Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

Vấn đề phân kỳ trong lịch sử văn học dân tộc và quy luật vận động của văn học dân tộc

 Nguyễn Lộc

L.T.S.: Vừa qua, Hội đồng Ngữ văn Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã tổ chức hội thảo về vấn đề phân kỳ văn học sử Việt Nam. Ý kiến tương đối tập trung về vấn đề chọn những mốc lớn để phân chia các thời kỳ lớn trong văn học Việt Nam, nhưng tiêu chuẩn chọn lựa thì lại có phần khác nhau. Đây chỉ là bước đầu mở ra việc thảo luận, còn chờ nhiều ý kiến khác nhau tham gia bàn bạc…

Giáo sư Nguyễn Lộc với những thành tựu nghiên cứu về văn học cổ điển việt nam và về Nguyễn Du và Truyện Kiều

 Nguyễn Công Lý

Tóm tắt:

PGS.NGƯT Nguyễn Lộc là một nhà khoa học tên tuổi, một nhà giáo lão thành đáng kính mà các thế hệ học sinh, sinh viên từ gần cuối thập niên 60 thế kỷ XX cho đến nay ở ngoài Bắc trong Nam đều biết tiếng qua các bộ giáo trình và chuyên khảo của Thầy. Thầy là vị Trưởng khoa thứ hai của Khoa Ngữ văn và Báo chí, Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, nhiệm kỳ 1990-1994 (nay là Trường ĐHKHXH &NV-ĐHQG TP.HCM). Bài viết này giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp nghiên cứu khoa học của Giáo sư nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 80 của Ông.

Thông minh nhân tạo và những lằn ranh đỏ của một hành tinh đang chịu áp lực

Ngày 25 tháng 10 năm 2026

Phạm Phan Long

Lời giới thiệu

Báo cáo Planetary Health Check 2025 cảnh báo rằng bảy trong chín ranh giới an toàn của hành tinh đã bị vượt qua, phản ánh những áp lực ngày càng gia tăng lên khí hậu, đa dạng sinh học, nguồn nước, đất đai và các hệ thống tự nhiên khác.

Học triết là học cách chết

Michel de Montaigne

Đỗ Kim Thêm giới thiệu và dịch

 

Lời giới thiệu

Học triết là học cách chết là nhan đề bản dịch Que philosopher, c’est apprendre à mourir chương XX, Tập I của Essais (Các bài tiểu luận) – một trong những chương nổi tiếng và có ảnh hưởng sâu rộng nhất của Montaigne. Nhan đề này gợi lại một truyền thống tư tưởng có từ thời cổ đại, đặc biệt là quan niệm của Plato, Cicero, Seneca và các tác giả cổ điển khác về mối quan hệ giữa triết học và sự chuẩn bị cho cái chết.

Thầy Nguyễn Lộc của tôi

 Trần Nho Thìn

Trong chương trình đào tạo của Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp ngày ấy, đến năm thứ hai, tức là vào năm 1971, tôi mới được học thầy Nguyễn Lộc. Ấn tượng mạnh của tôi về thầy trước hết là ở một giọng nói sôi nổi, ấm áp, nhân hậu; một khuôn mặt tươi tắn, với nụ cười rạng rỡ; một cặp mắt thông minh. Giọng Quảng Ngãi của thầy, sau nhiều năm đi đây đi đó, dễ nghe hơn giọng Quảng Nam của thầy Lê Đình Kỵ. Những bài giảng của thầy có sức lôi cuốn, lan tỏa mạnh mẽ. Phải nói ngay là các bài nói, bài giảng văn của thầy Lộc rất thuyết phục, hấp dẫn. Sau này, có dịp thường xuyên đến nhà thầy, tôi mới hay thầy thường được các cơ quan, địa phương mời đi nói chuyện văn học, khi thì công đoàn thành phố Hà Nội, khi thì Ty Văn hóa Hà Nam Ninh, Ty Văn hóa Thái Bình. Đôi khi, còn có chút quà địa phương, thậm chí có cặp gà đem về Hà Nội. Nghĩ lại, thấy mọi việc hồi đó thật giản dị và thật đẹp.

Những tủ sách về đâu?

 Phạm Công Luận

Ảnh mượn trên mạng

Có những tủ sách quý giá từng tồn tại trên đời qua nhiều năm, gắn với tên tuổi một nhà trí thức, một quan chức, một người trong giới viết lách hoặc có khi chỉ là một độc giả mê sách... Đến lúc nào đó, những biến động xã hội va đập tới lui, khiến số phận chủ nhân và tủ sách yêu quý của họ dần thay đổi, tan tác và có khi biến mất một cách âm thầm.

Đời sống tăng đoàn ở Nalanda (Ấn Độ) vào thế kỉ 7: thiêu xác thân là không hợp lẽ – pháp sư Nghĩa Tịnh

 Nguyễn Cung Thông[1]

Phần này bàn về chương 38 trong cuốn Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện của pháp sư Nghĩa Tịnh. Chương/điều khoản 38 Thiêu thân bất hợp 燒身不合 tạm dịch/NCT: thiêu xác thân là không hợp lẽ trong PG. Các chữ viết tắt trong bài là NCT (Nguyễn Cung Thông), PG (Phật giáo), HV (Hán Việt), VN (Việt Nam), A (tiếng Anh), P (tiếng Pháp), NHKQNPT (Nam Hải Kí Quy Nội Pháp Truyện). Chương 38 có 456 chữ, không kể 4 chữ tựa đề (thiêu thân bất hợp); khi dịch ra tiếng Việt hiện đại, cho rõ nghĩa hơn, cần ít nhất là 724 chữ; số chữ tiếng Việt dùng tăng 59% so với nguyên bản Hán văn - đây là không kể đến chú thích thêm ghi trong ngoặc (...). Tuy nhiên, cần thận trọng khi đọc các tài liệu cổ đại vì Hán văn vào thời trung cổ có khác hơn ngày nay: có lúc ý nghĩa không rõ ràng hay tối nghĩa, không như ý của tác giả, dẫn đến cách hiểu khác nhau; hay có chữ hiếm không còn dùng nữa và ngay cả quá trình sao chép lại cũng dễ gây nhầm lẫn, v.v. Thí dụ như lẫn lộn giữa các chữ mục 5 nét so với chữ tự 6 nét, chữ kỉ và dĩ cùng 3 nét : a) trong phần đầu chương 38, hàng thứ 6 trong bản Hán văn, câu 即令乞士將身目而行施 tức lệnh khất sĩ tương thân mục nhi hành thi hàm ý ngay cả khi người xuất gia (khất sĩ) hi sinh thân minh và mắt mình để cúng dường (bố thí), bản Hán văn thời nhà Nguyên lại ghi chữ mục là chữ tự 自 - thành ra nghĩa của câu thay đổi và có thể hiểu là ngay cả khi người xuất gia hi sinh chính thân mình để cúng dường - xem thêm Phụ Trương và chú thích xviii b) một câu ở phần đầu chương 38, hàng thứ 6 trong bản Hán văn,  là 不受律儀亡己濟生 bất thụ luật nghi vong kỉ tế sinh (hàm ý không tuân theo giới luật mà hi sinh/hủy hoại thân mình cho/cứu kẻ khác hay cho/cứu mạng sống khác), có văn bản ghi chữ kỉ 己 (mình) là dĩ 已 - thành ra câu trên trở nên tối nghĩa, hay có thể hiểu là không tuân theo giới luật, sự chết có thể mang đến sự tái sinh!

Khi cô giáo bị học trò nhảy lên đánh ngay trên bục giảng, trách nhiệm về ai?

 Trần Kiêm Đoàn

Hình ảnh một học sinh lớp 12 đánh cô giáo ngay trên bục giảng khiến tôi bàng hoàng.

Trong khoảnh khắc ấy, người bị tổn thương là một cô giáo bằng xương bằng thịt; cô có thể bị đau về xác thịt nhưng người Việt Nam cả trong và ngoài nước đều nhức buốt cả cảm xúc và tâm hồn!

Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 11)

 Nguyễn Phú Yên

V. TÌNH XA

Trong tình yêu, khi ở bên nhau đôi lứa sẽ cảm thấy yêu đời và hạnh phúc. Quãng thời gian đó họ sẽ có biết bao kỷ niệm êm đềm, tuyệt đẹp đầy lưu luyến. Nhưng không phải ai cũng trọn vẹn như thế trong cuộc đời mình. Nghĩa là có người gặp tình vui nhưng cũng có người chỉ có tình buồn. Buồn rồi chia xa, chia xa rồi buồn. Trong dòng nhạc tình yêu đôi lứa có rất nhiều nhạc sĩ viết về sự chia xa:

Còn buồn nào hơn phút chia tay
Tìm nụ hôn cho nhau lần cuối
Em bùi ngùi, anh lo sợ nhiều
Trên đường về, đêm vắng đìu hiu…

Những dấu vết bên trong ta (Đọc Con ngựa trên bãi biển của Ý Nhi)

 Bảo Chân

Với kinh nghiệm của một người đọc thường xuyên tìm hiểu về truyện ngắn, tôi không khỏi thốt lên khi đọc tập truyện Con ngựa trên bãi biển của Ý Nhi vừa phát hành: Đây hẳn là tập truyện ngắn xuất sắc và sáng tạo của bà. Mỗi truyện bà viết ra là nơi những mẩu ký ức, những nỗi mất mát được tái hiện, vừa hư ảo vừa hiện thực, thoáng hiện thoáng mất. Còn có điều gì đó được kể ra, nữa như hiện sinh nữa như phi lí trong cuộc đời. Phải chăng lối biểu đạt mới này là hiện thân của khát khao tìm kiếm sự hài hoà thực tại trong một vũ trụ nội tâm đa tầng và kín đáo? Chính vì thế, tập truyện ngắn mới này ẩn chứa những phẩm chất văn chương rất Việt Nam lại vừa mang tính phổ quát của thân phận con người hiện đại.

Một tình ca, một mùa xuân

 Viết cho bạn tôi ở Cali…

Tino Cao

Tôi vẫn nghĩ rằng một trong những bất hạnh của lịch sử Việt Nam thế kỉ 20 là chiến tranh đã để lại quá nhiều thành kiến, đến mức ngay cả âm nhạc cũng bị phân chia theo giới tuyến chính trị. Chỉ cần nhắc đến hai chữ “nhạc đỏ” hoặc “nhạc vàng”, người ta đã vội suy đoán người nghe thuộc về phía nào, mang trong tâm trí những kí ức gì và có thái độ ra sao đối với quá khứ. Sự phân chia ấy có nguồn gốc lịch sử, nhưng khi trở thành một thói quen phán xét nghệ thuật, nó khiến chúng ta bỏ lỡ nhiều tác phẩm có giá trị. Hai ca khúc tôi muốn nhắc đến là Tình ca của Hoàng Việt, sáng tác năm 1957, và Mùa xuân đầu tiên của Văn Cao, ra đời vào dịp Tết Bính Thìn 1976. Cả hai đều gắn với dòng nhạc cách mạng của miền Bắc cộng sản, dù chúng được viết ra trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Nhưng hãy nghe thật kĩ, bằng cả sự hiểu biết và rung động của chính mình; chúng ta sẽ nhận ra ở đó những phẩm chất nghệ thuật xuất sắc và một thế giới tình cảm phong phú hơn nhiều so với những gì cái nhãn “nhạc đỏ” có thể diễn tả.

Kiệt tác Kẻ thủ dâm vĩ đại của Salvador Dalí

 Nguyên Hưng

Mùa hè năm 1929 đánh dấu một bước ngoặt xoay chuyển cả cuộc đời lẫn sự nghiệp của Salvador Dalí. Đó là thời điểm ông gặp gỡ Gala, người phụ nữ khi ấy đang là vợ của nhà thơ Paul Éluard. Bà không chỉ trở thành nàng thơ, người bảo trợ mà còn là nỗi ám ảnh nhục dục suốt đời của danh họa. Sự xuất hiện của Gala vừa là nguồn cứu rỗi, vừa là một cơn chấn động mạnh mẽ, khơi dậy toàn bộ những ẩn ức, mặc cảm tội lỗi và nỗi hoảng loạn tình dục được chôn giấu từ thuở thiếu thời của Dalí. Kiệt tác Kẻ thủ dâm vĩ đại (The Great Masturbator) đã ra đời trong chính tâm bão của cuộc khủng hoảng hiện sinh này.

Tưởng là đặc sản hóa ra rất phổ biến

Hồ Anh Thái

Đất nước bên bờ Biển Đông, tượng hình là dải đất hình chữ S oằn mình hứng chịu bão gió từ biển đổ ập vào. Bão chồng bão, lũ chồng lũ, vừa chống bão chỗ này đã sang chống lụt nơi khác, mệt mỏi tang thương quá, nhiều khi chỉ còn biết kêu trời. Trời đất ưu tiên thiên vị cho những xứ sở khác mưa thuận gió hòa, còn ở đây đất nước nơi đầu sóng đầu gió, hứng đủ.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 10)

 Nguyễn Phú Yên

II. TÌNH QUA BỐN MÙA

 

Người nghệ sĩ đôi khi còn tìm thấy tình yêu đôi lứa trong văn chương bình dân. Đó là những vần ca dao rất nồng nàn, tha thiết đã gợi lên cho người nghệ sĩ mối cảm xúc đồng điệu để khắc họa nét đẹp đó qua những giai điệu trữ tình:

 Ðêm qua tát nước (í a chứ) đầu đình 
Trời đêm sáng tỏ (ấy) cái đêm trăng rằm 
Bỏ quên chiếc áo (chứ) trên cành (là) hoa sen, 
Là cành hoa sen (ớ ơ) 
Em được thì cho anh xin 
Hay là em để (chứ) làm tin làm tin trong nhà 
Ơi hỡi chàng ơi (chứ tình rằng) ơi hỡi chàng ơi 
Áo anh sứt chỉ (chứ) đường tà (chứ biết rằng) 
Vợ anh chưa có (chứ) mẹ già, mẹ già chưa khâu 
Mẹ già chưa khâu (chứ tình rằng) tình vẫn chưa khâu…

                 (Y Vân, Tát nước đầu đình) 

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

Lịch sử cần sự trung thực hơn là những huyền thoại đẹp đẽ

Nguyên Hưng

Việc đẩy mốc “Mỹ thuật Việt Nam thời Đổi mới” lùi về năm 1975 dưới nhãn “Sự chuyển mình từ bên trong” là một sự đảo lộn phương pháp luận lịch sử. Phép gộp niên đại 1975–1995 xóa nhòa ranh giới cấu trúc giữa hai giai đoạn khác nhau về bản chất. Giai đoạn 1975–1985 là thời kỳ của định chế áp đặt, kinh tế kiệt quệ và độc tôn ý thức hệ. Giai đoạn 1986–1995 là thời kỳ cởi trói, hình thành thị trường và đa dạng hóa thẩm mỹ. Sự chuyển mình trong khoảng 1975–1985 chủ yếu mang tính phản ứng sinh tồn đơn lẻ của các cá nhân nghệ sĩ trong bóng tối. Chỉ khi nội lực phản kháng ấy cộng hưởng với các xung lực kinh tế, thông tin và định chế quốc tế sau năm 1986, Mỹ thuật Đổi mới mới thực sự được khai sinh với tư cách một kỷ nguyên nghệ thuật chính thức. Kéo giãn biên độ thời gian tạo ra câu chuyện giả tạo về sự trưởng thành nội tại bình yên, đồng thời hư vô hóa những tổn thương của thời bao cấp và giảm nhẹ tầm vóc cách mạng của bước ngoặt mở cửa.

Sách mới: Bút ký / Tùy luận Nỗi Huế nỗi chữ nỗi quê của Trần Doãn Nho

 NHÀ XUẤT BẢN

NHÂN ẢNH

Trân trọng giới thiệu:

NỖI HUẾ NỖI CHỮ NỖI QUÊ

Bút ký / Tùy luận

Tác giả: Trần Doãn Nho

Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê là một tuyển tập chính trị xã hội và văn học nghệ thuật tập trung trên hai hiện thực. Một là: Huế, thành phố nhỏ bé thầm lặng nhưng là cái nôi của những biến động lịch sử mang tầm vóc quốc gia, nơi tác giả đã  sống cùng sống trong và sống với trong gần nửa thế kỷ. Hai là: Văn Học Hải Ngoại, một nền văn học nghệ thuật tự phát triển bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, đánh dấu sự thành công của một thất bại và là sự thất bại của một thành công. Bằng một bút pháp tổng hợp, vừa tùy bút vừa hồi ức vừa biên khảo và tham luận – nói gọn là tùy luận – Trần Doãn Nho đã tái hiện và triển khai từ trong sâu thẳm trái tim, những hình ảnh, sự kiện và tình yêu cùng những suy gẫm về quê hương đất nước, như một cách thanh toán nợ nần quá khứ và sòng phẳng với chính mình. Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê là nỗi niềm chung và riêng của một người, qua đó, Huế của hắn cùng với Chữ Nghĩa và Quê Hương thể nhập thành… Một.

Sách có bán trên AMAZON

384 trang, bìa mềm, in đen trắng bên trong, 5.5”x 8.5”, giá bán: US $30.00

408 trang, bìa cứng, in màu bên trong, 5.5”x 8.5”, giá bán: US $40.00

Xin bấm vào đường dẫn sau:

https://www.amazon.com/s?k=tran+doan+nho&crid=SNOSMFPUSHAG&sprefix=tran+doan+nho%2Caps%2C263&ref=nb_sb_noss_1

Hoặc liên lạc với tác giả qua địa chỉ email sau để mua sách có chữ ký của tác giả:

trandoanho@yahoo.com

Thứ Tư, 21 tháng 10, 2026

Chấn hưng Phật giáo thời hiện đại – Một trường hợp tham khảo (Case study)

 Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

Rất cảm kích, nhưng thật tình trong đầu tôi cũng gợn lên một chút ý nghĩ dí dỏm khi đạo hữu Như Hiền, trưởng nhóm Cư sĩ Học Phật ở Canada, gọi tôi là “Trưởng lão cư sĩ Nguyên Thọ”. Lần đầu nghe danh xưng ấy dành cho mình, tôi vừa vui vì tình thân kính, vừa tự hỏi: Tuổi già thì đã đến thật rồi, nhưng việc học đạo của mình đã theo kịp tuổi tác hay chưa?

Sách sắp xuất bản: Mỹ thuật Việt Nam từ góc nhìn Xã hội học Văn hóa

 Nguyên Hưng

LỜI TỰA

Cuốn sách này bắt nguồn từ một nhận thức ngày càng rõ ràng: phần lớn những khó khăn, nghịch lý và trạng thái bất phân trong đời sống mỹ thuật Việt Nam đương đại không chỉ xuất phát từ thiếu thốn vật chất hay hạn chế tài năng cá nhân, mà còn từ sự thiếu vắng một cách nhìn có hệ thống về chính các điều kiện xã hội và thể chế đang cấu tạo nên nghệ thuật.

Tuyển tập dịch thơ - truyện - tiểu luận của Anne Carson

 Ngu Yên

Tuyển tập dày 334 trang, phát hành miễn phí. Tự do đọc và tải.

https://www.academia.edu/.../T%E1%BA%A1p_Ch%C3%AD_%C4%90...

LỜI NGƯỜI DỊCH

Ngày 8 tháng 10 năm 2026, Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học cho Anne Carson. Họ ghi nhận một sự nghiệp táo bạo, đối thoại tinh nghịch với truyền thống cổ điển để tạo ra những hình thức mới cho văn chương đương đại. Tin ấy làm nhiều người vui, nhưng cũng làm không ít độc giả Việt bối rối. Anne Carson là ai? Đọc bà bắt đầu từ đâu?

Số đặc biệt mùa đông này của Tạp Chí Đọc Và Viết ra đời để trả lời câu hỏi đó, hay đúng hơn là để mời bạn cùng hỏi tiếp.

Carson khó xếp vào một ngăn kéo nào. Bà là nhà thơ, nhà tiểu luận, dịch giả và học giả cổ điển. Trong một trang sách của bà, Homer có thể ngồi cạnh John Ashbery, Emily Brontë đi dạo cùng người cha mắc bệnh Alzheimer, và một trận đánh đêm ở Epipolai trở thành tấm gương soi một cuộc hôn nhân đổ vỡ. Bà không dùng tri thức để dựng tháp cao hơn người đọc. Bà mang nó xuống ngồi cùng chúng ta ở bàn ăn, trong quán cà phê, giữa một cuộc trò chuyện chẳng ai biết nói gì tiếp.

Cuốn sách chia làm ba phần.

Thơ tuyển gồm những bài như “Tối thứ Bảy của người lớn”, “Áo len xanh cũ của cha”, “Bài nói ngắn về nỗi đau”, “Đố kỵ đại từ”. Ở đó, một bữa ăn hỏng hay một con chim hót sai nhịp trở thành nơi trú ẩn tạm thời của những câu hỏi lớn.

Tuyển truyện gồm “1=1”, “Flaubert, một lần nữa”, “Houdini tội nghiệp”, “Hạnh phúc” và nhiều truyện khác. Ở đây câu chuyện không nhất thiết phải kể chuyện. Cốt truyện tan vào những lối đi của ý thức, và khoảng trống giữa các sự việc tự nó trở thành một phần của truyện.

Phần đặc biệt gồm “Sách Isaiah”, trường ca “Tiểu Luận Thủy Tinh” (The Glass Essay) mà nhiều người coi là bài nên đọc đầu tiên, tiểu luận “Giới Tính Của Âm Thanh”, và một bài tiểu sử cùng niên biểu để bạn đọc lần theo đời bà.

Tôi phải thú thật: dịch Carson là chấp nhận thua trước. Nhà văn Võ Phiến từng nói dịch thơ giống như diễn lại một con cá đẹp đang bơi thành một bộ xương cá. Với Carson, phần lớn “con cá” không nằm ở chữ mà ở khoảng trống giữa các chữ: một dấu chấm đặt nơi lẽ ra là dấu hỏi, một đoạn lạc đề tưởng vô cớ, một nhịp ngắt lạnh lùng. Vì vậy tôi cố giữ lại những bộ xương ấy cho đúng hình, và đôi chỗ thêm vài lời ghi chú để bạn đọc khỏi lạc. Những chữ đặt trong ngoặc vuông là của tôi, không phải của bà.

Thơ của Carson không trao cho người đọc kết luận. Bà đặt ta vào một tình thế để cùng lúng túng, kinh ngạc, buồn, đôi khi buồn cười, rồi nhận ra chính những điều tưởng như không đáng kể ấy đã làm nên đời sống tinh thần của con người. Mong bạn đọc chậm, đọc lại, và đừng vội tìm câu trả lời.

Khi được hỏi giải Nobel có làm thay đổi lượng độc giả không, bà đùa rằng sách của mình sẽ có thêm một nhãn dán trên bìa. Tôi mong cuốn sách này là hơn một nhãn dán: nó là một cánh cửa.

Thơ tình haiku (phần 1)

 Bạt Xứ chuyển ngữ

Tình yêu là cảm xúc phức tạp nhất nhưng cũng giản dị nhất. Thơ haiku, với sự trong sáng và sâu lắng, có khả năng nắm bắt một cách tuyệt vời những cung bậc cảm xúc khác nhau của tình cảm nồng thắm này.

Những bài thơ dưới đây được chọn từ tuyển tập ”Haiku For Lovers” do Manu Bazzano chủ biên và giới thiệu từ những nhà thơ haiku xuất sắc thế giới cũng như các bậc thầy Nhật Bản được yêu mến. Những bài thơ này thể hiện tinh thần của tình yêu đích thực, là những khoảnh khắc yêu thương chân thành, từ sự say đắm ban đầu đến sự quen thuộc dần dà và cuối cùng là sự thanh thản tuyệt đối của lòng tận tụy sâu sắc và bền bỉ.

Nhìn lại âm nhạc miền Nam – Tập 1 (kỳ 9)

 Nguyễn Phú Yên

CHƯƠNG VII: TÌNH CA ĐÔI LỨA

Chủ đề tình yêu luôn là nguồn cảm hứng nghệ thuật của tất cả các dân tộc qua mọi thời đại từ xa xưa đến hôm nay. Có thể xem đó là đề tài bất tử của loài người thể hiện qua văn chương, nghệ thuật từ những người bình dân cho đến người học thức. Trong âm nhạc Việt Nam, từ âm nhạc cổ truyền đến tân nhạc, tình yêu luôn là đề tài xuyên suốt, có sức sống mãnh liệt còn tồn tại qua bao thời gian.

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2026

Đoản khúc về đoản thoại của Carson

 Nguyễn Quốc Chánh

1

Nếu Anne Carson chưa được trao Nobel, người ta có thể xem bà chỉ là một mụ gàn, kẻ điên khảo cổ chữ nghĩa, lục lọi những mảnh văn bản cổ như đi tìm xương khủng long trong đống tro tàn ngôn ngữ.

Nhưng khi được Nobel công nhận, chính những chữ nghĩa ấy bỗng trở thành văn chương lớn, những trò chơi trí thức trở thành thi pháp cách tân, sự lạnh lẽo là chiều sâu, cái kỳ quặc trở thành táo bạo.

Vậy Nobel phát hiện giá trị có sẵn hay tạo ra giá trị mà nó tuyên bố khi công nhận? Nếu giá trị chỉ trở thành giá trị trong cái nhìn của kẻ khác, liệu chủ thể có còn tự do trước cái nhìn ấy?

Vấn đề "tự do" và nguy cơ giải thể cấu trúc tinh thần trong kỷ nguyên số

Nguyên Hưng

Khái niệm tự do trong lịch sử triết học chưa bao giờ là một phạm trù cô lập. Bản chất của tự do chân chính không tồn tại độc lập, mà luôn được định vị bởi hai tọa độ cốt lõi: NĂNG LỰC TỰ NHẬN THỨC CỦA CHỦ THỂ và TRÁCH NHIỆM ĐẠO ĐỨC ĐỐI VỚI ĐỒNG LOẠI. Tự do mà tách rời hai nền tảng này sẽ ngay lập tức tự phủ quyết chính nó, biến tướng thành sự tùy tiện vô chính phủ và đẩy xã hội vào trạng thái hỗn mang. Trong bối cảnh hiện nay, sự bùng nổ của các nền tảng mạng xã hội đã tạo ra một môi trường kỹ thuật số đặc thù. Môi trường này cào bằng mọi tiếng nói theo một cơ chế thuần túy kỹ thuật, đồng thời triệt tiêu chiều sâu nhận thức và năng lực đối diện với thực tế. Hệ quả tất yếu là sự lan rộng của tâm lý bất tín vị kỷ, biến không gian mạng thành một đấu trường của những xung năng cấp thấp và đẩy nhanh quá trình tự giải thể của các cấu trúc tinh thần vốn định nghĩa nhân tính.

Hé lộ nơi giấu “hoa cái” (sọ đầu) vua Quang Trung ở Huế

 Trần Viết Điền

Giữa tháng 9 năm 2016, trên báo Thanh Niên chúng tôi đã đăng bài Theo dấu tích 'hoa cái' vua Quang Trung: Tượng phỗng trước bệ thờ Miếu Đôi. Bài viết gồm hai phần. Phần một dựa vào những dữ kiện do Quốc sử quán triều Nguyễn, Nguyễn Đình Hoè, Phan Thuận An, Phan Quán, Đỗ Bang… cung cấp với độ tin cậy cao về tình trạng “hoa cái” của vua Quang Trung từ 1801 đến 1885. Phần hai trình bày cuộc rước tượng phỗng, nghi có “hoa cái” ở trong ruột tượng phỗng, vào năm 1944 từ Miếu Đôi làng Thanh Toàn lên Hải Cát để chôn sau lưng miếu Ông Hổ. Phần này dựa vào ký ức của cụ Hồng Hoài Lê Văn Hoàng, từng là thư ký Văn phòng Ngự tiền vua Bảo Đại, và ký ức dân gian làng Thanh Thuỷ Chánh.

Từ núi Phú Sĩ của Hokusai đến La Normandie của David Hockney

 Trương Thị An Na

Năm 2014, tôi đến Grand Palais, Paris xem triển lãm tranh của họa sĩ người Nhật tên là Hokusai (1760-1849). Ở đó, tôi được chiêm ngưỡng series tranh 36 cảnh núi Phú Sĩ mà ông đã vẽ trong khoảng thời gian từ năm 1830 đến năm 1834 dưới dạng tranh khắc gỗ của Nhật. Từ quan sát thực tế và bằng mẫn cảm nghệ sĩ cũng như sự tinh tế của mình, ông đã chớp được những thay đổi màu sắc của núi Phú Sĩ qua những khoảnh khắc khác nhau để sau đó tái hiện chúng một cách hoàn hảo trong series này.

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2026

Ý Nhi, sự cần thiết của truyện ngắn

 Nguyễn Đức Tùng

Tại sao chúng ta đọc truyện ngắn?

Bỗng dưng bạn nhìn thấy một tia sáng cuối cùng nhảy múa trong cỏ, khi mặt trời lặn. Con dao. Tiếng chân chạy. Bể bơi lạnh buốt, mặn. Tiệc cưới ngày thứ hai, ba giờ chiều. Chìa khóa. Đêm, tiếng khóc của người đàn bà bên kia vách tường. Đang ngủ, bạn thức giấc, ngồi dậy.

Con ngựa trên bãi biển – Chất thơ chuyển hóa thành văn

 Hồ Anh Thái

Trong truyện ngắn của Ý Nhi hay có mưa. Những cơn mưa bất chợt khiến người qua đường phải chạy vào trú tạm ở đâu đó. Khi thì hai ông cháu chạy vào trú mưa trong nhà của nhân vật chính (Dấu vết). Khi thì một nhân vật khác tránh mưa dưới một vòm cổng rồi phát hiện ở trong ấy một vườn hoa dường như hoang vắng (Hoa tứ quý). Mưa ở đây không phải là ẩn dụ sắc dục như một số tác giả từng khai thác. Cơn mưa trong văn Ý Nhi là một tình huống bất ngờ, như một cái cớ để những người xa lạ gặp gỡ, hoặc là để nhân vật thả mình vào một khung cảnh hiếm hoi khác lạ. Cũng có thể trời mưa là nguồn cơn cho những hoài niệm, những trận mưa khác nhau biểu đạt những tâm trạng khác nhau của nhân vật và của chính tác giả.

Dịch giả nép sau cánh gà (Luận về sự khác biệt giữa “chuyển ngữ” và “dịch thuật”)

 Ngu Yên

Ở xứ ta, sách dịch có một dòng chữ nhỏ trên bìa, ngay dưới tên tác giả ngoại quốc. Dòng ấy thường là “Dịch giả: Nguyễn Văn A”. Nhưng nhiều năm gần đây, nhất là ở hải ngoại, trên các trang mạng văn chương, trong các tuyển tập thơ, trên những blog xinh xắn có hình nền hoa giấy, người ta bắt gặp ngày càng nhiều một dòng khác: “Chuyển ngữ: Nguyễn Văn A”. Đọc lên nghe nhẹ nhàng, khiêm tốn, như người khách đến chơi nhà mà cứ đứng ở bậc cửa, không chịu vào hẳn hoặc một kịch sĩ ngại ngùng sân khấu đèn sáng, nép sau cánh gà.

Tiếp cận mỹ thuật Việt Nam từ góc nhìn Xã hội học Văn hóa

 Nguyên Hưng

Cách tiếp cận mỹ thuật từ góc độ Xã hội học Văn hóa ở Việt Nam vẫn còn tương đối mới mẻ, nhưng đây là một trong những hướng có sức giải thích mạnh mẽ và giá trị thực tiễn cao nhất hiện nay. Từ việc phân tích bốn loại vốn trong trường nghệ thuật, lịch sử mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX–XXI, vai trò của không gian và thiết chế, vốn văn hóa của nghệ sĩ, đến việc quản lý hình ảnh và truyền thông, có thể thấy rõ rằng cách nhìn này không chỉ cung cấp công cụ nhận thức mà còn trở thành công cụ hành động để xây dựng một trường nghệ thuật trưởng thành hơn, tự trị hơn và bền vững hơn.

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2026

Anne Carson và Ocean Vuong trong một cuộc đối thoại văn chương

Tino Cao

Hai hôm trước, tại Mengi, một không gian nghệ thuật ở Reykjavík, thủ đô Iceland, Anne Carson và Ocean Vuong đã gặp nhau và cùng tham gia một buổi đọc thơ do Reykjavík Poetics tổ chức. Sáu ngày trước đó, Carson vừa được Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố trao giải Nobel Văn học. Sự có mặt của hai nhà thơ lớn thuộc hai thế hệ tại một sự kiện văn chương mini có thể chỉ là một cuộc gặp gỡ tình cờ thú vị, và chỉ thế thôi, nếu giữa họ không tồn tại một mối tương liên trong sáng tác, vốn đã được Ocean Vuong nhiều lần công khai thừa nhận. Từ nhiều năm qua, sự nghiệp văn chương của Carson đã tham gia vào quá trình hình thành quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Mĩ gốc Việt Ocean Vuong. Đó không phải là ảnh hưởng theo nghĩa người đi sau tiếp nhận một phong cách đã xác lập để tái tạo bằng kinh nghiệm riêng. Đúng hơn, theo tôi, đó là một cuộc đối thoại về bản chất của sáng tạo văn chương, quyền tự thuật của con người và năng lực của ngôn ngữ khi đối diện với những kinh nghiệm mà các hình thức biểu đạt truyền thống chưa diễn tả thỏa đáng.