Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2026

Pierre Bonnard (1867-1947)

 Trương Thị An Na

Trong một dịp rất tình cờ, tôi đã đến triển lãm tranh của họa sĩ Pierre Bonnard. Đó là một ngày đầu xuân năm 2006, tôi đi đến tháp Eiffel, sau khi chụp mấy tấm ảnh làm kỉ niệm, tôi liền ghé vào Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại của thành phố Paris (Musée d’Art Moderne de la ville de Paris), bảo tàng này chỉ cách tháp Eiffel vài phút đi bộ. Đây là một không gian rộng rãi với kiến trúc hiện đại nằm bên cạnh sông Seine. Khu vực triển lãm có nhiều phòng rất rộng, có một số phòng sử dụng ánh sáng tự nhiên tạo cho người xem cảm giác rất thân thiện, thích thú ngay từ khi mới bước vào. Đặc biệt, còn có những phòng trưng bày có tầm nhìn hướng ra dòng sông Seine xinh đẹp, hiền hòa, cây cối bên bờ tỏa bóng xanh mát.

Khỏa thân ở phòng tắm (Nus dans le bain) là loạt tranh mà tôi nhìn thấy ngay khi vừa đặt chân vào cuộc triển lãm. Tôi đứng chựng lại giữa gian phòng rộng lớn treo rất nhiều bức tranh khỏa thân với đủ các tư thế và động tác khác nhau trong không gian nhà tắm. Tôi như gặp lại cảm giác của vài năm trước đó khi dịch cuốn sách De l’essence ou du nu (Seuil, 2000) (Cái Nu không thể có – Bàn về sự trần trụi) của tác giả François Jullien, là việc liên quan đến chương trình làm Postdoc của tôi. Cuốn sách này được in năm 2005 tại Nhà xuất bản Đà Nẵng trong khuôn khổ hợp tác với Đại sứ quán Pháp. Những câu đầu tiên trong cuốn sách: “Như vậy, cái nu không phải đương nhiên ai cũng hiểu được. Cái khỏa thân là sự bình thường – cái mắc cỡ cũng thế – còn cái nu bản thân nó thuộc vềsự lựa chọn mà sự lựa chọ nấy có lẽ chính là sự lựa chọn đặt cơ sở cho triết học: bởi cái nu “chính là sự vật” – Nó là cái tự thân, nó là cái tinh túy”, đã ngay lập tức hiện lên trong đầu tôi khi nhìn thấy những bức tranh khỏa thân này.

Trước đây, tôi cũng đã từng xem những bức tranh nu trong phòng tắm của Degas nhưng chưa có ấn tượng gì về những bức tranh đó, cũng có thể là vì tôi thường rất ngại xem tranh khỏa thân. Dẫu vẫn biết rằng nu là cái tinh túy, là cái đẹp thuần khiết mà tạo hóa ban tặng cho con người và họa sĩ vẽ nu cũng là để tôn vinh giá trị đạo đức hơn là mỹ học nhưng tôi vẫn thấy mình thật khó khăn để vượt qua được cái ngại ngần khi nhìn những thể loại tranh ấy. Vậy mà giờ đây tôi đã gần như bị mê hoặc bởi vẻ đẹp hoàn hảo của các nhân vật trong những bức tranh nu, như bức Nu à la baignoire (1931); Nu rose, tête ombrée vers (1919); Grand nu à la baignoire (1924); Nu sombre (1941); Nu jaune, détail (1934)… Tôi chợt nhận ra rằng, khi ta bỏ đi cái nhìn một cách trần trụi, gạt đi cái vẻ xấu hổ của sự trần tục thì sẽ chỉ còn lại cảm giác muốn nâng niu, sự trân trọng trước cái tinh túy, cái đẹp, cái trong sáng, ngọc ngà, thuần khiết của cơ thể con người. Đúng như triết gia François Jullien đã nói, khi cái nu xuất hiện thì ngay lập tức bàn, ghế, thảm, các phụ kiện và ngay cả bồn tắm chỉ là cảnh phụ, cái nu sẽ nổi bật và lôi người xem về phía mình.

Tôi đứng hồi lâu trước bức tranh Le cabinet de toilette au anapé rose (1908). Tên của bức tranh là “Phòng tắm với cái ghế tràng kỷ màu hồng”, vậy mà đồ vật chỉ là vật làm cảnh cho thân hình mĩ miều của cô gái đang là tâm điểm của mọi ánh nhìn. Thân hình mảnh mai, tuyệt mĩ hiện lên trong ánh sáng mờ ảo, ánh sáng lúc này cũng gần như bị tan chảy, cũng như muốn dừng lại, vuốt ve, mơn man, đắm đuối trên cơ thể với những đường cong gợi cảm của cô. Cả người cô đang tỏa ra mùi thơm dịu dàng, tự nhiên của cơ thể và mùi thơm ngạt ngào của nước hoa mà cô đang xịt vào cổ mình. Người xem nhận ra đây là một cô gái hiện đại có ý thức về vẻ đẹp của mình. Lúc này ai cũng có cảm giác như mình đang được ngắm nhìn nữ thần cổ đại từ phía xa vậy.

Le cabinet de toilette au canapé rose (1908)

Tôi tự hỏi làm cách nào mà Bonnard lại có thể dùng tất cả gam màu chỉ để tập trung, dồn nén vào thân thể nhân vật, đồng thời dám cất bỏ hết các tấm màn che bằng cách cho màu sắc một chức năng đặc biệt, lôi ánh mắt người xem về phía chúng. Và lúc này, cô người mẫu (cũng có thể là Marthe, vợ ông) đang quay người lại trước những tấm bình phong còn ánh sáng với chức năng đặc biệt của nó thì đã làm cho những tấm bình phong đó gần như trong suốt. Những chiếc bình phong hiện lên trong không gian phòng tắm với đủ màu sắc, biến không gian này gần như là một mê cung. Ông chỉ “nhả” ra cho người xem một vài chỉ dẫn sơ sài, để nhắc nhẹ cho chúng ta sự hiện diện của cô gái trong phòng tắm, không gian phòng tắm vô cùng lãng mạn, thơm tho và huyền bí với một nữ thần xinh đẹp và quyến rũ. Nhiều người xem tranh chắc hẳn đã biết chiếc gương là công cụ quan trọng giúp Bonnard thể hiện những gì mà ông muốn đưa vào trong rất nhiều bức tranh của ông. Nó giúp cho mọi thứ như rộng hơn, tạo chiều sâu hơn và cũng giúp người xem cảm giác như mình đang đứng ở vị trí của người trong cảnh, vì thế sẽ tiếp nhận dễ dàng hơn những gì đang có trong tranh. Lúc này cái gương đang làm nhiệm vụ là phản chiếu lại hình ảnh của Marthe, nếu chỉ nhìn trực tiếp vào cơ thể của cô gái người xem đã thấy đẹp đến ngỡ ngàng, vậy mà qua phản chiếu trong gương người xem lại càng thấy cô đẹp hơn bội phần bởi làn da trắng mịn màng như ngà, mát như sắc đá cẩm thạch. Khi nhìn vào gương còn thấy xuất hiện một chiếc ghế, mặc dù ở ngoài tranh không hề thấy, sẽ có người thắc mắc, đó là ghế của ai và mọi người sẽ tự tìm một câu trả lời theo suy đoán của riêng mình. Người thì cho rằng đó là ghế của họa sĩ bởi họ cảm nhận sự có mặt của ông, người lại cho đó là chiếc ghế của người xem.

Toàn bộ bức tranh không hề có sự rực rỡ của màu sắc và ánh sáng, bởi Bonnard không hề có ý định phô diễn giữa các gam màu sáng - tối với nhau, gần như cả bức tranh chỉ sử dụng một màu tối giản. Theo ông, “không phải ánh sáng đến chạm vào các đồvật mà các đồ vật dường như chiếu sáng chính nó”. Chiếc cửa sổ được vẽ theo phong cách của trường phái ấn tượng không phân định màu sáng hay màu tối mà chỉ sử dụng màu tương đương với màu của ánh sáng. Người xem cảm thấy dường như ánh sáng ban ngày chiếu ngang qua cửa sổ rồi tiện thể lướt vào phòng ngủ, trượt dài lên chiếc ghế màu hồng, luồn đến bức tường được dán giấy màu vàng và xanh lá cây rồi đột nhiên ôm trọn lấy thân thể ngọc ngà của cô gái và sau cùng là rơi vào làn nước mát lành trong chậu tắm. Những phản chiếu của ánh sáng và các màu sắc cùng những họa tiết trên những tấm rèm, thảm và giấy dán tường đan xen vào nhau tạo cho phòng tắm một không gian kín đáo, riêng tư nhưng cũng đầy ma lực. Bên cạnh đó, người phụ nữ trong tranh với thân hình mảnh dẻ, đôi chân dài, bầu ngực căng tròn, đứng ưỡn người về phía trước, vươn mình ra đón nhận lấy nguồn ánh sáng đang quấn quýt quanh mình làm cho cơ thể cô như rực sáng. Người xem dù là ai thì dường như lúc này cũng có cảm giác muốn bước vào không gian đó để cùng chiêm ngưỡng vẻ đẹp “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà/ Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên” (Truyện Kiều – Nguyễn Du).

Phải là một người rất yêu thương người phụ nữ của mình và coi trọng không khí thân mật, gần gũi, đời thường cũng như tâm huyết phác họa hình ảnh người phụ nữ trong nhà tắm đến nhường nào thì Bonnard mới để lại cho hậu thế nhiều bức tranh về nu đẹp đến thế. Isabelle Cahn, nhà sử học, giám đốc của bảo tàng Orsay đã nhận ra điều đó và từng nói về ảnh hưởng và vị trí của Marthe đối với Bonnard: “Marthe đã đem lại rất nhiều cho Bonnard về mặt cá nhân. Một họa sĩ trẻ tuổi, thuộc tầng lớp quý phái, Bonnard đã bị thân hình gần như tuyệt hảo của cô làm choáng ngợp. Trong gần 20 năm, thân hình ngọc ngà đó không ngừng là đề tài được ông đưa vào hội họa và cả nghệ thuật nhiếp ảnh nữa. Ngược lại, Bonnard ít khi tập trung vào khuôn mặt của người tình”.

Rời mắt khỏi bức tranh thứ nhất, trước mắt tôi lúc này là bức tranh Nu dans la baignoire (1936) (Trần trụi trong bồn tắm), được xem là bức tranh đẹp nhất trong loạt tranh miêu tả về chủ đề trong bồn tắm và cũng là bức tranh đầu tiên của Bonnard mà Bảo tàng Nhà nước Pháp mua tác phẩm được treo ở chính bảo tàng mà tôi đang xem cuộc triển lãm lần này. Phòng tắm của ngôi nhà “Le Bosquet” mà ông mua năm 1925 ở Cannet thuộc vùng Provence-Côte d’Azur đã được ông biến thành xưởng vẽ. Tại đây trong khoảng thời gian 10 năm, ông đã dành tâm huyết và cho ra đời nhiều bức tranh chủ đề nu với sự đa dạng, phong phú về kích thước tranh. Marthe là người rất thích được vẽ, nhất là khi cô tắm, vì thế Bonnard đã có nhiều bức tranh mô tả hình ảnh cô đang ngâm mình trong nước vô cùng gợi cảm, cụ thể như trong bức tranh Nu dans la baignoire (1936) (Trần trụi trong bồn tắm). Bonard đã sử dụng hiệu quả tối đa của hiện tượng quang học nên hình ảnh Marthe nằm trong bồn tắm như được nhìn từ phía trên xuống, hay cũng có thể là sự phản chiếu từ trong gương trang trí gắn trên trần của phòng tắm. Người xem cũng cảm nhận được là cô không một mình trong phòng tắm mà người họa sĩ đang ở cùng cô, mặc dù trong bức tranh không thể hiện sự có mặt của ông, mà chỉ có tư thế nằm tắm rất tự nhiên, thoải mái của Marthe. Bồn nước trong vắt ôm lấy cơ thể cô gái, nước sóng sánh ngang ngực, làn da ướt đẫm, gạch men màu xanh ngọc ở sàn nhà tắm có hình thoi, những viên gạch lát tường lại có màu vàng, tím, xanh da trời. Bồn tắm ở phần dưới phía chân của cô gái được ánh sáng hắt qua ô cửa màu xanh nên cũng nhuộm một màu xanh mát, pha lẫn với một chút màu vàng của ánh nắng mặt trời, còn phần nửa trên của bồn tắm cũng như nửa trên thân người cô gái được phủ một màu vàng và hồng tím. Hình ảnh đó tạo cho người xem những ấn tượng và cảm xúc rất đặc biệt, có cảm giác như cơ thể đẹp rực rỡ một cách hoàn mĩ của cô gái đang hòa tan dần vào trong ánh sáng. Bonnard đã rất thành công với chủ đề thân mật trong phòng tắm mà ông thể hiện rõ ràng và sắc nét trong bức tranh này.

Nu dans la baignoire (1936)

Ngắm nhìn bức tranh Nu dans la baignoire của Bonnard, tôi cảm nhận, dù thời gian dần trôi, Marthe của ông ngày một già đi nhưng Bonnard vẫn luôn vẽ về cô với thân hình của một cô gái trẻ. Phải chăng vì vậy mà với những bức tranh này, người xem luôn cảm thấy thời gian như chậm rãi trôi trên con đường đời, vạn vật như dừng lại ở những ngày tháng tươi đẹp nhất? Cũng vì thế mà những bức tranh nu của ông luôn khiến người ta ao ước được ngắm nhìn, được chiêm ngưỡng một cách thánh thiện, không hề mang cảm giác dung tục, khát thèm, bởi trong muôn vàn thực thể của tự nhiên thì con người bao giờ cũng là thực thể đẹp nhất. Nu của Bonnard là như vậy!

Rời phòng trưng bày các tranh Khỏa thân ở phòng tắm (Nus dans le bain) để đến với phòng trưng bày tranh về chủ đề Thiên nhiên mê đắm (La Nature enchantée). Nhìn bức tranh Salle à manger à la campagne (1913) (Phòng ăn ở nông thôn) của Bonnard, tôi nhớ lại những ngày tháng học ở Rouen. Lúc bấy giờ, mặc dù có khi tôi sống ở Rouen nhưng lại thường xuyên đến Paris để đi thư viện hoặc để thực hiện các cuộc phỏng vấn, cũng có những lúc sống ở Paris nhưng lại đi học ở Rouen. Trong suốt 3 năm ấy, tôi cứ đi đi, về về rong ruổi trên con tàu mà không biết mệt mỏi. Khi đi từ Paris đến Rouen, tôi thường chọn ngồi phía bên phải, còn khi trở về từ Rouen, tôi lại chọn ngồi phía bên trái con tàu bởi đơn giản là vì khi con tàu lăn bánh, những người khác thường chọn cho mình thú vui đọc sách còn tôi lại thích nhìn ngắm phong cảnh qua những ô cửa sổ của con tàu. Hình ảnh dòng sông Seine lặng lẽ trôi, dịu dàng, thanh lịch đã ăn sâu vào tiềm thức của tôi trong những chuyến tàu như thế. Con tàu mải miết lăn bánh rồi dừng ở ga đầu tiên Mantes La jolie, cũng là nơi kết thúc vùng ngoại ô Paris để đi vào vùng đất huyền thoại đã từng xuất hiện trong tranh của rất nhiều họa sĩ, đó là vùng La Normandie. Rồi tàu lại tiếp tục đi qua vùng đất xinh đẹp này để đến ga tiếp theo là Vernon, ở chặng đường này tôi được thỏa thích ngắm những ngôi nhà duyên dáng nằm sát bên bờ sông. Sông Seine chảy qua đoạn này rất thơ mộng và yên bình, những ngôi nhà ở đây cũng hiền hòa, giản dị, đậm chất dân dã của vùng nông thôn, mặc dù chỉ cách Paris mấy chục cây số. Và cứ thế ngày này qua ngày khác, tôi mải mê ngắm nhìn khung cảnh từ ô cửa sổ con tàu và lòng thầm ao ước có một ngày được đến chơi, được bước chân vào trong những ngôi nhà đó. Ngày tháng cứ trôi, còn tôi thì cứ bị cuốn vào việc học hành nên niềm mơ ước đó mãi không thực hiện được. Và giờ đây, ngay tại cuộc triển lãm này, sau khi rời phòng trưng bày thứ nhất với những bức vẽ về cô Marthe trong các bức tranh Nus au bain tôi đã đến được với Normandie, tới căn nhà mà Bonnard mua năm 1912 ở Vernonnet được gọi là La Roulotte và rất gần với Giverny. Vậy là cuối cùng tôi cũng đã thực hiện được ước mơ “đặt chân” tới phòng ăn ấm áp của ngôi nhà ấy trong một buổi chiều đầy nắng, bằng một cách rất đặc biệt, đó là bước vào bức tranh Salle à manger à la campagne (Phòng ăn ở nông thôn) của ông. Dù chỉ được “đi vào” thăm mỗi phòng ăn của ngôi nhà nhưng tôi cũng cảm thấy mãn nguyện vì giấc mơ ngày nào giờ đây tôi cũng đã thực hiện được.

Salle à manger à la campagne (1913)

Ngay khi nhìn bức tranh, tôi đã để ý đến một chi tiết nhỏ, đó là một khoảng ban công rất bé, từ chi tiết nhỏ đó đã giúp cho người xem nhận biết phòng ăn này nằm ở tầng một của ngôi nhà và ngoảnh hướng ra vườn, ngoài vườn có rất nhiều cỏ cây hoa lá. Không gian như rộng hơn nhờ cánh cửa chính và cửa sổ được mở toang, dường như mở ra tận khu vườn, đưa tầm mắt của người xem đến với núi non, với bầu trời xanh, với ánh sáng chan hòa, rực rỡ. Ông đã tạo ra sợi dây liên kết giữa khung cảnh bên trong với không gian ở bên ngoài qua góc nhìn từ độ mở của hai cánh cửa này.

Không gian trong nhà là sự tổng hòa của rất nhiều hình dạng: tròn, vuông, chữ nhật của chiếc bàn ăn to màu xanh da trời, những chiếc đĩa, bát trên bàn, cánh cửa chính, bức tường màu đỏ. Tất cả như tạo nên một cấu trúc đặc biệt, vững chãi, lúc này ánh sáng như đang nhảy múa trên các đồ vật tạo nên mối liên hệ nghiêm ngặt giữa các sự vật có mặt trong bức tranh. Người xem có cảm giác vườn hoa phía ngoài hiên như một tấm thảm màu rực rỡ sắp tràn vào tận bàn ăn. Có một người phụ nữ đang khom người tựa tay trên cửa sổ, có lẽ là Marthe. Bộ trang phục mà cô đang mặc có màu đỏ, rực rỡ không kém gì các màu sắc xung quanh. Cô đang đứng phía ngoài phòng ăn, ở khu vực chính giữa và ngược với ánh nắng nên khuôn mặt hiện ra mờ mờ, không rõ nét. Có vẻ cô không phải là nhân vật chính ở trong gian phòng này qua cái cách mà họa sĩ để cho cô đứng từ ngoài nhìn vào phía trong. Lúc này người xem sẽ quan sát thấy có một con mèo ngồi trên chiếc ghế màu vàng gần sát với bức tường màu đỏ nơi cô gái đang đứng, nó đang quay lại nhìn về phía một con mèo khác, nhưng con mèo này chỉ thấy được phần đầu, đang ngồi trên một chiếc ghế màu nâu đen bên phía đối diện sau cái bàn màu xanh lơ. Người xem cảm thấy hình như đang có một cuộc chuyện trò trong yên lặng giữa Marthe và hai con mèo.

Hãy cùng bước ra khỏi căn phòng để đến với khu vườn có rất nhiều màu xanh của cây và màu sắc rực rỡ của hoa. Một cái cây dù rất mảnh mai nhưng lại vươn cao hơn hẳn, nổi bật lên và như tách biệt với vô vàn cây cỏ xung quanh. Những chiếc lá và cả những bông hoa đều có màu tím, có vài bông đã nở bung ra còn vài bông khác đang chớm nụ, tất cả như đang vươn vào trong căn phòng. Xung quanh là những ngọn núi rực rỡ bởi ánh mặt trời rọi xuống làm cho màu sắc của cây cối trở nên đa dạng với đủ màu xanh nhạt, xanh đậm, màu hồng, vàng, tím… tất cả cảnh sắc đó làm say đắm, mê mẩn người xem. Với tác phẩm này, Bonnard chính là đại diện sau cùng còn sót lại của trường phái ấn tượng những năm 1870-1880, cụ thể là ảnh hưởng từ sắc thái những bông hoa súng của Claude Monet.

Người xem cũng dễ dàng nhận thấy gam màu đỏ, màu cam, màu xanh lá cây, xanh da trời, màu vàng là những màu chủ đạo được tác giả sử dụng trong bức tranh. Chính sự phối hợp một cách hài hòa, đậm đặc các màu sắc khác nhau là một trong những điều làm nên thành công và lôi cuốn người xem ở bức tranh này. Các màu đỏ son, màu cam và màu vàng dường như được cô đặc lại trong bức tranh nhờ hiệu ứng của những phân tử ánh sáng. Từ bức tường có hai màu đỏ cam và màu đỏ tươi dưới cửa sổ đến màu cam của bức tường sau cánh cửa chính màu xanh lá cây nhạt, có thể thấy một sự phối màu đầy ẩn ý và tài hoa của họa sĩ. Không gian trước cửa, ở phần mái hiên được thể hiện bằng sự pha trộn của các màu lại với nhau, còn mảnh vườn thì được sử dụng rất nhiều màu nhưng ưu tiên và nổi trội nhất vẫn là màu xanh lá cây và màu tím hoa cà. Người xem như thấy được sự chuyển động của không gian giữa bên trong và bên ngoài, giữa khung cảnh trước với khung cảnh sau và cô gái có cái váy màu đỏ son, thông qua yếu tố mở là các khung cửa mở rộng cùng màu sắc, ánh sáng.

Bức tranh được vẽ bằng cách sử dụng những dấu chấm, khi thì những dấu chấm tròn, có khi lại là các chấm phẩy hay các chấm gạch ngang. Từ những chiếc lá nhỏ xíu trên cành cây trong vườn đến những đám mây rất to trên bầu trời, tất cả là một sự lưu thông không giới hạn để đi vào trong mọi khung cảnh. Bonnard đã gợi mở ra rất nhiều thứ để cho người xem có thể cảm nhận được những điều mà ông đã nung nấu và muốn chia sẻ cho mọi người cùng thấy qua tranh của mình. Ông đã mô tả rất chân thật, rất cụ thể các góc cạnh, chi tiết và đường nét làm cho người xem thẩm thấu được, và rồi ngấm sâu vào tận cùng bên trong, từ đó cảm nhận được vô vàn vẻ đẹp dù là ẩn mình hay phô diễn của thiên nhiên và con người trong cuộc đời. Đó cũng chính là sự độc đáo, sự tôn trọng, sự ngưỡng mộ trong thái độ của Bonnard đối với thiên nhiên và đó cũng chính là điều mà người xem được đón nhận khi xem tranh của ông.

Lưu luyến tạm biệt Normandie, tôi đi đến phòng tiếp theo và bước chân vào căn nhà thứ hai của Bonnard ở vùng Midi-Côte d’Azur. Đây là vùng đất của những bông hoa lavander tím (oải hương), những cánh đồng hoa bạt ngàn thơm ngát là niềm ao ước của biết bao nhiêu người được một lần đến đây để tận hưởng khung cảnh mê ly này. Vậy mà, năm 1994, trong một chuyến đi đến vùng Provence và Côte d’Azur, khi đến thăm nhà máy sản xuất nước hoa ở Grasse, tôi biết rằng không chỉ có hoa oải hương làm nên thương hiệu cho vùng đất thơ mộng này mà còn có cả những cánh rừng hoa mimosa ngút ngàn với một màu vàng rực rỡ cũng mang đến nguồn nguyên liệu quý cho ngành công nghiệp nước hoa. Chắc nhiều người cũng biết đến nguồn gốc hoa mimosa qua câu chuyện tình đẹp về lòng chung thủy của một đôi trai gái yêu nhau say đắm, thề sống với nhau trọn đời, nhưng oái oăm thay số phận đã không cho họ đến được với nhau. Và rồi cái chết đã gắn kết họ mãi mãi bên nhau cùng với sự xuất hiện của loài hoa có tên là mimosa.

Tôi biết đến hoa mimosa bắt đầu từ những câu hát “Mimosa từ đâu em tới? Mimosa vì sao em tới đất này...”. Nhưng tuyệt vời hơn là sau này nó không chỉ đến từ bài hát mà nó còn hiện diện “bằng xương bằng thịt” ngay trước ban công. Đó là loài hoa nở rất sớm sau những ngày đông giá lạnh và dường như mimosa cũng là loài hoa nở để báo hiệu cho mọi người biết rằng mùa xuân đã đến. Dù mimosa không đẹp hút hồn như những loài hoa khác nhưng lại có rất nhiều người yêu nó bởi vẻ đẹp nhẹ nhàng, kiêu sa, sang trọng và nổi bật với sắc vàng rực rỡ cùng với cái tên đầy kiêu hãnh.

Vì sao tôi lại nhớ đến hoa mimosa? Vì lúc này tôi đang đứng trước bức tranh L’Atelier au mimosa (1939-1946) (Xưởng vẽ cạnh cây mimosa), đây là một trong những bức tranh khổ lớn cuối cùng của Bonnard. Mặc dù được bắt đầu vẽ từ năm 1939 nhưng mãi đến năm 1946, sau một thời gian dài chỉnh sửa, thêm bớt thì bức tranh mới chính thức hoàn thành, tức là một năm trước khi ông mất. Bức tranh nổi bật bởi hình ảnh cây hoa mimosa cao to đang nở rộ vô vàn những bông hoa màu vàng rực, là cây hoa nằm trong vườn của ngôi nhà mà ông đã mua năm 1927 ở Cannet. Bức tranh cho thấy đây là một căn nhà nhỏ và đơn giản nhưng lại có khu vườn rộng lớn, rất sang trọng. Nét sang trọng được thể hiện từ những tấm kính cửa sổ chói lòa cho đến quang cảnh và khu vườn xanh tươi rộng lớn cùng với những mái nhà màu đỏ của một ngôi làng nằm phía dưới.

L’Atelier au mimosa (1939-1946)

Nếu nhìn kĩ, người xem có thể thấy có những tấm rèm và một cái bàn cùng những tờ giấy vương vãi ở phía dưới bàn. Tấm rèm phía sát cửa sổ có màu phúc bồn tử, ánh nắng mặt trời phản chiếu trên các bức tường liền nhau tạo nên nhiều màu sắc rất sinh động. Những đường ngang, dọc của khung sắt dùng để đỡ các tấm kính của cửa sổ được nhìn thấy rất rõ. Lớp kính này dường như muốn làm giảm độ chói của những bông hoa mimosa nở bung hết cỡ đang chiếm gần hết chiều cao và lấp đầy đến ba phần tư chiều rộng của cửa sổ. Những bông hoa mimosa được thể hiện bằng những chùm nhỏ với sắc vàng dữ dội. Người xem đoán được Bonnard vẽ bức tranh này với góc nhìn từ xưởng của ông qua một không gian nhỏ bé, chật hẹp, với những đường chéo của tay vịn lan can, tay vịn này xuất hiện dường như để kìm hãm sự tràn vào, lấp đầy của màu vàng rực rỡ của ánh nắng, của hoa mimosa đến từ bên ngoài và để giữ được không gian trong sự giới hạn của nó. Tất cả như để làm bật nổi lên phần trọng tâm của bức tranh ở bên ngoài khung cửa sổ nơi mà khu vườn được phủ đầy màu sắc lấp lánh với các tông màu khác nhau. Trời và núi được thể hiện bằng màu xanh da trời đậm, cây cối thì bao trùm một màu xanh tươi mát. Ánh sáng mặt trời đã chiếu sáng lên những chùm hoa mimosa màu vàng chanh và những đốm xanh của lá cây, những mái nhà xa xa như đỏ hơn trong sắc hồng của nắng. Sự liên kết hỗn loạn này làm nên sự khác nhau giữa tri giác về màu sắc và tri giác về hình dạng.

Nhìn kĩ hơn, người xem sẽ phát hiện ra ở góc phía dưới bên trái, có một khuôn mặt ló ra khỏi bức tường màu hồng, khuôn mặt mờ ảo, nhưng cũng dễ dàng nhận thấy khuôn mặt ấy rất đẹp, dù có vẻ xa xôi, mơ hồ và huyền ảo. Phải chăng đây là khuôn mặt của Marthe? Bonnard vẽ bức tranh này lúc Marthe đã mất nhưng có lẽ hình bóng thân yêu của cô vẫn luôn hiện hữu quanh ông ngay cả trong bức tranh cuối cùng này. Bức tranh đã liên kết được tính tự phát ở bên ngoài với sự thân mật từ bên trong, liên kết được hai thế giới nội tâm và bên ngoài qua hình ảnh cái cửa sổ. Khi không gian nhỏ ở phía trong đóng lại cái thế giới bên trong thì cũng là lúc cả thế giới bên ngoài được mở ra với vô vàn màu nóng như đang thách đấu với gam màu lạnh. Sự bừng sáng của bức tranh với rất nhiều màu sắc và ánh sáng đã không cần đến bất cứ chủ đề gì hỗ trợ cũng toát lên được, thể hiện được khát khao cháy bỏng về sự tự do và tình yêu cuộc sống.

Miền Nam nước Pháp không chỉ nổi tiếng với những ngôi nhà xinh xắn luôn ngập tràn hoa từ dọc những lối đi đến trong vườn và trên mỗi ban công, mà còn được biết đến là một nơi có biển xanh, cát trắng, nắng vàng suốt hơn 300 ngày trong một năm. Ciel d’orage sur Cannes, (1945) (Bầu trời dông trên thành phố Cannes) là bức tranh mô tả được gần như toàn cảnh Cannes nhìn từ nhà của Bonnard. Ngay trước mắt người xem là một hàng rào màu xanh sẫm như bảo vệ, chở che và cũng đồng thời làm đẹp cho Cannes với những mái nhà màu nâu vàng lô nhô xen lẫn màu xanh của cây cối đang nằm yên bình bên bờ biển. Trước Cannes xinh đẹp, đó là biển Địa Trung Hải với những con sóng nhỏ hiện ra như một dải ruy băng màu thiên thanh vô cùng duyên dáng. Bonnard đã dành hai phần ba không gian của bức tranh để mô tả về bầu trời. Lúc này trên trời có rất nhiều đám mây xếp thành tầng, gần với mặt biển là một dải mây màu tím, kế tiếp là những đám mây màu nâu vàng, rồi màu xám đen, màu hồng, càng lên cao thì màu mây càng sáng dần lên và cuối cùng ở vị trí cao nhất là những đám mây rất to màu trắng xen lẫn với những khoảng trời xanh. Ở góc phía trên bên phải bức tranh có bóng của những con chim hải âu đang bay rất gần bờ, cũng giống như những đám mây đủ màu sắc đang ùn ùn kéo đến thì sự xuất hiện của chúng cũng là báo hiệu cho một cơn dông sắp kéo đến. Bằng sự quan sát tỉ mỉ, bằng những nét vẽ điêu luyện, Bonnard đã phô diễn từng chi tiết một cách tinh tế trong tổng thể của toàn bộ bức tranh qua những màu sắc khác nhau trên nền các tông màu lạnh, xanh da trời, xanh lá cây, đặc biệt là màu tím để từ đó toát ra một thứ ánh sáng có vẻ tối và dữ dội, thể hiện được rõ nét, chân thực hơn quang cảnh bầu trời trước khi cơn dông ập tới.

Ciel d’orage sur Cannes (1945)

Ngắm bức tranh, người xem như cảm thấy ngập tràn cảm xúc về những gì mà mình được chứng kiến, được sẻ chia cùng tâm trạng, cảm xúc chân thật của tác giả; như thấy được nỗi khát khao được giải phóng, giải phóng khỏi chiến tranh, giải phóng khỏi dịch bệnh hay giải phóng khỏi những bế tắc nào đó. Bởi ai cũng biết Bonnard vẽ tranh để tô điểm cho đời, hi vọng giúp cho cuộc đời đẹp hơn, bớt đi những muộn phiền, khổ đau.

Tranh của ông lúc nào cũng căng tràn nhựa sống, đầy tình yêu thương nhưng lại vô cùng giản dị, đời thường như cảnh sinh hoạt thường ngày vậy. Hạnh phúc của ông chính là được ngắm nhìn nét đáng yêu của những đứa trẻ, hoa trái, vật nuôi, những cảnh hái táo, cảnh ngồi ăn trong vườn; ông muốn tập hợp, muốn gom lại tất cả những gì quen thuộc nhất, gắn bó nhất, đời thường nhất xuất hiện xung quanh ông để đưa vào tranh của mình. Vì thế dù bất cứ ở khung trời nào, ở hoàn cảnh nào thì tranh của Bonnard cũng toát lên sự gần gũi, hài hòa, sự gắn kết giữa con người với những cảnh vật xung quanh mình.

Bức tranh La Tarte aux cerises (1908) (Bánh trái cây anh đào) là một trong những bức minh họa rõ nét cho những điều như thế. Bức tranh này cũng miêu tả một cảnh quen thuộc thường ngày, là hình ảnh bữa ăn xế của một người phụ nữ. Cô ấy vừa thư thả ngắm nhìn quang cảnh xung quanh, vừa ăn những quả sơ ri, vừa nhìn vào những cái hạt mà cô vừa nhằn ra trên chiếc đĩa, một hành động rất đời thường mà bất cứ ai cũng đã từng làm và từng nhìn thấy. Trên bàn có rất nhiều đồ vật như hai chai rượu – một màu xanh đậm, một màu trắng, một cái đĩa có khoảng một phần ba chiếc bánh tartes, một cái đĩa khác có những quả sơ ri và nhiều những tô đĩa khác. Con mèo màu đen hiền lành ngồi nhìn đĩa bánh tartes và cô chủ. Chiếc bàn ăn được đặt trong vườn với những cây to, tỏa bóng xanh mát rượi gần như che phủ hết cả không gian xung quanh, bầu trời chỉ hé lộ rất ít qua khoảng không hẹp của tán cây. Xung quanh là cánh đồng hoa với rất nhiều những bông hoa coquelicots màu đỏ. Người xem cũng nhìn thấy một người có trang phục kẻ sọc xanh nhạt đang bê một đồ vật gì đó ở góc đối diện với cô gái. Bonnard đã dùng tất cả màu sắc có sẵn trong khay màu của mình, ông gần như để nguyên từng màu như thế rồi vẽ vào tranh chứ không pha trộn các màu với nhau hoặc khéo léo điều tiết một cách hài hòa, tinh tế nên người xem dễ dàng nhìn thấy những gì mà ông muốn thể hiện ngay từ cái nhìn đầu tiên. Chỉ là một bữa ăn phụ, một cảnh sinh hoạt rất đời thường nhưng khi thể hiện nó trong tranh ông cũng trở nên rất quyến rũ, đáng yêu. Tài năng bộc lộ từ những điều tưởng như tầm thường nhất và bằng nỗ lực sáng tạo của mình, Bonnard đã giúp cho người xem tranh thêm yêu cuộc sống, trân quý những phút giây thanh bình trong từng bữa ăn, trong từng nhành hoa, ngọn cỏ và điều đặc biệt là người xem như tìm thấy hình ảnh thân quen, giản dị hằng ngày của mình trong khi xem tranh của ông.

La Tarte aux cerises (1908)

Cách vẽ của Bonnard ngược lại với trường phái ấn tượng, đó là ông hoàn toàn chỉ vẽ theo trí nhớ mà không vẽ theo motif. Ông ghi chép lại một cách tỉ mỉ những gì mà ông nhìn thấy mỗi khi đi dạo, sau đó ông làm việc rất lâu ở xưởng vẽ của mình và thể hiện ra tất cả những gì trong chủ đề mà ông đã lựa chọn. Đúng như Isabelle Cahn, giám đốc bảo tàng Orsay đã nói rằng: “Tranh của ông nói về sự sống, về hơi thở, về những chuyển động trong cuộc đời, về thời gian, vềnhững gì không nắm bắt được. Nhìn những góc độ đó, phải nói là Bonnard đã đặt bản thân trước những thách thức rất lớn”.

Xem tranh Bonnard, ta như nghe được tiếng xào xạc của lá, nghe được tiếng líu lo của chim hót, ngửi được mùi thơm của hương hoa, như cảm thấy được vị ngọt của những quả cam vàng mọng nước hay được thư giãn với sự mơn man lên da thịt của những làn gió thổi vào phòng ngủ. Bonnard luôn luôn biểu lộ niềm hạnh phúc của mình khi được vẽ, khi được sống trong cuộc đời này dù có phải trải qua những thăng trầm, những khổ đau, mất mát. Sau khi xem tranh của ông, tôi luôn tin rằng, tác phẩm của ông sẽ mãi mãi nằm trọn trong tình yêu của người xem tranh bởi con người bao giờ cũng luôn mong muốn, luôn khát khao được thưởng thức cái đẹp, là cái đẹp của thân thể, thiên nhiên, cuộc sống hay mọi vạn vật trong thế giới xung quanh mình.