Danh Ngôn

Trong giáo dục không có gì kinh hoàng bằng mức độ dốt nát mà nó tích lũy lâu dài dưới dạng những kiến thức xơ cứng.

Nothing in education is so astonishing as the amount of ignorance it accumulates in the form of inert facts.

Henry Adams (1838-1913). The Education of Henry Adams, 25, 1907

Một chút học vấn ít ỏi, thật ra, có thể là một điều nguy hiểm, nhưng thiếu học vấn [giáo dục] là một đại họa cho bất cứ một dân tộc nào.

A little learning, indeed, may be a dangerous thing, but the want of learning is a calamity to any people.

Frederick Douglass, diễn văn đọc ở lễ ra trường tại Trường Trung học Da màu, Baltimore, Maryland, 22 tháng Sáu 1894

Người tự do không thể làm một người dốt nát lâu dài. (The free man cannot be long an ignorant man.

William McKinley, diễn văn đọc tại Pittsburgh, Pennsylvania, 3 tháng Mười Một 1897

Ban biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi?

Nhân 85 năm phong trào Thơ mới (1932 - 2017)

Phan Nam Sinh

clip_image002

VNTN - Hơn mười năm trước, có người hỏi tôi: Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? Câu hỏi đó đã theo tôi trong suốt một thời gian dài. Cũng câu hỏi này nếu đem hỏi cho một bài thơ tình nào đó của Xuân Diệu hay của Nguyễn Bính thì có hơi ngớ ngẩn, chẳng đáng tốn thời gian để suy nghĩ, bởi hai nhà thơ này có tới hàng chục, thậm chí hàng trăm bài thơ tình; tư duy ở các ông là tư duy của nhà thơ, tư duy nghệ thuật; sự thực hay hình mẫu được sử dụng cho tác phẩm bao giờ cũng gắn liền với hư cấu, tưởng tượng. Trong khi đó, Tình già là bài thơ tình duy nhất của Phan Khôi. Hơn nữa, Phan Khôi tuy có làm thơ, viết truyện ngắn, tiểu thuyết nhưng trước hết ông là nhà báo; tư duy ở ông là tư duy của nhà báo, chủ yếu là tư duy luận lý, luôn lấy tiêu chí trung thành với sự thực làm tôn chỉ cho sáng tác của mình. Vì vậy, con số hai mươi bốn hiện diện tới hai lần trong bài thơ không ai dám nói chắc là con số phiếm chỉ. Vậy thì con số này có hay không liên quan tới Phan Khôi? Nếu có thì liên quan tới sự kiện nào trong cuộc đời ông? Cuộc tình được ông kể lại trong Tình già có phải là cuộc tình của chính ông hay của một ai khác? Nếu đó là cuộc tình của ông thì nó diễn ra đúng như trong bài thơ hay có gì khác? Tìm hiểu điều này chắc chắn sẽ rất thú vị vì nó giúp ta không chỉ hiểu rõ hơn cuộc đời Phan Khôi, một nhà báo lừng danh của nửa đầu thế kỷ trước, mà còn biết thêm lai lịch Tình già, một bài thơ đi tiên phong, mở đầu cho thời kỳ Thơ mới.

Năm 2003, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho ấn hành Phan Khôi - Tiếng Việt, Báo chí và Thơ mới. Trong tác phẩm này, nhà nghiên cứu Vu Gia đã dẫn lại tự truyện Tình trong tù của Phan Khôi đăng trên Đông Dương tạp chí của Nguyễn Giang số Xuân năm 1939 từ bài viết Phan Khôi qua một chuyện tình trong tù của nhà văn Thế Phong trên Giáo dục phổ thông số Xuân, xuất bản tại Sài Gòn năm 1960. Từ khi được soi sáng bởi các thông tin từ Tình trong tù của Phan Khôi, những nghi vấn về ông qua bài thơ Tình già dường như đã được hé mở và cái ý định trả lời câu hỏi từ hơn mười năm trước lại thôi thúc tôi…

Theo lời kể của chính Phan Khôi thì vào năm 1908, khi chưa đầy 21 tuổi, do có liên quan tới phong trào kháng thuế, còn gọi là phong trào xin xâu ở Trung Kỳ, ông đã bị chính quyền thực dân kết án đồ ba năm và giam tại nhà lao Quảng Nam trong quãng thời gian từ năm 1908 đến năm 1911. Vào tù, ông mới tỉnh người ra bởi một câu than thở trong lá thư của thân phụ viết cho ông: lập thân nhất bại, vạn sự ngõa giải, nghĩa là: lập thân mà đã hỏng đi rồi thì vạn sự cũng theo đó mà tan nát. Quả đúng thế, chỉ một tháng sau, ông đã nhận được lời thối hôn của cha mẹ người vợ chưa cưới. Điều này tuy không làm Phan Khôi bất ngờ (bởi trước đó ông cũng đã từng dự đoán Cái tú tài mới đậu xong đã bị tước khử, về sau còn không được đi thi, như thế con đường làm quan hẳn cụt rồi, không khéo về nỗi vợ con sẽ còn lôi thôi nữa), nhưng có lẽ đã ảnh hưởng không ít tới đường tình duyên sắp tới của ông.

Một ngày sau đó không lâu, do được thầy đội đề lao và đám tù nhân đánh tiếng, ông Ch…, một viên quan võ hàng tứ phẩm đã sai lính tới nhà lao đưa Phan Khôi về nhà y viết câu đối. Mặc dù người đang hâm hấp sốt nhưng lấy sự được ra ngoài làm sung sướng nên Phan Khôi phụng mạng theo chân người lính tới nhà viên quan võ. Cuộc gặp mặt lần đó được chính ông thuật lại như sau:

Đến nơi, thấy một đống cũng đến chín mười cân lụa đỏ bỏ ngổn ngang trên chiếu giải dưới đất và một nghiên mực lớn mài sẵn. Một người đàn ông chừng năm mươi tuổi to lớn, mặt đen, mũi to ngồi trên sập giữa nhà ấy là ông Ch… hất hàm chào tôi. Một thiếu phụ còn trẻ lắm, trạc tuổi tôi, người trắng trẻo, khuôn mặt trái xoan, cả đầu lẫn cổ quấn cái khăn nhiễu điều ngồi bên kia sập.

Nhà không có cái ghế nào cả, tôi ngồi ngay trên cái chiếu dưới đất, chỗ để nghiên mực. Ông Ch… bảo tôi:

- Có biết uống rượu không thì (…) uống mấy chén mà viết cho dựa tay.

- Bẩm có thì cũng được.

- Nhà còn nước không mình?

Ông Ch… xây hỏi người thiếu phụ. Tôi nghe mới biết người ấy là bà Ch… vợ ông.

- Có hiếm mấy.

Vừa nói thiếu phụ vừa đứng dậy đi vào bên trong cầm ra một chai rượu thuốc và một cái cốc rót đưa cho tôi một cốc đầy.

Tôi uống cạn cốc rượu rồi trải lụa ra viết. Ông Ch… sợ tôi viết quấy, cứ theo nhắc từng chữ. Tôi lấy làm bực mình mà không tiện nói thì ông lại còn vẽ cho tôi chữ này viết thế này, chữ kia viết thế kia. Tôi chừng muốn phát cáu. Người thiếu phụ xuống khỏi sập (…) nói cùng ông Ch…:

- Tôi xem người này cầm bút là người viết thạo, xin ông để cho người ta viết tự do.

- Bà nói lạ. Câu đối lụa ít tiền lắm sao?

- Nhưng đã có ai làm hư của ông đâu? Ngồi kiềm một bên thì còn ai viết được nữa chứ?

Ông Ch… hình như chịu vợ nói phải, bước ra khỏi chiếc chiếu rồi hai vợ chồng đứng coi tôi.

Bấy giờ tôi thấy dễ chịu, hươi cây bút như rồng bay phượng múa, hết đôi này đến đôi khác, càng viết càng thấy tốt. Người thiếu phụ cứ đưa con mắt theo ngòi viết tôi. Còn hơn đôi nữa thì hết, ông Ch… bảo vợ:

- Mình ơi mình. Rót thêm cho va cốc nữa đi!

Người thiếu phụ ngoan ngoãn, rót cốc rượu đặt trước mặt tôi và nói:

- Nghỉ tay uống rượu đã thầy.

Tôi vâng lời như cái máy. Viết xong, tôi cung kính chào ông Ch...:

- Bẩm quan lớn…

Ông gật. Tôi lại hướng về người thiếu phụ:

- Bẩm bà lớn tôi vào.

Thì người đứng dậy:

- Tôi không dám, thầy lên.

Có tất cả ba nhân vật hiện diện trong đoạn trích và cả ba đều đáng được quan tâm nếu muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa cuộc đời Phan Khôi và bài thơ “Tình già”. Ông Ch…, một viên quan võ hàng tứ phẩm có nhiệm vụ trông coi nhà lao mà Phan Khôi là tù nhân. Lúc Phan Khôi vào tù, ông này đã trên dưới năm mươi, thuộc loại đứng tuổi. Nhìn bề ngoài, ông hơi dị tướng với thân hình to lớn, mặt đen, mũi to, sống mũi đỏ, tiếng nói ồ ồ. Trong quan hệ với người đối diện, dù là vợ hay người tù cậy tới nhà viết câu đối, ông đều tỏ ra kẻ cả, trịch thượng; thiếu hẳn cái tế nhị của người đàn ông lịch lãm, hiểu biết. Trong khi đó, bà Ch… chỉ mới hai mươi, trạc tuổi Phan Khôi, là một thiếu phụ trẻ đẹp với nước da trắng hồng và khuôn mặt trái xoan ưa nhìn. Ở bà có cái mềm mỏng, nhũn nhặn lại có cả cái lịch sự, tế nhị của người phụ nữ có giáo dục; phục sức kín đáo, sang trọng mà không diêm dúa, một hình ảnh hoàn toàn trái ngược với chồng. Nhưng quan trọng hơn hết, bà là người rất tự tin và cũng rất tự chủ bởi luôn ý thức được khả năng và vị thế của mình trong quan hệ với chồng. Còn Phan Khôi mới hai mươi mốt tuổi, cũng cỡ tuổi bà Ch… Dẫu ở vị trí một người tù nhưng ông vẫn rất đĩnh đạc, tự tin, không chút e dè, không xun xoe trước kẻ quyền thế. Ông còn có biệt tài viết câu đối vừa nhanh vừa đẹp mà không phải bất cứ ai ở tuổi ông lúc đó cũng có được. Dường như nơi ông tiềm ẩn một chút kiêu sa thầm kín của một mẫu người mang trong mình tinh hoa mà tự biết vậy. Cho nên không nói, ai cũng biết điều gì sẽ xảy ra…

Quả như dự đoán, chừng nửa tháng sau ngày Phan Khôi tới nhà viên quan võ, tên Trưng, một tù nhân được biệt đãi tới ở hầu hạ tại nhà ông Ch… mang cho Phan Khôi một cái gói. Ông ngờ vực, có ý đề phòng, định không nhận nhưng rồi nghe tên Trưng phân bua, ông đã đổi ý. Hãy nghe ông kể lại việc này:

Tôi mở cái gói ra trước mắt Trưng. Đố ai đoán biết được gói gì? Trời ơi! Gói trầu cau! Mười miếng trầu têm kiểu Huế với mười miếng cau bửa dính, mỗi dây năm miếng chồng nanh sấu lên nhau thêm mười mụn vỏ chay và mấy chùm hoa sói. Cái gì lạ! Thực tình tôi không hiểu, hỏi Trưng:

- Của ai thế này?... Mà lại đưa cho tôi?

- Của bà Ch…

Trưng vừa nói vừa cười ngỏn ngoẻn.

- Đưa cho tôi? Tôi biết bà ấy là ai?

- Ấy thế mới lạ. Thầy mới có chuyện lạ, tôi đã nói.

Trưng nói câu ấy ra dáng đắc ý lắm, và hắn bắt đầu làm như hắn là người có công ơn lắm với tôi.

Liền tay gói cái gói lại, tôi trao trả Trưng, thêm rằng:

- Anh cầm lấy, tôi không biết.

Trưng xin tôi cứ nhận và kể đầu đuôi:

- Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông Ch… và tôi đã được tin cậy nên bà Ch… có đem tình riêng ngỏ với tôi nhiều lần. Bà nói bà thấy thầy thì thương lắm, hôm nay gởi vật nhỏ mọn làm tin, mong ngày khác thầy cho bà gặp mặt để nói chuyện...

Vậy là sau cái ngày tới viết câu đối, người thiếu nữ sớm trở thành thiếu phụ này đã có tình ý với Phan Khôi. Cái gói trầu cau do tên Trưng mang tới chứng cho việc bà đưa duyên làm tin. Rồi một hôm, nhân ông Ch… đi vắng, bà Ch… sai lính tới nhà lao đưa Phan Khôi về nhà mình. Vẫn theo lời kể của Phan Khôi trong tự truyện Tình trong tù:

Nhà có một mình bà Ch… Bà tiếp tôi trong một phòng xép. Tôi ngồi trên cái chõng nhỏ, bà ngồi ghế bên cạnh, tay đặt lên cái gáy trên cổ tôi, êm đềm nói:

- Chớ anh làm gì mà họ tù anh?

Tôi gắng mỉm cười nói bâng quơ một câu:

- Thưa bà, bà còn thương hại tôi nữa sao? Nội một cái (…) tôi dám đến đây cùng bà là cũng đủ lắm rồi.

Câu chuyện giữa họ vừa mới bắt đầu; những cử chỉ, lời nói âu yếm, tình tứ của bà Ch… đang dở dang thì ông Ch… thình lình trở về do còn nửa tiếng nữa các quan mới tới, ông không việc gì phải đến sớm để chầu chực. Nghe thằng Trưng cấp báo, bà vội mở cửa cho Phan Khôi xuống bếp, dặn cứ đứng yên một lúc sẽ hay. Nhưng khi nghe rõ tiếng nói ồ ồ của ông Ch... ở nhà trên, ông đã mở cửa thoát ra ngõ, tìm gặp lại người lính rồi về thẳng nhà lao. Vì việc này bà đã trách yêu ông: sao đã dặn ở đó một chút nữa mà lại bỏ về?

Từ bữa ấy, bẵng đi một dạo khá lâu, bà Ch… không tin tức gì cho Phan Khôi và hai người cũng khó có dịp nào để gặp nhau. Ông Ch… giữ rịt vợ chẳng khác nào thầy đội đề lao giữ Phan Khôi. Mỗi lần có việc quan, ông thường đi rồi về ngay, không lần nào để bà ở nhà một mình quá ba tiếng. Thương nhớ người yêu, bà Ch… nhiều lần sai thằng Trưng tới nhà lao gặp Phan Khôi, mong ông kiếm cách đi ngang qua nhà bà một lần để bà trông thấy. Qua tháng tư năm sau, ông Ch… dọn về ở trại lính, gần nhà lao. Từ đó bà Ch… và Phan Khôi năng trông thấy nhau hơn nhưng vẫn không thể cùng nhau trò chuyện. Đến lúc thằng Trưng mãn hạn tù, không còn hầu hạ ở nhà ông Ch… nữa thì tin tức giữa hai người cũng thưa dần…

Rồi một ngày tháng chạp, Phan Khôi nhận được thư bà Ch... Trong thư, bà nói nhân đi chữa lại đồ nữ trang, muốn gặp ông tại nhà người thợ bạc. Lúc Phan Khôi đến, ở đó đã rất đông người, chỉ nhìn nhau cũng sợ tai tiếng còn nói chi đến trò chuyện. Vậy mà ông Ch… chờ vợ lâu chưa thấy về, đã lù lù dẫn xác tới. Vừa trông thấy cái sống mũi đỏ chờn vờn trước cửa, Phan Khôi đã đảo ra ngõ sau, thành ra ông bà chẳng nói với nhau được lời nào. Về nhà lao, cái câu dù yêu nhau mà không được gần nhau, thôi thì sống để dạ, chết đem đi trong thư bà Ch… khiến ông suy nghĩ mãi. Không ngờ đó là lần cuối ông được gặp bà. Bởi qua tháng giêng năm sau, không biết từ đâu ra mà có tin bà Ch… lâm bệnh nặng, đưa về Huế điều trị được mấy tháng thì qua đời. Cái tin bà Ch… đột ngột ra đi không khỏi làm Phan Khôi hoài nghi, tiếc nuối, nhớ lại một chuyện tình thật đẹp đã qua đi trong khi ông không phải là người làm nên tội lỗi!

Trên đây là câu chuyện tình giữa Phan Khôi và người vợ trẻ của viên quan võ trông coi nhà lao được chính ông thuật lại trong tự truyện Tình trong tù. Đối chiếu với mối tình trong Tình già, ta có thể khẳng định mối tình trong bài thơ là của chính Phan Khôi. Bởi nó bắt đầu từ năm 1908, cho tới lúc Tình già xuất hiện lần đầu trên báo, trước là Tập văn mùa xuân của báo Đông Tây ở Hà Nội, sau là Phụ nữ tân văn tại Sài Gòn cùng ra vào năm 1932 là vừa đúng hai mươi bốn năm. Con số hai mươi bốn trong Hai mươi bốn năm xưa… mở đầu Tình già đúng là con số xác định mà không phải là con số phiếm chỉ. Mối tình trong Tình trong tù giữa Phan Khôi, một thanh niên vừa bị gia đình nhà gái thối hôn và bà Ch…, một thiếu phụ trẻ, trong thực tế đầy ngang trái đã trải qua nhiều bất trắc, khiến cả hai chẳng ai tin rồi sẽ kết quả. Chính Phan Khôi đã có lúc muốn buông xuôi nhưng bà Ch… thì một mực níu kéo. Tâm trạng hoang mang, tuyệt vọng của cả hai đã được ông ghi lại trong Tình già:

- Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng

Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!

- Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?

Vậy là ở nửa trên bài thơ, Phan Khôi chỉ giữ vai trò một nhà báo, ghi lại trung thành cuộc tình của chính mình. Vậy còn ở nửa sau bài thơ thì sao? Bởi theo tin Phan Khôi nhận được thì chỉ sau một năm ông vào tù, bà Ch… đã lâm bệnh nặng rồi qua đời. Nếu quả thế thì làm gì có chuyện Hai mươi bốn năm sau như trong bài thơ? Trong trường hợp này, Phan Khôi đã tạm quên vai trò nhà báo để làm nhà thơ với không chỉ hiện thực được tôn trọng như ta vốn biết mà còn thêm hư cấu, tưởng tượng nữa. Và ông đích thị đã là nhà thơ với câu thơ thật hay kết thúc Tình già:

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau:

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi. 

Nhưng dù cho có cả tin cũng không ai tin ngay là bà Ch… đã đột ngột qua đời nếu không phải là bà quyên sinh mà chỉ vì bệnh nặng. Bởi ai chẳng biết ông Ch… cả ghen. Rất có thể cái tin bà Ch… qua đời là do ông tung ra nhằm đánh lừa tình địch, tránh các cuộc gặp mặt có thể có về sau này giữa Phan Khôi và vợ ông. Nếu cái tin bà Ch… qua đời là thất thiệt mà sự thực là bà vẫn còn sống, còn yêu Phan Khôi và hai người đã gặp lại nhau sau hai mươi bốn năm xa cách như trong bài thơ thì Phan Khôi lúc này đã trở lại là nhà báo, tôn trọng sự thật như vốn có, cho dù ông đã viết được câu cuối của bài thơ mà những người chê thơ Phan Khôi trước nay cũng phải thừa nhận là hay.

Vậy câu hỏi Có bao nhiêu sự thật trong bài thơ Tình già của Phan Khôi? giờ tôi đã có thể trả lời như sau: Nếu cuộc tái ngộ ở cuối bài thơ Tình già là cuộc tái ngộ có thực trong cuộc đời Phan Khôi thì toàn bộ Tình già là sự thật, và khi đó Phan Khôi là nhà báo. Nhưng cũng cuộc tái ngộ ấy nếu chỉ có trong Tình già mà không có trong cuộc đời thực của Phan Khôi thì một nửa trước Tình già là sự thật còn nửa sau là hư cấu, tưởng tượng và khi đó Phan Khôi là nhà thơ. Cho dù có thế đi nữa, tôi vẫn tin ở Phan Khôi cái chất nhà văn, nhà báo nhiều hơn chất nhà thơ. Vì vậy tôi luôn gọi ông là nhà văn - nhà báo Phan Khôi mà không là nhà thơ Phan Khôi như có người đã gọi. Mặc dù tôi vẫn biết, khi sáng tác bằng các thể thơ dân tộc hay thơ luật, ông đã để lại cho hậu thế những bài thơ hay hoặc rất hay!

Phan Khôi

Tình già (*)

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai cái đầu xanh, kề nhau than thở:

-“Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng,

“Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”

-“Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?

“Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?”

……………………………………

Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau:

Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi.

(*) Phan Nam Sinh sưu tầm, theo đúng bản in lần đầu trên “Phụ nữ tân văn” số 122 ra ngày 10/3/1932.     

Nguồn: http://vannghethainguyen.vn/ctview/id/7905