Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Từ năng lực đọc hiểu đến những khẩu hiệu quốc gia

 Thái Hạo

1.

Trong hình là kết quả từ chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) chu kỳ 2025 do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) công bố vào tháng 9/2026.

Theo đó, Việt Nam chỉ có 41% học sinh đạt chuẩn cơ bản (đồng nghĩa với 59% chưa đạt), thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình (69%) của OECD. Điểm số trung bình môn này của Việt Nam là 392 điểm.

Kết quả Đọc hiểu này là giảm mạnh (từ 462 xuống 392) so với kỳ PISA 2022. Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh đạt mức xuất sắc (Mức 5, 6) ở môn Đọc hiểu của Việt Nam là 0%.

Cung Tích Biền và phần tật nguyền của lịch sử

 Tino Cao

Chưa đầy ba tuần trước tôi còn gặp Cung Tích Biền. Bây giờ ông đã đi. Quãng nối thời gian giữa một người còn hiện diện trong một buổi chiều cuối mùa hạ ở quận Cam và một người giờ đây chỉ còn có thể gặp lại trong kí ức, chao ôi, sao lại ngắn đến vậy. Tin ông mất khiến tôi bàng hoàng, trí nhớ trở lại với những trang văn của ông tôi từng đọc, mà tôi phải thành thật nói rằng vốn đọc Cung Tích Biền của mình còn rất mỏng. Ngoài Bạch Hóa Thừa Dư, tôi chưa có dịp đọc thêm ông để đi sâu vào một văn nghiệp kéo hơn sáu mươi năm, bắt đầu từ văn học miền Nam trước 1975 và tiếp tục qua những biến động lớn của đời sống Việt Nam sau chiến tranh. Bởi vậy, với tôi lúc này, việc nhìn lại toàn bộ Cung Tích Biền qua toàn bộ tác phẩm của ông vẫn là điều bất khả.

Cung Tích Biền – một người anh, một người viết

V. N.

 

Nhà văn Cung Tích Biền  (1936-2026)

Có những người ta biết từ lâu mà vẫn tưởng như còn có thể gặp lại vào một sáng Chúa nhật nào đó. Vẫn là quán cà phê quen thuộc, vẫn những khuôn mặt quen thuộc, vẫn những câu chuyện văn chương không đầu không cuối. Người ấy có thể hôm nay vắng mặt vì bận việc, vì đau chân, vì đi chơi xa, hay chỉ vì ngại ra đường. Ta không nghĩ rằng đó là lần cuối cùng.

Nói thêm về Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử nhân dịp tác phẩm được dịch sang tiếng Pháp

 Lã Nguyên

 

Thi pháp Truyện Kiều của Trần Đình Sử được Nhà xuất bản Giáo dục in lần đầu vào năm 2002. Sau đó, vào các năm 2005, 2007, 2012, 2018, chuyên luận liên tục được tái bản, lúc đầu ở Nhà xuất bản Giáo dục, về sau ở Nhà xuất bản Sư phạm. Vảo năm 2024, công trình vượt ra ngoài biên giới quốc gia, đến với độc giả quốc tế nhờ được dịch ra tiếng Pháp. Bản dịch tiếng Pháp (La Poétique du Kiều) do Trần Lê Bảo Chân thực hiện, Nhà xuất bản Kimé phát hành ở Paris trong khuôn khổ Dự án hợp tác Việt - Pháp giữa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Trường Sư phạm Cao cấp Paris mà Nhà xuất bản Đại học Sư phạm là đơn vị điều phối về phía Việt Nam. Nhân đây, tôi muốn nói thêm đôi điều về chuyên luận hi hữu này.

Ai đang giữ ký ức của mỹ thuật Việt Nam? – Một góc nhìn về nhà sưu tập mỹ thuật Việt Nam

 Tobi Trần - Giám tuyển Độc lập

Khi nói về mỹ thuật Việt Nam, chúng ta thường có xu hướng nhìn thị trường qua những gì dễ nhìn thấy nhất như phòng tranh, nhà đấu giá, các phiên bán tranh, những mức giá kỷ lục, tên tuổi nghệ sĩ được truyền thông nhắc tới và gần đây là sự xuất hiện ngày càng nhiều của những không gian nghệ thuật tư nhân. Nhưng nếu chỉ nhìn vào những cấu trúc công khai này thì chúng ta mới nhìn thấy phần nổi của một hệ thống lớn hơn rất nhiều. Phía sau lịch sử lưu chuyển của tác phẩm nghệ thuật Việt Nam còn tồn tại một mạng lưới ít được nhìn thấy hơn đó là những nhà sưu tập tư nhân, những bộ sưu tập gia đình, những kho lưu trữ cá nhân và những căn phòng mà trong đó một phần lịch sử mỹ thuật đã được giữ lại trong nhiều chục năm trước khi được xuất hiện trở lại trong một cuộc triển lãm, một cuốn sách, một phiên đấu giá hoặc một bảo tàng. Nói cách khác, muốn hiểu thị trường nghệ thuật Việt Nam, trước hết phải hiểu ai đang giữ những tác phẩm của nó. Và muốn hiểu lịch sử mỹ thuật Việt Nam, đôi khi còn phải đặt một câu hỏi còn khó hơn: ai đã có quyền quyết định tác phẩm nào được giữ lại, tác phẩm nào được nhìn thấy, tác phẩm nào được đưa ra thị trường và tác phẩm nào biến mất khỏi ký ức công chúng?

Thơ Thiền Zen Paul Vân Thuyết

 THƠ VÃNG LAI

(Những vần thơ chợt đến trong khoảnh khắc)

 


CHỮ CÁI CÔ ĐƠN

 

Đi tìm nguồn gốc thơ

Tôi lang thang

Đi dọc theo những vần thơ

Tôi chỉ thấy thơ... và thơ

Đi xa hơn nữa

Tôi nhìn thấy thơ

Ngồi thiền trên đỉnh núi trầm tư

Tôi phát hiện ra

Thiếu vắng thơ

Những chữ cái

Rất cô đơn.

                  Hà Nội, 2026

Thơ Haiku của Matsunaga Teitoku

 Bạt Xứ dịch

Matsunaga Teitoku (1571–1653) được R. H. Blyth coi là nhân vật quan trọng nhất trong số những người tiền bối của Matsuo Bashō. Ông sáng tác rất nhiều thơ haiku và kyōka (thơ trào phúng). Teitoku thường khai thác những đề tài nhẹ nhàng, chú trọng đến khía cạnh vật chất hơn là tinh thần, nhưng không vì thế mà tỏ ra bất kính hay đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức Nho giáo và Phật giáo đương thời.

                                                                                                                                   - B. X

 
Tranh Ishizaki Koyo

 

Chú chim chích và chú ếch

có cần chi

đến ông thầy dạy thơ.

Đất nước tràng hạt (kỳ 3)

                                                                                                                                    Trường ca du ký

Đỗ Quyên

Chương 3

Ải Bắc Quan vầng trán trời Nam

 

 

Bắc thang lên hỏi ông trời[1]

làm sao biên giới truyền đời bình an

làm sao Ải Bắc yên hàn                                                                                                                                                        thảo trường ca hỏi ông Bành Tổ ơi…

… Lành thay

         Xạ thu

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Nhà văn Cung Tích Biền qua đời

Nhà văn Cung Tích Biền vừa đột ngột qua đời ngày 9 tháng 9 năm 2026 tại Orange, California, Hoa Kỳ, thọ 91 tuổi.

Ông là một cộng tác viên thân thiết của Văn Việt.

Ban Biên tập Văn Việt xin bày tỏ lòng tiếc thương nhà văn Cung Tích Biền. Cầu mong hương linh ông được thảnh thơi, siêu thoát.

Cung Tích Biền: Bơ vơ cái dấu chấm buồn lạnh...

 Trịnh Y Thư

Bơ vơ cái dấu chấm buồn lạnh, trên một cõi quê nhà, đất thiếu máu, cạn tình.

– Cung Tích Biền (Nghiệp chưa hề an nghỉ – Xứ động vật)

clip_image002

1.

Đọc Xứ động vật của nhà văn Cung Tích Biền [Nhân Ảnh xuất bản, California, 2018], người đọc không thể không bàng hoàng, kinh động vì những trang viết khốc liệt như được viết từ nỗi đau xé ruột và lòng phẫn nộ tràn ứ, đầy dâng. Hiển nhiên, ở đây nhà văn viết không phải để giải trí, mua vui. Suốt sáu thiên truyện mà tác giả gọi là “tân truyện” – ngoại trừ truyện đầu, Mùi của gió mùa, một truyện ngắn riêng lẻ, kì dư các truyện khác đều là tập hợp của nhiều tiểu truyện với nội dung liên kết nhau – người đọc không hề tìm thấy một dấu vết hạnh phúc nhân sinh hoặc một nụ cười vui tươi nào, mà chỉ bắt gặp toàn những đắng cay tủi nhục và đau đớn ê chề.

Cung Tích Biền “Đành lòng sống trong phòng Đợi của lịch sử”

Lời giới thiệu của người phỏng vấn: Sau gần ba tháng thực hiện bài phỏng vấn, và cũng là dịp để sơ lược hệ thống lại một phần tác phẩm cùng văn nghiệp của nhà văn Cung Tích Biền, cũng như qua những hé lộ về cuốn hồi ký mà ông đang hoàn thành, tôi biết rằng, để viết một lời giới thiệu đầy đủ về nhà văn này thật là khó khăn. Hơn nữa, khi nhận những câu trả lời cuối cùng của bài phỏng vấn, tôi lại nhận được một lá thư riêng, trong đó có một đoạn viết như sau: “Cả mấy tháng nay bận. Gắng trả lời phỏng vấn của em đây. Nội dung căng, nhưng khá thú vị. Bản thân anh cũng thích đương đầu. Và yêu Sự thật. Do vậy bài phỏng vấn này em muốn chạy cho talawas cũng được. Mà giữ lại trong ngăn kéo cũng nên, xem như một quà tặng cuối đời anh dành tặng Lý Đợi vậy. Cũng là tư liệu… Tuy nhiên có điều này cần bày tỏ cùng em. Bao năm nay anh đã Ra Ngoài. Không tơ hào gì Cõi Bên Trong. Gần gũi với anh lâu nay chắc em hiểu. Anh sống mà như vắng bóng. Ít tâm sự cùng ai. Đời hiểu lầm anh không ít. Vài ngộ nhận chết người mà anh không bao giờ cải chính. Mặc áo Lặng Thinh.”

Lê Văn Duyệt – Bi kịch của lòng trung

 Nguyễn Hồng Lam

Bài viết này, tôi post trên FB cá nhân vào ngày 17-10-2025. Nó nhận được khá nhiều sự quan tâm của người đọc mạng xã hội, với hơn 2.400 lượt reaction, hơn 300 cmt và 438 lượt share. Nhưng cũng chính vì bài viết này, gạch đá và những lời mạt sát kinh khủng của đám ngụy danh “chống lật sử” xảy ra sau đó chỉ vài tuần đã bay vào nhà tôi tới tấp, kéo dài suốt nhiều tháng. Hàng trăm inbox vô văn hóa, nghèo nàn kiến thức, què quặt tâm hồn đã đổ xô vào trang cá nhân người viết để chửi bới, mạ lị và hăm dọa. Đa số đều không biết rằng bài viết không mới, tôi đã viết từ năm 2008, đã đăng trên báo An ninh Thế giới, đã được trình bày trong kỷ yếu hội thảo và cuộc tranh luận về về Đức Tả quân của tạp chí Xưa và Nay, sau đó được in trong cuốn Lê Văn Duyệt với vùng đất Nam Bộ cùng nhiều tác giả vào năm 2009. Sách đã được tái bản nhiều lần. Nhưng với căn tính chung là không thèm đọc, không biết đọc, hoặc có thâm thù chi đó với sách vở, “bọn vô lại bỗng dưng nổi cơn ái quốc”, những kẻ mù quáng bất chấp tri thức và phương pháp tiếp cận tri thức, những kẻ đang bám vào cái gậy “chống lật sử” ngớ ngẩn, sai trái và đầy phá hoại ai đó cố dựng lên thành phong trào đã bất chấp, nhất nhất chỉ dựa vào bài viết trên FB mà chúng tưởng đã “phát hiện và lật tẩy” để đặt tác giả cùng nhiều người khác thành mục tiêu tấn công, hủy diệt, chửi bới, chà đạp.

Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta

Paul Dahlke 

Đỗ Kim Thêm giới thiệu và dịch

 

Lời giới thiệu của người dịch

Tác giả

Paul Dahlke (1865–1928) là một Bác sĩ Y khoa chuyên về Homöopath (Vi lượng đồng căn) của Đức. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Berlin năm 1887, ông mở phòng mạch chuyên khoa và càng nổi danh hơn khi xuất bản 22 tác phẩm và hàng trăm tiểu luận trong chuyên đề này.

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2026

Viễn kiến môi sinh của Đức Đạt Lai Lạt Ma từ “Nóc Nhà Thế Giới” tới thảm họa Nepal - Tây Tạng 2026

 Ngô Thế Vinh 

MÙA XUÂN TÂY TẠNG VÀ CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có sông Mekong. Đức Đạt Lai Lạt Ma từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.” https://vietecologypress.blogspot.com/2017/01/mua-xuan-tay-tang-va-cau-chuyen-nhung.html

Hồ Gươm có cần một “Khải Hoàn Môn”?

Lê Thọ Bình

Hồ Gươm không chỉ là một khoảng xanh giữa lòng Hà Nội, mà là nơi thiên nhiên, lịch sử, văn hóa và ký ức cộng đồng kết tinh qua nhiều thế kỷ. Vì vậy, mọi can thiệp vào không gian này cần được cân nhắc trước hết bằng một câu hỏi: công trình mới có thực sự thuộc về nơi đây hay không?

Từ “ngôn ngữ nhỏ” đến văn học thế giới: vài vấn đề cần bàn lại

Tino Cao

Bài tham luận Một ngôn ngữ nhỏ có thể chứa một thế giới lớn đến đâu? – Biểu đạt văn học dưới góc nhìn APEC của nhà văn Nguyễn Khắc Ngân Vi, đăng trên Văn Việt ngày 5 tháng Chín, đặt ra một vấn đề không mới trong văn học so sánh nhưng vẫn rất thời sự đối với người viết Việt Nam. Một tác phẩm viết bằng tiếng Việt phải đi qua những con đường nào để đến với độc giả bên ngoài Việt Nam, và trong quá trình ấy nhà văn phải đối diện ra sao với những mong đợi đã hình thành từ trước về dân tộc, lịch sử và căn tính của mình?

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2026

Xin đừng xâm phạm và xoá bỏ giá trị lịch sử thiêng liêng của Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội

 Phạm Đình Trọng

Tiến trình phát triển tất yếu từ phong kiến sang tư bản, từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp, thủ đô các nước có lịch sử lâu đời đều có hai khu vực in dấu ấn, là chứng tích lịch sử của kinh đô cũ, kinh đô phong kiến của văn minh nông nghiệp và thủ đô mới, thủ đô tư bản của văn minh công nghiệp.

Trao đổi với nhà văn Nguyễn Khắc Ngân Vi

Bảo Chân

Nguyễn Khắc Ngân Vi là một nhà văn nữ đương đại Việt Nam hiếm hoi mà tôi từng đọc với sự quý mến. Ở góc nhìn cá nhân tôi, Ngân Vi có lối viết khá sắc sảo, hiện đại, gai góc, quyết liệt. Đến nay cô ấy đã xuất bản ba tiểu thuyết, Đàn bà hư ảo (2016), Phúc âm cho một người (2017) và Vạn sắc hư vô (2022).

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Uống rượu với thời gian

  V. N.

Con người, một khi đã biết ngồi lại với chính mình và biết quý một người tri kỷ, sẽ không thể tránh câu hỏi lớn hơn: Nếu đời người hữu hạn, ta phải sống phần thời gian được trao cho mình như thế nào?

Và người xưa, thật thú vị, đôi khi không trả lời bằng một bài giảng đạo đức.

Họ nâng chén rượu.

Nguyễn Viện: Khi tuyệt vọng cũng mang thân xác con người...

 Lê Vĩnh Tài

Nguyễn Viện trong một buổi đọc thơ với Đinh Linh ở Thủ Đức

Nhà văn Nguyễn Viện gần đây liên tiếp viết những status về cái chết. Nhưng ông lại “xổ chấp” hết bạn bè văn chương một cách bất ngờ: ông không dùng sở trường (truyện ngắn), ông làm thơ.

Văn bản quyết định tiếp nhận và điều động nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường

 Dưới đây là văn bản quyết định tiếp nhận nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về Hội Nhà văn và điều động ông thường trú tại Huế, ký ngày 12 tháng 11 năm 1980. Người ký là nhà văn Nguyên Ngọc, lúc ấy đang giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn.

Tư liệu do gia đình nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cung cấp.

Thơ Lê Thanh Trường

GỞI VÓI THEO NGƯỜI

 

đi thôi

chiều rồi sẽ

mà không, những ý nghĩ đứt đoạn

bỏ dở cơn chiều lẽ ra đã chiều lắm

 

ánh nắng tàn lẻ loi trên nóc tháp chuông

cuối mùa vọng

lòng chưa ngưng các vọng

 

tôi chưa sẵn sàng mà người đã tới

tôi trốn vào một buổi chiều

che giấu những mẩu

tâm

can

và dường muốn khóc

 

thương giọt nước mắt

như sương hơi âm thầm

mang bóng tối người ơi

 

người cứ tới đây

tôi vầy một khoảng trống

đong người giữa ngổn ngang

 

một ngọn lửa nhỏ làm sâu đêm đen

một nguyện cầu xa thẳm

vang tôi làm ấn triệu…

 

CHO CON

 

Tình yêu con ơi

con có thể dùng tên nó để gọi gần hết mọi thứ

suốt đời con

mà vẫn còn dư, dù thế

đừng hào phóng sớt cho những thứ còn lại

trong đời con vẫn gặp

 

vì tình yêu, con

nhiều khi luồn như rắn trong hang tối

giữa mùa thay da sợ hãi

 

con tìm thật kỹ

và cẩn thận với chất độc mong manh

 

MỖI NGÀY

 

cuối ngày rồi

đổ hột xí ngầu giả tưởng

nhắm mắt chờ

thế khỉ nào cũng có một em lật mặt

hí hửng thắng cuộc

 

hột xí ngầu ngày mình cũng lăn lóc dữ

mà xin, dạ thưa

cho tui làm mặt đáy nghe may rủi

tui chỉ muốn chạm cho lanh canh thôi.

 

VIẾT BÊN LỀ NHẬT KÝ

 

đôi khi trước mặt

cái nhìn không chạm tới

như một sự tan biến

 

hai con mắt rớt xuống mặt đường

lanh canh lanh canh

 

trong hốc sâu tâm tưởng

hoá mình thành ký ức

cuộn riết vào cuối cùng vết mờ dư bóng ảnh

 

ngày lăn đi mịt mù

không lời nào ràng buộc

dường như có tự do trong im lặng

 

không biết tiếng thở dài sẽ vang xa tới đâu…

 

MỘT DẤU CHẤM

(tặng một buổi chiều lượng cượng)

 

tôi nhớ tôi hôm qua

lúc nào cũng trẻ hơn

chưa biết sợ

thời gian là những khoảng vui bè bạn

uống rượu không say

(dóc, có đứa sẽ nói

xin sửa lại: say không biết mệt)

 

tôi hôm qua

những trận ngu rực rỡ

phẩy tay, nhằm nhò gì

luôn búng điếu thuốc đi và nói

đời, còn lắm dịp để đạo mạo

 

hôm qua

nhiều khi không có tôi

lạc đâu đó quên mình tuy nhiên

tình tự tin bao giờ vẫn thấy

mình ở khắp mọi nơi

tham dự đủ thứ chuyện

sự kiện nào cũng thần sầu

 

có những khi tôi một mình

không hôm qua đâu hết

quá khứ vị lai như một đấu lúa đầy

nằm thảnh thơi trên đồng cỏ

tôi nói lúc này

em ơi tôi cần em

 

một ngày nào tôi không gọi em nữa

xả tôi bay xuống sông

dùm, ai đó với

 

GIẢI THOÁT

 

lúc ấy là nửa đêm

những người đồng phục gõ cửa nhà anh

đi với chúng tôi, họ nói

và anh đi

 

anh chưa hôn vợ

anh chưa ôm con

anh còn mặc đồ lót

anh không xỏ giày

 

những ngọn đèn giấu hết ánh sáng

anh nhìn thấy mặt đường qua ánh lửa chớp ra dưới những gót giày sin sít, dắt anh đi

bầu trời đêm không trăng sao

thành phố dường như ngủ mê

không người hàng xóm nào thức nhìn anh qua cửa sổ

 

anh không ngoái lại

lòng yên tĩnh và khi tấm cửa xe đóng sầm

anh nhớ bao lâu mình đã không ngạc nhiên

với những âm thanh ấy

với cả nơi mình sắp tới

anh sắp sửa quên nhân dạng của mình

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Từ ngọn lửa đến tiếng chuông: Vũ Hoàng Chương và hành trình vào cõi từ bi

 Tino Cao

Ngày 6 tháng 9 năm 2026, tròn năm mươi năm Vũ Hoàng Chương từ giã cuộc đời. Nhắc đến ông, kí ức văn học thường trở về trước hết với Thơ Say, với Hà Nội của những đêm rượu, tiếng kèn, ánh sáng vũ trường, tình ái, giấc mộng và một tâm hồn luôn thấy đời sống trước mắt quá chật chội cho nỗi khao khát của mình. Nhưng hình ảnh ấy chỉ đúng với một phần Vũ Hoàng Chương. Đời thơ của ông kéo dài gần bốn mươi năm, đi qua chiến tranh, di cư, chia cắt, Sài Gòn, pháp nạn Phật giáo năm 1963, những biến động miền Trung năm 1966, rồi những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa. Trên quãng đường ấy, đạo Phật ngày càng chiếm một phần quan trọng trong thế giới tinh thần của ông. Đến Lửa Từ bi, Ánh trăng đạo lý, Bút nở hoa đàm, Chuông chùa Diệu Đế cùng nhiều bài thơ khác của thập niên 1960, Phật giáo đã vượt khỏi địa vị một nguồn biểu tượng và đi vào những câu hỏi căn bản nhất của thi sĩ về khổ đau, mê lầm, trách nhiệm và khả năng tự cứu rỗi của con người.

Truyền thuyết khác về lăng mộ vua Đinh và long mạch ở cố đô Hoa Lư

 Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Với những gì chúng ta  được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua đại quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:

Lê Đạt bắt chữ mang thân phận người

 Thy Sinh

Bóng chữ

Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu
Bóng chữ động chân cầu

Lê Đạt

Góc nhìn từ ngôn ngữ

Lê Đạt là nhà thơ có ý thức lao động chữ nghĩa nghiêm túc khi sáng tác, ông từng phát biểu “Chữ bầu lên nhà thơ”. Vì thế, khi nghiên cứu Bóng chữ, chúng tôi tiến hành khảo sát khái niệm “chữ” của Lê Đạt từ ngôn ngữ, bởi ngôn ngữ là chất liệu để ông biến các từ loại thành “chữ” của riêng mình.

Ở góc độ quan sát được, chúng tôi nhận thấy nhiều tính từ có tính chất gần nghĩa và/hoặc đồng nghĩa với nhau, ví dụ như: ‘đẹp’, ‘xinh xắn’, ‘dễ thương’ có chung nghĩa là ‘đẹp’ nhưng ‘xinh xắn’ có tính chất vừa gần với ‘đẹp’ nhưng lại nhấn mạnh hơn về nhỏ bé, hoặc “dễ thương” cũng mang một phần nghĩa của ‘đẹp’ nhưng lại phản ánh sắc hơn về tính thiện cảm. Ngược lại ‘đẹp’ cũng mang trong nó phần của ‘xinh xắn’ và ‘dễ thương’ nhưng chú trọng hơn ở mặt toả sáng.

Từ quan sát trên, chúng tôi nhận thấy các tính từ gần nghĩa với nhau tự thân chúng đã có thể làm bóng cho nhau. Tính chất bóng này cũng được tìm thấy trong danh từ thông quan hệ bao hàm và liên tưởng.

Trong ngôn ngữ thơ, tính chất bóng được thể hiện rõ nét nhất ở tính từ và danh từ. Bởi vì, nghệ thuật chỉ lấy ngôn ngữ làm chất liệu nên ta vẫn thấy các bài thơ viết về ‘mẹ’ nhưng hiện lên bóng là ‘quê hương’ và ngược lại. Tự thân ngôn ngữ đã có tính chất bóng lẫn nhau còn ngôn ngữ thơ, tính chất ấy được các nhà thơ tưởng tượng, sáng tạo thêm theo cách mà chỉ nghệ thuật mới có thể làm được.

Cơ chế nghệ thuật

Bóng chữ là tác phẩm hiếm hoi của thơ ca vận dụng tính chất bóng của ngôn ngữ để khắc hoạ con người và hai thực thể trữ tình “anh” - “em”. Tứ thơ khá đơn giản là ‘anh nhớ em’, hay ‘anh đợi em’. “Em” được mô tả là “thơ thiếu nhỏ”. Các tính từ “thơ”, “thiếu”, “nhỏ” tự thân làm bóng cho nhau. “Em” vừa như là thơ, vừa mang nét thiếu thời, lại vừa nhỏ nhắn. “Thiếu” vừa là bóng của “thơ” vừa tạo thêm nghĩa cho “thơ” đến lượt “nhỏ” vừa mang nghĩa của “thiếu” vừa bổ sung cho “thiếu” ở tính chất kích cỡ. Không dừng lại ở tính bóng tự thân của ngôn ngữ, tác giả còn mở rộng đặc tính ấy để “em” hiện ra rõ nét hơn. Chữ “nhỏ” không chỉ làm bóng cho chữ “thiếu” mà nó còn làm bóng cho cả hai chữ trước nó là “thơ thiếu”. Hay nói cách khác, bóng của “thơ thiếu” chính là “nhỏ”. Lúc này trường nghĩa lại mở ra cho người tiếp nhận về hình ảnh “em”. Sự chồng bóng (bóng của bóng) là sáng tạo độc đáo của riêng Lê Đạt. Cái mà “anh” nhìn thấy “em” không phải là một tính chất mà nhiều tính chất được pha trộn, lồng ghép và trượt nghĩa khi các chữ đã làm bóng của nhau rồi lại chồng bóng lên nhau nữa.

Các tính từ trong cụm “thơ thiếu nhỏ” không được ngắt bằng dấu phẩy làm cho câu thơ có nhiều cách đọc. Chúng tôi thử đọc bằng các cách ngắt nhịp kiểu dưới đây để thấy sự biến đổi:

Như một / thời thơ thiếu nhỏ
Như một thời / thơ thiếu nhỏ
Như một thời thơ / thiếu nhỏ
Như một thời thơ thiếu / nhỏ

Các cách đọc ở trên khiến câu thơ bị trượt nghĩa mang các sắc thái khác nhau nhưng vẫn neo được hình ảnh “em” là “thơ thiếu nhỏ” như là “bản gốc” về “em”.

Cơ chế nghệ thuật này cũng được thể hiện trong ký ức hình thể về “em”: “Em về trắng đầy cong khung nhớ”. Nếu như “em” được nhìn “thấy” là “thơ thiếu nhỏ” thì ký ức lại được vẽ bằng “trắng đầy cong”. Vừa thực, vừa ảo, có thể gợi liên tưởng đến cơ thể “em” ở nghĩa nhục cảm, hoặc một vầng trăng trắng đầy thương nhớ, Tuy cùng cơ chế nghệ thuật với câu thứ hai, nhưng “trắng đầy cong” lại bị giới hạn bởi danh từ “khung nhớ”. Dù cách đọc và ngắt nhịp có thay đổi thế nào thì vẫn nằm trong “khung nhớ”:

Em về / trắng đầy cong khung nhớ
Em về trắng / đầy cong khung nhớ
Em về trắng đầy / cong khung nhớ
Em về trắng đầy cong / khung nhớ

Mặc dù bị giới hạn bởi “khung nhớ” nhưng cái “khung nhớ” ấy lại kéo dài qua nhiều “mùa” mưa và mùa “thu”. Ở đây, chữ “độ” được dùng thay cho chữ “mùa”. Khoảng trắng trước câu “mây mấy độ thu” tạo ra sự lệch về thị giác với câu trước đó, diễn tả cái chênh vênh khi vắng “em”.

Miêu tả “em” và ký ức về “em” qua bóng của các tính từ thì cái vắng “em” lại được miêu tả bằng bóng của danh từ. “Vườn thức” chính là bóng của “anh”, “hoa đi vắng” chính là bóng của “em”, còn “mùi” như là dấu vết, là sinh khí của “em” để lại. Hay nói cách khác “mùi” chính là bóng của “hoa đi vắng”. Cái ảo làm bật lên cái thật khiến tác giả phải buột miệng hỏi “Em vẫn đây mà em ở đâu”. Câu hỏi không có dấu hỏi, hỏi là để nhắc lại cho mình biết rằng mình vẫn đang vắng em.

Hai câu cuối là hai câu khó giải mã nhất, vì nhân vật trữ tình “anh” hoàn toàn biến mất không để lại dấu vết. “Anh” chỉ được gọi ra một lần duy nhất ở câu đầu tiên, và thể hiện bằng bóng của “anh” ở chữ “Vườn thức” mà thôi. Vậy phải tìm “anh” để bài thơ thành một chỉnh thể vì đã có hình ảnh “em”, ký ức “em” và cái vắng “em” nhưng “anh” càng lúc càng mất hút. Tại sao?

Chúng tôi phải truy tìm “anh” bằng cách tiếp cận từ hai hướng khác nhau. Hướng thứ nhất là từ ngôn ngữ và hướng thứ hai từ địa danh Âu Lâu.

Hướng thứ nhất, từ ngôn ngữ, chúng tôi nhận thấy rằng, nếu danh từ riêng Âu Lâu viết thường, câu thơ sẽ là “Chiều âu lâu”. Lúc này, “âu lâu” là một tính từ có thể được ghép giữa “âu lo” và “lâu”. Điều này hoàn toàn nhất quán với tâm thế của “anh” trong bài thơ. Vì “anh” nhớ “em”, nhớ đến cả đường nét hình thể “em” và cảm nhận được cái bóng của “em” vẫn lẩn khuất đâu đây, nên lo lắng, âu lo cho “em” suốt thời gian dài (Mưa mấy mùa / mây mấy độ thu) là hoàn toàn phù hợp. Nhưng Lê Đạt không dừng lại ở đó, bằng một thao tác nghệ thuật với chữ, ông biến tính từ “âu lâu” thành danh từ riêng “Âu Lâu”. Có thể nói, đây là một thủ pháp nghệ thuật thượng thừa của bậc kỳ tài văn chương.

Hướng thứ hai, giả sử Lê Đạt lấy cảm hứng từ chính địa danh Âu Lâu[*] quê ông để viết Bóng chữ, và Âu Lâu thuần túy là danh từ riêng chỉ một địa danh cụ thể? Chúng tôi cho rằng, ngay cả khi giả thiết này là đúng. Lê Đạt vốn là người hiểu rõ cơ chế tự thân của ngôn ngữ là chúng có thể làm bóng cho nhau. Thậm chí, kỹ thuật chồng bóng được ông sử dụng nhuần nhuyễn ở trên cho thấy ông hiểu rất rõ cách tạo bóng cho chữ qua tính từ và danh từ. Điều này chứng minh cơ chế tạo bóng mà chúng tôi phân tích ở hướng thứ nhất vẫn hoàn toàn hợp lý. Từ lập luận vừa nêu, chúng tôi cho rằng dù danh từ riêng “Âu Lâu” có là địa danh thật hay chỉ là thao tác nghệ thuật thì cả hai hướng tiếp cận cũng đều chấp nhận được, không hề mâu thuẫn hay triệt tiêu nhau mà còn bổ sung cho nhau.

Việc chuyển “âu lâu” (tính từ mang tính chất của “anh”) thành “Âu Lâu” (danh từ riêng) đã tạo bước chuyển lớn trong nghệ thuật. Từ đây “âu lâu” không chỉ là tính chất của “anh” khi chờ đợi “em” mà đã trở thành danh từ riêng “Âu Lâu” định danh cho anh. Từ tính chất trở thành thân phận “anh”. “Âu Lâu” vừa là bóng của tính từ “âu lâu” nhưng mang nghĩa rộng hơn, lớn hơn. Danh từ riêng “Âu Lâu” lại chính là bóng của “anh”. Cái bóng ấy mạnh đến mức làm “động chân cầu”. Chân cầu là bộ phận gắn liền với cầu, cầu mang biểu tượng của sự kết nối. Nhưng cái bóng “Âu Lâu” hay nói rõ hơn là thân phận “Âu Lâu” của “anh” lại “động” vào cái kết nối giữa hai người chứ không phải “động” vào “em” hay ngược trở lại vào “anh”. Đây là một tư duy sắc sảo về nghệ thuật mà chúng tôi sẽ trình bày kỹ hơn ở dưới.

Cực hạn thầm mỹ

Chữ trong Bóng chữ vừa là thực thể vừa làm bóng của nhau, đứng chung với nhau theo một trật tự nhưng chúng có lúc hội tụ, có lúc tán xạ trong tâm trí người đọc. Cực hạn thẩm mỹ bài thơ này đạt được ở thao tác biến “âu lâu” tính từ thành “Âu Lâu” danh từ riêng. Chủ thể “em” trong bài được định hình bằng tính chất “thơ thiếu nhỏ” thì “anh” được định hình bằng tính chất “âu lâu”. Nếu tác giả viết “Chiều âu lâu” thì bài thơ này chỉ dừng ở mức một bài thơ tình hay với độ kết cấu chắc chắn và kỹ thuật điêu luyện. Nhưng Lê Đạt đã nâng tầm cho chủ thể “anh” từ tính chất “âu lâu” thành danh từ riêng “Âu Lâu” để thể hiện thân phận của “anh” trong khi chờ đợi “em”. Vì thế có thể khẳng định rằng Lê Đạt đã bắt chữ “Âu Lâu” mang thân phận người.

Bóng chữ có lúc được nhìn nhận như tác phẩm hậu hiện đại, có lúc lại được đặt ở ranh giới giữa hiện đại và hậu hiện đại. Nhưng qua phân tích, chúng tôi nhận thấy, các tính chất được miêu tả dao động lẫn nhau. “Em” vừa thực, vừa ảo, vừa có mặt, vừa vắng mặt trong tâm trí “anh”. Sự dao động này biến “anh” từ tính chất thành phẩm chất lớn hơn rất nhiều về mặt nghĩa. Và cái phẩm chất của bóng ấy lại không tác động trực tiếp vào “em” theo một cách tích cực hoặc tác động ngược trở lại “anh” theo một cách tiêu cực mà chỉ tác động vào cái kết nối giữa “anh” và “em”. Chính từ điểm này kết hợp với sự dao động trong tâm trí “anh”, chúng tôi kết luận Bóng chữ là một tác phẩm siêu hiện đại. Mặc dù lý thuyết Siêu hiện đại được tuyên ngôn vào năm 2011, sau khi Bóng chữ ra đời 17 năm nhưng sẽ rất vô lý nếu không xếp Bóng chữ vào hệ thẩm mỹ siêu hiện đại.

Dễ dàng nhận thấy Bóng chữ kế thừa tư tưởng của người xưa: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng / Xếp tàn y lại để dành hơi” về cái vắng người và dựa trên nền tảng ngôn ngữ có bóng tự thân. Bóng người và Bóng chữ hòa quện vào nhau, giằng níu lẫn nhau tạo hình con người có tính chất và thân phận trong không gian tâm tưởng. Lê Đạt đã để lại cho văn chương Việt kiệt tác Bóng chữ mang thân phận người.

*

*     *

Nhà thơ Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10/9/1929 tại Yên Bái, mất ngày 21/4/2008 tại Hà Nội. Ông được Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007 cho các tập thơ Bóng chữ, Ngỏ lời và tập truyện ngắn Hèn đại nhân. Ông từng bị quy là phần tử thuộc nhóm Nhân văn - Giai phẩm, bị dừng xuất bản liên tục trong 30 năm. Bài thơ Bóng chữ được in trong tập thơ Bóng chữ xuất bản năm 1994.

TP. HCM 8/2026

[*] Lê Đạt sinh tại Âu Lâu, một xã thuộc huyện Trấn Yên, Yên Bái. Nay xã Âu Lâu sáp nhập với một số địa phương khác, lấy tên là phường Âu Lâu, thuộc tỉnh Lào Cai (mới). (Chú thích của Văn Việt).

Nhân dịp Bùi Văn Nam Sơn bước vào tuổi 80

 Nguyễn Trung Lương

Có một phát biểu của Bùi Văn Nam Sơn trong một cuộc đàm thoại trên mạng Youtube làm tôi phải lưu ý: ông hiểu triết học như một động từ. Nghe qua tưởng là một cách chơi chữ nhẹ nhàng nhằm mua vui người nghe, như thường lệ trong văn hóa giải trí ngày nay. Nhưng càng ngẫm càng thấy đó là cả một lập trường, một lập trường triết học mà tôi muốn chia sẻ, đặc biệt trong bối cảnh tiếp cận triết học tại Việt Nam hôm nay.

Mì gói: Triết học ngẫu hứng

 Ngu Yên

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu "mì ramen concept Japan fusion" gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.

Một ngôn ngữ nhỏ có thể chứa một thế giới lớn đến đâu? – Biểu đạt văn học dưới góc nhìn APEC

 Nguyễn Khắc Ngân Vi

 

“Chiều ngày 1 tháng 9, phiên thứ hai của Diễn đàn về Phát triển Văn học Chất lượng cao tại Khu vực Vịnh Lớn Quảng Đông - Hồng Kông - Ma Cao đã diễn ra tại Bảo tàng Văn học Quảng Đông. Các nhà văn, chuyên gia và học giả danh tiếng trong và ngoài nước đã cùng hội tụ để thảo luận về chủ đề "Biểu đạt văn học từ góc nhìn APEC", qua đó xem xét cách thức chuyển đổi từ "tự sự mang tính khu vực" sang "đối thoại quốc tế" trong bối cảnh giao lưu văn hóa mới. Họ đã cùng nhau giải quyết các vấn đề văn học then chốt liên quan đến "sự học hỏi lẫn nhau giữa các nền văn minh" và "tạo dựng sự cộng hưởng", đồng thời đưa ra những góc nhìn mới mẻ nhằm mở rộng con đường lan tỏa văn học ra quốc tế cũng như thúc đẩy giao lưu văn hóa và học hỏi lẫn nhau giữa Khu vực Vịnh Lớn và các nền kinh tế thành viên APEC.” (Trích bài báo)

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026

Thơ Hồ Minh Tâm: Trật tự của cái bất ngờ

Đinh Thanh Huyền

 

Là người thích viết phê bình, tôi coi mỗi tác phẩm là một thử thách đọc, và sau đó là thử thách viết như một niềm vui không áp lực. Mỗi lần như vậy, tôi học được thêm nhiều điều. Bởi mỗi tác phẩm là một hệ thống động, luôn có xu hướng vượt qua ranh giới thể loại mà chính nó tạo ra nên việc đọc/viết giúp tôi tự phá/tự xây kinh nghiệm đọc của mình. Điều này cho phép tôi chống lại quán tính đáng xấu hổ của định kiến thẩm mĩ, bình tĩnh trước mọi tác phẩm gặp được, đồng thời mạnh dạn từ chối ngay những tác phẩm không khiến tôi “yêu từ cái nhìn đầu tiên”.

Một cột mốc đáng kể của phim cổ trang Việt và đôi điều tiếc nuối

 (Xem phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh)

Đạo diễn Mai An Nguyễn Anh Tuấn

Sau hơn hai giờ đồng hồ chăm chú dõi theo từng chi tiết tâm lý, từng hành động võ thuật, từng góc máy, từng bối cảnh rộng và hẹp… của bộ phim “bom tấn” Việt này (bản cắt dựng lại), T cận tôi phải tự thốt lên: Nếu không có Nhà sản xuất BHD, sẽ không thể có nổi bộ phim Hộ linh tráng sĩ: bí ẩn mộ vua Đinh, và điện ảnh Việt đến hôm nay có thể tự hào mà nói rằng: Đây chính là một cột mốc đáng kể nhất của hành trình mơ ước & làm phim Lịch sử - Dã sử của nhiều thế hệ Điện ảnh Việt Nam suốt một thế kỷ qua!

Đất nước tràng hạt (kỳ 2)

                                                                                                                                   Trường ca du ký

Đỗ Quyên

 

Chương 1

Hình Chữ S dải đất nhiều biểu tượng

 

1.1

Hình Chữ S địa dư vận mệnh

 

… Một Hình Chữ S vấn vương

trên thân mình nhiều biểu tượng

khớp vừa địa dư vận mệnh

Việt Nam Tổ quốc Quê Hương…[1]

Để kỷ niệm 100 năm sinh Bùi Giáng (1926 – 2026) & 205 năm sinh Baudelaire (1821 2026) (Phần 3)

 Bùi Vĩnh Phúc

Bùi Giáng dịch bằng âm thanh trước khi dịch bằng ý

Đây là điểm rất ít người nhận ra. Chẳng hạn, lấy thử câu đầu: “Thuở vạn vật bừng bừng cơn nhiệt khí”. Từ góc độ âm vị học lịch sử và ngữ âm học cấu âm, các phụ âm "v" , "b", "c" "t", "kh", trong cảm nhận của tôi, làm cho toàn câu thơ nóng lên. Nó "phừng". Nó nóng. Không chỉ về mặt ý nghĩa. Mà âm thanh cũng nóng. Câu thơ không chỉ tạo nên nhịp điệu mà thực sự tạo ra một áp lực vật lý mang tính biểu cảm, tái hiện trọn vẹn sức nóng ngột ngạt của “cơn nhiệt khí”.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Màu của cái chết trong trường ca Gió @ của Đoàn Huy Giao

 Nguyễn Hồng Anh

“Chim không biết bay là do dị tật của bầu trời

chứ đâu phải lỗi của ngôn từ”

 (Gió @ Đoàn Huy Giao)

Nhà thơ Đoàn Huy Giao (2025)

 

Tôi đọc thơ Đoàn Huy Giao khi còn chưa biết nhiều về ông; ngay cả Tam giác nghịch – trường ca nổi tiếng của ông đã công bố từ nhiều năm trước – tôi cũng chưa từng đọc. Vì thế, cuộc gặp của tôi với thơ ông không bắt đầu từ tiểu sử tác giả, mà bằng sự tò mò trước tựa đề của các tập trường ca phá cách cả về hình ảnh lẫn kết hợp từ: Bài thơ không của hoàng hôn, Có được ngọn núi kia là đủ, rồi Gió @. Riêng Gió @ còn lôi cuốn tôi vì lời đề từ:

Để kỷ niệm 100 năm sinh Bùi Giáng (1926 – 2026) & 205 năm sinh Baudelaire (1821 2026) (Phần 2)

 Bùi Vĩnh Phúc

A. Sự bất bình thường về ngữ nghĩa

Ở cấp độ bề mặt, bài thơ liên tục tạo ra các xung đột cú pháp và ngữ nghĩa khiến người đọc khựng lại. Trước hết, đó là sự xung đột về quy mô (Scale/Proportion): Chủ thể trữ tình vừa đóng vai một "con mèo si tình/dâm dật" (chat voluptueux) nhỏ bé dưới chân nữ hoàng, vừa là một kẻ "bò trên sườn gối" (ramper sur le versant de ses genoux), vừa như một "ngôi làng bình yên" (paisible village). Tiếp đó là sự xung đột thể loại/mã: Sự hòa trộn bất khả thi giữa Mã Thể xác/Tình dục (seins/bầu ngực, corps/thân thể, genoux/đầu gối, chat voluptueux/con mèo dâm dật) và Mã Phong cảnh/Địa hình (versant/sườn dốc, campagne/cánh đồng, montagne/ngọn núi, ombres/bóng râm).