Danh Ngôn

Tôi đồng ý với ông là có một giới quí tộc tự nhiên trong xã hội con người. Cơ sở của họ là đức hạnh và tài năng… [Nhưng] cũng có một giới quí tộc giả tạo đặt cơ sở trên tiền tài và gia thế, mà lại thiếu cả đức hạnh lẫn tài năng. .. Giới quí tộc giả tạo này là một thành phần quỉ quyệt trong chính quyền, và phải có biện pháp đề phòng để ngăn chặn thế lực của nó.

(I agree with you that there is a natural aristocracy among men. The grounds of this are virtue and talents… There is also an artificial aristocracy founded on wealth and birth, without either virtue or talents… The artificial aristocracy is a mischievous ingredient in government, and provision should be made to prevent its ascendancy.)

Thomas Jefferson (1743-1826), Tổng thống thứ ba của Mỹ. Thư viết cho John Adams, ngày 28 tháng Mười 1813

Các định chế quí tộc không thể tồn tại nếu không lấy sự bất bình đẳng của con người làm nguyên tắc cơ bản.

(Aristocratic institutions cannot exist without laying down the inequality of men as a fundamental principle.)

Alexis de Tocqueville (1805-1859), nhà ngoại giao, nhà nghiên cứu chính trị, sử gia Pháp. “Democracy in America,” 1.18, 1835, Henry Reeve và Francis Bowen dịch ra tiếng Anh, 1862

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thơ Federico Garcia Lorca (kỳ 2)

image

Tôi thấy được muộn phiền đêm thương tích,

đang đấu tranh quằn quại với buổi trưa.

Tôi chịu đựng hoàng hôn xanh màu rỉ độc.

(F.G.L.)

Ngu Yên

[Trích trong Tôi Học Được Bí mật Của U Sầu (Bộ 1) và Mộ Phần Tôi Ở Đâu (Bộ 2). Thơ Toàn Tập Federicco Garcia Lorca. Ngu Yên dịch liên văn bản.]


* * *

Để đọc thơ Siêu Thực, một loại thưởng ngoạn khác thường, đòi hỏi trí tuệ, kinh nghiệm, nhạy cảm và nhất là lòng đam mê hứng thú đọc thơ.

Thơ Siêu Thực kết tinh từ tưởng tượng của vô thức, hoặc từ giấc mơ, hoặc từ đê mê hoang tưởng khi bị ngoại lực kích thích như rượu mạnh, thuốc phiện, ma túy... Không phải là tưởng tượng của ý thức. Đối với tri thức, thơ Siêu Thực không có luận lý, không có liên kết, hầu hết là hỗn loạn và phi lý. Nhưng thực chất, thơ Siêu Thực có luận lý riêng của nó. Một loại luận lý của trực giác, của nhạy cảm từ kinh nghiệm, không tuân theo qui tắc hoặc tinh thần của nhận thức luận.

Ví dụ: Một người thức dậy nhớ về giấc mơ. Khó hiểu được những diễn biến vô lý hoặc ngạc nhiên đã xảy ra. Nhưng những hình ảnh và tứ mơ đó đã cho cảm xúc vui buồn, tham muốn, thất vọng, hạnh phúc... trong mơ giống như những cảm xúc lúc thức. Khi nhớ lại những gì đã xảy ra trong mơ, ý thức đôi lúc ngậm ngùi, đôi lúc buồn cười, đôi lúc tự nhận ra tư chất của chính bản thân. Những giấc mơ đặc biệt có thể cho ý thức của người mơ những suy tư hoặc thêm một kinh nghiệm so sánh về đời sống ảo và đời sống thật. Như tâm lý học đã xác nhận, có những giấc mơ chính thật là gương soi bản ngã. Chính vì tứ mơ hoặc tứ khích thích đến từ sâu thẳm, từ ám ảnh của con người, nó có luận lý liên quan đến những bí ẩn hoặc khó hiểu đó. Đọc thơ Siêu Thực là nghe người ngủ mơ kể lại tứ mơ một cách văn chương, một cách thẩm mỹ qua truyền đạt. Người đọc từ văn bản đi ngược vào tứ mơ, cảm nhận qua "loại luận lý vô thức" để khám phá ra những gì nhà thơ trình bày. Đôi khi không thể hiểu, không thể cảm. Thường khi không thể chia sẻ trọn vẹn. Mỗi người đọc cùng một bài thơ Siêu Thực sẽ có cảm nhận khác nhau, không thể so sánh hoặc lý luận.

"Ảo tượng là những gì có khuynh hướng trở thành sự thật." André Breton.

Người làm thơ Siêu Thực nhiều hoặc ít đều liên quan đến học thuật trong tuyên ngôn chủ nghĩa Siêu Thực của André Breton (1924). Ông trình bày hai điều chính yếu:

1- Chủ nghĩa Siêu Thực: Hoàn toàn là tác dụng tự động của tâm lý. Bằng cách nào đó, thể hiện, trình bày qua lời nói hoặc văn bản về chức năng thật sự của ý tưởng. Lúc ý tưởng này xuất hiện không có sự kiểm soát hoặc hướng dẩn của lý trí, vượt ra ngoài phạm vi thẩm mỹ và lý luận.

2- Chủ nghĩa Siêu Thực dựa trên niềm tin vào thực tế siêu việt trong một số hình thể hoặc trường hợp liên hệ với đời sống đã bị lãng quên. Rất nhiều lý do cá nhân và thầm kín đã chôn vùi những điều này. Rồi tái hiện trong giấc mơ hoặc vào những lúc vắng mặt của ý thức. Việc này dẫn đến sự hủy diệt vĩnh viễn các hệ thống tâm lý khác, và thay thế chúng để giải quyết những vấn đề chủ yếu trong cuộc sống. (Trích diễn từ Le Manifeste du Surréalisme. André Breton.)

Căn cước của thơ Siêu Thực là mới lạ và gây kinh ngạc nhưng không gây kinh hoàng. Thơ Siêu Thực của Lorca cũng không ngoại lệ. Có những đoạn thơ hoàn toàn để người đọc thất lạc. Khi kinh nghiệm và khả năng nhạy cảm của người đọc không thể bắt tay hoặc tự tạo ra một luận lý khả thể chia sẻ với tứ thơ, người đọc mất dần cảm xúc và thú vị để tiếp tục.

Thơ Siêu Thực có khuynh hướng xô đẩy người đọc ra khỏi phạm vi thoải mái, quen thuộc của thưởng ngoạn. Nói một cách khác là mất đi sự liên lạc của luận lý từ kinh nghiệm sống.

Bất kỳ là ai, từ thời triết gia Plato đã xác định, là con vật có lý trí, có suy luận, có hiểu biết. Hiểu biết có thể mạch lạc, có thể ứng dụng là do luận lý. Nhận thức luận là một cơ sở lớn và cần thiết cho những ai quan tâm về hiệu năng trí tuệ. Thói quen của con người trong xã hội và cuộc sống là tự giải thích mọi sự việc xảy ra chung quanh hoặc trong nội tâm. Lý luận là phương tiện duy nhất mà con người có thể lập luận để tự giải thích. Dòng luận lý này tự động luân lưu không ngừng nghỉ trong mỗi người cho đến lúc chết. Dòng luận lý đi từ ý thức đến vô thức rồi trở lại ý thức. Nó tuần hoàn tạo thành sinh mệnh của con người. Khi dòng luận lý này bị đứt đoạn, hoặc bị mù mờ, lập tức một động lực nghi vấn xuất hiện với chức năng cố gắng giải thích những gì vô nghiã đến một mức độ có thể chấp nhận, nếu không thể hiểu được hoặc cảm nhận hài lòng. Thơ Siêu Thực là động cơ làm đứt đoạn hoặc hỏa mù dòng luận lý trong lúc đọc thơ.

[...]

Vợ tôi có chiếc lưỡi của người đâm dao găm

chiếc lưỡi của búp bê biết mở và nhắm mắt

chiếc lưỡi của tảng đá không thể tin cậy

[...]

Vợ tôi có tình dục với rong biển và thịt ngon thời cổ đại

Vợ tôi có tình dục với gương soi

Vợ tôi có đôi mắt đẫm lệ

đôi mắt của bộ giáp tím và cây kim nam châm

Vợ tôi có đôi mắt địa chất xám

Vợ tôi có đôi mắt đầu nước cho người tù uống say

[...]

(André Breton trích trong A Bilingual Anthology of Comtemporary French Poetry của Nina Parish, Emma Wagstaff, Enitharmon Press, 2017.)

Những hình ảnh và tứ thơ hoàn toàn không tạo được ý nghĩa theo dòng luận lý với kinh nghiệm bình thường. Khả năng giải thích của người đọc sẽ xuất hiện để đưa đến một mức độ giá trị hiểu biết nào đó. Nếu không thể giải thích, khả năng đó sẽ tự phê phán và để lại thêm một kinh nghiệm không tốt về Siêu Thực và về tác giả của bài thơ.

Học thuật sáng tác thơ Siêu Thực chủ yếu là ghi nhận trung thực những hình ảnh, tứ thơ đến từ vô thức trong cảm xúc. Sự ghi nhận trung thực này sẽ tự động mang theo những kinh nghiệm cơ sở của hình ảnh và ý tưởng. Cùng một lúc, mang theo luận lý vô thức đã kết thành tứ thơ. Dù phải sửa chữa lại như một nhánh sáng tác Siêu Thực chủ trương, cũng không thể sửa đổi sự trung thực này. Đây là mối liên lạc duy nhất mà tác giả có thể đưa người đọc cảm nhận hoặc tự giải mã những phi lý của tâm cảm siêu việt.

Thơ Siêu Thực đạt đến giá trị cao với những tài năng thi ca như: Louis Aragon, Antonin Artaud, René Crevel, Robert Desnos, Paul Éluard, Michel Leiris, Benjamin Péret, André Breton.... và nhiều thi sĩ khác trên thế giới. Giai đoạn cuối của chủ nghĩa Siêu Thực vào sau thế chiến thứ hai. Từ lúc này, chủ nghĩa Siêu Thực bắt đầu bị pha loãng vào nhũng học thuyết và học thuật mới của thời kỳ Hậu Hiện Đại và lan tràn vào thi ca thế giới bằng khuynh hướng siêu thực.

Thơ Tuyển Của Lorca

1. Thơ Ấu Của Em

Ở Menton

Vâng, thơ ấu em bây giờ là truyền thuyết con suối.

Xe lửa và đàn bà tràn ngập trời.

Cô đơn em lẩn trốn trong khách sạn

mặt nạ tinh thuần em mang mật hiệu khác nhau.

Là thơ ấu của đại dương và im lặng

nơi cánh cửa trí tuệ bị vỡ tan.

Là em khờ khạo thiếu hiểu biết nơi thân tôi lửa đốt.

Tôi trao em, đàn ông Appolo, tiêu chuẩn tình yêu,

đang than khóc với sơn ca mê muội,

nhưng, đồng cỏ hoang phế, em vẫn lưỡng lự mài giấc mơ phù du.

Dù trước mắt, ánh sáng hôm qua, báo hiệu chuyện sẽ xảy đến.

Lưng eo em bằng cát không ngừng biểu lộ những dấu tích không thể leo lên.

Nhưng vắng em, linh hồn sôi nổi, trở thành khó hiểu,

Tôi phải tìm trong mọi góc với nỗi đau Appolo đã ngưng

những gì dùng tháo bỏ mặt nạ em đang sử dụng.

Kìa, sư tử, kìa, giận dữ đất trời,

Tôi cho em lớn lên trên môi má.

Kìa, con ngựa buồn của tôi điên rồ,

nhịp đập tinh vân và kim đồng hồ chỉ phút,

tôi phải tìm sỏi đá bò cạp

và áo thời thơ ấu của mẹ em,

than khóc giữa đêm và vải rách

lau ánh trăng trên bàn thờ kẻ qua đời.

Vâng, thơ ấu em bây giờ là truyền thuyết con suối.

Linh hồn lạ thường trong huyết mạch trống không,

phải tìm em, bé bỏng và không gốc rễ.

Tình vĩnh cửu, tình ơi, tình không thể muôn đời!

Ô, vâng, tôi khát tình. Tình ơi! Cho phép tôi

đừng bịt miệng,

em tìm kiếm hạt mầm từ Thổ tinh trong bãi tuyết,

hoặc thú vật thiến ở thiên đàng,

phòng cứu thương và rừng giải phẫu.

Tình, tình, tình ơi. Thơ ấu của đại dương.

vắng em, linh hồn sôi nổi, trở nên khó hiểu

Tình, tình ơi, chim bồ câu bay

qua đôi vú trắng ngần vô tận.

Thơ ấu em, tình ơi, thơ ấu em.

Xe lửa và đàn bà khắp trời tràn ngập.

Không phải em, không phải tôi, không phải gió, không phải lá cây.

Vâng, thơ ấu em bây giờ là truyền thuyết con suối.

Liên văn bản:

Your Childhood in Menton (Liam Walke,) Your Childhood in Menton (Sweatshirt Poesy.) Your Infancy in Menton (Pablo Medina & Mark Statman.)

Tu Infancia en Menton.

Sí, tu niñez ya fábula de fuentes.

El tren y la mujer que llena el cielo.

Tu soledad esquiva en los hoteles

y tu máscara pura de otro signo.

Es la niñez del mar y tu silencio

donde los sabios vidrios se quebraban.

Es tu yerta ignorancia donde estuvo

mi torso limitado por el fuego.

Norma de amor te di, hombre de Apolo,

llanto con ruiseñor enajenado,

pero, pasto de ruina, te afilabas

para los breves sueños indecisos.

Pensamiento de enfrente, luz de ayer,

índices y señales del acaso.

Tu cintura de arena sin sosiego

atiende sólo rastros que no escalan.

Pero yo he de buscar por los rincones

tu alma tibia sin ti que no te entiende,

con el dolor de Apolo detenido

con que he roto la máscara que llevas.

Allí, león, allí, furia del cielo,

te dejaré pacer en mis mejillas;

allí, caballo azul de mi locura,

pulso de nebulosa y minutero,

he de buscar las piedras de alacranes

y los vestidos de tu madre niña,

llanto de medianoche y paño roto

que quitó luna de la sien del muerto.

Sí, tu niñez ya fábula de fuentes.

Alma extraña de mi hueco de venas,

te he de buscar pequeña y sin raíces.

¡Amor de siempre, amor, amor de nunca!

¡Oh, sí! Yo quiero. ¡Amor, amor! Dejadme.

No me tapen la boca los que buscan

espigas de Saturno por la nieve

o castran animales por un cielo,

clínica y selva de la anatomía.

Amor, amor, amor. Niñez del mar.

Tu alma tibia sin ti que no te entiende.

Amor, amor, un vuelo de la corza

por el pecho sin fin de la blancura.

Y tu niñez, amor, y tu niñez.

El tren y la mujer que llena el cielo.

Ni tú, ni yo, ni el aire, ni las hojas.

Sí, tu niñez ya fábula de fuentes.

2. Nghĩ Về Thơ

Trong Khi Dịch Bài Thơ

Tôi tìm thấy bài thơ Iglesia Abanodana của Lorca trong nguyên bản và một số bản dịch sát, rất khó hiểu, vì chất giọng Siêu Thực đậm sắc.

Duy có bản dịch Anh ngữ của Torre A. DeVito cho bài thơ một cách nhìn, một lối giải thích dễ hiểu hơn.

Tôi dịch bài thơ, so sánh những liên bản của Pablo Medina và Mark Statman, của Ben Belitt với bản gốc, để bạn đọc có thể đối diện với những hình ảnh, tứ thơ Siêu Thực. Nhất là cách diễn đạt “phi luận lý” trong căn cước của “luận lý siêu thực.”

[…]

Tôi vỗ lên quan tài. Con ơi! Con ơi! Con ơi!

Kéo ra chiếc chân gà sau lưng mặt trăng

và hiểu được con gái tôi là cá

đã biến theo chiếc xe bán hàng.

Tôi có cô con gái.

Có con cá chết trong bình tro.

[…]

Tôi cũng dịch bản của Torre A. DeVito, “Abandoned Church,” để chúng ta chia sẻ ý nghĩa giải thích của riêng ông. Và để bạn đọc so sánh những tứ thơ về phương diện “luận lý thơ.”

[…]

Tôi vỗ lên quan tài thằng con

rút ra xương gà suốt mùa trăng rằm để cố hiểu

Tôi thấy được con trai tôi là cá

mất tích theo chuyến xe bán hàng.

Tôi có thằng con nhỏ, một con cá chết

trong tro tàn đốt từ cây nhang.

[…]

Nói một cách khác, ông giải thích bài thơ của Lorca theo một lập luận riêng, chặt chẽ hơn, dễ hiểu hơn, nhưng không chắc đúng hơn với ý nghĩa bản chính.

Ví dụ này đưa đến ít khái niệm:

1- Một bài thơ gốc có nhiều bản dịch khác nhau, khó phê phán đúng sai, hay dở. Chỉ có thể đặt lòng tin cậy vào dịch giả.

2- Bằng một cách riêng, dịch giả giải thích bài thơ. Kết quả tùy vào dịch giả đứng ở vị trí nào trong cõi thi ca, hoặc yêu chuộng thể loại, phong cách nào của thơ.

3- Đáng quan tâm là mục đích của dịch giả. Dịch thơ để làm gì? Mỗi mục đích có khả năng đưa ra mỗi hình thể và sắc thái văn bản.

4- “Luận lý của mỗi bài thơ” là con đường dẫn người đọc “thám hiểm” chiều sâu của thơ. Nếu bài thơ không có chiều sâu, không cần phải thám hiểm. Nếu có chiều sâu, làm sao để người đọc tiếp xúc thơ bên trong ngôn từ và ý tứ?

Quan điểm cần được minh bạch là “Luận lý thơ.” Bản sắc của bài thơ không cần luận lý, hiểu theo nghĩa được sử dụng bình thường trong cuộc sống, hoặc hiểu theo nghĩa triết học và toán học.

Thơ có luận lý riêng của nó. Thể hiện từ cách bình thường cho đến chỗ cao kỳ phi luận lý. Ở mặt ngoài, nó thuộc về liên tưởng, so sánh. Cưu mang bên trong là kinh nghiệm và trực giác hiểu biết.

Luận lý này gói ghém trong ý, ảnh, và tứ thơ, trình bày qua hình thái và ngôn ngữ. Luận lý này phát động từ mức độ cảm xúc, trước khi lý trí dự phần. Luận lý này thành công khi nghệ thuật diễn đạt càng hay, càng lạ, càng đáo để, càng gây thích thú, càng gây kinh ngạc, càng gây thán phục, càng tạo hấp lực thẩm mỹ, vì chưa nghe ai nói kiểu lạ thường, hoặc thâm sâu như vậy.

5- Thơ hôm nay không có tên gọi. Siêu Thực hoặc Huyền Ảo, Hiện Sinh hoặc Hậu Hiện Đại. Thơ vượt qua tên gọi, nhưng cưu mang những tinh túy của tất cả hài cốt đã chôn vào nghĩa địa lịch sử thơ.

Thơ nguyên bản, thực chất, chỉ là một. Nhưng thơ là sản phẩm của người và phục vụ cho người. Vì vậy, thơ mang nhịp sống thời đang sáng tác và có bản chất, mục đích giúp tâm trí thỏa thuận với đời sống, cho dù ở trong khuynh hướng chống đối.

Thơ trong đời sống hôm nay, tầm thường đối với đám đông, giải trí đối với một số người, có giá trị đặc thù đối với ít người. Tự bản thân, thơ không có nghĩa vụ gì với con người. Nhưng người nào có mục đích thâm trầm trong đời sống, nhưng không muốn suy tư kịch liệt như triết học, có nghĩa vụ khám phá thơ cho cảm thức thẩm thấu về sinh tồn.

Rốt ráo, làm thơ và đọc thơ, thơ sáng tác hoặc thơ dịch, không chỉ để giải trí, mà để tìm vài mảnh nhỏ của chất sống cô đặc trong thơ.