Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

Sóng ngầm của Linda Lê – cơn sóng không từ đại dương

Đoàn Huyền

Suốt tác phẩm, lá thư của người em cùng cha hằn lên như vết dấu khai màn, như nguyên nhân đã định cho mọi sự biến. Nhưng lá thư ấy sẽ chẳng gây nổi một chấn động dạng nhẹ nào nếu những kẻ trong cuộc không mắc kẹt trong quá khứ, không phải quá khứ trùng khít với thứ lịch sử viết hoa, mà là quá khứ của một lịch sử cá nhân với những chi tiết rời rã không thể vuốt phẳng: hoàn cảnh ra đời và sinh trưởng trong sự vắng mặt của kẻ sinh thành như chỉ dấu của chối bỏ. Hơn hết, nếu nó không rơi vào tâm điểm của sự lạc lõng của một khước từ neo đậu. Chính nó, thiên hướng tha hương như một trạng thái sống, như một tâm thế tồn tại, chính nó, bản năng của kẻ luôn khiến mình nghịch thời, lạc lối, và chính nó, sự thiếu quyết đoán, không dứt khoát như thói tật của tính cách cá nhân hay như định mệnh tất định của những lưỡng nan bất khả giải mới là cơn sóng ngầm, cơn địa chấn húc đổ mọi trạng thái yên ổn bề ngoài. Những điều đó vứt bỏ mọi vẻ đột ngột, bất ngờ của một tai họa, để hiện thân thành sự tất yếu của một sự thể dĩ nhiên phải thế. Nói cách khác bi kịch trong tác phẩm là tàn cục của diễn trường nơi những phẩm chất bản chất nhất, sâu thẳm nhất xồ ra, tự tung tự tác, nơi những thiên hướng, tâm thế, bản năng tìm được cái cớ để thôi ẩn thân trong lòng bóng tối, nhảy vào cuộc và bẻ lái con tàu định mệnh theo ngã rẽ không thể đoán định. Điều đáng kể, do đó, không phải là hậu quả của cơn sóng ngầm ấy mà là chân dung của nhân vật khi bản thể lộ hiện, hắt ánh sáng lên con người và xoay chuyển cuộc đời họ. Bởi sự thể đó sẽ là sự lên tiếng của vô vàn góc cạnh đa sắc, đa thù, từ chối hòa âm, biến hình trong một đồng ca thuận hòa, vô sắc, vô thanh.

1.1. Lá thư, di chứng mắc kẹt hay nỗ lực tháo gỡ của một tồn tại bất định

Lá thư Ulma, nguyên nhân lộ thiên của biến động dữ dội trong cuộc đời các nhân vật: cái chết của Văn, nguy cơ tù tội của Lou, sự tan vỡ của một gia đình, một cố kết tưởng “vĩnh hằng”, là kết quả hai mươi năm cân nhắc, do dự, “nâng lên đặt xuống”. Nó là hiện thân cuộc xoay chiều lặng lẽ, khó nhọc, nhưng bền bỉ bắt qua nhiều giai đoạn cuộc đời cô để hướng đến một tiếng nói khác tiếng nói của mẹ cô, mà trong ấy cô chỉ là một chào đời không được “ao ước”, một tồn tại phiền phức “cách rách”, một hỗn độn của những đặc tính chỉ khiến người ta “oải”: “ái kỷ, rối rắm, song lại thụ động”. Ở góc độ khác nó tiếp tục hành trình truy vấn dai dẳng tìm lời đáp về “những thiếu sót” của người cha “lỗi lạc” nhưng chỉ hiện diện trong đời cô như một “bóng ma”, nhằm “soi tỏ mọi đàng để thôi ngụ lại trong mối hồ nghi sinh lòng oán hận độc hại”. Ở người anh cùng cha, cô tìm thấy một địa chỉ khác, ngoài vùng ảnh hưởng của những người sinh thành, những người chỉ cho cô duy nhất một điều: sự phủ nhận. Cô có thể “không đi tìm” ở Văn “một cái tai trắc ẩn để trút lòng”, nhưng không thể không bị lôi kéo bởi những tương đồng ở người có chung phần huyết thống, và cũng là kẻ, bị bỏ rơi. Thậm chí, có lẽ, những tương đồng thuộc về nhân sinh ấy, mà ở đấy có thể tồn tại cho cô một soi chiếu nào đó, đã khích động, trong cô, suy tư về khả năng giải phóng tinh thần khỏi sự biệt giam của những thuật ngữ của khoa thần kinh bệnh học, thứ, vừa tỉa cụt mọi vây cánh, vừa làm cạn cợt ý nghĩa, vừa “thu nhỏ tầm vóc” cơn chao đảo tinh thần thành triệu chứng của trạng thái rối loạn thần kinh cần chữa trị.

Sợi chỉ mỏng manh ấy đã móc vào góc khuất sâu kín nơi diễn ra cuộc tự vật lộn để thoát khỏi những “ràng buộc nhi tính”, thoát khỏi những nâng đỡ, che chở, bóp nghẹt của những mối “ràng rịt” nơi kẻ “không bứt được tâm trí khỏi hoàn cảnh mình ra đời” và chống đỡ cho tồn tại mình trong sự lệ thuộc vào chuyên môn an thần nhà nghề như một liệu pháp điều trị con bệnh, vào thủ thuật trấn an những bất ổn nội tại như một cách ứng phó với những hỗn loạn của trạng thái thần kinh bệnh tật. Bức thư Ulma viết cho người anh cùng cha là hành động đầu tiên của động thái tước bỏ độc quyền người thầy thuốc tâm lý cô phụ thuộc bao nhiêu năm để giữ minh bấp bênh chao đảo nơi lằn ranh mong manh giữa tỉnh táo và điên loạn. Nó hiện thực hóa xác quyết “mặc những rối loạn tâm thần của mình, tôi không chấp nhận liệu pháp an thần. Tôi tin tác dụng điều trị từ những lời mình thú nhận”, một hiện thực hóa vượt ra ngoài giới hạn không gian riêng tây của lời cá nhân tự thú, phá vỡ sự bức bách nơi không gian khám bệnh giữa bốn bức tường phòng làm việc ông bác sĩ tâm lý của lời bệnh nhân kể lể.

Với bức thư của mình, Ulma đã trao lời “thú nhận”, niêm phong trong bóng tối tâm hồn cô, vào tay người anh trai, về hiện diện của mình trong đời: thân phận “con hoang” “chui nhủi”, kết quả một “cuộc tằng tịu”, một “vụ dan díu”, tức, một tồn tại cần bưng bít, cấm tỏ bày, và, vô hình chung, về cái bóng tối lẩn lút cầm tù cô: trạng thái thần kinh tật bệnh . Suy cho cùng, là lời thú về sự thật “ám sợ” trong cô: sự ra đời và tồn tại của chính mình. Trao đi bức thư “tiết lộ bí mật” của mình, với cô, là lay động cách thức sống “khép mình, co rụt lại trước mọi cọ xát thân tình”, là rung chuyển chính trạng thái “mắc cạn cứng ngắc” nơi hoàn cảnh ra đời, nơi nội tâm “co rụt lại trước mọi cởi mở”, nơi “những mê hồn trận” mình “tự chui vào”. Hành động đem mình ra phơi dưới ánh sáng mặt trời, dẫu trong cung cách đầy rụt rè, ngần ngại, của kẻ luôn trốn trong bóng tối, vừa là một hành động quả cảm của kẻ “cùng đường”, “hết chống chọi nổi nỗi bất lực khi không thể gạch một nét xóa sạch mọi thứ dính dáng đến hoàn cảnh ra đời của bản thân”, vừa là một khẳng định thảng hoặc nhưng có âm sắc của một tồn tại dù vẫn đầy rẫy hồ nghi song không chịu sụp đổ trong mông muội của hỗn mang và tự hủy. Hành động đó là nỗ lực vượt qua cái cụp mắt trốn chạy của nỗi sợ hãi bị nhìn thấy để trở thành chỉ dấu của mong muốn được nhìn thấy, tức biểu hiện của khát khao soi tỏ và giãi bày, là sự bù đắp nỗi hối tiếc khi đã vin toàn bộ nỗi bấp bênh của mình vào một neo đậu rút cạn ý nghĩa cơn khủng hoảng của tồn tại, hơn hết, nó là động thái khước từ xem mình như một con bệnh dưới “cái nhìn dò xét” của kẻ trị bệnh mà là một khẳng định đầy ý thức về bản ngã, bất chấp bị “quăng quật” bởi bão tố nội tâm đến “xém mất lý trí”, như “một nhân vật đa diện”, như một nhân cách đa chiều, như một bất toàn, phi lý trong những góc cạnh, trong sự toàn vẹn, trong tầm vóc thẳm sâu của nhân tính.

1.2. Cuộc hội ngộ của hai bản sao

Những điều xảy đến trong mối quan hệ của Văn và Ulma, sau lá thư, khiến biên độ rung chấn của con sóng ngầm vượt ngoài khả năng đo lường. Bởi, trong một “chấn động tột cùng” những người trong cuộc nhận ra mình không chỉ còn ở trong cuộc tìm gặp của những người anh em cùng dòng máu mà như thể bị kéo đến trước mặt nhau trong tiếng gọi bầy của những bản sao thất lạc: “cùng ở vị thế lập lờ, cả hai chúng tôi đều như những kẻ mất hồn mà không ý thức được cho đến cái ngày tháng Tám ấy, khi chúng tôi xả lũ những điều thầm kín”. Cuộc gặp gỡ của họ là cuộc đoàn tụ của hai nỗi cô đơn mà lần chạm mặt đầu tiên đã là ngọn sáng thấu rọi trong nhau một bừng tỉnh về chính mình và một gắn bó của thuộc về. Dưới ánh sáng ấy mỗi kẻ không còn là một tồn tại che giấu mà bừng hiện trong mắt kẻ kia, và trở thành một quang đãng minh bạch trong chính mình.

Ulma, như niềm tin của chính cô về tâm hồn mình, dĩ nhiên không là một hiện tồn quy giản được, mà, một tồn tại bất khả đoán theo logic rành mạch thông thường. Cô, có vẻ, một sinh thể chịu dắt mũi bởi những quyền lực ngoài mình: Ông bố người Việt, vùng đất cô “chẳng biết mô tê gì”, kẻ thuộc về sự nghiệp lớn, chỉ để lại trong đời cô một khoảng trống dứt khoát không bù lấp: không lưu lại chân dung, không đảm trách vai trò, không điểm danh có mặt, bà mẹ “ít có mặt hồi em còn nhỏ”, thiếu tận tâm, “dè bỉu, lấn lướt con gái”, “ác mỏ và phá hỏng những gì tốt đẹp nhất của em”, ông bác sĩ tâm lý, bám víu duy nhất khả dĩ bên ngoài song sắt nhà thương điên. Ba thế lực ấy quần đảo, tung bụi mù, che mây đen trong tâm hồn cô, làm tắt ngấm mọi cơ hội le lói của ánh sáng khai minh, của không gian an trí: “tôi… vẫn đọc cuộc đời các thánh, mà chẳng đạt được mấy tĩnh tâm”. Người cha mà với cô chỉ là một dấu gạch chéo không thể tẩy bỏ vắt kiệt tâm sức, bào mòn trí lực cô trong những day dứt về nỗi “băn khoăn huyết thống”. Sự an thần của khoa tâm lý học trị liệu chỉ đẻ ra trong cô nỗi bất an trơ trọi và một nuối tiếc khôn nguôi: “phải chi tôi bớt thụ cảm mỗi lần sợ thắt ruột gan vì sắp phải đối mặt ông,… phải chi tôi đừng làm cho mọi thứ lệ thuộc hết cả vào ông”. Đáng kể, bà mẹ, dẫu chỉ là một hiện diện “chiếu lệ”, thờ ơ, chớp nhoáng vẫn in nhòe trong cô như một dấu ấn bành trướng. Tiếng nói mẹ cô phủ kín lên cuộc đời, chồng lấp và bóp nghẹt tiếng nói cô. Trong toàn bộ lời kể của Ulma, ngoài Văn là câu chuyện của riêng cô, tất cả là trút lại, nhả ra lời nói của mẹ cô, nơi chỉ bà là trung tâm. Là bởi, dưới cái nhìn thấu thị của Văn, “như thể một phần trong em cứ muốn là đứa trẻ được lòng mẹ ôm ấp, như thể bà mẹ ấy… toàn quyền tự tung tự tác với em”. Cô, “đứa trẻ nội thức hóa mọi thứ” đã hấp thụ tiếng nói mang nọc độc của nhạo báng, hằn học, tị hiềm, biến nó thành một quyền lực ác ma trong nội tâm: “em bị ám vì một con quỷ cứ biến em thành trò hề, kêu inh ỏi là em vô giá trị. Quý sứ nhiều lúc còn lấy giọng mẹ em, thế là em càng thêm kinh hoảng, như hồi em năm tuổi và sợ tối.” Tất cả uốn cô thành một thực thể chao đảo, “chưa chín”, ở tuổi nào cũng vẫn “là cô bé mới lớn thiếu tự tin”, “sợ bị bỏ rơi, sợ bị xua đuổi”, “sợ làm sai, sợ là kẻ không mời”. Nhưng những thế lực ấy dồn lại cũng không thể xóa bỏ trong cô một thanh chắn, một nút chặn thanh mảnh nhưng ương ngạnh không khuất phục, không quy hàng. Xoay ra nơi cô, ở góc độ khác, sự bất trị của một thiếu vững vàng, của một mong manh mơ hồ: sợ hãi đủ điều “song chẳng có động thái gì đặng làm mình dễ mến”, mặc những ngăn cản của kẻ khác và chính mình hai mươi năm không từ bỏ khát khao viết thư cho người anh trai, rối loạn đến có xung động tự sát nhưng không chịu trói trong liệu pháp của tâm lý học và y học hiện đại mà thu trách nhiệm vào tay mình: “tôi tháo kíp bom nổ chậm, chẳng chợn những mánh đất gài mìn, dẹp sạch rào cản trên đường đi, từng bước một tiến về đích: hết ngộ nhận bản thân, song không dầm mình trong tự mãn hay tự hành xác”.

Âm thầm, bền bỉ cô tạo tác nên diện mạo mình mà “sự mất cân bằng tâm thần” không khiến “vẹo vọ” trong những “cơn hoang tưởng”, nỗi thống khổ nội tâm không thể cấu cào những vết xước, vấy bẩn những ô uế: “nhìn em, không ai bảo em từng trải qua những thời điểm trầm cảm”. Ulma, mang tư thế của kẻ không theo đuôi ai, không nương nhờ cột trụ nào để đứng thẳng. “Cái riêng triệt để” nơi cô toát ra “uy lực mê hoặc”. Biết suy xét “lành mạnh”, “hài hòa”, “tinh tế” nhưng “bồng bềnh”, “mơ hồ”, “bí ẩn” và “xinh như tạc”, Ulma, mang “vẻ yêu kiều thơ trẻ”, đối với Văn, hiện thân của một dẫn dụ mê hoặc nhưng không thể đoán định, vồ chụp, giam hãm: “... tuồng như đầu óc đang để tận đâu đâu và em sẽ xù tôi, để mặc tôi trong mớ bòng bong.” Thời khắc gặp gỡ tháng tám ấy cô, Ulma, trong mắt Văn, không những đã được nhìn thấy, mà, hơn thế, còn là tia sét đột ngột làm rực cháy và khuấy đảo tâm can để từ đó cuộc đời anh rẽ sóng.

Văn, khác với Ulma, dường như, trên bề mặt, đã thu xếp đời mình gọn ghẽ, dù không hẳn đường anh đi lúc nào cũng ngon trớn, thẳng băng: ông bố chuồn lủi không làm sự trưởng thành của anh thành què quặt, sự ra đi đột ngột của người mẹ anh hết mực tôn thờ dù làm “đảo lộn tâm can” không kéo giật số phận anh sang một trang bi thảm, những bất ưng trong cuộc đời lưu vong, những chuôi xụi của tinh thần theo năm tháng, những thất ý trong hôn nhân không xô lệch bức tranh đời vuông vắn, không làm chệch choạch sự cân bằng của thứ lý tưởng “không phàm không huyễn” anh dựng xây. Trước lá thư của Ulma, với anh, đời mình có vẻ đã “yên vị” trong nếp nhà không bão tố, tâm hồn mình dường như, qua tháng năm, vẫn không hề suy suyển trong một nhất quán chừng mực “chẳng bất mãn quá đà hay ngây ngất tràn cung mây, chẳng có những xung đột nội tâm cần hòa giải.” Anh đã không hay biết “vẻ lãnh đạm trường kỳ” không bọc nổi hình dung “rã rời”, “căng thẳng”, “quàu quạu” của “gã tứ tuần” chán chính mình và chán mọi thứ: “Anh ta có vẻ tàn tạ, làm việc chậm như rùa… không còn đọc nhiều nữa, mất ngủ đến mức phải nốc đẫy thuốc ngủ”. Anh đã không nhìn thấy ở mình những xô xát nội tâm, những khập khiễng lạc điệu với ngoại giới, thứ đã tự thông cáo: “... tự làm mất mặt trong những buổi tiệc cocktail của nhà xuất bản, vu cáo các tác giả, cáu mình vì mình lỗ mãng với anh ta, cáu Laure vì điểm số chỉ nhỉnh hơn trung bình…, cáu tất cả mọi người vì anh ta không hài lòng về bản thân.” Anh “đã không thấy được phải phục sức tháng ngày của mình ra sao”, “bước đi vô thức và để mặc những phản xạ có điều kiện dẫn đường.” Nhưng, khi một sụp đổ chưa đóng dấu kiểm định trên một lụi tàn, khi chuông báo tử chưa gióng trên xác một thoi thóp, nghĩa là lực phản động, phục sẵn, trong tan rữa, còn chưa mất hết cơ hội để vãn hồi, trở mặt.

Ánh sáng Ulma đã soi đường cho kẻ đào tẩu, trốn kỹ trong hang ổ của một an phận biết điều và ủ rũ, vẫn ngóng trông “một tình huống ngoài kịch bản để không còn đơn giản là cái gã tứ tuần chán ngấy mọi thứ này”, thoát thân khỏi tình thế “giam lỏng” của sự vuông tròn ngục tù. Hay, đúng hơn, khao khát đang chết nằm nơi sâu kín nhất con người Văn đã mau chóng bắt lấy cơ may mà ánh sáng Ulma ban cho, để trải ra một cuộc tự lộ hiện, để mở ra một sự tự nhìn thấy. Trong ánh chớp và tia sét mang tên Ulma, Văn đã không còn có thể giấu mình trong vỏ bọc “đôi khi bị ám quá mức”. Dưới luồng sáng rạng rỡ như một “ngày hè rực sáng”, anh buộc phải nhìn thấy chân dung kẻ đang trượt dần vào “một kiểu ngủ lịm”, hình dáng trì độn của gã đàn ông xấp xỉ ngũ tuần “bị thói quen gây mê, không sao tự nạo vét mình được”, diện mạo tật nguyền của trạng thái mê man trong “cơn mộng đã thiến cụt đời mình”. Anh buộc phải thấy chính mình đã “mạt hạng nhường nào” nơi mối lo âu thực dụng trở thành một yếm thế phòng thủ, nơi cuộc chung sống lứa đôi biến dạng thành một “nhàm tục” trơ trẽn trong “hiệp ước chung phần[1]” của thứ chung thủy buông tuồng, sa đọa: “mình kệ những bông lơn của anh ta, anh ta dung chuyện nhăng nhố của mình”, nơi khát khao không thỏa về một yêu dấu tuyệt đối, vĩnh hằng mà mãi thanh tân, ẩn nơi đáy sâu mỗi tồn tại người, bị niêm phong bốn phương tám hướng, phải biến tướng thành “trò giải khuây” chụp giật, phải tạm thỏa mãn trong những “khoái cảm” đình chiến lâm thời, phải tự hòa hoãn trong một thứ thiếu đứng đắn không phạm quy của những “chớt nhả” qua đường, những cuộc săn đuổi không cầu chung cục, những “đọ sức mồi chài” không bao giờ vượt sóng phá rào bởi được cầm cương bởi một ham muốn mực thước.

Trạng thái phơi bày đó đánh dấu bước chân măng tơ đầu tiên của một tình yêu, bởi như một tình nhân khác đã thú nhận trong lời tỏ tình của mình: “có lẽ cũng không thực là tình yêu, nếu tôi nói, với tôi, em là quý giá nhất; là tình yêu, khi em là lưỡi dao, để tôi đào xới trong tôi[2]”. Theo lẽ đó, khi kẻ nào bắt gặp mình “xẻ giáp lộ diện”, khi kẻ nào thấy mình đứng trước người làm “phơi lộ phần tối nhất nơi mình” kẻ ấy đang bước tới hay bị kéo về, một cách không cưỡng lại được, tình yêu của định mệnh. Ở đó, tình yêu tuyệt đối của hai đứa trẻ, hai linh hồn song sinh, hai bản sao trùng khít.

1.3. Tình yêu tuyệt đối của số kiếp lưu đày

Văn và Ulma, trước lá thư, trước cuộc gặp gỡ, trước nhịp chân sóng bước song đôi, mỗi người mỗi kiểu, là một khiếm khuyết bẩm sinh, một khuyết tật trọn đời, một hụt hẫng thường trực: kẻ run rẩy, người băng đá, kẻ sợi tơ chực đứt, người cành khô rêu mốc, kẻ lẩn lút, người khóa trái, đều rơi vào và ngụ lại đơn độc trong vực thẳm của riêng mình, tự ôm mang mình như thể “định mệnh nan y[3]” không chia sẻ, không cứu chuộc. Nhưng, chính ở những khuyết thiếu ấy, họ nắm giữ nhau, biến những bất toàn trở thành một trọn vẹn trong nhau bằng ngay sự khập khiễng của chúng: “tôi không tìm ở Văn bản sao hoàn bích, nhưng chúng tôi giống nhau ở những khuyết thiếu, nhược điểm của mình”, “em đã không yêu tôi nhường ấy nếu sự hợp thể của chúng tôi không thập toàn. Chúng tôi như hai mảnh vỡ cùng bình khớp lại vừa khít với nhau.”

Với nhau, họ đã tìm thấy giữa vực thẳm, “một ốc đảo ánh sáng[4]”, trên ấy, “hai con người ngoài cuộc sống kia làm cho nhau lóa mắt[5]”, “hai cảnh góa bụa kết duyên với nhau[6]”, hai lạc lõng, chơi vơi “chắp nối vào nhau trong niềm mãn nguyện[7].” Bởi bên nhau, họ đã thôi là những thiếu sót lẻ loi, mà, một đầy đủ, hoàn mãn, hơn thế, mê man trong những nếm biết nhiệm màu: mỗi ngóng đợi, một thiêng liêng thấp thỏm, mỗi sát gần, một hoan lạc khôi nguyên, mỗi khắc chuyện trò, một không gian linh thánh giáo đường: “trước kia, tôi thích những buổi chiều tà. Ấy là lúc tôi rình chờ Văn đến… Đôi lần, tôi tắt đèn và thắp nến để căn hộ chìm trong ánh mờ tỏ thật đẹp… Tôi căng ra, không để tâm được vào đâu nữa, tôi dỏng tai, mong nghe tiếng chân anh… Tôi không nói mấy, mà nghe anh đầy sùng kính, kể cả lúc anh chẳng nói gì đáng kể… Thường khi chúng tôi tản bộ những chặng dài… Chúng tôi đưa bước gần như không trao đổi một lời, hạnh phúc, hơn cả hạnh phúc, được bên nhau. Chúng tôi tâm đầu ý hợp, anh đón các ước muốn của tôi, tôi đoán các ước muốn của anh… chỉ còn sống để mà ngóng hẹn.”

Với người kia, cùng nhau, họ, có chung niềm thỏa mãn mà muôn hình vạn trạng các kiểu luyến ái khác không có. Thứ thỏa mãn phả ra mùi hương nguyên thủy hoang liêu của vực thẳm, lộ ra tình thế vô phương đối phó trong một trơn trượt không bám víu của định mệnh, dựng lên cả một vùng say đắm mộng mị. Văn biết mình đang nếm trải nỗi thống khoái mà chỉ tình yêu tuyệt đối có thể dâng hiến. Bởi, cái “trong vắt, xanh tươi, sâu thẳm tựa tiết trinh[8]” của tình yêu thượng giới mơn man trong nỗi nồng nàn, khoái lạc của nhục cảm trần thế, đôi cánh trắng thiên thần đậu trên tấm thân trần Eva, tất cả, tụ lại trên con người Ulma, nơi, cái trinh trắng thơ trẻ của một “thanh tân vĩnh hằng” uốn mình trong vẻ “tố nga” đầy sắc dục “bừng sốt” “mọi giác quan”. Trong cơn đắm say như “một kẻ chưa bị đuổi khỏi thiên đường xanh tươi của những mối tình thơ dại”, nơi Văn, những “đam mê đâm thịt rình chờ mẻ lớn… những muốn ghi tên cả mười một nghìn trinh nữ lên bảng chiến tích” lặn mất tăm, những mặt nạ vỡ vĩnh của “soái ca lạnh lùng” rụng rơi, trò vỡn vẽ Don Juan không tìm được bệ đỡ nào đủ để biến thành diễn đài. Anh ở trong tình thế không còn nhận ra mình nữa: đánh rơi mọi lớp giáp phòng vệ, trượt khỏi vị thế kẻ luôn làm chủ cuộc chơi, bước lộn xộn trên tấm bản đồ trải sẵn, mà đã từng như một thái độ tự đắc của kẻ tự biết những màu mỡ xa lạ kia không bao giờ đủ khả năng làm mình sao nhãng thời điểm rút chân sạch bong, không vết dấu.

Tình yêu của thiên đường thơ dại nơi “những điều ta yêu quả đáng là cho ta yêu thật[9]” có viễn cảnh của một xanh tươi vĩnh cửu từ phút hé nụ đến mãi mãi vô biên bởi nó là một cầm tù nơi tự do đạt đến tuyệt đích, bởi trong nó người ta đã thấy sẵn một vô cùng trong lòng tay mà không phải “đòi các nhà lãng mạn san sẻ lòng khao khát cái vô tận” như cái ước muốn ngông ngạo trước đó của Văn. Tình yêu ấy không có cảnh xế bóng bởi mỗi lời trao nhau đinh ninh hơn những vết chạm vào đá vì nó được khắc bằng vết máu của số mệnh và linh hồn. Đấy là số mệnh và linh hồn của hai kẻ thuộc về nhau trong một vũ trụ mà “thiên hạ vắng bóng[10]”, bởi, hai số kiếp tha hương đó, ở trong nhau, linh cảm không hề mơ hồ, về nhà, cho dù, họ, như nhau, “không còn cảm thấy như ở nhà ở bất cứ đâu nữa[11].”

Nhà của họ là sự cùng chung: không phải (/chỉ) chung tình cảnh ngoài cuộc – sự bơ vơ vô thừa nhận như kết quả cuộc chung đụng của nhiều nguồn gốc ở Ulma, cuộc lưu vong đứt rễ lìa cành như hậu quả của biến động xã hội, lịch sử chốn quê cũ·ở Văn, mà là chung ý hướng tha hương trong mọi không gian sống, chung thái độ ngược chiều nghịch lối ở mọi tâm cảnh, chung tinh thần không can dự trong bất kỳ một môi trường đòi gắn bó, đồng nhất nào. Nghĩa là chung một ngang ngược cưỡng chống “các ảnh hưởng”, “mọi thấm nhiễm”, chung một kiên ngạnh từ chối khuất phục những chân lý sạch sẽ hợp thức, thứ “đạo đức chuẩn mực” xơ cứng, nền chuyên chế sô vanh tẻ nhạt của cái bình thường, những cấm đoán của các khuôn thức văn hóa, xã hội, những man trá bọc đường của cường quyền. Những điều đó, chung quy, để trung thành với trạng thái bản nguyên đa diện, đa thù, đa sắc của bản thể người, một bản thể “không thể xác định được”, không thể bị co rút lại thành thứ định nghĩa định danh, kiểu, “gã da vàng Paris hóa” hay đứa con gái lai Pháp, pha tạp vài dòng máu, như kết quả những dồn ép của một dây chuyền cứng nhắc và tù túng chỉ đúc ra được những dập khuôn chết cứng, không tiền đồ. Dù tâm trí có chao đảo, hay dù “bị choáng ngợp bởi chán chường”, họ, không bao giờ chịu là những cá thể tự quy giản, mà vốn đã chất sẵn trong mình một “tập hợp các thành phần bất hòa hợp”, lúc nào cũng là những cá tính mạnh mẽ không chịu đồng hóa, luôn ấp iu trong lòng “một phần nổi trôi” “chẳng hòa âm với cái gì”. Cả Văn và Ulma, những cá thể lưu đày mình trong cảm nghiệm nỗi chênh vênh chực đổ sụp hoặc ngã nhào của những tồn tại “luôn chìa ra chơi vơi”, là những kẻ “vô xứ”, “những kẻ di cư vĩnh viễn” “không day nhấn vào” sự lạc lõng của thân phận mình mà khát khao làm “công dân vũ trụ” coi “lưu vong là bàn đạp lấy đà.”

Chính vì thế họ không (/thể) tìm quê hương ở vùng đất cụ thể nào kể cả Pháp, chốn trú ngụ, không (/thể) phong thánh địa cho xứ sở, ít nhiều ràng buộc – Việt Nam, viên sỏi đã lặn sâu trong vũng lầy ký ức hay hòn đá tảng vẫn trĩu nặng trên vai, mà tìm những người đồng hương, những kẻ “nói cùng ngôn ngữ” trong sách, để nuôi dưỡng cho tồn tại nhiều khi “lệt bệt”, lỏng lẻo – một cách “truyền văn hóa”, như với Ulma, để cố thủ trong tiền đồn tranh đấu – một cách “chống già cỗi”, như ở Văn. Là những kẻ “say đọc”, sách với họ là “dấu chỉ” “cơn khát những chân trời vô hạn”. Và những gì họ thu lượm được từ “các vĩ nhân thuộc ngôi đền văn chương”, từ “những tác giả nghịch thời và điểm trúng những điều mà mỗi người tự giấu chính mình”, từ “những người sáng tạo bên lề, những nhà thơ thiêu cháy đời mình” không những thỏa mãn sự “phàm biết”, mà còn xây đắp, ở họ, thế giới bên trong giàu có, góp công cho sự thu gặt một cái thấy sáng rõ không dễ bị lung lay, lừa gạt bởi kẻ khác hay bởi chính mình, bởi mưu toan thao túng của thế giới bên ngoài đầy mặt nạ hay bởi ý đồ cố thủ của nội tâm không thiếu trá ngụy. Hoa thơm trái ngọt là khả năng xét đoán lành mạnh (như ở Ulma), hay thậm chí, một nhận thức tinh tường đến ngược đời, như ở Văn, kẻ thà trở thành một gã theo chủ nghĩa vô chính phủ ngờ vực tất thảy, thà bị “đồng đội chia lửa” buộc tội “vô địch thiên hạ về thiếu ý thức công dân”, không khi nào chịu bán lòng tin của mình cho bất cứ nhân danh mỹ miều nào được sử dụng như quân bài dưới tay chính trị và quyền lực. Nhưng, hơn hết, những điều học được từ những bậc thầy trong tài nghệ tự tra vấn, gặp gỡ trong sách vở, đã “gia cố” ở họ “cái xu hướng cứ tinh lọc”, cái thú vui “thích thăm dò mình”, cái “thiên hướng tìm kiếm rắc rối”.

 Rốt cục, bức chân dung tinh thần cả hai cùng chia sẻ: những tâm hồn có khuynh hướng dò tìm mình ở phía tiêu cực, không ưa những đường thẳng băng ngập nắng mà lụy trong chốn những ngoằn ngoèo quanh co, không thể cho “sự hợp lý và những điều rút ruột” một bản hợp âm trong sáng, mạch lạc. Họ, những kẻ không phải tín đồ của thứ chân lý không biết cắm rễ vào những suy tưởng ngẫm ngợi về mọi sự trong tính chất hai mặt dối lừa của chúng, những kẻ cho phép cư ngụ trong mình một cộng sinh đa thanh đa giọng, không trao độc quyền cho bất cứ một khẳng quyết nào, những kẻ thà bỏ mình cho một giằng xé của “cương quyết và phân vân” nhất định không nương nhờ sự sắt đá của một chắc chắn không quay đầu, tất yếu, không xông xáo cũng chẳng linh hoạt, ngược lại, nhu nhược một cách cứng đầu, yếu đuối một cách bướng bỉnh, lần chần một cách không khoan nhượng. Kiểu hành xử tự mâu thuẫn ấy chẳng qua là biểu hiện của tình thế ngắc ngứ của một sự thấy về trạng thái không nguyên chất của mọi sự thể, khi những thái cực mai phục, tiềm sinh, ngụ cư trong nhau, khi mọi chung cục không khi nào là sản phẩm của một tác động đơn phương, một bàn tay đơn lẻ mà luôn là mẻ sản phẩm đồng sáng tạo của dự án chung phần, cuộc dự mưu đồng phạm, màn hợp sức tiếp tay, khi mọi cuộc tương tác trong đời là trò tung hứng bật tung ranh giới, đảo lộn vị trí, biến nạn nhân thành đao phủ, biến ước mơ đẹp đẽ thành quyền lực cuồng sát và thảm họa đẫm máu. Họ không như ba mình, người “theo thuyết thiện ác phân ly thâm căn cố đế”, gạt bỏ những giấc mơ con của cuộc đời cá nhân nhỏ bé, xả thân cho chiến thắng tuyệt đối của chính nghĩa và sự sụp đổ hoàn toàn của bạo tàn; không như Lou “tính tình thẳng băng”, “luôn ngả về tinh thần lạc quan” không đắn đo, “dềnh dàng” mà “đi ngay vào việc”, không chùn tay san phẳng những chướng ngại bặm trợn. Họ, trong đời mình, trước những sự thể trọng yếu, đã không thể rạch ròi, quyết tuyệt, không tiến cũng chả lùi, vòng vo, luẩn quẩn: Ulma, qua năm tháng, vẫn là đứa con nít chẳng thể “dựng nổi rào chắn” với bà mẹ nhện độc, Văn, trước em gái và vợ, trước “thiên đường trần gian” của tình yêu tuyệt đối và thành trì gia đình, trước ước muốn bản nguyên và ràng buộc của thỏa ước hôn nhân, “cứ lượn quanh cái bẫy ngầm để khỏi phải dứt khoát.” Thói tật ấy đã gom gió tích bão cho cơn cuồng phong cuộc đời họ, đồng lõa âm thầm với bản sao chưa từng lộ mặt trong kẻ khác để đẩy đến trước mặt những người trong cuộc một tình thế không ai lường trước và không một kẻ nào có khả năng đối phó, kiểm soát, đưa mọi thứ về quỹ đạo ban đầu.

1.4. Cơn sóng ngầm của đất liền

Dù xuất hiện trong cung cách của một đòn phủ đầu, một trận đánh úp, một khúc cua không truy nổi động cơ, cơn sóng ngầm trong tác phẩm không phải đến từ chốn vô danh, không phải một đột hiện thình lình mà có gốc rễ, chính nơi đây chốn này, ngay trong mỗi kẻ can dự. Gốc rễ ấy là cảnh huống nhằng nhịt đa đoan của cách thế sống không đoái hoài gốc rễ, không mưu cầu bến đỗ, của một nội tâm ngả nhiều về phía phân vân hơn là cương quyết, chia đa số phiếu cho hoài nghi thay vì xác quyết, biểu quyết phần thắng cho một nổi trôi phiêu dạt hơn một định cư an ổn. Tâm thế ấy trở thành máy phát tín hiệu mời chào sự lộ hiện những của phiên bản nửa hư nửa thực chập chờn mong manh giữa tăm tối vô định, đã luồn vào thế lực tay trong mở cửa cho những xâm nhập phá hoại, đã gieo hạt, ươm mầm và nâng đỡ những biến cải.

Nên, cảm giác đậm sâu nhất, gây hoang mang nhất, trong, và sau cơn sóng, ở mỗi người, là trạng thái không còn nguyên vẹn của tự ngã, sự cởi mở chưa từng thấy nơi nội tâm đóng kín, sự lạ lẫm đến choáng ngợp ngay trong một gọn gàng, quy củ vốn là định nghĩa về bản thân. Văn, phần lớn đời mình, thiên vị sự bình lặng hòa hoãn, ở vào giai đoạn gần xong xuôi của cuộc hành trình, không còn muốn thêm bớt, nghi ngại những sóng gió đổi thay, bắt gặp mình trong nỗi cuồng si ngây dại người em gái cùng cha đến “xém bỏ nhà bỏ cửa”, không sợ hãi trước viễn cảnh của cuộc lưu vong lần hai. Nhưng, đồng thời, cũng chính anh, hốt nhiên, không còn mang lốt cũ con người mình: gã tứ tuần đang mụ mị, tàn lụi, tiêu biến trong bóng xế chiều tà, hốt nhiên, không còn một thân một mình lưu đày trong chơi vơi trơ trọi của một nỗi tha hương trọn đời mà đã “tìm được một tổ quốc”, đã biết thế nào là niềm hạnh phúc đắm say của một hòa hợp “đồng thanh đồng khí”. Chính trong những đổi dòng chuyển hướng ấy mà anh tìm ra một trợ lực, để, trong sâu thẳm, gọi về được những ly tán, xốc lại được những rã rời, ẩn sâu trong lòng một quá khứ đầy tổn thương bởi mối thù hằn người cha bỏ rơi mình, nối lại được với những gì còn sót lại trong mình của quê hương, bản quán. Con người anh, trong cơn sóng này, khai thông, sáng rõ, lành lặn, kỳ khôi, và giàu sinh khí, như chưa từng. Ulma, cơn say chấn động cuộc đời anh, giống như những cuốn sách gối đầu giường những tháng năm tuổi trẻ, “những tác phẩm bài xích giúp ta hoài nghi tất thảy”, một lần nữa, đã khiến anh trở thành mình, chỉ có điều, đã thôi là một hỗn độn của những tạp loạn “trết nhão cả vào nhau” mà tươi mới, dịu dàng, bớt thù nghịch hơn.

So với Văn, Ulma là một tồn tại âm thầm, e dè, thiếu ổn định nhưng, cùng lúc, một nhân tố mang trong lòng sự bạo liệt, kiên gan, ương ngạnh. Lá thư cô là bằng chứng cuộc ẩn nhẫn trường kỳ, nơi, phục trong lòng bóng tối, cô im lìm lắng nghe những chuyển động, làm dịu cơn đau của những tác động vùi dập, thăm dò những lối rẽ, lặng lẽ nhặt nhạnh, tích trữ hơi sức để đợi lúc lẳng lặng rẽ sóng ngược dòng. Đến sau với nó, cú trở mình đầu tiên của nội tâm muôn mặt ấy, là một thay đổi có khả năng dịch chuyển, đổi hướng cả số phận: “Mấy tháng nay em thay đổi. Em không còn là cô gái hết sức dè dặt giữ khoảng cách. Em dường như bớt khép kín, đỡ bị giằng co vì mâu thuẫn trong tâm”.

Tuy nhiên, như tình yêu của họ – một hy vọng bị đẩy đến mép vực, một bám víu bị treo trên vách đá, một bao bọc chao đảo giữa cuồng phong, thế giới vừa trải ra trước mắt, mới khai nụ đã chực lâm nguy, mới le lói rạng đông đã lăm le tai họa, mới thăng hoa đã ngấp nghé tử huyệt: hạnh phúc tột đỉnh, từng thời khắc một, sóng đôi với nỗi kinh hoàng của cú lao không bảo hộ thẳng xuống vực sâu, của bước chân kéo lê về phía đoạn đầu đài – “tôi tự nhủ không hôm này thì hôm khác chúng tôi sẽ phải tính sổ” vì vi phạm cấm đoán, vì không cưỡng chống nổi một đam mê mạnh hơn chính mình.

Cơn sóng của số phận găm lên cô vết tử thương, mà chỉ sự trầm mặc của mộ địa mới có chút dịu nhẹ, chỉ bóng tối của huyệt mộ mới vừa đủ cho sự vô hạn của nỗi trầm thống thăm thẳm trong cô: “từ một tháng này, tôi không sống nữa, tôi đã nhiều lần quay lại Bobigny. Trong sự trầm mặc của nghĩa trang, tôi thấy mình đỡ khốn khổ.” Định mệnh có thể gắp tai họa bỏ vào giữa cơn say hạnh phúc, cô có thể làm tự làm mình xây xát giữa lòng những vụn vỡ của tâm hồn, song, Ulma, luôn là một ẩn số, một khối rubic nhiều mặt, một lá bài bất ngờ, với cả chính mình. Nhờ Văn, ngôi “sao băng” vụt qua đêm tối đời cô, nhờ tình yêu tuyệt đối với người anh cùng cha, cô có điểm tựa để tránh né, để xoay chuyển, để trở cờ, ngay cả khi chỉ còn là một mong manh bị vùi dập, một cô lẻ không bám víu, một ngờ vực không đáp án. Kết quả, những ngăn trở ngoại cảnh, những thảm cảnh nội tâm, không cản được cô hoàn thành những dang dở - kết thúc cuộc hành trình mà lá thư cô đã khai sự: “khép màn” sự cứu vớt lý trí bằng cái giá của hạ cấp, bằng cái án của tòng thuộc. Những tuyên bố trong lời cuối của Ulma giữa nổi trôi trong một rình rập của sụp đổ, chìm trôi – “tôi sẽ không phó thác mình cho ông như vị thầy thuốc có quyền năng cứu tôi nữa… Ông sẽ không bao giờ có những thú nhận này, tôi sẽ chỉ nói với mình thôi” là một khẳng định không chắc chắn về chung cục nhưng vẫn se lên chút hương tinh nguyên của một niềm tự tin mới nhú, nhưng bén rễ sâu trong chính mình. Cô có thể trông cậy vào niềm tự tin mới nở ấy bởi nó là kết quả của một bước tiến – “vượt qua những thứ gặm mòn” mình, vì nó có thể trở thành ngón tay chỉ trăng cho cô thấy “tia sáng nhỏ” “lấp lánh” “nơi cuối đường.”

Như Ulma, kẻ ở lại, các cuộc đời bị cuốn trôi khác, Lou và Laure, giữa cơn sóng bất đồ đổ ụp lên mình, cũng nhận ra những tan vỡ mà trận hồng thủy gây ra, đã gọi dậy, thúc đẩy, nuôi lớn một cái tôi trưởng thành với một trải nghiệm giàu có hơn và một nội tâm bớt nông nổi. Laure rũ bỏ dáng vẻ của một kiêu ngạo tuổi mười bảy phản nghịch nhưng im lìm, bất động như “ba con khỉ bằng đất nung, mù, điếc, và câm”, đã biết đến những trải nghiệm đầu tiên của giày vò, tự vấn, và hoài nhớ, đã biết dành chỗ cho một chuyên tâm trong kiên nhẫn và kỷ cương thay vì thói ngổ ngáo, chụp giật và biếng nhác. Lou đã chấp nhận những bước chân chập chững trên con đường tự soi chiếu, dành không gian cho những bước lùi nội tâm để suy ngẫm, soi xét và tự giải thoát. Cơn sóng ngầm đã quăng vệt màu của hư vô lên bức tường xám đời họ, để họ, từ đấy, tựa vào sự hư trống, vào “sự vắng mặt”, không làm cách nào vãn hồi, nhìn lại mình qua chính những mảnh vỡ của con người cũ thô sơ và một quá khứ phần nhiều u minh, và đắp xây một hình hài còn mù mờ, xa xăm. Nhưng, với cuộc tự thanh tẩy đang diễn trong mọi ngóc ngách tâm hồn mỗi cá nhân, một niềm tin sẵn lòng đặt vào cái chưa rõ ràng ấy, cược cho một chưa tới bớt u ám, điêu linh, và đau bệnh.

Diện mạo của một thảm họa không thể làm mờ khuất bản chất của cơn sóng ngầm – cuộc xung đột của ý hướng duy biệt, bất đồng, không cam chịu thuần hóa, không có sở nguyện thuần nhất, với xu hướng chung, thuận chiều, xuôi dòng. Nhưng, nó, trực tiếp nhất, là kết quả của trạng thái không (/thể) quyết của một cá tính long đong chính ngay trong sự thấy của mình: thấu suốt lựa chọn là mất mát, song chỉ được rút lấy một quân bài, biết trước “chẳng có ngôi sao nào hỉ[12]” cả, song phải nắm lấy lá số định mệnh. Cơn sóng ngầm sinh ra từ chính những trữ tình ngoại đề ấy, không màng đến chuyện nội bộ. Nhưng đến lượt mình, nó, cũng là một thực thể hai mặt đặt quyền sinh quyền sát ngang bằng trên hai bàn tay. Nên, chung cục, nó không phải cuộc khử trừ gây ra một đổ vỡ tận cùng, một ô nhục vĩnh viễn. Cơn sóng trỗi dậy từ trong lòng sự sống hung cuồng cuốn phăng những điều quý giá, như một trừng phạt không khoan nhượng, đồng thời, rũ bỏ những chân dung nhàu nhĩ, suy tàn, tật bệnh, để lại khoảng trống trong xanh, rộng dài và nồng hậu cho đổi thay, bất ngờ, và hy vọng. Như nhiều kết cục các tác phẩm của tác giả, con đường của sự sống không chịu tắc lối, những khởi đầu không chịu cụt đường, những cơ hội của tái sinh không chịu bỏ lỡ thời khắc sinh thành. Với cơn sóng ngầm của Linda Lê, thảm khốc ươm mầm một xanh tươi, vực thẳm mở lối cho khai ngộ, điêu tàn dẫn bước một khai nguyên.

* Những trích dẫn không có chú thích trong tiểu luận đều lấy từ Sóng ngầm của Linda Lê, do Hồ Thanh Vân - Bùi Thu Thủy chuyển dịch, Nhã Nam và Nxb Hội Nhà văn, 2018. Phần in nghiêng trong các chú thích đều do người viết tiểu luận nhấn mạnh.

[1] Linda Lê, Thư chết, Bùi Thu Thủy dịch, Nhã Nam và Nxb Văn học, 2013, tr. 97.

[2] Thư Kafka gửi Milena Jesenská tháng 9/1920, xem Phạm Thị Hoài, Khi em là lưỡi dao, nguồn: www.procontra.asia.

[3] Victor Hugo, Thằng Cười, Hoàng Lâm - Lệ Chi dịch, Nhã Nam và Nxb Văn học, 2019, nguồn: www.vietmessenger.com.

[4] n.t.

[5] n.t.

[6] n.t.

[7] n.t.

[8] Charles Baudelaire, Buồn và Lang thang, Vũ Đình Liên dịch, nguồn: www.thivien.net.

[9] n.t.

[10] Linda Lê, Thư chết, Bùi Thu Thủy dịch, Nhã Nam và Nxb Văn học, 2013, tr. 97.

[11] Cách diễn đạt của nhân vật của Ingeborg Bachmann: “that ghostly feeling of home, though she was no longer at home anywhere” [Cảm giác mơ hồ về nhà, dù cô không còn cảm thấy như ở nhà ở bất cứ đâu nữa], Word for Word, Three Paths to the Lake, Ingeborg Bachmann, translated by Mary Fran Gilbert, Holmes & Meier, New York, 1989, tr. 4.

[12] Lời nhân vật trong Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Nxb Trẻ, Hà Nội, 1988, nguồn: www.vietmessenger.com.