Danh Ngôn

Trong giáo dục không có gì kinh hoàng bằng mức độ dốt nát mà nó tích lũy lâu dài dưới dạng những kiến thức xơ cứng.

Nothing in education is so astonishing as the amount of ignorance it accumulates in the form of inert facts.

Henry Adams (1838-1913). The Education of Henry Adams, 25, 1907

Một chút học vấn ít ỏi, thật ra, có thể là một điều nguy hiểm, nhưng thiếu học vấn [giáo dục] là một đại họa cho bất cứ một dân tộc nào.

A little learning, indeed, may be a dangerous thing, but the want of learning is a calamity to any people.

Frederick Douglass, diễn văn đọc ở lễ ra trường tại Trường Trung học Da màu, Baltimore, Maryland, 22 tháng Sáu 1894

Người tự do không thể làm một người dốt nát lâu dài. (The free man cannot be long an ignorant man.

William McKinley, diễn văn đọc tại Pittsburgh, Pennsylvania, 3 tháng Mười Một 1897

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

1984 (kỳ 13)

George Orwell

 

III.

“Quá trình cải tạo của anh chia làm ba giai đoạn. Học, hiểu và tiếp thu. Đã đến lúc chuyển sang giai đoạn hai rồi đấy”, O’Brien bảo.

Winston vẫn nằm ngửa như mọi khi, tuy thời gian gần đây những chỗ trói buộc có được nới ra chút ít. Anh vẫn bị trói chặt vào giường, nhưng có thể co đầu gối hay quay đầu sang hai bên, cũng như có thể nâng từ khuỷu tay trở lên. Cái đồng hồ đo cũng không còn đáng sợ như trước nữa. Nếu nhanh trí anh còn có thể tránh được cả những cơn đau: O’Brien thường chỉ quay bảng số khi không chấp nhận câu trả lời. Đôi khi suốt buổi nói chuyện anh không bị đau lần nào. Anh không nhớ đã có tất cả bao nhiêu buổi. Quá trình này kéo dài khá lâu, không xác định được, có thể đã mấy tuần rồi; có cả những buổi giải lao, có khi mấy ngày, có khi chỉ vài giờ.

“Khi nằm ở đây”, O’Brien nói, “anh vẫn thường tự hỏi, anh còn hỏi cả tôi, tại sao Bộ Tình Yêu lại tốn nhiều thì giờ và công sức với anh như vậy. Khi anh ở một mình, thực ra câu hỏi đó vẫn lởn vởn trong đầu. Anh có thể hiểu được cơ chế hoạt động của xã hội ta, nhưng chưa hiểu được động cơ sâu xa của nó. Anh có nhớ đã viết trong nhật kí: “Tôi hiểu như thế nào, nhưng không hiểu tại sao” không? Chính lúc anh nghĩ đến “tại sao” là lúc anh ngờ rằng mình là người bất bình thường đấy. Anh đã đọc cuốn sách, tác phẩm của Goldstein, hoặc ít nhất đã đọc vài chương. Anh có thấy điều gì mới không?”

“Anh cũng đọc rồi à?”, Winston hỏi.

“Tôi viết cuốn đó. Đúng hơn phải nói tôi tham gia viết. Như anh biết đấy, làm gì có cuốn nào do chỉ một người viết.”

“Những điều viết trong đó có thật không?”

“Phần mô tả thì thật. Còn chương trình nó nêu ra là nhảm. Bí mật thu thập kiến thức... khai hoá từ từ... sau đó là khởi nghĩa của vô sản... lật đổ Đảng. Chính anh cũng đoán được nó nói gì rồi mà. Nhảm nhí tất. Vô sản sẽ không bao giờ khởi nghĩa, cả ngàn năm, cả triệu năm nữa cũng vậy thôi. Chúng không thể vùng dậy được. Không cần nói lí do: anh tự biết rồi. Nếu anh còn ấp ủ giấc mơ về khởi nghĩa vũ trang thì hãy quên đi. Không có cách nào lật đổ được Đảng. Quyền lực của Đảng là vĩnh viễn. Anh hãy lấy đấy là xuất phát điểm cho những suy nghĩ của mình.”

O’Brien bước lại gần giường hơn.

“Vĩnh viễn”, anh ta nhắc lại. “Bây giờ trở lại với câu hỏi “thế nào” và “tại sao”. Anh đã hiểu Đảng làm thế nào để giữ được quyền hành. Bây giờ hãy nói cho tôi biết tại sao chúng tôi lại bám vào quyền lực. Động cơ của chúng tôi là gì? Tại sao chúng tôi lại thích quyền lực? Nói đi” – Anh ta giục vì thấy Winston vẫn nằm yên.

Nhưng Winston không trả lời. Anh cảm thấy mệt rã rời. Trên nét mặt O’Brien lại thoáng hiện lên vẻ hăng hái điên khùng. Anh ta biết trước những điều Winston sẽ nói: Đảng tranh giành quyền lực không phải vì mình, mà vì quyền lợi của đa số nhân dân. Đảng tranh giành quyền lực là vì quần chúng là một đám người yếu đuối, hèn nhát; quần chúng không thể mang nổi gánh nặng của tự do, không dám đối diện với sự thật; họ phải được lãnh đạo và thường xuyên bị những người mạnh hơn lừa bịp. Loài người đứng trước một sự lựa chọn: hạnh phúc hay là tự do và đa số thích hạnh phúc hơn. Đảng là người chăm lo cho những người cùng khổ, là đội ngũ những người tận tuỵ làm những điều ác nhân danh điều thiện, những người suốt đời hi sinh hạnh phúc của mình vì hạnh phúc của nhân dân. Thật là khủng khiếp, Winston nghĩ, khủng khiếp nhất là O’Brien tin chính những điều anh ta nói. Cứ nhìn mặt anh ta thì thấy. O’Brien biết tất. Anh ta biết rõ hơn Winston cả ngàn lần, anh ta biết quần chúng đang phải sống trong cảnh khốn cùng đến mức nào, anh ta biết Đảng đã dùng những sự dối trá và hành động dã man như thế nào để giữ mãi quần chúng trong thảm cảnh đó. Anh ta hiểu hết, cân nhắc hết, nhưng không hề dao động: mục đích cuối cùng sẽ biện minh cho tất cả. Ta biết làm gì, Winston chợt nghĩ, với một thằng điên thông minh hơn ta, hắn chú ý nghe hết lí lẽ của ta, nhưng sau đó vẫn ngoan cố bám vào những ý tưởng điên rồ của hắn?

“Các anh cai trị chúng tôi vì hạnh phúc của chúng tôi”, anh thều thào nói. “Các anh tin rằng quần chúng không thể tự lãnh đạo được, cho nên...”

Anh giật nẩy người và suýt hét lên vì đau. Cơn đau truyền khắp cơ thể. O’Brien xoay kim lên số ba lăm.

“Vớ vẩn, Winston, vớ vẩn hết. Anh phải biết nhiều hơn thế mới phải.”

Anh ta xoay mũi kim lại và nói tiếp:

“Bây giờ tôi sẽ trả lời giúp anh. Nó là thế này. Đảng tranh giành quyền lực chỉ vì quyền lực. Chúng tôi không quan tâm đến hạnh phúc của kẻ khác, chúng tôi chỉ quan tâm đến quyền lực. Không phải là tài sản, không phải sự xa hoa, không phải sống lâu, không phải hạnh phúc: chỉ có quyền lực, quyền lực thuần tuý. Rồi anh sẽ hiểu quyền lực thuần tuý nghĩa là gì. Chúng tôi biết việc mình làm và đấy là điểm khác biệt của chúng tôi với những băng đảng trong quá khứ. Tất cả bọn họ, ngay cả những người có vẻ giống chúng tôi, đều là những kẻ hèn nhát và giả dối. Những người phát xít ở Đức và cộng sản ở Nga rất gần gũi với chúng tôi về mặt phương pháp, nhưng họ không đủ dũng khí để thừa nhận động cơ của mình. Họ làm bộ và cũng có thể thực sự tin rằng họ buộc phải cướp chính quyền và sẽ giữ trong một khoảng thời gian nào đó, thiên đường đã cận kề, người ta sẽ được tự do và bình đẳng. Chúng tôi không phải là những người như vậy. Chúng tôi biết rằng không có ai giành chính quyền để rồi sau sẽ từ bỏ nó. Quyền lực không phải là phương tiện, quyền lực là mục đích. Không ai đi thiết lập chuyên chính để bảo vệ cách mạng, người ta làm cách mạng để thiết lập chuyên chính. Mục đích của đàn áp là đàn áp. Mục đích của tra tấn là tra tấn. Mục đích của quyền lực là quyền lực. Bây giờ anh đã bắt đầu hiểu tôi chưa?”

Winston cảm thấy choáng váng, trước đây anh đã từng bị như thế, bộ mặt mệt mỏi của O’Brien làm anh váng vất. Đấy là bộ mặt mạnh mẽ, dầy và thô, nhưng đầy trí tuệ và lòng nhiệt tình được chế ngự; anh tự cảm thấy thua kém, nhưng dù sao cũng là bộ mặt mệt mỏi. Có những chỗ xệ ra bên dưới mí mắt, những đám da bùng nhùng dưới hai gò má. O’Brien cúi xuống, cố ý đưa bộ mặt nhàu nát lại gần hơn.

“Anh nghĩ rằng”, anh ta nói, “mặt tôi già và mệt mỏi. Anh nghĩ rằng tôi nói về quyền lực trong khi không có khả năng ngăn chặn tình trạng suy sụp của chính cơ thể mình. Winston, chả lẽ anh không hiểu rằng, cá nhân chỉ là một tế bào trong cơ thể? Sự mệt mỏi của tế bào chính là nhựa sống của cơ thể. Anh có chết khi cắt móng tay không?”

Anh ta quay lưng, đi đi lại lại, một tay đút vào túi.

“Chúng tôi là những tín đồ của quyền lực”, anh ta nói. “Chúa chính là quyền lực. Nhưng đối với anh hiện nay, quyền lực chỉ là ngôn từ mà thôi. Đã đến lúc anh phải hiểu quyền lực nghĩa là gì rồi đấy. Trước hết, anh phải biết rằng quyền lực mang tính tập thể. Cá nhân chỉ có quyền lực khi anh ta không còn là cá nhân nữa. Anh đã biết khẩu hiệu của Đảng: “Tự do là nô lệ”. Có bao giờ anh nghĩ đến việc đảo lại câu đó không? Nô lệ là tự do. Một mình – Tự do – người ta bao giờ cũng thua. Tất nhiên là thế rồi, vì ai cũng phải chết, đấy chính là thất bại lớn nhất của kiếp người. Nhưng nếu anh ta khuất phục hoàn toàn, khuất phục tuyệt đối, nếu anh ta chối bỏ cá tính của mình, nếu anh ta hoà tan vào Đảng đến mức trở thành Đảng thì khi đó anh ta sẽ là người có quyền lực vô biên và trở thành bất tử. Thứ hai, anh cần phải hiểu rằng, quyền lực là quyền lực đối với con người. Đối với thể xác, nhưng trên hết là đối với tinh thần. Quyền lực đối với vật chất, hay sự vật bên ngoài như anh nói, không có ý nghĩa gì. Vật chất đã bị chúng tôi chinh phục hoàn toàn từ lâu.”

Trong một sát na, Winston bỗng quên cái đồng hồ đo. Anh gắng sức ngồi lên, nhưng hoá ra chỉ làm cho mình đau thêm.

“Nhưng làm sao các anh có thể chinh phục được vật chất?”, anh thốt lên. “Ngay cả thời tiết hay định luật hấp dẫn các anh cũng không chinh phục được. Lại còn bệnh tật, ốm đau, chết chóc...”

O’Brien giơ tay ngăn lại.

“Chúng tôi chinh phục được vật chất vì chúng tôi chinh phục được tinh thần. Hiện thực nằm ở trong hộp sọ. Từ từ rồi anh sẽ hiểu. Không có việc gì chúng tôi không làm được. Tàng hình, bay – tất tật. Nếu muốn, tôi có thể bay lên như một cái bong bóng xà phòng. Nhưng tôi không muốn vì Đảng không muốn. Anh hãy quên các khái niệm của thế kỉ XIX về qui luật của tự nhiên đi. Chúng tôi tạo ra qui luật tự nhiên.”

“Làm gì có chuyện đó! Các anh không phải là chủ các hành tinh. Thế còn Eurasia và Eastasia? Các anh còn chưa chiếm được cơ mà.”

“Không quan trọng. Chúng tôi sẽ chiếm khi cần. Nhưng nếu chúng tôi không chiếm thì đã sao nào? Chúng tôi có thể loại bỏ chúng khỏi đời sống của mình. Oceania là cả thế giới.”

“Nhưng thế giới cũng chỉ là một hạt bụi. Còn con người thì nhỏ bé, bất lực! Con người đã có mặt trên đời này được bao lâu? Hàng triệu năm trái đất đã không có người ở.”

“Nhảm nhí. Trái đất cũng chỉ bằng tuổi chúng tôi mà thôi. Làm sao nó có thể già hơn được? Không có gì tồn tại bên ngoài ý thức của con người.”

“Nhưng có những hòn đá chứa đầy xương của các loài đã tuyệt chủng như voi mamut, voi mastodon, và các loài bò sát khổng lồ biết bay đã sống ở đây rất lâu trước khi xuất hiện con người nữa.”

“Winston, anh đã nhìn thấy những cái xương ấy bao giờ chưa? Tất nhiên là chưa. Các nhà sinh vật học thế kỉ XIX bịa ra đấy. Trước khi con người xuất hiện là hư vô. Sau con người, nếu một ngày nào đó loài người tuyệt chủng, thì cũng sẽ chẳng có gì. Không có gì nằm ngoài con người hết.”

“Nhưng toàn bộ vũ trụ nằm bên ngoài chúng ta. Hãy nhìn lên các vì sao! Một số nằm cách chúng ta cả triệu năm ánh sáng. Chúng mãi mãi nằm ngoài tầm với của chúng ta.”

“Sao là cái gì?”, O’Brien hờ hững nói. “Chỉ là những đốm lửa cách đây vài kilômét. Nếu muốn, chúng tôi có thể với tới. Hoặc chúng tôi có thể dập tắt luôn. Trái đất là rốn của vũ trụ. Mặt trời và các vì sao quay xung quanh trái đất.”

Winston lại cố vùng dậy một lần nữa. Lần này anh không nói gì. O’Brien tiếp tục, như đang đáp trả một lời phản đối:

“Đối với một số nhiệm vụ thì tất nhiên điều đó là sai. Khi lái tầu trên biển hoặc khi dự báo nhật, nguyệt thực thì chúng tôi coi trái đất quay xung quanh mặt trời và các vì sao nằm cách đây triệu triệu kilômét. Thế thì đã làm sao? Anh nghĩ rằng chúng tôi không thể tạo ra được môn thiên văn học kép à? Các vì sao ở gần hay ở xa là do nhu cầu của chúng tôi. Anh nghĩ rằng các nhà toán học của chúng tôi không kham nổi việc đó à? Anh đã quên nướcđôi rồi sao?”

Winston nằm bẹp xuống giường. Dù anh có nói gì thì cũng bị đập lại ngay bằng một câu trả lời tức thì, giống như bị giáng bằng dùi cui vậy. Nhưng anh biết, anh biết là mình có lí. Tin rằng không có gì tồn tại bên ngoài nhận thức của con người... chắc chắn phải có cách chứng minh là nó sai chứ? Chả lẽ nó không được coi là nguỵ biện từ lâu rồi hay sao? Thuyết ấy có tên đấy, nhưng gọi là gì thì anh không nhớ. Nụ cười thoáng hiện trên khoé miệng O’Brien khi anh ta nhìn xuống.

“Winston, tôi đã nói lí thuyết không phải là mặt mạnh của anh. Cái anh đang nghĩ tới là từ duy ngã đấy. Nhưng anh lầm. Đấy không phải là duy ngã. Phải nói là duy ngã tập thể. Nhưng dù sao cái này cũng khác, đúng hơn là ngược lại hoàn toàn. Chúng ta đã lạc đề rồi”, anh ta nói thêm bằng giọng khác hẳn. “Quyền lực thực sự, cái quyền lực mà chúng tôi phải giành giật suốt ngày đêm là quyền lực đối với con người chứ không phải đối với đồ vật”. Anh ta ngừng lời, rồi sau đó hỏi, như một ông thày hỏi đứa học trò có năng khiếu: “Winston, làm thế nào để người này khẳng định quyền lực với người kia?”

Winston suy nghĩ.

“Bắt hắn phải chịu đau khổ”, anh nói.

“Đúng quá. Bắt hắn phải chịu đau khổ. Vâng lệnh không thôi chưa đủ. Nếu nó không chịu đau khổ thì làm sao anh biết được là nó đang phục tùng ý chí của anh chứ không phải ý chí của chính nó? Quyền lực thể hiện trong việc làm cho người khác phải đau đớn và nhục nhã. Quyền lực là xé nát tâm hồn người ta thành những mảnh nhỏ rồi sau đó ghép chúng lại theo ý của mình. Bây giờ anh đã bắt đầu hiểu cái thế giới mà chúng tôi đang tạo dựng chưa? Nó hoàn toàn đối lập với những xã hội không tưởng khoái lạc chủ nghĩa mà các nhà cải cách trước đây mường tượng. Thế giới của sợ hãi, phản bội và khổ đau, thế giới của những kẻ chà đạp và bị chà đạp; thế giới, càng hoàn thiện thì lại càng tàn nhẫn. Tiến bộ trong thế giới của chúng tôi là tiến đến ngày càng nhiều khổ đau hơn. Các nền văn minh cũ tuyên bố rằng được xây dựng trên cơ sở của tình yêu thương và công bằng. Thế giới của chúng tôi được xây dựng trên cơ sở hận thù. Trong thế giới của chúng tôi, sẽ không còn tình cảm nào khác ngoài nỗi sợ hãi, sự giận dữ, niềm hân hoan và nhẫn nhục. Tất cả những cái khác sẽ bị huỷ diệt, tất cả. Chúng tôi đã tiêu diệt tập quán suy nghĩ vốn là tàn dư của thời kì trước cách mạng. Chúng tôi đã chặt đứt mối liên hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa người này với người kia, giữa đàn ông với đàn bà. Không còn ai dám tin vợ, con, bạn bè nữa. Chả bao lâu nữa thì vợ và bạn cũng không còn. Trẻ con sẽ bị tách ra khỏi mẹ ngay sau khi sinh như người ta nhặt trứng gà. Bản năng nhục dục sẽ bị tiêu diệt. Việc sinh đẻ sẽ trở thành một loại thủ tục như ta đổi tem thực phẩm hàng năm vậy thôi. Chúng tôi sẽ huỷ diệt cảm giác cực khoái. Các nhà thần kinh học đang nghiên cứu vấn đề đó. Sẽ không còn lòng trung thành, trừ lòng trung thành với Đảng. Sẽ không còn tình yêu trừ tình yêu Anh Cả. Sẽ không còn tiếng cười, trừ tiếng cười hân hoan trước kẻ chiến bại. Sẽ không còn văn chương, nghệ thuật, khoa học. Khi chúng tôi trở thành vô địch thì chúng tôi không cần khoa học nữa. Sẽ không còn phân biệt giữa đẹp và xấu. Sẽ không còn tính hiếu kì, sẽ không còn niềm vui sống. Niềm vui sướng trong đua tranh cũng bị tiêu diệt. Nhưng Winston, không được quên rằng, niềm say mê quyền lực thì mãi mãi, mãi mãi vẫn còn, ngày càng phát triển, ngày càng tinh tế hơn. Sẽ còn mãi, sẽ hiện diện trong từng giây phút niềm hân hoan chiến thắng, niềm phấn khích vì được giầy xéo lên kẻ thù bất lực. Nếu anh muốn có một bức tranh của ngày mai thì hãy tưởng tưởng chiếc ủng đang đạp lên mặt một người, đạp mãi.”

Anh ta chợt ngưng như thể chờ phản ứng của Winston vậy. Winston lại muốn chui xuống dưới cái giường. Anh không thể nói được gì. Lòng anh tái tê. O'Brien tiếp tục:

“Xin nhớ là mãi mãi. Lúc nào cũng có thể tìm được một cái mặt để mà chà đạp. Luôn luôn sẽ có những kẻ dị giáo, kẻ thù của xã hội, chúng sẽ bị đánh bại, bị lăng nhục hết lần này đến lần khác. Tất cả những điều anh đã trải qua từ ngày anh rơi vào tay chúng tôi, tất cả sẽ còn tiếp diễn, ngày một dữ dội hơn. Theo dõi, phản bội, bắt bớ, tra tấn, hành quyết, biến mất, sẽ không bao giớ dứt. Trong thế giới đó, nỗi sợ hãi cũng nhiều ngang với niềm hân hoan. Đảng càng mạnh thì càng bất dung; đối lập càng yếu thì chuyên chế càng tăng. Goldstein và những tên dị giáo của hắn sẽ sống mãi. Chúng sẽ bị đánh, bị làm nhục, bị chế giễu, bị phỉ nhổ, nhưng chúng vẫn sống sót. Vở kịch mà tôi đã đóng với anh suốt bảy năm qua sẽ còn được đóng đi đóng lại, từ thế hệ này sang thế hệ khác, ngày càng tinh vi hơn. Trong tay chúng tôi sẽ luôn luôn có những kẻ dị giáo, chúng sẽ gào lên vì đau đớn, chúng sẽ bị đánh gục, bị khinh bỉ và cuối cùng, thực tâm hối hận, tự bò đến chân chúng tôi. Winston, thế giới mà chúng tôi xây dựng là như thế đấy. Thế giới của chiến công nối tiếp chiến công, hân hoan nối tiếp hân hoan rồi lại hân hoan nữa: áp lực, áp lực, áp lực mãi lên những sợi dây thần kinh quyền lực. Tôi thấy anh đã bắt đầu hiểu thế giới đó rồi đấy. Nhưng cuối cùng, anh sẽ đi xa hơn sự hiểu biết suông. Anh sẽ chấp nhận nó, hoan nghênh nó, trở thành một phần của nó.”

Winston đã tỉnh, đủ sức lên tiếng.

“Không có đâu!”, anh nói một cách yếu ớt.

“Winston, anh định nói gì?”

“Các anh không thể tạo dựng được thế giới như anh vừa kể. Đấy chỉ là một giấc mơ. Không thể được.”

“Tại sao?”

“Không thể xây dựng một nền văn minh dựa trên nỗi sợ hãi, lòng thù hận và dã man. Nó không thể nào tồn tại được.”

“Tại sao không?”

“Nó không có sức sống. Nó sẽ tan rã. Nó sẽ tự sát.”

“Nhảm nhí. Anh có cảm tưởng rằng hận thù làm người ta mau kiệt sức hơn tình yêu. Tại sao lại thế? Mà nếu như thế thật thì đã sao nào? Giả sử chúng tôi quyết định làm cho mình mau tàn hơn. Giả sử chúng tôi quyết định đẩy nhanh nhịp sống của đời người lên, ba mươi tuổi đã là người lọm khọm rồi. Thế thì có gì khác không? Chả lẽ anh không hiểu rằng cái chết của một cá nhân không phải là sự diệt vong sao? Đảng là bất tử.”

Сũng như mọi khi, giọng anh ta làm Winston kiệt sức. Ngoài ra, anh còn sợ rằng nếu còn tiếp tục tranh cãi thì O’Brien có thể sẽ lại quay đồng hồ. Nhưng anh cũng không thể im lặng thêm được nữa. Mệt mỏi, thiếu lí lẽ, điểm tựa duy nhất là nỗi kinh hoàng không thể thốt lên lời do những lời nói của O’Brien tạo ra trong lòng anh. Anh quay sang tấn công.

“Tôi không biết...Tôi không quan tâm. Nhưng các anh sẽ thất bại. Các anh sẽ bị đánh bại. Cuộc đời sẽ đánh bại các anh.”

“Winston, chúng tôi làm chủ đời sống, trong mọi biểu hiện của nó. Anh có cảm tưởng rằng có một cái gì đó gọi là tính người, nó sẽ phản ứng với những gì chúng tôi làm và nổi lên chống lại chúng tôi. Nhưng chính chúng tôi tạo ra tính người. Con người ta dễ uốn lắm. Hay anh đã trở lại với ý nghĩ cũ là bọn vô sản hay bọn nô lệ sẽ đứng lên lật đổ chúng tôi? Quên chuyện đó đi. Chúng là một lũ đớn hèn, có khác gì súc vật đâu. Loài người là Đảng. Những bọn khác, bên ngoài, không có ý nghĩa gì.”

“Tôi không quan tâm. Cuối cùng thì nhất định họ sẽ thắng các anh. Sớm muộn gì họ cũng nhận ra bản chất của các anh và họ sẽ xé các anh ra thành từng mảnh.”

“Anh đã nhìn thấy dấu hiệu nào hay là lí do nào chưa?”

“Chưa. Tôi tin như thế. Tôi biết là các anh sẽ thất bại. Tôi biết là có một cái gì đó trong vũ trụ, một linh hồn hay một nguyên tắc mà các anh không thể nào vượt qua được.”

“Winston, anh có tin vào Chúa không?”

“Không.”

“Thế, vậy thì, nguyên tắc nào có thể thắng nổi chúng tôi?”

“Tôi không biết. Linh hồn của Loài Người.”

“Anh có tự coi mình là người không?”

“Có.”

“Winston, nếu anh là người thì đây là người cuối cùng. Loại người như anh đã bị diệt vong, chúng tôi là thừa kế. Anh có hiểu anh là người đơn độc không? Anh nằm ngoài lịch sử, anh không tồn tại”, thái độ của anh ta bỗng thay đổi, anh ta lên giọng: “Anh coi mình là người đức hạnh hơn chúng tôi, những kẻ dối trá và dã man, đúng không?”

“Vâng, tôi coi mình là người đức hạnh hơn.”

O’Brien không đáp. Có hai giọng khác cùng lên tiếng. Winston nhận ra giọng nói của mình. Người ta phát lại buổi nói chuyện của anh với O’Brien vào buổi tối hôm anh gia nhập Huynh Đệ. Anh nghe thấy mình hứa sẽ lừa dối, trộm cắp, làm tài liệu giả, giết người, reo rắc các chất ma tuý, thúc đẩy nạn mại dâm, reo rắc các bệnh hoa liễu, hắt axít xunphuaric vào mặt trẻ con. O’Brien khẽ phẩy tay, ý muốn nói chẳng cần phải nghe thêm nữa. Sau đó anh ta vặn công tắc, tắt máy.

“Đứng dậy”, O’Brien nói.

Các nút buộc tự rời ra. Winston thả chân xuống nền nhà và run rẩy đứng lên.

“Anh là người cuối cùng”, O’Brien bảo. “Anh là người bảo vệ linh hồn của loài người. Anh phải nhìn thấy cơ thể của chính mình. Cởi quần áo ra.”

Winston tháo sợi dây thắt bộ đồng phục. Phec-mơ-tuya đã bị giật mất từ lâu rồi. Anh không nhớ từ ngày bị bắt đã từng cởi hết quần áo lần nào chưa. Bên trong bộ đồng phục là một mớ giẻ màu vàng quấn lấy người, khó có thể nhận ra đó là quần áo lót. Sau khi thả hết những thứ ấy xuống sàn, anh bỗng nhìn thấy một chiếc gương ba mặt ở đầu kia căn phòng. Anh bước đến gần cái gương, rồi đứng sững lại. Anh vô tình thét lên.

“Đi tiếp đi”, O’Brien bảo. “Đứng vào giữa cánh gương ấy. Ngắm cả hai bên nữa.”

Anh dừng bước vì sợ. Một thân hình khòm khòm, xám ngoét, không khác gì bộ xương biết đi đang tiến lại phía anh. Anh sợ không phải vì nhận ra mình, mà bản thân cái hình hài ấy tự nó đã là đáng sợ rồi. Anh bước lại gần hơn. Mặt người trong gương đua ra đằng trước, vì thế mà lưng thành ra khòm khòm. Đấy là bộ mặt một người tù tuyệt vọng, trán cao, đầu hói, mũi cong, gò má hóp, đôi mắt dữ tợn và cảnh giác. Hai bên má đầy nếp nhăn, miệng tóp. Đúng, đây là khuôn mặt anh, nhưng có vẻ như nó thay đổi nhiều hơn những biến đổi trong lòng anh. Những tình cảm hiện ra trên nét mặt khác hẳn với những gì anh cảm thấy trong lòng. Anh đã bị hói nhiều. Đầu tiên anh tưởng tóc đã hoa râm, nhưng hoá ra là da đầu có màu xám. Toàn thân, trừ hai tay và mặt ra, bụi đất bám lâu ngày thành một màu xám xịt. Bên dưới lớp bụi, thỉnh thoảng lại có một vết thương màu đỏ; bên trên mắt cá chân, chỗ loét do dãn tĩnh mạch đã thành một đống sưng tấy, vẩy da tróc lởm chởm. Nhưng vẻ hốc hác là đáng sợ hơn cả. Ngực trơ ra không khác gì một bộ xương, chân teo lại đến nỗi đầu gối còn to hơn cả bắp vế. Bây giờ anh mới hiểu tại sao O’Brien lại bảo ngắm cả hai bên. Lưng còng hẳn xuống. Đôi vai gầy đua ra đằng trước làm cho ngực trở thành sâu hoắm, cái cổ khẳng khiu như cong gập lại, tưởng như không nâng nổi cái đầu. Nếu được hỏi thì anh sẽ nói rằng đây là một ông lão sáu mươi đang mắc một căn bệnh ác tính.

“Có lúc anh đã nghĩ”, O’Brien nói, “rằng mặt tôi đây, mặt của một đảng viên nội bộ, trông vừa già vừa nhàu nát. Thế còn mặt anh thì sao?”

Anh ta nắm lấy hai vai Winston và quay về phía mình.

“Hãy nhìn lại mình đi!”, anh ta bảo. “Hãy nhìn đất cát dơ dáy bám trên người anh đi. Hãy nhìn đất cát trên những ngón chân kia kìa. Hãy nhìn những vết loét khủng khiếp trên bắp chân xem. Anh có biết anh hôi không khác gì một con dê không? Có thể anh đã quen rồi. Hãy nhìn xem anh gầy đến mức nào. Thấy không? Ngón cái và ngón trỏ của tôi đủ nắm trọn bắp tay anh rồi đấy. Tôi có thể bẻ gẫy cổ anh như bẻ một củ cà rốt. Anh có biết từ ngày rơi vào tay chúng tôi, anh đã sụt mất hai mươi lăm cân rồi không? Ngay tóc anh cũng rụng từng nắm một. Nhìn này!”. Anh ta nắm đầu Winston và giật ra một nhúm tóc.

“Mở miệng ra. Chín, mười, còn mười một cái răng nữa. Khi đến đây anh có mấy chiếc? Mấy cái còn lại cũng rụng đến nơi rồi. Nhìn này!”

Anh ta dùng ngón tay cái và ngón tay trỏ cầm một chiếc răng cửa của Winston. Anh cảm thấy một cơn đau như muốn xé hàm ra. O'Brien giật mạnh cái răng đã lung lay và nhổ cả chân lên rồi ném vào góc buồng giam.

“Anh đang thối rữa”, anh ta bảo, “đang vỡ ra thành từng mảnh. Anh là cái gì? Một đẫy thịt thối. Bây giờ quay lại, soi vào gương một lần nữa xem. Anh nhìn thấy gì không? Người cuối cùng trông như thế đấy. Nếu anh là người thì loài người trông như thế đấy. Mặc quần áo vào đi.”

Winston bắt đầu mặc quần áo, động tác vừa chậm vừa vụng về. Cho đến lúc đó, anh không ngờ mình lại gầy và yếu đến như thế. Một ý nghĩ cứ lởn vởn mãi trong đầu: ta đã ở đây lâu hơn vẫn tưởng. Và bất thình lình, trong khi buộc nắm giẻ rách tả tơi ấy quanh người, anh bỗng cảm thấy tủi cho cái thân hình tiều tuỵ của mình. Anh ngồi vật xuống cái ghế đẩu bên cạnh giường ngủ và khóc oà lên. Anh biết rằng, một cái thân hình gầy trơ xương chỉ vận bộ đồ lót bẩn thỉu lại ngồi khóc dưới ánh đèn chói chang như thế là xấu, là nhục lắm; nhưng anh không cầm lòng được. O'Brien đặt tay lên vai anh, cử chỉ có thể coi là thân mật.

“Không thể để như thế này mãi được”, anh ta bảo. “Anh có thể chấm dứt chuyện này bất cứ khi nào anh muốn. Tất cả chỉ phụ thuộc vào anh thôi.”

“Các anh đấy!”, anh nức nở nói. “Các anh làm tôi ra nông nỗi này đây.”

“Không, Winston, chính anh làm anh ra nông nỗi thế đấy chứ. Anh đã chấp nhận chuyện này ngay từ khi anh chống lại Đảng. Tất cả những chuyện này ẩn chứa ngay trong hành động đầu tiên đó của anh. Anh đã biết trước tất cả rồi mà.”

Anh ta ngừng một chút, rồi nói tiếp:

“Winston, chúng tôi đã đánh anh. Chúng tôi đã làm cho anh thành thân tàn ma dại. Anh đã nhìn thấy thể xác của mình như thế nào rồi. Tâm hồn anh cũng thế mà thôi. Tôi nghĩ rằng, lòng tự trọng cũng chẳng còn nhiều nhặn gì đâu. Anh đã bị đá, bị đánh, bị lăng nhục, anh đã phải gào lên vì đau, anh đã từng quằn quại trong vũng máu và những thứ do chính mình nôn mửa ra. Anh đã van xin tha thứ, anh đã phản bội tất cả mọi vật, mọi người. Còn cái gì xấu xa hơn mà anh chưa làm nữa nào?”

Winston không khóc nữa, nhưng nước mắt vẫn còn rơi lã chã. Anh ngước nhìn O'Brien.

“Tôi chưa phản bội Julia.”

O'Brien cúi xuống, đầy ưu tư.

“Chưa”, anh ta bảo, “chưa, hoàn toàn đúng như thế. Anh chưa phản bội Julia.”

Winston rất khâm phục O'Brien, tình cảm này thật là vững chắc, vĩnh viễn không gì có thể lay chuyển được. Thông minh, thông minh quá! anh tự nhủ. Chưa bao giờ O'Brien tỏ ra không hiểu ý anh. Bất kì một người nào khác cũng đều sẽ bảo anh đã phản bội Julia rồi. Còn gì anh chưa khai khi bị tra tấn cơ chứ? Anh đã khai tất cả những gì anh biết về cô, thói quen, tính tình, quá khứ; anh đã khai chi tiết các cuộc hẹn hò, đã khai tất cả những điều họ nói với nhau, đã khai những bữa ăn với đồ mua ngoài chợ đen, những vụ thông dâm, những dự định chống Đảng - khai tất. Nhưng theo cái nghĩa mà anh hiểu lúc này thì anh chưa phản bội Julia. Anh vẫn còn yêu cô. Tình cảm của anh đối với cô vẫn như xưa. O'Brien hiểu hết, không cần giải thích dài dòng.

“Này anh”, Winston hỏi, “họ sắp bắn tôi chưa?”

“Có thể còn lâu đấy”, O'Brien nói. “Anh là một ca khó. Nhưng đừng vội thất vọng. Không chóng thì chầy, ai cũng khỏi hết. Lúc đó chúng tôi sẽ bắn anh.”

IV.

Anh cảm thấy khá hơn rất nhiều. Anh béo ra và khoẻ lên từng ngày, nếu quả thật có thể nói đến ngày ở đây.

Ánh sáng vẫn trắng như thế, tiếng ù ù cũng vẫn như thế, nhưng buồng giam thì có vẻ tiện nghi hơn những chỗ trước đây. Trên giường có cả gối và nệm, bên cạnh lại còn một chiếc ghế đẩu để ngồi. Họ cho anh đi tắm và còn thường xuyên cho rửa mặt trong cái chậu bằng sắt tây. Họ còn mang đến cả nước nóng vào phòng cho anh rửa mặt. Họ cho anh một bộ đồ lót mới và một bộ đồng phục sạch sẽ. Họ đắp lên chỗ loét do giãn tĩnh mạch một loại dầu, không còn ngứa nữa. Họ nhổ hết những cái răng còn lại và làm cho anh một bộ răng giả.

Đã mấy tuần hoặc mấy tháng trôi qua rồi. Nếu muốn, anh có thể tính được ngày tháng vì hiện nay có vẻ như anh được cho ăn tương đối đều. Anh kết luận rằng được cho ăn ba lần trong hai mươi bốn giờ; có đôi khi anh lờ mờ tự hỏi, không hiểu được ăn ban đêm hay ban ngày. Thức ăn khá ngon, cứ hai bữa lại được một bữa có thịt. Có lần còn được phát cả một bao thuốc lá. Anh không có diêm, nhưng người cai ngục mang thức ăn đến cho anh, một người không hề mở miệng bao giờ, vẫn thường cho lửa để hút. Thời gian đầu, khi mới hút lại, anh thấy khó chịu, nhưng rồi cũng qua và anh giữ gói thuốc khá lâu, chỉ hút nửa điếu sau mỗi bữa ăn.

Họ cho anh một cái bảng trắng và một mẩu bút chì treo trong góc buồng giam. Ban đầu anh không dùng. Lúc nào anh cũng cảm thấy rất uể oải. Nhiều khi anh nằm từ bữa nọ đến bữa kia, không hề động đậy, khi thì thiếp đi, khi thì mơ mơ màng màng, mở mắt ra cũng là cả một sự khó khăn. Ánh sáng chiếu thẳng vào mặt cũng không sao, anh đã quen ngủ như thế từ lâu rồi. Vẫn ngủ tốt, nhưng mơ thì mạch lạc hơn. Thời gian này anh hay mơ lắm, mà lại toàn những giấc mơ vui vẻ. Anh mơ thấy mình ở khu Đất Đỏ, hay đang ngồi giữa một đống đổ nát, rất đẹp, đầy nắng, với mẹ, với Julia, với O'Brien, không làm gì hết, chỉ ngồi phơi nắng và nói về những cảnh thái bình. Khi thức, nếu anh có nghĩ thì đa phần cũng là nghĩ về những giấc mơ. Bây giờ, khi tác nhân đau đớn không còn, anh có cảm giác như mình đã mất khả năng tập trung suy nghĩ. Anh không thấy chán, không muốn nói chuyện, không muốn bị rối trí. Được ở một mình, không bị đánh đập, không bị tra hỏi, được ăn no, sạch sẽ, thế là thoả mãn lắm rồi.

Càng ngày càng ngủ ít đi, nhưng anh vẫn nằm dài suốt ngày trên giường như cũ. Anh chỉ quan tâm đến mỗi một điều, đấy là nằm yên và lắng nghe sự hồi phục của cơ thể. Anh thường lấy tay rờ rẫm chỗ này, chỗ kia, để khẳng định chắc chắn rằng thớ thịt thì nở ra, còn da thì căng thêm mỗi ngày. Cuối cùng, khi phát hiện ra là đùi to hơn đầu gối, thì anh tin chắc rằng mình đang béo lên. Sau đó, tuy ban đầu có hơi miễn cưỡng, anh bắt đầu thường xuyên tập thể dục. Chẳng bao lâu sau, anh đã có thể đi được chừng ba cây số, đấy là tính bằng cách đếm số bước chân quanh buồng giam, và cái lưng còng bắt đầu thẳng dần ra. Anh cố gắng tập những động tác khó hơn, anh vừa ngạc nhiên vừa cảm thấy nhục nhã khi phát hiện ra những việc mình không thể nào làm được. Anh không thể chạy, không thể giữ cái ghế đẩu khi đưa thẳng tay ra, không thể đứng một chân, ngã ngay. Đứng lên ngồi xuống cũng không được, đùi và bắp vế đau không thể nào chịu nổi. Anh nằm sấp, đưa tay nâng người lên. Vô vọng, không nâng được một centimet nào. Nhưng sau mấy ngày, đúng hơn là sau mấy lần ăn, anh đã thực hiện được kì công này. Sau một thời gian nữa thì anh có thể làm sáu lần liên tục. Anh còn bắt đầu cảm thấy tự hào về thân thể của mình và đôi khi còn tin rằng rồi mặt cũng sẽ lấy lại hình dáng bình thường. Chỉ có những lúc vô tình đặt tay lên cái đầu hói anh mới chợt nhớ đến khuôn mặt rách nát, tàn tạ đã từng nhìn thấy trong gương.

Đầu óc cũng trở nên hoạt bát hơn. Anh ngồi lên giường, lưng tựa vào tường, cái bảng trắng đặt trên đầu gối, anh bắt đầu học lại.

Anh đã đầu hàng, chuyện đó xong rồi. Thực ra, như anh thấy lúc này, anh đã sẵn sàng đầu hàng trước khi quyết định rất lâu. Anh đã nhận thức được sự nhẹ dạ và nông nổi của hành vi chống Đảng ngay khi rơi vào Bộ Tình Yêu, không, anh nhận thức được điều đó từ lúc đứng nghe cùng với Julia mệnh lệnh đanh thép phát ra từ màn vô tuyến cơ. Bây giờ thì anh hiểu rằng Cảnh Sát Tư Tưởng đã theo dõi anh suốt bảy năm ròng, giống như người ta quan sát một con bọ hung bằng kính lúp vậy. Không một hành động, hay một lời nói nào bị bỏ qua, không một ý nghĩ nào không bị giải mã. Họ đặt được cả một tí bụi trắng trên bìa cuốn nhật kí vào đúng chỗ cũ. Họ quay lại đĩa ghi âm cho anh nghe, đưa cả ảnh cho anh xem. Có mấy cái chụp anh với Julia. Có cả… Anh không thể đấu tranh chống Đảng được nữa. Hơn nữa, chân lí còn thuộc về Đảng. Chắc chắn là như thế, làm sao một bộ óc tập thể, bất tử lại có thể sai lầm được? Lấy tiêu chuẩn nào ở bên ngoài để kiểm chứng các ý kiến của Đảng? Tỉnh táo là khái niệm thống kê. Vấn đề chỉ còn là học cách suy nghĩ giống như họ. Chỉ có điều…

Cây bút chì có vẻ to và khó cầm. Anh bắt đầu ghi ra những ý nghĩ xuất hiện trong đầu. Anh viết bằng những chữ in to và vụng:

TỰ DO LÀ NÔ LỆ

Và ngay bên dưới là:

HAI CỘNG HAI LÀ NĂM

Sau đó, có vẻ như gặp một chút trắc trở. Tâm trí anh như trốn tránh một cái gì đó, không thể nào tập trung được. Anh biết rằng anh biết sau đó sẽ là cái gì, nhưng không thể nào nhớ ra được. Còn khi anh nhớ lại được thì đấy là do anh suy luận ra chứ không phải nó tự đến. Anh viết:

CHÚA TRỜI LÀ QUYỀN LỰC

Anh chấp nhận tất. Quá khứ là khả biến. Quá khứ chưa bao giờ thay đổi. Oceania đang đánh nhau với Eastasia. Oceania luôn luôn đánh nhau với Eastasia. Jones, Aaroson và Rutherford đã phạm những tội mà họ bị qui kết. Anh chưa bao giờ nhìn thấy bức ảnh phủ nhận tội trạng của họ. Chưa bao giờ có một bức ảnh như thế, nó là do anh bịa ra. Anh nhớ rằng mình nhớ những chuyện ngược lại, nhưng đấy là nhớ sai, đấy là anh tự lừa dối mình mà thôi. Đơn giản quá! Chỉ cần đầu hàng, mọi thứ khác sẽ tự đến. Giống như khi đang bơi ngược, dù có cố đến mấy dòng nước cũng vẫn đẩy lại sau, và thế là ta quyết định quay lại, bơi theo dòng, không chống cự nữa. Chỉ có thái độ của ta thay đổi, ngoài ra mọi sự vẫn vậy: việc phải xảy ra nhất định sẽ xảy ra. Chính anh cũng không hiểu tại sao có lúc mình lại làm loạn. Mọi việc thật là đơn giản. Chỉ có điều….

Tất cả đều có thể đúng. Những cái gọi là qui luật tự nhiên đều là nhảm nhí. Định luật vạn vật hấp dẫn cũng là nhảm nhí nốt. “Nếu muốn – O’Brien bảo – ngay bây giờ tôi có thể bay lên như một cái bong bóng xà phòng”. Winston giải thích như sau: “Nếu anh ta nghĩ rằng có thể bay lên, đồng thời mình nghĩ rằng nhìn thấy anh ta làm như thế thì có nghĩa là điều đó thực sự xảy ra”. Bất thình lình, một ý nghĩ hiện về trong tâm trí, giống như một mảnh vỡ của con tàu đắm trồi lên trên mặt nước: “Thực ra chuyện đó không thể xẩy ra được. Là ta tưởng tượng ra như thế. Đấy chỉ là ảo giác mà thôi”. Nhưng anh đã kịp thời dập tắt ngay ý nghĩ này. Rõ ràng là nguỵ biện rồi. Đấy là giả định rằng ở đâu đó, bên ngoài ta có một thế giới “thực”, nơi có những sự kiện “thực” đang xảy ra. Nhưng đào đâu ra thế giới như vậy? Chúng ta có thể biết được gì về vật chất nếu không sử dụng tâm trí của mình? Tất cả đều ở một cái tâm này mà ra. Điều gì xảy ra trong tâm trí tất cả mọi người thì sẽ xảy ra trong thực tế.

Anh dễ dàng phát hiện được sai lầm, nhưng khả năng mắc sai lầm là không có. Nhưng anh cũng hiểu rằng anh không được để cho những ý nghĩ như thế xuất hiện trong đầu nữa. Một ý nghĩ nguy hiểm vừa lởn vởn là trong đầu phải xuất hiện điểm mù ngay lập tức. Quá trình này phải là tự động, mang tính bản năng. Ngômo gọi đấy là ngưngtội.

Anh bắt đầu luyện tập ngưngtội. Anh đưa ra khẳng định: “Đảng bảo rằng trái đất phẳng”, “Đảng bảo rằng nước đá nặng hơn nước thường” và luyện tập để không nhìn thấy hoặc không hiểu những lí lẽ mâu thuẫn với những khẳng định này. Quả là một việc khó. Nó đòi hỏi một khả năng tư duy và ứng biến nhanh chóng. Các vấn đề toán học, thí dụ như khẳng định hai cộng hai là năm vượt quá tầm của anh. Nó đòi hỏi phải có một kiểu tư duy cực kì mạnh mẽ và mềm dẻo, một khả năng ứng dụng logic nhuần nhuyễn, nhưng liền sau đó lại không phát hiện được những sai lầm logic thô thiển nhất. Trí tuệ cần, mà ngu dốt cũng cần, thế mới khó.

Anh luôn luôn tự hỏi khi nào thì họ đem mình đi bắn. “Tất cả phụ thuộc vào anh” – O’Brien đã bảo thế, nhưng anh biết rằng không thể đẩy nhanh quá trình này bằng một hành động hữu thức được. Có thể mười phút nữa, mà cũng có thể mười năm nữa. Họ có thể biệt giam anh trong nhiều năm, họ có thể đưa anh vào trại khổ sai, có thể thả ra một thời gian, đôi khi họ cũng làm như thế. Hoàn toàn có khả năng là toàn bộ trò bắt bớ và tra hỏi sẽ được diễn lại một lần nữa. Chỉ có một điều chắc chắn, đấy là sẽ chết vào lúc bất ngờ nhất. Truyền thống, một truyền thống bất thành văn, người ta biết, dù không nghe thấy ai nói bao giờ, rằng họ thường bắn từ phía sau, vào gáy, không báo trước, khi đang đi từ buồng giam này sang buồng giam kia.

Một ngày nọ, từ “ngày” thực ra là không chính xác, có thể lúc ấy là nửa đêm cũng nên, phải nói rằng, một lần anh rơi vào một giấc mơ có vẻ lạ lùng và đầy an lạc. Anh đang đi trong một hành lang, chờ một viên đạn. Anh biết rằng chỉ một chút nữa thôi. Mọi việc đã được giải quyết, đã được dàn xếp, đã nhất trí rồi. Không còn nghi ngờ, không còn lí sự, không còn đau khổ, không sợ hãi gì nữa. Người anh khoẻ mạnh. Anh bước một cách nhẹ nhàng, hân hoan với mỗi cử động và cảm thấy như đang đi dưới ánh mặt trời. Anh không còn đi trong hành lang hẹp màu trắng của Bộ Tình Yêu nữa, mà đang bước trên một đoạn đường đầy nắng, rộng cả cây số, người ngây ngất như say ma tuý. Anh đang ở vùng Đất Đỏ, chân bước theo con đường mòn ngang qua bãi chăn thỏ cũ. Anh có thể cảm được đất nhún nhảy dưới chân và ánh mặt trời dịu êm chiếu trên gò má. Bên rìa cánh đồng là những cành cây du lung lay trước gió, xa hơn một chút là con suối với những con cá nhỏ đang bơi trong những vũng nước màu xanh dưới bóng dương liễu.

Anh bỗng giật nảy mình vì sợ. Mồ hôi chạy dọc sống lưng. Anh nghe thấy tiếng mình kêu:

“Julia! Julia! Anh yêu em! Julia!”

Anh có cảm tưởng như cô đang hiện diện đâu đây. Không phải bên cạnh mà là bên trong anh. Dường như cô đã trở thành một phần cơ thể anh. Trong giây phút đó, anh cảm thấy yêu cô nhiều hơn khi họ còn bên nhau, ngoài tự do. Anh biết rằng cô đang còn sống ở đâu đó và đang rất cần anh giúp đỡ.

Anh nằm ngửa ra, cố gắng tập trung suy nghĩ. Anh đã làm gì? Phải thêm bao nhiêu năm đầy ải nữa chỉ vì một phút yếu lòng vừa rồi?

Bây giờ sẽ có tiếng giầy đinh bước ngoài hành lang. Họ không bao giờ tha thứ cho một cơn bộc phát như vậy được. Bây giờ họ sẽ biết, nếu quả thật trước đó họ chưa biết, rằng anh đã vi phạm thoả thuận. Anh đã vâng lời Đảng, nhưng vẫn tiếp tục căm thù Đảng. Trước đây anh đã che giấu những ý nghĩ phi chính thống của mình bằng cách tuân theo. Bây giờ anh lùi thêm một bước nữa: anh đã đầu hàng về mặt trí óc, nhưng vẫn hy vọng giữ cho lương tâm còn nguyên vẹn. Anh biết rằng như thế là sai nhưng vẫn bám lấy sai lầm của mình. Họ hiểu, O’Brien sẽ hiểu. Tiếng kêu ngu xuẩn kia chính là lời tự thú.

Phải làm lại từ đầu. Có thể phải mất hàng năm. Anh đưa tay vuốt mặt, để xem hình thù của nó ra làm sao. Có những vết rạch sâu ở hai bên má, xương gò má nhọn hoắt, mũi tẹt. Ngoài ra, kể từ lần soi gương cuối cùng, anh còn có thêm một bộ răng giả nữa. Thật khó mà giữ được vẻ lãnh đạm nếu không biết rõ nét mặt của mình. Chỉ giữ nét mặt không thôi thì chưa đủ. Đây là lần đầu tiên anh hiểu rằng, muốn giữ một điều bí mật thì phải giấu nó với ngay chính bản thân mình. Tất nhiên là lúc nào cũng phải biết là có điều đó đấy, nhưng khi chưa cần thì không được để cho nó bén mảng đến gần ý thức dưới bất cứ hình thức có thể định danh nào. Từ nay trở đi, anh không những phải suy nghĩ đúng, cảm đúng mà còn phải mơ đúng nữa kia. Anh phải khoá kín lòng căm thù vào bên trong, giống như một cục thịt của chính anh, nhưng lại không có liên hệ gì với anh, như một khối u vậy.

Một ngày nào đó họ sẽ bắn anh. Không thể nói là khi nào, nhưng trước đó vài giây thì chắc là có thể đoán được. Luôn luôn từ phía sau, khi đang đi trong hành lang. Mười giây cũng đủ. Trong thời gian đó, tâm hồn anh có thể kịp thay đổi hoàn toàn. Và thế là bất thình lình, không nói một lời nào, chân vẫn bước đều, nét mặt không hề thay đổi, anh xé tung cái mặt nạ ra, đoàng! Loạt súng căm hận của anh đồng loạt lên tiếng. Lòng hận thù sẽ choán hết tâm hồn anh, như ngọn lửa đang bừng bừng gào thét. Và đúng lúc đó: đoàng! viên đạn bay ra, quá chậm hoặc là quá sớm. Họ sẽ bắn vỡ óc anh trước khi kịp cải tạo nó. Tư tưởng không chính thống chưa bị khuất phục, không hề sám hối, đã vĩnh viễn vượt khỏi tầm với của họ. Lí tưởng của họ đã bị bắn thủng một lỗ. Chết mà vẫn căm thù – đấy chính là tự do.

Anh nhắm mắt lại. Khó hơn rèn luyện trí tuệ rất nhiều. Đấy là tự thoái hoá, tự làm cho mình trở thành phế nhân. Phải lao vào nơi ô trọc nhất trong những nơi ô trọc. Cái gì là khủng khiếp nhất, đáng buồn nôn nhất? Anh nghĩ đến Anh Cả. Bộ mặt to bè (vì luôn nhìn thấy trên áp phích, nên anh nghĩ nó phải rộng cả mét), chòm râu đen, rậm, đôi mắt dõi theo khắp nơi, tự động hiện về trong tâm trí anh. Tình cảm thực của anh đối với Anh Cả là gì?

Anh nghe thấy tiếng giày đinh đi ngoài hành lang. Cánh cửa sắt kẹt mở. O’Brien bước vào. Đằng sau là viên sĩ quan mặt sáp và các cai ngục đồng phục đen.

“Đứng lên”, O’Brien ra lệnh. “Lại đây.”

Winston đứng trước mặt anh ta. O’Brien đưa hai tay nắm chặt vai Winston và nhìn sát vào mắt anh.

“Anh định lừa tôi”, anh ta nói. “Thật là ngu ngốc. Đứng thẳng lên. Nhìn vào mắt tôi đây.”

Anh ta chợt ngừng và sau đó nói một cách nhẹ nhàng hơn:

“Anh có tiến bộ. Về mặt tri thức thì gần như tốt rồi. Nhưng về mặt tình cảm thì anh vẫn ngoan cố như cũ. Winston, hãy nói cho tôi biết, nhưng không được nói dối đấy, anh biết là tôi sẽ phát hiện được ngay mà, hãy cho tôi biết tình cảm thực của anh đối với Anh Cả?”

“Tôi căm thù ông ta.”

“Anh căm thù ông ta. Tốt. Bây giờ chính là lúc anh bước vào giai đoạn cuối cùng. Anh phải yêu Anh Cả. Vâng lời không thôi chưa đủ, anh phải yêu ông ta nữa cơ.”

Vừa bỏ tay ra anh ta vừa khẽ đẩy Winston về phía cai ngục.

“Vào buồng một linh một”, anh ta ra lệnh.