Danh ngôn
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”
“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”
(Albert Camus, Caligula)
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”
“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”
(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”
“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.
“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”
“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”
(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)
Ban Biên tập
Địa chỉ liên lạc:
1. Thơ
tho.vanviet.vd@gmail.com
2. Văn
vanviet.van14@gmail.com
3. Nghiên cứu Phê Bình
vanviet.ncpb@gmail.com
4. Vấn đề hôm nay
vanviet.vdhn1@gmail.com
5. Thư bạn đọc
vanviet.tbd14@gmail.com
6. Tư liệu
vanviet.tulieu@gmail.com
7. Văn học Miền Nam 54-75
vanhocmiennam5475@gmail.com
Tra cứu theo tên tác giả
- A. A. Fadeev
- A. Puskin
- A. T.
- Abdulrazak Gurnah
- Abraham F. Lowenthal
- Ace Le
- Ace Lê
- Adam Gopnik
- Adonis
- Adrian Horton
- Agi Mishol
- Ái Điểu
- Ajar
- Akiko Miki
- Alain Guillemin
- Alan Phan
- Alăng Văn Gáo
- Alăng Văn Giáo
- Albert Camus
- Aldous Huxley
- Aleksandr Griboedov
- Alesandr Blok
- Alex Marshall
- Alex Smith
- Alex Thai
- Alex-Thái Đình Võ
- Alexander Fadeev
- Alexander Solzhenitsyn
- Alexandra Alter
- Alexandre FERON
- Alexandre Féron
- Alice Munro
- Alina Lesik
- Alison Flood
- Allen Ginsberg
- Amanda Gorman
- Amartya Sen
- Amelia Glaser
- Amos Oz
- An Nam
- Anatole France
- Anatoly Gavrilov
- Anders Olsson
- André Breton
- André Menras
- André Menras – Hồ Cương Quyết
- André Menras Hồ Cương Quyết
- Andrea Hoa Pham
- Andrea Kendall-Taylor
- Andreas Bernard
- Andreas Fulda
- Andreas Wimmer
- Andrew Postman
- Andy Cao
- Anh Anh
- Anh Hồng
- Anh Hồng (nhà thơ)
- Ánh Liên
- Anh Nhi
- Anh Văn
- Anika Zeller
- Anna Akhmatova
- Anna Maria Bracale Ceruti
- Anna Mitchell
- Anna Schmid
- Anne Carson
- Anne Cazaubon
- Anne Hébert
- Anne Henochowicz
- Anne Nguyễn
- Annie Ernaux
- António Jacinto
- Antôn Nguyễn Trường Thăng
- Archimedes L.A. Patti
- Arlette Quỳnh Anh Trần
- Arnold Schwarzenegger
- Artem Sakharov
- Arthur Koestler
- Arty Abel
- Arvind Subramanian
- Augustina
- Aurélie Coulon
- Aurelien Breeden
- Ba Đâu Thảo
- Ba Sàm
- Bá Thụ Đàm
- Bạch Cúc
- Bạch Hoàn
- Bách Mỵ
- Bách Thân
- Bạch X. Phẻ
- Bạch Xuân Phẻ
- Badiucao
- Bakhtin
- Ban Mai
- Bàn Văn Thòn
- Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam
- Bảo Chân
- Bảo Huân
- Bảo La
- Bảo Nhi Lê
- Bảo Ninh
- Bảo Phác
- Bảo Thư
- Bảo Tích
- Bão Vũ
- Bảo Yến
- Barbara Demick
- Bashô
- Bạt Xứ
- Batrioldman
- Bauxite Việt Nam
- Bắc Đảo
- Bắc Phong
- Bằng Việt
- BB Ngô
- Bei Dao
- Benjamin Péret
- Benjamin Ramm
- Bertolt Brecht
- Bertrand Russell
- Bettina Rheims
- Bích Ngân
- Biếm họa
- Biên Cương
- Biệt Hiệu
- Bilahari Kausikan
- Bill Hayton
- Billy Collins
- Bình Nguyên Lộc
- Brahma Chellaney
- Branko Milanovic
- Brett Reilly
- Brian Pascus
- Brian Wu
- Brice Pedroletti
- Brodsky
- Bryan
- Bùi An
- Bùi Bảo Trúc
- Bùi Bắc
- Bùi Bích Hà
- Bùi Chát
- Bùi Chí Trung
- Bùi Chí Vinh
- Bùi Công Thuấn
- Bùi Công Trực
- Bùi Đức Lại
- Bùi Giáng
- Bùi Hải Quảng
- Bùi Hoàng Tám
- Bùi Hoằng Vị
- Bùi Huệ Chi
- Bùi Huy
- Bui Huy Hoi Bui
- Bùi Mai Hạnh
- Bùi Mạnh Hùng
- Bùi Mẫn Hân
- Bùi Minh Quốc
- Bùi Ngọc Tấn
- Bùi Quang Thắng
- Bùi Suối Hoa
- Bùi Thanh Hiếu
- Bùi Thanh Phương
- Bùi Thanh Tuấn
- Bùi Thụy Băng
- Bùi Tiến An
- Bùi Trân Phượng
- Bùi Trọng Hiền
- Bùi Văn Kha
- Bùi Văn Nam Sơn
- Bùi Việt Sỹ
- Bùi Vĩnh Phúc
- Bùi Xuân Bách
- Bùi Xuân Đính
- Bùi-Viết Văn Đức
- Bulgakov
- Bửu Chỉ
- C.D.
- Cái Lư Hương
- Cái Trọng Ty
- Cam Ly
- Cameron Shingleton
- Cảnh Chánh
- Cao Bảo Vân
- Cao Bình Minh
- Cao Chi
- Cao Gia An
- Cao Hành Kiện
- Cao Huy Thọ
- Cao Huy Thuần
- Cao Kim Ánh
- Cao La
- Cao Quang Nghiệp
- Cao Tần
- Cao Thị Hồng
- Cao Thu Cúc
- Cao Tự Thanh
- Cao Việt Dũng
- Cao Xuân Hạo
- Cao Xuân Huy
- Carl Bildt
- Carl O. Schuster
- Carlos Assunção
- Carolyn Mary Kleefeld
- Cát Linh
- Cẩm Tú
- Cấn Thị Thêu
- Chan Phuong
- Chanh Tam
- Charles Bo
- Charles Bukowski
- Charles S. Kraszewski
- Charles Simic
- ChatKP
- Chau Doan
- Châm Khanh
- Chân Minh
- Chân Pháp Xa
- Chân Phương
- Chân Xuân Tản Viên
- Châu Diên
- Châu Hải Đường
- Châu Hồng Thủy
- Châu Hữu Quang
- Chenn
- Chế Diễm Trâm
- Chế Lan Viên
- Chi Mai
- Chi Phương
- Chiêu Dương
- Chiêu Khiêm
- Chiharu Shiota
- Chim Hải
- Chim Trắng
- Chinh Ba
- Chính Tâm
- Chính Vĩ
- Chinua Achebe
- Chơn Không Cao Ngọc Phượng
- Christian Gampert
- Christian Welzel
- Christina Mary Hjortlund
- Christoph Giesen
- Christoph Sator
- Christopher Balding
- Christopher Goscha
- Christy Wampole
- Chu Dương
- Chu Hảo
- Chu Hoạch
- Chu Kim
- Chu Mộng Long
- Chu Quang Tiềm
- Chu Tử
- Chu Văn Lễ
- Chu Văn Sơn
- Chu Vĩnh Hải
- Chu Vương Miện
- Chu Xuân Diên
- Chung Le
- Claire Simon
- Claus Hecking
- Clay Phạm
- Clément Ghys
- Concepcion de Leon
- Connie Hoàng
- Cora Engelbrecht
- Costica Bradatan
- Cổ Ngư
- Công Nguyễn
- Cù An Hưng
- Cù Huy Hà Vũ
- Cù Mai Công
- Cù Tuấn
- Cung Minh Huân
- Cung Tích Biền
- Cung Trầm Tưởng
- Cư sĩ Minh Đạt
- D. S. Likhachev
- Da Màu
- Dạ Ngân
- Dạ Thảo Phương
- Dã Tượng
- DAD
- Dadolin Murak
- Daisetz Teitaro Suzuki
- Damien Cave
- Damien Keown
- Dan Bilefsky
- Dan Slater
- Dana Gioia
- Danh ngôn
- Dani Rodrik
- Daniel Halpern
- Daniel Hautzinger
- Daniela Prugger
- Daron Accemoglu
- David Brown
- David Gascoyne
- David Marchese
- David Weinberger
- Ðặng Thơ Thơ
- Demetrio Paparoni
- DEUTSCHE WELLE
- Di
- Di Li
- Diêm Liên Khoa
- Diễm Thi
- Diễm Tường
- Diễn đàn Thế kỷ
- Diệp Duy Liêm
- Diệp Huy
- Ðinh Cường
- Dino Buzatti
- Dipanjan Roy Chaudhury
- Dmitri Prokofyev
- Dmitry Burago
- Dmitry Muratov
- Dmitry Tsyganov
- Doãn Cẩm Liên
- Doãn Mạnh Dũng
- Doãn Mẫn
- Doãn Quốc Sỹ
- Dominique Lemieux
- Donald Inglehart
- Donna Ashworth
- Ðỗ Quang Nghĩa
- Ðỗ Quyên
- Du Tử Lê
- Dung Nguyễn
- Dũng Phan
- Dũng Trung Kqd
- Dũng Vũ
- Duy Lam
- Duy Tân
- Duy Thanh
- Duy Thông
- duyên
- Duyên Anh
- Duyên Khánh
- Dư Hoa
- Dư Kiệt
- Dư Thị Hoàn
- Dư Thu Vũ
- Dương Đại Triều Lâm
- Dương Đình Giao
- Dương Khánh Phương
- Dương Kiền
- Dương Ngạn
- Dương Nghiễm Mậu
- Dương Ngọc Thái
- Dương Như Nguyện
- Dương Phương Vinh
- Dương Thắng
- Dương Thiệu Tước
- Dương Thu Hương
- Dương Thuấn
- Dương Tú
- Dương Tường
- Dương Văn Ba
- Dương Vân
- Dylan Suher
- Đa Mi
- Đà Văn
- Đàm Hà Phú
- Đàm Hách Thành
- Đào An Khánh
- Đào Anh Kha
- Đào Công Tiến
- Đào Duy Anh
- Đào Hiếu
- Đào Lê Na
- Đào Ngọc Chương
- Đào Nguyên
- Đào Nguyễn
- Đào Nguyên Phương Thảo
- Đào Như
- Đào Phương Liên
- Đào Quang Toản
- Đào Tấn Phần
- Đào Thái Tôn
- Đào Thị Hương
- Đào Tiến Thi
- Đào Trung Đạo
- Đào Trường Phúc
- Đào Tuấn
- Đào Tuấn Ảnh
- Đào Văn Bình
- Đào Văn Thuỵ
- Đào Văn Tiến
- Đào Vũ Anh Hùng
- Đạt Nguyễn
- Đặng Anh Đào
- Đặng Bích Phượng
- Đặng Chương Ngạn
- Đặng Đình Cung
- Đặng Đình Mạnh
- Đặng Gia Mẫn
- Đặng Hà
- Đặng Hải Sơn
- Đặng Hoàng Giang
- Đặng Hồng Nam
- Đặng Hùng Võ
- Đặng Hương Giang
- Đặng Hữu
- Đặng Lưu
- Đặng Mai Lan
- Đặng Mậu Tựu
- Đăng Nguyên
- Đặng Nguyên Triết
- Đặng Phùng Quân
- Đặng Quốc Thông
- Đặng Sơn Duân
- Đặng Thái
- Đăng Thành
- Đặng Thân
- Đặng Thị Hảo
- Đặng Thơ Thơ
- Đặng Tiến
- Đặng Tiến (Thái Nguyên)
- Đặng Trung Nghĩa
- Đặng Túy
- Đặng Văn Dũng
- Đặng Văn Hùng
- Đặng Văn Ngữ
- Đặng Văn Sinh
- Đặng Vũ Vương
- Đặng Xuân Thảo
- Đặng Xuân Xuyến
- Đằng-Giao
- Đậu Anh Tuấn
- Điểm Thọ
- Đinh Bá Anh
- Đinh Cường
- Đinh Hoàng Thắng
- Đinh Hùng
- Đình Kính
- Đinh Lê Vũ
- Đinh Linh
- Đinh Ngọc Thu
- Đinh Phương
- Đinh Phương Thảo
- Đinh Quang Anh Thái
- Đinh Quang Tỉnh
- Đinh Thanh Huyền
- Đinh Thị Như Thúy
- Đinh Trường Chinh
- Đinh Từ Bích Thuý
- Đinh Từ Bích Thúy
- Đinh Văn Đức
- Đinh Vũ Hoàng Nguyên
- Đinh Ý Nhi
- Đinh Yên Thảo
- Đoàn Ánh Thuận
- Đoàn Bảo Châu
- Đoàn Cầm Thi
- Đoàn Công Lê Huy
- Đoàn Hồng Lê
- Đoàn Huy Giao
- Đoàn Huyền
- Đoàn Khắc Xuyên
- Đoàn Lê Giang
- Đoàn Nhã Văn
- Đoàn Thanh Liêm
- Đoan Trang
- Đoàn Tùng Nguyễn
- Đoàn Tử Huyến
- Đoàn Việt Hùng
- Đoàn Xuân Kiên
- Đỗ Anh Hoa
- Đỗ Anh Tuấn
- Đỗ Bích Thuý
- Đỗ Cao Bảo
- Đỗ Duy Ngọc
- Đỗ Đức
- Đỗ Đức Đông Ngàn
- Đỗ Đức Hiểu
- Đỗ Hòa
- Đỗ Hoàng Diệu
- Đỗ Hồng Ngọc
- Đỗ Hồng Nhung
- Đỗ Hữu Chí
- Đỗ Kh
- Đỗ Kh.
- Đỗ Khiêm
- Đỗ Kim Thêm
- Đỗ Lai Thuý
- Đỗ Lai Thúy
- Đỗ Lê Anh Đào
- Đỗ Mạnh Hoàng
- Đỗ Minh Tuấn
- Đỗ Nghê
- Đỗ Ngọc
- Đỗ Ngọc Thống
- Đỗ Quang Nghĩa
- Đỗ Quang Vinh
- Đỗ Quý Toàn
- Đỗ Quyên
- Đỗ Quỳnh Dao
- Đỗ Thái Bình
- Đỗ Thắng Cảnh
- Đỗ Thị Thu Trà
- Đỗ Thiên Anh Tuấn
- Đỗ Trí Vương
- Đỗ Trọng Khơi
- Đỗ Trung Quân
- Đỗ Trường
- Đỗ Tuyết Khanh
- Đồng Chuông Tử
- Đông Hoài
- Đông Hồ
- Đông Kha
- Đông Ngàn Đỗ Đức
- Đông Nghi
- Đức Ban
- Đức Đàm
- Đức Flying Bay
- Đức Hoàng
- Đức Lê
- Đức Phổ
- Đức Tâm
- Đức Tiến
- E. M. Forster
- E.E. Cummings
- E.M. Chernoivanenko
- Eamonn Butler
- Eckart Kleßmann
- Eduardo Galeano
- Edward Hirsch
- Elena Pucillo Truong
- Elias Canetti
- Ellen Bass
- Eloisa Amezcua
- Emiel Roothooft
- Emma Loffhagen
- Emmanuelle Jardonnet
- Eric Henry
- Eric Weiner
- Erica Frantz
- Erik Harms
- Erik Korling
- Euan Ward
- Éva Voszka
- Evgheni Dobrenko
- F.N.
- Federico García Lorca
- Feliks Kuznesov
- Filip Lech
- Flanny O’Connor
- Florence Noiville
- Florian Altenhöner
- France A. Córdova
- Francis Fukuyama
- Francis Fukuyma
- François Guillemot
- Frank Dikötter
- Frank O'Hara
- Frankfurt
- Fred Hiatt
- Friedrich Dürrenmatt
- Friedrich Nietzsche
- Friedrich Wilhelm Graf
- Fritz J. Raddatz
- Gã Khờ
- Gabriel García Márquez
- Gabriel Josipovici
- Gaither Stewart
- Gaiutra Bahadur
- Gary Leupp
- Gavin Butler
- Gặp gỡ và trò chuyện
- Georg Bönisch
- Georg Trakl
- George Burchett
- George Orwell
- George Perreault
- George Siemens
- Georges Condominas
- Gerhard Will
- Germain Droogenbroodt
- Giang Công Thế
- Giang Dang
- Giang Lại Đức
- Giang Nam
- Giáng Vân
- Giáo hoàng Leo XIV
- Giao Nguyễn
- Giáp Văn Dương
- Gideon Rachman
- Giuse Lê Công Đức
- Goethe
- Gonçalo Fernandes
- Gottfried Benn
- Graham Allison
- Grigory Yudin
- Günter Kunert
- Gyảng Anh Iên
- Hà Duy Phương
- Hà Dương Tuấn
- Hà Dương Tường
- Hà Đình Nguyên
- Hạ Đình Nguyên
- Hà Huy Khoái
- Hà Huy Sơn
- Hà Hương
- Hà Lệ Minh
- Hà Ngọc Hòa
- Hạ Nguyên
- Hà Nguyên Du
- Hà Nhân
- Hà Nhật
- Hà Phạm Phú
- Hà Quang Vinh
- Hà Sĩ Phu
- Hà Thanh Vân
- Hà Thế
- Hà Thị Minh Đạo
- Hà Thúc Sinh
- Hà Thủy Nguyên
- Hà Tùng Long
- Hà Tùng Sơn
- Hà Văn Tấn
- Hà Văn Thịnh
- Hà Văn Thùy
- Hà Vũ Trọng
- Hagi Kenaan
- Hai An Vu
- Hải Hạc
- Hải Ngọc
- Hai Thanh
- Hàm Anh
- Han Dang
- Hàn Giang
- Han Kang
- Hàn Vĩnh Diệp
- Hạnh Diễm
- Hạnh Nguyên
- Hạnh Phước
- Hạnh Viên
- Hannah Beech
- Hào Thiện Nhân
- Hari Kunzru
- Haruki Murakami
- Hân Hương
- Heiko Buschke
- Heinrich Heine
- Henri Michaux
- Henry David Thoreau
- Henry Wadsworth Longfellow
- Heriberto Araújo
- Hermann Hesse
- Hermann von Helmholtz
- Hiền Trang
- Hiệp Ikaria
- Hiệu Minh
- Hiếu Tân
- Ho Lai-Ming
- Hòa Bình Lê
- Hoa Níp
- Hoa Quỳnh Nguyễn
- Hoài Hương
- Hoài Nam
- Hoài Phương
- Hoài Thanh
- Hoài Việt
- Hoài Ziang Duy
- Hoan Doan
- Hoàn Nguyễn
- Hoàng Ánh
- Hoàng Anh Tuấn
- Hoàng Cát
- Hoàng Cầm
- Hoàng Chí Hiếu
- Hoàng Chính
- Hoàng Cường Long
- Hoàng Dũng
- Hoàng Dương Tuấn
- Hoàng Đăng Khoa
- Hoàng Đỗ
- Hoàng Đông
- Hoàng Đức Truật
- Hoàng Hà
- Hoàng Hải Thủy
- Hoàng Hải Vân
- Hoảng Hãn
- Hoàng Hôn
- Hoàng Hưng
- Hoàng Khởi Phong
- Hoàng Kim Oanh
- Hoàng Lại Giang
- Hoàng Lan
- Hoàng Lan Anh
- Hoàng Lan Chi
- Hoàng Lê
- Hoàng Lệ
- Hoàng Linh
- Hoàng Long
- Hoàng Luận
- Hoàng Mai Ðạt
- Hoàng Mạnh Hải
- Hoàng Minh Trí
- Hoàng Minh Tường
- Hoàng Nam
- Hoàng Nga
- Hoàng Ngọc Biên
- Hoàng Ngọc Hiến
- Hoàng Ngọc Nguyên
- Hoàng Ngọc Tuấn
- Hoàng Nguyễn
- Hoàng Nguyên Vũ
- Hoàng Nhơn
- Hoàng Nhuận Cầm
- Hoàng Phạm Gia Khang
- Hoàng Phong Tuấn
- Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Hoàng Quân
- Hoàng Quốc Dũng
- Hoàng Quốc Hải
- Hoàng Thị Hường
- Hoàng Thị Thu Thủy
- Hoàng Thu Phố
- Hoàng Thúy
- Hoàng Thuỵ Anh
- Hoàng Tiến
- Hoàng Trung Thông
- Hoàng Tuấn Công
- Hoàng Tuấn Phổ
- Hoàng Tùng
- Hoàng Tuỵ
- Hoàng Tư Giang
- Hoàng Văn Sơn
- Hoàng Việt
- Hoàng Vũ Sơn
- Hoàng Vũ Thuật
- Hoàng Xuân Phú
- Hoàng Xuân Sơn
- Hoàng Xuân Tuyền
- Hoàng Yến
- Honoré de Balzac
- Horst Bienek
- Howard Gardner
- Hồ Anh Thái
- Hồ Bạch Thảo
- Hồ Bất Khuất
- Hồ Diệu Vân
- Hồ Dzếnh
- Hồ Đắc Vũ
- Hồ Đình Nghiêm
- Hồ Hải Thụy
- Hồ Hữu Tường
- Hồ Khánh Vân
- Hồ Minh Tâm
- Hồ Ngọc Đại
- Hồ Như
- Hồ Phú Bông
- Hồ Thanh Bình
- Hồ Tịnh Tình
- Hồ Trường An
- Hồ Tú Bảo
- Hội những người ủng hộ GS. Chu Hảo
- Hồng Anh
- Hồng Hoang
- Hồng Lê Thọ
- Hồng Phú
- Huệ Hương Hoàng
- Huguette Bertrand
- Huong Nguyen
- Huy Bảo
- Huy Cận
- Huy Đức
- Huy Tưởng
- Huyền Thương
- Huỳnh Duy Lộc
- Huỳnh Hoa
- Huỳnh Hữu Uỷ
- Huỳnh Hữu Ủy
- Huỳnh Kim Báu
- Huỳnh Kim Quang
- Huỳnh Lê Nhật Tấn
- Huỳnh Liễu Ngạn
- Huỳnh Ngọc Chênh
- Huỳnh Như Phương
- Huỳnh Sơn Phước
- Huỳnh Tấn Mẫm
- Huỳnh Thế Du
- Huỳnh Thục Vy
- Huỳnh Trọng Khang
- Huỳnh Tuấn Anh
- Hứa Chương Nhuận
- Hứa Lập Chí
- Hương Lan
- Hường Thanh
- Hương Thủy
- Hữu Danh
- Hữu Đông
- Hữu Loan
- Hữu Mai
- Hữu Phương
- Ian Bui
- Ian Johnson
- Igor Poglazov
- Iio Sōgi
- Ilza Burchett
- Inrasara
- Iris Radisch
- Isabella Kwai
- Issa
- Issac Bashevis Singer
- Italo Calvino
- Iya Kiva
- J. M. Lotman
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
- Jacques Attali
- Jacques Prévert
- Jacqui Palumbo
- Jake Johnson
- James Borton
- James Daniel Spears
- James G. Zumwalt
- James Grossman
- James Joyce
- James Poniewozik
- James Stavridis
- James WrightJuan Felipe Herrera
- Jang Kều
- Janos Kornai
- Jared Carters
- Jason Lopata
- Jason Morris-Jung
- Jay Nordlinger
- Jaya K.
- Jean Chesnaux
- Jean d'Ormesson
- Jean Piaget
- Jean Przyluski
- Jean Toomer
- Jean-Jacques Brochier
- Jean-Jacques Roth
- Jean-Louis Rocca
- Jean-Luc Chalumeau
- Jean-Marc Roberts
- Jean-Patrick Géraud
- Jean-Paul Sartre
- Jefferson Cowie
- Jeffrey Hanfover
- Jeffrey Nall
- Jessica Swoboda
- Jessie Yeung
- Jiayang Fan
- Jimmy Carter
- Joan Hua
- João Guimarães Rosa
- Joaquin Nguyễn Hòa
- Johann Grolle
- John Ashbery
- John Barrow
- John Cheever
- John D. Howard
- John Freeman
- John Keane
- John McCain
- Jon Fosse
- Jonathan Dee
- Jonathan London
- Jonathan Scott Holloway
- Jörg Wischermann
- Jorge Amado
- Jorge Luis Borges
- Joschka Fischer
- Josée Lapointe
- Joseph Wong
- Joseph Wright
- Josh Rogin
- Joshua Rothman
- Juan Pablo Cardenal
- Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo
- Julia Cagé
- Julie Thi Underhill
- Julio Cortázar
- Jun’ichiro Tanizaki
- Kahil Gibral
- Kai Hoàng
- Kale
- Kalynh Ngô
- Kamel Daoud
- Kao Phú
- Kap Seol
- Karel Appel
- Karen Tongson
- Kate Chopin
- Katie Razzall
- Kazuo Shiraga
- Kenneth Nguyen
- Kenzaburo Oe
- Keorapetse Kgositsile
- Kerstin Holm
- Kều Jang
- Kha Lương Ngãi
- Kha Tiệm Ly
- Khải Đơn
- Khái Hưng
- Khaled Juma
- Khaly Chàm
- Khang Quốc Ngọc
- Khánh
- Khánh Bình
- Khánh Duy
- Khánh Khánh
- Khánh Ly
- Khánh Mai
- Khanh Nguyen
- Khanh Pham
- Khánh Phương
- Khánh Trâm
- Khánh Trường
- Khét
- Khế Iêm
- Khiêm Nhu
- Khổng Đức Thiêm
- Khuất Đẩu
- Khuất Thu Hồng
- Khuê Minh Nguyệt
- Khuê Phạm
- Khuyết Thư
- Kiệm Hoàng
- Kiến Văn
- Kiệt Anh Hùng
- Kiệt Tấn
- Kiều Duy Vĩnh
- Kiều Loan
- Kiều Mai Sơn
- Kiều Maily
- Kiều Phong
- Kiều Thị An Giang
- Kim Ân
- Kim Chi
- Kim Dung
- Kim Hạnh
- Kim Thúy
- Kim Trần
- Kim Yi-deum
- Kinh Bắc
- Kính Hòa
- Klaus Wiegerefe
- Kobayashi Issa
- Kúm
- Kumar Vikram
- Kurt-Martin Mayer
- Kỳ Duyên
- Kyoko Numano
- L. N.
- L. N. Tolstoy
- L. V. H.
- La Khắc Hoà
- La Khắc Hòa
- Lã Nguyên
- Lại Nguyên Ân
- Lam Điền
- Lam Hạnh
- Lam Ngọc
- Lam Thái Hòa
- Lan Nguyên
- Lang Anh
- Langston Hughes
- LAP
- Larry Diamond
- Lars Vargö
- László Krasznahorkai
- Laura Cappelle
- Laurent Sagalovitsch
- Lawrence Ferlinghetti
- Lâm Chương
- Lâm Duyên
- Lâm Hạnh
- Lâm Lê
- Lâm Ngân Mai
- Lâm Quang Mỹ
- Lâm Thị Mỹ Dạ
- Lenin
- Leon Trotsky
- Leonard Cohen
- Leonardo da Vinci
- Lê An Thế
- Lê Anh Hoài
- Lê Anh Hùng
- Lê Ân
- Lê Bá Đảng
- Lê Bảo Nhi
- Lê Bích Vượng
- Lê Chiều Giang
- Lê Công Định
- Lê Công Giàu
- Lê Công Tư
- Lê Ðình Nhất Lang
- Lê Dũng
- Lê Duy Nam
- Lê Đạt
- Lê Đăng Doanh
- Lê Đình Cai
- Lê Đình Khẩn
- Lê Đình Thắng
- Lê Đỗ Huy
- Lê Đức Dục
- Lê Đức Thôn
- Lê Giang Trần
- Lê Hải
- Lệ Hằng
- Lê Hiệp
- Lê Hoài Nguyên
- Lê Hoàng Diễm Trang
- Lê Hoàng Lân
- Lê Học Lãnh Vân
- Lê Hồ Quang
- Lê Hồng Hà
- Lê Hồng Hiệp
- Lê Hồng Lâm
- Lê Hùng
- Lê Hùng Vọng
- Lê Huy Hòa
- Lê Huyền Ái Mỹ
- Lê Huỳnh Lâm
- Lê Hữu
- Lê Hữu Khoá
- Lê Hữu Khóa
- Lê Hữu Nam
- Lê Kế Lâm
- Lê Khải
- Lê Kim Duy
- Lê Ký Thương
- Lê Lạc Giao
- Lê Luân
- Lê Mã Lương
- Lê Mai
- Lê Mai Lĩnh
- Lê Mạnh Chiến
- Lê Mạnh Đức
- Lê Minh
- Lê Minh Chánh
- Lê Minh Hà
- Lê Minh Hiền
- Lê Minh Khuê
- Lê Minh Phong
- Lê Ngân Hằng
- Lê Ngọc Luân
- Lê Ngọc Sơn
- Lê Nguyễn
- Lê Nguyễn Duy Hậu
- Lê Nguyễn Hương Trà
- Lê Nguyên Long
- Lê Nguyên Phương
- Lê Nguyên Vỹ
- Lê Như Bình
- Lê Oa Đằng
- Lê Phan
- Lê Phú Khải
- Lê Quang
- Lê Quang Đức
- Lê Quảng Hà
- Lê Quang Hợp
- Lê Quang Thành
- Lê Quân
- Lê Quốc Anh
- Lê Quỳnh
- Lê Quỳnh Mai
- Lê Sa Long
- Lê Si Na
- Lê Sơn
- Lê Tất Đạt
- Lê Tất Điều
- Lê Thanh Dũng
- Lê Thanh Hải
- Lê Thanh Phong
- Lê Thanh Trường
- Lê Thanh Tuấn
- Lê Thân
- Lê Thế Thắng
- lê thi diem thuý
- Lê Thị Hồng Minh
- Lê Thị Huệ
- Lê Thị Hường
- Lê Thị Oanh
- Lê Thị Thanh Tâm
- Lê Thị Thấm Vân
- Lê Thiết Cương
- Lê Thiếu Nhơn
- Lê Thọ Bình
- Lê Thời Tân
- Lê Thời Thôi
- Lê Thu Hiền
- Lê Thúy Bảo Liên
- Lê Tiên Long
- Lê Trí Tuệ
- Lê Trinh
- Lê Trọng Nghĩa
- Lê Trọng Nguyễn
- Lê Trung Tĩnh
- Lê Trường Thanh
- Lê Tuấn Huy
- Lê Tuyết Hạnh
- Lê Văn Bỉnh
- Lê Văn Hảo
- Lê Văn Hiếu
- Lê Văn Hòa
- Lê Văn Hùng Vĩ
- Lê Văn Luân
- Lê Văn Sơn
- Lê Văn Trung
- Lê Văn Tùng
- Lê Vĩnh Tài
- Lê Vĩnh Triển
- Lê Vũ Trường Giang
- Lê Xuân Khoa
- Lê Xuyên
- Li Edelkoort
- Li Tana
- Li Zhongqin
- Liêu Diệc Vũ
- Liêu Thái
- Liễu Trương
- Linh Nguyên
- Linh Phạm
- Linh Văn
- Linh Vân
- Linh-Chân Brown
- LKH
- Lorca
- Louis Aragon
- Louise Glück
- Lộc Vàng
- Lợi Phan Mai
- Luân Hoán
- Ludwig von Mises
- Luke Hunt
- Luke Turner
- Lữ Kiều
- Lữ Minh Trí
- Lữ Quỳnh
- Lương Đào
- Lương Thiệu Quân
- Lương Thư Trung
- Lưu Á Châu
- Lưu Bình Nhưỡng
- Lưu Diệu Vân
- Lưu Đình Long
- Lưu Đức Trung
- Lưu Hà
- Lưu Hiểu Ba
- Lưu Khánh Thơ
- Lưu Mê Lan
- Lưu Minh Hải
- Lưu Na
- Lưu Nhi Dũ
- Lưu Quang Vũ
- Lưu Thuỷ Hương
- Lưu Thủy Hương
- Lưu Trọng Tưởng
- Lưu Trọng Văn
- Lưu Uyên Khôi
- Lý Đợi
- Lý Gia Trung
- Ly Hoàng Ly
- Lý Ngang
- Ly Phạm
- Lý Quang Hoàn
- Lý Thanh
- Lý Tiến Dũng
- Lý Toàn Thắng
- Lý Trực Dũng
- Lý Xuân Hải
- Lydia Davis
- Lynh Bacardi
- LysP
- M. Gorky
- M. Trần
- M.L. Gasparov
- Mạc Phong Tuyền
- Mạc Văn Trang
- Mạc Việt Hồng
- Mạch Nha
- Mạch Quang Thắng
- Madeleine Riffaud
- Madlovics Bálint
- Magyar Bálint
- Mahmoud Darwish
- Mai An Nguyễn Anh Tuấn
- Mai Anh Tuấn
- Mai Bá Ấn
- Mai Bá Kiếm
- Mai Chanh
- Mai Đỗ
- Mai Hiền
- Mai Khôi
- Mai Kim Ngọc
- Mai Lý
- Mai Nhật
- Mai Ninh
- Mai Quốc Ấn
- Mai Quỳnh
- Mai Quỳnh Nam
- Mai Sơn
- Mai Thái Lĩnh
- Mai Thanh Sơn
- Mai Thảo
- Mai Tú Ân
- Mai Văn Hoan
- Mai Văn Phấn
- Mai Văn Tính
- Maki Starfield
- Mamleev
- Mạnh Kim
- Manuel Casimiro
- Mão Xuyên
- Marc Andrus
- Marcel Reich-Ranicki
- Marci Shore
- Marco Ferrarese
- Margarita Lyutova
- Marguerite Duras
- Maria Donovan
- Maria Ressa
- Marie Lê Thị Hoa
- Mário de Andrade
- Mario Vargas Llosa
- Marion Hennebert
- Mark B. Hamilton
- Mark Binelli
- Mark Frankland
- Mark Osaki
- Mark Strand
- Marta Hillers
- Martin Jankowski
- Martin Kulldorff
- Marty Robbins
- Mary Morose
- Mary Walsh
- Masaoka Shik
- Matei Vişniec
- Mathias Mayer
- Matsunaga Teitoku
- Matthew Clayfield
- Matthew Crawford
- Maurice Blanchot
- Maximilian Steinbeis
- May
- Maya Angelou
- Mặc Đỗ
- Mặc Lâm
- Mân Côi
- McAmmond Nguyễn Thị Tư
- Media Văn Việt
- Mia Pluger
- Michael Burawoy
- Michael Scammell
- Michel de Montaigne
- Miêng
- Mike Ives
- Mikhail Shishkin
- Mikhail Sholokhov
- Mikhail Viktorovich Zygar
- Milan Kundera
- Mimmi Diệu Hường Bergström
- MInh Anh
- Minh Hạo
- Minh Huệ
- Minh Hùng
- Minh Luật
- Minh Phúc
- Minh Quang – Lê Chiên
- Minh Quang Ho
- Minh Tâm
- Minh Thùy
- Minh Thư
- Minh Toàn
- Minh Tuấn
- Minh Tự
- Mireille Sacotte
- Miura Chora
- Monica Berlin
- Mường Mán
- Mỹ Hằng
- Mỹ Lan
- N. S. Khrushchev
- Nadine Murtaja
- Nam Dao
- Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng
- Nam Đan
- Nam Đông
- Nam Nguyên
- Nam Sơn
- Naowarat Pongpaiboon
- Natalia lacovelli
- Nataliya Zhynkina
- Natsume Sōseki
- Nay Aung
- ng. anhanh
- Ng.Uyển Nicole Dương
- Ngải Vị VỊ
- Ngân Xuyên
- Nghệ
- Nghệ thuật
- Nghĩa Đặng
- Nghiêm Lương Thành
- Nghiêm Phương Mai
- Nghiêm Thanh Hương
- Nghiêm Xuân Hồng
- Nghiên Cứu Phê Bình
- Ngo Thu
- Ngọc Anh
- Ngọc Duy Phan
- Ngoc Hien Bui
- Ngọc Hoan
- Ngọc Linh
- Ngô Anh Tuấn
- Ngô Bảo Châu
- Ngô Đình Thẩm
- Ngô Đồng
- Ngô Hương Giang
- Ngô Khắc Tài
- Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
- Ngô Kim Khôi
- Ngô Kim-Khôi
- Ngô Liêm Khoan
- Ngô Lực
- Ngô Mai Phong
- Ngô Mạnh Hùng
- Ngô Minh
- Ngô Minh Khôi
- Ngô Ngọc Loan
- Ngô Ngọc Trai
- Ngô Nguyên Dũng
- Ngô Nhật Đăng
- Ngô Quốc Phương
- Ngô Quốc Thịnh
- Ngô Thế Vinh
- Ngô Thị Kim Cúc
- Ngô Thị Thanh Lịch
- Ngô Thị Thu Ngần
- Ngô Tùng Phong
- Ngô Tự Lập
- Ngô Văn
- Ngô Văn Giá
- Ngô Viết Nam Sơn
- Ngô Viết Trọng
- Ngô Việt Trung
- Ngô Vĩnh Long
- Ngô Xuân Hội
- Ngô Xuân Phúc
- Ngô Xuân Thảo
- Ngu Yên
- Nguyen Duc Thanh
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Anh Dũng
- Nguyễn Anh Sơn
- Nguyễn Anh Tuấn
- Nguyễn Anh Tuấn - đạo diễn
- Nguyễn Bá Chung
- Nguyễn Bách Việt
- Nguyễn Bảo Chân
- Nguyễn Bắc Sơn
- Nguyên Bình
- Nguyễn Bính
- Nguyễn Cảnh Bình
- Nguyên Cầm
- Nguyên Cẩn
- Nguyên Chánh
- Nguyễn Chí Hoan
- Nguyễn Chí Thuật
- Nguyễn Chí Trung
- Nguyễn Chí Tuyến
- Nguyễn Chinh Trung
- Nguyễn Công Lý
- Nguyễn Cung Thông
- Nguyễn Cường
- Nguyễn Danh Bằng
- Nguyễn Danh Huế
- Nguyễn Danh Lam
- Nguyễn Ðăng Thường
- Nguyễn Duy
- Nguyễn Dương Quang
- Nguyễn Đạt
- Nguyễn Đắc Kiên
- Nguyễn Đắc Xuân
- Nguyễn Đăng Điệp
- Nguyễn Đăng Hưng
- Nguyễn Đăng Khoa
- Nguyễn Đăng Mạnh
- Nguyễn Đăng Na
- Nguyễn Đăng Quang
- Nguyễn Đăng Thường
- Nguyễn Đình Ấm
- Nguyễn Đình Bin
- Nguyễn Đình Bổn
- Nguyễn Đình Chú
- Nguyễn Đình Cống
- Nguyễn Đình Đăng
- Nguyễn Đình Huỳnh
- Nguyễn Đinh Phong
- Nguyễn Đình Phượng Uyển
- Nguyễn Đình Thắng
- Nguyễn Đình Thi
- Nguyễn Đình Toàn
- Nguyễn Đông A
- Nguyễn Đổng Chi
- Nguyễn Đông Thức
- Nguyễn Đức
- Nguyễn Đức Dương
- Nguyễn Đức Hiệp
- Nguyễn Đức Lộc
- Nguyễn Đức Lực
- Nguyễn Đức Mậu
- Nguyễn Đức Sơn
- Nguyễn Đức Thắng
- Nguyễn Đức Tiến
- Nguyễn Đức Tùng
- Nguyễn Đức Tường
- Nguyễn Gia Trí
- Nguyên Giác
- Nguyên Giác Phan Tấn Hải
- Nguyễn Hà Luân
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Hải Yến
- Nguyễn Hàn Chung
- Nguyễn Hiến Lê
- Nguyễn Hoa Lư
- Nguyễn Hoài Nam
- Nguyễn Hoài Văn
- Nguyễn Hoài Vân
- Nguyễn Hoàn
- Nguyễn Hoàn Nguyên
- Nguyễn Hoàng Ánh
- Nguyễn Hoàng Anh Thư
- Nguyễn Hoàng Diệu Thủy
- Nguyễn Hoàng Diệu Thúy
- Nguyễn Hoàng Giao
- Nguyễn Hoàng Linh
- Nguyễn Hoàng Trung
- Nguyễn Hoàng Văn
- Nguyễn Hồ Quân
- Nguyễn Hồng Anh
- Nguyễn Hồng Giao
- Nguyễn Hồng Hưng
- Nguyễn Hồng Lam
- Nguyễn Hồng Nhung
- Nguyễn Hồng Thục
- Nguyễn Huệ Chi
- Nguyễn Hùng
- Nguyễn Huy Hoàng
- Nguyễn Huy Thắng
- Nguyễn Huy Thiệp
- Nguyễn Huy Vũ
- Nguyên Hưng
- Nguyễn Hưng Quốc
- Nguyễn Hương
- Nguyễn Hữu Đễ
- Nguyễn Hữu Hồng Minh
- Nguyễn Hữu Liêm
- Nguyễn Hữu Nhật
- Nguyễn Hữu Sơn
- Nguyễn Hữu Thiết
- Nguyễn Hữu Việt Hưng
- Nguyễn Hữu Vinh
- Nguyễn kc Hậu
- Nguyễn Khải
- Nguyễn Khánh Duy
- Nguyễn Khánh Trường
- Nguyễn Khắc An
- Nguyễn Khắc Bình
- Nguyễn Khắc Giang
- Nguyễn Khắc Mai
- Nguyễn Khắc Ngân Vi
- Nguyễn Khắc Phê
- Nguyễn Khắc Phi
- Nguyễn Khắc Phục
- Nguyễn Khiêm
- Nguyễn Khôi
- Nguyễn Kiến Phước
- Nguyễn Kiều Dung
- Nguyễn Kiều Hưng
- Nguyễn Kim Hưng
- Nguyên Lạc
- Nguyễn Lam Điền
- Nguyễn Lãm Thắng
- Nguyễn Lan Phương
- Nguyễn Lâm Cẩn
- Nguyễn Lân Bình
- Nguyễn Lân Thắng
- Nguyễn Lê Hồng Hưng
- Nguyễn Lê Tuyên
- Nguyễn Lệ Uyên
- Nguyễn Linh Giang
- Nguyễn Linh Quang
- Nguyễn Lộ Trạch
- Nguyễn Lộc
- Nguyễn Luận
- Nguyễn Lương Hải Khôi
- Nguyễn Lương Ngọc
- Nguyễn Lương Thịnh
- Nguyễn Lương Vỵ
- Nguyễn Mai
- Nguyễn Man Nhiên
- Nguyễn Mạnh An Dân
- Nguyễn Mạnh Côn
- Nguyễn Mạnh Đẩu
- Nguyễn Mạnh Tiến
- Nguyễn Manh Trinh
- Nguyễn Mạnh Trinh
- Nguyễn Mạnh Tuấn
- Nguyễn Mạnh Tường
- Nguyễn Minh Anh
- Nguyễn Minh Cao
- Nguyễn Minh Hòa
- Nguyễn Minh Hùng
- Nguyễn Minh Kính
- Nguyễn Minh Nhị
- Nguyễn Minh Nhựt
- Nguyễn Minh Thuyết
- Nguyễn Mộng Giác
- Nguyên Ngọc
- Nguyễn Ngọc Chu
- Nguyễn Ngọc Đức
- Nguyễn Ngọc Giao
- Nguyễn Ngọc Hoa
- Nguyễn Ngọc Lanh
- Nguyễn Ngọc Liễm
- Nguyễn Ngọc Lung
- Nguyễn Ngọc Phương
- Nguyễn Ngọc Tâm
- Nguyễn Ngọc Thiện
- Nguyễn Ngọc Thuần
- Nguyễn Ngọc Tú Anh
- Nguyễn Ngọc Tư
- Nguyên Nguyên
- Nguyễn Nguyên
- Nguyễn Nguyên Bình
- Nguyễn Nguyệt Cầm
- Nguyễn Nhật Lệ
- Nguyễn Nhật Tín
- Nguyên Nhi
- Nguyễn Như Huy
- Nguyễn Như Mây
- Nguyễn Phạm Hùng
- Nguyễn Phan Quế Mai
- Nguyễn Phú Yên
- Nguyễn Phúc Vĩnh Ba
- Nguyễn Phượng
- Nguyễn Phương Điền
- Nguyễn Phương Đình
- Nguyễn Phương Mai
- Nguyễn Phương Mạnh
- Nguyễn Quang
- Nguyễn Quang A
- Nguyễn Quang Bình
- Nguyễn Quang Duy
- Nguyễn Quang Dy
- Nguyễn Quang Đồng
- Nguyễn Quang Hồng
- Nguyễn Quang Hưng
- Nguyễn Quang Lập
- Nguyễn Quang Thạch
- Nguyễn Quang Thân
- Nguyễn Quang Thiều
- Nguyễn Quang VInh
- Nguyễn Quân
- Nguyễn Quốc Bảo
- Nguyễn Quốc Chánh
- Nguyễn Quốc Chính
- Nguyễn Quốc Lâm
- Nguyễn Quốc Tấn Trung
- Nguyễn Quốc Thái
- Nguyễn Quốc Toàn
- Nguyễn Quốc Trụ
- Nguyễn Quốc Tuấn
- Nguyễn Quốc Vương
- Nguyễn Quỳnh Hương
- Nguyên Sa
- Nguyễn Sĩ Dũng
- Nguyễn Sơn Hùng
- Nguyễn Sơn Lâm
- Nguyễn Sỹ Phương
- Nguyễn Sỹ Tế
- Nguyễn Tà Cúc
- Nguyễn Tài Cẩn
- Nguyễn Tấn Cứ
- Nguyễn Tất Nhiên
- Nguyễn Thạch Giang
- Nguyễn Thái Hòa
- Nguyễn Thái Hợp
- Nguyễn Thái Sơn
- Nguyễn Thái Tuấn
- Nguyễn Thanh Bình
- Nguyễn Thanh Châu
- Nguyễn Thanh Giang
- Nguyễn Thanh Hiện
- Nguyễn Thanh Hùng
- Nguyễn Thanh Huy
- Nguyễn Thanh Huyền
- Nguyễn Thanh Mỹ
- Nguyễn Thành Nam
- Nguyễn Thanh Nghị
- Nguyễn Thanh Nguyệt
- Nguyễn Thành Phong
- Nguyễn Thanh Sơn
- Nguyễn Thành Sơn
- Nguyễn Thanh Tâm
- Nguyễn Thành Thi
- Nguyễn Thanh Tùng
- Nguyễn Thanh Tuyền
- Nguyễn Thanh Văn
- Nguyễn Thanh Việt
- Nguyễn Thế Hùng
- Nguyễn Thế Thanh
- Nguyễn Thị Ái Tiên
- Nguyễn Thị Bích Hậu
- Nguyễn Thị Bích Ngà
- Nguyễn Thị Bình
- Nguyễn thị Cỏ May
- Nguyễn Thị Dư Khánh
- Nguyễn Thị Hải
- Nguyễn Thị Hậu
- Nguyễn Thị Hiền
- Nguyễn Thị Hoàng
- Nguyễn Thị Hoàng Bắc
- Nguyễn Thị Hồng
- Nguyễn Thị Khánh Minh
- Nguyễn Thị Khánh Trâm
- Nguyễn Thị Kim Chi
- Nguyễn Thị Kim Phụng
- Nguyễn Thị Kim Thoa
- Nguyễn Thị Minh Ngọc
- Nguyễn Thị Minh Thái
- Nguyễn Thị Minh Thương
- Nguyễn Thị Ngọc Hải
- Nguyễn Thị Ngọc Nhung
- Nguyễn Thị Như Ngọc
- Nguyễn Thị Oanh
- Nguyễn Thị Phước
- Nguyễn Thị Thanh Bình
- Nguyễn Thị Thanh Hải
- Nguyễn Thị Thanh Lưu
- Nguyễn Thị Thanh Xuân
- Nguyễn Thị Thanh Yến
- Nguyễn Thị Thảo An
- Nguyễn Thị Thúy Hạnh
- Nguyễn Thị Thùy Linh
- Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Nguyễn Thị Thuyền
- Nguyễn Thị Tịnh Thy
- Nguyễn Thị Từ Huy
- Nguyễn Thị Vinh
- Nguyễn Thiện Tống
- Nguyễn Thiện Tơ
- Nguyễn Thói Đời
- Nguyễn Thông
- Nguyễn Thu Quỳnh
- Nguyễn Thu Trang
- Nguyễn Thụy Anh
- Nguyễn Thùy Dương
- Nguyễn Thúy Hạnh
- Nguyễn Thụy Long
- Nguyễn Thuỵ Phương
- Nguyễn Thùy Song Thanh
- Nguyễn Thỵ
- Nguyễn Thy Anh
- Nguyễn Tiến Dũng
- Nguyễn Tiến Lập
- Nguyễn Tiến Trung
- Nguyễn Tiến Văn
- Nguyễn Trần Bạt
- Nguyễn Tri Phương Đông
- Nguyễn Triệu Nam
- Nguyễn Trọng Bình
- Nguyễn Trọng Chức
- Nguyễn Trọng Huân
- Nguyễn Trọng Khôi
- Nguyễn Trọng Tạo
- Nguyễn Trung
- Nguyễn Trung Bảo
- Nguyễn Trung Dân
- Nguyễn Trung Hiếu
- Nguyễn Trung Kiên
- Nguyễn Trung Lương
- Nguyễn Trung Thuần
- Nguyễn Trường Giang
- Nguyễn Trường Huy
- Nguyễn Trường Uy
- Nguyễn Tuấn
- Nguyễn Tuấn Anh
- Nguyễn Tuấn Khoa
- Nguyễn Tùng
- Nguyễn Tùng Linh
- Nguyễn Tuyết Lan
- Nguyễn Tuyết Lộc
- Nguyễn Tư Nghiêm
- Nguyễn Tử Siêm
- Nguyễn Tường Bách
- Nguyễn Tường Thiết
- Nguyễn Tường Thụy
- Nguyễn Ước
- Nguyễn Vạn An
- Nguyễn Vạn Phú
- Nguyễn Văn
- Nguyễn Văn Ba
- Nguyễn Văn Chính
- Nguyễn Văn Ðậu
- Nguyễn Văn Dũng
- Nguyễn Văn Đài
- Nguyễn Văn Gia
- Nguyễn Văn Hạnh
- Nguyễn Văn Hiệp
- Nguyễn Văn Hòa
- Nguyễn Văn Hùng
- Nguyễn Văn Huyên
- Nguyễn Văn Lợi
- Nguyễn Văn Lục
- Nguyễn Văn Miếng
- Nguyễn Văn Nghệ
- Nguyễn Văn Nho
- Nguyễn Văn Phong
- Nguyễn Văn Phú
- Nguyễn Văn Phước
- Nguyễn Văn Sâm
- Nguyễn Văn Sơn
- Nguyễn Văn Tao
- Nguyễn Văn Thiệu
- Nguyễn Văn Thọ
- Nguyễn Văn Trọng
- Nguyễn Văn Trung
- Nguyễn Văn Tuấn
- Nguyễn Văn Vĩnh
- Nguyễn Văn Xuân
- Nguyễn Vi Khải
- Nguyễn Vi Yên
- Nguyễn Viện
- Nguyên Việt
- Nguyễn Việt Anh
- Nguyễn Việt Chiến
- Nguyễn Viết Dũng
- Nguyễn Viết Lãm
- Nguyễn Viết Sáng
- Nguyễn Vĩnh Nguyên
- Nguyễn Vũ Hiệp
- Nguyễn Vũ Tiềm
- Nguyễn Vỹ
- Nguyễn Vy Khanh
- Nguyễn Xuân Diện
- Nguyễn Xuân Hằng
- Nguyễn Xuân Hoàng
- Nguyễn Xuân Hưng
- Nguyễn Xuân Khánh
- Nguyễn Xuân Khoát
- Nguyễn Xuân Nghĩa
- Nguyễn Xuân Nha
- Nguyễn Xuân Quang
- Nguyễn Xuân Thiệp
- Nguyễn Xuân Thọ
- Nguyễn Xuân Tiệp
- Nguyễn Xuân Tường Vy
- Nguyễn Xuân Vượng
- Nguyễn Xuân Xanh
- Nguyễn Ý Thuần
- Nguyên Yên
- Nguyễn-Chương Mt
- Nguyễn-hòa-Trước
- Nguyệt Chu
- Nguyệt Quỳnh
- Nguyệt Vi
- Ngự
- Ngự Thuyết
- Người Buôn Gió
- Ngyễn Trung Bảo
- Nh. Tay Ngàn
- Nhã
- Nhã Ca
- Nhã Duy
- Nhã Thuyên
- Nhan Do Thanh
- Nhân Hồng
- Nhật Chiêu
- Nhật Lệ
- Nhất Linh
- Nhật Thanh
- Nhật Tiến
- Nhật Tuấn
- Nhất Uyên
- Nhị Linh
- Nhị Ngã
- Nhóm Vì một Hà Nội xanh
- Như Huy
- Như Không
- Như Quỳnh
- Như Quỳnh de Prelle
- Như Ý
- Nhược Thủy
- Niall Ferguson
- Nick Hilden
- Nicolas Casey
- Nikulin
- Nina McPherson
- Ninh Dương
- Ninh Kiều
- Nobert Hummelt
- Norbert Seitz
- Nozawa Boncho
- Nông Hồng Diệu
- NP Phan
- Obama
- Ocean Vương
- Octavio Paz
- Ogden Nash
- Oksana Zabuzhko
- Oleg Kashin
- Olga Berggolts
- Ondrej Slowik
- onggiaolang
- Orlando Figes
- Orwell
- Oscar Salemink
- Oscar Wilde
- Pablo Neruda
- Pablo Picasso
- Palmer
- Pamela N. Corey
- Patrick Frater
- Patrick Lodge
- Paul Auster
- Paul Celan
- Paul Dahlke
- Paul Éluard
- Paul Hoover
- Paul Mendez
- Paul Mozur
- Paul Theroux
- Paul-François Paoli
- Paulus Lê Sơn
- Pavel Basinsky
- Pavel Basynski
- Pavlo Vyshebaba
- Paweł Kubiak
- Pawel Kuczynski
- Paweł Łepkowski
- Percy Mabandu
- Pervez Hoodbhoy
- Peter B. Zinoman
- Peter Bradshaw
- Peter Hansen
- Peter Harvey
- Peter Kleiner
- Peter Singer
- Phạm Anh Tuấn
- Phạm Biểu Tâm
- Phạm Cảnh Thượng
- Phạm Cao Hoàng
- Phạm Châu
- Phạm Chí Dũng
- Phạm Chi Lan
- Phạm Chu Sa
- Phạm Công Luận
- Phạm Công Thiện
- Phạm Công Trứ
- Phạm Công Út
- Phạm Duy
- Phạm Duy Nghĩa
- Phạm Đình Chương
- Phạm Đình Trọng
- Phạm Đình Vy
- Phạm Đoan Trang
- Phạm Hải Anh
- Phạm Hải Âu
- Phạm Hiền Mây
- Phạm Hoàng Quân
- Phạm Hồng Sơn
- Phạm Hùng Việt
- Phạm Huy Thông
- Phạm Khánh Duy
- Phạm Khiêm Ích
- Phạm Kiều Tùng
- Phạm Kỳ Đăng
- Phạm Lệ Quyên
- Phạm Lê Vương Các
- Phạm Linh
- Phạm Lưu Vũ
- Phạm Minh Hoàng
- Phạm Minh Ngọc
- Phạm Minh Quân
- Phạm Minh Trung
- Phạm Ngọc
- Phạm Ngọc Lư
- Phạm Ngọc Thái
- Phạm Ngọc Tiến
- Phạm Nguyên Trường
- Phạm Ngữ
- Phạm Phan Long
- Phạm Phú Cường
- Phạm Phú Hải
- Phạm Phú Minh
- Phạm Phú Phong
- Phạm Phú Thứ
- Phạm Phú Viết
- Phạm Phúc Thịnh
- Phạm Phương
- Phạm Quang Ái
- Phạm Quang Long
- Phạm Quang Trung
- Phạm Quang Tuấn
- Phạm Sỹ Sáu
- Phạm Tăng
- Phạm Thành
- Phạm Thành Hưng
- Phạm Thanh Nghiên
- Phạm Thảo Nguyên
- Phạm Thế Cường
- Phạm Thị
- Phạm Thị Anh Nga
- Phạm Thị Điệp Giang
- Phạm Thị Hoài
- Phạm Thị Hồng Ân
- Phạm Thị Kiều Ly
- Phạm Thị Ngọc
- Phạm Thị Phương
- Phạm Thiên Ân
- Phạm Thiên Thư
- Phạm Tín An Ninh
- Phạm Toàn
- Phạm Trần
- Phạm Trọng Chánh
- Phạm Trung Nghĩa
- Phạm Tuấn
- Phạm Tư Thanh Thiện
- Phạm Tường Cán
- Phạm Tường Vân
- Phạm Văn
- Phạm Văn Khoái
- Phạm Văn Quang
- Phạm Văn Tình
- Phạm Văn Vũ
- Pham Viem Phuong
- Phạm Viêm Phương
- Phạm Viết Đào
- Phạm Việt Hưng
- Phạm Vũ Lửa Hạ
- Phạm Xuân Đài
- Phạm Xuân Hùng
- Phạm Xuân Nguyên
- Phạm Xuân Trường
- Phan An Sa
- Phan Ba
- Phan Bội Châu
- Phan Cẩm Thượng
- Phan Châu Thành
- Phan Cự Đệ
- Phan Dương Hiệu
- Phan Đan
- Phan Đạo
- Phan Đắc Lữ
- Phan Đình Diệu
- Phan Độc Lập
- Phan Hải-Đăng
- Phan Hồng Giang
- Phan Huy Chú
- Phan Huy Dũng
- Phan Huy Đường
- Phan Huy Lê
- Phan Huyền Thư
- Phan Kế Toại
- Phan Khôi
- Phan Kim Hổ
- Phan Lặng Yên
- Phan Mạnh Quỳnh
- Phan Nam Sinh
- Phan Ngọc
- Phan Nguyên
- Phan Nhật Nam
- Phan Nhiên Hạo
- Phan Ni Tấn
- Phan Phương Đạt
- Phan Quang
- Phan Quỳnh Trâm
- Phan Tấn Hải
- Phan Tấn Uẩn
- Phan Thanh Bình
- Phan Thanh Sơn Nam
- Phan Thanh Tâm
- Phan Thắng
- Phan Thế Hải
- Phan Thị Hà Dương
- Phan Thị Kim Phúc
- Phan Thị Trọng Tuyển
- Phan Thị Vàng Anh
- Phan Thu Vân
- Phan Thuý Hà
- Phan Thúy Hà
- Phan Trang Hy
- Phan Trí Đỉnh
- Phan Trọng Hoàng Linh
- Phan Trọng Văn
- Phan Văn Giưỡng
- Phan Văn Song
- Phan Văn Thắng
- Phan Vũ
- Phan Xine
- Phan Xuân Sinh
- Phannguyên Psg
- Phanxipăng
- Phaolô VI
- phap
- Pháp Hoan
- Pháp Vân
- Phapxa Chan
- Phát biểu nhận giải Văn Việt
- Phi Hà
- Phil Caputo
- Philip Larkin
- Philip Roth
- Philipp Felsch
- Phong Âm
- Phong Linh
- Phong Nguyen
- Phong Quang
- Phố Văn
- Phú Quang
- Phù Sa
- Phúc Lai GB
- Phúc Tiến
- Phunchok Stobdan
- Phùng Anh Kiệt
- Phùng Gia Lộc
- Phùng Hi
- Phùng Hoài Ngọc
- Phùng Học Vinh
- Phùng Khắc Khoan
- Phùng Ngọc Kiên
- Phùng Nguyễn
- Phùng Quán
- Phùng Thành Chủng
- Phùng Thị Hạ Nguyên
- Phùng Thị Như Hà
- Phuong Ta
- Phương Chi
- Phương Hương
- Phương Phương
- Phương Thảo
- Phương Thuý
- Phương Uy
- Phương Xích Lô
- Pierre Bayard
- Pierre Darriulat
- Pierre Lemieux
- Prashanth Parameswaran
- Qladimir Pyljow
- Quách Cường
- Quách Hạo Nhiên
- Quách Tấn
- Quách Thoại
- Quảng Diệu Trần Bảo Toàn
- Quang Dũng
- Quang Đức
- Quang Minh
- Quang Phan
- Quảng Tánh Trần Cầm
- Quậy Nguyễn
- Quế Hương
- Quốc Dũng
- Quốc Phương
- Quốc Toản
- Quyên Di
- Quyên Hoàng
- Quỳnh Dao
- Quỳnh Hợp
- Quỳnh Iris de Prelle
- Quỳnh Vi
- Rabindranath Tagore
- Rachel Adams
- Rainer Maria Rilke
- Ralph Chaplin
- Rasul Gamzatov
- Rebecca Mead
- Rebecca Solnit
- Reiner Traub
- Remo Verdickt
- Riccardo Gazzaniga
- Richard C. Paddock
- Richard Millet
- Richard Serra
- Richard Seymur
- Rita Dove
- Robert Desnos
- Robert McCrump
- Roger Vu
- Roger-Pol Droit
- Roland Barthes
- Romain Rolland
- Ronald F. Inglehart
- Rory O’Sullivan
- Ruben David Gonzalez Gallego
- Russell Edson
- Ruth Ingram
- Ryszard Legutko
- Saint-John Perse
- Salman Rushdie
- Salvatore Babones
- Sam Dresser
- Sạn chữ
- San Phi
- Sandra Kerschbaumer
- Sara Teasdale
- Sarah Pulliam Bailey
- Sarah Thornton
- Sáu Nghệ
- Semyon Skrepetsky
- Sergio Bitar
- Shaimaa El Sabbagh
- Shakespeare
- Shannon Van Sant
- Sheikha A
- Sheila Fischman
- Sheila Ngoc Pham
- Sheri Berman
- Shigeeda Yutaka
- Shirin Ebadi
- Shukshin
- Silke Fokken
- Simon Book
- Simon Johnson
- Sire Apm Lukwesa
- Slavoj Žižek
- Sohaniim
- Son Kieu Mai
- Song Chi
- Song Hà
- Song Nguyễn
- Song Phạm
- Song Phan
- Song Thao
- Sophie Trịnh
- Số đặc biệt
- Sơn Ca
- Sơn Hoàng Liên
- Sơn Kiều Mai
- Sơn Nam
- Stalin
- Stefan Dege
- Stefano Harney
- Stephan Koester
- Stephen B. Young
- Steve Earle
- Stuart Russel
- Sugita Hisajo
- Suleiman Mansour
- Susan Sontag
- Suzuki Katsuhiko
- Sương Nguyệt Minh
- Sương Quỳnh
- Svetlana Alexievich
- Svetlana Alexievitch
- Svetlana Alexiévitch
- Sylvia Plath
- T. Đ.
- T.Vấn
- Tạ Anh Thư
- Tạ Chí Đại Trường
- Tạ Duy Anh
- Tạ Tỵ
- Tạ Văn Tài
- Tạ Văn Thông
- Tạ Xuân Hải
- Tadeusz Rósewicz
- Taigu Ryōkan
- Tam Ích
- Tamarchenko
- Tàn Tuyết
- Tanaami Keiichi
- Taneda Santoka
- Taras Shevchenko
- Tarik Khaldi
- Tawada Yoko
- Tawfiq Zayyad
- Tăng Quang
- Tâm An
- Tâm Bình
- Tâm Chánh
- Tâm Don
- Tâm Thường Định
- Tâm Việt
- Tấn An
- Teolinda Gersão
- Teresa Mỹ Chúc
- Thạch Đạt Lang
- Thạch Quỳ
- Thạch Thảo
- Thái Bá Tân
- Thái Bá Vân
- Thái Bảo
- Thái Hà
- Thái Hạo
- Thái Kế Toại
- Thái Kim Lan
- Thái Mai Lan
- Thái Ngọc San
- Thái Phan Vàng Anh
- Thái Sinh
- Thái Thanh
- Thái Thanh Sơn
- Thái Thăng Long
- Thái Tuấn
- Thái Văn
- Thái Văn Đào
- Thái Vũ
- Thanh Chung
- Thạnh Đà
- Thanh Hằng
- Thanh Hằng - Anh Khoa
- Thành Lộc
- Thanh Nam
- Thanh Ngọc
- Thanh Phương
- Thanh Tâm Tuyền
- Thanh Thảo
- Thanh Thuỷ
- Thanh Trúc
- Thanh Tùng
- Thanh Xuân
- Thanhhà Lại
- Thảo Dân
- Thao Dinh
- Thảo luận
- Thảo Nguyên
- Thảo Trường
- Thảo Vy
- Thẩm Đống
- Thẩm Hoàng Long
- Thận Nhiên
- Thân Trọng Mẫn
- Thân Trọng Sơn
- Thế Dũng
- Thế Giang
- Thế Quân
- THẾ THANH
- Thế Uyên
- Thi Hoàng
- Thi Nguyên
- Thi sỹ ỦA
- Thi Vũ
- Thích Ngộ Chánh
- Thích Nhất Hạnh
- Thích Nữ Chân Không
- Thích Phước An
- Thích Quảng Độ
- Thierry Leclère
- Thierry Lentz
- Thiên Di
- Thiên Điểu
- Thiền Lâm
- Thiền Nguyễn
- Thiên Thai
- Thiện Tùng
- Thiện Ý
- Thiền Zen Paul Vân Thuyết
- Thiết Thạch
- Thiếu Khanh
- Thiều Mai Lâm
- Tho Nguyen
- Thọ Nguyễn
- Thomas A. Bass
- Thomas Bo Pedersen
- Thomas J. Corcoran
- Thomas Mahler
- Thomas S. Mullaney
- Thomas Schmid
- Thông Đặng
- Thơ
- Thơ Marie Howe
- Thụ Nguyên
- Thu Phong
- Thu Vàng
- Thuận
- Thuần Ngô
- Thuận Paris
- Thuận Thiên
- Thục Quyên
- Thụy An
- Thùy Dung
- Thụy Khuê
- Thùy Linh
- Thụy My
- Thủy Tiên
- Thư Bạn Đọc
- Thường Quán
- Thy An
- Thy Sinh
- Tịch Ru
- Tiet Hung Thai
- Tiền Giang
- Tiêu Dao Bảo Cự
- Tiêu Kiện Sinh
- Tiêu Toàn
- Tiểu Tử
- Tiểu Vũ
- Tillman Miller
- Timothy Brennan
- Timothy Garton Ash
- Timothy Snyder
- Tina Hà Giang
- Tino Cao
- Tobi Trần
- Tobias Rapp
- Tom Fawthrop
- Tomas Tranströmer
- Tô Đăng Khoa
- Tô Hà Lâm
- Tô Hải
- Tô Hoàng
- Tố Hữu
- Tô Lan Hương
- Tô Lê Sơn
- Tô Ngọc Vân
- Tô Thẩm Huy
- Tô Thùy Yên
- Tô Văn Trường
- Tôi Đây
- Tôn Thất Thông
- Tôn Thất Tùng
- Tống Văn Công
- Trà Bình
- Trà Đóa
- Trà Nhiên
- Tracy K. Smith
- Tran Dinh Dung
- Tran Nam Dung
- Trang Châu
- Trang Hạ
- Trang Thanh
- Trang Thế Hy
- Trangđài Glassey Trầnguyễn
- Trangđài Glasssey-Trầnguyễn
- Trao đổi
- Trầm Tử Thiêng
- Trần Anh Hùng
- Trần Bá Đại Dương
- Trần Bang
- Trần Bình Nam
- Trần C. Trí
- Trần Cao Lĩnh
- Trần Cao Tường
- Trần Chí Kông
- Trần Công Tâm
- Trần Công Tín
- Trần Dạ Từ
- Trần Dần
- Trần Doãn Nho
- Trần Dũng Thanh Huy
- Trần Duy
- Trần Duy Phiên
- Trần Duy Trung
- Trần Đăng Khoa
- Trần Đăng Tuấn
- Trần Đĩnh
- Trần Đình Bút
- Trần Đình Hoành
- Trần Đình Lương
- Trần Đình Sơn Cước
- Trần Đình Sử
- Trần Đình Thắng
- Trần Đình Triển
- Trần Đình Trợ
- Trần Độ
- Trần Đồng Minh
- Trần Đức Anh Sơn
- Trần Đức Nguyên
- Trần Đức Thảo
- Trần Đức Tiến
- Trần Đức Tín
- Trần Đức Toản
- Trần Gia Huấn
- Trần Gia Ninh
- Trần Hà Linh
- Trần Hạ Tháp
- Trần Hạ Vi
- Trần Hải
- Trần Hạnh
- Trần Hậu
- Trần Hoài Anh
- Trần Hoài Thư
- Trần Hoàng Phố
- Trần Hoàng Trúc
- Trần Hoàng Vy
- Trần Hùng
- Trần Huy Bích
- Trần Huy Mẫn
- Trần Huy Minh Phương
- Trần Huy Quang
- Trần Huyền Sâm
- Trần Huỳnh Duy Thức
- Trần Hữu Dũng
- Trần Hữu Khánh
- Trần Hữu Quang
- Trần Hữu Tá
- Trần Hữu Thục
- Trần Khánh Triệu
- Trần Kiêm Đoàn
- Trần Kiêm Trinh Tiên
- Trần Kim Trắc
- Trần Kỳ Trung
- Trần Lam
- Trần Lê Hoa Tranh
- Trần Lê Sơn Ý
- Trần Lương
- Trần Lý Trí Tân
- Trần Mạnh Hảo
- Trần Mạnh Tuấn
- Trần Minh Phi
- Trần Minh Quốc
- Trần Mộng Tú
- Trần Nam Anh
- Trần Nam Bình
- Trần Ngân Hà
- Trần Nghi Hoàng
- Trần Ngọc Cư
- Trần Ngọc Hiếu
- Trần Ngọc Trác
- Trần Ngọc Tuấn
- Trần Ngọc Vương
- Trần Nguyên Đán
- Trần Nhã Thụy
- Trần Nho Thìn
- Trần Nhương
- Trần Phong Giao
- Trần Phong Vũ
- Trần Quang Đức
- Trần Quang Lộc
- Trần Quốc Anh
- Trần Quốc Nam
- Trần Quốc Thuận
- Trần Quốc Toàn
- Trần Quốc Trọng
- Trần Quốc Vượng
- Trần Quyết Thắng
- Trân Sa
- Trần Song Hào
- Trần Thành
- Trần Thanh Ái
- Trần Thanh Cảnh
- Trần Thanh Huy
- Trần Thanh Vân
- Trần Thắng
- Trần Thế Vĩnh
- Trần Thị Băng Thanh
- Trần Thị Diệu Tâm
- Trần Thị Lai Hồng
- Trần Thị Lam
- Trần Thị NgH.
- Trần Thị Nguyệt Mai
- Trần Thị Phương Phương
- Trần Thị Thanh Thoả
- Trần Thị Thu Hoài
- Trần Thị Trường
- Trần Thiện Đạo
- Trần Thùy Mai
- Trần Tiến
- Trần Tiễn Cao Đăng
- Trần Tiến Dũng
- Trần Tiễn Khanh
- Trần Tố Nga
- Trần Trọng Dương
- Trần Trọng Hoàng
- Trần Trọng Thức
- Trần Trọng Vũ
- Trần Trung Chính
- Trần Trung Đạo
- Trần Tuấn
- Trần Từ Mai
- Trần Vàng Sao
- Trần Văn Chánh
- Trần Văn Chung
- Trần Văn Đỉnh
- Trần Văn Khê
- Trần Văn Minh
- Trần Văn Nam
- Trần Văn Thọ
- Trần Văn Thủy
- Trần Văn Tý
- Trần Vấn Lệ
- Trần Viết Điền
- Trần Việt Hà
- Trần Viết Ngạc
- Trần Vinh Dự
- Trần Vũ
- Trần Vũ Hải
- Trần Vương Thuấn
- Trần Vương Thuận
- Trần Wũ Khang
- Trần Xuân Hoài
- Trần Xuân Kiêm
- Trần Xuân Linh
- Trần Xuân Lĩnh
- Trần Xuân Thảo
- Trần Ý Dịu
- Trần Yên Hòa
- Trần Yên Nguyên
- Trên
- Trên Facebook
- Trên Facebook/Minds
- Trên kệ sách
- Trên trang diaCRITICS
- Trí Hiệu Dân
- Triều Anh
- Triều Hoa Đại
- Triêu Nhan
- Triều Sơn
- Triệu Tử Dương
- Trịnh Anh Tuấn
- Trịnh Bá Phương
- Trịnh Bách
- Trịnh Cao Hòa Thanh
- Trịnh Chu
- Trịnh Công Sơn
- Trịnh Cung
- Trịnh Duy Kỳ
- Trịnh Hữu Long
- Trịnh Kim Tiến
- Trịnh Lữ
- Trịnh Minh Tuấn
- Trịnh Sơn
- Trịnh Thanh Thủy
- Trịnh Thu Tuyết
- Trịnh Vĩnh Phúc
- Trịnh Xuân Thuận
- Trịnh Xuân Thủy
- Trịnh Y Thư
- Trọng Anh
- Trọng Phú
- Trọng Thành
- Tru Sa
- Trúc Giang
- Trúc Thông
- Trúc Ty
- Trump
- Trung Bảo
- Trung Dũng Kqd
- Trung Dũng Kqđ
- Trùng Dương
- Trung Đào
- Trung Trung Đỉnh
- Trư Sa
- Trường An
- Trương Anh Ngọc
- Trương Anh Thụy
- Trương Châu Hữu Danh
- Trương Chính
- Trương Cừ
- Trương Duy Nhất
- Trương Đăng Dung
- Trương Điện Thắng
- Trương Đình Phượng
- Trương Hồng Quang
- Trương Huy San
- Trường Minh
- Trương Ngọc Chương
- Trương Nguyên
- Trương Nguyện Thành
- Trương Nhân Tuấn
- Trương Phượng
- Trương Quang
- Trương Quang Đệ
- Trương Quang Nhuệ
- Trương Quang Vĩnh
- Trương Quốc Cường
- Trương Thanh Thuận
- Trương Thị An Na
- Trương Thị Ngọc Hân
- Trương Thiên Phàm
- Trương Thu Hiền
- Trương Tố Hoa
- Trương Trọng Nghĩa
- Trương Tửu
- Trương Văn Dân
- Trương Văn Vĩnh
- Trương Vũ
- Trương Xuân Thiên
- Tú Mỡ
- Tù Quốc Hoài
- Tù Sâm
- Tú Trung Hồ
- Tuấn Duy
- Tuấn Khanh
- Tuân Nguyễn
- Tuấn Thảo
- Tuệ Anh
- Tuệ Đăng
- Tuệ Nguyên
- Tuệ Nhân
- Tuệ Nhật
- Tuệ Sĩ
- Tuệ Sỹ
- Tùng Dương Cola
- Tung Nguyen
- Turner
- Túy Hồng
- Tuyết Nghi
- Tư
- Từ Dung
- Tư liệu
- Tử Linh
- Từ Mai Trần Huy Bích
- Từ Quốc Hoài
- Từ Sâm
- Từ Thức
- Tưởng
- Tương Lai
- Uejima Onitsura
- Umberto Eco
- Uông Tăng Kỳ
- Uông Triều
- Uyển Ca
- Uyên Nguyên
- Uyên Nguyễn
- Uyên Thao
- Uyên Vũ
- V. Erofiev
- V. N.
- Václav Havel
- Vàng A Giang
- Varlam Shalamov
- Vasco Gargalo
- Vasily Makarovich
- Vasyl Stus
- văn
- Văn
- Văn Biển
- Văn Cao
- Văn Chinh
- Văn Công Hùng
- Văn Giá
- Văn học
- Văn học Miền Nam 54-75
- Văn Như Cương
- Văn Quang
- Văn Tâm
- Văn Văn Của
- Văn Việt
- Văn;
- Văn.
- Vấn đề hôm nay
- Vận Động Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội 2016
- Vân Hạ
- Vân Phi
- Velcrow Ripper
- Veronica Melkozerova
- Vi Lãng
- Vi Trần
- Vi Yên
- Viet Thanh Nguyen
- Viên Linh
- Việt Bách
- Việt Bình
- Việt Dzũng
- Việt Khang
- Việt Lang
- Việt Phương
- Viktor Astafyev
- Viktor Maslov
- Vinh Anh
- Vĩnh Điện
- Vĩnh Hảo
- Vĩnh Quyền
- Virginia Heffernan
- Virginia Woolf
- Vladimir Britanishsky
- Vladimir Nabokov
- Vladimir Voronov
- Võ An Đôn
- Võ Anh Minh
- Võ Anh Thơ
- Võ Bá Cường
- Võ Đắc Danh
- Võ Định Hình
- Võ Đức Phúc
- Võ Hồng
- Võ Huy Tâm
- Võ Hương Quỳnh
- Võ Kỳ Điền
- Võ Ngàn Sông
- Võ Phiến
- Võ Thị Ánh Ngọc
- Võ Thị Hảo
- Võ Thị Thu Hằng
- Võ Tiến Cường
- Võ Tòng Xuân
- Võ Trí Hảo
- Võ Văn Quản
- Võ Văn Tạo
- Võ Văn Thôn
- Võ Xuân Quế
- Võ Xuân Sơn
- Volker Weidermann
- Volodymyr Vynnychenko
- Volodymyr Zelenskyy
- Vũ
- Vũ Bằng
- Vũ Biện Điền
- Vũ Cao Đàm
- Vũ Cát Tường
- Vũ Đình Hòe
- Vũ Đình Huỳnh
- Vũ Đình Liên
- Vũ Đình Phòng
- Vũ Đức Khanh
- Vũ Đức Phúc
- Vũ Đức Sao Biển
- Vu Gia
- Vũ Hà Văn
- Vũ Hạnh
- Vũ Hoàng Chương
- Vũ Hoàng Thư
- Vũ Hồng Ánh
- Vũ Huy Ngọc
- Vũ Huy Quang
- Vũ Khắc Hoè
- Vũ Khắc Khoan
- Vũ Kim Hạnh
- Vũ Kim Thu
- Vũ Lâm
- Vũ Lập Nhật
- Vũ My Lan
- Vũ Ngọc Giao
- Vũ Ngọc Hoàng
- Vũ Ngọc Tâm
- Vũ Ngọc Tiến
- Vũ Nho
- Vũ Oanh
- Vũ Quang Việt
- Vũ Quí Hạo Nhiên
- Vũ Quốc Ngữ
- Vũ Quỳnh Hương
- Vũ Quỳnh Nh.
- Vũ Thành Sơn
- Vũ Thanh Tâm
- Vũ Thanh Tùng
- Vũ Thành Tự Anh
- Vũ Thế Khôi
- Vũ Thế Thành
- Vũ Thị Hải
- Vũ Thị Nhuận
- Vũ Thị Phương Anh
- Vũ Thị Phương Lan
- Vũ Thị Thanh
- Vũ Thị Thanh Mai
- Vũ Thư Hiên
- Vũ Tiến Lập
- Vũ Trọng Khải
- Vũ Trọng Phụng
- Vũ Tuấn Hoàng
- Vũ Từ Trang
- Vũ Tường
- Vũ Viết Tuân
- Vũ Xuân Tửu
- Vương Bích Ngọc
- Vương Đan
- Vương Hỗ Ninh
- Vương Huy
- Vương Ngọc Minh
- Vương Tiểu Nhị
- Vương Trí Nhàn
- Vương Trọng
- Vương Trùng Dương
- Vương Trung Hiếu
- Vương Tuấn
- Vy Thảo
- W. H. Auden
- Wa Praong
- Walt Whitman
- Walter Isaacson
- Wayne Karlin
- Wells
- Wendy Barker
- Wiesiek Powaga
- Wilhelm Schmid
- Will Nguyen
- William Carlos Williams
- William Nee
- William Stafford
- William Stanley Merwin
- Winston Phan Đào Nguyên
- Wislawa Szymborska
- Władysław Reymont
- Wolf Biermann
- Wolfgang Borchert
- Wulf Noll
- Wynn Gadkar Wilcox
- Xang Hứng
- Xì Trum
- Xie Tao
- Xuân Ba
- Xuân Diệu
- Xuân Dương
- Xuân Đài
- Xuân Minh
- Xuân Phượng
- Xuân Sách
- Xuân Thọ
- Xuân Uyên
- Xuân Vũ
- Xương Văn
- Y Chan
- Ỷ Lan
- Ý Nhi
- Y Uyên
- Yan Frenkel
- Yanis Varoufakis
- Yasmine M’Barek
- Yevgeny Yevtushenko
- Yên Ba
- Yên Khắc Chính
- Yến Năng
- Yên San
- Yên San Thụy Miên
- Yên Thao
- Yiyun Li
- Yoko Ogawa
- Yōko Ogawa
- Yoko Tawada
- Yosano Akiko
- Young Sang Lee
- Yuliya Ilchuk
- Yuno Bigboi
- Yves Sintomer
- Yvette Tan
- Zac Herman
Nguyễn Gia Thiều, nhà thơ quý tộc (*)
Nguyễn Lộc
Trong lịch sử văn học, Cung oán ngâm khúc cùng với Chinh phụ ngâm là hai tác phẩm tiêu biểu nhất cho thể loại Ngâm khúc nổi tiếng của giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX. Nhưng Chinh phụ ngâm là một tác phẩm viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn, sau đó mới được Đoàn Thị Điểm, rồi được nhiều người khác dịch ra chữ Nôm. Còn Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều đã kế thừa một cách xuất sắc truyền thống viết ngâm khúc bằng thể thơ song thất lục bát trong bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm[1], và đã góp phần khẳng định giá trị của thể loại này trong lịch sử văn học dân tộc.
Vì vậy, sau Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Gia Thiều một loạt tác phẩm viết bằng thơ song thất lục bát có tính chất ngâm khúc chịu ảnh hưởng của hai tác phẩm trên đã ra đời như Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân, Văn chiêu hồn của Nguyễn Du, Bần nữ thán Khuyết Danh, Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ, Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận, bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực[2] và cả bản dịch Chinh phụ ngâm của Phan Huy Ích.
Nguyễn Gia Thiều sinh ngày 6 tháng 2 năm Tân Dậu, tính ra dương lịch là ngày 22 tháng 3 năm 1741, ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành xứ Kinh Bắc, nay là thôn Liễu Ngạn, xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình đại quý tộc.
Dòng họ của Nguyễn Gia Thiều gốc ở làng Tống Sơn, huyện Gia Miêu, tỉnh Thanh Hoá là một dòng họ lớn. Ông cụ tổ của họ này là Nguyễn Bặc, một công thần của triều đình (đầu thế kỷ X), làm đến Thái tể, được phong tước Định quốc công. Đến đời Lê, trong cuộc Lê Mạc phân tranh, họ này có một người tên là Nguyễn Viết Hựu đã cùng Nguyễn Kim đem quân ra đánh nhau với nhà Mạc, về sau lấy người vợ ở xã Liễu Chữ, tức xã Liễu Ngạn đã nói ở trên. Khi Nguyễn Viết Hựu mất, vợ con ông dời nhà từ Thanh Hoá về ngoại ở Liễu Chữ. Đến đời cháu Nguyễn Viết Hựu là Nguyễn Gia Hựu, ông này sợ các đời sau quên quê cha đất tổ nên đổi tên đệm của mình là Viết sang Gia (gốc ở chữ Gia Miêu) và từ đó họ Nguyễn của Nguyễn Gia Thiều có tên đệm là Gia.
Ông nội Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Châu, một quan võ không những giỏi cung tên mà còn giỏi cả kinh sử, được phong tước Công, gọi là Siêu Quận công. Ông thân sinh Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Ngô[3] con cả Nguyễn Gia Châu cũng làm quan võ. Nguyễn Gia Ngô sinh ngày 10 tháng 7 năm Giáp Ngọ, tức ngày 19 tháng 8 năm 1714, được phong tước Hầu, gọi là Đạt vũ hầu.
Theo gia phả, ông học rộng văn hay, sành thơ quốc âm, có tài cầm quân đánh giặc, nhưng tính phóng khoáng, thích chơi hoa nghiện chè, việc cai trị thường giao cho viên đốc đồng sứ, còn ông thì thường đi du lãm đây đó và làm thơ. Ông có làm một tập thơ quốc âm nhưng bị thất lạc. Nguyễn Gia Ngô mất ngày 12 tháng 5, năm Đinh Sửu, tức ngày 27 tháng 6 năm 1757. Mẹ Nguyễn Gia Thiều là quận chúa Quỳnh Liên, tức Trương Thị Ngọc Tuân, con gái thứ sáu của An đô vương Trịnh Cương. Bà sinh ngày 14 tháng 10 năm Đinh Dậu, tức ngày 16 tháng 11 năm 1717, trẻ hơn chồng 3 tuổi và mất ngày 26 tháng 5 năm Bính Ngọ, tức ngày 21 tháng 6 năm 1786, thọ 70 tuổi. Như vậy Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là con cô con cậu với chúa Trịnh Sâm.
Về đằng anh em, Nguyễn Gia Thiều có tất cả 32 người, trong đó có 12 người con trai. Nguyễn Gia Thiều là con cả, kế đến là Nguyễn Gia Cơ, rồi Nguyễn Gia Diễm, Nguyễn Gia Chu, Nguyễn Gia Ban, Nguyễn Gia Xuyến… Nguyễn Gia Cơ về sau lấy con gái của vua Lê Huyền Tông, chị ruột của công chúa Ngọc Hân vợ vua Quang Trung. Nguyễn Gia Thiều lấy con gái trưởng của quan Chưởng phủ sự, Đại tư đồ Bùi Thế Đạt. Bốn anh em trai đầu của Nguyễn Gia Thiều đều giỏi thơ văn, thường xướng hoạ với nhau. Tác phẩm chung của họ là Tứ trai thi tập, gồm sáng tác của Tâm Trai (tức Nguyễn Gia Thiều), Kỳ Trai (Nguyễn Gia Cơ), Hoà Trai (Nguyễn Gia Diễm), Thanh Trai (Nguyễn Gia Chu).
Qua một vài nét về gia thế của Nguyễn Gia Thiều được giới thiệu trên đây, chúng ta có thể thấy dòng máu quý tộc của Nguyễn Gia Thiều sâu đậm biết chừng nào[4]. Người ta sẽ chẳng có gì ngạc nhiên tại sao nhà thơ sáng tác bằng chữ Nôm này lại không hề có một chút gì là “nôm na” mà đài các, quý phái đến thế. Trong lịch sử văn học ta, không có nhà thơ nào đài các, quý phái như Nguyễn Gia Thiều. Cố nhiên, ở đây “gia thế” mới là một phần, phần quan trọng hơn chính là con người và cuộc đời của tác giả.
Nguyễn Gia Thiều nổi tiếng là người thông minh học rộng, văn võ kiêm toàn. Theo các tài liệu cũ để lại, ngoài sự hiểu biết sâu rộng về văn học, sử học và triết học như nhiều nhà văn nhà thơ nổi tiếng khác, đặc biệt, Nguyễn Gia Thiều còn là một người rất tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật. Chẳng hạn về âm nhạc, ông rất sở trường về các bài ca, bài tán. Ông là tác giả các bản Sơn trung âm và Sở từ điệu. Về hội họa, ông có bức tranh lớn Tống sơn đồ dâng vua xem được khen thưởng. Về trang trí, kiến trúc, ông là người được chúa Trịnh giao cho việc trang hoàng phủ chúa và điều khiển xây chiếc tháp ở chùa Tiên Tích... nhưng rất tiếc, những công trình nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều đến nay không còn một cái nào. Ngay sáng tác văn học là hoạt động nổi bật nhất của ông, các sử liệu cũ nói ông có đến hàng nghìn bài thơ chữ Hán trong hai tập Ôn Như thi tập (thượng và hạ) nay cũng không còn một bài nào. Về thơ Nôm, ngoài Cung oán ngâm khúc như mọi người đều biết, Nguyễn Gia Thiều cũng chỉ còn đôi ba bài thơ lẻ chép trong Tạp ký của Lý Văn Phức. Tuy nhiên có điều lạ là trong số ít ỏi, những sáng tác còn sót lại của nhà thơ, từ tác phẩm lớn mấy trăm câu như Cung oán ngâm khúc đến những bài thơ nhỏ chỉ có bốn câu (tứ tuyệt) như bài Cảnh trong vườn, Miếng tình, bài nào người ta cũng thấy rõ cái day dứt, dằn vặt của nhà thơ trước cuộc sống, bài nào cũng có dáng dấp như một thông điệp nhà thơ gửi cho cuộc đời, và cho những thế hệ mai sau. Tả thiên nhiên, trong vườn, mà ông viết:
Lép nhép vài hàng tỏi,
Lơ thơ mấy luống khương
Vẽ chi tèo teo cảnh
Thế mà cũng tang thương
Điều quan trọng ở đây không phải là vài hàng tỏi và mấy luống khương (gừng), mà là cái vẻ tang thương dâu bể của nó. Chính cải cảnh tượng “thương hải biến vi tang điền” của xã hội ông, của thời đại ông đã khắc sâu dấu ấn vào tâm hồn nhà thơ để rồi nó biểu hiện lại trên những hàng tỏi, những luống khương ấy. Và đây nữa, một bài “thơ tình” kỳ lạ của ông:
Khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào
Miếng tình nghẹn lắm biết làm sao
Muốn kêu một tiếng cho to lắm
Rằng ối ai ôi, nó thế nào!
Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã từng: “muốn kêu một tiếng cho dài kéo căm” còn ở đây thì ông lại muốn kêu một tiếng cho to lắm. Kêu to để mọi người nghe thấy. Nhưng nghe thấy gì? – “Rằng ối ai ôi, nó thế nào!”. Cuối cùng Nguyễn Gia Thiều vẫn chẳng thể nào hiểu được, vẫn bế tắc. Đối với ông, giữa cái nhà thơ cảm thấy và cái nhà thơ nhận thấy có một khoảng cách không sao nối liền được, cho nên thường xuyên Nguyễn Gia Thiều sống trong tâm trạng day dứt, trớ trêu “khạc chẳng ra cho, nuốt chẳng vào” ấy.
Chúng ta biết Nguyễn Gia Thiều chào đời vào những năm phong trào nông dân khởi nghĩa rầm rộ nhất thế kỷ, khắp vùng đồng bằng bắc bộ, từ Thanh Hoá trở ra, không nơi nào không có khởi nghĩa. Cuộc này chưa tàn, cuộc khác đã bùng nổ: Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất, Nguyên Tuyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh, Vũ Đình Dung, Đoàn Doanh Chấn, Tú Cao, v.v.và v.v. Các cuộc khởi nghĩa nhiều lúc vây hãm cả kinh thành của nhà nước phong kiến, cắt đứt liên hệ giữa các địa phương, nên triều đình ra lệnh nơi nào có “giặc” phải đốt lửa lên cho nơi khác biết để tiếp cứu. Chinh phụ ngâm ra đời trong những năm tháng này.
Lúc Nguyễn Gia Thiều lên năm lên sáu tuổi, cậu bé được đưa vào nuôi nấng và học tập trong phủ của chúa Trịnh, và về sau Nguyễn Gia Thiều cũng làm quan ngay trong phủ chúa. Năm 18 tuổi, Nguyễn Gia Thiều được cử giữ chức Hiệu Uý, Quản trung mã tả đội. Năm 22 tuổi thăng chỉ huy Thiêm sự, đến năm 26 tuổi thăng chỉ huy Đồng tri, rồi năm 30 tuổi thăng Tổng binh đồng tri. Thời gian này ông lập được một số công nên được phong tước Hầu, gọi là Ôn Như Hầu. Năm 1780, Nguyễn Gia Thiều 39 tuổi, ông lại được thăng chức Đô chỉ huy sứ. Đến năm 1782 thăng chức Tứ thủ hiệu điểm, Tư tả hiệu điểm, và có lệnh sai đi lưu thủ xứ Hưng Hóa. Như thế là suốt từ lúc ra đời cho đến lúc 40 tuổi, nhà thơ chủ yếu sống trong phủ chúa Trịnh. Đây là giai đoạn trong triều đình vua Lê chúa Trịnh có nhiều biến cố dữ dội, chứng tỏ sự sa đọa đến cùng cực của tập đoàn phong kiến thống trị đương thời. Nào Trịnh Cương lấn quyền vua Lê, rồi Trịnh Giang giết Lê Duy Phương, giết cả đại thần Nguyên Công Kháng, tham tụng Lê Anh Tuấn và quí thích Trương Nhương. Nào Trịnh Sâm giết em là Trịnh Đệ, rồi sau Hoàng Ngũ Phúc giết thái tử Lê Duy Vĩ. Cuối đời, Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ, bỏ con trưởng lập con thứ, gây ra bè đảng trong phủ chúa, nạn kiêu binh hoành hành... Ngay việc Nguyễn Gia Thiều suốt mấy chục năm làm quan trong phủ chúa, hết sức được tin cậy, bây giờ tuy có được thăng chức, nhưng bị đẩy đi trấn ở một miền rừng núi xa xôi, nhiều người cho rằng điều đó chứng tỏ chúa Trịnh không còn tin ở Nguyễn Gia Thiều như trước. Và Nguyễn Gia Thiều biết như thế nên ông thường bỏ nhiệm sở về nhà riêng của mình ở Hồ Tây, vui chơi với bạn bè, làm thơ, uống rượu và bàn luận triết học. Phần lớn sáng tác của Nguyễn Gia Thiều ra đời trong giai đoạn này. Tiếp đến năm 1786, Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc diệt Trịnh, rồi năm 1789 lại kéo quân ra Bắc đại phá quân Thanh. Triều đình Lê Trịnh hoàn toàn sụp đổ. Nguyễn Gia Thiều hoang mang. Lúc đầu bỏ trốn lên Sơn Tây, nơi Nguyễn Điều anh ruột của Nguyễn Du và là con rể của Nguyễn Gia Thiều làm trấn thủ, sau ông lại chạy lên vùng rừng núi xứ Hưng Hóa. Vua Quang Trung lên ngôi, nhiều lần xuống chiếu kêu gọi đám quan lại cựu triều ra cộng tác với mình. Nhà Tây Sơn cho người đi tìm Nguyễn Gia Thiều. Bất đắc dĩ ông phải về lại Kinh, nhưng không chịu làm việc, suốt ngày chỉ uống rượu say tràn và giả cuồng. Có thể nói từ năm 1786 trở đi, Nguyễn Gia Thiều sống trong một tình trạng còn gay gắt, quyết liệt hơn trước. Ông buộc phải chứng kiến những cảnh tượng hết sức đau lòng đối với ông, như cảnh Lê Chiêu Thống dựa thế Nguyễn Hữu Chỉnh đốt sạch cơ nghiệp của chúa Trịnh xây dựng ngót hai trăm năm, cảnh Trịnh Tông chạy trốn Tây Sơn bị tên tuần huyện Trang phản bội phải cắn lưỡi tự tử, hay cảnh Lê Chiêu Thống cũng chạy trốn Tây Sơn bị Nguyễn Cảnh Thược lừa lấy sạch vàng bạc và sau đó lột luôn cả chiếc áo ngự bào vua đang mặc... Đối với bản thân Nguyễn Gia Thiều, mới ngày nào ông còn được sủng ái, nuông chiều là thế, mà bây giờ phải giả điên giả dại, uống rượu tiêu sầu để đợi ngày chết. Nguyễn Gia Thiều không tài nào hiểu được. Ông cảm thấy một sức mạnh gì huyền bí, ghê gớm đang chi phối tất cả:
Kìa thế cục như in giấc mộng,
Máy huyền vi mở đóng khôn lường
Nguyễn Gia Thiều mất ngày 9 tháng 5 năm Mậu Ngọ, tức ngày 22 tháng 6 năm 1798, thọ 58 tuổi.
Nguyễn Gia Thiều là người đã ý thức được một cách sâu sắc sự sụp đổ không phương cứu chữa của nhà nước phong kiến lúc bấy giờ và một trong những giá trị của Cung oán ngâm khúc chính là nhà thơ đã phản ánh được cái hiện thực ấy.
Nói chung, những tác phẩm ra đời trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, bằng nhiều góc độ khác nhau, và bằng nhiều cách khác nhau đã phản ánh cái hiện thực ấy, nhưng dường như phải đến Cung oán ngâm khúc người ta mới cảm thấy hết cái bi đát, dữ dội của hiện thực. Hơn tất cả những người khác, Nguyễn Gia Thiều đem đến cho văn chương một tiếng nói gay gắt, quyết liệt, đầy phẫn nộ và cũng đầy lo âu trong Cung oán ngâm khúc. Nhà thơ viết về cuộc đời người cung nữ, nhưng ông không dừng lại ở đó, mà muốn nhân đây mở rộng ra viết về cuộc đời nói chung lúc bấy giờ. Nhà thơ không nhằm dựng lên những bức tranh cụ thể về đời sống, mà chỉ phát biểu quan niệm của mình về đời sống, nhưng qua cách phát biểu của ông, người ta lại cảm nhận một cách sâu sắc, thấm thía không phải về một sự kiện riêng lẻ, cá biệt nào, mà về chính những cái bản chất nhất của nó. Về phương diện này, tác phẩm có phần gần gũi với Cung oán ngâm khúc là bài Văn chiêu hồn của Nguyễn Du. Đọc Văn chiêu hồn, không khí dữ dội không kém! Đây là thế giới của những hồn ma bóng quỷ “Trong trường dạ tối tăm trời đất”, những cô hồn lần lượt hiện về trông thiểu não thê lương. Nhà thơ nhận ra trong đám cô hồn ấy có đủ mọi hạng người, từ những em bé mồ côi mới lọt lòng, cô gái làm nghề mại dâm, người ăn mày, người lính, người tù, đến những kẻ “màn loan trướng huệ”, những ông tướng “bày binh bố trận”, những ông quan “ngọn bút son sống thác ở tay”... Trong Văn chiêu hồn không có những người cụ thể, nhưng Nguyễn Du còn nêu lên những thân phận cụ thể. Cái khác của Cung oán ngâm khúc là cả những thân phận cụ thể cũng không có. Sự khái quát của Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc mang một ý vị triết học, mặc dù nói cho đúng thì về mặt triết học, tư tưởng của Nguyễn Gia Thiều không phải có cái gì thật đặc sắc, không phải có cái gì cao hơn tư tưởng của Nho, của Đạo, Phật phổ biến trong thời đại ông. Nguyễn Gia Thiều gọi tất cả những điều ông không cắt nghĩa được bằng một cái tên chung là Định Mệnh, và ông cho Định Mệnh đã chi phối tất cả: “Vẻ chi ăn uống sự thường. Cũng còn tiền định khá thương lọ là”. Một chỗ khác ông lại bảo cuộc đời là giấc mộng: “Kìa thế cục như in giấc mộng”, và một chỗ khác nữa thì ông kêu gọi người ta đi ở ẩn hoặc đi tu: “Lấy gió mát trăng thanh làm bạn. Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên”... Phải nói rằng, nếu như Nguyễn Gia Thiều nhận thức cuộc sống đúng như những triết lý trên đây của ông thì có lẽ Cung oán ngâm khúc sẽ chẳng còn gì mấy, sẽ chẳng có bao nhiêu ý nghĩa.
Trong Cung oán ngâm khúc có tư tưởng triết học, nhưng đó không phải là phần giá trị của tác phẩm này. Nguyễn Gia Thiều bế tắc trong cách lý giải cuộc sống thì ông viện đến tư tưởng của Nho, Đạo, Phật để lý giải, cũng như ông yêu đời nhưng bị cuộc đời ruồng rẫy thì ông bảo quay lưng lại nó, đi tìm hạnh phúc ở chỗ khác, chứ trong thâm tâm mình, nhà thơ không phải là kẻ chán đời, không phải là người hư vô. Nguyễn Gia Thiều thông minh không phải trong sự lý giải, mà trong sự cảm nhận. Văn chương của ông có mang một ý vị triết học nào đó, nhưng ông là nhà thơ chứ không phải nhà triết học, và chính cái phần cảm nhận thơ ca ấy trong Cung oán ngâm khúc đã đem lại tính chất độc đáo, sâu sắc cho tác phẩm này. Dưới ngòi bút luôn luôn quằn quại, phập phồng của ông, xã hội nhà thơ đang sống giống như một đường hầm, và không có ánh sáng ở cuối đường. Con người không chờ đợi bất cứ một điều gì ở cái xã hội ấy.
Sẽ chẳng có gì tốt đẹp đến với họ cả:
Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,
Lớp cùng thông như đúc buồng gan,
Bệnh trần đòi đoạn tân toan,
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.
Và triền miên trong một ý nghĩ như thế nhà thơ đưa ra biết bao hình ảnh thê thảm, đen tối. Con người nào có nghĩa lý gì? Nó chỉ là thứ bèo bọt trôi nổi giữa bể khổ bến mê, là chiếc thuyền bào ảnh, là cái quay búng sẵn trên trời, là cái bóng nhạt nhòa trong buổi chiều tà hay giữa đêm đen tối. Và cuộc đời hoàn toàn không phải bữa tiệc vui cho tất cả mọi người, mà có biết bao nhiêu nỗi lo, nỗi sợ. Con người lo đói, lo rét, lo những chuyện “tử, sinh, kinh, cụ”. Nguyễn Gia Thiều có điều kiện hơn những nhà văn, nhà thơ khác là ông sống trong phủ Chúa Trịnh, cho nên ông thấy rõ trong sự sụp đổ chung ấy thì chiếc ngai vàng chẳng phải là cái gì vĩnh cửu, cung điện, lâu đài chẳng phải lúc nào cũng yên ổn, an lành, và đám công hầu khanh tướng chẳng phải bao giờ cũng có thể dương dương tự đắc. Mà nhiều khi trái lại, càng trèo cao thì càng ngã đau. Cố cho lắm thì thiệt càng nhiều. Chạy theo danh lợi sẽ chết vì danh lợi. Phú quí vinh hoa không phải phần thưởng cho kẻ bon chen. Tất cả đều là thứ mồi chài, thứ thuốc độc. Nguyễn Gia Thiều thấm thía với những cảnh:
Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc,
Thú ca lâu dễ khóc canh dài;
Đất bằng bỗng rấp chông gai,
Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dương.
Mồi phú quý dử làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gã công khanh;
Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.
Trong Cung oán ngâm khúc, sức mạnh câu thơ của Nguyễn Gia Thiều là ở cảm xúc, ở hình ảnh. Nhà thơ có phân tích nhưng không cốt làm người đọc nhận thức theo lối phân tích, mà chủ yếu để họ ý thức theo lối trực cảm. Nhiều lúc ông chỉ cần một vài hình ảnh mang tính chất tượng trưng hay một vài từ ngữ mang tính chất gợi cảm là có thể đưa người đọc đến thẳng với những điều ông muốn nói một cách nhanh chóng và trọn vẹn. Đọc những câu thơ như:
Đòi những kẻ thiên ma bách chiết,
Hình thì còn, bụng chết đòi nau;
Thảo nào khi mới chôn rau (nhau),
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,
Ai bày trò bãi bể nương dâu.
Hay những câu như:
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nắm cổ khâu xanh rì.
thì không có một sự phân tích, lý giải, một sự miêu tả văn xuôi nào đạt được hiệu quả nghệ thuật cao như thế. Trong Cung oán ngâm khúc, nhất là đoạn nói về quan niệm nhân sinh của người cung nữ - mà ở đây ai cũng biết là của tác giả - những hình ảnh cứ liên tiếp, cái nọ chồng lên cái kia, tầng tầng lớp lớp, điệp điệp trùng trùng, rồi tất cả cùng qui về một điểm và chính từ cái tiêu điểm ấy, người ta nhận ra một cách sáng rõ tất cả những sự thật phũ phàng mà nhà thơ muốn nói. Trong quan niệm của Nguyễn Gia Thiều, mọi nhận thức có xu hướng muốn mở rộng, không còn biên giới của thời gian và không gian cụ thể, nhưng chính cái tình cảm tha thiết của nhà thơ đối với những điều ông nói lại tố cáo với mọi người rằng, những điều Nguyễn Gia Thiều đề cập đến trong Cung oán ngâm khúc không phải là muôn thuở, mà trước hết nó là thực trạng của những năm tháng nhà thơ đang sống và sáng tác. Ý nghĩa hiện thực trong quan niệm nhân sinh của Nguyễn Gia Thiều là ở đó.
<<>>
Nhưng Cung oán ngâm khúc không đơn thuần nói về quan niệm nhân sinh của Nguyễn Gia Thiều. Như đầu đề của tác phẩm – “Khúc ngâm về nỗi oán hờn trong cung cấm” - bình diện chính của tác phẩm là nói về thân phận đau khổ của người cung nữ.
Trong nền văn học cổ của Trung Quốc cũng như của ta trước đây, chủ đề “cung oán” là một chủ đề rất phổ biến. Bọn vua chúa phong kiến các nước phương Đông như Trung Quốc và Việt Nam trước đây vốn nổi tiếng là những kẻ ăn chơi, hưởng lạc. Trong cung cấm vàng son của chúng thường xuyên có hàng trăm, hàng nghìn, thậm chí hàng vạn cung nữ ngày đêm múa hát và làm trò mua vui cho chúng. Lịch sử Trung Quốc còn ghi lại những triều đại và những tên vua từng nổi tiếng ăn chơi như Tần Thủy Hoàng, Tùy Dương đế, Đường Huyền Tông, Nguyên Vũ Tông... Ở Việt Nam, vua chúa các triều đại cũng thường bắt chước cách ăn chơi của bọn vua chúa Trung Quốc, nuôi rất nhiều cung nữ. Từ đời Lý đến đời Trần, rồi đời Lê, đời nào trong cung cấm cũng có cung nữ. Nhưng đặc biệt từ khi nhà nước phong kiến bước vào giai đoạn suy vong, nghĩa là từ thời Lê Uy Mục, Lê Tương Dực trở đi thì việc ăn chơi của các vua chúa trong cung cấm mới trở nên gay gắt, và việc nuôi cung nữ mới trở thành một tai họa. Các tài liệu cũ ghi lại từ thời vua Lê chúa Trịnh số cung nữ được nuôi trong phủ chúa lên đến ba bốn trăm người, đấy là chưa kể số cung nữ của vua Lê. Ở Đàng trong, dưới thời chúa Võ Vương cũng có đến ba trăm cung nữ. Hoàng Lê nhất thống chí ghi lại hình ảnh vua Lê Hiển Tông, một người suốt ngày khoanh tay, rủ áo, chỉ nghĩ cách bày trò vui chơi với đám cung nữ của mình. Cả một đời làm vua bị chúa Trịnh chèn ép đủ đường, nhưng khi có người hỏi giá ai đó diệt được họ Trịnh trả quyền lại cho vua Lê thì nhà vua nghĩ thế nào? Lê Hiển Tông đã trả lời hết sức bất ngờ: “Trời sai nhà chúa phù ta, chúa gánh cái lo, ta hưởng cái vui, mất chúa tức là cái lo lại về ta, ta còn vui gì!”. Nhưng thực tế nhà chúa đâu phải “gánh vác cái lo” như Lê Hiển Tông nói, ở phủ chúa Trịnh việc ăn chơi cũng không kém gì ở cung vua Lê. Chính Trịnh Giang vì hoang dâm vô độ mà bị truất ngôi chúa. Trịnh Sâm cũng do ăn chơi quá nhiều mà mắc bệnh sợ nắng, gió, suốt ngày phải đóng cửa, thắp nến ở trong cung... Trong cuộc hành lạc triền miên của bọn vua chúa, số phận những người cung nữ thê thảm biết chừng nào! Họ như bông hoa, lúc còn hương sắc thì còn được yêu chiều, ngắm nghía, đến lúc hoa tàn, hương nhạt thì bị vất bên cạnh đường đi, không ai đoái hoài! Thậm chí có những ông vua đến lúc chết rồi vẫn còn bắt những cung nữ của hắn ôm mộ suốt đời. Cái thảm trạng ấy đối với những tâm hồn thi nhân dễ xúc động làm sao lại chẳng nảy lên những vần thơ thống thiết. Trong văn học Trung Quốc, nhất là vào thời Đường, nhiều bài thơ viết về cuộc đời những người cung nữ trong cung cấm của các nhà thơ đều là những bài thơ rất hay, rất xúc động. Chẳng hạn Lý Bạch có Bạch đầu ngâm, Đỗ Phủ có Lệ nhân hành, Bạch Cư Dị có Thượng Dương bạch phát nhân, Trường hận ca, Nguyên Vi Chi có Liên Xương cung từ. Ở Việt Nam, giai đoạn Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều ra đời cũng có một số nhà thơ khác viết về đề tài này như Nguyễn Hữu Chỉnh có Cung oán thi, Nguyễn Huy Lượng có Cung oán thi, Vũ Trinh có Cung oán thi tập, Nguyễn Bạch Liên có Cung oán quốc âm thi... Tất cả có đến mấy trăm bài. Nhưng sâu sắc hơn cả, thành công hơn cả, thì phải nói đến Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Điều đó có phần do tài năng của nhà thơ, cũng có phần do hoàn cảnh, do vốn sống của ông quyết định.
So với tất cả những nhà thơ khác viết về đề tài này, Nguyễn Gia Thiều là người có thuận lợi hơn cả. Chính ông đã sống trong phủ chúa Trịnh, đã chứng kiến những cảnh tượng ấy. Đối với nghệ thuật vốn sống trực tiếp bao giờ cũng đem lại cho người nghệ sĩ những cảm xúc mới mẻ, tinh khôi và đậm nét hơn cả. Thêm vào đó. Nguyễn Gia Thiều viết về người cung nữ đồng thời cũng là viết về tâm sự của cá nhân mình. Người cung nữ lúc đầu được vua yêu về sau bị ruồng bỏ, thì Nguyễn Gia Thiều lúc đầu cũng được nhà vua tin cậy, về sau mới bị đày đi xa... hai cảnh ngộ thực ra không hoàn toàn giống nhau, nhưng người trong cảnh lại cảm thấy như có chung một tâm sự: tâm sự của những người bị rẻ rúng. Ngòi bút của Nguyễn Gia Thiều tìm thấy nguồn cảm xúc dồi dào không phải chỉ từ khách thể bên ngoài, mà chính từ nội tâm của mình nữa. Cho nên Cung oán ngâm khúc mang một dáng vẻ riêng của nó. Có điều cách bắn một mũi tên nhắm vào hai đích như thế không phải chỉ có ưu điểm mà còn có những hạn chế nhất định. Trong Cung oán ngâm khúc nhiều lúc có cảm giác Nguyễn Gia Thiều nói về bản thân mình đúng hơn là nói về người cung nữ, nhiều lúc có cảm giác ông đứng ra mô tả tâm trạng người cung nữ theo quan niệm của ông đúng hơn là người cung nữ bộc bạch tâm trạng của mình. Rõ ràng Cung oán ngâm khúc không giữ được tính toàn vẹn, tính nhất quán trong kết cấu nghệ thuật, cho nên tác phẩm có giảm đi sức truyền cảm một phần nào. Người ta khó có thể hình dung được người cung nữ dù có kiêu căng về nhan sắc của mình như thế nào chăng nữa, lại có những ý nghĩ kỳ quặc như:
Bóng nga lấp ló trong mành,
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.
Hay tự hào về tài năng của mình, dù có ngoa ngoắt đến đâu cũng không thể vỗ ngực tự xưng “Câu cẩm tú đàn anh họ Lý, nét đan thanh bậc chị chàng Vương”. Rồi còn tài đàn, tài vẽ, tài rượu nữa – “Cờ tiên rượu thánh ai đang. Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm” - ở đây người ta chỉ có thể nghĩ đến cái kiêu căng của chính tác giả, một nhà thơ nhưng cũng rất sành về hội họa, về âm nhạc, và sành cả về uống rượu, chơi cờ... Mà không phải chỉ nói về tài sắc, ngay cách phản ứng lại những điều ngang trái trong cung cấm của người cung nữ, như một nhà nghiên cứu đã nói, vẫn có mang dáng dấp cách phản ứng của tác giả nhiều hơn. Những câu thơ như:
Dang tay muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.
Thì rõ là thể hiện một ý chí phản kháng, nhưng tính chất quyết liệt của nó có cái gì giống với một võ tướng, hơn là cử chỉ của một người cung nữ chân yếu tay mềm.
Chính do sự “gán ghép” trên đây mà một số người phân vân phải chăng Cung oán ngâm khúc chỉ là cách biểu hiện tâm sự của Nguyễn Gia Thiều chứ không phản ánh một hiện thực khách quan nào cả. Thực ra kết luận như thế có phần quá đáng. Đúng là trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều có tự thể hiện mình trong khi thể hiện người cung nữ, nhưng phần chủ yếu vẫn là thể hiện người cung nữ. Trong Cung oán ngâm khúc số phận người cung nữ vẫn là một bằng chứng không thể chối cãi được về cuộc sống hưởng lạc, đồi bại, về sự phũ phàng không tình nghĩa của bọn vua chúa lúc bấy giờ. Người cung nữ trong tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều lúc mới vào cung trẻ đẹp “đoá lê ngon mắt cửu trùng”, được chăm chút nâng niu đến nỗi nàng cảm thấy nhan sắc của mình có quyền lực làm nghiêng đổ cả thiên hạ:
Má hồng không thuốc mà say.
Nước kia muốn đổ, thành này muốn long.
Nhưng với bản chất là người lương thiện, nàng không hề muốn lợi dụng sức mạnh ấy. Giống như bao nhiêu cô gái trong trắng khác, nàng chỉ nghĩ về một tình yêu sắt son, chung thuỷ:
Chữ đồng lấy đấy làm ghi,
Mượn điều thất tịch mà thề bách niên
Những ngày đầu sống trong cung đối với nàng như hứa hẹn một tương lai tốt đẹp. Nàng không lo lắng gì cả, mà mừng thầm cho mình “cá nước duyên may”, và hy vọng “càng lâu càng lắm điều hay”. Nhưng rồi dần dà, những ảo mộng tan vỡ, cuộc sống phơi trần tính chất giả dối, xấu xa của nó. Trong cung cấm làm gì có sự công bằng và tình nhân ái. “Đấng quân vương” làm gì có kẻ chung tình, chung thủy. Trong con mắt người cung nữ, bấy giờ họ là những kẻ bất nhân, hưởng lạc, những kẻ “chơi hoa cho rữa nhụy dần lại thôi”. Nguyễn Gia Thiều đã khai thác sâu sắc tâm trạng bi kịch của người cung nữ, vừa chua chát lại vừa căm phẫn, vừa luyến tiếc, lại vừa đay nghiến, vừa hối hận, bi quan lại vừa thấp thỏm chờ đợi. Cái nọ đan chéo với cái kia, và để cho tâm trạng bi kịch ấy nổi bật, nhà thơ có dụng ý đối chiếu giữa quá khứ với hiện tại, giữa thực trạng với ước mơ, giữa tình với cảnh... “tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này”. Nguyễn Gia Thiều dựng lên trong tác phẩm của mình một cuộc sống han rỉ của con người sống trong cô đơn, lẻ loi. Ngày trước vua hay đến với người cung nữ bằng xe dê, bằng phượng liễn. Bây giờ lâu ngày vua không đến nữa, nên những nơi “ngấn phượng liễn” và “dấu dương xa” cỏ đã mọc lên “quanh co” “lỗ chỗ”. Phòng cung nữ ở được dát hồ tiêu cho ấm thì bây giờ vắng bóng vua, có cảm giác “lạnh ngắt như đồng”. Trong phòng, đôi “gối du tiên” của vợ chồng trong đêm tân hôn còn đó, mà nàng thì sống thui thủi một mình nên nó cũng lạnh lẽo “tuyết đóng” “giá đông”. Xa xa tiếng chuông chùa vẳng lên không trung nghe rầu rĩ, buồn thảm, và ở gần nàng thì mùi hương, ngọn đèn cũng mang một mùi vị, một ánh sáng khác thường:
Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u.
Tất cả những cảnh ấy rất hợp với tình người cung nữ:
Một mình đứng tủi ngồi sầu
Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa.
Nguyễn Gia Thiều đã học tập khai thác nội tâm nhân vật trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm để miêu tả nội tâm của người cung nữ. Trong cuộc sống lẻ loi chiếc bóng của mình, người cung nữ sợ nhất là năm tháng sẽ trôi qua, tuổi xuân sẽ một đi không trở lại, thì làm sao còn hy vọng có được hạnh phúc. Người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm lo nhất là lo cho tuổi già:
Kia Văn Quân mỹ miều thuở trước,
E đến khi đầu bạc mà thương
Mặt hoa nọ gã Phan Lang
Sợ khi mái tóc điểm sương cũng ngừng
Nghĩ nhan sắc đương chừng hoa nở
Tiếc quang âm lần lữa gieo qua
Nghĩ mệnh bạc, tiếc niên hoa
Gái tơ mấy chốc xảy ra nạ dòng
Nỗi lo ở đây có cái chua xót, đau đớn, nhưng không bẽ bàng, bởi vì dù sao trong nỗi lo của mình, người chinh phụ không cảm thấy cô đơn, nàng vẫn nghĩ đến sự đồng điệu đầy ân tình của chồng nàng. Còn người cung nữ thì không hề như vậy. “Chồng nàng” ở đây lại là nguồn gốc của mọi tai họa xảy ra đối với nàng, cho nên trong nỗi lo của người cung nữ, bên cái chua xót lại có cả cái mỉa mai, đắng cay, tủi nhục:
Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa
Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng
Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn…
Và Nguyễn Gia Thiều đẩy cái tâm trạng ấy lên một tình thế mới với một kịch tính cao hơn: Vì lo sợ tuổi già nên người cung nữ luôn luôn khắc khoải trông đợi vào tình thương và sự đoái hoài của bọn vua chúa. Ở đây người cung nữ rơi vào tình trạng thấp thỏm, phập phồng và cuối cùng là thất vọng, bế tắc! Nguyễn Gia Thiều đã khai thác tính chất bi kịch không phải trên một cục diện lớn, mà ngay trong từng cử chỉ, từng chi tiết. Hy vọng và thất vọng ở đây không có khoảng cách mà nó theo liền nhau như hình với bóng:
Khi trận gió lung lay cành bích
Nghe rì rào tiếng mách ngoài xa
Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra
Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn
Ai ngờ tiếng dế than ri rỉ
Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng
Vắng tanh nào thấy vân mòng
Hơi thê lương lạnh ngắt song phi huỳnh
Khi bóng nguyệt chênh vênh trước ốc
Nghe vang lừng tiếng giục bên tai
Dè chừng nghe tiếng tiểu đòi
Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo
Ai ngờ tiếng quyên kêu ra rả
Điệu thương xuân khóc ả sương khuê
Lạnh lùng nào thấy ỏ ê
Khí bi thu sực nức hè lạc hoa
Có thể nói chính trải qua những bi kịch gay gắt như thế mà dần dần người cung nữ mới ý thức hết bản chất tàn bạo của cuộc sống trong cung cấm:
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm
Và bây giờ nàng mới thực sự nhận ra vẻ đẹp của cuộc sống dân dã, tuy có nghèo khổ, nhưng rất giàu tình người. Nàng ao ước một gia đình chồng vợ đề huề, con cái đông vui ấm cúng:
Cùng nhau một giấc hoành môn
Lau nhau ríu rít cò con cũng tình
Ước mơ hết sức đơn sơ, giản dị nhưng làm sao thực hiện được trong hoàn cảnh của nàng? Xưa nay có bao giờ người cung nữ được trở về để xây dựng gia đình. Nguyễn Gia Thiều để cho nàng ao ước cũng là cách để cho nàng ý thức một cách thấm thía hơn cảnh ngộ của mình. Nhà thơ dồn tâm trạng của người cung nữ đến tận cùng của sự bế tắc, nhằm qua đó làm nổi rõ tính chất phi lý của thực tại, đồng thời tạo điều kiện cho sự bộc lộ một thái độ phản kháng quyết liệt.
Có thể nói trong nền văn học cổ của ta, ít có tác phẩm nào sự phản ứng đối với thực tại - mà ở đây thực tại là cuộc sống cung cấm, là chuyện của vua chúa - lại gay gắt quyết liệt như Cung oán ngâm khúc. Ngòi bút phê phán của Nguyễn Gia Thiều hầu như không có sự né tránh, kiêng nể. Điều đó có thể được giải thích một phần bằng địa vị của nhà thơ trong xã hội. Cái thế cháu của chúa Trịnh quả có làm cho Nguyễn Gia Thiều mạnh dạn hơn những nhà thơ khác trong thái độ phê phán. Nhưng trong Cung oán ngâm khúc sự phê phán gay gắt còn do chính tình thế của tác phẩm đòi hỏi. Những xung đột không có khả năng được hoá giải tất yếu phải bùng nổ. Người cung nữ trong Cung oán ngâm khúc không chỉ muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm, mà còn vạch trần bản chất trụy lạc, vô nhân đạo của bọn vua chúa. Những câu thơ đả kích của Nguyễn Gia Thiều chứa chất sự hờn căm, uất hận đến cao độ:
Đuốc vương giả chí công là thế
Chẳng soi cho đến khoé âm nhai
Muôn hồng nghìn tiá đua tươi
Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần
Hay:
Trên chín bệ có hay chăng nhẽ
Khách quần thoa mà để lạnh lùng
Thù nhau ru hỡi đông phong
Góc vườn dãi nắng cầm bông hoa đào
Nhưng đến kết thúc khúc ngâm, người ta có cảm giác những mâu thuẫn gay gắt ở trên như dịu lại. Người cung nữ của Nguyễn Gia Thiều không tiếp tục lên án thái độ bất công của bọn vua chúa nữa. Nhà thơ vẽ ra khung cảnh một đêm mưa gió lạnh lùng, những giọt nước rơi thánh thót trên tàu lá chuối. Bóng đom đóm bay thấp thoáng ngoài tường. Trong phòng, bên ngọn đèn xanh lờ mờ, người cung nữ nghĩ đến thời gian trôi nhanh như bóng câu qua cửa sổ, đã tự mình an ủi:
Bóng câu thoáng bên cành mấy nỗi
Những hương sầu phấn tủi bao xong
Phòng khi động đến cửu trùng
Giữ sao cho được má hồng như xưa...
Đã nhiều lần thất vọng, bế tắc, thế mà cuối cùng người cung nữ vẫn trở lại với tâm trạng chờ đợi! nhưng cái hy vọng ở đây mới mong manh làm sao: Phòng khi động đến… thì thực tế sẽ chẳng bao giờ động đến cả. Như thế có nghĩa là người cung nữ chờ đợi trong mỏi mòn, tuyệt vọng. Khúc ngâm kết thúc, xung đột không nổi lên gay gắt trên bề mặt, mà nó chìm xuống dưới bề sâu, âm hưởng tố cáo của khúc ngâm không vì sự thay đổi cách biểu hiện mà bị giảm sút.
<<>>
Cung oán ngâm khúc ra đời đã góp thêm một tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời cũng góp thêm một tiếng nói mạnh mẽ đòi quyền sống, quyền được yêu, quyền có hạnh phúc cho con người trong cuộc đời này.
Cung oán ngâm khúc và bản dịch Chinh phụ ngâm giống như hai chị em, nhưng cá tính của hai người khác nhau một trời một vực. Đọc bản dịch Chinh phụ ngâm người ta thấy mọi cái đều trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Người đọc có cảm giác tác giả đã chọn được con đường ngắn nhất để đến với mình, vì vậy mà bản dịch Chinh phụ ngâm được phổ biến hết sức rộng rãi. Trong khi đó đọc Cung oán ngâm khúc người ta có cảm giác ngược lại. Tác phẩm không dễ hiểu một chút nào, Nguyễn Gia Thiều không có dụng ý viết cho dễ hiểu, mà ông cố viết một cách uyên bác. Dường như không có nhiều lắm những câu thơ có thể hiểu ngay, lãnh hội được ngay trong Cung oán ngâm khúc. Nói chung đọc Cung oán ngâm khúc là phải hiểu từ Hán Việt, hiểu điển cố. Trong Cung oán ngâm khúc có những câu thơ được tác giả cấu tạo hầu hết bằng điển cố và từ Hán Việt. Tính chất quý tộc là một đặc điểm của tác phẩm này. Nguyễn Gia Thiều là một nhà thơ xuất thân quí tộc, ông viết về một đề tài có tính chất quí tộc và nghệ thuật của ông cũng tiêu biểu cho một nghệ thuật có tính chất quí tộc. Trong tác phẩm của ông, chỗ nào cũng trang nhã đĩnh đạc, chỗ nào cũng ngào ngạt mùi hương, cũng lóng lánh màu sắc, cũng đẽo gọt chạm trỗ. Nào những vách quế, những vũ y, những xiêm nghê, những gối loan, chăn cù, rồi những sân đào lý, nền đỉnh chung, đệm hồng thúy, bóng bội hoàn, đỉnh trầm hương, ngấn phượng liễn, dấu dương xa... tất cả đều hết sức xa lạ với cuộc đời thường. Chất liệu mà nhà thơ sử dụng để cấu tạo nên tác phẩm là thứ chất liệu “cao cấp”, và đồ án xây dựng của ông cũng cùng một mô hình với đề án xây dựng các cung điện, đền đài, chùa tháp... Tuy nhiên, trong cái phạm trù quí tộc này phải nói Cung oán ngâm khúc là sản phẩm của một tài năng lớn.
Một điều hết sức đáng quý, và có thể là bài học chung cho tất cả những người sáng tác là viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều đã lao động một cách hết sức công phu và nghiêm túc. Trong Cung oán ngâm khúc từ câu đầu đến câu cuối, không có một câu nào nhà thơ tỏ ra non tay, gượng ép hay cẩu thả. Người ta có cảm giác trước khi viết một câu, một chữ nào, nhà thơ đều đắn đo, suy nghĩ một cách hết sức cẩn thận. Những chữ nhà thơ dùng trong Cung oán ngâm khúc giống như những họa tiết của một bức tranh và trước khi đặt bút trên giấy, nhà họa sĩ đã ngắm nghía, nghĩ ngợi đặt nó vào chỗ nào cho bố cục của bức tranh chặt chẽ, gây được ấn tượng, phát huy được tác dụng cao nhất. Nói chung nghệ thuật phong kiến phương Đông hết sức tinh vi trong chi tiết và Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc có thể coi là một biểu hiện của sự tinh vi ấy trong nghệ thuật ngôn ngữ. Đối với nhà thơ, đã hình dung Đấng tạo hóa là một đứa trẻ, và ông gọi là “Trẻ tạo hóa”, thì hành động của nó phải là “đành hanh” - Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán. Cũng như vậy, hình dung sự say mê sắc đẹp còn ngây ngất hơn cả người ta say thuốc thì nhà thơ viết: má hồng không thuốc mà say, và câu tiếp theo: Nước kia muốn đổ, thành này muốn long. Câu này lấy ý từ một câu văn cổ của Trung Quốc: “Nhất tiếu khuynh nhân thành, tái tiếu khuynh nhân quốc”. Quốc là quốc gia, là nước, thành là thành trì, là bức thành. Nhà thơ đã dùng nước thay cho quốc, nên câu trên ông viết: Nước kia muốn đổ, thành này muốn long: nước đổ, thành long, đó là những cặp từ đi sóng đôi với nhau. Có biết bao nhiêu dẫn chứng như thế trong Cung oán ngâm khúc! Chữ nghĩa của Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc không trôi chảy tuồn tuột, mà móc xích vào nhau bằng những chốt, những mộng hết sức tinh vi, vững chắc. Trong Cung oán ngâm khúc chữ này hô thì chữ kia ứng, chữ này đối thì chữ kia đáp, chữ này vay thì chữ kia trả... Phú quí là thứ “mồi” thì phải dùng để “nhử”. Vinh hoa là thứ “bả” thì nó phải dùng để “lừa”:
Mồi phú quí nhử làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gã công khanh
Giấc Nam kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không
Cũng giống như vậy, để đạt được danh lợi, người ta phải chạy vạy nhục nhã, phải dầu dãi phong trần, nên tác giả viết:
Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nhưng rồi được cái gì? – Sẽ chẳng được gì cả:
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê
Sử dụng từ ngữ một cách tinh vi chặt chẽ đến thế, người ta dễ nghĩ nhà thơ là một nghệ sĩ thiên về hình thức, là một người hình thức chủ nghĩa. Nhưng không phải. Cái tài của nhà thơ chính là ở chỗ về mặt hình thức, ông hết sức tinh vi, hết sức trau chuốt, nhưng tất cả những điều ấy không hề làm hạn chế sự biểu hiện nội dung mà chính nó lại là những phương tiện biểu hiện nội dung một cách tốt nhất. Miêu tả người con gái đẹp: văn học cổ thường so sánh với hoa. Nguyễn Gia Thiều cũng so sánh như thế, nhưng ở ông khi còn là một cô gái trẻ thì nhà thơ không gọi là hoa nói chung, mà là “nụ hoa”: Nụ hoa chưa mỉm miệng cười. Và khi nói về một người đẹp nhưng sống tẻ nhạt, cô đơn như người cung nữ trong cung cấm thì ông cũng so sánh với hoa nhưng lại viết Vườn Thượng Uyển hoa cười với nắng. Câu thơ có hoa có nắng, có tiếng cười mà đọc lên nghe buồn ảo não. Thông thường, hoa phải đi với ong, với bướm. Có ong bướm hoa mới thụ phấn, kết quả. Nhưng vắng ong bướm hoa trong vườn Thượng Uyển phải cười với nắng. Cảnh ngộ thật là trớ trêu, nghiệt ngã. Ngôn ngữ của Nguyễn Gia Thiều ước lệ mà cô đúc, chắt lọc chứ không sáo mòn. Trong chữ của ông, bao giờ cũng có nghĩa, và chữ nghĩa của ông hết sức độc đáo, táo bạo. Đâu có dễ dàng khi viết những câu thơ:
Tiếng giục giã cười già ra gắt
Mùi quyền môn thắm rất nên phai
Đây là một nhận xét, đồng thời cũng là một khái quát, một triết lý. Trong Cung oán ngâm khúc nhà thơ rất thích dùng từ “cái”. Có đến trên một chục trường hợp nhà thơ dùng từ “cái” đi liền với một danh từ. Trong tiếng Việt, thông thường danh từ đi liền với từ cái là thứ danh từ chỉ một vật cụ thể. Một số trường hợp Nguyễn Gia Thiều đã dùng như vậy. Chẳng hạn:
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm
Hay:
Cái gương nhân sự chiền chiền
Liệu thân này có cơ thiền phải nao.
Nhưng không ít trường hợp từ “cái” ông dùng mang một ý nghĩa rất sáng tạo, không chỉ đối với ngôn ngữ ở thời đại ông, mà đối với ngôn ngữ hiện nay nữa. Đấy là khi ông dùng nó với những danh từ trừu tượng trong những trường hợp rất bất ngờ. Chẳng hạn ông gọi “phong ba”, “nỗi buồn”, “sự u sầu” đều bằng “cái” tất cả:
Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh
Hay:
Cái buồn này ai dễ giết nhau
Giết nhau chẳng cái lưu cầu
Giết nhau bằng cái ưu sầu độc chưa!
Và trong trường hợp sau đây thì mặc dầu từ “cái” vẫn đi liền với một danh từ cụ thể như thường thấy, nó vẫn rất độc đáo bởi vì nó làm cho danh từ cụ thể ấy biến đổi, biến chất, nhà thơ nói:
Nghĩ mình lại ngán cho mình
Cái hoa đã trót gieo cành biết sao!
Vẫn so sánh mình với hoa, nhưng không phải “đoá hoa”, “bông hoa”, mà là cái hoa, thì có nghĩa là nó chẳng còn quí hóa gì nữa, vì vậy nhà thơ mới viết: cái hoa đã trót gieo cành biết sao!. Phải là “cái hoa” thì mới “trót” được, chứ nếu là “đoá hoa” thì không thể viết như thế. Cũng giống như Hồ Xuân Hương, bà không gọi mình là “phận hồng nhan” hay “khách hồng nhan”, mà gọi là “cái” hồng nhan, nên nhà thơ mới viết là “trơ cái hồng nhan với nước non”. Phải “cái” hồng nhan thì mới trơ ra được.
Nguyễn Gia Thiều chú ý đến từ ngữ, đến chi tiết, đồng thời ông cũng rất chú ý đến tiết tấu, đến nhạc điệu, đến cấu trúc chung của bài thơ. Dường như sự thông thạo về âm nhạc, kiến trúc của tác giả quả có góp phần đắc lực vào sự thành công của tác phẩm này. Đọc Cung oán ngâm khúc có thể người ta chưa hiểu hết ý tứ của nhà thơ, nhưng dễ dàng bị lôi cuốn bởi nhạc điệu và những tiết tấu của câu thơ. Cung oán ngâm khúc không được phổ biến rộng rãi nhưng trong dân gian vẫn có những người thuộc lòng nhiều đoạn dài của tác phẩm này, mặc dù không phải họ đã hiểu hết ý nghĩa của nó. Câu thơ của Nguyễn Gia Thiều đọc lên có cảm giác như có nhịp mạnh, nhịp yếu, có bổng, có trầm, khi khoan khi nhặt. Cái cảm giác được nhiều nhà nghiên cứu gọi là “nhục cảm” hay “nghệ thuật biểu hiện bằng cảm giác”, trong Cung oán ngâm khúc không phải chỉ biểu hiện qua những từ ngữ gợi lên những cảm xúc vật chất (điều này thể hiện khá rõ) mà còn do chính cái tiết tấu nhiều khi dồn dập, hối hả, hổn hển của nó nữa. Cả một đoạn dài người cung nữ hồi tưởng lại những giây phút hoan lạc trong cung cấm là biểu hiện tập trung nhất cho nghệ thuật này. Nguyễn Gia Thiều nhiều khi vì âm hưởng, vì tiết tấu của câu thơ mà ông đảo lộn trật từ của từ, của ngữ pháp thông thường, do đó ngữ pháp trong câu thơ Nguyễn Gia Thiều cũng có những cái thú vị, độc đáo riêng của nó. Ông có thể viết:
Ngày sáu khắc mong tin nhạn vắng
Đêm năm canh tiếng lóng chuông rền
Hay:
Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa
Cung oán ngâm khúc viết bằng thể song thất lục bát, Nguyễn Gia Thiều cũng giống Đoàn Thị Điểm, hay đúng hơn, kế thừa Đoàn Thị Điểm trong việc khai thác triệt để sở trường của thể thơ này. Song thất lục bát và lục bát đều là những thể thơ thuần tuý dân tộc, bắt nguồn từ văn học dân gian. Nhưng lục bát nhịp điệu linh hoạt hơn, vì vậy nó thích hợp với thể loại truyện thơ, còn song thất lục bát âm điệu thường đều đều, bằng lặng, có những chu kỳ nên nó thích hợp để diễn tả những tâm trạng buồn, đứng yên, tĩnh lặng của ngâm khúc. Một khổ thơ song thất lục bát gồm có hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ và một câu tám chữ. Hai câu bảy bao giờ cũng ngắt nhịp ba - bốn, tiếp theo câu sáu và câu tám nhịp không cố định, nhưng đến khổ sau, hai câu bảy, nhịp lại cố định, và cứ thế trở đi trở lại mãi, nên bài thơ song thất lục bát càng dài càng dễ có cảm giác đơn điệu và buồn. Mặt khác, Nguyễn Gia Thiều sử dụng thể song thất lục bát còn vì cấu trúc của thể thơ này rất phù hợp với cấu trúc của nghệ thuật quí tộc, nghệ thuật phong kiến ở tính chất cân đối, đối xứng của nó. Có thể nói đặc điểm bao trùm của nghệ thuật phong kiến phương Đông là tính chất cân đối và đối xứng. Cái đẹp trong nghệ thuật cổ phương Đông không phải chỉ là sự hài hòa mà còn là sự đối xứng, hay là sự hài hoà của những cái đối xứng. Bất cứ một công trình kiến trúc cổ nào dường như đều bao gồm hai phần ứng chiếu đối xứng với nhau một cách chặt chẽ. Đối với Nguyễn Gia Thiều, một người đã từng phụ trách việc trang hoàng phủ chúa và xây tháp ở chùa Tiên Tích thì một tác phẩm văn học phải là một công trình kiến trúc bằng từ ngữ. Nhà thơ đã đem nguyên lý của kiến trúc phong kiến để xây dựng nên tác phẩm của mình. Ông đã sử dụng triệt để khả năng đối xứng của thể thơ song thất lục bát và còn nhân nó lên trong cấu trúc chung của toàn tác phẩm. Những câu song thất trong Cung oán ngâm khúc phổ biến là đối nhau từng cặp một, còn câu lục và câu bát thì nhiều trường hợp cũng chia thành yếu tố đối nhau, và không phải chỉ đối trong một khổ, mà khổ trên đối với khổ dưới, rồi mấy khổ liên tiếp đối nhau. Phải nhận rằng, làm được như thế, nhà thơ - kiến trúc sư ở đây tỏ ra rất công phu, nhưng công trình xây dựng lên cố nhiên sẽ có cảm giác nặng nề chứ không tranh thoát. Đọc Cung oán ngâm khúc người ta có ý nghĩ như đi vào một ngôi đền cổ là vì vậy.
----
* Bài viết giới thiệu Nguyễn Gia Thiều và Cung oán ngâm khúc do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1986, trong tủ sách “Văn học cổ cận đại Việt Nam”.
[1] Đến nay với những cứ liệu đã phát hiện được nhiều người có xu hướng khẳng định bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là của Phan Huy Ích chứ không phải của Đoàn Thị Điểm. Nhưng bản dịch đầu tiên của Đoàn Thị Điểm theo sự phán đoán khá có cơ sở của ông Hoàng Xuân Hãn trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, cũng là một bản dịch trong thể thơ song thất lục bát. Bản dịch này mặc dù không được hay như bản dịch hiện hành, nhưng nó thực sự có một ảnh hưởng quan trọng trong đời sống văn học lúc bấy giờ. Chính vì có bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm bằng song thất lục bát, nên sau đó mới có Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều bằng song thất lục bát. Và sau khi có Chinh phụ ngâm và Cung oán ngâm khúc viết bằng thể song thất lục bát, có một loạt những tác phẩm khác mới có tính chất ngâm khúc viết bằng song thất lục bát.
[2] Bản dịch Tỳ bà hành trước đây thường nói là Phan Huy Vịnh dịch. Nhưng gia phả họ Phan Huy thì ghi rõ Phan Huy Thực dịch. Ông là con Phan Huy Ích và là thân sinh của Phan Huy Vịnh.
[3] Trước đây trong nhiều sách, trong đó có cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX (2 tập), Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp của chúng tôi đã nói ông thân sinh của Nguyễn Gia Thiều ở Thuận Thành, chúng tôi mới được biết gần đây cũng như theo Ôn Như Hầu tiểu sử, đăng trên tạp chí Nam Phong năm thứ 13 (1927) thì ông thân sinh của Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Ngô chứ không phải là Nguyễn Gia Cư. Xin đính chính lại.
[4] Ở nhà thờ của học Nguyễn Gia Thiều ở Liễu Ngạn trước đây có tấm biển lớn đề bốn chữ “Đống trụ tướng môn” (cột nhà vua, cửa nhà tướng) và đôi câu đối nói về họ này nối đời làm quan to, được phong tước lớn như sau:
Miêu sơn ngọc khoán duy do, Đinh Lý Trần Lê giai hiển hoạn;
Liêu Ngạn kim chi phát mậu Công hầu bá tử tập vinh phong
(Miêu sơn khoan ngọc sáng tươi, Đinh Lý Trần Lê đều hiển đạt; Liễu Ngạn cành vàng nảy nở, Công hầu bá tử tiếp vinh phong) – Miêu Sơn tức Gia Miêu, tỉnh Thanh Hóa, quê cũ của họ này. Liễu Ngạn là làng Liễu Ngạn ở Thuận Thành.