Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

Chuyện kể năm 2000 – Bản cáo trạng không được công bố

Văn Việt: Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đang ở trong tình trạng sức khoẻ hiểm nghèo vì bạo bệnh. Ngoài rất nhiều bạn bè, chiến hữu, bạn đọc yêu quý tác giả Chuyện kể năm 2000 đã tới thăm ông trên giường bệnh, còn có những bạn đọc và cộng tác viên của Văn Việt thông qua trang mạng này để bày tỏ tình cảm và chia sẻ với ông. Nhà văn Lê Minh Hà vừa gửi tới VV bài viết sau đây, chị đã viết gần 15 năm trước ngay sau khi đọc Chuyện kể năm 2000 nhưng rất ít người biết, kể cả tác giả tiểu thuyết. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

Lê Minh Hà

Tôi vừa nhận được tác phẩm này qua Internet, từ nhà văn Vũ Thư Hiên. Và đã in ra ngay, đọc ngay, không chỉ một lần. Vâng, trong thời gian gần đây, chưa có tác phẩm nào tác động đến tôi sâu sắc như thế.

VĂN HỌC MIỀN NAM 54-75 (55): THƠ NGUYÊN SA (KỲ 1)

A TỲ

 

Pham Van Mui 3

Duyên dáng, ảnh nghệ thuật của Phạm Văn Mùi

Kinh dị ngày và kinh dị đêm 


Hoàng hôn lạnh cóng tứ chi mềm


Mấy cành củi mục trôi về biển


Ngang cửa A Tỳ thấy chốn quen

 



Cứ tưởng mưa xong có nắng vàng


Tới sông tìm mãi chuyến đò ngang


Bỗng nhìn thấy ở trong lưu lạc


Có ngọn lưu đày chỗ cuối đêm

 



Cánh cửa ngang qua thế giới buồn


Tống biệt hồng sang tống biệt đen


Em mang điệp khúc về đâu đó


Ta tưởng chừng như giã biệt em 



Điện ảnh Việt tại HNIFF 2014

Lê Hồng Lâm

Ba ngày ở LHP Quốc tế Hà Nội, tôi liên tục di chuyển giữa các rạp chiếu và các suất chiếu, với tần suất 4 phim/ ngày. 6 bộ phim Việt Nam và 6 bộ phim nước ngoài xem xen kẽ, gần vắt kiệt năng lượng dù tôi không phải làm thêm một việc gì khác. Đó là bởi sức nặng của các chủ đề các bộ phim; là đời sống ngột ngạt và những cuộc đấu tranh trong bế tắc, tuyệt vọng của các nhân vật, dù họ ở nơi đâu trên trái đất này. Đó còn là những giây phút thăng hoa do điện ảnh mang lại và cả những lúc nặng trĩu, cũng do điện ảnh mang lại. Như Ilo Ilo của Singapore, bộ phim tôi đã xem lần thứ 3, dài 99 phút, mà vẫn không rời mắt khỏi màn hình một phút nào và vẫn khiến tôi chảy nước mắt. Như Sống cùng lịch sử của Việt Nam, khiến tôi phải bật điện thoại xem giờ không dưới 10 lần, dù nó chỉ dài 87 phút. Nhà phê bình điện ảnh danh tiếng Roger Ebert có nói một câu, “Không bộ phim hay nào quá dài và cũng không bộ phim dở nào đủ ngắn” (No good movie is too long and no bad movies is short enough). Có lẽ chưa lúc nào tôi cảm nhận rõ điều đó như ở LHP lần này. Nhưng cũng thật may, có những giây phút thăng hoa trong 3 ngày xem phim của tôi, đến từ những bộ phim Việt Nam, dù không bộ phim nào đem đến cho tôi cảm giác thoả mãn trọn vẹn, như Mùa len trâu của Nguyễn Võ Nghiêm Minh hay Bi, đừng sợ của Phan Đăng Di trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây...

Facebook: phải chăng là một sức mạnh mềm?

canhco

Tại Việt Nam, Facebook đang được sử dụng nhiều và lan rộng cùng khắp và người chơi với nó luôn có những thao tác gần như nắm tay nhau trong những vấn đề nóng xảy ra trong xã hội.

Tương tác giữa báo chí chính thống và Facebook đã xuất hiện vì ngày nay người theo dõi báo thường xuyên và cẩn thận không ai khác ngoài những người lấy Facebook làm thú vui hàng ngày thay cho cầm tờ báo mà đọc theo cung cách cũ.

Báo chí dựa vào sức mạnh của Facebook để chuyền tải thông tin của mình. Facebook dựa vào sự chuyên nghiệp của báo chí để đẩy bài báo rộng và xa hơn cho những tin tức mà dân nghiền Facebook quan tâm. Dù chỉ là một comment, hay like hoặc share bài báo, người chơi vẫn đang làm một công việc hết sức hiệu quả từ những thao tác đơn giản của mình.

Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ (KỲ 10)

Tiểu thuyết

Nhật Tuấn

Hai mươi mốt

Trước lúc xảy ra những bất ngờ như vậy, tôi đã có một khoảnh khắc yên tĩnh nằm dài trên chiếc chiếu trải dưới sàn, đầu kê lên chiếc gối bông và cao trên kia là một mái nhà hẳn hoi chứ không phải bầu trời như mọi lần tôi ngủ ngoài rừng. Chuyện đó chả là gì đôi với người đời, nhưng với tôi quả cái vi khí hậu của “mái ấm gia đình” đó đã gợi ra biết bao cảm nghĩ nhất là khi ngước nhìn lên vách, tôi thấy treo một bức ảnh cắt từ họa báo chụp một bà mẹ đang bế trên tay một đứa bé trai. Giá như lúc này thằng liên lạc đừng chạy đi làm thịt chồn với anh chủ nhà, thằng hộ pháp đừng có trốn biến đâu mất, giá tôi không chỉ có một mình, chẳng biết làm cái gì, giá như vậy, hình ảnh hai mẹ con kia hẳn đã thoảng đi. Vậy nhưng tôi đã nằm ruỗi dài, ngắm mãi nó mà ngẫm nghĩ về cái người đời vẫn gọi là tình mẫu tử mà trong ký ức tôi chẳng lưu giữ một chút gì về nó. Nếu như tôi có một người mẹ như cái đứa bé trong ảnh kia rất có thể tôi đã sống khác bây giờ. Người ta thường nói đến những đứa trẻ mồ côi khi lớn lên tính nết thường khô khan, thích cô độc, và thích sống lang thang hơn là bó mình trong quy củ gia đình. Không hiểu điều đó nghiệm vào tôi có đúng không nhưng tôi luôn cảm thấy thiếu hụt một cái gì đó rất căn bản so với người đời và bởi thế đôi khi tôi thường bị chìm đắm trong một nỗi buồn nặng nề mà chẳng do một nguyên cớ nào. Chẳng hạn lúc này đây, lẽ ra tôi có thể sung sướng trong tiện nghi dù là tối thiểu, vậy mà kỳ chung tôi vẫn thấy lòng nặng trĩu, toàn thân bải hoải, chân tay như dính chặt xuống chiếu không nhấc nổi lên nữa. Bỗng dưng tôi thèm được gọi tên một người nào đó, nhưng là ai bây giờ, chẳng có ai cả và cái điều đó đâm nhói trong ngực tôi, rồi thật ngớ ngẩn, những giọt nước nóng ấm không hiểu sao cứ ứa ra hai hàng mi. Có tiếng chân bước cót két dẫm lên thang tre làm tôi vội vàng chùi mắt và ngồi nhỏm dậy.

Triết lý văn chương trên trang viết Nguyễn Huy Thiệp

Võ Thị Thu Hằng

Văn Việt: Một cuộc giao lưu, chuyện trò về văn chương của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp do Heritage Space tổ chức vào 15h ngày 6 tháng 12 năm 2014 tại Tòa nhà Dolphin Plaza, 28 Trần Bình (Tầng hai Café Paris Deli, Tòa nhà Dolphin gần bến xe Mỹ Đình). Chủ đề “ Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn xuôi Việt nam sau 1975”. Diễn giả: Nhà nghiên cứu văn học, Giáo sư Lã Khắc Hòa. Khách mời: nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Nhân dịp này, xin giới thiệu với bạn đọc một bài viết về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp mà VV nhận được từ Ban Tổ chức cuộc giao lưu.

clip_image001

Cơn bão táp mang tên Nguyễn Huy Thiệp, giờ đây đã tạm yên ả. Và tôi lại lên đường đi tìm Nguyễn Huy Thiệp với một niềm tin, qua bão táp, cái gì là giá trị sẽ tự khẳng định được mình!

DẠY-HỌC VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG (9): Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông Việt Nam và hướng phát triển sau 2015

Đỗ Ngọc Thống

Ngữ văn là cách gọi tên môn học hiện hành của Việt Nam (từ THCS đến THPT) và Trung Quốc (cả ba cấp). Thực ra trên thế giới và cả ở Việt Nam, từ trước đến nay, tên môn học này khá phức tạp, có nhiều cách gọi khác nhau[1].

Chúng tôi lấy tên Ngữ văn vì cho rằng nó có thể bao quát chung cho cả ngữ và văn; hơn nữa đây cũng chỉ là quy ước mang tính tương đối. Điều quan trọng là cấu trúc bên trong, nội hàm của thuật ngữ chứ không phải là tên gọi. Trong thực tế từ trước tới nay, dù các văn bản chương trình có nhiều cách gọi như Văn học, Ngữ văn hay Văn học và Tiếng Việt… thì nó vẫn thường được gọi tắt là môn Văn. Và cho dù tên gọi thế nào thì cấu trúc nội dung của môn học này vẫn là 3 phần: tiếng Việt, văn học và làm văn. Trong đó tiếng Việt là phần cung cấp những kiến thức công cụ nền tảng để hình thành và phát triển năng lực đọc văn (tiếp nhận văn bản) và năng lực làm văn (tạo lập văn bản).

Cờ vàng sọc đỏ có từ thời vua Thành Thái?

Vậy có thể kết luận, việc cờ vàng ba sọc đỏ (dù là quốc kỳ hay hoàng kỳ) có từ thời nhà Nguyễn hay từ thời Thành Thái có thể coi là một tin đồn vô căn cứ, và không hề có là quốc kỳ đó trước khi Quốc Gia Việt Nam được thiết lập năm 1948. Không nên vì nhân danh đấu tranh cho chính nghĩa mà dùng những ngụy tạo theo kiểu anh hùng Lê Văn Tám để bảo vệ quan điểm của mình. Làm như vậy không những vi phạm đạo đức mà còn không chóng thì chầy sẽ bị “ backfire ” (tác dụng ngược).

Phạm Quang Tuấn

Nhân vụ Điếu Cày Nguyễn Văn Hải bị trục xuất, những tranh luận, chụp mũ, quấn cổ (!) liên quan đến cờ vàng cờ đỏ lại sôi sục trong cộng đồng. Giới “cờ vàng” hay nói rằng cờ vàng ba sọc được dùng làm quốc kỳ từ thời Thành Thái (1889-1907). “Thông tin” này có khi được nhắc lại bởi giới “cờ đỏ” hay “lưng chừng” như các ông Đào Tiến Thi, Lê Diễn Đức. (Ghi chú: theo cách gọi trong bài này, giới “lưng chừng” gồm những người không coi lá cờ nào là đường phân cách dân tộc, dù cá nhân họ có thể có cảm tình hơn với cờ vàng hay cờ đỏ).

Thư ngỏ gửi UBND quận Hoàn Kiếm (Hà Nội): “Chưa được công nhận” không có nghĩa là có thể ứng xử tùy tiện với di tích lịch sử

NGƯT Vũ Thế Khôi

LTS: Sau khi đăng loạt bài xung quanh dự án xây dựng Trung tâm thông tin văn hóa Hồ Gươm (Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội), ĐĐK đã nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc, trong đó có ý kiến của giới chuyên ngành kiến trúc, xây dựng, văn hóa, lịch sử. Số báo này, chúng tôi xin giới thiệu thư ngỏ của NGƯT Vũ Thế Khôi gửi UBND Q.Hoàn Kiếm - với nội dung liên quan.

clip_image002

Hoành phi "Hoằng Thiện kinh đàn”  trong kho gỗ thải đền Ngọc Sơn

Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

ĐI VỀ NƠI HOANG DA (KỲ 9)

Tiểu thuyết

Nhật Tuấn

Mười tám.

Những gì sẽ chờ đợi ông toán trưởng nếu ông cả gan chống lại cấp trên, đình cái công việc trọng đại người ta đã tín nhiệm giao phó cho ông chỉ vì cái cớ rất vớ vẩn là đi mua gạo ở bản Mù Càng? Và rồi khi những cơn mưa rừng đầu tiên đổ xuống, chúng tôi vẫn còn lò mò giữa rừng xanh núi đỏ, chẳng thấy cái đỉnh Hua Ca ấy ở nơi đâu thì rồi ông sẽ nói năng thế nào với Ban chỉ huy?

May mắn thay, ông toán trưởng chưa kịp phạm cái sai lầm tày đình ấy, vào buổi chiều hôm sau, khi chúng tôi vừa buông bát buông đũa đã nghe thằng học giả reo tướng:

“Có ngừời… có người đang đi tới…”

Những chuyển động và trì trệ - Nghệ thuật Việt Nam những năm 1990 - đầu 2000*

Nguyễn Quân

1.Chuyển động

Nghệ thuật giai đoạn này mang tính đổi mới căn bản vì nó khắc phục hay khác rất nhiều so với 2 giai đoạn quan trọng nhất trước đó là nghệ thuật chiến tranh, cách mạng (1945-85) và nghệ thuật Đông Dương (1925-45). Đặt các tác phẩm đối sánh nhau không khó để ta nhìn thấy ngay những khác biệt.

1.1 Hội họa Đông Dương là hình thức nghệ thuật mới tinh của lớp tinh hoa thị dân nhỏ của một thuộc địa lớn nơi giao thoa văn hóa Pháp-Việt là sâu rộng, nền tảng. Phong cách nghệ thuật ấn tượng, art nouveau, tả thực với các chủ đề nhân vật khá thống nhất nên được gọi chung là Phong cách-Trường phái Đông Dương. Các họa sĩ Pháp giảng dạy tại trường Mỹ thuật Đông Dương hoặc tới Việt Nam sáng tác cũng như các họa sinh người bản địa tìm nhiều cách thể hiện khác nhau như tả thực tượng trung, ấn tượng thậm chí là biểu hiện chủ nghĩa hoặc với những cảm hứng từ nghệ thuật tranh dát vàng và khắc gỗ màu Nhật Bản. Song nhìn chung, với các tác giả người Việt trường phái mỹ thuật Đông Dương để lại vẻ đẹp nhất quán, đặc trưng Việt Nam tựa như impressionism với người Pháp vậy. Hình tượng đáng yêu, dễ nhớ nhất là người đán bà trẻ mặc áo dài tân thời bên hoa, trong vườn đẹp với tâm tư nhẹ nhõm thanhh bình hoặc phảng phất một nỗi u hoài vô cớ.

a3

Tranh Lê Phổ (Trường Mỹ thuật Đông Dương)

Công nghệ phở – Phần III(*) Những món phở

Đặng Đình Cung

Kỹ sư tư vấn

Rất có thể trong số muôn vàn chủ nghĩa chính trị, tôn giáo và triết lý thì có một chủ nghĩa siêu việt đến nỗi cần phải áp chế một cách vĩnh viễn cho tất cả mọi người trên thế giới. Tôi chỉ là kỹ sư nên không dám bàn cãi về chuyện này.

Nhưng, sau bốn chục năm hành nghề, tôi có thế khẳng định rằng về môi trường thiên nhiên thì phải đa dạng về sinh học, về nông – lâm ‒ ngư nghiệp phải đa dạng giống cây trồng, giống gia súc, về giao thông ‒ vận tải phải có đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, về công nghiệp phải có công nghệ này công nghệ kia;... thì kinh tế quốc dân mới có thể tăng trưởng hài hòa được. Nước ta được Trời thương ban cho mỗi thứ một chút đủ để dân tộc ta có một đời sống ấm no hạnh phúc một cách bền vững. Chúng ta nên cẩn trọng hơn đối với các dự án "cải tạo xã hội".

Những khắc khoải siêu hình trong thơ miền Nam 1954-75

clip_image002

Nguyễn Hưng Quốc

03.12.2014

Thời 1954-75, các nhà thơ ở miền Nam, với những mức độ khác nhau, đều hoài nghi, hơn nữa, phủ nhận toàn bộ những nền tảng ý thức hệ và thẩm mỹ trên đó Thơ Mới thời 1932-45 được xây dựng.

Trước hết là hình ảnh nhà thơ như một cái tôi cá thể.

Không còn nghi ngờ gì nữa, khí quyển văn hoá của thơ miền Nam vẫn là bầu khí quyển của chủ nghĩa cá nhân. Có điều, nếu chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn 1932-45 là một thứ chủ nghĩa cá nhân đầy tự tin và tự hào một cách ngây thơ thì chủ nghĩa cá nhân trong giai đoạn 1954-75, sau những năm kháng chiến hào hùng, khốc liệt, đầy ngang trái và đầy cay đắng, trở thành “phải chăng” hơn: cái “tôi” cá thể được hiểu như một cái riêng chứ không phải là một cái khác, càng không phải là một cái gì lớn lao, tuyệt đối. Nhà thơ không còn là “con chim đến từ núi lạ” (Xuân Diệu) mà chỉ là “một con chim bói cá / lặn tìm vuông đời mình” (Du Tử Lê), không còn đi những bước đi đặc dị: “Chân mình vẫn lạc dấu nghìn chân” (Trần Huyền Trân) mà chỉ muốn hoà hoãn với cuộc đời: “Tôi bây giờ sống thu thân / Sống cam phận nhỏ chia phần an vui” (Nhã Ca); không còn khệnh khạng: “Tôi: thù nhân của Số Nhiều” (Vũ Hoàng Chương) mà ý thức rất rõ trong cái riêng của mình có cái chung của nhân loại: “Tôi là một người là một đám đông” (Tô Thuỳ Yên).

Vài lời nhân Từ điển của GS Nguyễn Lân được NXB Văn học tái bản

Hoàng Tuấn Công

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEhNsxjLF5f_NG6NtAYeaDdlp1gN04VaGw8LWws0NjOkP3JTgrzc4ctBTnV7NDRDHtANlqFPEO2_eu9Ad5-13LIpLkNzONM_dlXMnGm3XuJqeZ7kFFlF0aCEY_-jIpHTaCEjbxiHUgR7Rx80/s1600/Hi%CC%80nh0022.jpg

Hai bản inTừ điển (bìa trắng+vàng) của

GS Nguyễn Lân mới tái bản (2014)

NXB Văn học vừa tái bản “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân - một cuốn sách có những sai lầm mang tính hệ thống. Số lượng tái bản (năm 2014) tới 4 ngàn cuốn, chia cho hai Nhà sách.

Điều này có thể bất ngờ đối với nhiều bạn đọc từng biết đến sai sót của cuốn sách, nhưng với chúng tôi thì không!

Trong bài Wikipedia đã sửa đổi gì mục từ Nguyễn Lân đăng ngày 29/6/2014 tôi đã viết: 

"Hiện nay các cuốn từ điển nhiều sai sót của GS Nguyễn Lân vẫn đang được bày bán rộng rãi tại các Nhà sách lớn trong toàn quốc. Dường như không có ai để ý hay chịu trách nhiệm gì về nó. Do đó, để ngày càng có nhiều độc giả nhận biết, không tiền mất tật mang vì các cuốn từ điển “có hại cho tiếng Việt” này, sự thật cần được tiếp tục lên tiếng.

Mới hay cái sai, cái giả dối bao giờ cũng rất ngoan cố, lì lợm. Và để đến được “bến bờ sự thật”, hành trình sóng gió của những “chuyến đò nhỏ” quả không đơn giản, dễ dàng chút nào!”

Thực ra, sự “ngoan cố, lì lợm” ấy đã có từ thời GS Nguyễn Lân còn sống. Ông đã bỏ ngoài tai những góp ý rất xác đáng của cụ An Chi (đọc Những sai khó ngờ trong Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam, Đọc lướt “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” của Nguyễn Lân) và cho rằng đó là những “nhận xét sai lệch”, “mắc sai lầm”. GS Nguyễn Lân đã tìm cách ngăn không cho An Chi viết tiếp, đồng thời kêu gọi độc giả “đánh giá khả năng và tư cách” của An Chi (!)

Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Thơ Adonis[i]

THÂN TRỌNG SƠN

dịch và giới thiệu.

clip_image002[4]

        Nghe như cổ tích chuyện cậu bé Ali Ahmed Saïd Esber, con nhà nông dân vùng Al Qassabina, miền tây nước Syria: từ chỗ nhà nghèo, không được tới trường, sau có cơ hội đi học và đạt trình độ tiến sĩ; từ chỗ thuở nhỏ làm thơ gởi các báo nhưng không bài nào được đăng, sau lại là người sáng lập một tạp chí chuyên về thơ và trở thành " nhà thơ vĩ đại nhất còn sống của thế giới Á Rập" với bút danh Adonis.

       Mọi chuyện bắt đầu khi, ở tuổi mười bốn, được tin vị tổng thống đầu tiên của nước Cộng hoà Syria mới giành độc lập về thăm làng, cậu tìm mọi cách để đến đọc trước mặt tổng thống bài thơ mà cậu viết vào dịp này. Sự tưởng thưởng tổng thống dành cho cậu (theo đúng nguyện vọng) là học bổng để vào học tại một trường của người Pháp ở Tartus. Đỗ tú tài, Adonis học tiếp đại học ở Damascus và tốt nghiệp cử nhân triết học năm 1954. Năm 1956, sau khi ở tù gần một năm vì tham gia vào một đảng phái đối lập, Adonis trốn sang Beirut, thủ đô nước Lebanon rồi trở thành công dân của nước này. Ông đỗ tiến sĩ năm 1973 và trở thành giáo sư văn học Á Rập tại Đại học Lebanon, giáo sư thỉnh giảng tại Đại học Damascus và nhiều trường đại học ở Pháp , Thuỵ sĩ và Mỹ. Tình  hình nội chiến ở Lebanon khiến ông phải rời bỏ xứ này và qua sống tại Pháp từ năm 1985.

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (54): Nguyên Sa (1932-1998)

Thụy Khuê

Tiểu sử

Nguyên Sa tên thật là Trần Bích Lan, bút hiệu khác Hư Trúc, sinh ngày 1/3/1932 tại Hà Nội. Con ông Trần Văn Chi, một nhà kinh doanh lớn và bà Đoàn Thị Xuân. Gia đình gốc Huế, ông cố là Trần Trạm, thượng thư triều Tự Đức, đến đời ông nội mới ra Hà Nội lập nghiệp.

Thủa nhỏ học trường dòng Puginier. Khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, theo gia đình tản cư ra Vân Đình (Hà Đông), học trường Văn Lang. Năm 1946, thình lình bị bắt tại Quảng Tái lúc 14 tuổi, bị đánh đập, tra tấn, bắt nhận tội "Việt gian, chiếu gương cho phi cơ Pháp oanh tạc Vân Đình", bị giải đi Chi Nê, Hoà Bình về cải hối thất Sơn Tây... Tám tháng sau được thả, lý do "bắt lầm". Nguyên vì cha kinh tài cho Việt Minh, sợ ông bỏ về thành, họ bắt con trai làm con tin. Sự kiện này gây chấn động tâm lý sâu đậm về "cái sợ", là kinh nghiệm sống đầu tiên của người con trai mười bốn tuổi, Nguyên Sa kể lại trong Hồi ký, trang 78-123.

Năm hành vi xâm phạm đời tư phổ biến ở Việt Nam

Trịnh Hữu Long

Vụ việc Công Phượng làm dấy lên nhiều lo ngại về quyền riêng tư của cầu thủ này trong khi ngay cả những quy định pháp luật cụ thể về quyền riêng tư, quyền bí mật đời tư vẫn đang còn thiếu vắng ở Việt Nam. Xuất phát từ một nền văn hóa xem nhẹ cá nhân hơn cộng đồng, lại trải qua nhiều cuộc xung đột lãnh thổ lẫn xung đột ý thức hệ đòi hỏi sự hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích quốc gia, dân tộc và lợi ích giai cấp, người Việt Nam ngày nay chưa đặt quyền riêng tư của các cá nhân ở vị trí xứng đáng của nó. Điều đó dẫn đến những vi phạm xảy ra hàng ngày mà chính người vi phạm lẫn người bị vi phạm có thể cũng không biết.

Luật Khoa tạp chí lựa chọn năm hành vi sau đây để mở đầu cho tuyến đề tài về quyền riêng tư (privacy rights). Dĩ nhiên, không có gì là tuyệt đối. Trong một số trường hợp, các hành vi dưới đây có thể được chấp nhận ở một mức độ nào đó bởi các bên liên quan.

Lá thư thổ lộ “2 lần toan tính tự tử” trong tù của anh trai nhà báo Hoàng Khương

clip_image002

clip_image004

Báo điện tử Một Thế Giới nhận được lá thư của anh Nguyễn Văn Khôi - nguyên là phóng viên báo Khánh Hòa, anh trai Hoàng Khương  - nguyên PV báo Tuổi Trẻ (bị bắt năm 2013). Lá thư gửi từ trại giam A2, Đồng Găng, Khánh Hòa thông qua ông Nguyễn Văn Phước - TGĐ First News, tự sự về 2 lần tuyệt vọng đã toan tìm đến cái chết, song... Một Thế Giới xin giới thiệu cùng bạn đọc:

THẢO LUẬN DẠY-HỌC NGỮ VĂN TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG (8):

Triển khai kỹ thuật thực thi

môn Tiếng Việt và Văn bậc Tiểu học

của nhóm Cánh Buồm

Phạm Toàn

Văn Việt: Sau bài “Tại sao dạy Văn?” (Văn Việt – Thảo luận (4) 19/11/2014) nhưmột “tuyên ngôn” về mục tiêu dạy Văn, tác giả giới thiệu việc triển khai cụ thể “bản tuyên ngôn” vào sách giáo khoa Văn và Tiếng Việt cấp Tiểu học đến từng tuần, từng tiết học.

Nguyên tắc của việc triển khai tổ chức việc tự học của trẻ em là hướng dẫn các em làm lại những thao tác nghiên cứu ngôn ngữ học và những thao tác làm ra sản phẩm nghệ thuật – những điều chắt lọc từ “người đi trước” (nhà ngôn ngữ học, nhà văn, nghệ sĩ).

NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN - HAI TRONG MỘT

Ricardo  Piglia (*)

I. Trong một cuốn sổ tay, Tchekhov đã ghi lại giai thoại sau: "Ở Monte-Carlo, có một người tới casino, thắng bạc một triệu franc. Trở về nhà.Tự tử".  Phác thảo cho một truyện ngắn kinh điển, cốt lõi của nó được cô đặc trong mấy dòng ngắn ngủi trên.

Từ sự giao thoa của những sự kiện mang tính  dự báo và quy ước như trên (chơi bạc- thua/được -tự tử), câu chuyện hiện ra như là một nghịch lý. Giai thoại này hướng tới việc chia tách câu chuyện đánh bạc và câu chuyện tự sát. Cách chia tách này hé lộ cho chúng ta thấy cái thuộc tính "hai mặt" của một truyện ngắn:

Công nghệ phở Phần II – Thỏa mãn chức năng

Đặng Đình Cung


Kỹ sư tư vấn

Gần đây chúng tôi đọc trên tờ Thời Báo một bài của Người Tân Định kể về quan điểm về phở của « ông Bô » tác giải. Đọc mà thấy sợ ! Trên mạng có nhiều bài phát biểu thái độ tương tự về phở : các tác giả phán quyết những món phở "chả ra cái quái gì cả" một cách mơ hồ và độc đoán. Nếu các vị này mà có một chút quyền thế thì người dân sẽ phải lén lút nấu và ăn phở theo khẩu vị riêng của mình. Người nào bị bắt quả tang nấu một nồi phở "chả ra cái quái gì cả" sẽ bị bỏ tù vì tội "thông đồng với các thế lực thù nghịch phá hoại văn hóa phở". Ác mộng này chúng tôi ngoại suy rất ít. Vào những năm 1920 ở bên Mỹ, có Luật Cấm Rượu (National Prohibition Act) cấm chưng cất và buôn bán rượu. Luật này đã sinh ra những băng đảng, như là băng Al Capone nổi tiếng, kinh doanh rượu bất hợp pháp chém giết lẫn nhau để tranh giành thị phần. Ở Hà Nội xưa kia có món phở với rất nhiều mì chính nhưng không có thịt. Người nào mà nấu phở một cách khác là bị công an xộc vào nhà kiếm chuyện.

Nói rằng "mỗi bát phở là cả một bài thơ" thì vẫn chưa đủii. Cần phải có một chỉ báo cụ thểiii. Một bát phở là một bát phở ngon khi chủ quán nhận thấy rằng thực khách kê miệng vào bát húp cho tới giọt nước dùng cuối cùng và liếm bát cho tới cọng bánh cọng rau cuối cùng. Trong ngành chiến lược công nghệ người ta gọi đó là phở có chất lượng. Một bát phở có chất lượng là một bát phở thực khách thích ăn và ăn xong vẫn còn sống khỏe mạnh. Nó phải thỏa mãn hai chức năng : no bụngấm bụng.

clip_image002 Hình thấy trên mạng

“Ngủ đứng như thế này”: Ba bài thơ của người công nhân nhảy lầu tự sát

Phùng Hoài Ngọc biên dịch

(VNTB) - Lời dẫn: Theo báo “Thẩm Quyến tin tức buổi chiều” (the Shenzhen Evening News) Trung Quốc, chỉ tính riêng ở công ty Phú Sĩ Cương trong năm 2010 đã có 18 công nhân nhảy lầu tự tử và 14 tử vong. Sau khi công nhân 24 tuổi Hứa Lập Chí (1990-2014) nhảy lầu tự sát để lại nhiều di cảo thơ (tạm dịch bài 1 và 2), một người bạn nghề là Châu Khải Tảo làm bài thơ viếng bạn (bài 3).

"Chủ nghĩa xã hội màu sắc TQ" bi đát quá !

Chúng bóc lột xương máu thanh niên để làm giàu, để tung hàng giá rẻ ra nước ngoài chiếm lĩnh thị trường, để chạy đua vũ trang…

Người dịch không khỏi liên tưởng tới đời sống cực nhọc của công nhân các khu công nghiệp ở Việt Nam một khi giai cấp công nhân bị “mang con bỏ chợ”.

THÔNG ĐIỆP XÃ HỘI DÂN SỰ VIỆT NAM NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN 10-12-2014

image

            Nhà cầm quyền cộng sản độc tài độc đảng tại Hà Nội đã và đang hạn chế hay tước bỏ mọi nhân quyền của toàn dân Việt Nam được nêu ra trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế và hai Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế và xã hội mà Việt Nam đã ký kết và cam kết tuân giữ. Họ hạn chế hay tước bỏ trên phương diện lý thuyết (luật pháp) lẫn trên phương diện thực tế (hành xử).

Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Mua Lenin

Miroslav Penkov (Bungari)

Hiếu Tân dịch

Khi ông nội biết tôi sắp sang Mỹ học, ông viết cho tôi mấy dòng tạm biệt: “Mày thằng tư bản thối nát. Thượng lộ bình an. Thân yêu. Ông nội.” Nó được viết trên một lá phiếu bầu màu đỏ đã nhàu, từ những cuộc bầu cử năm 1991, tờ phiếu quan trọng nhất trong bộ sưu tập phiếu bầu cộng sản của ông nội, và nó mang chữ ký của mọi người trong làng Leningrad.

Tôi xúc động khi được nhận một vinh dự như thế, nên ngồi xuống, lấy ra tờ một đô la, và viết cho ông nội mấy dòng trả lời sau đây: “Ông nội - người cộng sản bị bịp. Cám ơn ông về lá thư. Cháu sẽ bay ngày mai, và sang đến đó cháu sẽ cưới một cô vợ người Mỹ ngay khi có thể. Cháu sẽ cố gắng có một đàn con Mỹ. Yêu ông. Cháu của ông.”

Trưng bày điêu khắc ‘New Form II: Điêu khắc - Kiến trúc - Không gian’

Nguyễn Anh Tuấn

Nghệ sỹ: Nguyễn Ngọc Lâm, Lê Lạng Lương, Phạm Bảo Sơn, Trần Trọng Tri, Phạm Đam Ca

Curator: Nguyễn Anh Tuấn

Tháng 11 năm 2014 - Module 7 và Nhóm điêu khắc New Form trân trọng giới thiệu trưng bày thể nghiệm điêu khắc với tên gọi ‘New Form II: Điêu khắc - Kiến trúc - Không gian’. Triển lãm là hoạt động nằm trong dự án New Form giai đoạn 2, 2014 - 2015.ATH_3231

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ (KỲ 8)

Tiểu thuyết

Nhật Tuấn

Mười tám

Những gì sẽ chờ đợi ông toán trưởng nếu ông cả gan chống lại cấp trên, đình cái công việc trọng đại người ta đã tín nhiệm giao phó cho ông chỉ vì cái cớ rất vớ vẩn là đi mua gạo ở bản Mù Càng? Và rồi khi những cơn mưa rừng đầu tiên đổ xuống, chúng tôi vẫn còn lò mò giữa rừng xanh núi đỏ, chẳng thấy cái đỉnh Hua Ca ấy ở nơi đâu thì rồi ông sẽ nói năng thế nào với Ban chỉ huy?

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

Thơ Nguyễn Thanh Văn

 

clip_image002Sinh ngày: 13-2-1954 (theo giấy khai sinh: 1953)

Tại: Thừa Thiên – Huế

Nghề: Dạy học (Anh ngữ)

Nghiệp: Sáng tác

Tác phẩm đã xuất bản: Truyện ngắn: Bài ca buồn gửi cố hương (NXB Văn Nghệ TpHCM), Lỡ hội trăng rằm (NXB Văn Nghệ TpHCM), Thơ: Dự cảm (NXB Hội Nhà Văn).

Hiện sống và viết ở Sài Gòn.

Một cuộc găp gỡ (trích Chương III)

Milan Kundera

Nguyên Ngọc dịch

Những danh sách đen

Hay tản mạn dâng Anatole France

1

Đã lâu, cùng một số đồng bào của mình, một người bạn Pháp đến Praha và tôi tình cờ ngồi cùng một chiếc taxi với một quý bà, không biết chuyện gì để nói, tôi đã hỏi bà (một cách ngây ngô) bà thích nhạc sĩ Pháp nào hơn cả. Tôi còn nhớ mãi câu trả lời tức thì, bật ra, mạnh mẽ: “Nhất thiết không có Saint-Saëns!”

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO

(tiếp theo)

BẠT

Trần Đức Thảo đã ra đi và Việt Nam mất đi một triết gia. Song điều đó có nghĩa gì đối với một đất nước có quá nhiều mất mát, ở một nơi mà do cuồng vọng của lãnh đạo, hàng triệu gia đình đã mất cha mất con, mất vợ mất chồng, đôi khi mất cả hai ba thế hệ, mất cả không ít trẻ thơ là mầm non của đất nước?

Song ta có thấu hiểu về sự mất mát của chỉ một người như Trần Đức Thảo, ta mới trông ra hết cái thảm kịch của một dân tộc bất hạnh như dân tộc Việt Nam.

Từ nhỏ ông đã học giỏi, song điều đó không lạ, không hiếm ở một đất nước có truyền thống hiếu học. Lớn lên ông vẫn nổi bật giữa chúng bạn, trong một ngành mà không mấy người Việt Nam đi vào, còn ở ngay một môi trường không phải là của ta.

VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (53): TỲ VẾT TÂM LINH (kỳ 3)

Truyện dài

Bình-Nguyên Lộc

Đây là lần thứ một trăm mà sinh viên lớp dự bị phải vẽ cây chuối.

Trước khi vào lớp, các nghệ sĩ tập sự xì xào với nhau:

-          Bữa nay là giờ của ông “Cây Chuối”.

Rồi họ cười ồ lên, mặc dầu viễn ảnh phải vẽ cây chuối làm cho họ ngán ngầm, sợ hãi.

Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

CON SẺ HÓT TIẾNG HỌA MI

clip_image002Nguyễn Đình Bổn sinh năm 1962 tại Quảng Nam, sống tại Hậu Giang- Cần Thơ từ 1975- 1994. Từ 1994 sống tại Sài Gòn.

Tác phẩm:

-Đuổi Quỷ (tập truyện, NXB Đồng Nai)

-Tân Liêu Trai (tập truyện, NXB Đồng Nai)

-Giữa Trần Gian và Địa Ngục (tập truyện, NXB Lao Động; NXB Sống- Hoa Kỳ tái bản)

-Phượng Trắng (truyện dài, NXB Kim Đồng)

-Kiều (NXB Sống- Hoa Kỳ)

-Mút mùa lệ thủy (truyện dài- sẽ phát hành 1.2015- NXB Trẻ)

(Chân dung: Ký họa của họa sĩ Trần Tuy)

 

ĐIÊU KHẮC SÀI GÒN – HÀ NỘI, 2014[i]

Phan Cẩm Thượng

clip_image002Cuộc triển lãm điêu khắc giao lưu giữa hai thành phố lớn hai đầu đất nước đã diễn ra được ba lần, năm nay 2014, họ sẽ trưng bầy tại Sài Gòn. Mỗi lần như vậy có lẽ không phải là một lần đột phá gì về ngôn ngữ và nội dung điêu khắc, mà nó mang tính chất tiệm tiến nhiều hơn. Nhận thức và phát triển cái mới trong điêu khắc có lẽ không thể nhanh chóng được.

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA TRIẾT GIA TRẦN ĐỨC THẢO

(tiếp theo)

Tri Vũ-Phan Ngọc Khuê

Đột tử trước thềm chân lý…!

Nhưng rồi bỗng bác Thảo không cần tới những may mắn đến dồn dập ấy nữa…!

Chiều hôm sau đó, tôi đang lái xe trên đường về nhà thì nghe đài “France Info”, mà tôi có thói quen mở nghe tin tức khi lái. Bỗng đài này loan tin giáo sư Trần Đức Thảo, nhà triết học Việt Nam vừa qua đời! Tin đột ngột ấy làm tôi lạnh người và buột miệng:

-Ôi! Thế là cuốn sách không còn cơ hội chào đời! Phải chăng tên đao phủ đã ra tay?

Việc đầu tiên là tôi tìm gặp ngay bà Bích Hồng để được nghe bà kể thật chi tiết.

THẢO LUẬN DẠY-HỌC VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG (7)

ĐỪNG SỢ DẠY THƠ KHÓ[1]

Nguyễn Khiêm

clip_image001Những năm cuối thế kỷ trước, có lần tôi được dự một buổi hội thảo về thơ thiếu nhi do Hội Nhà văn và Hội Giảng dạy Văn học thành phố HCM tổ chức (cái hội sau này tôi không chắc nhớ đúng tên nhưng đại loại liên quan đến việc giàng dạy văn thơ cho học sinh phổ thông, không thấy hoạt động gì nhiều, đã lâu không còn nghe nhắc tới). Người giới thiệu và điều khiển chương trình là một nhà thơ nay tôi quên mất tên ông, chỉ nhớ ông nói giọng Bình Định hay Quảng Nam gì đó và dường như ông là nhà thơ “chuyên” về thơ thiếu nhi. Ông nói rất lâu về sự cần thiết phải “đẩy mạnh” phong trào làm thơ cho thiếu nhi vì theo ông, thơ thiếu nhi hiện rất yếu và thiếu.

Gần cuối buổi hội thảo đó, (nói hội thảo là kiểu nói quen dùng chứ e không đúng, vì tới phiên mình, diễn giả nào cũng lôi bài viết sẵn trong túi ra đọc, hết người này đến người khác, không có gì là thảo hết). Tôi cũng được nói 15 phút, yêu cầu chính là mọi người muốn biết thơ trong sách giáo khoa cho bậc tiểu học tác dụng ra sao đối với thiếu nhi trong trường học phổ thông, “chất lượng” thơ như thế cao hay thấp… Tôi không có bài viết sẵn, chỉ mấy ý đơn giản, nhận thấy sao thì báo vậy. Thơ thế nào thích hợp với thiếu nhi theo”tiêu chí” hiện nay, công nhận rất khó, thơ vừa hay vừa thích hợp cho thiếu nhi càng khó vì ít quá.

Công nghệ phở: Góc nhìn kỹ sư

Đặng Đình Cung

Kỹ sư tư vấn

Tôi lưỡng lự trước quán ăn. Chủ quán mời tôi vào : " Nếu phở không ngon thì em đã không bán ". Tôi hỏi : " Thế nào là phở ngon và thế nào là phở không ngon ? " Chủ quán trả lời : " Nếu anh vừa lòng sau khi ăn thì gọi là ngon ".

Nếu món phở muốn được UNESCO công nhận là Di sản Ẩm thực Thế giới mà chỉ biết nói là ngon thì vẫn chưa đủ.

Tôi tra cụm từ " phở ngon " trên mạng Internet thì 0,29 giây sau được trả lời có khoảng 85.800.000 tài liệu nêu lên cụm từ ấy. Dù phải loại ra những trang quảng cáo và những trang chỉ cách nấu thì chắc cũng còn tới cả vạn bài suy tôn món phở. Đọc một vạn bài là một việc khó có thể thực hiện được, tôi đành viết một bản thông tri hỏi bạn bè vài bài đáng đọc. Chỉ chưa đầy vài giờ mà hộp thư điện tử đầy ắp những bài giới thiệu với lời dặn " chưa đọc thì chưa thể viết về Phở " (chữ P hoa do một ông bạn viết). Đọc chưa hết mà đã chỉ muốn chạy ngay ra quán gần nhà nhất để thỏa mãn cái nhu cầu thiết yếu cấp bách là ăn một bát phở.

Thứ Sáu, 28 tháng 11, 2014

ĐI VỀ NƠI HOANG DÃ (KỲ 7)

Tiểu thuyết

Nhật Tuấn

mười lăm

Suốt hai ngày liền, ông toán trưởng không bắt chúng tôi phát cây, không nói năng, chỉ lặng lẽ chờ đợi cái điều mà tôi biết nó chỉ tới qua cái máy VTĐ của ông. Thái độ thằng học giả cũng làm tôi ngạc nhiên, nó thôi không giở ra tập thư ngày ngày vẫn viết nữa, nó cứ lầm lì tha thẩn hết xó nhà này sang xó nhà khách như tìm kiếm cái gì đó và càng ngày càng tỏ ra lo lắng. Sau cùng nó thôi không tìm kiếm nữa, kéo tôi ra chỗ chỉ có hai đứa, thổ lộ:

Một cuộc gặp gỡ (Trích Chương II)

Milan Kundera

Nguyên Ngọc dịch

Tiểu thuyết, những cuộc thăm dò hiện sinh

Cái hài mà chẳng có hài

(Dostoïevki: Chàng Ngốc)

Từ điển định nghĩa cái cười là phản ứng “gây nên bởi một điều gì đó buồn cười hay hài”. Nhưng có đúng thế không? Từ cuốn Chàng Ngốc của Dostoïevski, có thể rút ra cả một tuyển tập những cái cười. Có điều lạ, những nhân vật cười nhiều nhất lại ít khiếu hài hước nhất, ngược lại đấy đúng là những người không hề có chút gì cái chất ấy. Một đám người trẻ tuổi bước ra từ một biệt thự thôn dã để dạo chơi; trong đám họ, ba cô gái “cười một cách hết sức khoái trá vì những câu chuyện phiếm của Evguéni Pavlovich cho đến cuối cùng anh chàng này ngờ rằng có thể thậm chí họ chẳng còn nghe anh ta nói gì”. Mối nghi ngờ ấy khiến anh đột nhiên cười phá lên. Một nhận xét tuyệt vời: trước tiên là một cái cười tập thể của các cô gái, trong khi cười, quên mất lý do khiến họ cười, và tiếp tục cười chẳng vì lý do gì cả; rồi đến cái cười (cái cười này rất hiếm, rất quý) của Evguéni Pavlovich nhận ra rằng cái cười của các cô gái chẳng có lý do hài hước nào hết và, trước cái hài mà chẳng có hài đó, anh phá lên cười.

Bản Lai Vô Nhất Vật...

Nguyên Giác

Tôi đã lớn lên cùng với những dòng Bát Nhã Tâm Kinh. Những lời sắc bất dị không đã nghe âm vang như tiếng mõ ban mai, như tiếng tim đập của những ngày vui và của những đêm buồn, như tiếng mưa rơi mái hiên trong những buổi chiều ngồi đọc thơ Nguyễn Du. Tương tự như thế, tôi cũng say mê Kinh Pháp Bảo Đàn, trong đó nhớ nhất là câu “bản lai vô nhất vật” -- trước giờ chưa từng có một vật -- những chữ này làm sáng rực những trang kinh, làm tràn ngập lòng tôi những niềm vui như trưa nắng sân chùa. Cho dù, thú thật, ngay cả từ thời thơ trẻ, hiểu chỉ lơ mơ, và tu chỉ dò dẫm.

Trong tận cùng, sau này tôi thấy, pháp Phật chỉ là “không để tâm dính vào bất kỳ một pháp nào,” nghĩa là, như Kinh Kim Cang nói, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

Tôi tin Đức Phật dạy thiên kinh vạn quyển, chỉ nhằm đưa chúng sanh qua bờ giải thoát. Và khi tới bờ bên kia xong, bè nào cũng nên buông bỏ -- dù là bè Có, hay bè Không. Nhưng thực sự, Kinh Phật đã dạy, hễ dính chặt vào bè nào, cũng không qua nổi bờ bên kia.

Thủ tục Khiếu nại của Hội đồng Nhân quyền LHQ

Vũ Quốc Dụng

Bài này tổng hợp những dữ kiện liên quan đến Thủ tục Khiếu nại của Hội đồng nhân quyền LHQ với mục đích giúp cho người đọc hiểu và dễ sử dụng thủ tục quan trọng này. Trước khi đi sâu vào chi tiết, người ta cần hiểu tinh thần của thủ tục này là nhằm giúp đỡ cho các nạn nhân trong sự hợp tác với quốc gia nơi xảy ra vụ vi phạm. Vì Hội đồng Nhân quyền LHQ không phải là toà án nên thủ tục này không thể gọi là một vụ kiện được. Các biện pháp đối phó mà Hội đồng Nhân quyền đưa ra không mang tính cách chế tài. Biện pháp nặng nhất là đưa vấn đề ra bàn luận trong một phiên họp công khai. 

Khi tuổi trẻ lên tiếng

Canh Co

Một cô gái trẻ, Võ Thị Mỹ Linh, sinh năm 1989 viết thư gửi Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo trình bày kinh nghiệm giảng dạy tiếng Anh của Nepal, đất nước mà cô có dịp du lịch bụi để tìm hiểu về con người, văn hóa cũng như cách mà họ dạy tiếng Anh trong nhà trường để bồi đắp kiến thức khá mỏng manh về tiếng Anh của cô.

Cô gái quan sát về sách giáo khoa dạy tiếng Anh của Nepal mà cô có dịp gần gũi để so sánh với sách giáo khoa tại Việt Nam được cô ghi lại qua bức thư như sau:

" Sách giáo khoa English của học sinh Nepal từ lớp 1 đến lớp 5:

Bài học đầu tiên của học sinh lớp 1 Nepal là chuyện chào hỏi. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 2 nói chuyện đi đến trường. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 3 kể lại nhật ký một ngày của cô bé Lilu. Bài học đầu tiên của học sinh lớp 4 dạy bạn phải biết Be careful với câu chuyện cậu bé Raj vừa đi vừa chơi game mà không để ý thấy cây cầu bị gãy.