Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Năm, 22 tháng 10, 2026

Pablo Picasso (1881-1973)

 Trương Thị An Na

Tôi nhớ có một lần khi vừa đặt chân đến thủ đô Madrid của Tây Ban Nha, việc đầu tiên tôi làm là tìm ngay đến trận đấu bò tót. Sở dĩ như vậy vì tôi đã được nghe rất nhiều về các trận đấu bò tót (corrida) ở nước Tây Ban Nha nên cũng mong muốn một lần xem trực tiếp để được trải nghiệm cảm giác hồi hộp, sợ hãi đó. Khi trận đấu bắt đầu diễn ra, tôi thấy một con bò tót được thả vào sân, nó chạy vô cùng hiếu thắng và tự tin. Sau đó, một kỵ mã đâm giáo (Picador) xuất hiện vừa ngồi trên lưng ngựa vừa tấn công con bò tót bằng những mũi giáo. Anh chọn đâm vào cái u chắc nịch trên lưng con bò, đó cũng là điểm yếu của nó rồi anh xoáy cả ngọn giáo vào phần điểm yếu, cố ý làm vết thương lớn và sâu hơn để làm cho nó yếu sức dần. Sau một vài cú tấn công của con bò tót vào con ngựa mà kỵ mã đâm giáo đang cưỡi, người cắm lao (Banderillero) sẽ tìm cách dẫn dụ nó ra nơi khác. Cuộc đấu tiếp tục bằng sự tấn công của những người cắm lao vào vai con bò bằng các cây lao có gai làm cho sức lực của nó cạn kiệt dần. Tiếp theo, một đấu thủ hạ sát (Matador) xuất hiện với vẻ bình tĩnh, không ngừng vung tấm khăn màu đỏ, nhử và chọc giận làm cho con bò nổi điên, lao tới tấn công một cách điên cuồng, nhưng anh ta đã có những màn thoát hiểm vô cùng ngoạn mục. Cứ thế cho đến khi con bò hoàn toàn kiệt sức, Matador nhận cây kiếm dài từ tay đồng đội nhắm thẳng vào vết thương trên lưng bò và hạ gục nó. Ngay lúc đó, một cỗ xe ngựa chạy đến kéo xác bò ra khỏi đấu trường. Phần thưởng cho đấu sĩ xuất sắc sau trận đấu là hai cái tai bò và một cái đuôi bò. Cuộc đọ sức giữa người và bò tót trở nên vô cùng gay cấn, hồi hộp là khi khắp khán đài vang lên tiếng reo hò, la hét không ngừng của khán giả nhằm cổ vũ, khích lệ tinh thần cho các đấu sĩ để họ vượt qua nỗi sợ và dũng cảm đương đầu với con vật. Chỉ vài tiếng đồng hồ nhưng trải qua rất nhiều cung bậc cảm xúc, tôi thật sự thỏa mãn vì đã thực hiện được niềm ao ước bấy lâu và cảm thấy như có thêm năng lượng để ngày hôm sau đi thăm bảo tàng Prado, một trong những bảo tàng nghệ thuật lớn nhất trên thế giới. Bảo tàng này trưng bày rất nhiều tranh của các họa sĩ như Francisco Goya, Hieronymus Bosch, El Greco, Peter Paul Rubens, Titian và Diego Velázquez. Đến đây, tôi thấy mình thực sự bị quá tải khi chỉ có một ngày để “ngốn” hết một lượng tranh khổng lồ như thế trong bảo tàng, vì thế sau khi rời khỏi bảo tàng Prado, tôi tự nhủ ngày mai phải nghỉ ngơi thư giãn, trước khi đi xem tiếp các bảo tàng khác.

Vậy là ngày hôm sau tôi tự thưởng cho mình một chuyến tham quan ở nhà ga xe lửa có tên gọi là Atocha. Đây là một trong những nhà ga được đánh giá là đẹp nhất thế giới với không gian kiến trúc độc đáo. Bên trong nhà ga, có một khu vườn nhiệt đới tuyệt đẹp với nhiều loại cây khác nhau. Khu vườn này mang lại sự sống động, tươi mát cho nhà ga. Nằm ngay ở lối đi trung tâm là một khoảng không gian mô phỏng theo hình tượng nhà kính được sử dụng chủ yếu bằng vật liệu sắt và kính. Ở đây, tôi thấy mình như đang đứng trong khu rừng nhiệt đới hơn là tại một nhà ga đường sắt. Có cảnh quan tuyệt vời này là do cây cối được hấp thu ánh sáng đầy đủ thông qua lớp kính trong suốt, kết hợp với hệ thống phun sương giữ ẩm của khu vườn. Rời nhà ga, tôi định lang thang trong khu phố để nhâm nhi ly café, nhìn ngắm dòng người qua lại nhưng tôi lại thấy mình đang đứng trước bảo tàng Reina Sofia, thế là không thể cưỡng nổi niềm đam mê với bảo tàng, mà đây lại là bảo tàng lừng danh nằm trong tam giác vàng bảo tàng của Madrid nên tôi quyết định đi vào, và rồi ngay trước mắt tôi là bức tranh nổi tiếng Guernica của Picasso.

Guernica (1937)

Picasso từng nói rằng, bức tranh này sẽ là tài sản của Tây Ban Nha khi chấm dứt chế độ Franco. Quả đúng là như vậy, sau 40 năm phiêu lưu ở New York, tác phẩm đã có mặt ở bảo tàng Reina Sofia vào năm 1992. Tôi thấy mình thật may mắn khi được xem bức tranh này của Picasso ở đây.

Được biết năm 1937, Chính phủ hợp pháp Cộng hòa Tây Ban Nha đã đề nghị Picasso vẽ một bức tranh có tính tượng đài để trang trí cho gian hàng của cuộc triển lãm toàn cầu ở Paris tổ chức cùng năm đó. Mặc dầu ông không thích những đơn đặt hàng như thế nhưng ông đã chấp nhận lời đề nghị. Vào thời điểm ấy, phát xít Đức và Ý đã đưa rất nhiều máy bay chiến đấu đến, ném bom xuống thành phố Guernica, giết chết nhiều người vô tội. Khi biết tin về vụ oanh tạc này, Picasso đã loại bỏ hết mọi dự định hoạt động nghệ thuật của mình để vẽ bức tranh này, bởi theo ông sẽ là một tội ác nếu bỏ qua những sự tàn bạo đó. Để rồi sau đó, từ sự thấu hiểu về nỗi thống khổ mà người dân đang phải gánh chịu, Picasso đã vẽ nên một kiệt tác khiến cho ai xem nó cũng thật sự phải ngỡ ngàng. Bức tranh là sự mô tả một cách chân thực, trần trụi những nỗi đau thương, phẫn nộ trước những gì đang xảy ra mà ông đã nghe, đã biết. Đó là sự tái hiện, khắc họa một cách đầy đủ và rõ nét nhất những đau đớn không chỉ của con người mà còn là của chim chóc, muông thú đang phải gánh chịu do vụ đánh bom khủng khiếp gây ra. Bức tranh như một biểu tượng đanh thép cho sự khốc liệt và mức độ tàn phá khủng khiếp của chiến tranh.

Quan sát bức tranh Guernica (1937), ta thấy ở phía bên trái, ngay dưới đầu con bò tót là hình ảnh người mẹ với cái đầu ngả hẳn ra phía sau. Ngay dưới mõm con bò, đôi tay của người mẹ đang ôm đứa con đã chết của mình, miệng của người mẹ há to như đang kêu khóc thống thiết hoặc đang muốn nói, muốn kêu nhưng không thể phát ra lời. Người mẹ ấy ngẩng lên như muốn hỏi Đấng Tối cao, trong khi cơ thể và đặc biệt là đôi tay như không còn một phần sức lực nào. Hình ảnh này như vò nát trái tim người xem, lòng tôi như quặn thắt lại. Với những ai đã làm mẹ, chúng ta sẽ càng thấu hiểu cho nỗi đau đó vì trên đời này không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau của người mẹ mất con. Bên phải của bức tranh, có một người phụ nữ khác cũng với tư thế ngả đầu về phía sau, hai cánh tay giơ lên cùng tiếng thét tuyệt vọng, cô ấy đang cố nhảy qua cửa sổ của ngôi nhà đang cháy. Những đám lửa rực cháy trên trần nhà và ở trên quần áo của người phụ nữ. Bên cạnh đó, có một người phụ nữ khác có vẻ như đang cố nhoài người ra ngoài, chỉ thấy rõ cái đầu và tay cầm cây đèn. Ở dưới cùng bên phải, một người đàn bà như đang cố chạy về phía bên trái bức tranh với bước chân sải dài và một cái nhìn ngây dại trước những bạo lực và sự hỗn loạn đang xảy ra.

Nổi bật trong bức tranh, đó là hình ảnh con bò tót ở phía bên trái, nó đứng lùi ra sau. Theo như những gì tôi thấy trong trận đấu bò tót hôm trước, thì đây là loài vật dũng mãnh, luôn ở thế tấn công. Thế nhưng, thật lạ lùng con bò tót ở đây lại được Picasso mô tả bằng một sự bất động đến kì lạ, nó đứng một mình, xung quanh là màu tối đen. Nó dửng dưng chẳng hề quan tâm đến những tiếng thét gào, những đớn đau, những chết chóc xung quanh, nó lạnh lùng, phớt lờ một cách vô cảm với những gì đang diễn ra. Phải chăng hình ảnh được coi là hiện thân cho sức mạnh của nhân dân Tây Ban Nha, giờ đây đã bị biến thành sự tàn độc và bạo lực đang quay lại tàn sát, gây ra đau thương, mất mát, chết chóc cho chính đất nước mình! Nếu con bò tót là biểu tượng sức mạnh cũng như niềm cay đắng của Tây Ban Nha về thảm họa trước mặt, thì con ngựa lại là hiện thân của hình ảnh người dân Tây Ban Nha đang ngơ ngác, tuyệt vọng trong đau thương, nó đứng ngay dưới bóng đèn đang tỏa sáng giống như con mắt đang mở to để thu nhận, soi xét những gì đang xảy ra. Con ngựa bị một mũi tên đâm trúng ngực, miệng nó há to làm cho người xem hình dung ra tiếng rống thảm thiết vì thân thể đầy thương tích đau đớn của mình. Hình ảnh này một lần nữa là minh chứng cho việc các nạn nhân từ con người đến con vật đều quá bất ngờ với sự việc vừa chợt ập đến. Thân thể của con ngựa với cái miệng há hốc và cái lưỡi nhọn phủ đầy những đường nhỏ nhìn xa giống như những tờ báo. Đây có thể là ảo ảnh của những bài báo, những thông tin về vụ đánh bom mà Picasso đã đọc được trong thời gian này.

Trong thảm cảnh đấy, người xem còn thấy một người đàn ông với một bàn tay bị băm nát và một tay đang cầm rất chặt cây kiếm ngắn bị gãy, thân thể anh bị xé nát ra nhiều mảnh. Anh là người đàn ông duy nhất trong bức tranh này, bởi ngoài những con vật thì những nhân vật còn lại của bức tranh đều là phụ nữ. Và cuối cùng, ở góc trên cùng bên trái, hình ảnh con bồ câu đã bị gãy cánh, đôi cánh không còn nguyên vẹn, thân xác rời rã vì những vết thương. Loài chim tượng trưng cho hòa bình đã bị thương. Đây là một hình ảnh mang tính ẩn dụ vô cùng sâu sắc và thâm thúy – hòa bình không còn nữa, nó đã bị chiến tranh cướp mất trong ngày bi thảm này.

Trong bức Guernica, bên cạnh sự tương phản sáng tối, các đường nét gãy gập, lộn xộn thì Picasso còn dụng ý chỉ sử dụng chủ yếu hai màu đen, trắng, vì thế mà cuộc oanh tạc càng trở nên khủng khiếp hơn, kinh hoàng hơn. Bức tranh làm tôi nhớ đến những năm tháng phải sống dưới làn bom đạn Mỹ. Ai đã từng trải qua thời gian chiến tranh thì mới có thể thẩm thấu được những điều họa sĩ muốn truyền tải trong bức tranh này. Chiến tranh đã đi qua từ lâu nhưng những đứa trẻ như tôi ngày đó vẫn nhớ như in và cảm thấy rùng mình sợ hãi mỗi khi nhớ lại. Cũng như bức tranh Guernica dù đã ra đời cách đây 85 năm nhưng giá trị của nó vẫn còn nguyên vẹn và còn hơn thế nữa, khi mà hiện nay cuộc chiến giữa Nga và Ukraina chẳng biết đến bao giờ mới kết thúc.

Picasso quả thật có lý khi nói: “Trước đây tôi đã tin và bây giờ vẫn tin rằng các nghệ sĩ sống và là m việc theo những giá trị tinh thần không thể và không được thờ ơ với những xung đột, mà trong đó những giá trị cao nhất của nhân loại và của nền văn minh bị đe dọa”. Và ông xem tranh như là một thứ vũ khí để tấn công lại kẻ thù. Theo ông: “Bạn tin người nghệ sĩ là như thế nào? Một kẻ ngốc chỉ có mắt nếu anh ta là họa sĩ, chỉ có tai nếu anh ta là nhạc sĩ hoặc là một cây đàn cho tất cả cung bậc của trái tim nếu là thi sĩ hay ngay cả là người võ sĩ, chỉ có những cơ bắp. Hoàn toàn ngược lại, người nghệ sĩ cùng một lúc là kẻ liên quan đến lĩnh vực chính trị, luôn thức tỉnh trước những sự kiện tan tác, nóng bỏng hay là những sự kiện êm đềm của thế giới, hoàn toàn đặt mình vào diễn biến của sự kiện. Làm sao mà có thể dửng dưng với những người khác, và dựa trên một sự thanh thản tháp ngà nào mà anh ta tách ra khỏi từ một cuộc sống mà những người đó mang lại cho anh một cách phong phú? Không, hội họa không thể được tạo ra để trang trí những căn hộ. Đó là một công cụ chiến tranh để tấn công kẻ thù và phòng thủ trước kẻ thù”. Cuối cùng, người ta đã thấy Picasso vẽ về chiến tranh. Ông vẽ về đề tài này bởi vì như ông nói: “Tôi chưa hềvẽ chiến tranh bởi vì tôi không thuộc vào loại họa sĩ như một nhà nhiếp ảnh đi tìm đề tài. Nhưng không nghi ngờ gì, chiến tranh tồn tại trong những bức tranh mà tôi đã vẽ. Sau này có thể, một nhà sử học sẽ chứng minh rằng hội họa của tôi đã thay đổi do ảnh hưởng của chiến tranh”.

Có một bức tranh khác cũng được ra đời vào năm 1937 từ cảm hứng của những phác thảo ở nhóm hình ảnh mẹ và con trong bức tranh Guernica, đó là bức La femme qui pleure (1937) (Người đàn bà khóc) cũng là một trong những bức tranh rất nổi tiếng của Picasso.

Khác với việc hầu như chỉ sử dụng hai màu đen, trắng và đường nét tương đối đơn giản trong bức Guernica thì với bức Người đàn bà khóc, Picasso đã sử dụng màu sắc sặc sỡ hơn, các đường nét đậm với rất nhiều hình dạng và những mặt phẳng góc cạnh phức tạp. Chủ đề đương đại về sự đau khổ được ông thể hiện cô đọng qua hình ảnh người phụ nữ đang khóc. Ở ngay trung tâm bức tranh, hình ảnh của một người phụ nữ có nét mặt méo mó, xám đen, đau buồn, tuyệt vọng. Picasso miêu tả đôi mắt vô cùng ấn tượng, nó chứa đầy nước, khiến người xem có cảm giác chúng như bị lồi ra. Cô ấy đội cái mũ có màu đỏ son, xanh lá cây, vàng, tím và xanh lam đậm, những màu sắc này tạo cảm giác nỗi đau đớn thể hiện trên khuôn mặt cô gái càng đậm đặc hơn. Đôi mắt với cái nhìn nghiêng và nhìn thẳng rất quen thuộc trong tranh của Picasso đã thu hút được sự chú ý của người xem. Nỗi thống khổ của cô ấy được Picasso khắc họa qua những góc cạnh và đường nhọn hoắt khi mô tả các nét trên khuôn mặt, đôi lông mày nhíu lại, những giọt nước mắt lã chã rơi. Những đốt ngón tay có màu xanh nhợt nhạt nắm chặt chiếc khăn tay và hình ảnh cái miệng cô ấy cắn chặt vào khăn đã làm cho sự đau khổ, bi thương được đẩy lên đến đỉnh điểm. Đó cũng chính là điều ám ảnh khôn nguôi đối với người xem bức tranh này. Điều gì đã khiến cô ấy phải rơi nước mắt đau đớn như vậy? Những giọt nước mắt như đặc quánh lại chứng tỏ cô ấy khốn khổ và tuyệt vọng đến tột cùng.

La femme qui pleure (1937)

Rời Người đàn bà khóc, tôi đến bên bức tranh Les Demoiselles d’Avignon (Các cô nàng Avignon), mà Picasso đã sáng tác khoảng những năm 1906-1907. Lịch sử hội họa thế giới cho thấy, vào những năm đầu của thế kỷ XX, các họa sĩ không còn vẽ tranh cho nhà thờ hay giới quý tộc nữa mà họ vẽ cho chính họ. Picasso cũng ở trong trào lưu ấy và Les Demoiselles d’Avignon là bức mà ông vẽ cho riêng bản thân mình. Ông đã suy nghĩ rất nhiều, dành không ít giấy bút và thời gian cho việc phác họa khi ông chỉ mới 26 tuổi. Sau khi hoàn tất, ông mang bức tranh khoe với mọi người nhưng hoàn toàn không được ai đón nhận kể cả Matisse, người có chung niềm say mê điêu khắc châu Phi với Picasso. Cú sốc này lớn đến nỗi, tưởng rằng ông sẽ từ bỏ hội họa và không còn có thể tiếp tục vẽ tranh được nữa. Picasso đã thất bại vì không có ai chấp nhận phong cách hội họa quá mới mẻ này của ông. Nhưng cũng có một điều vô cùng quan trọng mà không ai có thể phủ nhận được rằng, để vẽ bức tranh Les Demoiselles d’Avignon, ông đã phải tìm tòi, học hỏi và suy nghĩ rất thấu đáo về những việc mà bản thân ông mong muốn được làm. Phải mất một thời gian dài sau đó ông mới đứng dậy được và nhận ra rằng nhờ những vấp ngã đó để ông có được thành công sau này. Tôi thầm nghĩ, nếu ngày đó, sau khi Picasso gặp thất bại và bỏ cuộc thì lịch sử hội họa không biết sẽ như thế nào? Trong suốt thời gian tôi tham gia dạy kỹ năng mềm cho sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh, cứ mỗi khi đề cập đến vấn đề thất bại của các danh nhân, tôi thường kể cho sinh viên nghe về thất bại này của Picasso và đôi khi chúng tôi cùng nhau tìm hiểu bức tranh Les Demoiselles d’Avignon.

Trong Les Demoiselles d’Avignon, Picasso gần như muốn phá hủy, muốn bẻ gãy tất cả quy chuẩn trong việc mô tả về sắc đẹp của phụ nữ, nó đã chống lại những gì mà người xem vẫn nghĩ về nét đẹp của phụ nữ thì phải mềm mại, thanh tao, dịu dàng... Trước khi vẽ bức tranh này, Picasso đã từng xem và tìm hiểu về điêu khắc Tây Ban Nha và châu Phi, loại hình điêu khắc chứa những yếu tố cổ xưa. Những khám phá của Picasso về nghệ thuật châu Phi đã ảnh hưởng, thúc đẩy họa sĩ đi đến phong cách vẽ từ những hình dạng thiên nhiên thành những biến đổi hoàn toàn của hình học và cuối cùng là biến dạng hoàn toàn.

Bức tranh Les Demoiselles d’Avignon mô tả hình ảnh năm người phụ nữ khỏa thân trong những tư thế khác nhau, trước khung cảnh là tấm ga trải giường nhàu nhĩ. Từ hình thể đến khuôn mặt của các cô gái đều bị làm cho méo mó, góc cạnh, ít nữ tính, không còn thấy các đường cong cơ thể như các tác phẩm khỏa thân thường thấy. Cả năm người đang ở cạnh nhau nhưng người xem có cảm giác không có sự gần gũi, kết nối giữa họ, dường như họ là những người xa lạ với nhau. Cơ thể của ba người ở phía bên trái của bức tranh được mô tả một cách đối xứng, cả ba đều có khuôn mặt giống người Tây Ban Nha thời cổ đại. Ở ngoài cùng bức tranh, một cô gái mà từ vai xuống hông được che bằng một tấm vải mỏng màu hồng, ngực và chân để hở, cánh tay phải để dọc theo thân trong khi cánh tay trái giơ cao lên phía sau. Cô gái bên cạnh có bàn tay phải gối sau đầu, khuỷu tay giơ lên, tay trái đang kéo một tấm trải giường che ngang phần đùi trái, hai chân bắt chéo vào nhau. Còn cô gái thứ ba thì phần thân dưới cũng được che hờ hững bằng lớp vải mỏng màu trắng. Từ kiểu dáng này, ta có thể đoán được, thực ra cả ba cô gái không phải đang đứng mà họ đang trong tư thế nằm ngửa. Tiếp theo, ta hãy quan sát hai người phụ nữ bên phải bức tranh, cả hai đều đeo mặt nạ che bớt một phần khuôn mặt. Một cô gái đang ngồi, có kích thước giữa đầu và thân không cân đối, chân xoạc ra rồi đột ngột quay đầu lại làm cho khuôn mặt bị biến đổi, như đang nhìn thẳng vào người xem. Cũng như cơ thể, các khuôn mặt ở trong bức tranh này được Picasso thể hiện rất đơn giản. Ông tập trung thể hiện sự mệt mỏi, hốc hác của các cô gái qua những đôi mắt mở to, hốc mắt đen, trũng sâu. Khuôn mặt của họ được thể hiện vừa như theo chiều nghiêng, vừa như theo chiều trực diện với biểu cảm như thể họ đang ưu tư, phiền muộn về một điều gì đó.

Les Demoiselles d’Avignon (1906-1907)

Trong bức tranh này, người xem không hề thấy viễn cảnh, không có không gian đằng sau hoặc ở giữa. Chỉ có những tấm ga trải giường tạo cảm giác cũ kĩ, nhàu nát bởi các nét vẽ gấp khúc xen lẫn giữa các nhân vật. Người xem cũng nhận ra cả năm nhân vật trong tranh đều được tác giả mô tả với sự tuân thủ theo những chuẩn mực hình thức hoàn toàn triệt để về hình học, đồng thời kết hợp giữa điêu khắc châu Phi và Tây Ban Nha, rồi thỉnh thoảng lại làm biến dạng chúng. Cuối cùng, vì sự vắng mặt hoàn toàn của ánh sáng và bóng tối mà người xem cũng nhận ra rằng, các nhân vật này đã được đặt trong một bối cảnh không có thực. Chính vì vậy, người ta đã cho rằng đây chính là bức tranh đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa lập thể. Tác phẩm cũng gần như thâu tóm được toàn bộ dòng chảy lịch sử của nghệ thuật và được xem như là nguồn gốc của cái mà về sau người ta gọi là nghệ thuật hiện đại.

Theo Picasso: “Chủ nghĩa lập thể không phải là một hạt cũng không phải là sự nảy mầm của nghệ thuật mới: nó thể hiện một giai đoạn của sự phát triển những dạng hình ảnh nguyên thủy. Những dạng được tạo ra này có quyền được tồn tại độc lập. Nếu hiện nay chủ nghĩa lập thể vẫn ở trong trạng thái sơ khai thì một dạng mới của chủ nghĩa lập thể chắc sẽ phải được sinh ra về sau. Người ta cố gắng giải thích chủ nghĩa lập thể bằng toán học, bằng hình học, bằng phân tâm học… Trường phái lập thể theo đuổi những mục tiêu tạo hình đủ cho bản thân mình. Chúng ta định nghĩa những thứ đó như là những phương tiện để biểu đạt những thứ mà lý trí của chúng ta, con mắt của chúng ta cảm nhận trong giới hạn của những khả năng mà hình vẽ và màu sắc có được. Thật là một nguồn vui bất tận bất ngờ và một sự khám phá”.

Trong những năm làm Postdoc ở Paris, lúc con trai tôi tầm 10 tuổi, tôi thường dẫn con vào thăm bảo tàng Picasso ở khu phố Le Marais. Một phần vì bảo tàng ngay gần chỗ chúng tôi ở, một phần vì với tranh của Picasso thì mẹ con tôi có thể cùng nhau chơi trò đi tìm các bộ phận trong cơ thể, vì thế đây là bảo tàng duy nhất có thể làm cho một bé trai hiếu động như con tôi ở lại xem tranh với thời gian lâu nhất. Bây giờ nghĩ lại những bài học về hội họa qua trò chơi như thế cũng phần nào tác động được vào tâm trí một đứa bé để rồi sau này đi đến đâu thì điều đầu tiên mà đứa bé năm xưa ấy muốn tìm đến là các bảo tàng. Còn với tôi thì niềm yêu thích tranh của Picasso cứ thế từ từ thấm dần nên hễ có triển lãm nào có tranh của Picasso là tôi sẽ đi xem ngay.

Tôi nhớ lại tại triển lãm ở quỹ Louis Vuitton, tôi đã được xem bức tranh La Lecture (Đọc sách), do Picasso vẽ năm 1932. Đây là bức tranh mà Picasso mô tả về chân dung của Marie Thérèse Walter, một trong những người mẫu và nàng thơ của ông. Trong bức tranh này, người xem sẽ nhận ra Picasso miêu tả khuôn mặt và hình dáng của người phụ nữ mềm mại, nữ tính hơn chứ không thô ráp và góc cạnh như trong bức Les Demoiselles d’Avignon mà ta vừa xem. Nàng thơ Marie Thérèse có khuôn mặt hình trái tim, đôi mắt giống hoàng hậu Ai Cập cổ. Cơ thể của cô được mô tả bằng những đường cong mềm mại và gợi cảm. Cô đang mơ màng thả hồn vào đâu đó và dường như không quan tâm đến cuốn sách trên đầu gối của mình. Khuôn mặt với biểu cảm thư thái gợi ra một tâm trạng thoải mái và vô cùng hạnh phúc. Picasso sử dụng các mảng màu đỏ, xanh đen và hồng phấn đan xen, hài hòa cùng độ tương phản của các đường kẻ sọc màu xanh xám, vàng của phần tựa lưng và tay ghế ngồi làm cho các đường cong của cơ thể Marie Thérèse càng uyển chuyển và quyến rũ hơn.

La Lecture (1932)

Giống như Đọc sách thì bức Femme aux cheveux jaunes (Người phụ nữ tóc vàng) được vẽ vào năm 1931, cũng là sự mô tả về thân thể ngọt ngào và bộ tóc vàng của Marie Thérèse. Rõ ràng Marie Thérèse đã trở thành nàng thơ và là một chủ đề chính, gần như là cố định trong rất nhiều tác phẩm của Picasso. Ông thường vẽ Marie khi cô đang đọc sách, đang ngắm mình trong gương hay cả khi cô đang ngủ, và ông thường thể hiện những hình ảnh đó một cách thân mật nhất.

Trên khuôn mặt nhìn nghiêng của Marie Thérèse, Picasso dùng một đường cong duy nhất và liền mạch liên tục từ trán đến mũi. Người xem cũng nhận ra biểu tượng này đã từng xuất hiện trong nhiều bức tranh khác khi ông miêu tả về những người phụ nữ của ông. Những đường lượn sóng của các bộ phận cơ thể từ cánh tay, khuôn ngực… đều được thể hiện dưới dạng tròn, mềm mại và các tông bão hòa. Điều đó cho thấy rằng họa sĩ đã đạt được đến đỉnh cao trong hội họa siêu thực. Khuôn mặt nhìn nghiêng vô cùng thánh thiện, màu sắc sống động, tươi tắn từ mái tóc, đến những đường kẻ sọc màu đỏ và xanh của chiếc ghế mà Picasso đã chọn cho bức tranh này, làm cho người xem nghĩ rằng Marie Thérèse đang chìm vào giấc mơ nhưng không đoán được là cô đang mơ về điều gì.

Femme aux cheveux jaunes (1931)

Một lần khác, cũng ở quỹ Louis Vuitton, tôi lại có dịp xem tranh của Picasso, lần này tôi được xem rất nhiều bức tranh của ông, trong đó tôi đặc biệt chú ý đến bức tranh Amitié, (Tình bạn) ra đời năm 1908, được Picasso thể hiện tương đối xù xì, đơn giản nhưng rõ ràng, dễ phân biệt trên nền tranh màu tối. Bức tranh cho người xem thấy một bố cục không phổ biến trong hội họa. Màu sắc được sử dụng ở đây là nâu, vàng đỏ, xanh lá cây đậm khiến người xem có cảm giác như ngửi được mùi vị nồng nồng, ngai ngái của đất. Những sắc thái ấm nóng của màu sắc đã chỉ ra cho người xem thấy rằng hình ảnh này chỉ có thể là ở châu Phi. Khuôn mặt của hai người phụ nữ trong tranh được thể hiện dưới dạng những ký hiệu, có vẻ to và thô, như kiểu nó được cấu tạo bởi một phần bằng gỗ. Vì thế, ta thấy những khuôn mặt góc cạnh ấy trông giống như những chiếc mặt nạ của bức tượng. Cơ thể của họ lại được vẽ dưới dạng hình học, được nhấn mạnh bằng những đường tối, vì đó là những gì tiêu biểu nhất cho trường phái lập thể. Trong bức Amitié này, Picasso đã nhấn mạnh tới bố cục tương phản và nhịp điệu của các dạng, các màu sắc và các đường nét. Người xem có thể đi qua góc cao được làm cho tối đi rồi bước đến những chỗ có sắc thái sáng hơn.

Amitié (1908)

Bức tranh Dryad cũng được Picasso vẽ trong năm 1908, là giai đoạn bắt đầu mối quan hệ với Braque. Hình ảnh cô gái ở ngay trung tâm bức tranh được Picasso mô tả với khuôn mặt vô hồn giống như mặt nạ, hình dáng thì vừa giống tư thế đứng nhưng cũng vừa giống tư thế ngồi. Cơ thể của cô được mô tả một cách thô ráp, không cân đối bằng những khối nhô ra, có cảm giác như là một bức tượng bằng gỗ vậy. Ở bức tranh khỏa thân này, Picasso sử dụng phong cảnh xung quanh gồm các cành cây, các mặt phẳng và các đường nét dày, đây là điều hiếm hoi trong tranh miêu tả phụ nữ của ông.

Dryad (1908)

Tôi có thói quen khi xem tranh của trường phái lập thể là thường bắt đầu xem bức tranh mà nó không gây cho tôi những định kiến trước. Sau đó, từ từ tiếp cận tác phẩm như kiểu xem người ta chế tác một viên đá từ dạng thô khi mới bắt đầu bị đẽo gọt, rồi quan sát tất cả bề mặt của nó và bám vào một chi tiết nào đó có thể tạo ra một chìa khóa cho tổng thể và cuối cùng buông mình theo cảm xúc. Theo nguyên tắc đó, tôi lần lượt xem những bức tranh còn lại của cuộc triển lãm như: Femme nue assise (1908); Femme à l’éventail (1908); Trois femmes (1908); Compotier, Grappe de raisin, Poire coupée (1914); Le Violon (1912)... tất cả bức tranh này đều mang đến cho tôi thật nhiều cảm xúc.

Năm 2016, tôi được xem một triển lãm rất đặc biệt về Picasso ở Grand Palais, Paris. Một cuộc triển lãm mà theo ông Didier Ottinger, người phụ trách thì “triển lãm này thiên về tác động của Picasso đối với nghệ thuật đương đại. Picasso ngày nay là họa sĩ mà với ông, thế hệ họa sĩ mới đối thoại hoàn toàn thoải mái, hoàn toàn dễ dàng. Ngày nay Picasso thật sự là tượng đài không thể bỏ qua đối với những ai muốn dấn thân vào trong cuộc phiêu lưu sáng tạo”. Điều độc đáo của cuộc triển lãm này còn là “rất ngạc nhiên để thấy làm thế nào trong vòng mười năm, cùng những bức họa ấy, đầu tiên hoàn toàn bị bác bỏ, rồi trở nên nổi tiếng cho đến mức được xem như lời báo trước của một thế hệ mớ i sẽ sản sinh ra đầu những năm 80”. Đó là những họa sĩ như là Andy Warhol, David Hockney, Lichtenstein – họ gợi lên những cách tái biểu hiện tranh của Picasso còn phong phú hơn nhiều so với phong cách của Picasso.

Chẳng hạn, ta thấy câu trả lời cho trường phái lập thể không thuộc về một họa sĩ lập thể mà lại thuộc về David Hockney. Năm 1981, cùng với một chiếc máy ảnh polaroïde (máy chụp ảnh lấy liền) và tài năng của mình, David Hockney đã thể hiện lại trường phái lập thể với công cụ hoàn toàn đương đại. Ông xuất phát từ những suy nghĩ như sau: Mắt của chúng ta nắm bắt hàng loạt những chi tiết mà não của chúng ta ghi nhận và tập hợp lại để cho ra một cái nhìn chung của sự thực. Ông giữ lấy cho mình nguyên tắc áp dụng vào trong nhiếp ảnh từng mảnh một nhưng khi chúng được ghép lại trong một tổng thể thì sẽ cho chúng ta một cái nhìn hoàn toàn mới.

Điều này được thể hiện rõ ràng qua bức Still Life Blue Guitar mà David Hockney đã vẽ vào năm 1982 dựa theo bức tranh Guitare 'J’aime Eva' (1912) của Picasso. Thử xem lại cách nhìn về chủ nghĩa lập thể, nó là tổng hợp cách nhìn của người xem đang chuyển động quanh một chủ đề. Nghĩa là họa sĩ đi vòng quanh chủ đề và chụp tất cả các góc cạnh của chủ đề ấy qua chiếc máy ảnh palaroïde. Ông tập hợp rất nhiều hình ảnh từ khuôn mặt đến quang cảnh cùng rất nhiều tiêu điểm, trong trường hợp này chính là bức tranh Guitare 'J’aime Eva' của Picasso. David Hockney đã gom lại hàng trăm hình chụp dưới rất nhiều góc nhìn khác nhau và tạo ra bức Still Life Blue Guitar.

Guitare 'J’aime Eva' (1912). Picasso

 

Still Life Blue Guitar (1982). Davis Hockney

Quay lại với Picasso qua bức tranh Portrait de Dora Maar ra đời năm 1937, đây là bức ông vẽ chân dung của Dora Maar, cũng nằm trong khoảng thời gian mà bức Guernica xuất hiện. Dora Maar vừa là họa sĩ vừa là một nhiếp ảnh gia. Cô là một trong những nàng thơ lớn của Picasso. Trong bức tranh này, Picasso dùng các đường ngắn, sắc nét, đứt quãng để mô tả hình dáng Dora Maar đang ngồi trên ghế. Cô ấy có bộ móng tay dài màu đỏ, trang phục nhiều màu sắc tươi sáng nhưng vẫn nhã nhặn và thanh lịch, chiếc hoa tai bên phải có hình chiếc nơ xinh xắn. Cô ấy đang ngồi thư giãn với một tay chạm vào má. Người xem nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp của cô ấy cùng một lúc ở góc nhìn nghiêng và nhìn thẳng với chiếc mũi thanh tú và đôi mắt to, một đang nhìn thẳng về phía người xem, một đang nhìn về chính mình. Nhìn nét thư thái và phảng phất thoáng buồn được biểu hiện trên khuôn mặt của cô, người xem dễ dàng liên tưởng đến vẻ yên bình trong nghệ thuật cổ điển. Dù vậy, không hiểu sao xem xong bức tranh này thì hình ảnh những thanh gỗ có dạng chéo giống chữ X của chiếc ghế mà cô ấy đang tựa lưng vào vẫn cứ để lại trong lòng tôi một nỗi niềm khó tả.

Portrait de Dora Maar (1937). Picasso

Picasso lý giải về phong cách vẽ mặt nhìn nghiêng và nhìn thẳng của mình: “Mọi người chú ý rằng mũi bị xiên, trong khi đó họ không bị sốc nếu đó là một cái cầu. Nhưng mà tôi cố ý vẽ cái mũi xiên. Các bạn thấy đấy, tôi vẽ điều đó để buộc mọi người xem cái mũi. Và họ đã hiểu, hoặc về sau, họ sẽ hiểu rằng cái mũi không bị xiên. Tôi phải làm một cái gì đó để cho họ thấy chỉ một sự hài hòa hoặc là những màu sắc tuyệt hảo”.

Sau này, Lichtenstein đã lấy cảm hứng từ bức Portrait de Dora Maar của Picasso để vẽ nên bức tranh Woman with Flowered Hat vào năm 1963. Ông tái tạo lại bức tranh của Picasso bằng từ ngữ nghệ thuật tạo hình theo cách của riêng mình. Trong bức Woman with Flowered Hat, người xem bắt gặp hình ảnh quen thuộc của chiếc ghế, chiếc váy, phần đầu đội mũ và những motif khác của Picasso nhưng được ngôn ngữ Pop của Lichtenstein tạo dựng lại, tươi mới hơn từ những gì mà Picasso mang đến. Phía sau tác phẩm của ông, luôn có một khuôn mặt, một nhân vật và một huyền thoại. Lichtenstein là một tên tuổi lớn của phong trào vẽ chân dung phụ nữ với đường viền đen, màu nguyên thủy phẳng và những dấu chấm. Ông không chỉ chiếm lĩnh mà còn vượt qua được phong cách của Picasso.

Woman with Flowered Hat (1963). Lichtenstein

Tranh của Picasso không chỉ mang đến nguồn cảm hứng cho Lichtenstein, mà Warhol cũng đã tiếp nhận từ Picasso qua bức tranh Grande tête de Jacqueline au chapeau (1962) và vẽ nên bức Head (After Picasso) vào năm 1985. Warhol khác với Picasso là ông chỉ vẽ tranh từ những tranh khắc và tranh rập khuôn cho rất nhiều chân dung của Jacqueline (Jacqueline là người vợ cuối cùng, là người mẫu trong rất nhiều tác phẩm hội họa cũng như điêu khắc của Picasso, và cũng là người gìn giữ những năm tháng sáng tạo cuối cùng của ông). Khi thực hiện bức Head (After Picasso) thì Warhol đã giữ lại chất pha màu “thanh cao” của Picasso và tiếp tục thực hiện chúng dưới dạng điển hình của nghệ thuật Pop-Art.

Grande tête de Jacqueline au chapeau (1962). Picasso

Head (After Picasso) (1985). Warhol

Còn nhớ có lần tôi đi từ Cordue đến Grenade của vùng Andalousie, Tây Ban Nha, lòng tôi bỗng xốn xang, rạo rực khi nhìn thấy một biển chỉ đường đến Malaga, bởi nơi đó là quê hương của Picasso, người họa sĩ mà như ông Didier Ottinger (giám đốc cuộc triển lãm về Picasso ở Grand Palais năm 2016) đã nói: “Không nghi ngờ gì nữa, Picasso là nghệ sĩ duy nhất của thế kỷ XX có khả năng tập hợp quanh tên tuổi của mình những công trình đồsộ, đa dạng và một tính cách nổi bật mà ai cũng thấy rõ. Người ta chứng kiến quá trình hình thành của một huyền thoại có thể so sánh được với những bậc thiên tài kì vĩ của lịch sử nhân loại như Mozart, Michel-Ange, Léonard de Vinci. Picasso được thêm vào trong sốnhững thiên tài của thếgiới”.

Ngày nay, các cuộc triển lãm về Picasso vẫn thường xuyên được tổ chức ở Tây Ban Nha, Pháp và nhiều nơi trên thế giới, từ những thành phố lớn cho đến cả ở những thành phố bé nhỏ. Điển hình như Landerneau thuộc vùng Finistère của Bretagne, miền Tây Bắc nước Pháp, là một thành phố chỉ với 16.000 dân mà có đến 205.000 lượt người đến xem triển lãm tranh Picasso vào năm 2017. Tại sao vậy? Đơn giản là vì tranh và hình ảnh của Picasso quá vĩ đại, đúng như những gì được thể hiện trong bài hát Hỡi Pablo do Serge Reggiani trình bày. Tôi tạm dịch như sau:

Hỡi Pablo!

Tây Ban Nha đã có Goya và Velázquez trên tường của bảo tàng Prado của Ngươi

Tây Ban Nha đã có hồn của Don Quichotte và con lừa của Sancho.

Khi Ngươi được sinh ra từ con đại bàng, từ Carmen, Từ một thủy thủ của Colomb và của Chimène,

Từ những cánh đồng nho của vùng Andalousie và từ máu của con bò tót

Hỡi Pablo!

Pablo này, Ngươi có phải là anh em ở trần gian này

Của một vị thần kỳ quặc nào đó không?...

Pablo này, ngay cả Alcazar

Biếtrằng cái ngẫu nhiên,

Không bao giờ có.

Pablo chống lại những tên độc tài

Những kẻ giết Garcia Lorca,

Pablo này, theo cách nhìn của Ngươi

Thì chính Hugo và Mozart

Đã vẽ nên Guernica

Đã vẽ nên Guernica

Hòa bình là lời thách thức của Ngươi, lời hô xung phong và cũng là lời của con chim

Của con chim bồ câu mà Ngươi đã cho bay thoát ra từ bức tranh

Ngươi là người được cái vô tận vẽ nên

Là bầu trời xanh được phân chia trong sự huyền diệu

Và tất cả những nước như Tây Ban Nha được giải phóng khỏi tên Franco của họ.

Hỡi Pablo!