Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Gen Z và chính trị của sự từ chối

 Tino Cao

1. Những phản ứng gần đây của người trẻ trước các vấn đề xã hội ở Việt Nam cho thấy một thay đổi đáng chú ý trong cách họ tham gia vào đời sống chung. Sự thay đổi ấy thể hiện trước hết ở phương thức biểu đạt. Thay cho những hình thức tập hợp trực tiếp và có tổ chức vốn quen thuộc ở các thế hệ trước, nhiều người trẻ sử dụng mạng xã hội để chia sẻ thông tin, đặt câu hỏi, kêu gọi tẩy chay một sản phẩm hay dịch vụ, hoặc cùng nhau thực hiện những hành vi mang ý nghĩa tưởng niệm và bày tỏ thái độ. Bên cạnh đó, một số lựa chọn thuộc đời sống cá nhân, như trì hoãn hôn nhân, không sinh con hoặc từ chối những chuẩn mực thành đạt truyền thống, cũng ngày càng được đặt trong mối liên hệ với những áp lực kinh tế và xã hội mà thế hệ này đang đối diện.

Từ những biểu hiện ấy, hai cách đánh giá đối lập thường xuất hiện. Một phía xem Gen Z là thế hệ dễ rút lui, thiếu sức chịu đựng và ít sẵn sàng dấn thân. Phía khác lại coi những hành vi từ chối, tẩy chay hay thu hẹp mức độ tham gia vào đời sống xã hội như một dạng phản kháng mới, ít đối đầu trực diện nhưng vẫn có khả năng tạo sức ép. Vấn đề nằm ở chỗ hai cách đánh giá này đều có xu hướng gom những hành vi rất khác nhau về động cơ, mức độ chủ ý và hậu quả xã hội vào cùng một cách giải thích. Một cuộc tẩy chay có thể là hành động có mục tiêu rõ ràng, trong khi quyết định không sinh con có thể bắt nguồn từ kinh tế, quan niệm sống hoặc lựa chọn riêng tư. Một hành vi tưởng niệm có thể mang ý nghĩa đạo đức, nhưng chưa chắc đã là hành động chính trị theo nghĩa đầy đủ.

Bởi vậy, điểm cần phân tích không phải Gen Z tích cực hay thụ động hơn các thế hệ trước, mà là sự thay đổi trong điều kiện sống đang dẫn họ đến những phương thức tham gia nào. Cần xem xét họ còn tin đến đâu vào khả năng tác động đến đời sống chung, họ đánh giá thế nào về chi phí và hiệu quả của hành động tập thể, và trong từng trường hợp cụ thể, đâu là sự phản kháng có ý thức, đâu là cách thích nghi với hoàn cảnh, đâu đơn thuần là một lựa chọn cá nhân. Chỉ từ những phân biệt ấy mới có thể đi tới một nhận định nghiêm túc về bản chất hành động xã hội của Gen Z hiện nay.

2. Khái niệm Gen Z chỉ thực sự có giá trị khi được đặt trong hoàn cảnh lịch sử và xã hội cụ thể. Cách chia thế hệ theo năm sinh vốn xuất phát từ các nghiên cứu nhân khẩu học và thị trường ở phương Tây, trong khi đời sống của người trẻ Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ địa vị kinh tế, môi trường gia đình, trình độ học vấn, nơi cư trú và khả năng tiếp cận các nguồn lực xã hội. Một người sinh năm 2000 trong gia đình trung lưu ở Hà Nội, một công nhân cùng tuổi tại Bình Dương và một thanh niên sống ở miền núi có thể cùng thuộc Gen Z theo cách phân loại thông thường về tuổi đời, nhưng kinh nghiệm trưởng thành, triển vọng nghề nghiệp và mức độ tự chủ của họ khác nhau rất xa. Năm sinh cung cấp một điểm quy chiếu chung về thời đại, song không đủ để giải thích cách một cá nhân suy nghĩ và hành động.

Xã hội học thế hệ từ Karl Mannheim đã gợi ra một cách tiếp cận chặt chẽ hơn. Ý nghĩa của một thế hệ nằm ở những kinh nghiệm lịch sử mà những người cùng thời cùng trải qua trong giai đoạn hình thành nhận thức xã hội. Với người trẻ Việt Nam hiện nay, có ba biến đổi có sức chi phối đặc biệt rõ. Họ là thế hệ đầu tiên trưởng thành hoàn toàn trong môi trường internet và điện thoại thông minh, đi qua đại dịch COVID-19 đúng vào giai đoạn học tập, bước vào thị trường lao động hoặc bắt đầu đời sống độc lập, đồng thời phải tính toán tương lai trong một nền kinh tế mở rộng nhanh về tiêu dùng nhưng ngày càng đắt đỏ về nhà ở, giáo dục, hôn nhân và việc nuôi con. Những điều kiện ấy tạo ra một cấu trúc kinh nghiệm khác biệt đáng kể so với thế hệ cha mẹ. Bởi vậy, những quy kết thế hệ kiểu như “lười”, “nổi loạn” hay “thụ động” thường chỉ nói được cách người quan sát nhìn tuổi trẻ thế nào hơn là nói về bản thân tuổi trẻ.

3. Sự khác biệt dễ nhận thấy nhất nằm ở cách người trẻ tập hợp và tạo ảnh hưởng. Trong mô hình hành động tập thể truyền thống, một chiến dịch xã hội thường cần tổ chức, người điều phối, địa điểm, tài liệu, mạng lưới thành viên và một mức độ cam kết tương đối bền vững. Truyền thông số làm thay đổi toàn bộ kiến trúc ấy. W. Lance Bennett và Alexandra Segerberg gọi hiện tượng này là connective action, tức là hành động kết nối. Thay vì gia nhập một tổ chức trước rồi cùng hành động, cá nhân có thể bắt đầu từ chính trải nghiệm hoặc quan điểm của mình, chia sẻ một hình ảnh, một câu chuyện, một hashtag hay một lời kêu gọi, sau đó kết nối với hàng nghìn người khác đang phản ứng trước cùng một vấn đề.

Cái đáng chú ý của mô hình tập hợp và gây ảnh hưởng này nằm ở sự phân tán. Người tham gia không nhất thiết phải cùng chia sẻ chung một hệ tư tưởng, cũng không cần quen biết nhau hay phải chấp nhận một cơ cấu lãnh đạo thống nhất. Mức độ tham gia có thể rất khác nhau, từ chia sẻ thông tin, bình luận, tẩy chay sản phẩm cho tới trực tiếp xuất hiện tại một địa điểm. Hạ tầng kĩ thuật số đảm nhiệm một phần chức năng mà trước đây tổ chức xã hội phải gánh vác. Nhờ đó, một sự việc nhỏ có thể nhanh chóng thu hút sự chú ý rộng lớn, còn những cá nhân dù đứng ngoài các hội đoàn chính thức vẫn có thể tham gia vào một hành động chung. Đây là khác biệt quan trọng của Gen Z so với nhiều thế hệ cha anh trước đó. Họ không hẳn ít tham gia hơn các thế hệ trước. Điểm khác nằm ở cách họ tham gia: thay vì dựa vào những tổ chức cố định, họ thường kết nối trực tiếp với nhau qua mạng xã hội khi cùng quan tâm đến một vấn đề.

Connective action làm thay đổi khá căn bản cách một cá nhân tham gia vào một vấn đề xã hội. Người tham gia không cần gia nhập một tổ chức, nhận một vai trò cụ thể hay cam kết lâu dài ngay từ đầu. Họ có thể bắt đầu bằng một việc rất nhỏ như chia sẻ thông tin, bổ sung dữ kiện, ngừng sử dụng một dịch vụ, đóng góp một khoản tiền hoặc trực tiếp có mặt tại một địa điểm. Khi hàng nghìn người cùng thực hiện những lựa chọn riêng lẻ như vậy, chúng có thể nhanh chóng cộng hưởng thành một phản ứng xã hội đủ lớn và đủ mạnh để tạo sức ép trong thời gian ngắn.

Nhưng ưu thế ấy cũng đi kèm một hạn chế khá rõ. Người tham gia đông chưa chắc đã gắn bó ổn định. Mức độ dấn thân giữa họ rất khác nhau, và sự chú ý trên mạng xã hội thường thay đổi theo nhịp độ hay hiệu ứng cảm xúc của thông tin mang lại. Hôm nay một vụ việc có thể phủ kín Facebook, Threads hay TikTok, vài ngày sau đã bị một câu chuyện khác đẩy xuống. Bởi vậy, người trẻ hiện nay có khả năng tạo ra sức ép tức thời rất mạnh, nhất là về dư luận và danh tiếng, nhưng để biến sức ép ấy thành một thay đổi lâu dài thì tôi nghĩ là vẫn cần thêm nhiều thứ mà mạng xã hội tự nó không cung cấp được, từ sự phối hợp, nguồn lực cho tới khả năng theo đuổi một vấn đề đến cùng.

Các nghiên cứu về thanh niên trên môi trường số cho thấy hoạt động trực tuyến không thể xem đơn giản là thứ clicktivism, nghĩa là bấm thích, chia sẻ rồi thôi. Mạng xã hội thực sự có khả năng đưa con người từ màn hình ra ngoài đời, đôi lúc với tốc độ mà những phương thức huy động truyền thống khó đạt tới. Vụ tập trung đông người ở Newport Beach trong dịp Quốc Khánh Mĩ ngày 4 tháng Bảy vừa qua mà tôi từng đưa tin là một trường hợp cực đoan nhưng khá dễ hình dung. Những lời kêu gọi lan truyền trên mạng đã kéo một lượng lớn thanh thiếu niên và người trẻ tới Balboa Peninsula chỉ trong thời gian ngắn, khiến chính quyền địa phương phải huy động hàng trăm cảnh sát để kiểm soát tình hình. Trường hợp ấy dĩ nhiên không thể được xem như một hoạt động công dân, bởi bản thân cuộc tụ tập không mang một yêu sách xã hội chính đáng. Nó chỉ cho thấy sức mạnh đặc biệt của mạng xã hội trong việc biến hàng nghìn cá nhân vốn không quen biết nhau thành một đám đông ngoài đời thực gần như tức thời.

Nhưng khả năng tập hợp nhanh cũng chính là chỗ dễ gây ảo tưởng về sức mạnh của những mạng lưới kiểu này. Một đám đông có thể xuất hiện trong vài giờ rồi tan đi cũng nhanh như lúc nó hình thành. Với các vấn đề xã hội, khó khăn thực sự bắt đầu sau thời điểm một câu chuyện đã lan truyền rộng. Gen Z có một lợi thế rất lớn ở khả năng đưa một vấn đề vào tầm mắt công chúng trong thời gian ngắn. Khả năng biến sự chú ý ấy thành một tiến trình xã hội đủ bền để tạo ra thay đổi lại là câu chuyện khác. Chính khoảng cách giữa huy động được sự chú ý và duy trì được hành động bền vững mới là một trong những hạn chế quan trọng của kiểu tham gia xã hội trong không gian kĩ thuật số.

4. Một thay đổi khác ở Gen Z nằm trong cách đời sống riêng tư và đời sống công cộng ngày càng lồng ghép vào nhau. Trước đây, nói tới tham gia chính trị hay xã hội, người ta thường nghĩ tới những hình thức điển hình như bầu cử, hội đoàn, kiến nghị, đình công hay biểu tình. Nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy hành động công dân còn đi vào cả tiêu dùng, lối sống và những quyết định tưởng như rất cá nhân. Tẩy chay một thương hiệu vì cách doanh nghiệp ứng xử là ví dụ quen thuộc của political consumerism. Lúc ấy, chuyện mua hay không mua một món hàng không phải chỉ là quyết định kinh tế. Phải hiểu, đó là một cách bày tỏ thái độ. Gen Z đặc biệt dễ tham gia theo kiểu này vì đời sống tiêu dùng của họ gắn chặt với môi trường số. Một trải nghiệm tệ hại có thể lập tức được chụp ảnh lại, đăng lên mạng và bắt đầu tạo sóng viral. Một câu chuyện mà trước đây chỉ quanh quẩn trong phạm vi vài người giờ có thể tới hàng chục nghìn người trong vài giờ. Sức ép không nhất thiết bắt đầu từ một tổ chức hay một chiến dịch bài bản. Nó có thể hình thành từ rất nhiều quyết định nhỏ nhặt diễn ra cùng lúc. Một người ngừng mua một sản phẩm gần như chẳng tạo khác biệt gì. Nhưng nếu hàng chục nghìn người cùng thay đổi lựa chọn, doanh nghiệp buộc phải chú ý, bởi đó không còn là chuyện giỡn chơi.

Tuy vậy, cần phân biệt rõ. Một hành vi cá nhân có thể tạo ra hậu quả xã hội lớn, nhưng điều đó chưa đủ để biến nó thành một hành động phản kháng có chủ ý. Chẳng hạn, kết hôn muộn hay không sinh con có thể bắt nguồn từ chi phí sống, áp lực nghề nghiệp, quan niệm về tự do cá nhân, kinh nghiệm gia đình, quan hệ về giới hoặc đơn giản là không muốn làm cha làm mẹ. Khi hàng triệu lựa chọn riêng tư cộng lại và kéo theo hệ quả nhân khẩu học, ta vẫn chưa thể vì thế mà gọi đó là một cuộc “đình công sinh sản”.

Chỗ này rất dễ bị diễn giải cường điệu. Nếu hễ người trẻ từ chối một điều gì đó là lập tức xem nó như một tuyên bố xã hội, ta sẽ chính trị hóa cả những quyết định vốn thuộc về đời sống riêng tư của cá nhân. Để một hành vi mang ý nghĩa phản kháng, ít nhất phải có yếu tố chủ ý, có đối tượng hướng tới và có một thông điệp rõ ràng. Nếu thiếu những điều ấy, hậu quả xã hội dù lớn đến đâu vẫn không thể nói thay được động cơ của người trong cuộc. Và một thế hệ cũng không thể bị buộc phải đại diện cho một lập trường chung chỉ từ những lựa chọn rất riêng tư như vậy của từng cá nhân.

5. Rất khó trả lời bằng một chữ có hay không cho câu hỏi Gen Z có thực sự ít dấn thân hơn thế hệ trước. Các nghiên cứu quốc tế cho thấy người trẻ vẫn tham gia khá sôi động vào nhiều phong trào xã hội, từ chống biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, Black Lives Matter và chống phân biệt chủng tộc, kiểm soát súng, bình đẳng giới, quyền LGBTQ+, quyền sinh sản, sức khỏe tinh thần cho tới các chiến dịch chống bạo lực, bảo vệ người nhập cư và những hoạt động công dân trên mạng. Riêng trong vấn đề khí hậu, Gen Z và Millennials thường có mức độ tham gia và tương tác cao hơn các nhóm lớn tuổi; các nghiên cứu khác cũng ghi nhận vai trò khá rõ của thanh niên trong những phong trào công bằng xã hội và các hình thức hoạt động chính trị trên môi trường số. Những dữ kiện ấy ít nhất cho thấy một điều là rất khó nói Gen Z thiếu tinh thần dấn thân chỉ vì họ không luôn hành động theo những cách mà các thế hệ trước từng quen làm. Ở Việt Nam, bức tranh khó đo đếm hơn vì chưa có nhiều dữ liệu đủ mạnh để nói thay cho cả một thế hệ. Dù vậy, những gì đang diễn ra cũng cho thấy Gen Z không hề đứng ngoài đời sống xã hội. Họ lên tiếng trước các vụ việc gây bất bình, tham gia những chiến dịch cộng đồng, sử dụng mạng xã hội để gây sức ép lên doanh nghiệp, bày tỏ quan điểm về môi trường, giới, giáo dục, việc làm và nhiều vấn đề liên quan trực tiếp đến chất lượng sống. Câu chuyện xung quanh vụ BMW ở số 55 Nguyễn Huy Tự, Hà Nội, những ngày qua là một ví dụ khá sinh động. Tuy nhiên, từ những biểu hiện ấy đi tới kết luận về một “bản chất Gen Z” vẫn là một bước quá xa. Người hai mươi tuổi hôm nay khác người năm mươi tuổi hôm nay vì họ lớn lên trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau, đồng thời cũng đang ở hai chặng rất khác của đời sống. Nhu cầu thử nghiệm, tự khẳng định, phản ứng với quy ước hay sự bất ổn nghề nghiệp nhiều khi thuộc về tuổi trẻ nói chung hơn là dấu hiệu riêng của một thế hệ. Bởi vậy, chê Gen Z thiếu dấn thân là vội vã, còn ca ngợi họ như một thế hệ đặc biệt thức tỉnh cũng dễ rơi vào phóng đại.

Một biến số quan trọng nằm ở niềm tin của người trẻ vào hiệu quả của chính hành động, điều khoa học chính trị gọi là political efficacy. Khi một cá nhân tin rằng tiếng nói của mình có thể tạo ra tác động, mức độ tham gia thường cao hơn. Khi niềm tin ấy suy giảm, họ có xu hướng chọn những cách biểu đạt ít rủi ro hơn hoặc thu hẹp mức độ dấn thân. Với Gen Z, mạng xã hội làm mối quan hệ ấy phức tạp hơn nhiều. Một vụ việc có thể vừa xuất hiện đã viral, kéo theo hàng chục nghìn lượt chia sẻ, bình luận, đào lại dữ kiện, call out cá nhân hay doanh nghiệp liên quan, rồi hình thành một làn sóng áp lực gần như tức thời. Nhưng chính nhịp vận động ấy cũng khiến nhiều phản ứng mang tính chất sớm nở tối tàn. Hôm nay một câu chuyện còn chiếm sóng, ngày mai đã có một drama khác đẩy xuống khỏi feed. Sự chú ý đến rất nhanh, cảm xúc lên rất cao, nhưng mức độ gắn bó thì lại khá mong manh. Vì thế, hành động xã hội của Gen Z trên môi trường số thường có sức bật lớn, khả năng huy động mạnh, nhưng cũng lệ thuộc nhiều vào thuật toán, độ nóng của câu chuyện và một thứ chú ý giống đốm lửa bén vào cỏ khô, lan rất nhanh, cháy rất dữ rồi cũng dễ tắt khi đám đông bị cuốn sang một câu chuyện khác. Đây là đặc tính của phương thức tham gia hơn là bằng chứng cho thấy cả một thế hệ thiếu dấn thân.

6. So sánh Gen Z Việt Nam với hiện tượng xã hội tang ping (thảng bình 躺平), hay khuynh hướng “nằm thẳng” ở Trung Quốc, là có phần hợp lí, nhưng chỉ đến một mức nào đó. Tang ping xuất phát từ sự mệt mỏi trước áp lực lao động, cạnh tranh và những kì vọng thành đạt ngày càng khó với tới. Trong hoàn cảnh ấy, giảm nhu cầu, rời khỏi cuộc đua hay từ chối một số chuẩn mực có thể mang ý nghĩa phản ứng. Nhưng cùng một hành vi thì chưa chắc đã xuất phát từ cùng một động cơ. Bỏ việc có thể là phản đối văn hóa làm việc kiệt sức, cũng có thể vì quá mệt mỏi, đồng lương không tương xứng, hoặc đơn giản là tìm được một lựa chọn khác. Không sinh con có thể liên quan đến bất mãn xã hội, nhưng cũng có thể chỉ là quyết định riêng. Cứ thấy người trẻ rút lui khỏi một điều gì đó rồi gọi ngay đó là phản kháng thì quá dễ dãi. Albert O. Hirschman từng nói đến exit, voiceloyalty, tức rời bỏ, lên tiếng và tiếp tục gắn bó. Với Gen Z, exitvoice nhiều lúc đi cạnh nhau. Tẩy chay một thương hiệu là rời bỏ để bày tỏ thái độ; rời một công việc độc hại rồi công khai kể lại trải nghiệm thì cũng vậy thôi. Nhưng Gen Z hoàn toàn có thể chọn voice theo nghĩa trực tiếp. Hong Kong là một ví dụ gần gũi. Phong trào Dù Vàng năm 2014, rồi đặc biệt các cuộc biểu tình chống dự luật dẫn độ năm 2019, thu hút một lực lượng rất lớn thanh niên và sinh viên. Năm 2019, mạng xã hội cùng Telegram và LIHKG giúp những người biểu tình phối hợp một phong trào phần lớn không có cơ cấu lãnh đạo tập trung, từ chia sẻ thông tin, xác định địa điểm cho tới điều chỉnh chiến thuật trên đường phố. Gen Z vì vậy không có một kiểu phản ứng cố định. Trong hoàn cảnh này họ có thể rút lui, trong hoàn cảnh khác họ lại ùn ùn xuống đường.

Có lẽ “tự bảo toàn” gần với thực tế hơn nếu dùng để giải thích một phần ứng xử của người trẻ hiện nay thay vì xem nó như bản chất của cả thế hệ. Họ quan tâm nhiều hơn đến thời gian, sức khỏe tinh thần, tiền bạc và quyền lựa chọn cá nhân; sẵn sàng bỏ một công việc tồi tệ, dứt một quan hệ gây tổn thương, dè dặt hơn với hôn nhân và sinh con, đồng thời hoài nghi những công thức thành đạt từng được xem là hiển nhiên. Nhìn từ thế hệ từng coi chịu đựng là một phẩm chất, cách sống ấy bị xem là ích kỉ. Nhưng nhìn từ phía người trẻ, nó có thể là phản ứng sau khi chứng kiến cha mẹ làm việc kiệt sức, gánh nợ dài hạn hoặc hi sinh đời riêng cho một sự ổn định ngày càng khó tin cậy. Những bó hoa, những cuộc tẩy chay, những lời từ chối, một cuộc xuống đường hay cả sự im lặng… tất cả không thể được giải mã bằng cùng một công thức. Có lúc đó là phản kháng, có lúc là thích nghi, có lúc là tự bảo vệ, và cũng có lúc chỉ đơn giản là lựa chọn riêng của một cá nhân. Cái quyết định hình thức nào xuất hiện nằm nhiều hơn ở hoàn cảnh, mức độ rủi ro và niềm tin rằng hành động ấy có khả năng đưa tới một kết quả nào đó, mới là điều cần xem xét.