mày hết tóc tóc rồi à, đừng có mà giả chết nhé, tao biết tỏng mày giỏi giả vờ". Nhưng con bửa củi cứ nằm đơ cứng, cong oằn, nó cầm con bửa củi lên, khớp cổ đã không còn mềm nữa. Con bửa củi đã chết. Mẹ nó bảo: "bắt được bửa củi là may mắn lắm con ạ, con sẽ được lộc", ngày đó nó có một điểm mười đỏ rói của cô cho môn hình học, nó đang học lớp 4.

Tởm lợm và Thiên tài

Wolf Biermann (1)

Phạm Kỳ Đăng dịch từ nguyên tác tiếng Đức  

Unknown-1Cuốn tiểu sử Werner Hecht(2) viết về Bertolt Brecht(3) cho ta thấy một người anh hùng do dự. Đối với tôi nhà thơ này có kích cỡ của Shakespeare(4), Goethe(5) hay của Villon(6), là kịch tác gia thậm chí ông gần đạt được tầm vóc của Georg Büchner(7). Người ta phải yêu lấy sự tởm lợm thiên tài này. Khác đi thì phần tôi, tôi không thể chịu đựng được ông. Ngoài ra cái câu cửa miệng bỗ bã của Bertolt Brecht lại cũng đúng với ông: „ Không người nào giữ được mãi, chỉ có một số người giữ được chút lâu hơn“.

Năm 1956, tấm gương Brecht đã quyến rũ và định hình tôi cho tới hôm nay. Bản thân tôi chưa bao giờ gặp ông. Nhưng chỉ ít lâu sau khi ông mất, người vợ ông - nữ giám đốc nghệ thuật nhà hát Helene Weigel(8) - đã ban cho tôi cơ hội của đời mình. Từ 1957 tới 1959 tôi được phép học và làm việc tại nhà hát kịch của Brecht ở Đông Berlin. Không có bà mẹ can đảm của Đoàn Kịch nghệ Berlin, hẳn rằng chưa bao giờ trong đời tôi đã viết nên một bài thơ duy nhất hay là một bài hát cũng nên.

Sau chiến tranh, cuối cùng nhà thơ Brecht, từng bị những người theo Chủ nghĩa Quốc Xã săn lùng, đã muốn thử nghiệm trên ván bục sân khấu Đức những vở kịch rút từ những va ly đời lưu vong của ông. Nhưng không phải Áo, không phải Thụy Sĩ hay CHLB Đức, mà chỉ có CHDC Đức, dạo đó còn gọi là SBZ tức Vùng chiếm đóng Xô viết, đã cấp cho ông một vận may thực hiện dự án.

Cái tôi độc lập của Trần Đĩnh trong Đèn Cù

Đinh Quang Anh Thái/Người Việt (thực hiện)

LTS: Ông Trần Đĩnh năm 15 tuổi đã tham gia cuộc tổng khởi nghĩa do Cộng Sản lãnh đạo ngày 19 Tháng Tám, 1945. Ông trở thành đảng viên năm 19 tuổi, lúc đó, đảng Cộng Sản Đông Dương rút vào bóng tối, đổi tên thành Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác và xuất bản tờ báo Sự Thật, ông được điều về viết cho báo này. Sau đó, ông đưọc đưa qua học tại đại học Bắc Kinh. Trong thời gian học, ông tham gia một cuộc họp chống phái hữu, và chính nhờ vậy, ông rút tỉa được nhiều bài học quí báu. Bài học đó là, các đảng viên chân chính, tích cực đã nghe lời đảng khuyến khích họ phê bình đảng. Nhưng khi họ phê bình thì bị đảng quay lại đánh. Theo lời ông Đĩnh thì đó là âm mưu của Mao Trạch Đông. Học xong, ông về Hà Nội làm việc một thời gian, thì xẩy ra việc đảng Cộng Sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà do tổng bí thư đảng Cộng Sản Liên Xô lúc bấy giờ là ông Nikita Khrushchev đưa ra. Ông Trần Đĩnh ủng hộ lập trường của ông Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị khép vào tội chống đảng. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là nhà báo Trần Châu, hay như những người khác như ông Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu đày như Nguyễn Minh Cần, v.v... ông Trần Đĩnh cũng bị khai trừ khỏi đảng và chịu nhiều trù dập về mặt tinh thần cho mãi tới ngày nay. Hiện nay, ông Trần Đĩnh đang sống tại Sài Gòn. Nhân dịp Đèn Cù cuốn 2 của Trần Đĩnh sắp ra mắt độc giả, ông dành cho nhật báo Người Việt cuộc phỏng vấn sau đây, do Đinh Quang Anh Thái thực hiện.

Những sai lầm của PGS.TS Nguyễn Công Lý trong sách "Giải thích từ ngữ Hán Việt trong sách giáo khoa..." (kỳ II)

Hoàng Tuấn Công

clip_image002

PGS.TS Nguyễn Công Lý cho biết:“Khi giải nghĩa từ, chủ yếu chúng tôi dựa vào Hán Việt từ điển của học giả Đào Duy Anh, Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do GS. Hoàng Phê chủ biên và Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam-Bộ Giáo dục và Đạo tạo do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên”.

Theo đó, chúng tôi tưởng (và lẽ thường) thầy Lý sẽ làm như sau:

-Tham khảo cách giải nghĩa trong 3 cuốn Từ điển, tổng hợp thành cách giải nghĩa chính xác, dễ hiểu nhất, phù hợp với trình độ, khả năng tiếp thu của giáo viên, học sinh.

-Ngoài tham khảo 3 cuốn Từ điển, bằng kiến thức ngôn ngữ, văn hóa lịch sử, phương pháp sư phạm và kiến văn của mình, thầy Lý sẽ cập nhật, bổ sung thêm thông tin, đưa ra cách giải nghĩa chính xác, đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học của giáo viên, học sinh.

-Cuối cùng, (ít nhất) Thầy cũng tham khảo rồi “chọn” (chép lại) một trong ba cách giải nghĩa chính xác, phù hợp nhất của 3 cuốn Từ điển.

Nhưng, có lẽ thầy Lý cho rằng, đã là từ “Hán Việt” thì phải căn cứ vào “Hán Việt từ điển” tham khảo mới chính xác.  Bởi vậy, Thầy cứ “Đào Duy Anh” mà chép [1] Mà từ điển của cụ Đào Duy Anh thì sao? Đây là cuốn Hán Việt từ điển giản yếu thuộc diện cổ xưa nhất ở Việt Nam. Cổ tới mức nào? Sách biên soạn xong 1931, xuất bản lần đầu 1932, (trước cả cuốn Hán Việt tự điển-Thiều Chửu xuất bản sau đó 10 năm-1942) tái bản nhiều lần, không sửa chữa bổ sung. Bởi vậy, Từ điển này không chỉ thiếu nhiều từ, tự (như chúng tôi đã chỉ ra trong kỳ I bài viết) mà cách hiểu, cách dùng từ Hán Việt nói riêng và từ ngữ tiếng Việt nói chung thời điểm đầu thế kỷ XX so với bây giờ đã khác đi nhiều.  Chúng ta có thể dẫn một số từ trong sách do NXB Trường-Thi ấn hành năm 1957 (tại Sài Gòn) và bản do NXB Khoa học xã hội-tái bản năm 2000 làm ví dụ:

Thomas A. Bass – Phản hồi độc giả nhân lần xuất bản tại Berlin

Trần Lê Quỳnh dịch

Bài liên quan:

Cuốn sách về một điệp viên không hoàn hảo

Những chỗ bị kiểm duyệt sửa đổi và cắt bỏ trong bản dịch cuốn “Điệp viên Z21. Kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” của Thomas A. Bass

Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (1)

Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (2)

Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (3)

Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (4)

Bản dịch trọn vẹn: Thomas A. Bass – Điệp viên yêu chúng ta. Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn

Nhà báo và kiểm duyệt (1)

Trao đổi lại với ông Thomas A. Bass về phần biên tập ban đầu cuốn sách của ông mà tôi tham gia

Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2014

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ

nhattuanVăn Việt: Đi về nơi hoang dã là cuốn tiểu thuyết của Nhật Tuấn ra đời vào đầu những năm “Đổi mới” được nhiều cây bút văn chương đánh giá cao nhưng vì những lý do gì đó không “nổi” lên trong công luận rộng rãi. Qua thời gian, sau khi không ít những cái “nổi” lên nhất thời rồi… chìm theo dòng thời sự, hôm nay đọc Đi về nơi hoang dã vẫn thấy nó giữ nguyên sự hấp dẫn về văn chương và sâu đậm suy tư về cuộc sống, về số phận con người trong một thời đại bi-hài kéo dài chuyến đi vô vọng đến một đỉnh cao không có thật mà… con đuờng trở về thì vẫn chưa tìm thấy! Văn Việt xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc tác phẩm này qua nhiều kỳ, bản điện tử do tác giả cung cấp.

CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở LIÊN XÔ (6)

Anatoly Tille

Phạm Nguyên Trường dịch

(phần tiếp theo của Luật Lao động)

3. Tiền lương. Bảo đảm và đền bù[1]

Trước các “nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx-Lenin” vấn đề tiền lương không được đặt ra vì trong chế độ cộng sản thì tiền, “tàn dư của chế độ bóc lột ngày hôm qua” (V. Lenin), sẽ bị bãi bỏ, và chỉ còn lại việc phân phối các sản phẩm tiêu dùng, giai đoạn đầu “theo lao động”, còn giai đoạn sau thì “theo nhu cầu”[2].

Nhưng, sau khi cướp được chính quyền và với sự tan hoang của nền kinh tế, vấn đề này đã trở thành nghiêm trọng. Bắt đầu những cuộc tìm kiếm vô vọng (hiện nay vẫn còn tiếp tục) hình thức trả lương. Không thể nào mô tả hết được những cuộc tìm kiếm ấy. Lúc thì trả lương bình quân, rồi lại kêu rằng như thế là “cào bằng” và chuyển sang “khoán sản phẩm”[3]. Lúc thì đưa tỉ lệ phần thưởng lên, lúc chuyển sang giữ phần lương cố định là chủ yếu. Lúc thì người ta ca ngợi sự quan tâm của cá nhân, rồi sau lại chuyển sang hình thức trả lương theo tổ, đội với sự bao che và phân phối tiền lương theo “hệ số tham gia” của mỗi người. Điều này đã gây ra các cuộc tranh chấp về tiền lương tại từng tổ sản xuất, nhưng không hề làm cho năng suất tăng thêm được một chút nào vì để tránh những cuộc xung đột nội bộ, công nhân đành phải chia đều.

Con người vẫn có thể tự do sống sót

(Lời giới thiệu cho ấn bản tiếng Việt đầu tiên)

Thế Dũng
image image image
Nhà văn Dragomán György Bìa Tiểu thuyết Vua Trắng   Dịch giả Trương Đức *

  1

Dragomán György, sinh năm 1973 ở vùng Marosvásárhely (Târgu-Mures)/Siebenbürgen – lớn lên trong một cộng đồng thiểu số người Hungary sinh sống trên địa bàn Rumänien.

Những sai lầm của PGS.TS Nguyễn Công Lý trong sách “Giải thích từ ngữ Hán Việt...”

Hoàng Tuấn Công

clip_image002

Sách “Giải thích từ ngữ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn Trung học cơ sở” của PGS TS Nguyễn Công Lý (NXB Giáo Dục-2011) (sau đây gọi Giải thích từ ngữ Hán Việt) có hai tập: Tập I dành cho lớp 6, 7; Tập II cho lớp 8, 9. “Lời nói đầu”, PGS. TS Nguyễn Công Lý cho biết: “Tài liệu này nhằm cung cấp cho giáo viên Ngữ văn Trung học cơ sở và các em học sinh (...) những kiến thức cơ bản về từ Hán Việt (...) giúp người dạy, người học nắm vững hơn vốn từ ngữ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6,7 và lớp 8,9..."

Đây là việc làm cần thiết, bổ ích. Bởi nếu từ Hán Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn là “sữa mẹ”, thì Giải thích từ ngữ Hán Việt của PGS.TS Nguyễn Công Lý giống như món "ăn dặm" dễ tiêu hóa, cung cấp thêm nguồn “dinh dưỡng” kiến thức quan trọng cho học sinh cấp Trung học cơ sở. Tuy nhiên, mới chỉ “nếm” qua đã thấy “đồ ăn dặm” do PGS.TS Nguyễn Công Lý “chế biến” có khá nhiều “hạt sạn” và không ít chỗ còn sống sượng, ảnh hưởng không tốt tới nhận thức của giáo viên và học sinh về từ ngữ Hán Việt.

Với tư cách phụ huynh, chúng tôi xin được góp với thầy Lý-tác giả hai tập sách “Giải thích từ ngữ Hán Việt” một vài ý kiến như sau:

I-Sai lầm không đáng có:

Thầy Lý cho biết: “Khi giải nghĩa từ, chủ yếu chúng tôi dựa vào Hán Việt từ điển của học giả Đào Duy Anh, Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do GS. Hoàng Phê chủ biên và Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam-Bộ Giáo dục và Đạo tạo do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên”.

Thư của chị Lê Thị Minh Hà, vợ blogger Anh Ba Sàm gửi các độc giả và quốc tế

h18Kính gửi:

Các độc giả của blog Anh Ba Sàm

Kính gửi:

- Ngài Barack Obama, Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – Văn phòng Nhà Trắng

- Ngài John Kerry, Ngoại trưởng Hợp chủng quốc Hoa Kỳ – Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

- Ngài Chris Smith, Thượng nghị sĩ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Chủ tịch Tiểu ban Nhân quyền trực thuộc Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội Hoa Kỳ

- Ngài Frank R. Wolf, Thượng nghị sĩ Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Đồng Chủ tịch Ủy ban Nhân quyền Tom Lantos

Xã hội Dân sự là Sức Mạnh Mềm của Dân tộc

Đoàn Thanh Liêm

ls_dtlTừ vài chục năm gần đây, trên báo chí sách vở tại nhiều nơi, người ta hay bàn thảo về đề tài “Sức Mạnh Mềm” (Soft Power). Và riêng tôi, thì trong năm 2011, tôi cũng đã viết hai bài liên quan đến chuyện này: một bài nhan đề là “Tìm hiểu về Sức Mạnh Mềm của Trung Quốc hiện nay”(China's Soft Power) và bài khác có nhan đề “Sức Mạnh Mềm của Việt Nam trước nạn Xâm Lăng của Trung Quốc” (Vietnam's Soft Power versus China's Aggression). Cả hai bài này đều đã được phổ biến rộng rãi trên báo giấy ở nhiều nơi, cũng như trên báo điện tử.

Trong các bài viết này, tôi đã đề cập đến sự cần thiết phải phát triển khu vực Xã hội Dân sự (XHDS) - để làm tăng thêm sức mạnh mềm của Dân tộc Việt nam chúng ta - hầu có thể đối phó được với hiểm họa xâm lăng thâm độc của Trung Quốc. Nay, thì tôi muốn mở rộng sự phân tích về vai trò của XHDS như là một sức mạnh đối phó với chế độ độc tài toàn trị do người cộng sản đã áp đặt trên đất nước ta từ gần 70 năm nay. Chế độ này hiện đang tiếp tay với bè lũ xâm lược Bắc kinh, đó là một thứ giặc nội xâm cực kỳ nguy hiểm đối với sự tồn vong của đất nước và dân tộc Việt nam chúng ta..

Để bạn đọc tiện bề theo dõi câu chuyện, tôi xin nhắc lại ít điều căn bản về hai khái niệm Xã hội Dân sự và Sức Mạnh Mềm. Rồi sau đó, ta sẽ thảo luận chi tiết hơn về nội dung cốt lõi của chủ đề bài viết này.

Thứ Năm, 13 tháng 11, 2014

MẢNH VỠ CỦA BỨC TƯỜNG

Nguyễn Đức Tùng

Hà Nội mừng đón Tết hoa chen người đi liểu rủ mà chi. Anh tôi thường ngâm nga bài hát ấy mỗi khi thật vui hay buồn, nhưng cũng có khi vì anh gặp câu hỏi khó, kẹt quá không trả lời được, vừa hát vừa nhìn vào mắt người đối diện. Anh là chồng của chị họ tôi, sinh ở Hà Nội, gia đình vào Huế năm 1950, lúc anh lên ba tuổi. Anh tham gia phong trào sinh viên chống chế độ Việt Nam Cộng hòa, cùng lứa với Ngô Kha, bị bắt, được thả, bị bắt lại, lên rừng sau trận Mậu thân, chiêu hồi năm 1970, di tản năm 1975, tức là anh mang theo trong người một cuốn sách bỏ túi của lịch sử Việt Nam cận đại.

Nỗi lòng kín đáo của đàn ông khó biết. Kỷ vật của anh lớn bằng nắm tay. Gọi đó là cục gạch hay xi măng vỡ đều đúng, chứa cát, sạn, gạch đá, xương lá khô, ngày, tháng, năm, tuần lễ, đất, vảy cá, sương mù, kim đồng hồ cũ, những lớp sơn xanh đỏ, bề mặt bám bụi như mới được gỡ ra từ một kè đá từng va đập nhiều cơn sóng dữ của thời gian bão táp.

TRAO ĐỔI VỚI PGS TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP

  VỀ BÀI VIẾT “THƠ VIỆT NAM SAU 1975 - TỪ CÁI NHÌN TOÀN CẢNH”

Quách Hạo Nhiên

Gần đây, trên một số trang mạng điện tử (trong đó có vanviet.info) có đăng biết bài viết “Thơ Việt Nam sau 1975 – từ góc nhìn toàn cảnh” của PGS TS Nguyễn Đăng Điệp. Theo như chú thích của tác giả thì bài viết này vốn đã in trên “Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11, 2006” và mới đây đã được in lại trong sách “Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình & hiện tượng” - Nhà xuất bản Văn học, năm 2014.

Sau nhiều lần đọc đi đọc lại bài viết này chúng tôi nhận thấy, trên đại thể, bài viết này của PGS TS Nguyễn Đăng Điệp ít nhiều đã cung cấp cho người đọc một góc nhìn mang tính khái quát về thơ Việt Nam sau 1975. Tuy vậy, có thể thấy tác giả bài viết đã vướng phải những sơ suất trong thao tác tư duy và lập luận. Điều này ít nhiều đã làm giảm giá trị của những vấn đề mà tác giả trình bày.

THẢO LUẬN DẠY-HỌC NGỮ VĂN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG (2):

Lợi ích xã hội của các ngành học nhân văn[1]

Solange Chavel (Le Monde Diplomatique)

NGUYÊN NGỌC dịch

clip_image001

Martha Nussbaum

Dạy các ngành học nhân văn có phải là một thứ chơi sang mà các xã hội chúng ta không còn có thể tự ban cho mình được nữa? Nữ triết gia Mỹ Martha Nussbaum trả lời rằng ngược lại, trong một thế giới cạnh tranh toàn cầu hóa về kinh tế, các ngành học nhân văn có một lợi ích xã hội và chính trị. Trong cuốn sách Not for profit, Martha Nussbaum, nhà nữ triết học Mỹ trình bày bàn biện hộ cho một quan niệm nhất định về giáo dục và các ngành học nhân văn dựa trên các tác phẩm về giáo dục đại học của bà như Upheavals of Thought (Oxford, Cambridge University Press, 1986) hay Cultivating Humanity (Cambridge, Harvard University Press, 1997). Nhưng lần này, trong Not for profit, bà sử dụng một giọng nói khác: kiên quyết, rõ ràng, sẵn sàng cho tranh luận công khai.

Một cuộc khủng hoảng của các ngành học nhân văn?

Với tư cách này, cuốn sách nằm trong một bối cảnh của Hoa Kỳ vốn tràn ngập những tiểu luận và bài viết tranh luận về số phận của các ngành học nhân văn trong thời khủng hoảng kinh tế, trong khi hệ thống giáo dục, từ sơ đẳng cho đến cao học, đang chịu áp lực của đòi hỏi phải đem lại lợi ích. Trong rất nhiều ví dụ, có thể kể chẳng hạn Crisis on Campus của Mark C. Taylor (New York, A. Knopf, 2010), Why Choose the Liberal Arts? của Mark William Roche (Notre Dame, University of Notre Dame Press, 2010), hay Reforming Our Universities của David Horowitz (Washington, Regnery Publishing Inc., 2010).

Trao đổi lại với ông Thomas A. Bass về phần biên tập ban đầu cuốn sách của ông mà tôi tham gia

Nguyễn Việt Long

Bài liên quan:

Cuốn sách về một điệp viên không hoàn hảo

Những chỗ bị kiểm duyệt sửa đổi và cắt bỏ trong bản dịch cuốn “Điệp viên Z21. Kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ” của Thomas A. Bass

Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (1)

Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (2)

Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam (3)

Bản dịch trọn vẹn: Thomas A. Bass – Điệp viên yêu chúng ta. Chiến tranh Việt Nam và trò chơi nguy hiểm của Phạm Xuân Ẩn

Nhà báo và kiểm duyệt (1)

Mới đây, trang pro&contra có đăng một bản dịch tiếng Việt bài “Rừng Sát: Về việc bị kiểm duyệt ở Việt Nam” của GS Thomas Bass, tác giả cuốn Điệp viên Z.21, kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ (tên nguyên tác:The Spy Who Loved Us) viết về quá trình biên tập và xin giấy phép xuất bản tại Việt Nam.

'Đam mê của tôi không được khuyến khích ở VN'

h138_thumbVăn Việt: Tài năng và sáng tạo của hai nông dân Việt Nam không thể phát huy tại nước nhà nhưng lập tức được nước láng giềng sử dụng chỉ là một thí dụ gần nhất cho thấy “hiền tài” của đất nước ngày nay bị lãng phí, coi rẻ một cách đau lòng. Tình trạng này luôn được báo chí chính thức giải thích là do “thằng cơ chế” ù lì (mãi không sao “cải cách” được!). Không chỉ lãng phí, coi rẻ, mà không ít sáng kiến thậm chí còn bị kỳ thị, nghi ngờ, ngăn chặn… chỉ vì là sản phẩm tự phát, cá nhân, không nằm trong tổ chức, không chính thống… Những sáng kiến khoa học công nghệ - vô thưởng vô phạt đối với “hệ tư tưởng” - còn bị xử như thế, huống chi những sáng kiến trong các lĩnh vực văn hoá, nghệ thuật, giáo dục, khoa học xã hội nhân văn, những lĩnh vực quyết định cái gốc của sự phát triển, mà bao nhiêu năm nay luôn nằm trong tình trạng “độc quyền chân lý” của một nhóm người? Câu hỏi: “Vì sao VN những năm 1960 có trình độ phát triển ngang Hàn Quốc, hơn Thái Lan mà nay đi sau gần trăm năm” không cần đặt ra nữa. Sắp đến lúc phải đặt câu hỏi khác: “Vì sao VN thua trình độ Campuchia, Lào?” Khi mọi mầm mống của cái khác, lạ, ngoài hệ thống (nhạc sĩ Văn Cao, thi sĩ Trần Dần… xưa gọi là “bàng thống”), đều bị cảnh giác, triệt bỏ, thì mọi mầm mống sáng tạo cũng bị triệt luôn. Điều hầu như ai cũng biết nhưng không thể làm gì để thay đổi. Vì sao? Vì không thay được cái gốc nhất nguyên, nhất thống, nhất thể trong tư duy chính thống, trong hệ điều hành toàn xã hội.

Thứ Tư, 12 tháng 11, 2014

Công an Hà Nội xác nhận Hội Nhà văn Việt Nam cung cấp thông tin, tài liệu tố giác nhà văn Phạm Thành

THÔNG TIN MỚI NHẬN TỪ CÔNG AN HÀ NỘI

Phạm Thành

Sáng nay, 11.11.2014, hai đồng chí công an phường Đồng Tâm, nơi Phạm Thành cư trú, đem quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ trưởng cơ quan an ninh CA HN trao cho Phạm Thành. Nội dung trả lời trong quyết định tương đối giống với biên bản mà Công an Hà Nội lập có chư ký của Thượng tá, Điều tra viên Trần Văn Tú, Phạm Thành và LS Hà Huy Sơn. Đương nhiên văn quyết định khẳng định giấy Triệu tập và không cho LS cùng làm việc là đúng luật.
Sự đúng luật ấy được thể hiện:
“ Cơ quan An ninh điều tra – Công an thành phố Hà Nội nhận được hai văn bản của Hội Nhà văn Việt Nam và Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam cung cấp thông tin, tài liệu về việc ông Phạm Chí Thành trú tại 121 ngách 128C/27 phố Đại La- phường Đồng Tâm có nhiều bài viết phát tán trên mạng Internet có nội dung chỉ trích các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nói xấu chế độ.”… (mời các bạn xem tòan văn qua ảnh chụp).
Như vậy, việc Hội Nhà văn có văn bản cung cấp thông tin, tài liệu tố giác Phạm Thành là một sự thật đã được ấn định bằng văn bản của cơ quan bảo vệ pháp luật. Các Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, liệu có còn ại nghi nghờ ( như nhà văn Trần Nhương, Nguyễn Xuân Hưng…) hay phải xin lỗi Hội Nhà văn ( như nhà văn Nhật Tuấn) rằng, Hội Nhà văn Việt Nam không hề có văn bản kiến nghị khởi tố Phạm Thành nữa không?
P.T

THƠ NGÔ MINH

 

Siêu âm tim

 

ngo minhKính dâng hương hồn ba mạ và đồng đội

 


Trái tim tôi như củ khoai tía gọt vỏ tím hồng
phập phồng màn hình siêu âm như hỏi
- Làm sao tôi vẫn bình thường ?

Bác sĩ ơi, tim tôi từ lâu không còn lành lặn
7 tuổi, ba bị bắt cùm chân. Mạ bảo "Trưa ni con bới cơm cho ba". Tôi ôm mo cơm đến chỗ giam, thấp thỏm mừng vì sắp được gặp ba. Bỗng có thằng trợn mắt: "Chưa đến giờ, đ.mạ mày, đồ con phản động!". Rồi nó tung chân đá mo cơm trên tay tôi văng tơi bời  trên cát. Tôi khóc thấy tim mình cũng văng thành từng mảnh vụn đớn đau.

Lần đầu tiên tôi nhận ra không phải cứ người là tốt

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (48): BA CON CÁO

Truyện ngắn

Bình Nguyên Lộc

Mặc dầu là tay "bán trời không mời thiên lôi", Sáu Sửu vẫn nghe rờn rợn khi nhìn ra ngoài.

Thánh giá trắng đứng mơ hồ trong ánh sáng lờ mờ của nghĩa địa, sắp thành hàng ngũ đông đúc, nhánh ngang của thánh giá trông mường tượng như những cánh tay người giăng ra để đón bắt ai.

Xa xa, một trụ vôi có dáng một người đàn bà đội khăn tang trắng, đứng nhìn đám mồ trước mặt bà ta.

Gió đêm, cùng với dế, trùn, họp nhau mà than vãn bên hàng nghìn mồ hoang mả lạnh, và thỉnh thoảng, anh Sáu vẳng nghe như có tiếng người rên rỉ đâu đây.

CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở LIÊN XÔ (5)

Anatoly Tille

Phạm Nguyên Trường dịch

Phần III

Luật pháp thời nông nô

Nếu những người bảo vệ pháp luật và nhà nước lại không phải là những người như thế mà chỉ có vẻ như thế thì bạn sẽ thấy rằng họ sẽ phá tan hoang nhà nước và chỉ có họ mới có cơ hội chiếm được những chỗ tốt và thịnh vượng mà thôi.
(Platon. Nhà nước)

Với văn chương, xin đừng độc ác

(Nhân đọc bài “Biến nghịch lý trở thành chân lý!?” của Bích Châu trên tạp chí Hồn Việt, số tháng 11/2014)

Đặng Thân

Tôi không biết Bích Châu là ai, nhưng tạp chí Hồn Việt của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học do Nhà thơ GS.TS Mai Quốc Liên làm Tổng biên tập thì nhiều người biết. Bài “Biến nghịch lý trở thành chân lý!?” thì của Bích Châu, nhưng trách nhiệm cuối cùng ắt là của Mai Quốc Liên và cả BBT tạp chí Hồn Việt.

Trong bài viết, Bích Châu đã phủ nhận công lao, tác phẩm, tài năng của Nhà văn Đà Linh (1958 - 2013), và công kích đê hèn cuốn sách Đà Linh - Trí thức dấn thân (NXB Hội Nhà Văn & Nhã Nam, 2014) do Nhà văn Lê Anh Hoài và anh chị em văn nghệ góp công sức in ra để tưởng niệm một năm ngày mất của Đà Linh.

Người thì đã mất, nhưng họ hàng, vợ, con, anh, em, bạn bè còn đó. Ai đau xót hơn ai? Người vợ đau khổ của Nhà văn Đà Linh đã phải thốt lên: “Thoát tục trần gian mong về cõi Phật, ôm theo bao nỗi đau, rũ bỏ sân si, để lại đời những ước vọng... vậy mà vẫn chưa yên, thật đáng sợ!”

Đại Hội Thế Giới Văn Bút Quốc Tế kỳ thứ 80 tại Bichkek, nước Kirghizistan thông qua Quyết Nghị về Việt Nam ngày 2 tháng 10 năm 2014

vanbutQuyết Nghị về Việt Nam do Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại soạn thảo và đề nghị với sự tán trợ của hai Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Đức thoại và Văn Bút Thụy Sĩ Ý thoại và Réto-romanche

Hội đồng Đại biểu của Văn Bút Quốc Tế họp Đại Hội Thế Giới kỳ thứ 80 tại Bichkek, nước Kirghizistan, từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 2 tháng 10 năm 2014

Quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm dưới chế độ CHXHCNVN vẫn bị coi là tầm thường thảm hại. Cuộc đàn áp tàn bạo các quan điểm bất đồng và tự do ngôn luận vẫn tiếp diễn một cách trắng trợn mà thủ phạm tội ác không sợ bị xử phạt. Theo luật hình sự CS, nơi điều 88 (tuyên truyền chống chế độ CS), nhà văn, nhà báo và người bảo vệ nhân quyền có thể bị kết án từ 3 đến 20 năm tù giam. Đối với những vi phạm qui định tại điều 258 (lạm dụng các quyền tự do dân chủ), luật hình sự CS dành sẵn 7 năm tù giam. Còn những người bị cáo buộc bởi điều 79 (âm mưu lật đổ chế độ CS), từ 12 đến 20 năm tù giam, chung thân hoặc tử hình. Theo thói quen dưới chế độ CS, tòa xét xử thường thiếu công minh. Sau khi bị kết án bất công, tù nhân lương tâm bị đày đến các trại lao động cưỡng bức rất xa gia đình. Họ bị biệt giam, chết dần mòn trong các xà lim, ngục tối độc hại. Họ còn bị nhốt chung với những tù đại hình có hành vi thù địch với họ. Nhiều người có sức khỏe suy yếu vì bị đối xử vô nhân đạo, tàn ác và hạ thấp nhân phẩm. 

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2014

CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở LIÊN XÔ (KỲ 5)

Anatoly Tille

Phạm Nguyên Trường dịch

Chương 7. Bộ máy đàn áp

“Về mặt khoa học, khái niệm chuyên chính có nghĩa là một chính quyền dựa trực tiếp vào vũ lực, không bị hạn chế bởi bất cứ luật lệ nào, không bị gò bó bởi bất cứ nguyên tắc nào”.

(Lenin)

Việt Nam là nơi tốt nhất để sống: Một cách hiểu khác

Nguyễn Văn Tuấn

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEggn-LDsku5BvdtapPHGg3XmjXiZWGdSRg3EyKpk28gIHNGp1qBVKk7jq5_BaZyq-gFeGv67TeZebRH71oidWRiQn7LR8qYdAK-XCUIAVAGuqY0l_kBEoGLN0WKEBrrZOgipie-ganjfifB/s1600/noi+dang+song+vn+.jpgĐến hôm nay mới đọc bài báo “Sốc vì Việt Nam vào tốp 20 nơi đáng sống nhất thế giới!” Nếu chỉ xem qua cái kết quả bình bầu và đối chiếu tình trạng môi trường xuống dốc thê thảm hiện nay thì đúng là sốc thật. Nhưng thật ra, nếu xem kĩ nguồn thông tin (1) thì cũng không đến nổi sốc đâu.

Nguồn thông tin là “The 20 Best Places To Live Overseas” (Hai mươi nơi tốt nhất để sống ở nước ngoài” trên Business Insider (2). Tại sao “nước ngoài”? Tại vì đây là một cuộc điều tra xã hội mà đối tượng tham gia là những thương gia làm việc cho các tập đoàn đa quốc gia. Những người này được công ti gửi đi khắp thế giới để làm ăn, nên họ có cơ hội trải nghiệm và so sánh. Nhóm thực hiện là ngân hàng HSBC. Họ hỏi đối tượng tham gia về trải nghiệm cuộc sống, tình hình kinh tế, nuôi con cái ở nước ngoài. Dựa vào các tiêu chí này, Việt Nam được bình bầu là một trong 20 nước tốt nhất để sống ở nước ngoài.

Đọc xong bản tin này tôi thử tưởng tượng mình là một doanh nhân (hạng “executive”) đang sống ở Sài Gòn. Và, tôi sẽ bầu VN vào một trong 10 nước tốt nhất để sống như là một doanh nhân nước ngoài. Lương của tôi là khoảng 200K USD một năm, và tôi sống trong một nước mà thu nhập bình quân ~2K một năm thì dĩ nhiên là tôi thấy thoải mái quá đi chứ.

Đọc Sống sao trong thời đại số? của dịch giả Hoàng Thạch Quân

Cao Thu Cúc

sach 2 001clip_image002

The New Digital Age: Reshaping the Future of People, Nations and Business. Quyển sách của hai tác giả Eric Schmidt và Jared Cohen xuất bản năm 2013, quyển sách dày hơn 300 trang và được tiến sĩ Hoàng Thạch Quân dịch ra tiếng Việt, Nhà Xuất Bản Trẻ ở Sài Gòn xuất bản tháng 3 năm 2014 với đề tựa: Sống Sao Trong Thời Đại Số? Sách dịch dày 508 trang.

Hồn Việt phê phán nhà văn Đà Linh, vanvn.net phụ hoạ… (*)

Một bài báo trên tạp chí Hồn Việt đang gây nhiều sự chú ý

VanVN.Net – Trong những ngày vừa qua, BBT VanVN.Net nhận được nhiều cuộc điện thoại, tin nhắn, email của các nhà văn, nhà thơ là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và bạn đọc từ nhiều miền đất nước, với nội dung chung: mong muốn trang Thông tin điện tử của Hội Nhà văn đăng tải lại bài báo “Biến nghịch lý trở thành chân lý!?” của tác giả Bích Châu trên tạp chí Hồn Việt (số tháng 11/2014), vì tạp chí không được bán rộng rãi nên nhiều người quan tâm đến bài viết không mua được số báo này. Để đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, VanVN.Net đã liên hệ với tạp chí Hồn Việt và được BBT tạp chí đồng ý cho đăng tải bài viết “Biến nghịch lý trở thành chân lý!?”. Đây là một bài viết có thể gây ra các cuộc tranh luận nhiều chiều, vì vậy để rộng đường dư luận, bạn đọc và người quan tâm có thể gửi bài viết, ý kiến phản hồi về VanVN.Net theo địa chỉ: vanvn.net@gmail.com. Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc.

Thứ Hai, 10 tháng 11, 2014

Bước nhảy tự do

Nguyệt Quỳnh/ Quê Choa 

clip_image001

Chỉ có niềm khao khát mãnh liệt mới thôi thúc con người vượt lên trên chính họ, vượt qua nỗi sợ hãi, để bằng một hành động dũng cảm tự giải thoát chính mình. Người lính biên phòng Đông Đức, anh Conrad Schumann, khi ấy mới 19 tuổi. Conrad Schumann đã phóng qua hàng rào kẽm gai ngày 15/8/1961 để tìm tự do ở Tây Đức trong lúc bức tường Bá Linh mới bắt đầu được xây dựng.

Người thanh niên can đảm này có thể bị bắn chết như khoảng 200 người khác trước và sau anh. Nhưng may mắn anh đã thoát được. Sau ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, trong ngày lễ kỷ niệm hai mươi năm, nước Đức đã dựng tượng đài của anh để diễn đạt nỗi khao khát tự do của con người.

Rất nhiều năm sau ngày đất nước đã thống nhất, người dân Đông Đức vẫn giữ trong trí nhớ mình cảm giác sợ hãi của những ngày tháng sống dưới sự kiểm soát của công an và mạng lưới mật vụ Stasi. Hồi tưởng mức độ căng thẳng tinh thần trong những năm tháng đó, Thủ tướng Đức, bà Agela Merkel đã bày tỏ: “Cần phải giữ làm sao để họ không buộc mình phát điên”. Một phụ nữ từng sống ở Đông Đức đã nói với cô con gái của chị rằng: suốt trong khoảng 10 năm, chị vẫn nằm mơ từng đêm thấy mình trở về Đông Đức, sinh sống tại đó. Nhưng may mắn thay, đó chỉ là một cơn ác mộng mà thôi!

KÝ ỨC LÀNG CÙA

Tiểu thuyết

Đặng Văn Sinh

PHẦN HAI

Chương 10 (tiếp theo)

7

Lê Văn Khải và Lê Văn Nghiên được Lái Lự coi như cháu nội cho ăn học suốt những năm mẹ con bà hai sang sông.

Năm bốn tám sau khi đỗ bằng tiểu học hai anh em được lên tỉnh học trung học đệ nhất cấp. Khải giỏi hơn được học bổng. Hè năm năm hai, sau khi ra Hải Phòng thi tốt nghiệp, tất cả học sinh nam lớp đệ tứ đều phải đến nhà thương khám sức khoẻ, nếu được sẽ lên Đà Lạt vào quân trường học lớp sĩ quan cấp tốc. Trong lúc làm hồ sơ, Deuxième Bureau phát hiện ra bố đẻ của Lê Văn Khải và Lê Văn Nghiên là Việt Minh. Hai anh em lập tức bị bắt. Ông Lái Lự phải chạy ngược chạy xuôi, lo lót các cửa mất một món tiền khá lớn mới lôi được hai thằng cháu ra khỏi trại giam Tại Xá. Về làng Bòng, một số thanh niên rủ Khải vào chiến khu Đông Triều nhưng anh ta vốn có mặc cảm trong quá khứ với ông bố Việt Minh nên xem ra không hào hứng lắm. Ông lái bảo:

THẢO LUẬN DẠY-HỌC VĂN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG (1)

Một trải nghiệm về dạy và học môn Việt văn ở Miền Nam trước 1975.

Tiêu Dao Bảo Cự

Unknown-3Tác giả bài viết này là “giáo sư Việt văn” bậc trung học ở Miền Nam trước năm 1975 (các thầy cô giáo dạy trung học được gọi là giáo sư trung học). Trong cuộc thảo luận về đề tài “Ngữ văn trong nhà trường” do Văn Việt nêu ra, tôi thấy trải nghiệm dạy văn của mình có nhiều vấn đề liên quan đến các đề tài được gợi ý trong cuộc thảo luận. Sau 1975 tôi không còn dạy học nên không đủ thẩm quyền góp ý về việc dạy và học văn hiện nay nhưng tôi nghĩ những trải nghiệm của mình trong nghề cũng là một cách so sánh, đối chiếu để góp phần soi sáng thêm về một vấn đề chung mà Văn Việt đã nhấn mạnh tầm quan trọng là “có tác động rất lớn đến tâm hồn con em chúng ta và tương lai văn học nước nhà”.

Bài viết sẽ lướt qua các vấn đề: quá trình đào tạo giáo sư Việt văn, chương trình, phương pháp giảng dạy, sách giáo khoa, hoạt động ngoại khóa, thi cử, mối quan hệ với học sinh và hình ảnh người giáo sư văn chương trong mắt học sinh.

CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN Ở LIÊN XÔ (KỲ 4)

Anatoly Tille

Phạm Nguyên Trường dịch

Chương 6. Hệ thống đòn bẩy

Khi tiến hành tổng kết và phát triển lí luận của Lenin về cơ chế thực hiện chuyên chính vô sản, Stalin chỉ rõ rằng lực lượng lãnh đạo, tức là Đảng cộng sản sử dụng các “đòn bẩy” để “thực hiện công việc hàng ngày của chuyên chính vô sản” nghĩa là lãnh đạo quần chúng. Stalin liệt kê hệ thống “đòn bẩy” đó theo thứ tự như sau: công đoàn, Xô viết, hợp tác xã đủ mọi loại, đoàn thanh niên[1]. Tất cả các tổ chức này về mặt hình thức, do điều 6 của Hiến pháp Liên Xô, đã không phải là các tổ chức độc lập. Tuy nhiên, điều này cũng như việc loại bỏ nó sau này đã không có nhiều ý nghĩa vì “Không một quyết định quan trọng nào của các tổ chức quần chúng mà không có sự lãnh đạo của Đảng[2]”, ngoài ra, Đảng còn cử người của mình nắm giữ tất cả các chức vụ lãnh đạo trong các tổ chức nói trên.

Sống và viết giữa các nền văn hóa

Nguyễn Hưng Quốc

clip_image001

Sống và viết như những người lưu vong là một bi kịch. Đành rồi. Nhưng đó là một bi kịch... đầy may mắn.

Thì cũng vẫn là bi kịch. Vẫn nỗi đau đớn bị giằng xé giữa quá khứ và hiện tại, giữa ký ức và nhu cầu hội nhập. Vẫn niềm cô đơn gần như tuyệt đối của một kẻ, trong đời sống hằng ngày, sử dụng một thứ ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ của mình, và trong sáng tác, sử dụng một ngôn ngữ không phải là thứ ngôn ngữ thông dụng trong xã hội. Vẫn cảm giác day dứt của những kẻ bị bứt rễ, bị trôi giạt, lúc nào cũng đối diện với tính chất bất định ngay trong ý thức về bản sắc của chính mình. Và vẫn những nỗi ngậm ngùi không thể tránh được của những kẻ ngơ ngác đứng bên lề, không những bên lề nền văn học nơi mình cư ngụ mà còn bên lề cả nền văn học ở cố quốc.