Danh Ngôn

Trong giáo dục không có gì kinh hoàng bằng mức độ dốt nát mà nó tích lũy lâu dài dưới dạng những kiến thức xơ cứng.

Nothing in education is so astonishing as the amount of ignorance it accumulates in the form of inert facts.

Henry Adams (1838-1913). The Education of Henry Adams, 25, 1907

Một chút học vấn ít ỏi, thật ra, có thể là một điều nguy hiểm, nhưng thiếu học vấn [giáo dục] là một đại họa cho bất cứ một dân tộc nào.

A little learning, indeed, may be a dangerous thing, but the want of learning is a calamity to any people.

Frederick Douglass, diễn văn đọc ở lễ ra trường tại Trường Trung học Da màu, Baltimore, Maryland, 22 tháng Sáu 1894

Người tự do không thể làm một người dốt nát lâu dài. (The free man cannot be long an ignorant man.

William McKinley, diễn văn đọc tại Pittsburgh, Pennsylvania, 3 tháng Mười Một 1897

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Văn học miền Nam 54-75 (326): Nhã Ca (17)

Giải khăn sô cho Huế (kỳ 4)

Chương 3
Những mảnh vụn góp nhặt
Sau một đêm hò hét, phẫn nộ, rực lửa, bóng tối cũng tan dần. Trời vừa hé sáng thì những tiếng súng cũng im bặt.
Mặt trời như đã nổ tan tành từ bao giờ. Ánh sáng của ngày hắt hiu, buồn thảm. Buổi sáng nay thức dậy không nghe tiếng gà gáy, không có tiếng chim kêu, không có tiếng chuông chùa và tiếng chuông nhà thờ, cả tiếng gà vịt cũng không nữa.
Bầu trời như muốn ứa nước. Những khu vườn bỗng tiêu điều u ám lạ, cỏ đẫm sương mai bị dẫm nát tan tành, vung vãi những giẻ rách, mảnh đạn và vết máu. Vết máu kéo lê mặt đường, nối dài từ khu vườn này sang khu vườn khác. Một vài vũng máu còn đọng trước sân, bên bể cạn, cạnh gốc mai vàng ngập ngừng e ngại vì màu sắc quá tươi tắn.
Cùng với ánh sáng nhạt nhẽo vừa ló dạng, trên các nẻo đường, bỗng xuất hiện vô số người, đàn ông có đàn bà có. Đàn ông mặc quần áo ka ki, quần dài quần ngắn có, đàn bà mặc bà ba đen, tóc bím nhưng không thả lỏng mà cột lên cao, gọn ghẽ. Họ cầm súng, mặt mày nặng chình chịch nhìn nhau. Những tốp khác gác ở các đầu đường, trước nhiều nhà, hoặc nằm ngồi la liệt ở các khu vườn. Có rất nhiều xác chết và người bị thương ở đầu dốc, hai ba xác nằm sõng soài, ở giữa đường vài xác nằm sấp. Bên cạnh một tốp gác ở đầu cầu có vài xác cụt đầu và những tay, những khúc chân vương vãi. Bên vệ đường, một số người bị thương đang nằm rên la, một số đàn ông đàn bà đang khiêng từng người vào một khu vườn gần đó. Khu vườn bao bọc một ngôi nhà lớn, nhưng như không có dấu vết gì của người sống trong đó nữa.


Một thiếu nữ có đôi mắt sắc, đeo súng A.K. đi ra giữa đường, cô ta đưa tay lên miệng nói lớn:
“Các đồng chí, hãy tải thương bớt vào vườn này, còn bao nhiêu xác chết dồn lại một nơi.”
Cô ta lập đi lập lại hai ba lần. Tiếng cô là tiếng động đầu tiên trong buổi sáng. Giọng nói lớn của cô như rung vỡ nhiều cánh cửa và tràn vào bên trong những căn nhà đang đóng kín. Tiếng của cô gái cũng làm những tiếng rên la cất to hơn.
Lớp người bị thương được khiêng đi rất lâu. Một toán người khác từ dưới dốc đi lên, một toán khác từ trên dốc núi đi xuống, người thiếu nữ lúc nãy hỏi, giọng vẫn rổn rảng:
“Sao, báo cáo tình hình các nơi, các đồng chí!”
“Hoàn toàn xong hết. Địch câm họng từ lúc bốn giờ sáng.”
“Tôi sẽ phụ trách về những người bị thương. Số đồng chí hy sinh giao cho đồng chí X10.”
“Trên đó khoảng gần 100 đồng chí bị thương.”
“Đem lên phía chùa trên dốc.”
“Phía dưới cầu có khoảng trên năm chục người bị thương, số hy sinh nhiều hơn.”
“Đem vào vườn, sẽ tìm địa điểm di tản sau.”
“Có tin nữa.”
“G?”
“B3 truyền lệnh các đồng chí chia nhau vào các nhà, đừng để đồng bào bỏ chạy gây phiền phức. Ngay sáng hôm nay phải vãn hồi trật tự.”
Nhiều tiếng nói: Tuân lệnh. Những tốp người chia nhau đi. Phút chốc đoàn người thưa hẳn, chỉ còn vài tốp gác ở ngả đường. Một anh lính trẻ vác khẩu A.K. đưa tay quệt trán, mặc dù lúc đó trán anh ta không có giọt mồ hôi nào. Đợi cho các đồng chí bạn đi khuất, anh rẽ vào căn nhà đằng trước mặt. Con ngõ dẫn vào nhà khá xa. Khu vườn âm u bao kín ngôi nhà ngói cổ kính. Anh lính trẻ ngập ngừng rồi đưa tay gõ cửa. Nhưng gõ một hồi không thấy gì, anh bỏ đi ra. Quái, rõ ràng nhà này có người ở mà. Anh lẩm bẩm. Anh đi qua khoảng sân rộng, đứng lại bên chiếc bể cạn cạnh gốc mai vàng. Nhà nào cũng có cái bể cạn, hòn non bộ và cây mai vàng y hệt nhau. Anh nhìn kỹ trên mặt đất. Có nhiều vết máu nối nhau chạy dài ra một góc vườn nơi phía bụi tre. Anh giơ một cánh tay lên rung nhẹ một cành mai. Anh nhìn vào ngôi nhà một lúc, rồi anh thở nhẹ bỏ đi ra, lại dựa lưng vào cột trụ đầu cổng hờm súng đứng gác.
Một lát sau, trong nhà có tiếng chân nhẹ đi ra cửa. Bên trong căn nhà còn tối mờ. Bóng một người đàn ông thận trọng dò từng bước một. Anh ta tiến đến nơi cái sập gỗ. Một xác người đang nằm đắp chiếu ở đó. Anh giở chiếu lên gọi nhỏ:
“Ông nội, ông nội.”
Một người đàn bà nữa đi ra đứng sau lưng người đàn ông. Người đàn ông đưa tay vuốt mắt ông già đang mở trừng trừng, rồi nói với người đàn bà:
“Ông đi rồi.”
Người đàn bà bước lùi một bước rồi òa khóc. Nhưng rồi chợt nhớ ra, bà đưa tay tự bịt kín miệng mình lại, hai mắt bà ta cũng mở trừng trừng nhìn người đàn ông, vẻ hốt hoảng mê sảng. Người đàn ông đưa tay lên quệt nước mắt rồi cũng bịt chặt miệng mình lại. Cả hai đi vào căn phòng nhỏ phía trong. Có tiếng thì thầm trong bóng tối nhạt mờ, nhiều đầu người nằm ngồi lổm chổm:
“Răng con, ngoài yên chưa?”
“Suỵt. Hỏi dỏ hỏ, không nghe nó vừa gõ cửa đó răng!”
“Con, ôn con ra răng rồi?”
Người đàn ông kéo người đàn bà ngồi xuống:
“Mình ngồi xuống đi, đừng có đứng nữa.”
Người đàn ông cũng ngồi xuống cạnh vợ. Giọng anh ta nghẹn ngào:
“Mạ, ông đi rồi.”
Nhiều tiếng khóc muốn bật ra rồi gượng lại kịp. Tiếng thút thít của người lớn rồi trẻ con tấm tức. Người đàn ông lại đứng dậy:
“Thôi đừng khóc. Họ nghe họ vô chừ. Mạ, mạ đừng có khóc.”
Nhưng nói xong người đàn ông cũng nấc lên một tiếng nhỏ. Anh ta đi ra ngoài nhà, anh dòm qua khe cửa. Một tốp đàn ông đàn bà đang đi vào trong sân. Anh ta nhè nhẹ trở đi vô. Căn nhà hoàn toàn im lặng.
Tiếng gõ cửa nổi lên ban đầu còn thưa, rồi trở nên cấp bách. Có giọng đàn ông người miệt ngoài cất lên:
“Mở cửa, mở cửa, quân giải phóng đến.”
Bên trong căn phòng nhỏ, người đàn bà cầm chặt lấy tay người đàn ông. Bàn tay của người mẹ bịt chặt miệng đứa cháu, sợ nó la khóc. Tiếng đập cửa bên ngoài mạnh hơn:
“Mở cửa. Mở cửa không chúng tôi bắn.”
Có tiếng người đàn ông trẻ tuổi:
“Hồi nãy tôi gõ mãi mà không có ai. Chắc họ chạy hết rồi.”
“Vô lý, đêm mà chạy đi đâu. Chưa ai chạy khỏi nhà hết.”
Rồi một giọng khác dõng dạc:
“Tôi đếm từ một tới ba mà không mở cửa là tôi bắn. Có ai trong nhà không? Một…”
Người đàn bà xô người đàn ông ra cửa, chị lẩy bẩy thế nào mà gây một tiếng động nhỏ. Bên ngoài có tiếng cười gằn rồi tiếng hô tiếp:
“Hai.”
Người đàn ông đã ra tới cửa, anh giơ hai tay lên khỏi đầu:
“Dạ lạy các ông, lạy các ông tui mở, dạ để tui mở…”
“À, biết ngay mà. Mở cửa.”
Người đàn ông lẩy bẩy một lúc mới mở được cánh cửa. Toán người ùa vào nhà. Họ có khoảng chừng mười người, kẻ vác súng trường người xách bị rết. Người đàn ông lớn tuổi nhất, có đôi mắt thật to nhưng vẻ mặt xanh xao, nhìn một lượt khắp nhà:
“Các đồng chí canh gác cửa ngõ.”
Vài người đi vào các phía cửa sổ. Người đàn ông chủ nhà mặt tái xanh tay chân run cầm cập nói không ra tiếng:
“Lạy các ông chúng tôi là người lương thiện.”
“Hừ, tại sao gọi cửa hoài không mở hả. Mở đường cho ngụy chạy phải không?”
“Lạy các ông, con sợ quá.”
“Không có các ông nào ở đây hết. Chúng tôi là quân giải phóng.”
“Dạ.”
“Có bao nhiêu người trong nhà gọi ra hết đi. Mau.”
Rồi ông quay đi:
“Các đồng chí. Mở cửa sổ ra.”
Ánh sáng lùa vào căn phòng, soi rõ khuôn mặt của ông già nằm trên sập gụ. Chiếc chiếu đã được mở ra từ trước, tấm chăn đắp trên người ông loang đầy máu, đã sệt khô. Người đàn ông lớn tuổi bước tới một bước nhìn vào mặt người chết, rồi la ồ lên một tiếng:
“Ông chết rồi hả!”
“Dạ.”
“Bị tự bao giờ?”
“Dạ thưa ông… ông giải phóng, dạ bị tự lúc một giờ sáng, máu ra nhiều quá.”
“Các đồng chí cho đem xác ra ngoài vườn giùm đi.”
Mấy người đàn ông định xúm tới. Người đàn bà run lập cập:
“Lạy các ông, dạ lạy các ông giải phóng, dạ để chúng con xin được chôn cất.”
“Để đó.”
Mấy người đang đi đến tấm sập gụ dừng lại. Người đàn ông lừ mắt vào phòng trong:
“Gọi hết cả nhà ra đây. Đi ra hết. Ai còn ở trong chúng tôi bắn.”
Mấy đứa trẻ con ra trước rồi một người đàn bà đứng tuổi, mấy cô con gái, một chị đàn bà bế đứa con nhỏ. Mặt người nào người đó tái xanh. Người đàn ông lớn tuổi nạt:
“Đứng cả vào một góc nhà.”
Cả nhà líu ríu đứng về phía sập gụ, bên cạnh xác chết của ông già. Có tiếng động nhỏ phía trong. Người đàn ông lớn tuổi lắng tai nghe. Một nữ cán bộ dợm tới một bước, chĩa súng vào căn phòng nhỏ:
“Ai trong đó xin mời ra.”
Bên trong vẫn im như tờ. Nhưng người đàn ông lớn tuổi đã lừ mắt ra hiệu.
Hai ba người khác bước tới. Cánh cửa phía bên buồng trong bỗng bật mở sáng. Một bóng người lao ra ngoài. Một tiếng chóc khô, lạnh, vang lên. Có tiếng kêu ở bên ngoài cửa sổ và tiếng rú của mấy người đàn bà. Người đàn ông đứng tuổi lại cười gằn:
“Coi lục soát kỹ nhà này.”
“Tuân lệnh.”
Mọi người chia nhau đi lục soát, người đàn bà già và thiếu phụ bồng con ôm mặt khóc nức nở. Mấy cô gái mặt tái xanh, cắt không còn hột máu. Người đàn ông ôm chặt một đứa nhỏ đang đu lên người ông. Đám người lục soát một hồi trở ra, một người nói:
“Không có gì nữa cả.”
Người đàn ông đứng tuổi hất hàm:
“Ra coi tên đó chết chưa!”
“Dạ, đã xem, chết rồi.”
Nhiều tiếng khóc cùng bật lên một lúc. Mấy cô nữ cán bộ xúm lại, vẻ hung hăng lúc đầu biến mất. Một cô làm thân với thiếu phụ:
“Chị đừng buồn, đừng sợ. Chúng tôi chỉ xử những người có tội, còn những người dân thì chúng tôi có bổn phận phải bảo vệ.”
Thiếu phụ chùi nước mắt:
“Nó là em tui mà. Nó có tội tình chi mô.”
“Tại anh ấy bỏ chạy. Trong hoàn cảnh chúng tôi, chúng tôi phải tự vệ.”
Người đàn ông đứng tuổi nhìn một lượt những khuôn mặt đang run rẩy, tái xanh. Giọng hắn chầm chậm, đều đều:
“Mẹ và chị đừng sợ. Chúng tôi đến đây là để giải phóng cho đồng bào…”
Người thiếu phụ đang khóc bỗng nín bặt, ngơ ngác. Mấy đứa con gái nép sát vào nhau. Có tiếng chân người chạy từ ngoài cổng vào. Hai giải phóng quân khác đi vào. Họ có quàng khăn xanh ở cổ, người đàn ông đứng tuổi hỏi:
“Có chuyện gì vậy?”
Một người nói nho nhỏ vào tai người đàn ông lớn tuổi. Hắn gật gật đầu, quay lại nói với các nữ cán bộ và mấy người giải phóng:
“Các đồng chí ở lại đây. Còn tôi với đồng chí Thu đi lên xóm Chùa.”
Tiếng chân đi ra cổng. Một nữ cán bộ giơ tay:
“Các đồng chí, chúng ta ở lại đây, sửa soạn cơm nước rồi phụ bạn tải thương, tiếp vận.”
“Đồng chí Xuân nói phải. Lát nữa chắc có tiếp vận tới.”
Người nữ cán bộ mang tên Xuân mỉm cười, vỗ vai thiếu phụ thân mật nói:
“Bây giờ để tôi nhờ các đồng chí phụ với ông nhà lo chôn hai xác chết. Thưa chị, đây là…”
Xuân chỉ vào xác chết ông già. Người mẹ vội vã trả lời thay con dâu:
“Dạ thưa cô, đây là ông nội của tụi nó.”
Người nữ cán bộ xua tay:
“Chết, mẹ giải phóng, con xin mẹ đừng gọi con là cô. Con xin được làm con mẹ như các chị các anh ở đây.”
Cô nói xong quay lại đồng bạn:
“Bây giờ nhờ đồng chí Tiến, đồng chí Bình lo chôn giùm hai xác người, cụ và anh đang ở ngoài vườn.”
Rồi đổi khuôn mặt buồn rầu, người nữ cán bộ tên Xuân quay lại phía gia chủ:
“Thật đáng tiếc, trường hợp ngoài ý muốn, xin chia buồn với mẹ và các anh các chị.”
Người đàn ông quay mặt đi giấu hai giọt lệ đang lăn xuống. Xác chết của ông già và người thanh niên được bó trong hai chiếc chiếu rồi đem vùi nông ở góc vườn. Một lát sau, mấy cô nữ cán bộ làm thân với mấy cô gái, các người lính giải phóng thì chia nhau gác góc vườn và lo đi liên lạc, Xuân nói với người đàn bà già:
“Thưa mẹ, nhà ta còn gạo không?”
Bà già thật thà:
“Gạo còn hai bao. Tết mà cô. Còn cả bánh tét và mứt nữa cô.”
“Ấy, xin mẹ đừng gọi con bằng cô nữa. Mẹ gọi con là con như gọi các anh các chị đây.”
Cô lại cười, nói tiếp:
“Có lẽ vài ba bữa nữa bộ đội mới tiếp lương thực tới. Mẹ cho chúng con vay hai tạ gạo. Vài ba hôm lấy xong thành phố Huế, Bác Hồ vào thăm, con sẽ thưa trường hợp của mẹ. Bây giờ xin mẹ ký vào cuốn sổ vàng của Bác Hồ.”
Cô quay lại gọi:
“Đồng chí Nữ đâu, đem sổ ra đây.”
Người nữ cán bộ tên Nữ là một cô gái mập mạp, nhưng nước da vẫn tái xanh, cô ta nhanh nhẩu rút trong áo ra một cuốn tập, chìa tới bên bà già:
“Thưa mẹ đây, xin mẹ ký.”
Người đàn bà già run run:
“Dạ tui có biết chữ chi mô mà ký.”
Cô gái lại cười, hỏi mấy cô gái Huế đang đứng dồn với nhau một góc.
“Thôi các chị biên tên rồi ký giùm. À mà để tôi biên tên cho cũng được…”
“Dạ thưa mẹ, mẹ tên chi. Dạ xong rồi. Xin chị ký.”
Cô gái nhỏ run run viết một chữ ký nguệch ngoạc lên trang giấy. Nữ đưa cuốn sổ cho Xuân. Người đàn bà lặng lẽ chùi nước mắt. Mấy cô gái vẫn đứng dồn một góc, nắm chặt tay nhau, trong lúc cô nữ cán bộ tên Xuân cười:
“Trưa nay chúng ta ăn mừng chiến thắng.”
Những mảnh mặt trời vỡ vụn đang dần dần tụ lại, vẫn dật dờ lẩn khuất bên trên bầu trời đầy mây mù và gió lạnh.
Những đốm máu cùng sương vương trên cỏ đã khô để lại những vết tím bầm. Trong những khu vườn nhiều dấu đất mới. Tất cả những người bị thương đều được khiêng lên một ngôi chùa và các nữ cứu thương đang trổ tài băng bó. Vẻ vui tươi buổi sáng biến mất trên khuôn mặt họ; những đồng chí giải phóng đi đi lại lại gác các đầu đường hoặc chia nhau tràn vào các nhà dân.
Nơi ngã ba, trong một quán nhỏ bỏ trống, mấy người đàn ông bị thương nhẹ đang ngồi rờ rịt vết thương. Anh lính trẻ tên Thu đang bồng súng đứng gác ở góc đường. Cạnh đám cỏ anh ngồi, một vũng máu của ai đã khô, mấy con ruồi xanh bay vật vờ, thỉnh thoảng vài con chờn vờn trước mũi anh, muốn bám vào mặt anh, anh đưa tay xua với dáng điệu hết sức lơ đãng.
Một vài nhà, cửa mở toang, người ta thấy các anh giải phóng, các cô cán bộ đi vào. Thỉnh thoảng có một vài đứa nhỏ chạy ra sân, tức thì có một người lớn chạy ra bế bổng đứa bé lên hốt hoảng chạy vào nhà, mất hút. Không khí hoàn toàn yên tĩnh. Vừa mới đêm qua, tiếng súng xé màn trời, rung đổ nhà cửa, bây giờ tất cả sự ồn ào đó đã lẩn mất cùng bóng đêm, để lại một mặt trời vỡ với những kinh hoàng còn bám chặt trên mặt đất đầy máu, trên những cành cây gãy đổ, trên những ngọn lá xanh rụng đầy vườn.
Tất cả mọi nhà, mọi người đều ngồi chụm vào một đám. Họ e dè nhìn những anh lính miền Bắc mà họ được phép gọi là quân giải phóng, đi lui đi tới, nét mặt đôi khi phấn khởi đôi khi nghiêm nghị bí ẩn. Họ không dám trả lời một câu hỏi nào của đám người lạ mặt.
Dân trong xóm cũng ngạc nhiên không ít khi thấy vài người láng giềng mới hôm qua còn chúc tết nhau, sáng nay đã thấy họ cầm súng trong tay, cũng quấn khăn xanh khăn đỏ nơi cổ và nhìn họ bằng ánh mắt đe dọa, kiêu ngạo. Những người này công khai đi thăm hàng xóm. Một ông thợ lò rèn mới tối qua say rượu lè nhè chửi nhau với mấy cô gánh nước ngoài giếng, nay cũng xách súng đi thăm từng nhà. Gặp ai anh cũng nở nụ cười thật tươi, huênh hoang nói:
“Đồng bào yên chí đi, bà con yên chí đi. Vài ba hôm nữa cụ Hồ vô, tha hồ mà liên hoan.”
“Bác không biết đó chớ. Tui theo quân giải phóng lâu rồi. Tui nằm vùng mà.”
Mọi người nhìn anh ta với khuôn mặt xanh lè. Ai cũng sợ, thường ngày anh chỉ là thợ rèn hiền lành, chiều chiều say rượu hay nói bậy, gây gổ với trẻ con, với các cô ở đi gánh nước. Nhưng biết đâu anh không chuốc oán mua hờn với nhiều người trong xóm. Mấy đứa con trai con của một bà bán thịt heo ở chợ cũng nô nức xách súng theo giải phóng.
Một ông già ăn mày thường ngày ngồi trước mấy quán nước, hôm nay mặt mày cũng rạng rỡ hẳn, ông ta đi khắp các nhà tuyên truyền ầm ĩ:
“Quân giải phóng tới rồi nghe, rồi đây mình sướng lắm. Tui nói thiệt chớ ai làm cái chi ở đây mà tui không biết.”
Câu nói như một lời đe dọa, người ta đưa mắt nhìn nhau, vẻ lo lắng buồn rầu không thể nào che dấu được nữa.
Đến khoảng trưa thì quân giải phóng đến thúc mọi người ra hết ở ngoài sân. Họ kêu gọi những thanh niên đi tải đạn, những thanh nữ đi tải thương. Mười lăm tuổi trở lên là phải đi hết, chỉ các bà mẹ mà họ gọi là mẹ giải phóng, các sản phụ, các bà mang thai mà họ gọi là chị giải phóng, thì ở nhà giúp đỡ các anh giải phóng cơm nước. Một số người bị thương chịu không nổi đau đớn đã trút hơi thở. Nhưng quân giải phóng không đem chôn trong vườn nữa, họ chở đi theo với đoàn bị thương lên miệt trên. Đó là những con đường dẫn lên Tây Thiên, lên dòng Thiên An, lên các lăng tẩm. Giữa trưa, những ngôi nhà buồn tẻ im lặng cũng có hơi khói, dấu hiệu của buổi cơm.
Nhiều tiếng khóc bật lên thảm thiết. Trong nhiều ngôi nhà cũng có nhiều người dân chết vì vết thương không đủ thuốc thang băng bó. Người lính trẻ tuổi đang gác ở ngã ba lắng tai nghe rồi châm một điếu thuốc hút. Mấy người trong quán hỏi vọng ra:
“Ai khóc ở đâu vậy?”
“Trong mấy nhà kia kìa.”
“Chắc có người chết!”
“Dân mà, quân mình chở đi hết rồi.”
Anh ta lại nhìn vào một ngôi nhà nằm khuất trong một vườn cây, hỏi:
“Biết đây là gì không?”
“Nhà thờ cụ Phan đó.”
“Một vị anh hùng, một người cách mạng hả?”
“Ừ.”
Người trong quán hỏi tiếp:
“Lấy xong mấy đồn chưa?”
“Chưa có tin gì hết.”
Người lính trẻ lại im lặng. Tiếng khóc trong nhiều căn nhà nổi lên, anh ta châm một điếu thuốc nữa rồi cau mày. Anh ngập ngừng rồi mạnh dạn đi vào một nhà gần nhất.
Đó là một ngôi nhà tranh nằm ngay mặt đường gần ngã ba nơi anh lính đứng gác. Anh ghé cửa nhìn vào, bên trong ngôi nhà, giữa bộ ván gỗ, một xác chết nằm ngửa, cả một gia đình bu quanh kêu khóc. Một bà già, một người đàn bà bế đứa con và hai đứa trẻ đang xúm quanh xác chết: Con ơi là con ơi, anh ơi là anh ơi. Ba ơi là ba, ba ơi. Tiếng người mẹ, người vợ, tiếng những đứa con thơ làm não ruột người nghe. Anh lính Bắc Việt tần ngần đưa tay đập nhẹ cửa.
Cánh cửa không đóng, anh chỉ mới đưa tay gõ đã tự động đẩy ra. Luôn đà anh đi thẳng vào nhà. Hai người đàn bà hốt hoảng nhìn ra, mấy đứa trẻ con nín khóc. Anh đi tới gần nhìn xác chết, không phải một mà là hai xác chết. Phía trong xác của người đàn ông còn xác một đứa trẻ khoảng lên ba, mặt mày tím bầm và còn dính đầy máu. Người đàn bà già chen tới trước mặt anh như che chở cho mấy xác chết, đôi mắt bà nhìn người lính giải phóng với vẻ van nài cầu khẩn:
“Ông ơi, chết hết rồi, không còn ai nữa mà bắt đi.”
Bà chỉ vào người đàn bà đang bế đứa nhỏ:
“Con nó một nách ba đứa con dại, ông tha cho mẹ con tui…”
Người đàn bà già nói xong bật khóc, cô con dâu và mấy đứa nhỏ lại khóc theo. Người lính nhìn quanh gian nhà, đồ đạc thật nghèo nàn, ở giữa nhà kê bộ ngựa gõ, bên chái trên là bộ bàn ghế, đằng sau bộ bàn ghế là một bàn thờ nhỏ, phía bên trái kê chiếc giường tre. Trên bàn thờ còn nguyên mấy đòn bánh tét, mấy đĩa mứt bánh. Trên chiếc bàn gỗ phủ mảnh vải ny lông hoa hòe còn chiếc bình bông cắm một cành mai vàng. Mấy cái tách, mấy cái ly úp trên một cái khay bằng nhôm. Anh dịu giọng hỏi bà già:
“Nhà này của mẹ?”
“Dạ, còn đây là con cháu tui.”
Bà chỉ cả người chết lẫn người sống. Người lính Bắc Việt mở cái khăn quàng cổ của mình đắp lên mặt người đàn ông, rồi rút khăn mùi xoa lau bớt máu dính đặc trên mặt đứa bé. Anh kéo cái chăn đắp kín mặt mày thằng nhỏ. Vừa lúc đó có tiếng động dưới bếp, tiếng đập cửa rồi một khuôn mặt đàn bà đầu rối bù ló lên:
“Bà Bổng ơi, có chút dầu mô cho tui một chút. Có chút thuốc đỏ cho tui một chút. Nó sắp chết rồi bà Bổng ơi.”
Người đàn bà lật đật đi lên nhà, thấy hai xác chết nằm sõng sượt trên ván gỗ, bà ta lùi lại:
“Ối trời ơi, mần răng ri nì. Mần răng ri nì trời.”
Bà đưa mắt nhìn khắp mặt mọi người, đến khi chạm phải anh lính giải phóng. Bà đưa tay lên miệng, khuôn mặt đã tái xanh bây giờ xám ngoét.
Bà già xô vai chị đàn bà:
“Chị Trùm đi về đi. Đừng có chạy qua chạy lại nữa.”
Người đàn bà tên Trùm run lẩy bẩy:
“Bà Bổng làm ơn làm phước cho tui xin chút thuốc rịt vết thương cho con Bê, máu ra nhiều quá, nó xỉu rồi.”
“Con Bê há? Nó bị thương?”
“Nó bị thương hồi gần sáng. Trời đất quỷ thần ôi, khổ cho gia đình tui, hồi trước tới chừ ăn ở có răng mô mà trời bắt tan tành như ri rứa trời.”
Rồi nhìn hai xác chết, bà gượng lại:
“Trời đất hỡi, còn thằng Tanh với thằng cu em răng mà ra thân thể ri nì trời!”
Nghe tiếng than của người hàng xóm, người vợ bật khóc nấc lên, bà già bế lấy đứa cháu trên tay con dâu, cũng mếu máo:
“Thôi con ơi, đi ra mà nấu chén cơm, đặt bát nhang lên cho tụi nó, răng mà khổ ri trời, nhang tàn khói lạnh…”
“Ai bắn ai giết nó đó?”
“Biết mô mà lần, chị Trùm ơi, chỉ biết là con mình, cháu mình chết.”
Chị Trùm nhìn người lính giải phóng và chợt nhớ là mình vừa nói một câu hớ có thể nguy hiểm, chị nín thinh. Nhưng người lính vẫn lơ đãng nhìn về phía bàn thờ. Những chân nhang đã tàn, hai ngọn nến cháy gần lụi được thổi tắt từ lúc nào. Một lát, thấy người đàn bà lật đật đi xuống bếp, anh nói theo:
“Có ai bị thương đem qua bên chùa, quân cứu thương băng bó cho.”
“Có, tui đã đem qua rồi, họ nói thuốc chưa đủ cho quân giải phóng.”
Chị đàn bà đã khuất sau bếp. Tiếng chân đi vòng ra phía hẻm… Người lính giải phóng nhìn xác chết một lần nữa rồi nói với bà già:
“Thôi mẹ, mẹ đừng khóc nữa, phải có người hy sinh cho chúng ta chiến thắng.”
Người đàn bà già không hiểu. Người vợ đưa tay quệt nước mắt:
“Trời ơi là trời, mạ con tui biết sống với ai ri nì trời.”
Có tiếng súng nổ, chỉ một tiếng một rồi nín hẳn. Anh lính giải phóng chạy ra ngã ba nhìn ngơ ngác. Một anh lính giải phóng đang gác trước một cửa nhà cách chừng mười thước giơ tay chỉ vào một bụi cây bên đường. Người lính trẻ nhìn theo một thanh niên đang cố bò ra mặt đường, anh ta đã trúng đạn, máu lết từng vệt dài trên mặt đất. Người lính trẻ chạy lại. Bàn tay người thanh niên đưa ra muốn được nâng đỡ nhưng anh cũng không còn đủ sức nữa, cánh tay rơi bịch xuống đất, miệng anh mấp máy một hai câu gì đó rồi anh nằm lật ngửa, bất động. Người lính giải phóng đứng sững lại. Tiếng người bạn đằng xa hỏi:
“Chết rồi hả?”
Người lính trẻ gật đầu. Anh ta đưa tay lên cổ như muốn sờ vào chiếc khăn, anh ta đụng vào cổ áo và cầm chặt lại. Phía đằng sau lưng có hai chị nữ cán bộ đi tới, thấy anh đang đứng như trời trồng, họ cười phá ra:
“Đồng chí Thu làm gì đứng đó. Chỗ anh đứng gác đằng ngã ba kia mà. Thôi ráng gác đi, có lẽ tối nay bộ đội mình rút lên phía núi.”
Một cô nhìn xác chết:
“Sao vậy? Ai bắn đó? Đồng chí hả?”
“Không.”
Người bạn đứng đằng kia la lớn:
“Nó muốn chạy trốn, thấy nó lui cui sau bụi cây, tôi nổ súng đó.”
Một cô nhìn xác chết, cười khinh bỉ:
“Thứ này béo tốt dữ, ăn bơ sữa của Mỹ đây mà.”
Người lính trẻ đưa hai bàn tay của anh ra nhìn, anh đi trở lại chỗ gác của mình. Trong một căn nhà khác lại có tiếng kêu khóc:
“Cứu tôi với, bớ làng nước ơi, con tui, con tui…”
Chắc lại có một người nữa vừa mới chết. Mấy cái đầu thò ra:
“Đằng nhà đó có chuyện gì vậy?”
“Người chết.”
“Mấy người?’
Anh đưa hai ngón tay làm dấu, rồi chợt nhớ ra, anh lật đật đưa thêm một ngón nữa. Trong quán có tiếng nói lớn:
“Vào đây ăn bánh chưng. Bánh chưng Huế đây. Đồng chí nào ra thay dùm đồng chí Thu.”
Anh lính trẻ lắc đầu nói:
“Thôi khỏi.”
Có tiếng chân chạy, phía xác chết đang nằm tênh hênh bên đường có hai ba người chạy tới, toàn đàn bà và con nít:
“Con ôi là con ôi, đi ra mần chi cho họ bắn chết con ôi.” Giọng người mẹ kêu la thảm thiết. Anh lính giải phóng đi tới hỏi:
“Con bà?”
“Dạ, con tui.”
“Tại sao không ở nhà mà đi ra đường làm gì giờ này?”
“Con em gái nó bị thương, nó đi kiếm đọt lá chuối về rịt.”
“Thế à!”
Người lính đi về chỗ. Mấy người đàn bà, mấy đứa con nít xúm lại ôm xác người thanh niên đi khuất vào một ngõ nhỏ. Người bạn đứng gác đằng kia bước lại gần phía anh lính tên Thu:
“Đồng chí cần phải đề cao cảnh giác. Cấp trên ra lệnh không được lân la nói chuyện bừa bãi, tụi nó đều là tay sai Mỹ ngụy hết.”
Cả hai người đều trở lại vị trí cũ. Phía dưới cầu, một đoàn người đi lên, họ đang tải thương. Mấy cô gái Huế còn nhỏ mặt mũi xanh lè đằng sau là mấy anh giải phóng và mấy cô nữ cán bộ. Họ đi thật nhanh, mặt lầm lỳ. Các cô gái Huế hiện rõ vẻ sợ hãi và mệt đừ, những người nằm trên băng ca máu me đầy mình. Anh lính trẻ đi ra phía đường nhìn từng khuôn mặt người bị thương đi qua. Đến người cuối cùng anh ta níu cáng lại:
“Mịch.”
Người thanh niên ở trên băng ca bằng vải trắng mở đôi mắt lờ đờ nhìn mặt người gọi. Người lính tên Thu cúi xuống:
“Mày bị rồi.”
Người bị thương nhếch môi đau đớn:
“Chắc tao không sống nổi. Thu có về Bắc được nhớ cho thầy me tao biết.”
Anh ra dấu cho bạn tháo cái giây bạc đeo ở cổ, thều thào:
“Nhớ đưa cho đẻ tôi. Thu.”
Thu vội buông tay bạn. Cô nữ cán bộ trong đội cứu thương đã lên tiếng gọi hai cô gái Huế ỳ ạch khiêng chiếc băng ca lật đật đi lên. Người bị thương cố nhướng mắt nhìn bạn và cố đưa bàn tay lên vẫy mà không còn đủ sức nữa.
Anh lính tên Thu sững sờ nhìn bạn bị khiêng đi xa dần. Tay anh còn cầm chặt sợi dây bằng bạc. Mịch. Anh gọi lớn. Nhưng chiếc băng ca đã khiêng đi xa, còn lại một tay, anh đưa tay dụi mắt mình mà như là vuốt mắt cho bạn. Phía dưới cầu lại một tốp khác đi lên, họ cũng tải thương. Anh vẫn cầm chặt sợi dây bạc trong tay, sững sờ nhìn từng chiếc băng ca khiêng qua mặt mình. Nhưng anh không nhìn từng người bị thương nữa.
Ngang qua mũi súng của anh, mấy cô gái Huế càng bước mau, như sợ vô tình một viên đạn có thể bay ra ghim vào người mình. Anh ta để cho mũi súng chúc xuống đất. Trong một cánh cửa sổ từ một ngôi nhà phía ngã ba, nằm trong một khu đất rộng và trong cây cối, anh ta bắt gặp một đôi mắt thập thò nhìn. Anh không dám nhìn lại, sợ đôi mắt đó sẽ biến đi. Đó là đôi mắt của một cô gái nhỏ khoảng mười lăm mười sáu tuổi. Phía sau lưng cô gái có một bàn tay chộp lấy vai áo:
“Đừng có nhìn mà.”
Một người đàn bà khoảng ba mươi tuổi kéo tuột cô gái vào, giọng thì thầm:
“Đừng có ngó. Tụi nó vừa bắn chết một người gần ngã ba a tề.”
Cô gái rụt đầu… le lưỡi:
“Chị, có một tên Việt cộng đẹp trai ghê đi chị. Nó gác ở ngã ba đó tề.”
Người đàn bà lôi tuột cô em nhỏ vào trong mắng:
“Nói tào lao. Đi vô.”
Cô gái nhỏ đi vào. Người đàn bà bế xốc đứa bé gái đang đứng ở cửa buồng, nói vọng vào trong:
“Mệ, từ rạng sáng tới chừ chở nhiều xác chết, nhiều người bị thương quá mệ ơi.”
Tiếng người đàn bà già run run:
“Nhỏ nhỏ cái miệng, vô trong ni mà nói.”
Cả nhà xúm vào buồng. Thiếu phụ nói nhỏ vào tai bà già:
“Chắc họ sắp rút lên trên tê hết rồi.”
“Tao cũng mong rứa.”
“Hồi hôm họ chết nhiều rứa thê mệ.”
“Chắc sáng quân đội mình đã lên rồi, chắc họ chuẩn bị rút lui rồi đó hỉ?”
“Chắc rứa.”
“Răng ôn mi chưa thấy lên?”
“Kẹt dưới đó rồi.”
Cô gái lại bỏ đi ra ngoài. Bên trong người đàn bà nói giọng thiệt nhỏ:
“Đừng cho thằng Hợi nó xuống. Chút nữa mệ lấy cơm vắt lên cho nó ăn không nó xỉu.”
“Khi hồi có mấy tên đi vô nhà, cứ ngó lên trần, tao sợ bắt chết.”
Bên ngoài, nơi cô gái nhỏ nhìn ra, anh lính Bắc Việt còn đang đứng nhìn theo mấy cô nữ cán bộ tập xe đạp, đẩy xe Honda. Các cô bím tóc, quần xắn đến quá đầu gối.
Cô gái nhỏ nhìn hai cô đẩy theo một cô ngồi trên xe tuy có hai người giữ hai bên mà chiếc ghi đông vẫn quẹo qua quẹo lại.
Mấy cô cười đùa thiệt vui nhưng anh lính trẻ không cười. Mặt anh lầm lầm lì lì nhìn xuống con dốc đang có mấy người đàn bà chạy ra đường kêu cứu:
“Cứu con tui với, bớ làng nước ơi. Cứu chồng tui cứu cha tui.”
Mấy cô nữ cán bộ lướt qua mặt anh, cười cười nói nói:
“Trong này nhiều xe quá, thắng lợi rồi mình có xe đi.”
Một cô nói lớn:
“Đồng chí Thu tích cực quá hỉ!”
Cô ta nhại giọng Huế rất khó nghe. Anh lính trẻ cau mày. Anh liếc vô trong căn nhà trước mặt. Cô gái nhỏ vội thụt đầu vào. Không hiểu bực tức hay buồn bã chuyện gì, anh ta đưa súng lên nhắm thân cây trước mặt như muốn bắn. Không có tiếng đạn nổ. Mấy cô nữ cán bộ cười xòa, thoáng cái họ đã xuống tới lưng chừng dốc.
Một con chó mình mẩy dính máu khô từ trong một bụi cây lết ra, anh lính giải phóng lượm một hòn đá ném mạnh. Còn chó còn đủ sức để chạy bằng ba chân, nhưng chỉ được một quãng, nó bò lết rồi nằm bẹp một chỗ. Anh lính đi tới gần đưa súng lên đầu con vật nhắm bắn, nhưng cũng không tiếng nổ, con chó le lưỡi, miệng đầy nước dãi, mắt ngước nhìn người đứng trước mặt, ánh mắt con vật làm người lính vội quay đi, rồi trở về chỗ cũ. Mấy cô nữ cán bộ đã vòng trở lên, ngang qua mặt anh, mấy cô vẫn ỳ ạch đẩy và người nữ cán bộ ngồi trên xe trán đã lấm tấm mồ hôi nhưng khuôn mặt lại hết sức tươi tắn.
Chưa bao giờ thành phố Huế sống trong một không khí đầy chết chóc, hoang mang như thế. Tất cả những xác chết cũng như những cán binh bị thương đều đã được đưa lên ngả núi. Nhưng trong mỗi xóm, cứ vài giờ là có một vài người bị thương không được đầy đủ thuốc men ngã ra chết. Từ sáng tới chiều, tiếng khóc bật lên từ nhà này tới nhà nọ. Tiếng khóc như một bệnh dịch truyền nhiễm rất nhanh. Bên cạnh những sự chết chóc đau buồn, còn phải nhắc tới cái bệnh dịch hân hoan của các anh giải phóng. Buổi sáng họ còn e dè với người dân, nhưng tới trưa tới chiều, một nội lệnh được truyền tai rất nhanh, họ thay đổi thái độ thành những chiến sĩ rất nhũn nhặn thương dân sống hòa hợp với dân dễ dàng. Những bao gạo từ trong các ngôi nhà cùng với bánh tét bánh chưng, mứt bánh đầy ứ trong mấy ngày tết được mang ra sân chất lên những chuyến xe vận tải để chở lên miệt trên, mà theo các anh giải phóng thì họ mượn tạm cho quân đội giải phóng. Vài hôm nữa, khi ổn định xong thành phố, gạo sẽ rẻ vô cùng, không có cắt cổ như Mỹ ngụy mà bán một bao tới mấy nghìn đồng. Họ cũng hô hào nhà ai có “cờ ba que” (cờ ba que là cờ VN màu vàng có ba sọc đỏ) thì phải đem ra đốt đi để thay bằng lá cờ giải phóng, cờ bác Hồ. Những ai còn gạo, còn bánh thì phải đem ra trình với quân giải phóng, họ làm những cuốn sổ ghi tài sản của dân để vài hôm nữa, khi cụ Hồ vào sẽ đền ơn xứng đáng. Họ cũng kêu gọi những thanh niên đừng lẩn trốn mà phải ra trình diện để nhận lãnh sự khoan hồng. Mấy nhà hòm nên hy sinh giúp đồng bào hoạn nạn lo chôn cất những người dân bị chết, nhưng tất cả những khu vực đều không được đi. Trong mỗi vườn nhà đều chôn mộ người thân. Họ cũng đề cao cảnh giác, dân chúng không được ra đường, không được tụ họp trừ khi được giấy của quân giải phóng mời đi học tập. Suốt ngày những cô cán bộ lân la vào nhà này nhà nọ hỏi thăm tình cảnh của dân, làm thân với các bà, các cô, các anh các chị. Những bà già mới nhìn họ như nhìn những vị hung thần, bây giờ họ phong lên làm mẹ giải phóng, các thiếu phụ được làm chị giải phóng. Những người lớn tuổi đều tiếp đón họ bằng ánh mắt nghi ngờ, đề phòng nhưng trẻ con thì có vẻ khoái lắm. Chỉ mới từ sáng tới chiều, chúng đã tụ xung quanh các cô nữ cán bộ, các anh bộ đội. Chúng vui thích theo dõi các cuộc tập xe đạp của các cô nữ cán bộ hoặc chúng bu quanh các anh giải phóng. Nhà nào cũng có quân giải phóng tới thăm hỏi, họ nấu cơm hay ăn uống ngay trong nhà. Các cô gái khỏe mạnh được mượn đi nấu cơm cho bộ đội. Những thanh niên, những cậu trai mười bốn mười lăm được mượn đi tải súng đạn, hoặc được phát súng, được chia toán để giúp các anh bộ đội sắp tổ chức những buổi học tập. Mới ngày đầu, nhiều thanh niên đàn ông trốn chui nhủi trong xó buồng, trên trần nhà. Nhưng tới ngày thứ hai, nhiều người nghe các anh giải phóng kêu gọi đã ra trình diện: Ai ở nhà đó, chúng tôi không bao giờ dám động tới một người dân, chúng tôi là bạn dân mà. Đó là câu nói thuộc lòng của mấy anh giải phóng. Mặc dù các khu vực đều cấm liên lạc với nhau, mấy nhà chung quanh chỉ được hỏi han dăm ba điều mà có nhiều tin đồn lắm. Chẳng hạn như buổi trưa ngày thứ hai, nhiều người được tin là chiếc xe sang trọng nhất của cố vấn Mỹ ở Huế bị trưng dụng, một cấp chỉ huy của Việt cộng đã lái đi khắp thành phố. Một tin khác lại nói rằng nhiều xe nhà binh do các anh giải phóng lái chở đầy nhóc bánh chưng bánh tét và gạo chạy qua các ngả đường. Các anh lính giải phóng vui vẻ hơn, họ hỏi han dân, và khi có người đàn bà nào nhắc tới những tin đồn thì họ cười tin tưởng:
“Quân giải phóng đã chiếm được Huế, bây giờ cố giữ để vãn hồi trật tự, chờ cho các tỉnh đánh xong là hòa bình.”
Nhiều người ngơ ngác vì sự phát giác trên. Họ nghe ra dô nhưng nhà nào có ra dô đều bị các anh giải phóng trưng dụng hết. Họ tịch thu và nói rằng, trong lúc này, đồng bào chỉ nên nghe lời của quân giải phóng, có thể Mỹ ngụy tung những tin sai lầm làm dân chúng hoang mang. Nhiều người dấu được ra dô nhưng không dám mở ra nghe nữa. Những nhà có người thân chết đã tìm ra được vải để chít khăn tang, một vài nhà có mùi hương khói bay ra trước con mắt nhìn hết sức dửng dưng của các cán bộ giải phóng. Họ ăn uống thả cửa. Ngày tết gia đình nào cũng dự trữ đủ thức ăn. Nhưng qua ngày thứ hai thứ ba hết thịt, một vài nhà lén làm thịt heo thịt gà, quân giải phóng len lỏi tìm kiếm được mua lại của dân bằng một giá rẻ mạt. Rồi họ tổ chức tập họp vào ngày thứ ba. Buổi sáng cho thanh nữ, buổi chiều cho thanh niên. Đồng thời họ rút quân tập trung vào một vài nơi, tạm rời nhà dân chúng, nhưng lúc nào các cán bộ cũng len lỏi từng nhà lấy cớ là đi thăm hỏi.
Buổi học đầu tiên được tổ chức trong một ngôi chùa rộng, hoặc các trường học. Người ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy xóm này xuất hiện một người đại diện cho dân, rồi xóm khác một người đại diện. Những người này mới hôm qua là anh đạp xích lô hay ông già say rượu sống lây lất đầu xóm. Dân chúng cũng không khỏi ngạc nhiên khi thấy tiếng cười vang ở một vài người mới mấy hôm trước có vẻ lù đù nhất, bây giờ trở thành những nhân vật hết sức kích động, họ đi lối xóm hô hào, tuyên truyền cho quân giải phóng.
Ngay chiều thứ hai, mồng ba tết, có một vài vùng đã được chứng kiến cảnh xử tội. Một vài nhân vật trong xóm bị bắt kết tội là theo quân Mỹ ngụy. Họ bị đưa vào một trường học, các thanh niên nam nữ được nhóm lại. Những bộ mặt quen thuộc nằm vùng là người đủ thẩm quyền kể ra nhiều tội trạng của bị cáo nhất. Những bản án được kết thúc vội vàng. Nhiều kẻ bị dẫn đi, rồi ngay buổi chiều hôm đó nhiều tin đồn có người đã bị xử tử. Mọi người chưa tỉnh hồn bởi một đêm mồng một súng nổ ghê hồn, một buổi sáng mở mắt dậy thấy đầy máu me xác chết, thì đã bắt đầu lo sợ vì những cuộc tìm bắt xử án của quân giải phóng. Mặc dù ngoài mặt họ tỏ ra rất tử tế với dân chúng, nhưng đồng thời những vụ bắt bớ, xử tội đã bắt đầu; trường học, nơi của trẻ thơ, chùa chiền nhà thờ, nơi của đạo giáo, bỗng trở thành nơi hội họp, nơi tòa án nhân dân thành lập.
Thỉnh thoảng có vài tiếng súng lẻ tẻ hoặc một tràng. Mọi người như những con chim bị thương vội vàng nằm xuống đất, kẻ chui tọt dưới gầm bàn, gầm phản. Trẻ con cũng đã quen với không khí căng thẳng sợ hãi, đã nhìn thấy máu me chết chóc, hễ cứ nghe thấy tiếng súng là không cần đợi ai nhắc nhủ, cứ chạy tìm ôm chặt người lớn, hoặc sát mặt xuống nền đất. Nhưng tiếng súng chỉ lẻ tẻ rồi im lặng kéo dài, không có gì thêm ngoài tiếng cười nói của các anh giải phóng ở ngoài đường ngoài tiệm.
Đêm đến, trong bầu không khí im lặng đến ngộp thở, người ta nghe tiếng cú rúc. Tiếng cú rúc đầy khắp thành phố. Người ta hồ nghi, giữa bom đạn, giữa không khí sặc mùi tử khí hôi hám, lũ cú dám mò về làm náo loạn cả thành phố đang tê liệt. Tiếng cú hay tiếng người làm mật hiệu rú trong đêm? Người ta nín thở và chờ đợi, không biết chờ đợi cái gì sẽ đến, nhưng linh tính sẽ còn nhiều điều xui xẻo, tang thương. Những người chồng bỗng nhìn vợ trìu mến hơn, những bà mẹ ôm con thơ như sợ chúng sắp biến mất. Cỏ cây, nhà cửa, người, súc vật bỗng như cảm thấy một sự gần gụi khó tả.
Người ta không thể biết thêm gì ngoài những tin tức do các nữ cán bộ, những anh giải phóng tuyên truyền. Trong những buổi họp, nhiều cụ già lên tường trình về những tin tức. Những cô gái đi họp về kể lại rằng một ông già bán cháo lòng được bầu lên làm chủ tịch buổi học tập, mở đầu buổi họp, ông thường lên nói về tình hình chiến cuộc trong nước. Đã dốt chữ lại không quen nói, ông thường gọi trật tên các đài phát thanh và dùng sai danh từ nhưng chả ai dám sửa đổi hoặc cười. Ông bàn về tin tức chiến sự và luôn luôn mở đầu bằng câu: Theo đài a, bê, xê thì quân giải phóng đã chiếm được Sài Gòn và các thành phố, các tỉnh khác. Quân giải phóng hoàn toàn làm chủ tình thế. Buổi họp nào ông cũng nhai đi nhai lại câu đó. Các cậu sinh viên bấm nhau. Các thiếu nữ nhìn nhau ngẩn ngơ. Bình thường chả mấy khi được nghe một câu chọc cười đã như thế, nhưng lúc này chả ai còn dám cười được nữa. Những buổi họp gần như bị bắt buộc nhưng họ vẫn rỉ tai nhau, làm thế nào để những thanh niên, đàn ông tránh mặt bớt, đừng để cho các anh cán bộ nhìn thấy.
Đến chiều ngày thứ hai thì không khí hân hoan của các đồng chí giải phóng bớt sôi nổi. Sau khi một ông thợ may bị tình nghi là liên lạc viên của Mỹ ngụy bị giết, xác vất ở một ngã ba, sau khi hai thanh niên trong một cái hầm nhỏ bị bắn vì mang tội trốn tránh quân giải phóng, các nữ cán bộ đã rút hẳn vào những địa điểm được chỉ định sẵn, không lui tới thăm viếng thường trực các nhà dân nữa. Cho đến hôm đó tiếng súng lẻ tẻ bắt đầu nổ ở các miệt xa, về hữu ngạn.
Các anh giải phóng nói với nhau là xe tăng của Mỹ có lên thám thính miệt quốc lộ, có thể xảy ra ác chiến. Nhưng nguồn tin đó không chắc chắn gì, ở một vài vùng đã có các anh giải phóng đi rao:
“Các thanh niên, đàn ông lo chuẩn bị mười lăm ngày gạo để đi dự một lớp học về đường lối của quân giải phóng.”
Họ đào hầm, hố cá nhân, tải vũ khí. Không khí căng thẳng hẳn lên. Ngoài đường, trong vườn, ở các đầu hẻm vang tiếng xẻng cuốc của các anh giải phóng đào hầm.
Thanh niên, đàn ông bắt đầu tìm chỗ trốn. Từ các cánh cửa sổ hé mở, những khuôn mặt già trẻ ló ra nhìn những anh giải phóng đào hầm, mày mặt lầm lì, không ai dám hỏi thăm vui vẻ như mấy giờ qua nữa.
Đến đêm thứ ba thì cả thành phố bỗng bật dậy vì hỏa châu, vì đại bác. Các anh bộ đội, các cô nữ cán bộ không còn thấy ở đâu nữa, họ như bóng ma lẩn vào đêm tối. Người ta chỉ nghe thấy tiếng kêu khóc quen thuộc của đêm mồng một tái hiện. Chưa ai kịp đào hầm để tránh bom, đêm hôm đó các miệt Từ Đàm, Thành Nội, Gia Hội, Kim Long là những miệt ăn chịu đại bác nặng nề nhất.
Buổi sáng hôm sau, người ta vội vã đào hầm. Hầm đào ngay trong sân, trong vườn, hoặc đào ngay trong nhà. Các anh giải phóng chỉ còn gác lẻ tẻ ở các góc đường. Dân chúng tràn ra đường, hỏi thăm nhà này nhà nọ. Có vài gia đình lục đục đi tản cư, nhưng các anh giải phóng đứng gác các ngả đường ra hiệu không cho ai được đi hết. Người ta đào hầm vội vàng, tất cả các cửa sổ, cổng sắt đều được dỡ xuống để làm hầm. Có nhà không đủ vật liệu, họ ra trại mộc, hoặc chặt tre.
Vài trại mộc chỉ thoáng cái là không còn một tấm ván. Hết ván, người ta bê cả hòm, nắp hòm về để chống đỡ nắp hầm bằng đất. Có nhà đào được hầm rồi cả nhà xuống núp thấy chật chội quá lại phá ra làm lại. Đến trưa thì đại bác lại câu lên, đang ăn cơm có kẻ bỏ cả cơm nước chui xuống hầm. Các anh giải phóng chui xuống hố cá nhân. Họ không ở trong nhà dân nữa, nhưng khi có tiếng súng, họ ở đâu không biết, tràn vào các vườn, các đường, đen kín các hố cá nhân.
Khi tiếng súng tạm dừng, cảnh đào hầm lại tái diễn. Vài đám cãi nhau chửi nhau vì tranh nhau ván ở trại mộc hoặc đất cát. Cuộc pháo kích bất thình lình làm một số dân chúng và một số quân giải phóng chết hay bị thương. Họ lại vào từng nhà bắt thanh niên thanh nữ đi tải lên miệt núi. Người ta nhốn nháo đồn đại với nhau là họ đặt bộ chỉ huy trên đó. Về phía bên tả ngạn, bộ chỉ huy đặt ở phường Gia Hội. Ở vùng này hoạt động hăng hơn, mặc dù đại bác câu lên đều, họ vẫn tổ chức những buổi họp, học tập. Trong thành nội, quân giải phóng hoàn toàn chiếm hết. Có những cán bộ nằm vùng, những thanh niên mất tích từ lâu, bỗng thấy xuất hiện. Họ đeo băng, họ cầm đầu, họ đi lùng từng nhà hỏi tội. Vài cuộc rượt bắt, vài người bị bắn gục ngã giữa đường, xác người để đó không ai dám đem đi chôn, có xác đã bắt đầu có mùi, máu khô đọng, sặc mùi tanh và ruồi nhặng bu đầy, trông hết sức kinh khủng.
Bắt đầu những ngày Huế mở cửa địa ngục.

Chương 4
Qua một chuyến đò
Tôi góp nhặt được nhiều mảnh chuyện vụn vặt, mỗi người kể mỗi khác nhau về mấy ngày đầu tiên quân giải phóng đến Huế. Góp một ít khi ở nhà thờ, một ít khi vừa mới tới cung An Ðịnh. Tưởng đến cung An Ðịnh thì đoạn đường gian nan đã bớt một nửa, vì khi vừa đặt chân tới đó, tôi đã nghe nhiều người kháo nhau:
"Có máy bay của quân đội mình rồi. Họ kêu gọi dân chúng cố di chuyển về hữu ngạn."
"Hữu ngạn là đây nì."
"Nghe nói bên mình cho máy bay lên thám thính bị chúng bắn lên như mưa, máy bay phải bay cao tít."
"Mà thiệt chị có nghe trên máy bay người ta kêu rứa không?"
"Nghe chớ. Bà con không thấy đó răng, người ta chạy rần rần về phía hữu ngạn hết nì. Các vùng khác kẹt lắm. Phía trên Phủ Cam, Bến Ngự, Từ Ðàm, không ai về được hết."
"Qua cầu Tràng Tiền được không?"
"Mô được, họ đóng đầy ở nhà dây thép mà."
Mỗi người mỗi chuyện, tôi lơ mơ biết được tình hình chung của thành phố. Tôi nói với má tôi, chú tôi là mình ở phía hữu ngạn chắc yên rồi. Nhưng khi tìm được chỗ ngồi, chưa kịp dỡ vắt cơm mang từ nhà qua, thì súng lại nổ, chúng tôi lọt vào giữa trận chiến. Trong lúc tôi nằm xuống chân bàn, đầy hơi người hơi chó và chờ chết. Tôi nghĩ là chắc chắn chết, căn nhà lầu sẽ bị sập, sẽ chôn vùi chúng tôi trong đám gạch vụn, thì bỗng tiếng súng im rơ một vài phút. Sống rồi. Một tiếng nào kêu lớn trong đầu tôi, dội ngược ra và mở mắt nhìn từng người chung quanh. Họ ngồi rột dậy ngơ ngác, bụi cát còn bay mù mịt, các cửa kính vỡ chưa hết rung. Nhìn lên chiếc sập "ngài ngự" thấy còn lại cơi trầu bằng đồng chạm rồng phượng và cái chăn nhiều màu. Ngài đã được cõng đi rồi. Không biết có sống thoát được không! Chưa kịp nói với ai một lời nào thì một tiếng B40 lao vút trên mái ngói. Ầm, một mảng mái nhà sập, bụi bay mù, mọi người rụt đầu, thu mình nhỏ lại. Cánh cửa sổ chỉ còn dính vài mảnh kính, sắt nhọn bỗng như bị va mạnh, rồi một bóng người nhảy vụt vào. Vài tiếng la bật lên, vài tiếng ú ớ không ra lời. Họ tràn vào rồi. Vài người úp mặt vào hai bàn tay. Tôi mở nhìn sững, không phải lính quốc gia hay quân giải phóng mà là Thái. Mình nó đầy máu. Nó nhớn nhác nhìn tìm rồi lôi má tôi, lay chú tôi và cả nhà dậy:
"Chạy, chạy bác, chạy chị."
Tôi kéo nó nằm xuống, hét:
"Em, làm người ta hết hồn. Chạy đi mô, chết hết bây chừ đó."
Thái dựng thẳng tôi ngồi dậy. Lúc này tôi mới thấy bên hông mình ướt sũng. Máu, máu còn tươi rói chảy dọc xuống dưới chân. Tôi bị thương rồi. Bị thương sao chẳng thấy đau đớn gì hết. Tôi quay vụt lại:
"Má."
Má tôi mở mắt nhìn tôi lờ đờ. Tôi bật khóc chồm tới kéo má tôi:
"Má, má bị rồi."
Má tôi lắc đầu. Thái bỗng lôi tuột tôi chúi vào người nó:
"Dang ra, dang ra."
Tôi nép hẳn vào vai cậu em. Lúc này tôi mới định thần nhìn kỹ con chó to lớn mới đây chui rúc bên hông tôi đã bị thương nặng. Có lẽ nó chết rồi cũng nên. Tôi không thấy nó nhúc nhích cục cựa gì nữa, nhưng nơi vết thương máu vẫn còn rỉ rả chảy. Thái nói nhỏ vào tai tôi:
"Chị nói bác chạy gấp đi, họ đang siết vòng vây ở ngoài. Không lừa lúc này chạy là chết."
Không lừa lúc này chạy là chết. Tiếng chết như một sợi dây bắn ngược tôi tới cửa sổ, rồi nhanh như cắt, tôi lao đầu ra ngoài, mặc cửa sổ cao thấp thế nào chưa biết. Tôi rơi tọt ra ngoài cùng lúc cánh cửa chính mở, Thái và Bé thấy tôi chạy cũng hốt hoảng chạy theo. Chúng không kịp nhảy qua cửa sổ mà húc vào cánh cửa lớn. Vài miếng kính còn dính lại tiếp tục rơi loảng xoảng. Chú tôi, má tôi, vợ Bé, Thu và mấy đứa nhỏ cũng hốt hoảng chạy ra theo. Tôi nhìn quanh. Tuyệt nhiên không có một bóng người nào. Nhưng rõ ràng họ đang gờm nhau, đang bắn nhau. Lúc ở trong cung An Ðịnh, tôi nghe như tiếng súng bắn đi từ phía cửa, hay chính từ bên trong bắn ra nữa. Vậy mà tôi không nhìn thấy ai hết. Thấy tôi ngơ ngác, Thái lại kéo tay tôi chạy. Hình như nhiều người khác cũng vừa theo chúng tôi chạy ra nữa.
Bờ sông chắn trước mặt. Chúng tôi đã bỏ xa cung An Ðịnh một khoảng dài.
Tiếng súng đằng sau lại nổi lên, dữ dội, ác liệt hơn. Nhưng tiếng súng kéo dần tới phía trước đồng, bên phía nhà thờ. Chúng tôi xa dần nơi nguy hiểm. Một đoàn người từ phía cầu chạy xuống. Thái hỏi:
"Qua cầu được không?"
Mấy cái đầu cùng lúc lắc một lượt. Tôi kêu lớn:
"Ðừng chạy tới phía đó, họ đang đánh nhau."
Nhưng đoàn người như không nghe, họ vẫn cắm đầu chạy. Mấy đứa trẻ con vấp ngã, khóc ré lên rồi lại lồm cồm ngồi dậy chạy tiếp. Vợ Bé lúc này mới kêu lên:
"Bỏ hết đồ lại ở trên nớ rồi."
Bé la lên:
"Bỏ hết, chết chưa lo, lo ba cái đồ..."
Vợ Bé mếu máo:
"Còn mấy vắt cơm không mang đi, chút nữa cũng chết đói."
Lúc này tôi chạy lúp xúp sau Thái. Tôi bỗng hoảng kinh khi thấy máu ở cổ nó đang chảy giòng xuống vai. Tôi kéo tay nó:
"Thái, em bị thương rồi."
Nó vừa chạy vừa thở:
"Cả cái mái ngói đổ xuống đầu em. Như ri là nhẹ, không răng mô chị."
Một bến sông nữa hiện ra, Thái reo lên:
"Có đò, có đò, mình qua sông được rồi."
Khúc sông ở đây sao yên lành quá, cây sung bên bến sông vẫn xanh um, mặt nước vẫn lặng lờ và mấy hòn đá đặt trên bến vẫn sạch sẽ, nhẵn bóng. Tôi bàng hoàng như nhìn thấy một cảnh nào ở trong cơn mộng hoặc mắt mình đã hoa lên rồi. Chúng tôi vừa dừng lại bến thì đằng sau cũng có vài người khác chạy đến. Thái hỏi:
"Chạy ở mô tới?"
"Ở bên nhà thờ."
"Ở cung An Ðịnh."
"Thấy chi không?"
"Chắc sập hết rồi, bắn dữ lắm."
Thu chạy xuống bến. Mấy con đò như bỏ hoang không người ở. Chúng tôi gọi mãi mới có một chị đàn bà ló ra.
"Cái chi rứa?"
"Cho chúng tui qua sông với bà ơi."
Người đàn bà lắc đầu:
"Không được mô. Ðang đánh nhau dưới nớ, ra giữa sông lỡ đạn trúng mần răng."
"Chị ở đây cũng trúng rứa."
"Thà tui chết một mình. Tui còn một mình mà."
Giọng chị lạnh như đồng. Thái năn nỉ:
Chị làm phước cho tụi tui qua bên nớ. Bên nớ có nhà quen không tụi tui chết hết ở đây."
"Ðông rứa răng mà chở nổi."
Má tôi nói khó:
"Chị làm phước cho mấy chuyến. Thời buổi giặc giã ở có đức để lại cho con cái."
"Tui một mình chớ có ai mà đong phúc. Tui chưa đi mà ở đây chờ coi ông dôn tui có nổi lên ở khúc sông ni không."
Chúng tôi đã đoán ra lờ mờ câu chuyện. Chắc chồng chị ta vừa mới chết, và chị ta đang dở điên dở khùng. Chúng tôi lại nói khó. Chị đàn bà bằng lòng chở mấy chuyến. Qua khỏi khúc sông ngắn có mấy thước, Thái đưa tiền và buộc chị đàn bà phải lấy. Chị cầm tiền và trở mũi qua đưa những người khác đang đợi bên kia bến.
Tiếng súng ở bên phía cung An Ðịnh, bên phía đồng có vẻ êm hơn. Khi chúng tôi lên đường cái thì không còn sức để nghe ngóng nữa. Khu này yên tĩnh quá. Chưa một nhà nào bị hư hại gì hết. Bé nói:
"Mình tìm nhà quen ở để rồi mai mình về nhà. Chắc khu mình gần quốc lộ họ rút hết rồi."
Thái cãi:
"Rút chi nổi. Ðừng có lầm mà chết."
"Xe Mỹ ở quốc lộ chạy lên đồn An Cựu mà mi còn cãi nữa..."
"Xe Mỹ lên là nghe tiếng súng rồi, không thấy hay răng."
Chúng tôi tiếp tục chạy. Tôi hỏi Bé đây là miệt nào. Bỏ Huế lâu quá, tôi quên gần hết đường sá. Bé nói đây là đường lên Tân Lăng, lên chút là có chùa.
Nghe đến chùa, má tôi mừng rỡ:
"Mình vô chùa xin ở nhờ. Chắc họ không dám phá chùa mô."
Thái nói:
"Nhà thờ còn bắn sập huống gì chùa họ nể. Mà cứ thử coi."
Tôi mệt lả không đi được nữa. Lúc này tôi mới thấy chân nhức buốt. Tôi đã bỏ mất dép, chân tôi lại bị một mảnh kính cắt, máu còn rỉ rả chảy. Tôi ngồi bệt xuống đất:
"Con không đi được nữa."
Má tôi dỗ dành:
"Ráng chút nghe con, ráng đi chút con. Gần tới rồi."
Nhưng má tôi cũng mệt quá. Lúc này nhìn lại má tôi, tôi thấy bà vẫn còn xách cái xách áo quần nơi tay. Sự sợ hãi đã làm má tôi quên cái xách tay nặng nề. Thái vẫn ôm chiếc cặp da của tôi. Má tôi vừa nói vừa ngồi xuống bên cạnh tôi. Thu cũng ngồi theo, mấy đứa nhỏ cũng ngồi bệt xuống đất. Có mấy nhà mở cửa hé nhìn chúng tôi rồi vội đóng cửa lại. Tôi không hy vọng gì họ giúp chúng tôi lúc này. Thái và Bé quay lại, thấy chúng tôi ngồi bệt cả xuống đất và chú tôi nửa muốn ngồi nửa muốn đi thì giơ tay cản:
"Thôi, để tụi con tới chùa coi răng."
Nhưng đi được một quãng, chúng quay lại. Lúc này chúng mới để ý đến những đoàn người chạy loạn, đoàn này đi tới trước, đoàn kia chạy ngược lại. Hỏi họ thì ra phía nào cũng có đánh nhau hết. Vợ Bé đang ngồi bỗng đứng rột dậy:
"Quên rồi, ở xóm ni mình có chị U, mình vô tạm rồi sai con Thu về nhà coi ra răng."
Tôi cũng mong có chỗ ngồi nghỉ, uống một ngụm nước. Từ sáng đến giờ tôi chưa có miếng cơm, chưa uống được một giọt nước. Bé hăng hái dẫn đầu. Chúng tôi đi vào một xóm nhỏ toàn nhà tranh. Bé gõ cửa mãi mới thấy người ra mở cửa: Chị U.
Bé kêu mừng rỡ:
"Tưởng chị đi tản cư rồi chớ. Không can chi há?"
"Can chi. Ở đây mấy bữa ni có chi mô. Không ai đi hết."
"Không có mọt chê câu tới hả?"
"Không, xóm trong bị rồi. Mà ngoài ni đào hầm hết rồi. Can chi mà sợ."
Rồi chợt nhận thấy một đoàn người đông đúc đứng đàng sau lưng Bé, người đàn bà hỏi:
"Bà con hết há?"
"Dạ bác em nì chị. Chị em. Bác, đây là bà chị vợ của con."
"Vô, vô nhà hết đi, đừng đứng đây lộn xộn họ dòm ngó."
Cả đoàn kéo vô nhà. Nhà nhỏ, chật hẹp. Thái lót cái chăn dưới nền đất để nằm đỡ. Má tôi, vợ Bé mới sanh và mấy đứa nhỏ được chủ nhà nhường cho cái giường nhỏ, nằm sát vào nhau, chỉ trở mình nhẹ là có thể rớt xuống đất. Tôi, Thu và Thái phải nằm dưới đất. Trời bắt đầu mưa phùn, lạnh căm da. Vừa sợ, vừa lạnh lại thêm cái đói dày vò, tôi run lập cập. Người chủ nhà lấy cho tôi một bát cơm nguội ăn với xì dầu. Tôi ăn như chưa có bữa cao lương mỹ vị nào ngon lành đến thế. Ăn xong thì trời đã chiều. Thái hỏi dò người đàn bà xem ở đây có quân giải phóng không. Người đàn bà cười tươi tỉnh:
"Không răng mô. Họ về hoài, họ đi ngoài đường kệ họ. Họ tử tế lắm mà."
"Họ có soát nhà không?"
"Mấy bữa đầu thôi. Mấy hôm đầu họ nhờ mấy con nhỏ đi tải đạn, tải thương. Bữa ni hết rồi. Họ cũng là người chớ chi mà sợ. Họ tử tế lắm mà."
"Bà có nói chuyện với họ không?"
"Nói hoài. Có răng mô."
Người đàn bà ở với một bà già chồng gần bảy mươi tuổi và một đứa con trai út mười bảy tuổi. Người chồng bỏ đi thời kháng chiến cũ không thấy tin tức. Khi biết ra điều đó, tôi không còn lấy làm lạ về cảm tình của bà ta đối với mấy anh giải phóng nữa.
Buổi tối, chúng tôi không dám ngủ trên nhà mà xuống ngủ dưới hầm đào ở trước sân. Chú tôi, Thái và Bé vào ngủ ở nhà thờ của một dòng họ lớn trong xóm. Nhà thờ xây kiểu xưa, đá lớn chắc chắn lắm. Tôi, và những người đàn bà khác cùng trẻ con xuống hết dưới hầm. Chiếc hầm nhỏ quá mà phải chứa tới hơn mười mạng người, chúng tôi không còn chỗ đặt lưng.
Khoảng gần mười giờ là đại bác từ Phú Bài bắt đầu câu vào thành phố. Hỏa châu soi sáng rực cả bầu trời. Tiếng máy bay gần rồi xa. Không khí báo hiệu một cuộc đụng độ lớn. Cả thành phố như đều chìm trong điềm gở sắp bị tàn diệt. Tôi ôm chặt lấy má tôi, dựa đầu vào vai bà mà ngủ. Má tôi không ngớt lời cầu nguyện: Cầu cho con tôi tai qua nạn khỏi. Cho con tôi sống.
Tôi biết má tôi đang lo cho tôi nhiều nhất. Chồng con tôi ở Sài Gòn chắc đang bấn ruột bấn gan vì tôi. Nhưng tại sao tôi tin được chồng tôi còn rỗi rãi để lo cho tôi. Tin tức đồn đãi cả Sài Gòn và các tỉnh đã mất. Vậy chồng con tôi đã lưu lạc tới nơi nào rồi.
Tôi muốn nói: má ơi, con sợ quá. Nhưng tôi phải tỏ ra can đảm hơn để má tôi yên lòng đôi chút. Tôi nói:
"Ðánh nhau lớn chắc sắp yên rồi."
Tiếng nói của tôi thật nhỏ nhưng trong hầm kín mọi người đều nghe hết. Một cô gái mập ú đang ngồi sát bên tôi lên tiếng:
"Họ đông lắm chị."
Tiếng người con trai bà chủ nhà nói theo:
"Con ni nó đi khiêng xác đó chị, chết bất loạn."
Tôi hỏi:
"Khiêng đi mô."
"Khiêng lên tận trên núi. Họ chết nhiều lắm đếm không hết."
"Chị khiêng như vậy mà không sợ à?"
"Sợ bắt chết. Vừa khiêng vừa run. Trời lại lạnh nữa, hai đầu gối mình như muốn sụm luôn. Gớm bắt chết. Xác nào cũng dính đầy máu. Còn người bị thương thì chất lên xe như sắp cá rứa, người ni chồng lên người nọ, không biết mần răng mà sống cho được."
"Toàn là quân giải phóng hết?"
"Chơ răng. Họ chớ ai vô đó nữa."
"Khiêng xong họ cho về?"
"Họ còn bắt đi khiêng đạn chớ, mà tui trốn. Túi ni chắc trong họ cũng về bắt đi nữa. Tui trốn ra đây ngủ nhờ. Trong đó có mọt chê câu tới rồi đó."
Tôi không hỏi nữa, nhưng cô gái có đà, cứ nói tiếp:
"Nơi vườn cạnh nhà tui họ chôn người dễ sợ quá, lòi mấy cái chân."
"Nói dóc đi, bà nội."
Nghe cậu bé con bà chủ nhà nói móc, cô gái nổi sùng:
"Ðồ con trai chui dưới hầm cả ngày cả đêm biết chi. Ra ngoài mà coi thử. Sau chùa tề, họ chôn lòi tay lòi chân coi dễ sợ bắt chết. Nì, mi biết thằng Tư hớt tóc không?"
"Biết."
"Ờ. Hắn bị bắt ra ngoài vườn đào hố chôn xác chết, mà chôn sau vườn hắn mới ghê chớ. Hắn trốn đi được rồi."
"Tao ghét thằng đó lắm, cho họ bắt luôn."
"Mày ăn nói đoảng hậu chi rứa. Răng mà ghét người ta?"
Có tiếng người đàn bà tên là chị U gắt khẽ. Một trái hỏa châu rơi thật gần và lửng lơ hạ xuống. Ánh sáng soi rõ cả vào miệng hầm. Tôi nhìn ra được mặt cô gái. Má tôi kéo manh chiếu rách che bớt miệng hầm lại. Ðêm hôm đó chúng tôi ngồi suốt đêm. Ðại bác bắn ình ình vào các miệt, nhưng may mắn không có quả nào rơi vào xóm chúng tôi trú ẩn. Tiếng đại bác không ngớt, dội cả mặt đất. Mắt tôi như tá hỏa theo mỗi tiếng nổ, và cứ thế, cả đêm, trái tim đập liên hồi, nỗi lo sợ đặc quánh cho tới gần sáng.
Lại thêm một lần được may mắn nữa. Ðến gần sáng tiếng đại bác thưa dần chỉ còn nổ ỳ ầm ở miệt xa, như trên núi. Chờ thêm một tiếng đồng hồ nữa chúng tôi mới lên khỏi miệng hầm. Súc miệng bằng muối hột và rửa mặt bằng nước mưa. Trời vẫn còn mưa bay và lạnh giá, tôi khoác chiếc áo măng tô của ba tôi để lại trên người, cùng với Thái đi dần ra ngõ.
Dần dần bạo dạn, hai chị em ra tới miệt sông. Từ các phía vẫn còn những toán người tản cư lẻ tẻ. Thái đón lại hỏi, có người cho biết họ ở đồng An Cựu, hoặc ngả chợ An Cựu. Có người cho biết họ ở bên nhà thờ chạy qua. Cầu An Cựu còn không? Người trả lời còn, người trả lời bị sập. Không biết tin ở ai nữa. Thái nói với tôi là mình đã hết sức may mắn, đêm qua bên nhà thờ, Việt cộng đã tràn vào bắt hết đàn ông, công chức mang đi. Nó kể lại mà mặt nó tái xanh cắt không ra giọt máu.
Phía đường rầy vẫn có người đi. Thái chỉ cho tôi thấy những đoàn người xuôi ngược phía trên đường rầy, ẩn hiện sau những bụi cây thấp.
Khi hai chị em trở vào, Thái chợt nhìn lên ngọn điện cao. Nơi ngọn điện có tháp cây tre và trên cây tre một lá cờ hai mầu đỏ và xanh lá mạ bay phất phới. Chiều qua, khi đi ngang qua đây, khi nhìn lên cột điện này để coi trên trời có máy bay không, tôi đâu có nhìn thấy gì. Thái đem chuyện đó vào kể cho mọi người nghe, chả ai lấy làm lạ hết:
"Họ treo hoài. Họ treo cả trong chùa, nơi ngã ba nữa..."
Nhưng đến trưa hôm đó thì cả xóm nhỏ này không ai còn đủ bình tĩnh nữa. Ðại bác đã câu tới nơi. Tiếng máy bay như gầm, xé nát bầu trời ảm đạm, xám ngoét. Giữa trưa, chúng tôi phải chui xuống hầm. Một số khác vào nhà thờ họ. Những tiếng nổ rất gần, có lúc như dội ngay đầu. Còn nghe tiếng nổ là chưa chết. Thái bấm vào tay tôi:
"Chị bịt chặt hai tai lại, nằm sát cho đỡ tức ngực."
Một vài nhà có tiếng kêu khóc như ri. Nằm trong hầm chật quá, ngột không thở được, Thái chờ ngớt tiếng đại bác, kéo tôi chạy tọt vào nhà thờ. Từ trưa tới chiều tối hôm đó, đại bác không ngừng nữa, nhưng độ bắn đã đi xa hơn.
Buổi chiều, chúng tôi ra được ngoài trời khoảng chừng mười giây rồi lại chui vào hầm. Ðêm, tôi không vào hầm nữa mà ngủ dưới gầm một cái kệ trong nhà thờ họ. Mấy đêm liền không ngủ, tôi đã mệt nhoài người. Mặc súng, mặc đạn, mặc sống, mặc chết, tôi lăn ra ngủ. Nửa đêm, tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng máy bay, tiếng đạn réo, nhưng rồi âm thanh đó cũng chìm đi, cơn buồn ngủ đè nặng lên tất cả. Cho tới sáng hôm sau, Thái phải dựng cổ tôi dậy:
"Ðêm qua chị biết có chuyện gì không?"
"Chuyện gì?"
"Họ về đầy ở đây. Họ gõ cửa nhưng không thấy động tĩnh chi hết họ đi rồi."
Má tôi rầu rĩ:
"Ðiệu này chắc chết quá. Con Vân, túi qua ngủ dữ quá không biết chi hết há. Nổ gần lắm, chắc nhà cửa mình tan hết rồi."
Má tôi lại khóc. Vợ Bé bò ra khỏi bệ thờ, rồi tới lượt chú tôi cũng trở dậy:
"Chắc phải chạy nữa quá. Ở đây nguy rồi."
Chú tôi nói giọng lo lắng. Má tôi bảo Bé và Thu đi nấu cơm nhưng nhớ ra gạo chỉ còn một ít, má tôi nói:
"Nấu cháo ăn đỡ."
Chú tôi phàn nàn ở nhà còn nửa tạ gạo mà con Thu hôm qua về không tới nhà được để lấy đem đi. Con Thu về gần tới xóm thấy xóm vắng tanh nó lại sợ, bỏ đi trở về.
Nhưng nồi cháo chưa chín thì chúng tôi lại nghe tiếng máy bay đến, rồi đại bác dưới Phú Bài lại câu lên. Cả nhà lại vào hầm nhưng lát sau thấy tiếng súng không nhắm vào khu vực này, tôi và Thái lại bò ra vì ngột ngạt quá. Hai chị em chạy qua nhà chị U rồi lần ra ngõ. Có tiếng súng nhỏ bắn như mưa ở miệt Phủ Cam. Chắc chúng bắn máy bay, Thái thì thầm. Ngọn cờ màu máu mạ vẫn phất phới bay trên ngọn tre tháp vào cột điện. Vẫn còn người chạy loạn ở ngoài đường, chúng tôi đón lại hỏi nhưng không ai buồn trả lời, họ vừa khóc vừa chạy. Một đoàn người có võ trang từ phía cầu kéo lên Phủ Cam, Thái kêu tôi chạy vào một cái quán bỏ hoang. Ðoàn người đi ngang qua đường, mặt mày lầm lì, họ vác súng, tay đeo băng, áo quần hỗn độn, Thái thì thầm: Quân Bắc Việt đó. Tôi cố nhìn để phân biệt xem họ có khác gì mà Thái nhận ra được, tôi chịu nhưng không dám hỏi Thái.
Ðoàn người đi lên một lúc, chúng tôi định chạy ra khỏi quán để về nhà, nhưng từ phía Phủ Cam, tiếng chân, tiếng kêu khóc bỗng vang dội. Rồi một đoàn người nữa xuất hiện trước khi tiếng súng ròn rã nổ như mưa, tiếng máy bay gầm như xé trời và đại bác không kịp thở. Ðoàn người đến gần dần, Thái sửng sốt:
"Trời ơi, dân, dân chạy loạn."
Ðoàn người có đến cả trăm người, dẫn đầu là mấy ông cha, một hai ông sư. Họ cầm cờ trắng, làm bằng đủ thứ vải tơi tả, lá cờ hàng phục, lá cờ sợ hãi. Họ vừa đi, vừa chạy như những con lật đật. Phía sau những lá cờ trắng, những người dẫn đầu, dân chúng bồng bế nhau. Kẻ gánh người gồng chạy lúp xúp.
Thái đứng hẳn ra vệ đường giơ tay đón:
"Thưa cha, trên rứa răng?"
Ông cha lắc đầu, miệng như đang sùi bọt mép. Một tu sĩ bế một đứa bé bị thương máu chảy nhỏ giọt trên đường, đưa tay xua xua tỏ dấu bảo chúng tôi chạy theo, đừng đứng nguy hiểm. Nhưng ông cũng không nói nổi ra thành tiếng nữa. Ðoàn người cứ thế lần chạy qua mặt chúng tôi, đàn bà bế con, đàn ông gánh gồng, trẻ con chạy lúp xúp. Họ khiêng cả kẻ bị thương nữa. Một người đàn ông bị thương ở chân chạy khập khà khập khễnh, thỉnh thoảng té xuống đất rồi gượng dậy. Có kẻ một cánh tay đang đong đưa chỉ còn dính chút thịt da. Kẻ u đầu, người bể trán, những giọt máu rỏ đuổi theo mấy miếng vải trắng làm cờ đi tìm bình yên đang phe phất dẫn đầu. Ðoàn người vừa chạy vừa kêu khóc vừa cầu kinh, kẻ đọc kinh cầu Chúa, kẻ kêu trời gọi Phật.
Ðoàn người chạy lêu bêu xuống cầu rồi bỗng chạy ngược trở lại, rồi đang chạy ngược bỗng trở lui, tiếp tục về phía trước. Tiếng súng từ phía Phủ Cam vẫn như mưa, vài kẻ yếu đuối chạy cuối cùng cách đoàn người khá xa, họ kêu gào như đang tuyệt vọng sắp chết đến rồi:
"Cha ơi, chờ con. Cha ơi, cứu chúng con. Chúa ôi, quỷ đuổi chúng con..."
Tôi đỡ một người đàn bà vừa ngã sấp xuống mặt đường:
"Lên đây nghỉ đã chị, ở đây chưa đánh nhau, vô đây."
Người đàn bà đã bị thương ở đùi, máu ra nhiều lắm, nhưng vẫn gượng dậy lắc đầu:
"Tui chạy theo cha, chồng tui con tui trong đó mà."
Bà lại chạy. Thái chạy theo:
"Trên nớ còn chi không?"
"Hết cả, hết cả. Ờ, mà còn, còn nhiều người kẹt lại, còn hơn trăm thanh niên đang bị vây không chạy được."
"Họ bị vây?"
"Họ bắn lại, họ bắn lại... Cha ơi, chờ con với cha ơi."
Người đàn bà lại chạy, nhưng đoàn người đã bỏ cách xa bà ta quá. Một tiếng nổ lớn. Tôi lóa mắt. Thái ôm chặt lấy tôi:
"Chạy, chạy chị. Cầm tay em nì."
Thái kéo tay tôi lọt vào xóm. Ðoàn người như tan tác ở đằng xa, rồi qua lớp khói bụi, tôi lại thấy họ chạy tiếp tục.
Khi tôi vào tới nhà thờ họ thì má tôi đang nằm ở mé cửa chờ. Bà nạt tôi một hồi rồi kéo tôi dúi xuống bệ. Như ngày xưa, má tưởng con như ngày xưa còn bé. Tôi chui tọt vào bên trong tìm một chỗ dựa đầu mà không có. Má tôi nằm phía ngoài hỏi vọng lại:
"Nằm yên, con Vân mô rồi. Ðừng có nằm phía ngoài nghe."
Má tôi nói vậy mà bà nằm phía ngoài. Con Thu rỉ nhỏ bên tai tôi:
"Nồi cháo cháy rồi."
Lúc đó tôi không thấy tiếc gì nồi cháo nữa, dù trước đó tôi đã đói cồn cào. Thu lại nói:
"Chị đi đâu làm bác cứ đòi chạy ra tìm, em phải ôm bác lại."
Tôi muốn khóc quá, tôi đưa tay cầm chặt gióng tre kê dưới bệ thờ, chỉ có một khoảng cách ngắn, tôi ao ước cầm bàn tay má tôi mà không được. Trong bóng tối lờ mờ, tôi thấy có đốm lửa nhỏ lóe lên. Chắc Thái đã tìm đâu được điếu thuốc. Nó nói với tôi:
"Hỏi bác hút thuốc không."
Tôi hỏi tìm ở đâu đó thì nó nói:
"Cả bao đầy lận. Em lượm được khi đoàn người đi qua rồi. Chắc ai rớt."
Tôi nghĩ tới những giọt máu rơi vãi ở dọc đường, những giọt máu đó đang kéo dài đến đâu rồi. Bất giác tôi rùng mình. Thu hỏi:
"Chị lạnh hả?"
Tôi lắc đầu, nhưng chắc Thu chả trông thấy gì đâu. Thái đưa cho tôi một điếu thuốc và nói với tôi đưa cho bác hút đỡ lạnh. Ðiếu thuốc chưa kịp đưa đi đã rơi khỏi tay tôi lúc nào. Sợ gây tiếng động, tôi không dám đưa tay sờ soạng nữa. Từ lúc đó tới trưa, chúng tôi không còn dám mở mắt nhìn thấy ánh sáng bên ngoài nữa. Ðại bác câu vào như không còn tính khoảng cách. Trên đầu tôi, xung quanh tôi, tiếng nổ dội như vỡ tung lồng ngực, như bể đôi cái đầu. Má tôi hô mọi người nằm rạp xuống đất. Nằm rạp xuống đất hết rồi cũng chưa được, ôm chặt lấy nhau để có chết cùng chết một đống. Nhưng không, tôi không thể chết một đống được, tôi phải sống để còn trở về với con tôi và dù Sàigon còn hay mất, các con tôi cũng phải sống để chờ tôi về nữa. Ðừng có chết. Cho tôi sống.
Tiếng nổ như bưng tôi vất trong lửa đỏ. Một tiếng, hai tiếng, tiếng nữa. Lạy trời lạy Phật, chưa trúng. Thêm tiếng nữa, quả tim cứ nhảy loạn xạ, cứ muốn tung ra. Ầm, tôi nghe có tiếng nổ lớn mà. Vậy ai kêu chết tôi rồi vậy? Ai khóc như ri ngoài kia vậy? Ầm nữa. Cả mái nhà như sập xuống đầu tôi rồi. Ngực tôi bể rồi, máu tôi đang trổ vòi chảy. Tôi lăn qua lăn lại. Không, tôi chưa bị, tôi còn sống mà. Tiếng khóc bật lên:
"Vân, Vân mô rồi con."
"Chị, chị mô rồi chị."
Cánh tay Thái rồi cánh tay má tôi nữa. Cát bụi trên mái nhà vẫn tiếp tục rơi xuống. Tôi không mở được một tiếng nào. Lần này chắc chết quá rồi, đại bác vẫn không chừa khoảng cách. Người tôi sau tiếng nổ đã không còn sức để run. Thôi, cả nhà chúng tôi, cả mọi người trong ngôi nhà thờ họ này nằm chờ chết.
Nhưng rồi phút kinh hãi đó lại qua. Tiếng súng đã ngưng và rải rác đưa lên các phía xa. Tiếng súng vừa ngưng là có tiếng la khóc. Tôi vụt chạy ra ngoài, má tôi níu lại:
"Con ơi, đừng, đừng đi."
Nhưng Thái cũng ra đến sân rồi, cực chẳng đã, tôi thập thò ở cửa.
Bên ngoài cây cối xác xơ, gạch ngói rơi tứ tung ở sân. Trước mặt khu nhà thờ họ, một mảnh đạn xoáy một hố đất lớn. Mấy cửa kính vỡ toang, tấm bình phong che phía trước bị vạt một góc. Vừa lúc đó Thái chạy vào mặt mày tái mét:
"May quá chị ơi, nhà thờ chỉ bị một mảnh bom phía sau góc, nơi cây đu đủ. Cây đu đủ gãy rụi rồi."
Thái đưa tay chỉ lên mép tường phía sau, ở đó tường đã lở những mảng lớn và ngói trụi hết, lộ một khoảng trời màu xám chì. Sự sống thật tuyệt vời, nếu mảnh bom rơi chếch vào một tí nữa chắc chúng tôi đã xong. Thái kể cho chúng tôi nghe, ở đàng sau, cách hai ba căn nhà bị nguyên vẹn một quả bom rơi trúng. Mấy mái tôn văng ra xa, có tấm văng lên chém gẫy một đọt dừa. Hai ba căn nhà bị sập, mấy người chết. Từ lúc đó tới chiều, chúng tôi không dám bước ra khỏi bệ thờ nữa. Vợ Bé bạo dạn đi nấu được nồi cơm, nhưng tới chiều tối, chúng tôi mới ngồi ăn. Ðang ăn cơm thì nghe có nhiều người chạy loạn từ phía Bến Ngự về, Thái chạy nhanh ra sân. Ðoàn người từ Bến Ngự về chạy thẳng mãi trên miệt đường rầy, duy có hai cha con đói lả không đi được, ngồi bệt xuống vệ đường. Mọi người đưa vào nhà. Người đàn ông khoảng bốn mươi tuổi, đứa con gái cỡ mười lăm. Sau khi được ăn mỗi người một bát cơm lót lòng, hai cha con tỉnh người lại. Ðứa con gái ngồi nép vào góc bệ thờ, mở đôi mắt như thất thần nhìn ra phía cửa. Một tiếng động nhỏ cũng làm cho con bé ôm chặt lấy cha.
Chờ cho người đàn ông tỉnh táo, má tôi mới hỏi dò:
""Ông ở Bến Ngự về?"
"Dạ, tui ở Bến Ngự."
"Rứa trên Từ Ðàm có ai chạy được không?"
Người đàn ông chưa kịp trả lời, má tôi đã nóng ruột:
"Con trai, con dâu, con gái với một bầy cháu kẹt trên đó."
Người đàn ông nói mà đôi môi vẫn còn lắp bắp:
"Tui ở phía dưới cầu, sát bờ sông lận. Trên Từ Ðàm thì chịu, họ canh gác dữ lắm."
"Không ai chạy được hết?"
"Chắc không."
Tôi nghe tiếng thở dài đầy vẻ tuyệt vọng của má tôi. Người đàn ông vẫn còn ấp a ấp úng, môi vẫn run lập cập:
"Nhà tui không còn một miếng ngói."
Thái hỏi:
"Mần răng bác chạy xuống đây được?"
"Nhà tui chưa trúng đạn cậu, mà tiếng dội cũng bay hết ngói. Hai cha con tui núp trong hầm cả ngày, rứa là nhịn đói gần ba hôm rồi. Khi ngớt tiếng súng, tui bò lên miệng hầm. Ghê quá, dễ sợ quá. Nhà cửa xung quanh sập hết, không còn một bóng người. Vậy là tôi xuống hầm kéo con gái chạy như điên ra khỏi nhà. Tôi đạp không biết bao nhiêu xác người, tôi nghe không biết bao nhiêu lời rên trong đám gạch. Kệ, cha con tui chạy bán sống bán chết tới nơi ni thì hết sức đành ngồi đại xuống đường."
"Rứa giữa đường không gặp họ răng?"
"Thiếu giống. Họ mắc đào hầm, mắc chở người bị thương, nhờ rứa mà mình chạy được. Con nhỏ của tui hắn sợ quá hắn té xuống đường mấy lần, nằm run như lên kinh phong, tui phải kéo đại nó, tay chân nó trợt hết trơn trọi."
"Ông chỉ có hai cha con thôi hà?" Một người nào đó hỏi trong bóng tối.
"Dạ tui còn vợ với thêm mấy đứa nhỏ nữa. Ngày mồng một, mạ con nó về dưới Bao Vinh rồi, về dưới quê. Khổ quá bà con ơi, không biết dưới đó có răng không, vợ con tui mắc kẹt dưới đó rồi."
"Ôi, ai có sức nấy lo. Biết mình có sống không mà lo nữa chớ."
Má tôi hỏi con bé:
"Cháu còn đói không?"
Không nghe tiếng con bé trả lời, người đàn ông nói:
"Bà hỏi răng con không nói? Dạ thưa bà nó sợ quá rồi như khùng. Mấy ngày nằm dưới hầm vừa đói vừa sợ, nó như bị điếc rồi rứa. Thôi, chuyến ni thì chết hết chả còn chi nữa bà con ôi. Tui đi mà đạp lên bao nhiêu xác chết. Ðạn đằng sau, trước mặt. Tui tưởng không tới đây nổi trông thấy bà con."
Người đàn ông như nghẹn ngào muốn khóc. Có tiếng trẻ con khóc, tiếng người đàn bà trẻ cằn nhằn:
"Thôi để tui ngủ ngoài hầm cho rộng, vô đây chật quá thằng nhỏ chịu mô có được."
Tiếng người đàn ông:
"Mả cha mi, chết tới nơi còn cãi. Cha mạ con cái ở một chỗ hết. Có chết chết cả gia đình cho trọn chớ người sống kẻ chết thêm tội."
Người đàn bà thút thít khóc. Bên ngoài, ánh hỏa châu thả sáng cả vòm trời. Tiếng súng lại bắt đầu nổ. Không biết đánh ở miệt nào nữa, vì tôi nghe như miệt nào cũng có súng. Ðêm có tiếng chân đi sàn sạt bên ngoài, mọi người nín thở. Ðứa con gái với người đàn ông vừa tản cư tới ban chiều không có chỗ nào, hai cha con dựa lưng vào bệ xây. Ðứa con gái thỉnh thoảng kêu: Ba ơi, con sợ quá. Người đàn ông vỗ về: Ðừng sợ, không răng mô.
Có tiếng kêu cứu rồi tiếng súng nổ. Thái cầm chặt tay tôi thì thầm:
"Nó ám sát."
Tôi nhớ lại khuôn mặt anh lính giải phóng gác nơi cầu khi chúng tôi đi qua. Một anh lính Bắc Việt ngờ nghệch, anh nhìn ai cũng ra bọn Mỹ Ngụy hết. Anh la hét, cấm đoán rồi cuối cùng mọi người cũng chạy được hết qua cầu. Tôi nghĩ chắc anh không trông thấy gì ngoài đàn ông, đàn bà, con nít chạy loạn, còn bọn Mỹ Ngụy chỉ một đêm nổ súng là chết hết rồi. Tôi nhớ tới một đồn binh trống trơn không một người lính gác. Tôi cũng không nhìn thấy một xác nào vắt ngang hàng rào. Như thế là nghĩa lý gì, đêm đầu tiên không nổ súng không tấn công đồn là gì? Vô lý, bao nhiêu lính trong thành phố đều chết. Người đàn ông tản cư tới hồi chiều vừa cho biết là Việt cộng vẫn chưa lấy được một đồn binh nào, nhưng đồn binh nào cũng bỏ không.
Người đàn ông còn cho biết quân giải phóng như bóng ma, họ ẩn đó hiện ra đó, và trong ba đêm nằm dưới hầm anh tưởng tượng như trên hầm lúc nào cũng có người đi qua đi lại, nhưng khi anh liều chạy lên thì ngôi nhà đổ nát của anh như đã hoang vắng từ lâu lắm.
Ðêm đến, không khí nặng nề đến ngột thở. Thêm một vài người tản cư tới và căn nhà thờ họ như hết cả không khí. Mùi súng đạn đã lan tràn tới nơi. Mà tiếng súng khắp nơi đang dồn về thật. Nửa đêm, vài tiếng kêu thất thanh ngoài ngõ, ngoài bờ sông. Tiếng chân chạy thình thịch. Có cả tiếng đào đất nữa. Tôi không còn biết sợ những xác chết banh đầu cụt tay cụt chân nữa, nhưng trong chút không khí chia sớt nhau trong căn nhà thờ họ tối tăm, tôi có cảm tưởng như mùi tử khí đang lấn dần và nếu ở lại thêm một vài ngày nữa, chúng tôi sẽ chết vì ngộp thở, vì bịnh hoạn.
Ðến sáng hôm sau thì khu xóm này hoàn toàn ngập tràn tiếng súng. Ðạn đại bác câu tới nơi, rồi súng lớn, súng nhỏ. Nằm dưới bệ thờ chúng tôi nghe cả tiếng xe hơi chạy ngoài đường nữa. Thái áp tai xuống đất, cố tìm coi miệt nào đánh nhau. Một vài gốc cây ở ngoài sân bị trúng đạn, ngã gục. Thái đoán chắc đang đánh nhau ở miệt chợ. Có thể đánh ở bên kia sông rồi. Nó bàn đi bàn lại là phải chạy. Có thể đêm nay họ đánh tới khu xóm Tân Lăng này. Má tôi nghe nói thì run lẩy bẩy ôm chặt lấy tôi:
"Mần răng chừ. Má chết đã đành, còn con, con còn hai đứa con, ai nuôi nó con ơi."
Tôi cắn chặt hai hàm răng lại. Trong thành phố này đã bao nhiêu người chết rồi, bao nhiêu trẻ con, người lớn, bao nhiêu bà mẹ bỏ ra đi để con bơ vơ. Nhưng những đứa trẻ đó biết có sống được đến khi dứt trận giặc? Khi ở trong nhà thờ, tôi đã nhìn thấy một số trẻ con cha mẹ bị đạn chết, chạy theo đoàn người di cư. Chúng chạy qua chạy lại ngơ ngác, bị người này nạt, người kia la. Ðói quá, chúng cướp giật của người khác. Nếu tôi chết đi hay nếu tôi không chết mà mất luôn chúng nó?
Hình ảnh người đàn bà ôm xác chết của con đã sình thúi trong ngôi nhà thờ nơi tôi chạy tới mấy ngày đầu đã làm tôi tan nát ruột gan.
Một giờ đồng hồ sau, đợi cho tiếng súng im giây lát là chúng tôi chạy ra khỏi ngôi nhà thờ, mỗi người ôm theo những thứ còn sót lại, xách quần áo, cái chăn Bé lấy được khi ở cung An Ðịnh. Thái chạy ra trước tiên, chúng tôi chạy ra sau. Mấy ngày liền mới trông thấy ánh sáng, dù ánh sáng đã bị ngộp trong làn mưa bụi tẻ lạnh. Khi chúng tôi tràn ra khỏi nhà thì một số người khác cũng tràn ra theo. Hai cha con người đàn ông chạy ra phía bờ sông, Thái vẫy chúng tôi lên miệt đường rầy. Nhưng vừa ra khỏi nhà một đoạn, chúng tôi lại bị vây hãm giữa tiếng súng nổ ran bốn mặt.
Lại đánh nhau. Thái hô mọi người nằm xuống đường. Cứ lăn vào bụi cây, vào mé đường. Chúng tôi nằm dồn đống lại với nhau. Hai cha con người đàn ông nằm xuống. Ðại bác lại câu lên, ình ình khắp bốn mặt. Tiếng súng cũng như vây tròn theo chúng tôi vào giữa. Một ngôi nhà trúng đạn lửa bốc cháy. Trẻ con, người lớn từ trong nhà chạy ra. Lửa cháy lan sang nhiều căn nhà khác, nhiều người nữa chạy ra. Tiếng la tiếng khóc như ri. Phía trước bụi súng mù mịt, phía sau người đàn ông cho biết là đang đụng độ lớn. Chỉ còn nước xuyên qua hẻm, tìm lấy một chỗ núp khá yên ổn hơn. Một quả đại bác nổ ình cách chúng tôi vài chục thước. Chúng tôi như bị chôn trong mảnh đạn và bụi mù. Lạy trời phật, không ai bị hết. Khi khói đã tan, chúng tôi không nhìn thấy hai cha con người đàn ông nữa. Họ đã chạy trước khi quả đạn nổ hay trong khi khói đạn đang bốc mù rồi. Thái hô lớn:
"Cứ chạy đại lại hố đại bác vừa nổ mà nằm."
Người tôi run lên cầm cập, chạy không vững nữa. Kệ. Thái đẩy tôi, tôi đẩy má tôi, má tôi đẩy Bé, và cứ đẩy đằng sau đằng trước. Thái cũng dí chúng tôi xuống hố đất bị đào sâu, còn bốc mịt mờ bụi khói và thuốc súng.
"Nằm đây. Không thể có hai quả rơi một chỗ mô bác. Tụi con đi trận tụi con biết mà."
Câu nói của Thái giúp tôi yên tâm được đôi chút. Nhưng sao người tôi vẫn cứ run lên cầm cập. Gần một tuần lễ. Bộ quần áo vẫn chưa được thay, chiếc áo mặc ngoài đầy những vết máu khô và bắt đầu hôi. Thái lăn người sát cạnh tôi:
"Chị đừng run, chị phải bình tĩnh cho bác đỡ sợ."
Má tôi mở đôi mắt lờ đờ nhìn tôi. Ðôi mắt của sợ hãi, của vẻ tuyệt vọng và sự lo lắng thương mến tôi vô bờ. Tôi bật lên khóc. Lúc này tôi bớt sợ chết thật. Tôi có má bên cạnh, có chết má con tôi cũng nhìn thấy mặt nhau. Có tiếng khóc lóc từ phía xa vọng tới. Tôi mở mắt hé nhìn. Từ trong đám khói lửa, trong tiếng bom đạn ở đằng trước, một người đàn bà và một đứa bé đang đẩy cái xe bò đi đến. Bà vừa đi vừa khóc vừa kêu gào:
"Chúa ở mô. Phật ở mô. Trời ơi."
Trên xe, xác một người đàn ông máu me bê bết đã chết cứng, mắt còn mở trừng. Xác chết không kiếm được một chiếc áo để đắp. Thái nhảy lên khỏi miệng hầm, nó cổi cái áo khoác ngoài màu nỉ sọc đỏ đắp lên mặt người đàn ông. Người đàn bà và đứa nhỏ cứ thế hì hục đẩy chiếc xe về phía trước mặt cũng đang rền vang đạn lửa. Tôi nắm chặt lấy tay má tôi:
"Má."
Tôi chỉ kêu lên được có một tiếng rồi nghẹn ngào. Má tôi vẫn nhìn tôi với đôi mắt lờ đờ đó. Thái nhảy xuống hố, chùi hai tay vào quần:
"Bà đó mần răng cũng chết. Dưới nớ đánh nhau dữ lắm."
Tiếng đại bác vẫn câu lên đều đều. Tôi đoán được một vài tràng súng ở trong những khu vườn bắn ra. Thái đề nghị:
"Chắc lại sắp đánh nhau tới phía ni rồi. Chạy, chạy gấp bác."
Nói xong là Thái nhảy đại lên miệng hầm. Bé bế con cho vợ nhảy lên theo. Thây kệ đồ đoàng, nhiều thứ bị vất lại dưới hố bom. Thái dẫn đầu, Bé đi cuối để dò đường. Chú tôi dắt tay đứa con gái lớn của Bé. Con nhỏ sợ quá đái cả ra quần, hai ống quần sát vào nhau, nó bước không được bị lôi đi sền sệt. Thái một tay xách cái xách quần áo của má tôi, lưng cõng thêm thằng con trai lên ba của Bé. Má tôi ôm cái mền trước ngực như muốn che chở tấm thân gầy ốm của bà. Tôi đi trước má tôi, đằng sau lưng Thái. Chú tôi đi gần sau cùng, vừa đi vừa cằn nhằn. Ông vừa đói vừa sợ chết lại vừa thèm rượu:
"Ði tụm lại như ri nguy hiểm lắm. Chạy mau tìm chỗ núp. Họ tràn tới nơi rồi."
Ở trong các khu vườn, tôi nhìn thấy có đầu người lố nhố. Chắc họ núp dưới hố cá nhân. Những họng súng hờm sẵn trên miệng hố. Những bụi cây sột soạt. Có tiếng nạt nộ ở trong một bức thành đổ nát:
"Chạy mau, chết đến nơi rồi đó."
Lại một giọng nói lơ lớ miệt ngoài. Tôi như bị ma đuổi, chạy bỏ cách khoảng má tôi tới mấy chục bước.
Nhưng không kịp nữa rồi, trận chiến đã kéo tới nơi. Tiếng súng bắn như mưa, chúng tôi bị kẹt giữa hai làn đạn.
"Chạy."
Thái hô lớn. Chúng tôi chạy.
"Nằm xuống."
Chúng tôi lại nằm xuống. Người tôi không còn tự chủ được nữa mà bị điều khiển theo tiếng hô của Thái. Trong trí tôi hầu như đã hoàn toàn trống trơn, sẵn sàng tuân lệnh bất cứ lời sai khiến nào.
"Không xong rồi."
Thái đẩy má tôi, chú tôi, gia đình Bé và Thu vào một ngôi nhà. Nhưng người núp bên trong không chịu mở cửa. Chúng tôi lại chạy, chạy lạc từ khu đang đánh nhau này qua khu đang đánh nhau khác và tôi không còn trí nhớ để nhận ra nơi mình đến là vùng nào nữa. Tiếng súng gần quá, trở lại đằng sau cũng không được, tiến tới nữa cũng không được. Ðoàn người đi trước có nhiều người bị thương đang nằm dẫy chết giữa đường, cạnh những xác chết cũ đã sình to, muốn búng nước. Tôi phải nhảy vào một bụi cây để tránh xác một người đàn bà chết bên cạnh đôi thúng gióng và chiếc đòn gánh còn nằm tựa bên vai. Vũng máu đã khô bong từng miếng trộn với cát bẩn. Bên cạnh những xác người bị banh ngực, bể đầu, cụt tay chân, những cánh tay khúc chân mất biệt như có ai đến đánh cắp. Tôi nghĩ đến đàn chó hoang mấy ngày nay lang thang trong thành phố, nhưng tôi không còn đủ sức để sợ hãi nữa. Bây giờ phải chạy để thoát đã. Một vài người bị thương đang nằm rên rỉ, những cánh tay chờn vờn đưa theo níu lấy ống quần, vạt áo. Những tiếng kêu xin:
"Ðem tôi theo với. Cứu cho với, trời ơi."
Nhưng tôi vẫn đạp qua họ mà đi, nhiều người khác cũng đạp qua họ mà đi. Tôi bị một bàn tay níu lấy ống chân quần. Tôi giựt mạnh, tiếng vải rách soạt. Mặc kệ, tôi phải sống trước đã, dù sống thêm một giây, một giờ hay mấy giờ đồng hồ nữa.
"Chỗ ni nguy hiểm lắm, chắc họ sắp đụng nhau tới nơi rồi."
Thái nói chưa dứt câu đã nghe những tiếng chóc chóc từ trong các khu vườn nã xuống phía bờ sông. Phía sông, từng loạt tiểu liên đại liên nã lên dữ dội. Thái không kịp thêm ý kiến gì nữa. Nó nhảy phóc lên khỏi hố bom:
"Chạy."
Chúng tôi chạy theo. Tiếng đạn từ các vườn dưới mặt sông bắn loạn xạ. Không thể chạy nổi nữa, chúng tôi bò lăn dưới đất.
"Cứ bò tới, cứ lăn lăn tròn, lăn theo con nì."
Thái hô lớn nhưng nghe tiếng được tiếng mất:
"Bác chạy nơi chỗ nớ tề. Chạy ra đằng sau bức tường đó."
Thái cầm chặt tay tôi lại:
"Ðể bác chạy trước chị."
Chú tôi, má tôi, vợ chồng Bé, mấy đứa nhỏ vùng dậy chạy thoát ra phía bức tường. Thái kéo tôi: Chạy mau. Nhưng chóc chóc, hình như một lằn đạn từ sau bức tường bắn tới. Nằm xuống. Thái kéo tay tôi, hai chị em lăn đại xuống đất. Cố bò tới, cái cửa nhà tề. Giữa bom đạn, giữa khói súng, ngôi nhà gạch còn đứng vững, hình như chưa bị một vết đạn nào. Ngôi nhà sừng sững như một phép lạ. Thái khom người giơ chân đá vào cánh cửa. Cánh cửa bật mở dễ dàng. Tôi lao người vào.
Nhưng cái gì thế kia? Tôi nhảy một bước vào bên trong rồi hai chân như bị keo dính chặt, không tài nào cất lên nổi nữa. Tôi đưa tay lên miệng, tôi há mồm muốn kêu. Nhưng tôi như đã chết đứng rồi.
Trước mắt tôi, xung quanh tôi đầy xác chết. Người nằm sấp, kẻ lật ngửa. Người co rúm lại, kẻ đang trợn trừng mắt tay chân khẳng khiu. Những miếng thịt, những vũng máu bê bết khắp nền nhà. Chân tôi không thể bước tới mà cũng không còn chỗ bước lui được nữa.
Không biết nhờ đâu tôi còn được sự phản ứng khi mới bước chân vào nhà. Hình như khi bước chân tôi chưa chạm đất, mắt tôi đã chạm phải cảnh hãi hùng bên trong căn nhà, và một sức mạnh nào đó đã đưa bàn chân tôi bước tránh được những vũng máu. Chỗ đó hình như cũng chỉ vừa cho một bàn chân. Còn một bàn chân chỉ dính hờ xuống chạm gót.
Tôi muốn kêu rú lên, muốn ngã vật xuống ngất xỉu. Nhưng không, tôi còn nhận ra được những vũng máu, những cánh tay, khúc chân, tôi phải cố đứng.
Rồi sự kinh hãi nén chặt quá, dồn từ chân lên đỉnh đầu, từ đỉnh đầu xuống chân, bật dùm tôi được một tiếng kêu lớn. Thái đã đứng sẵn sau lưng tôi rồi. Người tôi bị xốc nổi lên, và Thái vác tôi lên vai, mặc súng đạn, mặc nguy hiểm, chạy như bay ra khỏi căn nhà ghê rợn.
Khi tôi tỉnh dần lại thì Thái cũng vừa đặt tôi xuống đất. Những vũng máu của ai vẫn còn vương vất trước mắt tôi. Không, không phải, tôi dụi mắt, máu thật, máu thành giọt, máu đọng vũng quanh mấy xác chết còn tươi.
"Bác đâu?"
Tôi hỏi Thái. Nó đưa tay lên chùi mặt, vừa nói:
"Góc tường đàng nớ tề."
Má tôi, chú tôi, và Bé chạy lại.
"Trời ơi. Tưởng chị với Thái lạc mất rồi chớ."
Má tôi chụp lấy vai tôi:
"Ngồi xuống, ngồi xuống con."
Mắt tôi hoa lên, tôi thấy những tàng lá xanh trước mặt lây lất rồi xoay tít. Giữa những vòng xoay tít mù đó, như có những giọt máu, những cánh tay, khúc chân ai quay theo nữa.
Nhiều tiếng đạn bay, nhiều tiếng nhà đổ. Tôi nằm lăn ra đất. Cách chỗ tôi khoảng mươi thước, một người đàn ông đang bò tới gần.
"Cứu tôi với, cứu tôi với bà con ơi."
Ngực và cánh tay ông ta máu chảy ròng ròng, tôi lăn sát sát vào Thu. Thu rú lên. Chú tôi bịt miệng nó lại. Người đàn ông lết tới gần dần. Miệng ông không ngớt kêu la. Ông đưa cánh tay đầy máu của ông lên mút, miệng ông đỏ lòm, hai mắt ông trợn trừng. Tôi thấy ông lăn tròn một vòng rồi dẫy đành đạch. Mắt tôi lại hoa lên. Tôi bấm vào tay mình thật chặt rồi úp mặt xuống đất.
Tiếng súng xa dần được một quãng, rồi có tiếng chân chạy thình thịch, tiếng hô lớn. Tiếng chân dội vào tai tôi, như bước cả qua đầu tôi nữa. Tiếp theo những tiếng nổ lách cách, mặt tôi nóng rực. Thái dựng tôi dậy:
"Chạy gấp, không chết cháy chừ."
Tôi níu áo Thái, đạp bừa lên người chết, người sống. Tôi gọi má ơi má hỡi. Tôi nghe tiếng gọi của tôi như tiếng gọi cuối cùng của một con người sắp chết.
"Má đây con ơi."
Tôi nghe tiếng má tôi trả lời, tiếng má tôi khóc nữa. Tôi chưa chết. Tôi vẫn còn nghe, còn thấy, còn sống hẳn hoi mà. Tôi lại tiếp tục chạy.
Tiếng súng bỗng thưa dần. Chúng tôi vẫn chạy. Tôi cứ nhắm sau lưng Thái mà chạy theo. Nhiều bàn tay dưới đất vươn lên với tôi, nhiều tiếng van xin cầu cứu. Tôi cũng muốn la to:
"Ai cứu tôi với đây. Tôi còn sức lực gì nữa."
Cho tới khi tôi xô vào lưng Thái và dừng lại thì cả gia đình tôi đã ngồi xuống bên đường. Tiếng súng đã thưa lắm rồi. Ðại bác cũng ngưng. Tôi mở bừng mắt. Tôi không còn cảm thấy mắt mình hoa lên nữa. Như vậy là lúc nào mình có cảm tưởng sắp chết đến nơi mắt mới hoa. Bây giờ tôi yên tâm sống rồi. Chúng tôi đang ngồi bên đường rầy xe hỏa. Mấy đứa nhỏ vẫn còn nguyên lành đó sao? Tôi ngạc nhiên đếm tới đếm lui. Chừng đó mạng người trong cơn lửa đạn mà vẫn còn đầy đủ. Nước mắt tôi trào ra, nước mắt chú tôi, má tôi, vợ chồng Bé cũng trào ra. Con Thu ôm chặt thằng Cu vào lòng, thằng nhỏ muốn thiếp đi vì sợ hãi. Thái vuốt ve con đường sắt cũ nói:
"Mình theo đường rầy đi về nhà. Ðánh nhau khắp nơi rồi, về nhà đi bác."
"Về nhà họ đánh tới mần răng?"
"Chừ ở mô cũng rứa, ăn thua may rủi bác ơi."
"Liệu nhà có còn không hay tan hoang rồi."
Không ai trả lời được câu này hết. Nhưng chiều hôm đó, trước khi trời tối, chúng tôi cũng lần mò tìm được đường về nhà. Thái nói nhà tôi ở sát quốc lộ dễ xảy ra đụng độ lắm. Cuối cùng, chúng tôi dọn lên nhà chú tôi ở sau đường rầy, gần sát mấy ngọn đồi nhỏ phía chân núi Tam Thái.
Trước đó, để tránh những cuộc pháo kích, Bé đã đào một cái hầm sâu dưới đất, phía trong nhà để trú ẩn. Khi chúng tôi vô, cái hầm được sửa sang lại. Thái và Bé lo đào đất để đổ thêm vào bao chất lên miệng hầm.
Tất cả các ngôi nhà kế cận vẫn im lặng một cách lạ thường. Ngôi nhà sát nhà chú tôi bị một trái hỏa tiễn ngay từ sáng hôm mồng một sập mất một nửa, mấy cây tre ở sau vườn ngả nghiêng sập cả lên sườn nhà.
Chắc không còn ai ở trong xóm hết, tôi nghĩ thế. Nhưng tối hôm đó, Thu phát giác ra có nhiều nhà còn người ở. Nó khám phá ra những chấm đèn dầu nhỏ hoặc những tiếng động nhỏ bé sợ sệt. Cả đêm đầu tiên ngủ trong hầm, chúng tôi nín thở, không dám phát ra tiếng động. Thái nghi những dấu hiệu để báo động, có người trong nhiều nhà chưa chắc là dân chúng trong vùng. Ðôi khi là "họ" cũng nên. Chúng tôi thường dùng tiếng họ để chỉ Việt cộng và để tránh tiếng giải phóng. Thật không gì mỉa mai tàn tệ bằng tiếng "giải phóng" khi nhìn cảnh đau thương tan tành trong thành phố như thế này. Lúc vô con hẻm dẫn vào nhà chú tôi, tôi cũng còn nhìn thấy lá cờ giải phóng rách bươm treo trên một cây ổi trước một ngôi nhà sụp đổ.
Cả đêm, chúng tôi nghe tiếng cú rúc liên hồi. Tiếng cú như tràn khắp bốn mặt như chất chứa một vẻ gì thất thường. Mỗi lần tiếng cú kêu, tôi có cảm tưởng như lưỡi hái của tử thần từ trên bầu trời đen điu đang chém xuống sẵn sàng trúng bất kỳ ai, đồ vật gì.
Gần về sáng, tôi nghe có tiếng chân người ngoài vườn. Tiếng chân rất khẽ, khi gần khi xa. Chúng tôi bấu chặt tay nhau. Bé sẵn sàng đặt tay lên miệng đứa bé nhỏ nhất mới sinh hơn tháng, để sẵn sàng bịt chặt lấy miệng đứa bé lỡ nó la khóc.
Nhìn bàn tay to lớn của đứa em bịt hờ trên miệng đứa bé, lòng tôi bất nhẫn đến đau xót. Chỉ một tiếng chân dừng lại trên miệng hầm, chỉ một lóe đèn pin chiếu xuống và đứa bé chưa kịp ré lên thì bàn tay đã chặt cứng miệng nó. Chỉ vài cái dẫy dụa rồi thôi. Ðêm nay có bao hầm sâu câm nín tiếng khóc trẻ em? Ðã có bàn tay nào bóp mạnh miệng một đứa bé chưa? Và những bộ mặt người lớn vừa xót thương mình vừa bất nhẫn trong một không khí độc địa như sẵn sàng quật chết tươi người.
Nhưng rồi một đêm nữa cũng qua, chúng tôi ngạc nhiên thấy mình còn sống giữa một xóm vắng hiu. Nhưng chúng tôi đã lầm, còn vài nhà có người ở, họ là những ông già, bà già không chạy theo con cháu được, hoặc một vài gia đình sợ quá ở lì.
Sáng hôm sau, tôi nghe nhiều tiếng động, nhiều khuôn mặt ló ra. Ðợi tiếng súng thưa, một bà lão bò sang thăm chúng tôi rồi không dám về nữa. Nhờ bà lão, tôi biết thêm trong xóm mấy hôm nay đầy quân giải phóng và hiện giờ họ đang đào hầm đào hố ở chân núi.
Trong khi sát đó, đồn Trường Bia vẫn đầy lính Quốc gia và nơi ngọn núi sau đồn đã nã đi những trái đại bác lên miền Long Thọ, Kim Long. Má tôi kêu trời là dại quá mới về gần họ. Thái kéo tuột bà lão xuống hầm:
"Ðừng để họ biết mình về."
Nhưng bà lão cả quyết rằng ban ngày họ lên sau đồn hết, họ không biết được. Bà dặn thêm: tuyệt đối không thắp đèn.
Buổi trưa, một gia đình trong xóm tìm về, căn nhà của họ đã sập, họ xin đào hầm ngay trong nhà chú tôi. Bà lão ở mãi cho tới chiều, có đứa cháu nhỏ chạy qua đón về, nhà bà lão chỉ cách nhà chú tôi một cái sân và con đường hẻm hẹp.
Các trận đánh vẫn diễn ra ở xung quanh. Ðêm đến, chúng tôi lại nín thở dưới hầm. Chúng tôi chờ đợi điều may rủi, nhưng điều may thật mong manh, cả nhà đều đói lả nhưng cũng chẳng còn ai đủ sức than thở nữa.
Còn một sự chờ đợi đầy kinh hoàng nữa. Một tiếng nổ mà chúng tôi không kịp nghe, không kịp hay biết gì hết.

Nguồn: http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6257&rb=08