Danh ngôn
“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”
“Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.”
(Albert Camus, Caligula)
.
“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”
“Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”
(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)
.
“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”
“L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)
.
“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”
“Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”
(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)
Ban Biên tập
Địa chỉ liên lạc:
1. Thơ
tho.vanviet.vd@gmail.com
2. Văn
vanviet.van14@gmail.com
3. Nghiên cứu Phê Bình
vanviet.ncpb@gmail.com
4. Vấn đề hôm nay
vanviet.vdhn1@gmail.com
5. Thư bạn đọc
vanviet.tbd14@gmail.com
6. Tư liệu
vanviet.tulieu@gmail.com
7. Văn học Miền Nam 54-75
vanhocmiennam5475@gmail.com
Tra cứu theo tên tác giả
- A. A. Fadeev
- A. Puskin
- A. T.
- Abdulrazak Gurnah
- Abraham F. Lowenthal
- Ace Le
- Ace Lê
- Adam Gopnik
- Adonis
- Adrian Horton
- Agi Mishol
- Ái Điểu
- Ajar
- Akiko Miki
- Alain Guillemin
- Alan Phan
- Alăng Văn Gáo
- Alăng Văn Giáo
- Albert Camus
- Aldous Huxley
- Aleksandr Griboedov
- Alesandr Blok
- Alex Marshall
- Alex Smith
- Alex Thai
- Alex-Thái Đình Võ
- Alexander Fadeev
- Alexander Solzhenitsyn
- Alexandra Alter
- Alexandre FERON
- Alexandre Féron
- Alice Munro
- Alina Lesik
- Alison Flood
- Allen Ginsberg
- Amanda Gorman
- Amartya Sen
- Amelia Glaser
- Amos Oz
- An Nam
- Anatole France
- Anatoly Gavrilov
- Anders Olsson
- André Breton
- André Menras
- André Menras – Hồ Cương Quyết
- André Menras Hồ Cương Quyết
- Andrea Hoa Pham
- Andrea Kendall-Taylor
- Andreas Bernard
- Andreas Fulda
- Andreas Wimmer
- Andrew Postman
- Andy Cao
- Anh Anh
- Anh Hồng
- Anh Hồng (nhà thơ)
- Ánh Liên
- Anh Nhi
- Anh Văn
- Anika Zeller
- Anna Akhmatova
- Anna Maria Bracale Ceruti
- Anna Mitchell
- Anna Schmid
- Anne Carson
- Anne Cazaubon
- Anne Hébert
- Anne Henochowicz
- Anne Nguyễn
- Annie Ernaux
- António Jacinto
- Antôn Nguyễn Trường Thăng
- Archimedes L.A. Patti
- Arlette Quỳnh Anh Trần
- Arnold Schwarzenegger
- Artem Sakharov
- Arthur Koestler
- Arty Abel
- Arvind Subramanian
- Augustina
- Aurélie Coulon
- Aurelien Breeden
- Ba Đâu Thảo
- Ba Sàm
- Bá Thụ Đàm
- Bạch Cúc
- Bạch Hoàn
- Bách Mỵ
- Bách Thân
- Bạch X. Phẻ
- Bạch Xuân Phẻ
- Badiucao
- Bakhtin
- Ban Mai
- Bàn Văn Thòn
- Ban Vận động Văn đoàn Độc lập Việt Nam
- Bảo Chân
- Bảo Huân
- Bảo La
- Bảo Nhi Lê
- Bảo Ninh
- Bảo Phác
- Bảo Thư
- Bảo Tích
- Bão Vũ
- Bảo Yến
- Barbara Demick
- Bashô
- Bạt Xứ
- Batrioldman
- Bauxite Việt Nam
- Bắc Đảo
- Bắc Phong
- Bằng Việt
- BB Ngô
- Bei Dao
- Benjamin Péret
- Benjamin Ramm
- Bertolt Brecht
- Bertrand Russell
- Bettina Rheims
- Bích Ngân
- Biếm họa
- Biên Cương
- Biệt Hiệu
- Bilahari Kausikan
- Bill Hayton
- Billy Collins
- Bình Nguyên Lộc
- Brahma Chellaney
- Branko Milanovic
- Brett Reilly
- Brian Pascus
- Brian Wu
- Brice Pedroletti
- Brodsky
- Bryan
- Bùi An
- Bùi Bảo Trúc
- Bùi Bắc
- Bùi Bích Hà
- Bùi Chát
- Bùi Chí Trung
- Bùi Chí Vinh
- Bùi Công Thuấn
- Bùi Công Trực
- Bùi Đức Lại
- Bùi Giáng
- Bùi Hải Quảng
- Bùi Hoàng Tám
- Bùi Hoằng Vị
- Bùi Huệ Chi
- Bùi Huy
- Bui Huy Hoi Bui
- Bùi Mai Hạnh
- Bùi Mạnh Hùng
- Bùi Mẫn Hân
- Bùi Minh Quốc
- Bùi Ngọc Tấn
- Bùi Quang Thắng
- Bùi Suối Hoa
- Bùi Thanh Hiếu
- Bùi Thanh Phương
- Bùi Thanh Tuấn
- Bùi Thụy Băng
- Bùi Tiến An
- Bùi Trân Phượng
- Bùi Trọng Hiền
- Bùi Văn Kha
- Bùi Văn Nam Sơn
- Bùi Việt Sỹ
- Bùi Vĩnh Phúc
- Bùi Xuân Bách
- Bùi Xuân Đính
- Bùi-Viết Văn Đức
- Bulgakov
- Bửu Chỉ
- C.D.
- Cái Lư Hương
- Cái Trọng Ty
- Cam Ly
- Cameron Shingleton
- Cảnh Chánh
- Cao Bảo Vân
- Cao Bình Minh
- Cao Chi
- Cao Gia An
- Cao Hành Kiện
- Cao Huy Thọ
- Cao Huy Thuần
- Cao Kim Ánh
- Cao La
- Cao Quang Nghiệp
- Cao Tần
- Cao Thị Hồng
- Cao Thu Cúc
- Cao Tự Thanh
- Cao Việt Dũng
- Cao Xuân Hạo
- Cao Xuân Huy
- Carl Bildt
- Carl O. Schuster
- Carlos Assunção
- Carolyn Mary Kleefeld
- Cát Linh
- Cẩm Tú
- Cấn Thị Thêu
- Chan Phuong
- Chanh Tam
- Charles Bo
- Charles Bukowski
- Charles S. Kraszewski
- Charles Simic
- ChatKP
- Chau Doan
- Châm Khanh
- Chân Minh
- Chân Pháp Xa
- Chân Phương
- Chân Xuân Tản Viên
- Châu Diên
- Châu Hải Đường
- Châu Hồng Thủy
- Châu Hữu Quang
- Chenn
- Chế Diễm Trâm
- Chế Lan Viên
- Chi Mai
- Chi Phương
- Chiêu Dương
- Chiêu Khiêm
- Chiharu Shiota
- Chim Hải
- Chim Trắng
- Chinh Ba
- Chính Tâm
- Chính Vĩ
- Chinua Achebe
- Chơn Không Cao Ngọc Phượng
- Christian Gampert
- Christian Welzel
- Christina Mary Hjortlund
- Christoph Giesen
- Christoph Sator
- Christopher Balding
- Christopher Goscha
- Christy Wampole
- Chu Dương
- Chu Hảo
- Chu Hoạch
- Chu Kim
- Chu Mộng Long
- Chu Quang Tiềm
- Chu Tử
- Chu Văn Lễ
- Chu Văn Sơn
- Chu Vĩnh Hải
- Chu Vương Miện
- Chu Xuân Diên
- Chung Le
- Claire Simon
- Claus Hecking
- Clay Phạm
- Clément Ghys
- Concepcion de Leon
- Connie Hoàng
- Cora Engelbrecht
- Costica Bradatan
- Cổ Ngư
- Công Nguyễn
- Cù An Hưng
- Cù Huy Hà Vũ
- Cù Mai Công
- Cù Tuấn
- Cung Minh Huân
- Cung Tích Biền
- Cung Trầm Tưởng
- Cư sĩ Minh Đạt
- D. S. Likhachev
- Da Màu
- Dạ Ngân
- Dạ Thảo Phương
- Dã Tượng
- DAD
- Dadolin Murak
- Damien Cave
- Damien Keown
- Dan Bilefsky
- Dan Slater
- Dana Gioia
- Danh ngôn
- Dani Rodrik
- Daniel Halpern
- Daniel Hautzinger
- Daniela Prugger
- Daron Accemoglu
- David Brown
- David Gascoyne
- David Marchese
- David Weinberger
- Ðặng Thơ Thơ
- Demetrio Paparoni
- DEUTSCHE WELLE
- Di
- Di Li
- Diêm Liên Khoa
- Diễm Thi
- Diễm Tường
- Diễn đàn Thế kỷ
- Diệp Duy Liêm
- Diệp Huy
- Ðinh Cường
- Dino Buzatti
- Dipanjan Roy Chaudhury
- Dmitri Prokofyev
- Dmitry Burago
- Dmitry Muratov
- Dmitry Tsyganov
- Doãn Cẩm Liên
- Doãn Mạnh Dũng
- Doãn Mẫn
- Doãn Quốc Sỹ
- Dominique Lemieux
- Donald Inglehart
- Donna Ashworth
- Ðỗ Quang Nghĩa
- Ðỗ Quyên
- Du Tử Lê
- Dung Nguyễn
- Dũng Phan
- Dũng Trung Kqd
- Dũng Vũ
- Duy Lam
- Duy Tân
- Duy Thanh
- Duy Thông
- duyên
- Duyên Anh
- Duyên Khánh
- Dư Hoa
- Dư Kiệt
- Dư Thị Hoàn
- Dư Thu Vũ
- Dương Đại Triều Lâm
- Dương Đình Giao
- Dương Khánh Phương
- Dương Kiền
- Dương Ngạn
- Dương Nghiễm Mậu
- Dương Ngọc Thái
- Dương Như Nguyện
- Dương Phương Vinh
- Dương Thắng
- Dương Thiệu Tước
- Dương Thu Hương
- Dương Thuấn
- Dương Tú
- Dương Tường
- Dương Văn Ba
- Dương Vân
- Dylan Suher
- Đa Mi
- Đà Văn
- Đàm Hà Phú
- Đàm Hách Thành
- Đào An Khánh
- Đào Anh Kha
- Đào Công Tiến
- Đào Duy Anh
- Đào Hiếu
- Đào Lê Na
- Đào Ngọc Chương
- Đào Nguyên
- Đào Nguyễn
- Đào Nguyên Phương Thảo
- Đào Như
- Đào Phương Liên
- Đào Quang Toản
- Đào Tấn Phần
- Đào Thái Tôn
- Đào Thị Hương
- Đào Tiến Thi
- Đào Trung Đạo
- Đào Trường Phúc
- Đào Tuấn
- Đào Tuấn Ảnh
- Đào Văn Bình
- Đào Văn Thuỵ
- Đào Văn Tiến
- Đào Vũ Anh Hùng
- Đạt Nguyễn
- Đặng Anh Đào
- Đặng Bích Phượng
- Đặng Chương Ngạn
- Đặng Đình Cung
- Đặng Đình Mạnh
- Đặng Gia Mẫn
- Đặng Hà
- Đặng Hải Sơn
- Đặng Hoàng Giang
- Đặng Hồng Nam
- Đặng Hùng Võ
- Đặng Hương Giang
- Đặng Hữu
- Đặng Lưu
- Đặng Mai Lan
- Đặng Mậu Tựu
- Đăng Nguyên
- Đặng Nguyên Triết
- Đặng Phùng Quân
- Đặng Quốc Thông
- Đặng Sơn Duân
- Đặng Thái
- Đăng Thành
- Đặng Thân
- Đặng Thị Hảo
- Đặng Thơ Thơ
- Đặng Tiến
- Đặng Tiến (Thái Nguyên)
- Đặng Trung Nghĩa
- Đặng Túy
- Đặng Văn Dũng
- Đặng Văn Hùng
- Đặng Văn Ngữ
- Đặng Văn Sinh
- Đặng Vũ Vương
- Đặng Xuân Thảo
- Đặng Xuân Xuyến
- Đằng-Giao
- Điểm Thọ
- Đinh Bá Anh
- Đinh Cường
- Đinh Hoàng Thắng
- Đinh Hùng
- Đình Kính
- Đinh Lê Vũ
- Đinh Linh
- Đinh Ngọc Thu
- Đinh Phương
- Đinh Phương Thảo
- Đinh Quang Anh Thái
- Đinh Thanh Huyền
- Đinh Thị Như Thúy
- Đinh Trường Chinh
- Đinh Từ Bích Thuý
- Đinh Từ Bích Thúy
- Đinh Văn Đức
- Đinh Vũ Hoàng Nguyên
- Đinh Ý Nhi
- Đinh Yên Thảo
- Đoàn Ánh Thuận
- Đoàn Bảo Châu
- Đoàn Cầm Thi
- Đoàn Công Lê Huy
- Đoàn Hồng Lê
- Đoàn Huy Giao
- Đoàn Huyền
- Đoàn Khắc Xuyên
- Đoàn Lê Giang
- Đoàn Nhã Văn
- Đoàn Thanh Liêm
- Đoan Trang
- Đoàn Tùng Nguyễn
- Đoàn Tử Huyến
- Đoàn Việt Hùng
- Đoàn Xuân Kiên
- Đỗ Anh Hoa
- Đỗ Anh Tuấn
- Đỗ Bích Thuý
- Đỗ Cao Bảo
- Đỗ Duy Ngọc
- Đỗ Đức
- Đỗ Đức Đông Ngàn
- Đỗ Đức Hiểu
- Đỗ Hòa
- Đỗ Hoàng Diệu
- Đỗ Hồng Ngọc
- Đỗ Hồng Nhung
- Đỗ Hữu Chí
- Đỗ Kh
- Đỗ Kh.
- Đỗ Khiêm
- Đỗ Kim Thêm
- Đỗ Lai Thuý
- Đỗ Lai Thúy
- Đỗ Lê Anh Đào
- Đỗ Mạnh Hoàng
- Đỗ Minh Tuấn
- Đỗ Nghê
- Đỗ Ngọc
- Đỗ Ngọc Thống
- Đỗ Quang Nghĩa
- Đỗ Quang Vinh
- Đỗ Quý Toàn
- Đỗ Quyên
- Đỗ Quỳnh Dao
- Đỗ Thái Bình
- Đỗ Thắng Cảnh
- Đỗ Thị Thu Trà
- Đỗ Thiên Anh Tuấn
- Đỗ Trí Vương
- Đỗ Trọng Khơi
- Đỗ Trung Quân
- Đỗ Trường
- Đỗ Tuyết Khanh
- Đồng Chuông Tử
- Đông Hoài
- Đông Hồ
- Đông Kha
- Đông Ngàn Đỗ Đức
- Đông Nghi
- Đức Ban
- Đức Đàm
- Đức Flying Bay
- Đức Hoàng
- Đức Lê
- Đức Phổ
- Đức Tâm
- Đức Tiến
- E. M. Forster
- E.E. Cummings
- E.M. Chernoivanenko
- Eamonn Butler
- Eckart Kleßmann
- Eduardo Galeano
- Edward Hirsch
- Elena Pucillo Truong
- Elias Canetti
- Ellen Bass
- Eloisa Amezcua
- Emiel Roothooft
- Emma Loffhagen
- Emmanuelle Jardonnet
- Eric Henry
- Eric Weiner
- Erica Frantz
- Erik Harms
- Erik Korling
- Euan Ward
- Éva Voszka
- Evgheni Dobrenko
- F.N.
- Federico García Lorca
- Feliks Kuznesov
- Filip Lech
- Flanny O’Connor
- Florence Noiville
- Florian Altenhöner
- France A. Córdova
- Francis Fukuyama
- Francis Fukuyma
- François Guillemot
- Frank Dikötter
- Frank O'Hara
- Frankfurt
- Fred Hiatt
- Friedrich Dürrenmatt
- Friedrich Nietzsche
- Friedrich Wilhelm Graf
- Fritz J. Raddatz
- Gã Khờ
- Gabriel García Márquez
- Gabriel Josipovici
- Gaither Stewart
- Gaiutra Bahadur
- Gary Leupp
- Gavin Butler
- Gặp gỡ và trò chuyện
- Georg Bönisch
- Georg Trakl
- George Burchett
- George Orwell
- George Perreault
- George Siemens
- Georges Condominas
- Gerhard Will
- Germain Droogenbroodt
- Giang Công Thế
- Giang Dang
- Giang Lại Đức
- Giang Nam
- Giáng Vân
- Giáo hoàng Leo XIV
- Giao Nguyễn
- Giáp Văn Dương
- Gideon Rachman
- Giuse Lê Công Đức
- Goethe
- Gonçalo Fernandes
- Gottfried Benn
- Graham Allison
- Grigory Yudin
- Günter Kunert
- Gyảng Anh Iên
- Hà Duy Phương
- Hà Dương Tuấn
- Hà Dương Tường
- Hà Đình Nguyên
- Hạ Đình Nguyên
- Hà Huy Khoái
- Hà Huy Sơn
- Hà Hương
- Hà Lệ Minh
- Hà Ngọc Hòa
- Hạ Nguyên
- Hà Nguyên Du
- Hà Nhân
- Hà Nhật
- Hà Phạm Phú
- Hà Quang Vinh
- Hà Sĩ Phu
- Hà Thanh Vân
- Hà Thế
- Hà Thị Minh Đạo
- Hà Thúc Sinh
- Hà Thủy Nguyên
- Hà Tùng Long
- Hà Tùng Sơn
- Hà Văn Tấn
- Hà Văn Thịnh
- Hà Văn Thùy
- Hà Vũ Trọng
- Hagi Kenaan
- Hai An Vu
- Hải Hạc
- Hải Ngọc
- Hai Thanh
- Hàm Anh
- Han Dang
- Hàn Giang
- Han Kang
- Hàn Vĩnh Diệp
- Hạnh Diễm
- Hạnh Nguyên
- Hạnh Phước
- Hạnh Viên
- Hannah Beech
- Hào Thiện Nhân
- Hari Kunzru
- Haruki Murakami
- Hân Hương
- Heiko Buschke
- Heinrich Heine
- Henri Michaux
- Henry David Thoreau
- Henry Wadsworth Longfellow
- Heriberto Araújo
- Hermann Hesse
- Hermann von Helmholtz
- Hiền Trang
- Hiệp Ikaria
- Hiệu Minh
- Hiếu Tân
- Ho Lai-Ming
- Hòa Bình Lê
- Hoa Níp
- Hoài Hương
- Hoài Nam
- Hoài Phương
- Hoài Thanh
- Hoài Việt
- Hoài Ziang Duy
- Hoan Doan
- Hoàn Nguyễn
- Hoàng Ánh
- Hoàng Anh Tuấn
- Hoàng Cát
- Hoàng Cầm
- Hoàng Chí Hiếu
- Hoàng Chính
- Hoàng Cường Long
- Hoàng Dũng
- Hoàng Dương Tuấn
- Hoàng Đăng Khoa
- Hoàng Đỗ
- Hoàng Đông
- Hoàng Đức Truật
- Hoàng Hà
- Hoàng Hải Thủy
- Hoàng Hải Vân
- Hoảng Hãn
- Hoàng Hôn
- Hoàng Hưng
- Hoàng Khởi Phong
- Hoàng Kim Oanh
- Hoàng Lại Giang
- Hoàng Lan
- Hoàng Lan Anh
- Hoàng Lan Chi
- Hoàng Lê
- Hoàng Lệ
- Hoàng Linh
- Hoàng Long
- Hoàng Mai Ðạt
- Hoàng Mạnh Hải
- Hoàng Minh Trí
- Hoàng Minh Tường
- Hoàng Nam
- Hoàng Nga
- Hoàng Ngọc Biên
- Hoàng Ngọc Hiến
- Hoàng Ngọc Nguyên
- Hoàng Ngọc Tuấn
- Hoàng Nguyễn
- Hoàng Nguyên Vũ
- Hoàng Nhơn
- Hoàng Nhuận Cầm
- Hoàng Phạm Gia Khang
- Hoàng Phong Tuấn
- Hoàng Phủ Ngọc Tường
- Hoàng Quân
- Hoàng Quốc Dũng
- Hoàng Quốc Hải
- Hoàng Thị Hường
- Hoàng Thị Thu Thủy
- Hoàng Thu Phố
- Hoàng Thúy
- Hoàng Thuỵ Anh
- Hoàng Tiến
- Hoàng Trung Thông
- Hoàng Tuấn Công
- Hoàng Tuấn Phổ
- Hoàng Tùng
- Hoàng Tuỵ
- Hoàng Tư Giang
- Hoàng Văn Sơn
- Hoàng Việt
- Hoàng Vũ Sơn
- Hoàng Vũ Thuật
- Hoàng Xuân Phú
- Hoàng Xuân Sơn
- Hoàng Xuân Tuyền
- Hoàng Yến
- Honoré de Balzac
- Horst Bienek
- Howard Gardner
- Hồ Anh Thái
- Hồ Bạch Thảo
- Hồ Bất Khuất
- Hồ Diệu Vân
- Hồ Dzếnh
- Hồ Đắc Vũ
- Hồ Đình Nghiêm
- Hồ Hải Thụy
- Hồ Hữu Tường
- Hồ Minh Tâm
- Hồ Ngọc Đại
- Hồ Như
- Hồ Phú Bông
- Hồ Tịnh Tình
- Hồ Trường An
- Hồ Tú Bảo
- Hội những người ủng hộ GS. Chu Hảo
- Hồng Anh
- Hồng Hoang
- Hồng Lê Thọ
- Hồng Phú
- Huệ Hương Hoàng
- Huguette Bertrand
- Huong Nguyen
- Huy Bảo
- Huy Cận
- Huy Đức
- Huy Tưởng
- Huyền Thương
- Huỳnh Duy Lộc
- Huỳnh Hoa
- Huỳnh Hữu Uỷ
- Huỳnh Hữu Ủy
- Huỳnh Kim Báu
- Huỳnh Kim Quang
- Huỳnh Lê Nhật Tấn
- Huỳnh Liễu Ngạn
- Huỳnh Ngọc Chênh
- Huỳnh Như Phương
- Huỳnh Sơn Phước
- Huỳnh Tấn Mẫm
- Huỳnh Thế Du
- Huỳnh Thục Vy
- Huỳnh Trọng Khang
- Huỳnh Tuấn Anh
- Hứa Chương Nhuận
- Hứa Lập Chí
- Hương Lan
- Hường Thanh
- Hương Thủy
- Hữu Danh
- Hữu Đông
- Hữu Loan
- Hữu Mai
- Hữu Phương
- Ian Bui
- Ian Johnson
- Igor Poglazov
- Iio Sōgi
- Ilza Burchett
- Inrasara
- Iris Radisch
- Isabella Kwai
- Issa
- Issac Bashevis Singer
- Italo Calvino
- Iya Kiva
- J. M. Lotman
- J.B Nguyễn Hữu Vinh
- Jacques Attali
- Jacques Prévert
- Jacqui Palumbo
- Jake Johnson
- James Borton
- James Daniel Spears
- James G. Zumwalt
- James Grossman
- James Joyce
- James Poniewozik
- James Stavridis
- James WrightJuan Felipe Herrera
- Jang Kều
- Janos Kornai
- Jared Carters
- Jason Lopata
- Jason Morris-Jung
- Jay Nordlinger
- Jaya K.
- Jean Chesnaux
- Jean d'Ormesson
- Jean Piaget
- Jean Przyluski
- Jean Toomer
- Jean-Jacques Brochier
- Jean-Jacques Roth
- Jean-Louis Rocca
- Jean-Luc Chalumeau
- Jean-Marc Roberts
- Jean-Patrick Géraud
- Jean-Paul Sartre
- Jefferson Cowie
- Jeffrey Hanfover
- Jeffrey Nall
- Jessica Swoboda
- Jessie Yeung
- Jiayang Fan
- Jimmy Carter
- Joan Hua
- João Guimarães Rosa
- Joaquin Nguyễn Hòa
- Johann Grolle
- John Ashbery
- John Barrow
- John Cheever
- John D. Howard
- John Freeman
- John Keane
- John McCain
- Jon Fosse
- Jonathan Dee
- Jonathan London
- Jonathan Scott Holloway
- Jörg Wischermann
- Jorge Amado
- Jorge Luis Borges
- Joschka Fischer
- Josée Lapointe
- Joseph Wong
- Joseph Wright
- Josh Rogin
- Joshua Rothman
- Juan Pablo Cardenal
- Juan Pablo Cardenal & Heriberto Araújo
- Julia Cagé
- Julio Cortázar
- Jun’ichiro Tanizaki
- Kahil Gibral
- Kai Hoàng
- Kale
- Kalynh Ngô
- Kamel Daoud
- Kao Phú
- Kap Seol
- Karel Appel
- Karen Tongson
- Kate Chopin
- Katie Razzall
- Kazuo Shiraga
- Kenneth Nguyen
- Kenzaburo Oe
- Keorapetse Kgositsile
- Kerstin Holm
- Kều Jang
- Kha Lương Ngãi
- Kha Tiệm Ly
- Khải Đơn
- Khái Hưng
- Khaled Juma
- Khaly Chàm
- Khang Quốc Ngọc
- Khánh
- Khánh Bình
- Khánh Duy
- Khánh Khánh
- Khánh Ly
- Khánh Mai
- Khanh Nguyen
- Khanh Pham
- Khánh Phương
- Khánh Trâm
- Khánh Trường
- Khét
- Khế Iêm
- Khiêm Nhu
- Khổng Đức Thiêm
- Khuất Đẩu
- Khuất Thu Hồng
- Khuê Minh Nguyệt
- Khuê Phạm
- Khuyết Thư
- Kiệm Hoàng
- Kiến Văn
- Kiệt Anh Hùng
- Kiệt Tấn
- Kiều Duy Vĩnh
- Kiều Loan
- Kiều Mai Sơn
- Kiều Maily
- Kiều Phong
- Kiều Thị An Giang
- Kim Ân
- Kim Chi
- Kim Dung
- Kim Hạnh
- Kim Thúy
- Kim Trần
- Kim Yi-deum
- Kinh Bắc
- Kính Hòa
- Klaus Wiegerefe
- Kobayashi Issa
- Kúm
- Kumar Vikram
- Kurt-Martin Mayer
- Kỳ Duyên
- Kyoko Numano
- L. N. Tolstoy
- L. V. H.
- La Khắc Hoà
- La Khắc Hòa
- Lã Nguyên
- Lại Nguyên Ân
- Lam Điền
- Lam Hạnh
- Lam Ngọc
- Lam Thái Hòa
- Lan Nguyên
- Lang Anh
- Langston Hughes
- LAP
- Larry Diamond
- Lars Vargö
- László Krasznahorkai
- Laura Cappelle
- Laurent Sagalovitsch
- Lawrence Ferlinghetti
- Lâm Chương
- Lâm Duyên
- Lâm Hạnh
- Lâm Lê
- Lâm Ngân Mai
- Lâm Quang Mỹ
- Lâm Thị Mỹ Dạ
- Lenin
- Leon Trotsky
- Leonard Cohen
- Leonardo da Vinci
- Lê An Thế
- Lê Anh Hoài
- Lê Anh Hùng
- Lê Ân
- Lê Bá Đảng
- Lê Bảo Nhi
- Lê Bích Vượng
- Lê Chiều Giang
- Lê Công Định
- Lê Công Giàu
- Lê Công Tư
- Lê Ðình Nhất Lang
- Lê Dũng
- Lê Duy Nam
- Lê Đạt
- Lê Đăng Doanh
- Lê Đình Cai
- Lê Đình Khẩn
- Lê Đình Thắng
- Lê Đỗ Huy
- Lê Đức Dục
- Lê Đức Thôn
- Lê Giang Trần
- Lê Hải
- Lệ Hằng
- Lê Hiệp
- Lê Hoài Nguyên
- Lê Hoàng Diễm Trang
- Lê Hoàng Lân
- Lê Học Lãnh Vân
- Lê Hồ Quang
- Lê Hồng Hà
- Lê Hồng Hiệp
- Lê Hồng Lâm
- Lê Hùng
- Lê Hùng Vọng
- Lê Huy Hòa
- Lê Huyền Ái Mỹ
- Lê Huỳnh Lâm
- Lê Hữu
- Lê Hữu Khoá
- Lê Hữu Khóa
- Lê Hữu Nam
- Lê Kế Lâm
- Lê Khải
- Lê Kim Duy
- Lê Ký Thương
- Lê Lạc Giao
- Lê Luân
- Lê Mã Lương
- Lê Mai
- Lê Mai Lĩnh
- Lê Mạnh Chiến
- Lê Mạnh Đức
- Lê Minh
- Lê Minh Chánh
- Lê Minh Hà
- Lê Minh Hiền
- Lê Minh Khuê
- Lê Minh Phong
- Lê Ngân Hằng
- Lê Ngọc Luân
- Lê Ngọc Sơn
- Lê Nguyễn
- Lê Nguyễn Duy Hậu
- Lê Nguyễn Hương Trà
- Lê Nguyên Long
- Lê Nguyên Vỹ
- Lê Như Bình
- Lê Oa Đằng
- Lê Phan
- Lê Phú Khải
- Lê Quang
- Lê Quang Đức
- Lê Quảng Hà
- Lê Quang Hợp
- Lê Quang Thành
- Lê Quân
- Lê Quốc Anh
- Lê Quỳnh
- Lê Quỳnh Mai
- Lê Sa Long
- Lê Si Na
- Lê Sơn
- Lê Tất Đạt
- Lê Tất Điều
- Lê Thanh Dũng
- Lê Thanh Hải
- Lê Thanh Phong
- Lê Thanh Trường
- Lê Thân
- Lê Thế Thắng
- lê thi diem thuý
- Lê Thị Hồng Minh
- Lê Thị Huệ
- Lê Thị Hường
- Lê Thị Oanh
- Lê Thị Thanh Tâm
- Lê Thị Thấm Vân
- Lê Thiết Cương
- Lê Thiếu Nhơn
- Lê Thọ Bình
- Lê Thời Tân
- Lê Thời Thôi
- Lê Thu Hiền
- Lê Thúy Bảo Liên
- Lê Tiên Long
- Lê Trí Tuệ
- Lê Trinh
- Lê Trọng Nghĩa
- Lê Trọng Nguyễn
- Lê Trung Tĩnh
- Lê Trường Thanh
- Lê Tuấn Huy
- Lê Tuyết Hạnh
- Lê Văn Bỉnh
- Lê Văn Hảo
- Lê Văn Hiếu
- Lê Văn Hòa
- Lê Văn Hùng Vĩ
- Lê Văn Luân
- Lê Văn Sơn
- Lê Văn Trung
- Lê Văn Tùng
- Lê Vĩnh Tài
- Lê Vĩnh Triển
- Lê Vũ Trường Giang
- Lê Xuân Khoa
- Lê Xuyên
- Li Edelkoort
- Li Tana
- Li Zhongqin
- Liêu Diệc Vũ
- Liêu Thái
- Liễu Trương
- Linh Nguyên
- Linh Phạm
- Linh Văn
- Linh Vân
- Linh-Chân Brown
- LKH
- Lorca
- Louis Aragon
- Louise Glück
- Lộc Vàng
- Lợi Phan Mai
- Luân Hoán
- Ludwig von Mises
- Luke Hunt
- Luke Turner
- Lữ Kiều
- Lữ Minh Trí
- Lữ Quỳnh
- Lương Đào
- Lương Thiệu Quân
- Lương Thư Trung
- Lưu Á Châu
- Lưu Bình Nhưỡng
- Lưu Diệu Vân
- Lưu Đình Long
- Lưu Đức Trung
- Lưu Hà
- Lưu Hiểu Ba
- Lưu Khánh Thơ
- Lưu Mê Lan
- Lưu Minh Hải
- Lưu Na
- Lưu Nhi Dũ
- Lưu Quang Vũ
- Lưu Thuỷ Hương
- Lưu Thủy Hương
- Lưu Trọng Tưởng
- Lưu Trọng Văn
- Lưu Uyên Khôi
- Lý Đợi
- Lý Gia Trung
- Ly Hoàng Ly
- Lý Ngang
- Ly Phạm
- Lý Quang Hoàn
- Lý Thanh
- Lý Tiến Dũng
- Lý Toàn Thắng
- Lý Trực Dũng
- Lý Xuân Hải
- Lydia Davis
- Lynh Bacardi
- LysP
- M. Gorky
- M. Trần
- M.L. Gasparov
- Mạc Phong Tuyền
- Mạc Văn Trang
- Mạc Việt Hồng
- Mạch Nha
- Mạch Quang Thắng
- Madeleine Riffaud
- Madlovics Bálint
- Magyar Bálint
- Mahmoud Darwish
- Mai An Nguyễn Anh Tuấn
- Mai Anh Tuấn
- Mai Bá Ấn
- Mai Bá Kiếm
- Mai Chanh
- Mai Đỗ
- Mai Hiền
- Mai Khôi
- Mai Kim Ngọc
- Mai Lý
- Mai Nhật
- Mai Ninh
- Mai Quốc Ấn
- Mai Quỳnh
- Mai Quỳnh Nam
- Mai Sơn
- Mai Thái Lĩnh
- Mai Thanh Sơn
- Mai Thảo
- Mai Tú Ân
- Mai Văn Hoan
- Mai Văn Phấn
- Mai Văn Tính
- Maki Starfield
- Mamleev
- Mạnh Kim
- Manuel Casimiro
- Mão Xuyên
- Marc Andrus
- Marcel Reich-Ranicki
- Marci Shore
- Marco Ferrarese
- Margarita Lyutova
- Marguerite Duras
- Maria Donovan
- Maria Ressa
- Marie Lê Thị Hoa
- Mário de Andrade
- Mario Vargas Llosa
- Marion Hennebert
- Mark B. Hamilton
- Mark Binelli
- Mark Frankland
- Mark Osaki
- Mark Strand
- Marta Hillers
- Martin Jankowski
- Martin Kulldorff
- Marty Robbins
- Mary Morose
- Mary Walsh
- Masaoka Shik
- Matei Vişniec
- Mathias Mayer
- Matthew Clayfield
- Matthew Crawford
- Maurice Blanchot
- Maximilian Steinbeis
- May
- Maya Angelou
- Mặc Đỗ
- Mặc Lâm
- Mân Côi
- McAmmond Nguyễn Thị Tư
- Media Văn Việt
- Mia Pluger
- Michael Burawoy
- Michael Scammell
- Miêng
- Mike Ives
- Mikhail Shishkin
- Mikhail Sholokhov
- Mikhail Viktorovich Zygar
- Milan Kundera
- Mimmi Diệu Hường Bergström
- MInh Anh
- Minh Huệ
- Minh Hùng
- Minh Luật
- Minh Phúc
- Minh Quang – Lê Chiên
- Minh Quang Ho
- Minh Tâm
- Minh Thùy
- Minh Thư
- Minh Toàn
- Minh Tuấn
- Minh Tự
- Mireille Sacotte
- Miura Chora
- Monica Berlin
- Mường Mán
- Mỹ Hằng
- Mỹ Lan
- N. S. Khrushchev
- Nadine Murtaja
- Nam Dao
- Nam Dao Nguyễn Mạnh Hùng
- Nam Đan
- Nam Đông
- Nam Nguyên
- Nam Sơn
- Naowarat Pongpaiboon
- Natalia lacovelli
- Nataliya Zhynkina
- Natsume Sōseki
- Nay Aung
- ng. anhanh
- Ng.Uyển Nicole Dương
- Ngải Vị VỊ
- Ngân Xuyên
- Nghệ thuật
- Nghĩa Đặng
- Nghiêm Lương Thành
- Nghiêm Phương Mai
- Nghiêm Thanh Hương
- Nghiêm Xuân Hồng
- Nghiên Cứu Phê Bình
- Ngo Thu
- Ngọc Anh
- Ngọc Duy Phan
- Ngoc Hien Bui
- Ngọc Linh
- Ngô Anh Tuấn
- Ngô Bảo Châu
- Ngô Đình Thẩm
- Ngô Đồng
- Ngô Hương Giang
- Ngô Khắc Tài
- Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
- Ngô Kim Khôi
- Ngô Kim-Khôi
- Ngô Liêm Khoan
- Ngô Lực
- Ngô Mai Phong
- Ngô Mạnh Hùng
- Ngô Minh
- Ngô Minh Khôi
- Ngô Ngọc Loan
- Ngô Ngọc Trai
- Ngô Nguyên Dũng
- Ngô Nhật Đăng
- Ngô Quốc Phương
- Ngô Quốc Thịnh
- Ngô Thế Vinh
- Ngô Thị Kim Cúc
- Ngô Thị Thanh Lịch
- Ngô Thị Thu Ngần
- Ngô Tùng Phong
- Ngô Tự Lập
- Ngô Văn
- Ngô Văn Giá
- Ngô Viết Nam Sơn
- Ngô Viết Trọng
- Ngô Việt Trung
- Ngô Vĩnh Long
- Ngô Xuân Hội
- Ngô Xuân Phúc
- Ngô Xuân Thảo
- Ngu Yên
- Nguyen Duc Thanh
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Anh Dũng
- Nguyễn Anh Sơn
- Nguyễn Anh Tuấn
- Nguyễn Anh Tuấn - đạo diễn
- Nguyễn Bá Chung
- Nguyễn Bách Việt
- Nguyễn Bảo Chân
- Nguyễn Bắc Sơn
- Nguyên Bình
- Nguyễn Bính
- Nguyễn Cảnh Bình
- Nguyên Cầm
- Nguyên Cẩn
- Nguyên Chánh
- Nguyễn Chí Hoan
- Nguyễn Chí Thuật
- Nguyễn Chí Trung
- Nguyễn Chí Tuyến
- Nguyễn Chinh Trung
- Nguyễn Cung Thông
- Nguyễn Cường
- Nguyễn Danh Bằng
- Nguyễn Danh Huế
- Nguyễn Danh Lam
- Nguyễn Ðăng Thường
- Nguyễn Duy
- Nguyễn Dương Quang
- Nguyễn Đạt
- Nguyễn Đắc Kiên
- Nguyễn Đắc Xuân
- Nguyễn Đăng Điệp
- Nguyễn Đăng Hưng
- Nguyễn Đăng Khoa
- Nguyễn Đăng Mạnh
- Nguyễn Đăng Na
- Nguyễn Đăng Quang
- Nguyễn Đăng Thường
- Nguyễn Đình Ấm
- Nguyễn Đình Bin
- Nguyễn Đình Bổn
- Nguyễn Đình Chú
- Nguyễn Đình Cống
- Nguyễn Đình Đăng
- Nguyễn Đình Huỳnh
- Nguyễn Đinh Phong
- Nguyễn Đình Phượng Uyển
- Nguyễn Đình Thắng
- Nguyễn Đình Thi
- Nguyễn Đình Toàn
- Nguyễn Đông A
- Nguyễn Đổng Chi
- Nguyễn Đông Thức
- Nguyễn Đức
- Nguyễn Đức Dương
- Nguyễn Đức Hiệp
- Nguyễn Đức Lộc
- Nguyễn Đức Mậu
- Nguyễn Đức Sơn
- Nguyễn Đức Thắng
- Nguyễn Đức Tiến
- Nguyễn Đức Tùng
- Nguyễn Đức Tường
- Nguyễn Gia Trí
- Nguyên Giác
- Nguyên Giác Phan Tấn Hải
- Nguyễn Hà Luân
- Nguyễn Hải Hoành
- Nguyễn Hải Yến
- Nguyễn Hàn Chung
- Nguyễn Hiến Lê
- Nguyễn Hoa Lư
- Nguyễn Hoài Nam
- Nguyễn Hoài Văn
- Nguyễn Hoài Vân
- Nguyễn Hoàn
- Nguyễn Hoàn Nguyên
- Nguyễn Hoàng Ánh
- Nguyễn Hoàng Anh Thư
- Nguyễn Hoàng Diệu Thủy
- Nguyễn Hoàng Diệu Thúy
- Nguyễn Hoàng Giao
- Nguyễn Hoàng Linh
- Nguyễn Hoàng Trung
- Nguyễn Hoàng Văn
- Nguyễn Hồ Quân
- Nguyễn Hồng Anh
- Nguyễn Hồng Giao
- Nguyễn Hồng Hưng
- Nguyễn Hồng Lam
- Nguyễn Hồng Nhung
- Nguyễn Hồng Thục
- Nguyễn Huệ Chi
- Nguyễn Hùng
- Nguyễn Huy Hoàng
- Nguyễn Huy Thắng
- Nguyễn Huy Thiệp
- Nguyễn Huy Vũ
- Nguyên Hưng
- Nguyễn Hưng Quốc
- Nguyễn Hương
- Nguyễn Hữu Đễ
- Nguyễn Hữu Hồng Minh
- Nguyễn Hữu Liêm
- Nguyễn Hữu Nhật
- Nguyễn Hữu Sơn
- Nguyễn Hữu Thiết
- Nguyễn Hữu Việt Hưng
- Nguyễn Hữu Vinh
- Nguyễn kc Hậu
- Nguyễn Khải
- Nguyễn Khánh Duy
- Nguyễn Khánh Trường
- Nguyễn Khắc An
- Nguyễn Khắc Bình
- Nguyễn Khắc Mai
- Nguyễn Khắc Ngân Vi
- Nguyễn Khắc Phê
- Nguyễn Khắc Phi
- Nguyễn Khắc Phục
- Nguyễn Khiêm
- Nguyễn Khôi
- Nguyễn Kiến Phước
- Nguyễn Kiều Dung
- Nguyễn Kiều Hưng
- Nguyễn Kim Hưng
- Nguyên Lạc
- Nguyễn Lam Điền
- Nguyễn Lãm Thắng
- Nguyễn Lan Phương
- Nguyễn Lâm Cẩn
- Nguyễn Lân Bình
- Nguyễn Lân Thắng
- Nguyễn Lê Hồng Hưng
- Nguyễn Lê Tuyên
- Nguyễn Lệ Uyên
- Nguyễn Linh Giang
- Nguyễn Linh Quang
- Nguyễn Lộ Trạch
- Nguyễn Luận
- Nguyễn Lương Hải Khôi
- Nguyễn Lương Ngọc
- Nguyễn Lương Thịnh
- Nguyễn Lương Vỵ
- Nguyễn Mai
- Nguyễn Man Nhiên
- Nguyễn Mạnh An Dân
- Nguyễn Mạnh Côn
- Nguyễn Mạnh Đẩu
- Nguyễn Mạnh Tiến
- Nguyễn Manh Trinh
- Nguyễn Mạnh Trinh
- Nguyễn Mạnh Tuấn
- Nguyễn Mạnh Tường
- Nguyễn Minh Anh
- Nguyễn Minh Hòa
- Nguyễn Minh Kính
- Nguyễn Minh Nhị
- Nguyễn Minh Nhựt
- Nguyễn Minh Thuyết
- Nguyễn Mộng Giác
- Nguyên Ngọc
- Nguyễn Ngọc Chu
- Nguyễn Ngọc Đức
- Nguyễn Ngọc Giao
- Nguyễn Ngọc Hoa
- Nguyễn Ngọc Lanh
- Nguyễn Ngọc Liễm
- Nguyễn Ngọc Lung
- Nguyễn Ngọc Phương
- Nguyễn Ngọc Tâm
- Nguyễn Ngọc Thiện
- Nguyễn Ngọc Tú Anh
- Nguyễn Ngọc Tư
- Nguyên Nguyên
- Nguyễn Nguyên
- Nguyễn Nguyên Bình
- Nguyễn Nguyệt Cầm
- Nguyễn Nhật Lệ
- Nguyễn Nhật Tín
- Nguyên Nhi
- Nguyễn Như Huy
- Nguyễn Như Mây
- Nguyễn Phạm Hùng
- Nguyễn Phan Quế Mai
- Nguyễn Phú Yên
- Nguyễn Phúc Vĩnh Ba
- Nguyễn Phượng
- Nguyễn Phương Đình
- Nguyễn Phương Mai
- Nguyễn Phương Mạnh
- Nguyễn Quang
- Nguyễn Quang A
- Nguyễn Quang Bình
- Nguyễn Quang Duy
- Nguyễn Quang Dy
- Nguyễn Quang Đồng
- Nguyễn Quang Hồng
- Nguyễn Quang Hưng
- Nguyễn Quang Lập
- Nguyễn Quang Thạch
- Nguyễn Quang Thân
- Nguyễn Quang Thiều
- Nguyễn Quang VInh
- Nguyễn Quân
- Nguyễn Quốc Bảo
- Nguyễn Quốc Chánh
- Nguyễn Quốc Chính
- Nguyễn Quốc Lâm
- Nguyễn Quốc Tấn Trung
- Nguyễn Quốc Thái
- Nguyễn Quốc Toàn
- Nguyễn Quốc Trụ
- Nguyễn Quốc Tuấn
- Nguyễn Quốc Vương
- Nguyễn Quỳnh Hương
- Nguyên Sa
- Nguyễn Sĩ Dũng
- Nguyễn Sơn Hùng
- Nguyễn Sơn Lâm
- Nguyễn Sỹ Phương
- Nguyễn Sỹ Tế
- Nguyễn Tà Cúc
- Nguyễn Tài Cẩn
- Nguyễn Tấn Cứ
- Nguyễn Tất Nhiên
- Nguyễn Thạch Giang
- Nguyễn Thái Hòa
- Nguyễn Thái Hợp
- Nguyễn Thái Sơn
- Nguyễn Thái Tuấn
- Nguyễn Thanh Bình
- Nguyễn Thanh Châu
- Nguyễn Thanh Giang
- Nguyễn Thanh Hiện
- Nguyễn Thanh Hùng
- Nguyễn Thanh Huy
- Nguyễn Thanh Huyền
- Nguyễn Thanh Mỹ
- Nguyễn Thành Nam
- Nguyễn Thanh Nghị
- Nguyễn Thanh Nguyệt
- Nguyễn Thành Phong
- Nguyễn Thanh Sơn
- Nguyễn Thành Sơn
- Nguyễn Thanh Tâm
- Nguyễn Thành Thi
- Nguyễn Thanh Tuyền
- Nguyễn Thanh Văn
- Nguyễn Thanh Việt
- Nguyễn Thế Hùng
- Nguyễn Thế Thanh
- Nguyễn Thị Ái Tiên
- Nguyễn Thị Bích Hậu
- Nguyễn Thị Bích Ngà
- Nguyễn Thị Bình
- Nguyễn thị Cỏ May
- Nguyễn Thị Dư Khánh
- Nguyễn Thị Hải
- Nguyễn Thị Hậu
- Nguyễn Thị Hiền
- Nguyễn Thị Hoàng
- Nguyễn Thị Hoàng Bắc
- Nguyễn Thị Hồng
- Nguyễn Thị Khánh Minh
- Nguyễn Thị Khánh Trâm
- Nguyễn Thị Kim Chi
- Nguyễn Thị Kim Phụng
- Nguyễn Thị Kim Thoa
- Nguyễn Thị Minh Ngọc
- Nguyễn Thị Minh Thái
- Nguyễn Thị Minh Thương
- Nguyễn Thị Ngọc Hải
- Nguyễn Thị Ngọc Nhung
- Nguyễn Thị Oanh
- Nguyễn Thị Phước
- Nguyễn Thị Thanh Bình
- Nguyễn Thị Thanh Hải
- Nguyễn Thị Thanh Lưu
- Nguyễn Thị Thanh Xuân
- Nguyễn Thị Thanh Yến
- Nguyễn Thị Thảo An
- Nguyễn Thị Thúy Hạnh
- Nguyễn Thị Thùy Linh
- Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Nguyễn Thị Thuyền
- Nguyễn Thị Tịnh Thy
- Nguyễn Thị Từ Huy
- Nguyễn Thị Vinh
- Nguyễn Thiện Tống
- Nguyễn Thiện Tơ
- Nguyễn Thói Đời
- Nguyễn Thông
- Nguyễn Thu Quỳnh
- Nguyễn Thu Trang
- Nguyễn Thụy Anh
- Nguyễn Thùy Dương
- Nguyễn Thúy Hạnh
- Nguyễn Thụy Long
- Nguyễn Thuỵ Phương
- Nguyễn Thùy Song Thanh
- Nguyễn Thỵ
- Nguyễn Thy Anh
- Nguyễn Tiến Dũng
- Nguyễn Tiến Lập
- Nguyễn Tiến Trung
- Nguyễn Tiến Văn
- Nguyễn Trần Bạt
- Nguyễn Tri Phương Đông
- Nguyễn Triệu Nam
- Nguyễn Trọng Bình
- Nguyễn Trọng Chức
- Nguyễn Trọng Huân
- Nguyễn Trọng Khôi
- Nguyễn Trọng Tạo
- Nguyễn Trung
- Nguyễn Trung Bảo
- Nguyễn Trung Dân
- Nguyễn Trung Hiếu
- Nguyễn Trung Kiên
- Nguyễn Trung Thuần
- Nguyễn Trường Giang
- Nguyễn Trường Huy
- Nguyễn Trường Uy
- Nguyễn Tuấn
- Nguyễn Tuấn Anh
- Nguyễn Tuấn Khoa
- Nguyễn Tùng
- Nguyễn Tùng Linh
- Nguyễn Tuyết Lan
- Nguyễn Tuyết Lộc
- Nguyễn Tư Nghiêm
- Nguyễn Tử Siêm
- Nguyễn Tường Bách
- Nguyễn Tường Thiết
- Nguyễn Tường Thụy
- Nguyễn Ước
- Nguyễn Vạn An
- Nguyễn Vạn Phú
- Nguyễn Văn
- Nguyễn Văn Ba
- Nguyễn Văn Chính
- Nguyễn Văn Ðậu
- Nguyễn Văn Dũng
- Nguyễn Văn Đài
- Nguyễn Văn Gia
- Nguyễn Văn Hạnh
- Nguyễn Văn Hiệp
- Nguyễn Văn Hòa
- Nguyễn Văn Hùng
- Nguyễn Văn Huyên
- Nguyễn Văn Lợi
- Nguyễn Văn Lục
- Nguyễn Văn Miếng
- Nguyễn Văn Nghệ
- Nguyễn Văn Nho
- Nguyễn Văn Phong
- Nguyễn Văn Phú
- Nguyễn Văn Phước
- Nguyễn Văn Sâm
- Nguyễn Văn Sơn
- Nguyễn Văn Tao
- Nguyễn Văn Thiệu
- Nguyễn Văn Thọ
- Nguyễn Văn Trọng
- Nguyễn Văn Trung
- Nguyễn Văn Tuấn
- Nguyễn Văn Vĩnh
- Nguyễn Văn Xuân
- Nguyễn Vi Khải
- Nguyễn Vi Yên
- Nguyễn Viện
- Nguyên Việt
- Nguyễn Việt Anh
- Nguyễn Việt Chiến
- Nguyễn Viết Dũng
- Nguyễn Viết Lãm
- Nguyễn Viết Sáng
- Nguyễn Vĩnh Nguyên
- Nguyễn Vũ Hiệp
- Nguyễn Vũ Tiềm
- Nguyễn Vỹ
- Nguyễn Vy Khanh
- Nguyễn Xuân Diện
- Nguyễn Xuân Hằng
- Nguyễn Xuân Hoàng
- Nguyễn Xuân Hưng
- Nguyễn Xuân Khánh
- Nguyễn Xuân Khoát
- Nguyễn Xuân Nghĩa
- Nguyễn Xuân Nha
- Nguyễn Xuân Quang
- Nguyễn Xuân Thiệp
- Nguyễn Xuân Thọ
- Nguyễn Xuân Tiệp
- Nguyễn Xuân Tường Vy
- Nguyễn Xuân Vượng
- Nguyễn Xuân Xanh
- Nguyễn Ý Thuần
- Nguyên Yên
- Nguyễn-Chương Mt
- Nguyễn-hòa-Trước
- Nguyệt Chu
- Nguyệt Quỳnh
- Nguyệt Vi
- Ngự Thuyết
- Người Buôn Gió
- Ngyễn Trung Bảo
- Nh. Tay Ngàn
- Nhã
- Nhã Ca
- Nhã Duy
- Nhã Thuyên
- Nhan Do Thanh
- Nhân Hồng
- Nhật Chiêu
- Nhật Lệ
- Nhất Linh
- Nhật Thanh
- Nhật Tiến
- Nhật Tuấn
- Nhất Uyên
- Nhị Linh
- Nhị Ngã
- Nhóm Vì một Hà Nội xanh
- Như Huy
- Như Không
- Như Quỳnh
- Như Quỳnh de Prelle
- Như Ý
- Nhược Thủy
- Niall Ferguson
- Nick Hilden
- Nicolas Casey
- Nikulin
- Nina McPherson
- Ninh Dương
- Ninh Kiều
- Nobert Hummelt
- Norbert Seitz
- Nông Hồng Diệu
- NP Phan
- Obama
- Ocean Vương
- Octavio Paz
- Ogden Nash
- Oksana Zabuzhko
- Oleg Kashin
- Olga Berggolts
- Ondrej Slowik
- onggiaolang
- Orlando Figes
- Orwell
- Oscar Salemink
- Oscar Wilde
- Pablo Neruda
- Pablo Picasso
- Palmer
- Pamela N. Corey
- Patrick Frater
- Patrick Lodge
- Paul Auster
- Paul Celan
- Paul Éluard
- Paul Hoover
- Paul Mendez
- Paul Mozur
- Paul Theroux
- Paul-François Paoli
- Paulus Lê Sơn
- Pavel Basinsky
- Pavel Basynski
- Pavlo Vyshebaba
- Paweł Kubiak
- Pawel Kuczynski
- Paweł Łepkowski
- Percy Mabandu
- Pervez Hoodbhoy
- Peter B. Zinoman
- Peter Bradshaw
- Peter Hansen
- Peter Harvey
- Peter Kleiner
- Peter Singer
- Phạm Anh Tuấn
- Phạm Biểu Tâm
- Phạm Cảnh Thượng
- Phạm Cao Hoàng
- Phạm Châu
- Phạm Chí Dũng
- Phạm Chi Lan
- Phạm Chu Sa
- Phạm Công Luận
- Phạm Công Thiện
- Phạm Công Trứ
- Phạm Công Út
- Phạm Duy
- Phạm Duy Nghĩa
- Phạm Đình Chương
- Phạm Đình Trọng
- Phạm Đình Vy
- Phạm Đoan Trang
- Phạm Hải Anh
- Phạm Hải Âu
- Phạm Hiền Mây
- Phạm Hoàng Quân
- Phạm Hồng Sơn
- Phạm Hùng Việt
- Phạm Huy Thông
- Phạm Khánh Duy
- Phạm Khiêm Ích
- Phạm Kiều Tùng
- Phạm Kỳ Đăng
- Phạm Lệ Quyên
- Phạm Lê Vương Các
- Phạm Linh
- Phạm Lưu Vũ
- Phạm Minh Hoàng
- Phạm Minh Ngọc
- Phạm Minh Quân
- Phạm Minh Trung
- Phạm Ngọc
- Phạm Ngọc Lư
- Phạm Ngọc Thái
- Phạm Ngọc Tiến
- Phạm Nguyên Trường
- Phạm Ngữ
- Phạm Phan Long
- Phạm Phú Cường
- Phạm Phú Hải
- Phạm Phú Minh
- Phạm Phú Phong
- Phạm Phú Thứ
- Phạm Phú Viết
- Phạm Phúc Thịnh
- Phạm Phương
- Phạm Quang Ái
- Phạm Quang Long
- Phạm Quang Trung
- Phạm Quang Tuấn
- Phạm Sỹ Sáu
- Phạm Tăng
- Phạm Thành
- Phạm Thành Hưng
- Phạm Thanh Nghiên
- Phạm Thảo Nguyên
- Phạm Thế Cường
- Phạm Thị
- Phạm Thị Anh Nga
- Phạm Thị Điệp Giang
- Phạm Thị Hoài
- Phạm Thị Hồng Ân
- Phạm Thị Kiều Ly
- Phạm Thị Ngọc
- Phạm Thị Phương
- Phạm Thiên Ân
- Phạm Thiên Thư
- Phạm Tín An Ninh
- Phạm Toàn
- Phạm Trần
- Phạm Trọng Chánh
- Phạm Trung Nghĩa
- Phạm Tuấn
- Phạm Tư Thanh Thiện
- Phạm Tường Cán
- Phạm Tường Vân
- Phạm Văn
- Phạm Văn Khoái
- Phạm Văn Quang
- Phạm Văn Tình
- Phạm Văn Vũ
- Pham Viem Phuong
- Phạm Viêm Phương
- Phạm Viết Đào
- Phạm Việt Hưng
- Phạm Vũ Lửa Hạ
- Phạm Xuân Đài
- Phạm Xuân Hùng
- Phạm Xuân Nguyên
- Phạm Xuân Trường
- Phan An Sa
- Phan Ba
- Phan Bội Châu
- Phan Cẩm Thượng
- Phan Châu Thành
- Phan Cự Đệ
- Phan Dương Hiệu
- Phan Đan
- Phan Đạo
- Phan Đắc Lữ
- Phan Đình Diệu
- Phan Độc Lập
- Phan Hải-Đăng
- Phan Hồng Giang
- Phan Huy Chú
- Phan Huy Dũng
- Phan Huy Đường
- Phan Huy Lê
- Phan Huyền Thư
- Phan Kế Toại
- Phan Khôi
- Phan Kim Hổ
- Phan Lặng Yên
- Phan Mạnh Quỳnh
- Phan Nam Sinh
- Phan Ngọc
- Phan Nguyên
- Phan Nhật Nam
- Phan Nhiên Hạo
- Phan Ni Tấn
- Phan Phương Đạt
- Phan Quang
- Phan Quỳnh Trâm
- Phan Tấn Hải
- Phan Tấn Uẩn
- Phan Thanh Bình
- Phan Thanh Sơn Nam
- Phan Thanh Tâm
- Phan Thắng
- Phan Thế Hải
- Phan Thị Hà Dương
- Phan Thị Kim Phúc
- Phan Thị Trọng Tuyển
- Phan Thị Vàng Anh
- Phan Thu Vân
- Phan Thuý Hà
- Phan Thúy Hà
- Phan Trang Hy
- Phan Trí Đỉnh
- Phan Trọng Hoàng Linh
- Phan Trọng Văn
- Phan Văn Giưỡng
- Phan Văn Song
- Phan Văn Thắng
- Phan Vũ
- Phan Xine
- Phan Xuân Sinh
- Phannguyên Psg
- Phanxipăng
- Phaolô VI
- phap
- Pháp Hoan
- Pháp Vân
- Phapxa Chan
- Phát biểu nhận giải Văn Việt
- Phi Hà
- Phil Caputo
- Philip Larkin
- Philip Roth
- Philipp Felsch
- Phong Âm
- Phong Linh
- Phong Nguyen
- Phong Quang
- Phố Văn
- Phú Quang
- Phù Sa
- Phúc Lai GB
- Phúc Tiến
- Phunchok Stobdan
- Phùng Anh Kiệt
- Phùng Hi
- Phùng Hoài Ngọc
- Phùng Học Vinh
- Phùng Khắc Khoan
- Phùng Ngọc Kiên
- Phùng Nguyễn
- Phùng Quán
- Phùng Thành Chủng
- Phùng Thị Hạ Nguyên
- Phùng Thị Như Hà
- Phuong Ta
- Phương Chi
- Phương Hương
- Phương Phương
- Phương Thảo
- Phương Thuý
- Phương Uy
- Phương Xích Lô
- Pierre Bayard
- Pierre Darriulat
- Pierre Lemieux
- Prashanth Parameswaran
- Qladimir Pyljow
- Quách Cường
- Quách Hạo Nhiên
- Quách Tấn
- Quách Thoại
- Quảng Diệu Trần Bảo Toàn
- Quang Dũng
- Quang Đức
- Quang Minh
- Quang Phan
- Quảng Tánh Trần Cầm
- Quậy Nguyễn
- Quế Hương
- Quốc Dũng
- Quốc Phương
- Quốc Toản
- Quyên Di
- Quyên Hoàng
- Quỳnh Dao
- Quỳnh Hợp
- Quỳnh Iris de Prelle
- Quỳnh Vi
- Rabindranath Tagore
- Rachel Adams
- Rainer Maria Rilke
- Ralph Chaplin
- Rasul Gamzatov
- Rebecca Mead
- Rebecca Solnit
- Reiner Traub
- Remo Verdickt
- Riccardo Gazzaniga
- Richard C. Paddock
- Richard Millet
- Richard Serra
- Richard Seymur
- Robert Desnos
- Robert McCrump
- Roger Vu
- Roger-Pol Droit
- Roland Barthes
- Romain Rolland
- Ronald F. Inglehart
- Rory O’Sullivan
- Ruben David Gonzalez Gallego
- Russell Edson
- Ruth Ingram
- Ryszard Legutko
- Saint-John Perse
- Salman Rushdie
- Salvatore Babones
- Sam Dresser
- Sạn chữ
- San Phi
- Sandra Kerschbaumer
- Sara Teasdale
- Sarah Pulliam Bailey
- Sarah Thornton
- Sáu Nghệ
- Semyon Skrepetsky
- Sergio Bitar
- Shaimaa El Sabbagh
- Shakespeare
- Shannon Van Sant
- Sheikha A
- Sheila Fischman
- Sheila Ngoc Pham
- Sheri Berman
- Shigeeda Yutaka
- Shirin Ebadi
- Shukshin
- Silke Fokken
- Simon Book
- Simon Johnson
- Sire Apm Lukwesa
- Slavoj Žižek
- Sohaniim
- Son Kieu Mai
- Song Chi
- Song Hà
- Song Nguyễn
- Song Phạm
- Song Phan
- Song Thao
- Sophie Trịnh
- Số đặc biệt
- Sơn Ca
- Sơn Hoàng Liên
- Sơn Kiều Mai
- Sơn Nam
- Stalin
- Stefan Dege
- Stefano Harney
- Stephan Koester
- Stephen B. Young
- Steve Earle
- Stuart Russel
- Sugita Hisajo
- Susan Sontag
- Suzuki Katsuhiko
- Sương Nguyệt Minh
- Sương Quỳnh
- Svetlana Alexievich
- Svetlana Alexievitch
- Svetlana Alexiévitch
- Sylvia Plath
- T. Đ.
- T.Vấn
- Tạ Anh Thư
- Tạ Chí Đại Trường
- Tạ Duy Anh
- Tạ Tỵ
- Tạ Văn Tài
- Tạ Văn Thông
- Tạ Xuân Hải
- Tadeusz Rósewicz
- Taigu Ryōkan
- Tam Ích
- Tamarchenko
- Tàn Tuyết
- Tanaami Keiichi
- Taneda Santoka
- Taras Shevchenko
- Tarik Khaldi
- Tawada Yoko
- Tawfiq Zayyad
- Tăng Quang
- Tâm An
- Tâm Bình
- Tâm Chánh
- Tâm Don
- Tâm Thường Định
- Tâm Việt
- Tấn An
- Teolinda Gersão
- Teresa Mỹ Chúc
- Thạch Đạt Lang
- Thạch Quỳ
- Thạch Thảo
- Thái Bá Tân
- Thái Bá Vân
- Thái Bảo
- Thái Hà
- Thái Hạo
- Thái Kế Toại
- Thái Kim Lan
- Thái Mai Lan
- Thái Ngọc San
- Thái Phan Vàng Anh
- Thái Sinh
- Thái Thanh
- Thái Thanh Sơn
- Thái Thăng Long
- Thái Tuấn
- Thái Văn
- Thái Văn Đào
- Thái Vũ
- Thanh Chung
- Thạnh Đà
- Thanh Hằng
- Thanh Hằng - Anh Khoa
- Thành Lộc
- Thanh Nam
- Thanh Ngọc
- Thanh Phương
- Thanh Tâm Tuyền
- Thanh Thảo
- Thanh Thuỷ
- Thanh Trúc
- Thanh Tùng
- Thanh Xuân
- Thanhhà Lại
- Thảo Dân
- Thao Dinh
- Thảo luận
- Thảo Nguyên
- Thảo Trường
- Thảo Vy
- Thẩm Đống
- Thẩm Hoàng Long
- Thận Nhiên
- Thân Trọng Mẫn
- Thân Trọng Sơn
- Thế Dũng
- Thế Giang
- Thế Quân
- THẾ THANH
- Thế Uyên
- Thi Hoàng
- Thi Nguyên
- Thi sỹ ỦA
- Thi Vũ
- Thích Ngộ Chánh
- Thích Nhất Hạnh
- Thích Nữ Chân Không
- Thích Phước An
- Thích Quảng Độ
- Thierry Leclère
- Thierry Lentz
- Thiên Di
- Thiên Điểu
- Thiền Lâm
- Thiền Nguyễn
- Thiên Thai
- Thiện Tùng
- Thiện Ý
- Thiền Zen Paul Vân Thuyết
- Thiết Thạch
- Thiếu Khanh
- Thiều Mai Lâm
- Tho Nguyen
- Thọ Nguyễn
- Thomas A. Bass
- Thomas Bo Pedersen
- Thomas Mahler
- Thomas S. Mullaney
- Thomas Schmid
- Thông Đặng
- Thơ
- Thơ Marie Howe
- Thụ Nguyên
- Thu Phong
- Thu Vàng
- Thuận
- Thuần Ngô
- Thuận Paris
- Thuận Thiên
- Thục Quyên
- Thụy An
- Thùy Dung
- Thụy Khuê
- Thùy Linh
- Thụy My
- Thủy Tiên
- Thư Bạn Đọc
- Thường Quán
- Thy An
- Tịch Ru
- Tiet Hung Thai
- Tiền Giang
- Tiêu Dao Bảo Cự
- Tiêu Kiện Sinh
- Tiêu Toàn
- Tiểu Tử
- Tiểu Vũ
- Tillman Miller
- Timothy Brennan
- Timothy Garton Ash
- Timothy Snyder
- Tina Hà Giang
- Tino Cao
- Tobi Trần
- Tobias Rapp
- Tom Fawthrop
- Tomas Tranströmer
- Tô Đăng Khoa
- Tô Hà Lâm
- Tô Hải
- Tô Hoàng
- Tố Hữu
- Tô Lan Hương
- Tô Lê Sơn
- Tô Ngọc Vân
- Tô Thẩm Huy
- Tô Thùy Yên
- Tô Văn Trường
- Tôi Đây
- Tôn Thất Thông
- Tôn Thất Tùng
- Tống Văn Công
- Trà Bình
- Trà Đóa
- Trà Nhiên
- Tracy K. Smith
- Tran Dinh Dung
- Tran Nam Dung
- Trang Châu
- Trang Hạ
- Trang Thanh
- Trang Thế Hy
- Trangđài Glassey Trầnguyễn
- Trangđài Glasssey-Trầnguyễn
- Trao đổi
- Trầm Tử Thiêng
- Trần Anh Hùng
- Trần Bá Đại Dương
- Trần Bang
- Trần Bình Nam
- Trần C. Trí
- Trần Cao Lĩnh
- Trần Cao Tường
- Trần Công Tâm
- Trần Công Tín
- Trần Dạ Từ
- Trần Dần
- Trần Doãn Nho
- Trần Dũng Thanh Huy
- Trần Duy
- Trần Duy Phiên
- Trần Duy Trung
- Trần Đăng Khoa
- Trần Đăng Tuấn
- Trần Đĩnh
- Trần Đình Bút
- Trần Đình Hoành
- Trần Đình Lương
- Trần Đình Sơn Cước
- Trần Đình Sử
- Trần Đình Thắng
- Trần Đình Triển
- Trần Đình Trợ
- Trần Độ
- Trần Đồng Minh
- Trần Đức Anh Sơn
- Trần Đức Nguyên
- Trần Đức Thảo
- Trần Đức Tiến
- Trần Đức Tín
- Trần Đức Toản
- Trần Gia Huấn
- Trần Gia Ninh
- Trần Hà Linh
- Trần Hạ Tháp
- Trần Hạ Vi
- Trần Hải
- Trần Hạnh
- Trần Hậu
- Trần Hoài Anh
- Trần Hoài Thư
- Trần Hoàng Phố
- Trần Hoàng Trúc
- Trần Hoàng Vy
- Trần Hùng
- Trần Huy Bích
- Trần Huy Mẫn
- Trần Huy Minh Phương
- Trần Huy Quang
- Trần Huyền Sâm
- Trần Huỳnh Duy Thức
- Trần Hữu Dũng
- Trần Hữu Khánh
- Trần Hữu Quang
- Trần Hữu Tá
- Trần Hữu Thục
- Trần Khánh Triệu
- Trần Kiêm Đoàn
- Trần Kiêm Trinh Tiên
- Trần Kim Trắc
- Trần Kỳ Trung
- Trần Lam
- Trần Lê Hoa Tranh
- Trần Lê Sơn Ý
- Trần Lương
- Trần Lý Trí Tân
- Trần Mạnh Hảo
- Trần Mạnh Tuấn
- Trần Minh Phi
- Trần Minh Quốc
- Trần Mộng Tú
- Trần Nam Anh
- Trần Nam Bình
- Trần Ngân Hà
- Trần Nghi Hoàng
- Trần Ngọc Cư
- Trần Ngọc Hiếu
- Trần Ngọc Tuấn
- Trần Ngọc Vương
- Trần Nguyên Đán
- Trần Nhã Thụy
- Trần Nhương
- Trần Phong Giao
- Trần Phong Vũ
- Trần Quang Đức
- Trần Quang Lộc
- Trần Quốc Anh
- Trần Quốc Nam
- Trần Quốc Thuận
- Trần Quốc Toàn
- Trần Quốc Trọng
- Trần Quốc Vượng
- Trần Quyết Thắng
- Trân Sa
- Trần Song Hào
- Trần Thành
- Trần Thanh Ái
- Trần Thanh Cảnh
- Trần Thanh Huy
- Trần Thanh Vân
- Trần Thắng
- Trần Thế Vĩnh
- Trần Thị Băng Thanh
- Trần Thị Diệu Tâm
- Trần Thị Lai Hồng
- Trần Thị Lam
- Trần Thị NgH.
- Trần Thị Nguyệt Mai
- Trần Thị Phương Phương
- Trần Thị Thanh Thoả
- Trần Thị Thu Hoài
- Trần Thị Trường
- Trần Thiện Đạo
- Trần Thùy Mai
- Trần Tiến
- Trần Tiễn Cao Đăng
- Trần Tiến Dũng
- Trần Tiễn Khanh
- Trần Tố Nga
- Trần Trọng Dương
- Trần Trọng Thức
- Trần Trọng Vũ
- Trần Trung Chính
- Trần Trung Đạo
- Trần Tuấn
- Trần Từ Mai
- Trần Vàng Sao
- Trần Văn Chánh
- Trần Văn Chung
- Trần Văn Đỉnh
- Trần Văn Khê
- Trần Văn Minh
- Trần Văn Nam
- Trần Văn Thọ
- Trần Văn Thủy
- Trần Văn Tý
- Trần Vấn Lệ
- Trần Việt Hà
- Trần Viết Ngạc
- Trần Vinh Dự
- Trần Vũ
- Trần Vũ Hải
- Trần Vương Thuấn
- Trần Vương Thuận
- Trần Wũ Khang
- Trần Xuân Hoài
- Trần Xuân Kiêm
- Trần Xuân Linh
- Trần Xuân Lĩnh
- Trần Xuân Thảo
- Trần Ý Dịu
- Trần Yên Hòa
- Trần Yên Nguyên
- Trên
- Trên Facebook
- Trên Facebook/Minds
- Trên kệ sách
- Trên trang diaCRITICS
- Trí Hiệu Dân
- Triều Anh
- Triều Hoa Đại
- Triêu Nhan
- Triều Sơn
- Triệu Tử Dương
- Trịnh Anh Tuấn
- Trịnh Bá Phương
- Trịnh Bách
- Trịnh Cao Hòa Thanh
- Trịnh Chu
- Trịnh Công Sơn
- Trịnh Cung
- Trịnh Duy Kỳ
- Trịnh Hữu Long
- Trịnh Kim Tiến
- Trịnh Lữ
- Trịnh Minh Tuấn
- Trịnh Sơn
- Trịnh Thanh Thủy
- Trịnh Thu Tuyết
- Trịnh Vĩnh Phúc
- Trịnh Xuân Thuận
- Trịnh Xuân Thủy
- Trịnh Y Thư
- Trọng Anh
- Trọng Phú
- Trọng Thành
- Tru Sa
- Trúc Giang
- Trúc Thông
- Trúc Ty
- Trump
- Trung Bảo
- Trung Dũng Kqd
- Trung Dũng Kqđ
- Trùng Dương
- Trung Đào
- Trung Trung Đỉnh
- Trư Sa
- Trường An
- Trương Anh Ngọc
- Trương Anh Thụy
- Trương Châu Hữu Danh
- Trương Chính
- Trương Cừ
- Trương Duy Nhất
- Trương Đăng Dung
- Trương Điện Thắng
- Trương Đình Phượng
- Trương Hồng Quang
- Trương Huy San
- Trường Minh
- Trương Ngọc Chương
- Trương Nguyên
- Trương Nguyện Thành
- Trương Nhân Tuấn
- Trương Phượng
- Trương Quang
- Trương Quang Đệ
- Trương Quang Nhuệ
- Trương Quang Vĩnh
- Trương Quốc Cường
- Trương Thanh Thuận
- Trương Thị An Na
- Trương Thị Ngọc Hân
- Trương Thiên Phàm
- Trương Thu Hiền
- Trương Tố Hoa
- Trương Trọng Nghĩa
- Trương Tửu
- Trương Văn Dân
- Trương Văn Vĩnh
- Trương Vũ
- Trương Xuân Thiên
- Tú Mỡ
- Tù Quốc Hoài
- Tù Sâm
- Tú Trung Hồ
- Tuấn Duy
- Tuấn Khanh
- Tuân Nguyễn
- Tuấn Thảo
- Tuệ Anh
- Tuệ Đăng
- Tuệ Nguyên
- Tuệ Nhân
- Tuệ Nhật
- Tuệ Sĩ
- Tuệ Sỹ
- Tùng Dương Cola
- Tung Nguyen
- Turner
- Túy Hồng
- Tuyết Nghi
- Tư
- Từ Dung
- Tư liệu
- Tử Linh
- Từ Mai Trần Huy Bích
- Từ Quốc Hoài
- Từ Sâm
- Từ Thức
- Tưởng
- Tương Lai
- Uejima Onitsura
- Umberto Eco
- Uông Tăng Kỳ
- Uông Triều
- Uyển Ca
- Uyên Nguyên
- Uyên Nguyễn
- Uyên Thao
- Uyên Vũ
- V. Erofiev
- Václav Havel
- Vàng A Giang
- Varlam Shalamov
- Vasco Gargalo
- Vasily Makarovich
- Vasyl Stus
- Văn
- Văn Biển
- Văn Cao
- Văn Chinh
- Văn Công Hùng
- Văn Giá
- Văn học
- Văn học Miền Nam 54-75
- Văn Như Cương
- Văn Quang
- Văn Tâm
- Văn Văn Của
- Văn Việt
- Văn;
- Văn.
- Vấn đề hôm nay
- Vận Động Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội 2016
- Vân Hạ
- Vân Phi
- Velcrow Ripper
- Veronica Melkozerova
- Vi Lãng
- Vi Trần
- Vi Yên
- Viet Thanh Nguyen
- Viên Linh
- Việt Bách
- Việt Bình
- Việt Dzũng
- Việt Khang
- Việt Lang
- Việt Phương
- Viktor Astafyev
- Viktor Maslov
- Vinh Anh
- Vĩnh Điện
- Vĩnh Hảo
- Vĩnh Quyền
- Virginia Heffernan
- Virginia Woolf
- Vladimir Britanishsky
- Vladimir Nabokov
- Vladimir Voronov
- Võ An Đôn
- Võ Anh Minh
- Võ Anh Thơ
- Võ Bá Cường
- Võ Đắc Danh
- Võ Định Hình
- Võ Đức Phúc
- Võ Hồng
- Võ Huy Tâm
- Võ Hương Quỳnh
- Võ Kỳ Điền
- Võ Ngàn Sông
- Võ Phiến
- Võ Thị Ánh Ngọc
- Võ Thị Hảo
- Võ Thị Thu Hằng
- Võ Tiến Cường
- Võ Tòng Xuân
- Võ Trí Hảo
- Võ Văn Quản
- Võ Văn Tạo
- Võ Văn Thôn
- Võ Xuân Quế
- Võ Xuân Sơn
- Volker Weidermann
- Volodymyr Vynnychenko
- Volodymyr Zelenskyy
- Vũ
- Vũ Bằng
- Vũ Biện Điền
- Vũ Cao Đàm
- Vũ Cát Tường
- Vũ Đình Hòe
- Vũ Đình Huỳnh
- Vũ Đình Liên
- Vũ Đình Phòng
- Vũ Đức Khanh
- Vũ Đức Phúc
- Vũ Đức Sao Biển
- Vu Gia
- Vũ Hà Văn
- Vũ Hạnh
- Vũ Hoàng Chương
- Vũ Hoàng Thư
- Vũ Hồng Ánh
- Vũ Huy Ngọc
- Vũ Huy Quang
- Vũ Khắc Hoè
- Vũ Khắc Khoan
- Vũ Kim Hạnh
- Vũ Kim Thu
- Vũ Lâm
- Vũ Lập Nhật
- Vũ My Lan
- Vũ Ngọc Giao
- Vũ Ngọc Hoàng
- Vũ Ngọc Tâm
- Vũ Ngọc Tiến
- Vũ Nho
- Vũ Oanh
- Vũ Quang Việt
- Vũ Quí Hạo Nhiên
- Vũ Quốc Ngữ
- Vũ Quỳnh Hương
- Vũ Quỳnh Nh.
- Vũ Thành Sơn
- Vũ Thanh Tâm
- Vũ Thanh Tùng
- Vũ Thành Tự Anh
- Vũ Thế Khôi
- Vũ Thế Thành
- Vũ Thị Hải
- Vũ Thị Nhuận
- Vũ Thị Phương Anh
- Vũ Thị Phương Lan
- Vũ Thị Thanh
- Vũ Thị Thanh Mai
- Vũ Thư Hiên
- Vũ Tiến Lập
- Vũ Trọng Khải
- Vũ Trọng Phụng
- Vũ Tuấn Hoàng
- Vũ Từ Trang
- Vũ Tường
- Vũ Viết Tuân
- Vũ Xuân Tửu
- Vương Bích Ngọc
- Vương Đan
- Vương Hỗ Ninh
- Vương Huy
- Vương Ngọc Minh
- Vương Tiểu Nhị
- Vương Trí Nhàn
- Vương Trọng
- Vương Trùng Dương
- Vương Trung Hiếu
- Vương Tuấn
- Vy Thảo
- W. H. Auden
- Wa Praong
- Walt Whitman
- Walter Isaacson
- Wayne Karlin
- Wells
- Wendy Barker
- Wiesiek Powaga
- Wilhelm Schmid
- Will Nguyen
- William Carlos Williams
- William Nee
- William Stafford
- William Stanley Merwin
- Winston Phan Đào Nguyên
- Wislawa Szymborska
- Władysław Reymont
- Wolf Biermann
- Wolfgang Borchert
- Wulf Noll
- Wynn Gadkar Wilcox
- Xang Hứng
- Xì Trum
- Xie Tao
- Xuân Ba
- Xuân Diệu
- Xuân Dương
- Xuân Đài
- Xuân Minh
- Xuân Phượng
- Xuân Sách
- Xuân Thọ
- Xuân Uyên
- Xuân Vũ
- Xương Văn
- Y Chan
- Ỷ Lan
- Ý Nhi
- Y Uyên
- Yan Frenkel
- Yanis Varoufakis
- Yasmine M’Barek
- Yevgeny Yevtushenko
- Yên Ba
- Yên Khắc Chính
- Yến Năng
- Yên San
- Yên San Thụy Miên
- Yên Thao
- Yiyun Li
- Yoko Ogawa
- Yōko Ogawa
- Yoko Tawada
- Yosano Akiko
- Young Sang Lee
- Yuliya Ilchuk
- Yuno Bigboi
- Yves Sintomer
- Yvette Tan
- Zac Herman
Bình minh đỏ trên Trung Quốc – Chủ nghĩa Cộng sản Chế ngự một phần tư Nhân loại thế nào (kỳ 2)
Tác giả: Frank Dikötter
Người dịch: Nguyễn Quang A
NXB: Bloomsbury Publishing, 2026

1. Thời kỳ ấp trứng
(1921–1926)
Vào sáng ngày 21 tháng 1 năm 1793, Louis XVI, cựu Vua Pháp, đã tham dự thánh lễ cuối cùng, nhận lời chúc phúc từ linh mục và được đưa bằng xe ngựa qua những con phố đông đúc của Paris đến Quảng trường Cách mạng, nơi một giá treo cổ đang chờ đợi ông. Sau khi tóc ông bị cắt và cổ áo sơ mi bị tháo ra, ông bị trói vào một tấm ván, đầu đặt dưới lưỡi dao chém. Việc chém đầu diễn ra nhanh chóng, mặc dù theo một lời kể, lưỡi dao không cắt đứt cổ trong một nhát gọn gàng mà cắt xuyên qua phía sau hộp sọ và vào hàm. Charles-Henri Sanson, người cựu người hầu trung thành của ông với tư cách là người hành quyết hoàng gia kể từ năm 1778, đã kéo cái đầu ướt đẫm máu của vị chủ nhân cũ ra khỏi giỏ và trình bày nó trước đám đông phấn khích. 1 Đó là đỉnh điểm của một cuộc cách mạng bắt đầu vào năm 1789 với cuộc tấn công vào Bastille, một nhà tù nhà nước tượng trưng cho chế độ chuyên chế của chế độ quân chủ đang cầm quyền.
Quách chứa thi thể nhà vua, với cái đầu được đặt dưới chân, được hạ xuống một hố chôn phủ đầy vôi sống. Cùng với ông, khái niệm về “quyền thần thánh” cũng bị chôn vùi. Những người cách mạng cho rằng quyền lực phải thuộc về nhân dân, chứ không phải thuộc về Thượng Đế. Vì nhân dân là chủ quyền, một nguyên tắc chính trị liên quan đã được tuyên bố, đó là nhân dân phải bầu chọn người lãnh đạo của mình thông qua bầu cử. Đó là một quan niệm sẽ dần dần phát triển trong thế kỷ XIX, chinh phục phần lớn thế giới theo thời gian, khi các trật tự chính trị viện dẫn một loại mệnh lệnh tinh thần hay siêu nhiên nào đó bị tấn công. Phần lớn thế kỷ XIX trở thành “thời đại cách mạng,” khi những căng thẳng giữa chế độ chuyên chế và dân chủ bùng nổ. Tại Pháp, cái nôi của cách mạng, Napoleon đã tự xưng là hoàng đế chỉ sau vài năm, chấm dứt nền Cộng hòa Pháp thứ nhất. Sau khi ông bị lật đổ vào năm 1815, chế độ quân chủ được khôi phục, mặc dù vua Charles X, đến lượt mình, lại bị lật đổ bởi một cuộc cách mạng khác, diễn ra vào năm 1830. Một làn sóng cách mạng khác tràn qua châu Âu vào năm 1848 nhưng kết thúc trong thất bại, mặc dù trong những thập kỷ tiếp theo, các chế độ quân chủ cầm quyền buộc phải tuân thủ một số giá trị của năm 1789, bao gồm quyền bầu cử hạn chế và tự do ngôn luận, tự do tụ tập. Pháp chỉ trở thành một nước cộng hòa vào năm 1871, trong khi phải đến thảm họa của Chiến tranh Thế giới Thứ nhất mới lật đổ được các chế độ quân chủ ở Đức, Áo-Hungary và Nga.
Phần lớn thế giới thuộc địa đã bị cuốn vào những nguyên tắc của Cách mạng Pháp. Chẳng hạn, tại Haiti, Toussaint Louverture đã biến một cuộc nổi dậy của nô lệ thành một phong trào nhân dân vì độc lập. Mặc dù ông qua đời vào năm 1802, nhưng đội quân hùng hậu và kỷ luật cao của ông đã thành công trong việc đánh bại quân Pháp hai năm sau đó, khi nước Cộng hòa da đen đầu tiên trên thế giới được tuyên bố thành lập. Một cuộc tranh giành quyền lực nổ ra, dẫn đến việc Haiti bị chia thành hai phần. Những người Haiti từng là nô lệ di chuyển về phía bắc, nơi Henri Christophe – một cựu tướng từng chiến đấu dưới trướng Toussaint Louverture – đã thành lập một vương quốc vào năm 1811. Trong những năm tiếp theo, ông tự xưng là Henri I, Vua của Haiti, và sử dụng lao động cưỡng bức để xây dựng những cung điện xa hoa cùng một chuỗi pháo đài. Henri I đã tạo ra tầng lớp quý tộc của riêng mình, thiết kế huy hiệu cho các công tước, bá tước và nam tước của ông. Dần dần, ông sa vào chứng hoang tưởng, nhìn thấy âm mưu và sự phản bội ở khắp mọi nơi. Ông tự bắn mình bằng một viên đạn bạc khi mới 53 tuổi.
‘Liberté, égalité, fraternité’, được dịch là ‘tự do, bình đẳng, bác ái’, đã được chọn làm khẩu hiệu quốc gia ở cả Pháp và Haiti. Nhưng bình đẳng thực sự có nghĩa là gì? Các nhà cách mạng ở Paris đã bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1793, nhưng Napoleon lại khôi phục thương mại nô lệ vào năm 1802, châm ngòi cho làn sóng bạo lực cách mạng ở vùng Caribe. Bình đẳng cũng không được mở rộng cho phụ nữ: một sự phê chuẩn nhân dân (popular sanction) được kỳ vọng sẽ thay thế sự phê chuẩn thần thánh “divine sanction”, nhưng tại Paris, các nhà cách mạng chỉ giới hạn quyền bầu cử cho nam giới.
Ngay khi các nhà cách mạng tuyên bố các nguyên tắc tự do và bình đẳng, giải phóng đã trở thành mục tiêu chính trị then chốt đối với nhiều cộng đồng khác nhau. Người dân từ mọi tầng lớp xã hội, dù là phụ nữ, người Do Thái, nô lệ hay nông nô, đều kêu gọi được giải phóng khỏi địa vị chính trị thấp kém. Các nhà hoạt động lao động, lấy cảm hứng từ nhà triết học Karl Marx, đã đưa tầng lớp công nhân vào danh sách này. Bản thân Marx, khi đó vẫn là một nhà báo tương đối ít người biết đến ở tuổi 46, đã tuyên bố trong Hiến chương của Hiệp hội Công nhân Quốc tế (sau này được gọi là Quốc tế Thứ nhất), được tổ chức tại London năm 1864, rằng “sự giải phóng của giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công nhân giành lấy; rằng cuộc đấu tranh vì sự giải phóng của giai cấp công nhân không phải là cuộc đấu tranh vì đặc quyền và độc quyền giai cấp, mà là vì quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng, cùng việc xóa bỏ mọi sự thống trị của giai cấp.” 2 Marx gọi thương mại và buôn bán là “hệ thống tư bản chủ nghĩa”, một trật tự bóc lột bản chất, trong đó một giai cấp thống trị, được gọi là “tư sản”, sử dụng quyền sở hữu phương tiện sản xuất để bóc lột một giai cấp khác, tức là “giai cấp vô sản”. Marx hình dung một tương lai mà sau giai đoạn ban đầu do người lao động thống trị – những người sẽ thực thi chế độ chuyên chính để xóa bỏ sở hữu tư nhân – mọi sự phân biệt giai cấp sẽ dần biến mất và một tương lai xã hội chủ nghĩa thịnh vượng cho tất cả sẽ xuất hiện.
Một câu hỏi gây chia rẽ những người đấu tranh vì quyền lợi lao động là liệu chủ nghĩa xã hội có thể đạt được chỉ thông qua cải cách hay cần phải có cách mạng. Đây là một vấn đề cấp bách, đặc biệt là tại Đức, nơi vào năm 1878, Thủ tướng Otto von Bismarck đã cấm các tổ chức chính trị nhằm phổ biến các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Một cách nghịch lý, Đảng Xã hội Dân chủ, lo ngại rằng làn sóng đình công sẽ kích động sự đàn áp mạnh mẽ hơn, đã từ bỏ khía cạnh cách mạng hơn trong cương lĩnh của mình ngay khi các luật chống xã hội chủ nghĩa được bãi bỏ vào năm 1890. Họ tin rằng các công đoàn và cải cách lập pháp sẽ dẫn đến sự mở rộng của chủ nghĩa xã hội dân chủ, và theo thời gian, điều này sẽ biến chủ nghĩa tư bản thành chủ nghĩa xã hội. Nói cách khác, sự thay đổi sẽ đến từ lá phiếu, chứ không phải từ các rào chắn. Các nhà cách mạng xã hội không đồng tình. Như nhà lý luận Marxist người Đức Rosa Luxemburg đã nêu rõ vào năm 1899 trong cuốn sách nhỏ mang tiêu đề “Cải cách hay Cách mạng”, chỉ có việc giai cấp vô sản giành quyền lực một cách cách mạng mới có thể dẫn đến việc “xóa bỏ chính chủ nghĩa tư bản”, trong khi cải cách chỉ có thể xóa bỏ những lạm dụng của nó. 3
Tại Nga, nơi các nhà cách mạng nhằm lật đổ chế độ Sa hoàng, một sự chia rẽ tương tự đã xuất hiện. Phái Menshevik, một nhánh của Đảng Lao động Xã hội Dân chủ Nga do Julius Martov lãnh đạo, ủng hộ một tổ chức lớn và bao quát, có thể vươn tới mọi tầng lớp chính trị và theo đuổi các phương pháp hợp pháp cùng công tác công đoàn. Phái Bolshevik, do Vladimir Lenin lãnh đạo, là những nhà cách mạng cứng rắn, ít tin tưởng vào cả dân chủ lẫn giai cấp công nhân. Trong khi Marx đề xuất rằng người lao động nên tự giải phóng mình, Lenin lại đưa ra một tầm nhìn hoàn toàn khác. Thay vì chờ đợi người lao động đạt được ý thức giai cấp và lật đổ chủ nghĩa tư bản, như Marx đã gợi ý, [còn theo Lenin] một nhóm cách mạng gia chuyên nghiệp, được tổ chức chặt chẽ theo các nguyên tắc quân sự nghiêm ngặt, sẽ lãnh đạo cuộc cách mạng và thiết lập chế độ chuyên chính vô sản để điều khiển quá trình chuyển đổi từ chủ nghĩa tư bản sang chủ nghĩa cộng sản từ trên xuống, tàn nhẫn loại bỏ mọi kẻ thù của tiến bộ. “Nhưng đó chính là chế độ chuyên chính mà ông đang ủng hộ,” Leon Trotsky được cho là đã phản đối một ngày nọ, và Lenin đáp lại: “Không có con đường nào khác.” Đối với những người Bolshevik, cách mạng chính là chiến tranh, và bạo lực là nền tảng của nó. 4
***
Trước năm 1926, từ “cộng sản” không được sử dụng khi các cơ quan chức năng nước ngoài tại Khu định cư Quốc tế Thượng Hải đề cập đến các hoạt động chính trị lấy cảm hứng từ Moscow. Thay vào đó, người ta nói đến chủ nghĩa Bolshevik. 5
Vào tháng 10 năm 1917, Lenin và những người Bolshevik đã tấn công Cung điện Mùa đông ở St Petersburg, tuyên bố thành lập một chính phủ mới dựa trên “chế độ chuyên chính vô sản”. Lấy cảm hứng từ năm 1789, sau đó họ gọi việc giành quyền lực của mình là một “cuộc cách mạng”. Cuộc đảo chính này đã gây chấn động khắp châu Âu và xa hơn nữa. Trong hàng loạt sắc lệnh liên tiếp, các phương tiện sản xuất, bao gồm đất đai, ngân hàng, công nghiệp và giao thông vận tải, đã bị tịch thu mà không có bồi thường, và được chuyển giao cho “nông dân và công nhân”. Tài sản của Giáo hội được sáp nhập vào nhà nước. Vào tháng 2 năm 1918, chế độ mới từ chối thanh toán toàn bộ nợ công và các nghĩa vụ tài chính khác, đồng thời tịch thu toàn bộ tài sản của các quốc gia nước ngoài tại Nga. Giới tài chính quốc tế bị sốc, đặc biệt là Anh và Pháp, khi mất hàng chục triệu bảng Anh tiền đầu tư. 6
Sau khi Chiến tranh Thế giới Thứ nhất kết thúc vào tháng 11 năm 1918, một làn sóng cách mạng bùng nổ khắp châu Âu khi công nhân, sau nhiều năm bị tàn sát trên chiến trường và bị áp đặt kỷ luật nghiêm ngặt trong nhà máy, đã chuyển sang các cuộc đình công công nghiệp. Được truyền cảm hứng từ Lenin, các thành phố bắt đầu treo cờ đỏ, tuyên bố ủng hộ chế độ chuyên chính vô sản. Tại Ý, màu đỏ trở nên phổ biến đến mức giai đoạn này được gọi là “Những Năm Đỏ”, với Đảng Xã hội phát triển lên hơn 200.000 đảng viên vào năm 1920, và Tổng Liên đoàn Lao động có hơn 2 triệu thành viên. Tại Đức, công nhân cũng xuống đường biểu tình, mặc dù Đảng Xã hội Dân chủ từ chối chuyển giao quyền lực cho các hội đồng lấy cảm hứng từ Liên Xô. Phần Lan, một đại công quốc thuộc Đế quốc Nga đã sụp đổ, đang tìm cách trở thành một quốc gia độc lập, đã bị xé nát bởi cuộc nội chiến giữa Lực lượng Vệ binh Đỏ, do Đảng Xã hội Dân chủ lãnh đạo, và Lực lượng Vệ binh Trắng, được những người phản đối chủ nghĩa xã hội ủng hộ. 7
Không có người lao động nào xuất hiện trên đường phố ở Trung Quốc. Nhưng khi vào tháng 4 năm 1919, các nước Đồng minh chiến thắng tại Hội nghị Hòa bình Paris trao cho Nhật Bản quyền kiểm soát các khu nhượng địa cũ của Đức tại tỉnh Sơn Đông, các cuộc biểu tình đã bùng nổ trên khắp cả nước. Vào ngày 4 tháng 5, khoảng 4.000 sinh viên tập trung trước Thiên An Môn, cổng chính của Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, kêu gọi tẩy chay hàng hóa Nhật Bản. Phong trào lan rộng khắp cả nước, với sự tham gia của các phòng thương mại, tổ chức sinh viên và các hiệp hội dân sự vào các cuộc đình công trên diện rộng, khiến đến đầu tháng 6, một số khu vực ở Thượng Hải – trung tâm thương mại sầm uất ở cửa sông Dương Tử phía nam – đã bị tê liệt.
Đó là một làn sóng phản kháng dân tộc chủ nghĩa, nhắm vào chủ nghĩa đế quốc nói chung. Mục tiêu cụ thể của nó là một thể chế lỗi thời được gọi là hệ thống cảng hiệp ước, có nguồn gốc từ một khu định cư nhỏ ở Quảng Đông (sau này được gọi là Quảng Châu), nơi duy nhất mà triều đại nhà Thanh đã mở cửa cho thương mại nước ngoài vào năm 1759. Khi các yêu cầu của nước ngoài về đại diện ngoại giao, thương mại tự do và đối xử bình đẳng ngày càng gia tăng, căng thẳng đã lên đến đỉnh điểm trong Chiến tranh Trung-Anh lần thứ nhất (1839–42), sau này được gọi là “Chiến tranh Nha phiến”, khi một sứ giả triều đình tên là Lâm Tắc Từ (Lin Zexu), được cử đến Quảng Châu để trấn áp thị trường chợ đen đang phát triển mạnh, đã bắt giữ các thương nhân nước ngoài và gia đình họ làm con tin tại khu định cư mà không có cáo buộc hay xét xử. Lin Zexu còn công khai tiêu hủy khoảng 20.000 thùng thuốc phiện nhập khẩu, tạo ra ngòi nổ cho cuộc xung đột dẫn đến Hiệp ước Nam Kinh năm 1842. Hiệp ước này nhượng lại một hòn đảo hoang vắng tên là Hồng Kông cho Anh và mở cửa năm cảng, bao gồm Thượng Hải, cho thương mại và cư trú của người nước ngoài. Đó là khởi đầu của hệ thống cảng hiệp ước, trong đó các khu đất được gọi là “khu nhượng địa” được cho các cường quốc nước ngoài thuê, mỗi quốc gia tự cung cấp các dịch vụ hành chính dưới sự giám sát của một lãnh sự. Hệ thống này được thiết kế để tách biệt người nước ngoài khỏi phần còn lại của dân cư. Tại Thượng Hải, nơi các bãi bùn dọc theo một con sông đầy muỗi được cho thuê vĩnh viễn, khu nhượng địa được gọi là “khu định cư”. Nhà Thanh, sau một hiệp ước ký kết vào những năm 1830 với các thương nhân từ Khanate Kokand của người Uzbek, cũng trao đặc quyền ngoại giao cho người nước ngoài liên quan đến các vụ án hình sự. Họ được miễn trừ khỏi thẩm quyền của pháp luật địa phương và thay vào đó phải tuân theo luật pháp của chính quốc gia mình, phù hợp với truyền thống của đế chế trong việc khẳng định chủ quyền đối với con người chứ không phải các vùng đất. 8
Các cường quốc, đặc biệt là Anh, mong muốn đảm bảo thương mại tự do và kiểm soát mọi điểm tiếp cận vào đất nước, đã mở rộng hệ thống cảng hiệp ước một cách không thương tiếc. Những biến động lớn, đặc biệt là cuộc nội chiến tàn khốc được gọi là Nổi dậy Thái Bình [Thiên quốc] (1850–64), đã được tận dụng để đòi thêm các khu vực nhượng địa dọc bờ biển và dọc các con sông lớn có thể đi lại được, dẫn vào một vùng nội địa rộng lớn và kém phát triển. Điều khoản được gọi là “điều khoản quốc gia được đối xử ưu đãi nhất (tối huệ quốc-MFN)” đảm bảo rằng bất kỳ thỏa thuận nào được đàm phán bởi một quốc gia cũng áp dụng cho tất cả các quốc gia khác, tạo ra một mạng lưới phức tạp gồm các quyền và đặc quyền đan xen lẫn nhau. Các cường quốc đã triển khai các đồn binh nhỏ tại các khu nhượng địa để bảo vệ tính mạng và tài sản của người nước ngoài, đồng thời các tàu chiến tuần tra trên vùng biển ven bờ và các con sông nội địa.
Năm 1898, trong cuộc “tranh giành phạm vi ảnh hưởng”, sự cạnh tranh giữa các cường quốc ngày càng leo thang. Bốn năm trước đó, Nhật Bản đã đánh bại nhà Thanh và chiếm bán đảo Liêu Đông, nằm ở cực nam của Mãn Châu. Khu vực này bao gồm Đại Liên (sau này được gọi là Dairen) cũng như Cảng Ártur, một cảng chiến lược có thể kiểm soát lối vào sông Hoàng Hà. Người Nhật cũng chiếm đóng Đài Loan và Triều Tiên, những cựu chư hầu của Đế quốc Thanh. Bị rung động trước tham vọng của Nhật Bản, Pháp, Đức và Nga đã can thiệp, buộc nước Nhật phải rút quân khỏi Liêu Đông. Nga lập tức tiến vào bán đảo này và bắt đầu củng cố pháo đài Port Arthur, nơi không bị đóng băng vào mùa đông, khác với căn cứ hải quân Vladivostok ở phía bắc. Năm 1898, Đức chiếm Vịnh Jiaozhou (Giao Châu), trung tâm của hoạt động thương mại thuyền buồm lớn tại Sơn Đông, nhằm trả đũa vụ sát hại hai nhà truyền giáo của họ. Hải quân Đế quốc Đức bắt đầu xây dựng một căn cứ hải quân tại làng chài được gọi là Thanh Đảo. Cách Thanh Đảo vài kilômét về phía bắc, Anh đòi hỏi cảng Weihaiwei (Uy Hải Vệ), được che chở bởi các ngọn đồi và bảo vệ bởi các hòn đảo đá, trong khi Pháp giành được quyền khai thác tại Vịnh Quảng Châu trên bờ biển miền nam Trung Quốc.
Lúc này, London đã cử một phái đoàn điều tra đến Trung Quốc, do Đô đốc Lord Charles Beresford đứng đầu. Ông khuyến cáo không nên chia cắt Đế quốc Thanh, vì một Trung Quốc thống nhất có giá trị hơn việc kiểm soát một phạm vi ảnh hưởng ở một khu vực nhỏ của đất nước. 9
Đô đốc trở về qua Washington, nơi Bộ trưởng Ngoại giao John Hay vào các năm 1899 và 1900 đã đề xuất học thuyết “Cửa mở” áp dụng cho toàn bộ châu Á. Hay ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ và hành chính của Trung Quốc, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận bình đẳng cho tất cả các bên đối với bất kỳ cảng nào mở cửa cho thương mại. Phản ứng của các cường quốc lớn mang tính né tránh, và trong nửa thế kỷ tiếp theo, địa chính trị của Trung Quốc sẽ bị xé nát bởi hai cách tiếp cận trái ngược: Anh, Pháp và Hoa Kỳ ủng hộ một Trung Quốc thống nhất, trong khi Nga và Nhật Bản – vốn là kẻ thù không đội trời chung – đã sử dụng đất nước này làm pháo đài chống lại nhau.
Năm 1904, hai nước này nổ ra chiến tranh vì Mãn Châu. Trước sự ngạc nhiên của các nhà quan sát quốc tế, Nhật Bản đã giành chiến thắng, đánh chìm hạm đội Nga tại Cảng Ártur và đè bẹp quân địch tại Mục Đôn (sau này được gọi là Thẩm Dương). Hợp đồng thuê Cảng Ártur đã được chuyển nhượng cho Nhật Bản. Tokyo cũng tiếp quản nửa phía nam của Đường sắt Đông Trung Quốc, được người Nga xây dựng từ năm 1897 đến 1902 theo hình thức nhượng quyền từ nhà Thanh. Tuyến đường này chạy qua Mãn Châu, nối cảng Arthur với Đường sắt xuyên Siberia.
Đế chế Thanh, bị các cường quốc nước ngoài tàn phá và bị các nhà cách mạng đòi hỏi một chính phủ cộng hòa làm suy yếu từ bên trong, đã sụp đổ vào năm 1911. Trung Quốc trở thành nước cộng hòa đầu tiên ở châu Á, với 40 triệu cử tri bỏ phiếu bầu ra 30.000 đại biểu, những người này sau đó chọn ra các thành viên của Quốc hội và Hạ viện. Tuy nhiên, hy vọng về sự độc lập lớn hơn đã tan vỡ trong những năm tiếp theo. Khi chiến tranh bùng nổ ở châu Âu vào mùa hè năm 1914, Nhật Bản đứng về phía các nước Đồng Minh chống lại các Đế quốc Trung tâm do Đức và Áo-Hung dẫn đầu. Chỉ trong vài tháng, Nhật Bản đã chiếm được khu nhượng địa của Đức tại Thanh Đảo. Trung Quốc, đến lượt mình, đã tuyên chiến với các Đế quốc Trung tâm vào tháng 8 năm 1917, hủy bỏ mọi đặc quyền ngoại giao của Áo và Đức, đồng thời chiếm các khu nhượng địa của họ tại Thiên Tân – trung tâm công nghiệp và thương mại lớn ở miền Bắc đất nước. Bắc Kinh hy vọng Tokyo sẽ từ bỏ quyền kiểm soát khu nhượng địa cũ của Đức, nhưng thông qua một loạt thỏa thuận bí mật, phe Đồng minh đã đồng ý để Nhật Bản kiểm soát vĩnh viễn tỉnh Sơn Đông. Năm 1917, chính quyền Soviet đã tiết lộ các hiệp ước bí mật nhằm làm lu mờ mối quan hệ giữa cái mà Moscow gọi là “phe đế quốc” và Trung Quốc. Khi hai năm sau đó, các nước Đồng Minh tại Versailles, lo ngại rằng Tokyo có thể từ chối gia nhập Hội Quốc Liên mới được thành lập, vẫn kiên quyết chuyển nhượng các khu nhượng địa của Đức cho Nhật Bản, nhiều người Trung Quốc cảm thấy bị phản bội và tham gia vào các cuộc biểu tình Ngày 4 tháng 5. 10
Phong trào Ngũ Tứ (4 tháng 5) là trung tâm của một phong trào đổi mới văn hóa rộng lớn hơn, một lần nữa được khơi mào bởi Nhật Bản sau khi nước này đưa ra một loạt yêu sách nhục nhã đối với Trung Quốc vào năm 1915. Những người tham gia đã mất niềm tin vào các giá trị truyền thống, đặc biệt là những giá trị do Khổng Tử — vị hiền triết cổ đại sống cách đây 2.500 năm và nay trở thành biểu tượng của trật tự đế quốc cũ — đề xướng. Họ đòi hỏi đất nước phải đón nhận tinh thần của thời đại hiện đại, bao gồm các nguyên tắc tự do và bình đẳng. Sinh viên và trí thức tranh luận về một loạt các ý tưởng từ nước ngoài, bao gồm dân chủ, phổ thông đầu phiếu, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa vô chính phủ và mọi hình thức chủ nghĩa cá nhân. Hơn hết, giới trẻ rất đón nhận “Ông Khoa học” và “Ông Dân chủ”, những giá trị mà một trí thức nổi tiếng tên là Trần Độc Tú (Chen Duxiu) đề xuất trên tạp chí nổi tiếng mang tên “Thanh Niên Mới” vào năm 1915. Khoa học và dân chủ trở thành hai khẩu hiệu chính của Phong trào Ngũ Tứ.
Moscow đã cử một số đặc phái viên đến Trung Quốc, giao nhiệm vụ cho họ truyền bá “phúc âm cách mạng” và tuyển mộ các điệp viên địa phương. Những nỗ lực của họ diễn ra rời rạc, đặc biệt là trước khi Quốc tế Cộng sản (Comintern) được thành lập vào tháng 3 năm 1919, nhưng lại mang tính quyết định. Mục tiêu chính của họ là sinh viên và giáo sư. 11 Tại Bắc Kinh, những nỗ lực ban đầu có thể truy nguyên từ A. A. Ivanov, người từng công tác tại Phái bộ Nga vào thời điểm Cách mạng Bolshevik diễn ra. Ông đã đề nghị hỗ trợ chế độ mới, liên hệ với các giáo sư địa phương trong khi giảng dạy bán thời gian tại Đại học Bắc Kinh. S. A. Polevoy, một nhà Hán học từng làm việc tại Viện Đông phương ở Vladivostok, cũng làm việc tại Đại học Bắc Kinh và trở thành điệp viên Bolshevik được giao nhiệm vụ thiết lập liên hệ với các nhà tư tưởng có ảnh hưởng. Ivanov và Polevoy đã kết bạn với Li Dazhao (Lí Đại Chiêu), một người đàn ông uy nghiêm với đôi mắt sắc sảo dưới hàng lông mày rậm, người đã đảm nhận chức vụ giám đốc thư viện của trường vào tháng 1 năm 1918. Trước khi gặp hai người Nga này, Li là người ủng hộ chủ nghĩa dân chủ tự do. Không có tác phẩm nào của ông trước mùa thu năm 1918 bộc lộ nhiều sự quan tâm đến chủ nghĩa Marx. Khi ông dần quen biết hai điệp viên này, ông bắt đầu ca ngợi Cách mạng Nga. 12 Bài viết của ông mang tiêu đề “Chiến thắng của chủ nghĩa Bolshevik” được đăng vào tháng 11 năm 1918: ông viết rằng sự thất bại của chủ nghĩa quân phiệt Đức “chính là chiến thắng của chủ nghĩa Bolshevik, lá cờ đỏ và giai cấp công nhân toàn thế giới”. Ông tiếp tục: “Tiếng chuông đang vang lên! Bình minh của tự do đang ló rạng! Thế giới của tương lai sẽ là thế giới của lá cờ đỏ!’ 13 Li là người cải đạo (theo Đảng Cộng sản) đầu tiên của Moscow, và có thể nói là người Cộng sản có ảnh hưởng nhất ở Trung Quốc. Một thanh niên 25 tuổi ít người biết đến tên là Mao Trạch Đông, cao, gầy và đẹp trai, làm việc như một trợ lý tại thư viện.
Các đại diện Liên Xô cũng đã tiếp cận Hu Shi (Hồ Thích), một nhà triết học đeo kính từng theo học tại Cornell và Columbia, người đã trở về nước để giảng dạy tại Đại học Bắc Kinh. Hu sau này sẽ trở thành một nhà ngoại giao hàng đầu, đồng thời là một trong những người ủng hộ nền dân chủ nổi bật nhất của đất nước. Vì nhà triết học trẻ này không có mặt tại cuộc họp, nên phía Nga đã nói chuyện với Chen Duxiu thay thế. Theo mọi nguồn tin, Chen sẽ trở thành nhà Marxist quan trọng thứ hai. 14 Với bộ ria mép nhỏ, trán cứng cỏi và đôi mắt lấp lánh trí tuệ, ông đã được ca ngợi nhờ các tác phẩm ủng hộ Phong trào Ngũ Tứ. Ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh vào tháng 1 năm 1917, và sau đó gia nhập Hội Nghiên cứu Marxist của Li Dazhao.
Ngay sau cuộc gặp gỡ với các đặc vụ Soviet tại Bắc Kinh, Chen bắt đầu xa rời những giá trị dân chủ mà ông từng ủng hộ, chuyển hướng sang chủ nghĩa Marx. Số báo “Thanh Niên Mới” tháng 5 năm 1919 hoàn toàn dành riêng cho tín điều chính thức từ Moscow. Cuối năm đó, Chen bị bắt giữ tạm thời và sau đó bị đuổi khỏi Đại học Bắc Kinh vì những quan điểm cực đoan của mình. Khi đến Thượng Hải vào tháng 2 năm 1920, ông duy trì liên lạc chặt chẽ với các đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản (Comintern), tin rằng “chỉ có việc thành lập một Nhà nước Soviet mới có thể cứu Trung Quốc”. 15 Như một báo cáo tình báo Anh đã ghi nhận, “ông có một số người bạn Nga đáng ngờ” và đang “liên lạc chặt chẽ với các điệp viên Bolshevik, đặc biệt là Lizerovitch”. Jack Lizerovich là một người Nga có liên hệ trực tiếp với Chính quyền Soviet Vladivostok. Chen cũng kết bạn với Alexis F. Agariev, một điệp viên làm việc tại văn phòng của tờ Shanghai Life – một cơ quan truyền thông Nga chuyên lan truyền thông điệp Bolshevik dưới sự lãnh đạo của Tổng biên tập Gregory Semesheko kể từ tháng 2 năm 1920. Khoảng ba mươi nhân viên làm việc tại tờ báo này, phần lớn là người Nga ủng hộ Soviet. Một số người trong số họ là điệp viên Soviet, bao gồm cả Lizerovich. 16 Nguồn tài chính dồi dào đã được huy động, khi công tác tuyên truyền và tài chính phối hợp chặt chẽ với nhau, nhờ vào một hợp tác xã Nga có tên là Centrosoyuz, hay Trung ương Soviet, cũng có trụ sở tại Thượng Hải. Centrosoyuz chính là Cục Kinh tế của Moscow, nhận được những khoản tiền lớn từ Comintern. Các điệp viên từ Chita, Bắc Kinh, Thiên Tân và Quảng Châu thường xuyên ghé thăm trụ sở này. 17
Một trường học miễn phí dạy tiếng Esperanto, do Vadim Stopany và Lu Shikai (Lục Sĩ Khải) thành lập, là một tiền đồn khác tại Thượng Hải. Khi được phỏng vấn bí mật, Lu thừa nhận rằng đồng nghiệp người Nga của ông đang hoạt động vì lợi ích của chủ nghĩa Bolshevik. Vào tháng 2 năm 1920, Stopany đã trình bày một bài giảng bằng tiếng Esperanto trước khoảng bốn mươi đến năm mươi thành viên của Công đoàn Công nhân Vận tải và Kho bãi, được Lu Shikai dịch sang tiếng Trung. 18
Lúc này, các điệp viên Nga đã hoạt động tích cực tại nhiều thành phố ngoài Bắc Kinh và Thượng Hải. Moscow không chỉ quan tâm đến việc tuyển mộ mà còn muốn tuyên truyền quan điểm của mình. Rosta, cơ quan thông tấn nhà nước ở Moscow, đã thành lập các chi nhánh tại Bắc Kinh và Quảng Châu, trong khi Cơ quan Dalta, cơ quan điện tín của Cộng hòa Viễn Đông, đã thiết lập được vị thế tại Vladivostok. Chúng cung cấp cho các báo ở Trung Quốc những thông tin có lợi cho cách mạng, mô tả Liên Xô như một mặt trận mới có thể làm suy yếu áp lực thù địch từ phe đế quốc, là đồng minh tốt nhất có thể cho Trung Quốc trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thực dân.
Vladivostok, Chita và Tashkent cũng cung cấp một lượng lớn các tờ rơi cách mạng, mặc dù không lâu sau đó các xưởng in đã được thiết lập tại Quảng Châu, Thiên Tân, Bắc Kinh và, trên hết, Thượng Hải, hoạt động phần lớn trong bí mật. Như các nhân viên kiểm duyệt bưu chính phát hiện ra, các đặc vụ lưu động được Moscow trả lương đã được chỉ định để chuyển các ấn phẩm này đến mọi ngóc ngách của đất nước. Abel Bonnard, một nhà truyền giáo người Pháp tại Bắc Kinh, đã viết vào tháng 9 năm 1920 rằng “những người Bolshevik không ngần ngại nỗ lực. Các đặc phái viên của họ được trang bị đầy đủ tiền bạc và đang làm việc chăm chỉ tại mọi thành phố lớn.” 19 Đến tháng 2 năm 1921, một thông báo từ Bộ Nội vụ yêu cầu phải áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt để hạn chế sự lan rộng của chủ nghĩa Bolshevik do các đặc phái viên từ Moscow gây ra. 20 Hầu hết trong số họ là người Nga, nhưng cũng có các nhà hoạt động đến từ các quốc gia khác, tin tưởng rằng các nguyên tắc Bolshevik sẽ chinh phục thế giới. Họ có thể nhập cảnh vào nước này qua các cảng tự do, lưu trú tại các khu nhượng địa nước ngoài và hưởng các quyền ngoại giao. 21
Tuy nhiên, hai nhân vật hứa hẹn nhất đối với phe Bolshevik không phải là Li Dazhao hay Chen Duxiu, mà là Sun Yat-sen (Tôn Dật Tiên, tức Tôn Trung Sơn) và Chen Jiongming (Trần Quỳnh Minh). Vào năm 1920, Sun đã 54 tuổi, là một nhà chính trị trầm tư với đôi lông mày rậm, mái tóc phía trước thưa thớt và bộ râu đang bạc màu. Ông là một cái tên quen thuộc, một nhà cách mạng đã cống hiến cả cuộc đời để lật đổ nhà Thanh. Ông đã dành nhiều năm lưu vong để gây quỹ cho sự nghiệp cách mạng, gia nhập cùng các sinh viên Trung Quốc cách mạng tại Nhật Bản vào năm 1905 để thành lập Hội Đồng Minh (Tongmenghui), tiền thân của Quốc Dân Đảng (Kuomintang). Khi vào ngày 10 tháng 10 năm 1911, quân đội tổ chức cuộc nổi dậy tại Vũ Xương dẫn đến sự sụp đổ của triều đại, Sun Yat-sen lúc đó đang ở bên kia bán cầu. Ông trở về Trung Quốc, tập hợp các đồng chí của mình tại Thượng Hải và tiến về Nam Kinh, nơi ông được bầu làm Tổng thống lâm thời đầu tiên của nước Cộng hòa Trung Hoa mới thành lập. Tuy nhiên, các đại biểu được bầu của chính phủ sớm bị các chỉ huy quân sự đứng sau cuộc cách mạng năm 1911 đẩy ra khỏi vị trí. Yuan Shikai (Viêm Thế Khải), người kiểm soát một lực lượng quân đội hùng hậu, đã ép Sun từ chức và giải tán Quốc hội vào năm 1913. Hai năm sau, Yuan cố gắng khôi phục chế độ quân chủ, tự xưng là hoàng đế – một động thái thậm chí còn bị chính những người ủng hộ ông phản đối. Chỉ sau 83 ngày, Yuan buộc phải thoái vị và qua đời vào tháng 6 năm 1916 vì bệnh suy thận và nỗi u uất.
Cái chết của Yuan để lại một bối cảnh chính trị phân mảnh, với các thống đốc tỉnh sử dụng quân đội địa phương để tranh giành quyền lực trong các liên minh thay đổi liên tục, đưa đất nước vào một giai đoạn được gọi là “thời kỳ các quân phiệt (chúa tể chiến tranh)”. Sun, với tâm trạng cay đắng, bắt đầu xa rời các nguyên tắc tự do được nêu trong Hiến pháp lâm thời năm 1912 của đất nước. Ông mong muốn Quốc Dân Đảng, được thành lập năm 1912 thông qua việc sáp nhập Hội Đồng Minh (Tongmenghui) với bốn nhóm chính trị khác, trở thành một đảng tập trung và kỷ luật, với đặc trưng là sự tuân phục tuyệt đối đối với người lãnh đạo. Ông điều chỉnh tầm nhìn về cuộc cách mạng: thay vì thiết lập một nền dân chủ hiến pháp, chế độ độc tài của Đảng sẽ được áp đặt vô thời hạn để đảm bảo trật tự. Hơn hết, ông yêu cầu một phản ứng quân sự đối với cuộc khủng hoảng chính trị: sự thống nhất phải được đạt được thông qua một cuộc cách mạng vũ trang chống lại các quân phiệt của đất nước. 22
Vào tháng 7 năm 1917, với sự ủng hộ của thống đốc địa phương và các nghị sĩ đã bỏ trốn khỏi Bắc Kinh, ông (Sun) thành lập một nước Cộng hòa Trung Hoa mới tại Quảng Châu, tự xưng là tổng thống. Chức danh Đại nguyên soái nhanh chóng được trao cho ông, kèm theo mũ quân đội có lông, cầu vai có tua và huy hiệu quân sự trên bộ quân phục thêu chỉ của ông. Tuy nhiên, các sắc lệnh mà ông ban hành chưa bao giờ có hiệu lực ngoài phạm vi Nhà máy Xi măng, nơi ông thiết lập văn phòng của mình. 23
Vào tháng 5 năm 1918, Tôn Trung Sơn vội vã trở lại Thượng Hải, nơi ông xích lại gần hơn với Trần Độc Tú. Ông chưa bao giờ mất liên lạc với các nhà cách mạng Nga mà ông đã kết bạn trong sự nghiệp trước đây, bao gồm cả Georgy Chicherin, ủy viên nhân dân đầu tiên phụ trách ngoại giao trong chính phủ Soviet. Vào mùa hè năm 1918, ông đã gửi một điện mừng đến Moscow thay mặt cho chính phủ của mình tại Quảng Châu. “Các đảng cách mạng của Trung Quốc và Nga nên đoàn kết,” Sun viết. Lenin, dường như, đã cảm động. Chicherin đã trả lời, khẳng định trong một lá thư rằng “chiến thắng của chúng tôi là chiến thắng của các bạn, thất bại của chúng tôi là thất bại của các bạn.” 24 Sun có thể chưa nhận được bức thư đó, nhưng, bất chấp những lời phủ nhận quyết liệt, đến năm 1919, ông đã liên lạc với trụ sở của Đảng Bolshevik ở Siberia và “thường xuyên được các điệp viên Bolshevik ghé thăm” tại Thượng Hải, theo báo cáo của cảnh sát được giao nhiệm vụ theo dõi các phần tử kích động chính trị tiềm năng. 25
Tại Quảng Châu, Tôn Trung Sơn đã được đơn vị đồn trú thành phố dưới sự chỉ huy của Trần Quỳnh Minh (Chen Jiongming) chào đón. Tuy nhiên, đơn vị này không phải là đối thủ của quân đội tỉnh Quảng Đông, và họ đã nhiều lần đụng độ với nhau. Để bảo vệ binh lính của mình, Trần Quỳnh Minh đã lánh nạn sang phía nam tỉnh Phúc Kiến, nơi ông tiếp đón các điệp viên Bolshevik và dành hai ngày cùng một đảng viên Cộng sản người Triều Tiên, người tự xưng là một tín đồ trung thành của Lenin. Ngay sau đó, Chen cử một đại diện đi gặp A. S. Potapov, một thiếu tướng trong Quân đội Sa hoàng đã đào ngũ sang phe Bolshevik và vào tháng 12 năm 1919 đã định cư tại Thượng Hải. 26 Cục Tình báo Thượng Hải mô tả Tôn Trung Sơn và Chen Jiongming là “hai nhân vật nổi bật” trong những bước tiến của chủ nghĩa Bolshevik Nga vào năm 1920. 27
Một trong những vai trò của Potapov là chuẩn bị nền tảng cho sự xuất hiện của Gregori Voitinsky, người đứng đầu một đoàn công tác của Quốc tế Cộng sản được cử đến Thượng Hải vào tháng 4 năm 1920 để thành lập một ban thư ký Đông Á. 28 Được gọi là Văn phòng Thượng Hải, cơ quan này có nhiệm vụ chỉ đạo và tài trợ cho các phong trào cách mạng tại Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên.
Việc thành lập Văn phòng này trùng với lời kêu gọi đầy kịch tính của Moscow gửi đến nhân dân Trung Quốc. Cách mạng Nga đã châm ngòi cho một cuộc nội chiến tàn khốc, trong đó Hồng Quân chiến đấu chống lại một liên minh lỏng lẻo của các lực lượng vũ trang được gọi là Bạch Quân. Tại Siberia, Bạch Quân được các cường quốc phương Tây cũng như Trung Quốc và Nhật Bản ủng hộ. Tất cả đều gửi quân đến, Pháp gửi một lực lượng tượng trưng gồm 500 người, còn Nhật Bản gửi hàng chục nghìn binh sĩ. Ban đầu, Quân đội Trắng (Bạch Quân) đã thành công trong việc thu hẹp phạm vi lãnh thổ của người Nga, nhưng Trotsky, ủy viên chiến tranh của phe Bolshevik, đã áp dụng các biện pháp khắc nghiệt để đảo ngược tình thế, bao gồm việc sử dụng các đơn vị chặn đường bắn chết những binh sĩ cố gắng trốn khỏi chiến tuyến. Khi các đạo quân Soviet tiến quân về phía đông qua dãy Ural, các lực lượng Đồng minh bắt đầu sụp đổ.
Vào ngày 26 tháng 3 năm 1920, ngay khi quân đội Soviet tiến vào Siberia, Lev Karakhan, một nhà ngoại giao Soviet gốc Armenia với mái tóc đen bồng bềnh và bộ râu được cắt tỉa gọn gàng, đã gửi một bức điện công khai đến Bắc Kinh qua Irkutsk. Tuyên bố Karakhan đề xuất bãi bỏ toàn bộ các quyền ngoại giao, hiệp ước và khoản bồi thường của Nga Sa hoàng xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, đồng thời trả lại Đường sắt Đông Trung Quốc mà không đòi hỏi bồi thường. Quân đội Đỏ (Hồng Quân), Karakhan tuyên bố, đang tiến quân về phía đông để mang lại “sự giải phóng khỏi ách thống trị của vũ lực quân sự và vốn ngoại quốc”, điều mà ông tiếp tục khẳng định sẽ kìm hãm và nô dịch “quần chúng phương Đông”, đứng đầu trong số đó là nhân dân Trung Quốc. Moscow không chỉ giúp đỡ công nhân và nông dân, mà còn giúp đỡ toàn thể nhân dân Trung Quốc – một thông điệp bị “báo chí tay sai của Mỹ, châu Âu và Nhật Bản” bóp nghẹt. Thông báo này được đưa ra một cách hoàn hảo để khơi gợi tình cảm dân tộc. Sự tương phản với Hiệp ước Versailles – vốn bị ghét bỏ rộng rãi – không thể lớn hơn được nữa. 29
Văn phòng Thượng Hải dưới sự lãnh đạo của Voitinsky, được tiếp thêm sức mạnh từ Tuyên bố Karakhan, đã làm việc không mệt mỏi hướng tới cuộc cách mạng, nhằm phối hợp trên toàn khu vực Đông Á. Voitinsky đã gặp gỡ nhiều đồng minh tiềm năng, bao gồm Li Dazhao, Chen Duxiu, Sun Yat-sen và Chen Jiongming, cũng như các nhân vật nổi bật khác của phong trào cách mạng trong tương lai. Chen Duxiu được giao nhiệm vụ liên hệ với các lãnh đạo tỉnh. Tại Trường Sa, ông đã liên lạc với Mao Trạch Đông, người bắt tay vào việc tổ chức một nhóm Cộng sản. Tuy nhiên, khi vào tháng 10 năm 1920, Tôn Trung Sơn và Trần Quỳnh Minh thành công trong việc tái chiếm Quảng Châu, Trần Độc Tú gia nhập nhóm này với tư cách là ủy viên giáo dục, một chức vụ mà ông tận dụng để tuyên truyền cho cuộc cách mạng tiếp theo. Trọng tâm của phong trào dần chuyển khỏi Thượng Hải. Trong những tháng tiếp theo, nhiều hiệp hội tự xưng là “xã hội chủ nghĩa” hoặc “cộng sản” lần lượt ra đời tại thủ đô miền Nam. Đến tháng 4 năm 1921, Cục An ninh Pháp (Sûreté) thậm chí còn cáo buộc rằng lực lượng 20.000 quân của Chen Jiongming đang được Moscow tài trợ. 30
Ngoài các tờ rơi do các sứ giả Nga phân phát, một loạt ấn phẩm khác cũng góp phần lan truyền thông điệp này. Tại Quảng Châu, Tạp chí Tương trợ, do Tôn Trung Sơn chủ trì và nay có sự tham gia của con trai ông là Tôn Khoa (Sun Fo孫科), ra mắt vào tháng 5 năm 1921, giới thiệu Karl Marx đến độc giả. 31 Tại Thượng Hải, Tạp chí Thế giới Công nhân do Trần Độc Tú xuất bản ra mắt tháng 8 năm 1920, tiếp theo là Tạp chí Công nhân Quảng Châu vài tháng sau đó. 32
Sau một năm chuẩn bị, Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Triều Tiên được tổ chức tại Thượng Hải vào tháng 5 năm 1921. Sự kiện này đòi hỏi những kỹ năng chính trị xuất sắc để giải quyết các cuộc tranh giành quyền lực, hàn gắn những chia rẽ về tư tưởng và đối phó với các cuộc đấu đá nội bộ giữa các phe phái, và ngay sau đó là cuộc họp đầu tiên của Đảng Cộng sản Nhật Bản. Việc chính thức thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc bị hoãn lại đến tháng 7. Ngay khi Voitinsky rời khỏi Trung Quốc vào tháng 1 năm 1921, những bất đồng nội bộ đã bùng phát xung quanh bản chất của Đảng và hệ tư tưởng của nó, trong khi các nhóm Cộng sản địa phương thiếu sự phối hợp đã không thể thống nhất thành một phong trào duy nhất. Lenin đã cử Henk Sneevliet, biệt danh Maring, một lãnh đạo công đoàn người Hà Lan có kinh nghiệm dày dặn trong việc tổ chức phong trào cách mạng tại Indonesia. Sneevliet phát hiện ra rằng ông phải bắt đầu từ con số không. Một lần nữa, sự quyết tâm của các đặc phái viên Soviet đã chứng tỏ là yếu tố quyết định. Nhưng khi Đại hội lần thứ nhất cuối cùng cũng được triệu tập trong một phòng học của Trường Nữ sinh Bowen tại Khu Nhượng địa Pháp vào ngày 23 tháng 7 năm 1921, cả Li Dazhao lẫn Chen Duxiu đều vắng mặt. Có khoảng một chục đại biểu tham dự, không tính Sneevliet và Vladimir Nikolsky, đại diện của Ban Thư ký Viễn Đông thuộc Quốc tế Cộng sản. Mỗi đại biểu nhận được 100 yuan tiền chi phí đi lại và thêm 50 yuan cho vé về, một số tiền khá lớn vào thời điểm đó. Họ đại diện cho 53 đảng viên từ khắp Trung Quốc. Họ tranh cãi về nhiều vấn đề, nhưng trên một vấn đề thì thống nhất: số lượng đảng viên còn quá ít. Chương trình hành động mà họ thông qua rất cứng rắn, bao gồm lời kêu gọi lật đổ “giai cấp tư bản” bằng “quân đội cách mạng của giai cấp vô sản”, thiết lập “chế độ chuyên chính vô sản” để xóa bỏ mọi giai cấp cũng như sở hữu tư nhân về vốn, và đoàn kết với Comintern. 33
Sneevliet, không mấy ấn tượng, cho rằng Đảng Cộng sản Trung Quốc đã được thành lập quá sớm. Ông có lý. Như G. C. Denham, sĩ quan tình báo hàng đầu của Đế quốc Anh chuyên nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản ở Đông Á, đã ghi nhận bốn ngày sau khi Đại hội lần thứ nhất kết thúc, “những lời chỉ trích gay gắt và lời hứa hẹn của Trotsky và Lenin” cho đến nay vẫn chưa gây được ấn tượng đáng kể nào ở Trung Quốc. 34 Chủ nghĩa dân tộc, chứ không phải chủ nghĩa cộng sản, mới là khẩu hiệu tập hợp đằng sau Phong trào Ngũ Tứ.
Theo Sneevliet, chìa khóa của cuộc cách mạng không nằm ở Thượng Hải – nơi Đảng Cộng sản sống tách biệt với công nhân – mà nằm ở Quảng Châu. Chính quyền Anh hẳn cũng đồng tình. Họ nhận xét rằng chủ nghĩa cộng sản đã lan rộng nhanh chóng dưới thời Tôn Trung Sơn và Trần Quỳnh Minh, đồng thời chỉ ra rằng ý nghĩa thực sự của nó “nằm ở chỗ chính các nhà lãnh đạo của họ là những người kiểm soát lực lượng lao động tại Quảng Châu và các cảng lân cận”. 35 Khi đến thành phố vào tháng 1 năm 1922, Sneevliet chứng kiến một cuộc đình công của thủy thủ do Quốc Dân Đảng tổ chức, và bị ấn tượng bởi tiềm năng cách mạng của nó. Khoảng 300.000 công nhân đã tham gia cuộc đình công vượt xa ranh giới thành phố, dọc theo bờ biển lên đến Shantou (Sán Đầu) và xuống phía nam dọc theo Đồng bằng Châu Giang đến Hồng Kông, nơi họ buộc chính quyền thực dân phải ban bố thiết quân luật. Các thủy thủ đã giành chiến thắng, và vài tháng sau đó, chính quyền buộc phải đáp ứng một số yêu cầu của họ, bao gồm cả việc tăng lương.
Nhưng người sáng lập Quốc Dân Đảng lúc đó không có mặt tại Quảng Châu. Tôn Trung Sơn và Trần Quỳnh Minh đã có những quan điểm khác nhau về cách mạng và đã xảy ra mâu thuẫn. Tôn Trung Sơn, bị thúc đẩy bởi tham vọng quá độ nhằm giành toàn quyền, quyết tâm tiến hành một cuộc chinh phạt quân sự để chinh phục cả nước. Ngược lại, Trần Quỳnh Minh, được truyền cảm hứng từ những tư tưởng vô chính phủ của Pyotr Kropotkin, đã biến các khu vực dưới sự kiểm soát của mình ở miền nam Phúc Kiến thành một phiên bản nhân ái của Moscow, xây dựng đường sá, mở trường học, thậm chí khuyến khích tự do báo chí. Giờ đây, ông hy vọng biến toàn bộ tỉnh Quảng Đông thành một mô hình để các nơi khác noi theo. Hai nhà lãnh đạo đã đạt được thỏa hiệp, nhưng khi Tôn Trung Sơn cố gắng vô ích để thành lập một chính quyền quân sự, ông nhanh chóng vấp phải sự phản đối từ các công đoàn địa phương và các thành viên của hội đồng tỉnh. Vào tháng 2 năm 1921, ông đã có một bài phát biểu công khai, trong đó, theo lời kể của tổng lãnh sự Pháp, ông đã tuyên bố rằng mục tiêu của ông là “thiết lập chủ nghĩa cộng sản tại Trung Quốc”. Điều này gây ra sự hoang mang rộng rãi, mặc dù Quốc hội bị cắt giảm quyền lực đã thông qua đề xuất của ông về Chiến dịch Bắc tiến. Ông lên đường dẫn đầu một lực lượng yếu ớt và sớm bị mắc kẹt tại Quế Lâm, cách Quảng Châu 500 km về phía tây bắc. Chen Jiongming phản đối việc sử dụng vũ lực quân sự và từ chối tiếp tục tài trợ cho chiến dịch bằng ngân sách tỉnh.
Sun, người đã dành phần lớn sự nghiệp của mình để gây quỹ cho cuộc cách mạng, bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ tài chính từ các cường quốc nước ngoài. Trong “Tuyên ngôn gửi các cường quốc nước ngoài”, được công bố vào ngày 5 tháng 5 năm 1921, ông tự xưng là tổng thống hợp pháp duy nhất của Trung Hoa Dân Quốc, một nhà dân chủ chân chính phản đối các tướng lĩnh quân sự đang nắm quyền kiểm soát miền Bắc. Ông yêu cầu các cường quốc rút lại sự công nhận đối với Bắc Kinh và chấp nhận Quảng Châu làm thủ đô của đất nước thay thế, để nguồn thu từ thuế hải quan có thể chảy về tay ông. Tuyên ngôn của ông đã bị đón nhận một cách tiêu cực. Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh, Charles R. Crane, nửa năm trước đó, đã mô tả Sun là một “kẻ phiêu lưu vô liêm sỉ” với những “kế hoạch viển vông và hoang đường”, người thể hiện “sự kiêu ngạo cá nhân lớn lao”. Cùng khoảng thời gian đó, tờ New York Times đã lên án ông là một “kẻ cơ hội xảo quyệt và bẩn thỉu”. 36 Anh Quốc thậm chí còn cứng rắn hơn, bởi cuộc đình công đã cho thấy một chính phủ ly khai ở Quảng Châu có thể làm suy yếu Hồng Kông như thế nào.
Trước khi đến Quảng Châu, Sneevliet đã dành chín ngày làm khách của Tôn Trung Sơn tại Quế Lâm. Họ thảo luận về nhiều chủ đề, trong đó có việc tái tổ chức Quốc Dân Đảng, nhu cầu thành lập một học viện quân sự, khả năng hợp tác giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng, cũng như một liên minh với Liên Xô. Tôn Trung Sơn tỏ ra thận trọng, bởi việc xích lại gần Nga chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc càng thêm xa cách với Anh Quốc – một cường quốc có ảnh hưởng áp đảo tại Trung Quốc. Tuy nhiên, ông và các sĩ quan khác rất mong muốn tìm hiểu thêm về các vấn đề quân sự, đặc biệt là về Hồng Quân. 37
Mối quan hệ vốn đã căng thẳng giữa Tôn Trung Sơn và Trần Quỳnh Minh càng trở nên tồi tệ hơn trong những tháng tiếp theo. Vào ngày 1 tháng 6 năm 1922, Tôn Trung Sơn, trong cơn giận dữ, trở về Quảng Châu để tước bỏ mọi chức vụ của Trần Quỳnh Minh. Tuy nhiên, Trần Quỳnh Minh – người được kính trọng và nắm giữ thế cân bằng quyền lực – đã đuổi ông ra khỏi thành phố hai tuần sau đó. Một lần nữa, Tôn Trung Sơn lại trở thành một nhà cách mạng đang tìm kiếm một đội quân. Ông lập mưu, mở cửa dinh thự của mình tại Thượng Hải để tiếp đón các nhà lãnh đạo chính trị thuộc mọi phe phái. Ông tìm cách lấy lòng Wu Peifu (Ngô Bội Phu吳佩孚), một vị tướng quyền lực thống trị phần lớn miền Bắc, đồng thời đàm phán với đối thủ của Wu là Zhang Zuolin (Trương Tác Lâm -張作霖), người kiểm soát phần lớn Mãn Châu. Với mong muốn đưa một đồng minh tiềm năng lên nắm quyền, Adolph Joffe, nhà ngoại giao của Moscow tại Bắc Kinh vào năm 1922, đã khuyến khích Sun trong các cuộc đàm phán và hứa hẹn triển vọng về viện trợ tài chính và quân sự cho ông. Tuy nhiên, phía Nga kiên quyết đòi hỏi sự hợp tác giữa Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng. Tại một cuộc họp của Comintern vào tháng 7 năm 1920, Lenin, nhận ra rằng chủ nghĩa Bolshevik ít có sức hút với quần chúng ngoài biên giới châu Âu, đã thay đổi chiến lược và yêu cầu các đảng Cộng sản trên toàn thế giới liên kết với các Quốc Dân Đảng tương ứng trong một Mặt trận Thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc. Phương pháp mới này phù hợp với quan điểm của Sneevliet. Thất vọng trước thành tích yếu kém của chủ nghĩa cộng sản tại Trung Quốc và nhiệt tình với Mặt trận Thống nhất, Sneevliet không ngừng quảng bá những lợi ích của nó. Đa số đảng viên, bao gồm cả Chen Duxiu, dần dần đồng tình với quan điểm của ông. Đại hội lần thứ hai của Đảng Cộng sản Trung Quốc, diễn ra vào tháng 7 năm 1922, đã ủng hộ sự nhấn mạnh của Lenin về liên minh giữa “giai cấp vô sản” và “giai cấp tư sản”, khi Đảng chính thức gia nhập Comintern.
Nhưng đảng “tư sản” nào mới là đối tác khả thi cho những người Cộng sản? Đối với Sneevliet, người đã chứng kiến cách những người đình công ở Quảng Châu đã khiến một cường quốc đế quốc phải khuất phục, câu trả lời dường như rất rõ ràng. Những cuộc thuyết phục, thúc ép và thương lượng tiếp theo diễn ra, lần này giữa các lãnh đạo của cả Đảng Cộng sản và Quốc Dân Đảng. Ý tưởng này vấp phải sự phản đối quyết liệt từ phía Đảng Cộng sản và chỉ nhận được sự đón nhận hời hợt từ phía Quốc Dân Đảng. Vì liên minh này sẽ đòi hỏi các đảng viên Đảng Cộng sản gia nhập hàng ngũ Quốc Dân Đảng, Tôn Trung Sơn kiên quyết yêu cầu các thành viên mới phải tuyên thệ trung thành cá nhân với ông. Chen Duxiu, Tổng Bí thư Đảng, đã lên án Quốc Dân Đảng là “một đảng chính trị tranh giành quyền lực và lợi ích”. Sneevliet cũng phải thuyết phục Moscow, nơi một số lãnh đạo nghi ngờ “thói quen độc tài” của Tôn Trung Sơn và chỉ trích tiềm năng cách mạng của Đảng. Tại Thượng Hải và Moscow, Sneevliet là động lực chính đằng sau Mặt trận Thống nhất. Tầm nhìn của ông sẽ để lại những hậu quả lâu dài. 38
Việc gia nhập Quốc tế Cộng sản đi kèm với các điều kiện, cụ thể là 21 điều. Điều thứ tư nêu rõ như sau: ‘Nhiệm vụ tuyên truyền các tư tưởng Cộng sản bao gồm nghĩa vụ đặc biệt là tiến hành tuyên truyền mạnh mẽ và có hệ thống trong quân đội. Nếu hoạt động tuyên truyền này bị gián đoạn bởi các luật khẩn cấp, nó phải được tiếp tục một cách bất hợp pháp. Việc từ chối thực hiện công việc này sẽ tương đương với việc phản bội nghĩa vụ cách mạng và không tương thích với tư cách thành viên của Quốc tế Cộng sản.’ Điều kiện thứ năm yêu cầu “tuyên truyền có hệ thống và có phương pháp” ở nông thôn: “Giai cấp công nhân sẽ không thể chiến thắng nếu không có sự ủng hộ của giai cấp vô sản nông thôn và ít nhất một phần trong số những nông dân nghèo nhất, và nếu không đảm bảo được sự trung lập của ít nhất một phần còn lại của dân cư nông thôn thông qua chính sách của mình.” 39
Vào tháng 8 năm 1922, tại một phiên họp toàn thể tiếp theo của Đại hội Đảng lần thứ Hai, quyết định kêu gọi các đảng viên cá nhân gia nhập Quốc Dân Đảng trong khi vẫn giữ tư cách đảng viên Đảng Cộng sản đã được thông qua. Một tháng sau, Li Dazhao và Chen Duxiu là những người đầu tiên gia nhập.
Tại Bắc Kinh, Đại sứ Joffe vẫn đang cố gắng thương lượng với Wu Peifu. Ông chi tiền một cách hào phóng, nhưng lại bị đối xử lạnh nhạt. Lý do rất rõ ràng: nửa năm sau Tuyên bố vang dội vào tháng 3 năm 1920, Karakhan đã gửi một bức thư khác, đề nghị rằng Đường sắt Đông Trung Quốc – vốn thuộc sở hữu của chế độ Sa hoàng đã sụp đổ – phải được chuyển giao cho Liên Xô, rằng tất cả các hoạt động chống Liên Xô trên lãnh thổ Trung Quốc phải bị đàn áp, và rằng việc Liên Xô chiếm đóng Ngoại Mông Cổ phải được công nhận – cùng với các yêu cầu khác.40 Các cuộc đàm phán diễn ra không như mong đợi và kết thúc khi chính phủ Bắc Kinh sụp đổ vào tháng 12 năm 1922. Joffe vội vã đến Thượng Hải, nơi ông tìm thấy một đồng minh dễ uốn nắn hơn là Tôn Trung Sơn, người đã bị châu Âu và Hoa Kỳ từ chối. Một thông cáo chung được công bố vào ngày 26 tháng 1 năm 1923, tạo nền tảng cho sự hợp tác giữa Quốc dân đảng và Liên Xô. Tuyên bố này khẳng định rằng cả hai bên ký kết đều không ủng hộ một chính phủ Cộng sản hay Soviet tại Trung Quốc “bởi vì ở đây không tồn tại các điều kiện cần thiết để thành lập thành công bất kỳ chính phủ nào trong số đó”. Tôn Trung Sơn đã đồng ý với yêu cầu của Moscow về việc triển khai quân đội Soviet tại Ngoại Mông Cổ và không phản đối việc trả lại tuyến đường sắt cho những người kế thừa chế độ Sa hoàng. Đổi lại, phe Bolshevik hứa hẹn với Tôn Trung Sơn điều ông mong muốn nhất, đó là một đội quân. 41
***
Cần phải đảm bảo một căn cứ cho quân đội, điều này có nghĩa là Tôn Trung Sơn phải giành lại Quảng Châu từ tay đồng minh cũ của ông là Trần Quỳnh Minh. Các điệp viên của ông đã âm mưu với một trong những đạo quân đóng dọc biên giới Quảng Đông, một tỉnh tràn ngập các nhóm quân phiệt nhỏ. Sun đã thuê 40.000 lính đánh thuê, chủ yếu là binh lính từ Vân Nam và Quảng Tây. Sau khi chiếm được thành phố và đuổi Chen Jiongming ra khỏi đó, những người lính trẻ tuổi đã diễu hành trên các đường phố, vung vẩy súng lục và súng trường, tịch thu tài sản và chiếm dụng các tòa nhà. Đó là màn kết thúc của một cuộc chiến địa phương kéo dài mười hai tháng, gây ra nỗi khốn khổ cho hơn một triệu cư dân Quảng Châu. Trong khi chính quyền dân sự bị đình chỉ, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống vệ sinh, lực lượng chiếm đóng lại khuyến khích cờ bạc, vì nó mang lại nguồn thu cần thiết. Chi phí duy trì quân đội được ước tính khoảng 20 triệu đô la Trung Quốc mỗi tháng. 42
Do nguồn quỹ huy động tại địa phương không đủ, trong những tháng tiếp theo, quân đội liên tục cướp bóc vùng nông thôn, khiến một lượng lớn người nghèo đổ về Quảng Châu, trong đó có những phụ nữ phải bế con gần như trần truồng ra đường xin ăn. Người lao động bình thường nhanh chóng mất niềm tin. Họ từng hoan nghênh các công đoàn, nhưng phải nộp một phần thu nhập để tài trợ cho cuộc viễn chinh dự kiến của Tôn Trung Sơn chống lại miền Bắc. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt khi các thương nhân, bị buộc phải ứng trước vốn, tham gia vào làn sóng di tản bí mật. Một khi mất việc, người dân bị ép buộc phải nhập ngũ. “Cảnh tượng thường thấy là hàng trăm người lao động xếp hàng để được tuyển làm người khuân vác không lương cho những binh lính lười biếng, hoặc bị gửi ra tiền tuyến dưới danh nghĩa các ‘đơn vị tình nguyện’”, một nhà báo nước ngoài ghi chép. Các đền chùa bị bán đấu giá, hoàn toàn phớt lờ truyền thống: “Tổng cộng có khoảng 848 cơ sở thờ tự công cộng, bao gồm 37 tu viện, 105 ni viện và 706 ngôi chùa chỉ riêng tại Thành phố Quảng Châu, đều bị tịch thu cùng với tài sản được hiến tặng, cả động sản lẫn bất động sản, cả quá khứ lẫn hiện tại.” Thuế được áp đặt lên mọi giao dịch có thể tưởng tượng được: thuế xuất khẩu, thuế sinh hoạt, thuế vận chuyển, thậm chí cả thuế củi, điều này dẫn đến việc người dân ngừng cung cấp loại nhiên liệu này cho thành phố cho đến khi luật thuế đó bị bãi bỏ. Các thương nhân gạo không còn mang hàng hóa đến chợ nữa, vì lo sợ quân đội sẽ tịch thu hàng hóa mà không bồi thường. Một du khách mô tả cư dân thành phố là “những người phải chịu thuế nặng nhất trên trái đất”. Hoạt động thương mại bị tê liệt, nhưng công lý lại được thi hành nhanh chóng. Tại nơi hành quyết, những người bị kết án bị trói chân và tay, rồi bị bắn, thỉnh thoảng bị đâm chết bằng lưỡi lê. Một thành phố từng thịnh vượng nay nằm trong đống đổ nát. 43
Một bước ngoặt đã xảy ra khi Tôn Trung Sơn đe dọa chiếm giữ trụ sở hải quan tại Quảng Châu vào tháng 9 năm 1923. Việc mất nguồn thu từ thuế hải quan tại Quảng Châu sẽ khiến các cường quốc ký kết Hiệp ước không thể duy trì được vỏ bọc về sự toàn vẹn hành chính dưới chính quyền Bắc Kinh. Tôn Trung Sơn, vốn luôn là một kẻ cơ hội, đã cố tình giữ thái độ lưỡng lự đối với Liên Xô, đồng thời cũng rất mong muốn huy động vốn từ các cường quốc khác. Chỉ một tháng sau khi ký thỏa thuận với Liên Xô, ông đã có bài phát biểu tại Đại học Hồng Kông, ca ngợi chính quyền thuộc địa của thuộc địa vương miện và hệ thống nghị viện Anh. Sau khi các cường quốc ngăn chặn kế hoạch chiếm giữ trạm hải quan Quảng Châu của ông, ông đã hoàn toàn chấp nhận sự hỗ trợ và tư vấn từ Liên Xô. 44
Viện trợ từ Moscow đã bắt đầu được chuyển đến từ tháng 5 năm 1923, khi Joffe đề nghị cung cấp 8.000 khẩu súng trường, 15 khẩu súng máy, 4 khẩu pháo hạng nặng và 2 xe bọc thép. Đó là một khởi đầu khiêm tốn, nhưng số vũ khí này đi kèm với 2 triệu đô la Mexico. 45
Sự hợp tác ngày càng sâu sắc khi hai bên trao đổi phái đoàn vào tháng 9 năm 1923. Quảng Châu cử một đoàn quân sự do Tưởng Giới Thạch dẫn đầu, trong khi Moscow ra lệnh cho Mikhail Borodin dẫn đầu một đoàn cố vấn Liên Xô đến Quảng Châu.
Chiang Kai-shek (Tưởng Giới Thạch), một sĩ quan trẻ có vóc dáng trung bình và hơi gầy, với bộ ria mép gọn gàng và đôi mắt lấp lánh, lúc đó 36 tuổi. Ông xuất thân từ một ngôi làng nhỏ ở tỉnh Chiết Giang ven biển, cách Thượng Hải khoảng 200 km về phía nam. Cha ông, một thương nhân buôn rượu, đã qua đời khi Chiang còn là một cậu bé. Mẹ ông đã gom góp đủ tiền để gửi ông vào một học viện quân sự gần Bắc Kinh, nơi ông thể hiện tiềm năng nổi bật đến mức được cử sang Nhật Bản để theo học khóa huấn luyện quân sự nâng cao khi mới 18 tuổi. Tại Tokyo, ông được các nhà cách mạng chống Mãn Thanh chiêu mộ và gia nhập Hội Đồng Minh của Tôn Trung Sơn vào năm 1908. Sau khi gặp Tôn Trung Sơn hai năm sau đó, ông trở thành môn đệ kiên định nhưng trung thành của ông. Vào cuối năm 1911, sau cuộc khởi nghĩa Vũ Xương, ông trở về Trung Quốc và gia nhập Quốc Dân Đảng. Trong những năm tiếp theo, ông thăng tiến qua các cấp bậc, gia nhập cùng Tôn Trung Sơn tại Quảng Châu vào năm 1918. Khi được cử sang Liên Xô, sư phụ của ông là Tổng Thống Lĩnh quân đội, còn ông là Tham mưu trưởng. Mang theo những lá thư gửi cho Lenin, Trotsky và Chicherin, Tưởng Giới Thạch đã được chào đón nồng nhiệt tại Moscow. Rất nhiều cuộc họp diễn ra sau đó, dù vậy Tưởng vẫn dành thời gian học tiếng Nga và đọc “Tuyên ngôn Cộng sản” cùng các tác phẩm khác của Marx. Ông thậm chí còn hát bài “Quốc tế ca”, tuyên bố sẵn sàng “hy sinh trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản”. 46
Tuy nhiên, sau vài tuần, những người chủ nhà của Chiang đã bỏ rơi ông, bị cuốn vào cuộc đấu tranh giữa Stalin, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, và cái gọi là “Phái Tả Đối lập”, do Trotsky đứng đầu. Trotsky đã đặt niềm tin vào một “Tháng Mười Đức”, chỉ đạo Quốc tế Cộng sản giúp các đảng viên Cộng sản Đức giành quyền lực và khởi xướng một làn sóng cách mạng mới ở châu Âu, từ đó sẽ châm ngòi cho một cuộc cách mạng thế giới. Tại Điện Kremlin, ông đã ôm và hôn Heinrich Brandler, nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Đức, một dấu hiệu cho thấy ông đặt bao nhiêu hy vọng vào cuộc nổi dậy sắp tới. Niềm tin rằng Đức sẽ chuyển sang màu đỏ đã khơi dậy sự nhiệt tình to lớn trên khắp Liên Xô, với các diễn giả tại các nhà hát, trường học và thậm chí cả rạp xiếc trình bày tầm nhìn của họ về cuộc hành quân không thể ngăn cản của Cuộc Cách mạng Vĩ đại. Stalin, người hoài nghi hơn, đã đặt ra những câu hỏi hợp lý. 47
Quốc tế Cộng sản giám sát toàn bộ chiến dịch, với các quỹ bí mật được chuyển đến các lực lượng bán quân sự và các tổ chức cách mạng nằm trong các công đoàn. Cuộc cách mạng đã thất bại, không ít nhất là do Đảng Xã hội Dân chủ ủng hộ chính phủ. Khi tin tức về một thất bại thảm hại đến Moscow, niềm tin của Trotsky vào một cuộc cách mạng thế giới sắp xảy ra đã bị nghi vấn, mở đường cho quan điểm của Stalin rằng chủ nghĩa xã hội, ban đầu, nên được xây dựng ở một quốc gia duy nhất, tức là Liên Xô. Chiang được thông báo rằng việc cung cấp vũ khí và tiền bạc sẽ tiếp tục, nhưng có những nghi vấn về kế hoạch thống nhất quân sự của Sun Yat-sen. Trong một cuộc gặp với Trotsky, Tưởng Giới Thạch được khuyên nên tập trung vào việc đặt nền móng cho một phong trào giải phóng rộng lớn hơn, sẽ diễn ra trong một tương lai xa. Trotsky khuyên nên “kiên nhẫn”. Tưởng Giới Thạch rất tức giận. Phát biểu trước một nhóm sinh viên Trung Quốc trẻ tại Moscow, ông cảnh báo họ không nên “ca ngợi quá mức các tác phẩm của các nhà lãnh đạo cách mạng nước ngoài”. 48
Một ngày trước khi Tưởng Giới Thạch rời đi, Quốc tế Cộng sản đã thông qua một nghị quyết về Trung Quốc, trong đó phê phán các nguyên tắc chính trị của Quốc Dân Đảng. Nghị quyết này yêu cầu Tôn Trung Sơn “giải phóng giai cấp công nhân” và ủng hộ hoàn toàn tổ chức chính trị của giai cấp vô sản, tức Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quốc Dân Đảng cũng được kêu gọi thành lập mặt trận thống nhất với Liên Xô trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Một lần nữa, Tưởng Giới Thạch nổi giận, lên án nghị quyết này trong nhật ký của mình là “hời hợt và phi thực tế”, đồng thời phàn nàn rằng “họ ngạo mạn tự đặt mình vào vị trí trung tâm của cuộc cách mạng”. Ông kết luận rằng không thể tin tưởng Moscow, vì nó chỉ có một mục đích duy nhất, “đó là biến Đảng Cộng sản Trung Quốc thành công cụ phục vụ cho mục đích riêng của họ”. 49
Mikhail Borodin đến Quảng Châu vào tháng 10 năm 1923, nơi ông được Tôn Trung Sơn chào đón nồng nhiệt; ông “bảo tôi ngồi bên cạnh ông và nhìn chằm chằm vào tôi trong vài giây”. 50 Một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ với mái tóc đen dày và bộ râu quai nón rủ xuống, ông mang theo một thành tích ấn tượng. Là con trai của những người di cư, Borodin đã gia nhập Đảng Bolshevik khi mới 19 tuổi và buộc phải trốn sang Hoa Kỳ vào năm 1907 sau khi bị bắt vì các hoạt động cách mạng của mình. Sau Cách mạng Tháng Mười, ông trở về Nga, nơi ông được Comintern giao nhiệm vụ giúp thành lập Đảng Cộng sản Mexico. Công việc cách mạng của ông thành công đến mức ông được giao một nhiệm vụ tương tự tại Scotland, mặc dù tại Glasgow, chính quyền đã không chần chừ mà bắt giữ và trục xuất ông. Sau vài năm hoạt động tuyên truyền tại Thổ Nhĩ Kỳ, Borodin được đưa lên tàu đến Trung Quốc.
Ưu tiên hàng đầu của ông là tái thiết Quốc Dân Đảng. Để hoàn thành nhiệm vụ này, ông phải giành được sự tin tưởng của Tôn Trung Sơn. Chỉ một tháng sau khi đến, ông đã đứng đầu trong việc tổ chức các đơn vị tình nguyện để bảo vệ Quảng Châu trước một cuộc tấn công khác của quân đội Chen Jiongming. Tôn Trung Sơn coi ông như một vị cứu tinh. Borodin bắt đầu nịnh bợ Tôn Trung Sơn, ca ngợi các tác phẩm của ông, tôn vinh ông là “niềm hy vọng vĩ đại của Trung Quốc” trước đông đảo sinh viên, công nhân và binh lính. Tuy nhiên, sau lưng ông, Borodin lại không mấy khen ngợi, viết thư cho cấp trên ở Moscow rằng Tôn Trung Sơn là người “rất lạc hậu” và “chậm chạp”, một “quan lại nhỏ bé được khai sáng” tự coi mình là “anh hùng còn những người khác là đám đông”. 51
Borodin cũng xây dựng mối quan hệ với các thành viên khác của Quốc Dân Đảng, giải thích rằng họ phải thu hút quần chúng, phân phát đất đai cho nông dân và đoàn kết họ dưới lá cờ của Đảng để xây dựng một đội quân mạnh hơn. Ông làm việc không mệt mỏi để tạo ra đa số ủng hộ tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc Dân Đảng, vượt qua sự phản đối từ các thành viên của cả Quốc Dân Đảng và Đảng Cộng sản. Khi Đại hội diễn ra vào tháng 1 năm 1924, Borodin đã giành chiến thắng khi các đảng viên Cộng sản chính thức được chấp nhận gia nhập hàng ngũ Quốc Dân Đảng. 52
Đã xảy ra những cuộc tranh cãi gay gắt về từng từ trong bản tuyên ngôn do đại hội ban hành. Wang Jingwei (Uông Tinh Vệ-汪精衛), một nhà thơ mảnh khảnh, điển trai, diễn giả tài ba và là người thân tín của Sun Yat-sen, với hàng thập kỷ kinh nghiệm cách mạng, đã cố gắng thay thế cụm từ “người dân” vào mọi chỗ mà Borodin đề cập đến “công nhân và nông dân”. Borodin đã gây áp lực mạnh mẽ. Khi những lo ngại về việc gây thù địch với các cường quốc lớn nảy sinh, ông chỉ ra rằng các thế lực đế quốc mới là kẻ thù. Ông đưa ra cho Sun một sự lựa chọn: gia nhập hàng ngũ những người bị áp bức trên thế giới, hoặc đứng về phía chủ nghĩa đế quốc. “Sun Yat-sen gật đầu và thể hiện những dấu hiệu đồng ý khác”, Borodin ghi lại trong nhật ký của mình. Trong bản cuối cùng, bản Tuyên ngôn lên án “sự áp bức kinh tế” mà chủ nghĩa đế quốc gây ra cho đất nước, hứa hẹn rằng “nông dân và công nhân” sẽ được “giải phóng” trong một “phong trào cách mạng” do Quốc Dân Đảng lãnh đạo. Đảng đang “chiến đấu vì nông dân và công nhân, điều đó có nghĩa là nông dân và công nhân đang chiến đấu vì chính mình”. 53
Sun và Borodin, tại phiên bế mạc đại hội, đã thành lập Ủy ban Thường vụ Trung ương, đích thân lựa chọn từng thành viên của ủy ban này. Có tới một phần tư là đảng viên Đảng Cộng sản, một tỷ lệ hoàn toàn không tương xứng với số lượng đảng viên của họ trên toàn quốc. Li Dazhao nằm trong số đó, cùng với Mao Trạch Đông, Lâm Tổ Hàm (Lin Zuhan-林祖涵-cũng là Lâm Bá Cừ), Trương Quốc Đào (Zhang Guotao-张国焘) và Cù Thu Bạch (Qu Qiubai-瞿秋白), những người sau này đều trở thành những nhân vật nổi bật trong phong trào Cộng sản. Các đảng viên Cộng sản đứng đầu hai ban quan trọng, đó là ban phụ trách “công tác nông dân” và ban tổ chức Đảng. Việc kiểm soát Ban Tổ chức, được gọi là Orgburo trong tiếng Nga, là yếu tố thiết yếu trong mọi tổ chức theo chủ nghĩa Lenin, vì ban này chịu trách nhiệm bổ nhiệm đảng viên vào tất cả các vị trí chủ chốt và sau đó giám sát họ. 54
Để đào tạo sĩ quan cho đội quân cách mạng mới, một học viện quân sự đã được thành lập tại Whampoa (Hoàng Phố), nằm trên một hòn đảo trên sông Châu Giang, cách Quảng Châu khoảng mười kilômét về phía đông. Học viện này, với một pháo đài và các trường quân sự có từ những năm 1870 – thời điểm Trung Quốc lần đầu tiên cố gắng hiện đại hóa quân đội – đã được khánh thành vào tháng 6 năm 1924. Nơi đây sẽ trở thành trung tâm chỉ huy của cuộc cách mạng.
Tưởng Giới Thạch được bổ nhiệm làm chỉ huy trưởng, trong khi Borodin thiết kế chương trình giảng dạy, dựa trên mô hình do Trotsky phát triển cho Hồng Quân. Chương trình này đặt việc giáo dục chính trị lên trên hết. Borodin giảng dạy cách ngày, cùng với các giáo viên người Nga không nhận lương khác, trình bày các bài giảng về Cách mạng Nga, chủ nghĩa đế quốc, phong trào cách mạng thế giới, kinh tế chính trị, chủ nghĩa xã hội và các chủ đề khác. Đợt đầu tiên gồm 574 học viên nội trú được tuyển chọn từ các tỉnh khác nhau, tham gia khóa học kéo dài sáu tháng, với phần lớn chi phí do Moscow chi trả. 55
Số lượng sinh viên được phân công làm công tác tuyên truyền tăng nhanh chóng, bởi các Soviet đã thiết lập một hệ thống trong đó các chính ủy (chính ủy) được bổ nhiệm ở cấp cao nhất trong quân đội để đảm bảo lòng trung thành của sĩ quan và binh lính. Borodin đã chọn các đảng viên Đảng Cộng sản cho các vị trí này, cho phép những người cách mạng như Chu Ân Lai nắm quyền kiểm soát bộ phận chính trị tại Whampoa. Vào cuối năm 1925, một báo cáo gửi về Moscow tự hào cho biết rằng “các đảng viên Cộng sản đang đứng đầu hầu hết các ban chính trị [trong quân đội]; một số thậm chí còn đảm nhiệm các chức vụ chỉ huy.” 56
Borodin thúc đẩy việc thành lập thêm các công đoàn, tài trợ hào phóng cho chúng bằng nguồn quỹ từ Moscow. Liao Zhongkai (Liêu Trọng Khải-廖仲愷), một người ủng hộ Đảng Cộng sản thân cận với Borodin, trở thành giám đốc hoạt động công đoàn, thành lập một văn phòng với biểu tượng búa liềm treo trên cửa. Profintern – cánh tay của Comintern đại diện cho các công đoàn – đã đến Quảng Châu, thành lập những gì một nhà sử học mô tả là “một làn sóng các công đoàn mới”, mỗi ngành nghề đều có một công đoàn, từ những người kéo xe xích lô và đẩy xe hàng đến thợ xây. 57
Cùng ngày Đại hội Lao động Quốc gia khai mạc tại Quảng Châu, Borodin chủ trì một dự án khác của mình, đó là Đại hội Nông dân Tỉnh lần thứ nhất. Chính Borodin là người đầu tiên đề xuất tịch thu đất đai của các địa chủ vắng mặt và phân phối lại cho người nghèo. Ông bị Sun từ chối, nhưng vẫn kiên trì. Bộ Nông dân, được thành lập vào tháng 2 năm 1924, đã cử các nhà tuyên truyền xuống nông thôn. Phần lớn trong số họ là đảng viên Đảng Cộng sản, được đào tạo tại Viện Đào tạo Phong trào Nông dân bởi một đội ngũ giảng viên chủ yếu là đảng viên Cộng sản. 58
Borodin đã đưa ra các bản thiết kế cho một nhà nước một đảng theo chủ nghĩa Lenin tại Quảng Châu, bao gồm chế độ độc tài tập trung của Đảng, một quân đội được tẩy não về chính trị dưới sự kiểm soát của Đảng và các tổ chức quần chúng nhằm đoàn kết “công nhân và nông dân”. Tháng 10 năm 1924 đánh dấu thử thách lớn đầu tiên của Đảng. Các thương nhân, vốn đã kiệt quệ vì các khoản thuế trừng phạt, đã đình công vào tháng 8. Chủ tịch Phòng Thương mại Tổng hợp đã đặt hàng vũ khí từ nước ngoài để trang bị cho một lực lượng tình nguyện, gồm từ 6.000 đến 12.000 người. Với nhiệm vụ bảo vệ tài sản tư nhân và duy trì trật tự công cộng, các tình nguyện viên này cũng được các thương gia triển khai để phá vỡ các cuộc đình công. Họ trở thành gai trong mắt các công đoàn. Xung đột với Quốc Dân Đảng đang âm ỉ. Khi một con tàu Na Uy chở khoảng 10.000 khẩu súng trường và súng lục cùng nửa triệu viên đạn cập cảng, Tôn Trung Sơn đã ra lệnh cho Tham mưu trưởng thu giữ lô hàng và cất giữ vũ khí tại Học viện Hoàng Phố. Các cuộc đàm phán và những cử chỉ thiện chí diễn ra từ cả hai phía, nhưng phía Liên Xô coi sự việc này là cơ hội để giáng một đòn vào cánh hữu của Quốc Dân Đảng. Một tàu của Liên Xô được cử đến, vận chuyển khoảng 18.000 khẩu súng và một số khẩu pháo vào ngày 8 tháng 10. Hai ngày sau, công nhân, sinh viên và binh lính do Đảng Cộng sản kiểm soát đã diễu hành trên các đường phố để kỷ niệm ngày khởi nghĩa Vũ Xương năm 1911, hô vang các khẩu hiệu cách mạng. Việc cuộc biểu tình có phải là một hành động khiêu khích có chủ ý hay không vẫn chưa rõ ràng, nhưng một cuộc đụng độ đã xảy ra ngay lúc một số vũ khí bị thu giữ đang được trả lại cho các quân y tại bến cảng. Cả hai bên đều bắn loạn xạ, sau đó truy đuổi lẫn nhau trên các con phố, dẫn đến khoảng ba mươi người chết hoặc bị thương nặng. 59
Tình trạng thiết quân luật được ban bố. Tưởng Giới Thạch trang bị vũ khí cho quân đội của mình. Cuộc đối đầu diễn ra vào ngày 15 tháng 10, sau này được gọi là “Thứ Tư Đẫm Máu”. Các thành viên của lực lượng y tế được tổ chức chặt chẽ và cố thủ vững chắc trong mạng lưới ngõ ngách chằng chịt của thành phố. Sau những trận giao tranh ác liệt quanh các rào chắn, phe Quốc dân đảng bắt đầu đổ dầu hỏa vào các rãnh nước và đốt cháy thành phố. Tình trạng cướp bóc diễn ra tràn lan. Đến rạng sáng hôm sau, lửa và gươm đao đã biến thành phố thành một đống tro tàn, với số thương vong lên đến hàng trăm người. Các tàu hơi nước từ Quảng Châu đến Hồng Kông chật cứng người tị nạn. Nhưng Tôn Trung Sơn đã giành được chiến thắng. 60
***
Vào ngày 12 tháng 3 năm 1925, ở tuổi 59, Tôn Trung Sơn qua đời. Ông đã đến Bắc Kinh để gặp Phùng Ngọc Tường (Feng Yuxiang-馮玉祥), người được biết đến ở nước ngoài với biệt danh “Tướng quân Kitô giáo” vì sự nhiệt thành được cho là của ông trong việc rửa tội cho binh lính bằng vòi nước cứu hỏa. Phùng Ngọc Tường đã thống trị phần lớn miền Bắc, và vào ngày 23 tháng 10 năm 1924, ông đã quay lưng lại với các đồng minh để chiếm quyền kiểm soát Bắc Kinh. Vài tháng sau, ông kêu gọi tổ chức một hội nghị thống nhất quốc gia, và Tôn Trung Sơn đã tham dự hội nghị này.
Lúc này, ảnh hưởng của Liên Xô đã lan rộng xa hơn nhiều so với Quảng Châu. Nửa năm trước đó, vào ngày 31 tháng 5 năm 1924, quan hệ ngoại giao chính thức đã được thiết lập giữa Trung Quốc và Liên Xô. Phái bộ Sa hoàng, một tòa nhà hoành tráng từng là nơi cư trú của các nhà ngoại giao và nhân viên của đế chế cũ, đã được bàn giao cho Lev Karakhan. Đại sứ và đoàn tùy tùng của ông đến trong sự hoành tráng, diễu hành qua các con phố trong đoàn xe ô tô với còi hụ vang dội và cờ búa liềm phấp phới. Những dải cờ đỏ được treo quanh các cột của tòa nhà, trong khi những lá cờ khổng lồ của Liên Xô treo lủng lẳng từ các cửa sổ, ban công và cột cờ. 61
Hiệp ước ký kết vào ngày 31 tháng 5 chứa đựng nhiều cam kết. Điều 5 quy định rằng mọi hoạt động tuyên truyền thù địch lẫn nhau phải bị dập tắt. Cả hai nước cũng nhất trí không cho phép trên lãnh thổ của mình các hoạt động hoặc sự tồn tại của bất kỳ tổ chức nào có mục đích sử dụng bạo lực chống lại chính phủ bên kia. 62
Từ nơi ở mới của mình, Karakhan đã lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ chủ nghĩa đế quốc, tuyên bố rằng Liên Xô là cường quốc duy nhất trong số các cường quốc lớn đối xử với Trung Quốc như một quốc gia bình đẳng với đầy đủ quyền chủ quyền. Ngay cả khi ông đi khắp nơi để cố gắng kêu gọi sinh viên địa phương ủng hộ sự nghiệp này, ông vẫn bí mật chuyển nguồn lực đến các lãnh sự quán mới thành lập, nơi các văn phòng của các điệp viên Liên Xô hiện đang tập trung. Tại Thượng Hải, Tòa nhà Lãnh sự đã đón tiếp Văn phòng Thượng Hải của Hạm đội Tình nguyện, Ngân hàng Viễn Đông, Bộ Thương mại Viễn Đông và các cơ quan khác, dẫn đến sự hồi sinh rõ rệt của các hoạt động Bolshevik. 63
Cả khi còn sống lẫn khi đã khuất, Tôn Trung Sơn vẫn cống hiến cho cách mạng, khi phía Liên Xô cố gắng chiếm đoạt thi thể ông. Năm trước đó, Lenin đã được ướp xác, thi thể trắng bệch như đá cẩm thạch của ông được trưng bày trong một lăng mộ. Karakhan đã gửi điện tín đến Moscow yêu cầu một cỗ quan tài bằng kính tương tự, mong muốn tôn vinh Tôn Trung Sơn như “Lenin của Trung Quốc”, bất chấp ý muốn của gia đình ông. Một thỏa hiệp đã được đạt được, khi hai lễ tang được tổ chức tại Bắc Kinh. Sau một nghi lễ Kitô giáo, thi thể ông được rước trong một đoàn rước dài đến Công viên Trung tâm của thành phố, nơi ông được an táng, với một vòng hoa màu đỏ rực được Karakhan đặt trước quan tài của ông. 64
Cũng như việc tranh giành thi thể ông, những người thân cận của ông cũng tranh cãi về những lời trăng trối cuối cùng. Tôn Trung Sơn để lại một bản di chúc mà ông đã đọc cho Uông Tinh Vệ (Wang Jingwei) ghi lại trên giường bệnh. Bản di chúc này được chín người ký xác nhận và chứng thực, và được công bố vào ngày 11 tháng 3, một ngày trước khi Tôn Trung Sơn qua đời. Cùng ngày, một “Thư Tạm Biệt” gửi tới Ban Chấp hành Trung ương Liên Xô được lưu hành, do Eugene Chen (Trần Hữu Nhân-陳友仁), Bộ trưởng Ngoại giao Quảng Châu, và Borodin soạn thảo. Thư bày tỏ mong muốn của Sun Yat-sen rằng Trung Quốc và Liên Xô “sẽ sát cánh bên nhau tiến tới chiến thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại vì sự giải phóng các dân tộc bị áp bức trên thế giới”. Bức thư không ký tên này được công bố tại Moscow vài ngày sau đó. 65
Sau khi qua đời, Tôn Trung Sơn được tôn vinh như một vị thánh, di chúc của ông trở thành tài liệu bắt buộc phải đọc trong các nghi lễ của Quốc Dân Đảng. Hàng nghìn sinh viên, lãnh đạo công đoàn và các chính trị gia thuộc nhiều phe phái khác nhau đã đến viếng. Tuy nhiên, bước ngoặt thực sự không phải là sự ra đi của Tôn Trung Sơn, mà là một cuộc bạo loạn tại Thượng Hải vài tháng sau đó, trong đó có hơn chục người thiệt mạng.
Giống như Phái bộ tại Bắc Kinh, Lãnh sự quán Liên Xô tại Thượng Hải đã tổ chức lễ khai trương chính thức với quy mô hoành tráng, bao gồm vô số biểu tượng màu đỏ và đèn điện. Và cũng giống như cơ quan đại diện tại thủ đô, nơi đây đã tận dụng cơ hội này để tuyên truyền tại các trường học và đại học. Đáng chú ý nhất trong số đó là Đại học Thượng Hải, được thành lập năm 1922 với sự hỗ trợ tài chính từ Quảng Châu bởi một cựu chiến binh Quốc dân đảng tên là Yu Youren (Vu Hữu Nhiệm-于右任) và do Qu Qiubai (Cù Thu Bạch), một đảng viên Đảng Cộng sản nổi tiếng, làm hiệu trưởng. Chen Duxiu là chủ tịch trường. Khi cảnh sát khám xét khuôn viên trường vào cuối năm đó, họ đã phát hiện ra những “bài báo kích động chống ngoại bang”, trong đó có không ít hơn một trăm cuốn sách tiếng Nga về các chủ đề xã hội chủ nghĩa. Các bức tường ký túc xá được trang trí bằng những bức ảnh của các nhà lãnh đạo Liên Xô. Vào ngày 8 tháng 2 năm 1925, trường đại học này đã tổ chức một buổi lễ tưởng niệm đặc biệt để vinh danh Lenin, với sự tham dự của quyền Tổng Lãnh sự Liên Xô. 66
Vài tháng sau đó, khi một công nhân tên là Gu Zhenghong bị bắn chết tại một nhà máy bông của Nhật Bản, bốn sinh viên từ Đại học Thượng Hải bắt đầu vận động công nhân tại Nhà máy Nagai Wata. Điều trớ trêu là điều kiện làm việc tại nhà máy này thuộc hàng tốt nhất, chủ sở hữu là một nhà từ thiện, người kiên quyết yêu cầu phải cung cấp trường học, nhà trẻ và các cơ sở từ thiện khác nhằm đảm bảo phúc lợi cho toàn bộ nhân viên. 67 Trong những tuần tiếp theo, các công đoàn đã huy động sự ủng hộ cho các cuộc đình công quy mô lớn, thành công trong việc khiến một số khu vực của thành phố tê liệt. Tuy nhiên, bốn sinh viên này đã bị bắt giữ và dự kiến phải ra tòa vào ngày 30 tháng 5. Cùng ngày đó, các nhóm sinh viên đông đảo đã xuống đường để thể hiện sự ủng hộ, đọc một bức điện tín từ Quảng Châu hứa hẹn hỗ trợ tài chính cho tất cả những người đình công. Tình hình trở nên căng thẳng, với những cuộc ẩu đả giữa người biểu tình và cảnh sát dẫn đến một số vụ bắt giữ. Tuy nhiên, tại một ngã tư đông đúc gần Trạm Cảnh sát Louza trên đường Nam Kinh, đám đông người đi bộ bị đẩy về phía trước, khiến những người ở phía trước khó có thể lùi lại. Thanh tra Edward Everson, người đang bảo vệ cổng trạm cảnh sát cùng với các cảnh sát Ấn Độ và Trung Quốc xếp thành hình bán nguyệt, đã hét lên một lời cảnh báo nhưng không ai nghe thấy, sau đó hoảng loạn và ra lệnh bắn. Trong cuộc hỗn loạn sau đó, một số người đã bị bắn chết, những người khác tử vong vì vết thương tại bệnh viện. Ngày hôm sau, những người biểu tình phẫn nộ đã nổi loạn, tấn công các tuyến xe điện và các biểu tượng khác của chính quyền thành phố trong Khu định cư Quốc tế. Một cuộc tổng đình công lan rộng như lửa cháy vào ngày 2 tháng 6, ảnh hưởng đến khoảng 35.000 công nhân. 68
Vụ việc này đã phơi bày tiêu chuẩn kép vốn có trong chế độ ngoại giao và hệ thống cảng hiệp ước. Như Hiệp hội Sinh viên Trường Đại học Thanh Hoa đã nêu rõ vào ngày 6 tháng 6, “dù sự khiêu khích có mạnh mẽ đến đâu, các nguyên tắc công lý và chính nghĩa đã bị vi phạm” trong vụ bắn chết những công dân không vũ trang. Một Ủy ban Quốc tế gồm các thẩm phán được thành lập để điều tra vụ việc đã đồng tình với quan điểm này, và sáu tháng sau đó kết luận rằng “các công dân nước ngoài tại Trung Quốc đã không tính đến các nguyên tắc tự do và độc lập mà chính họ đã truyền bá khắp Trung Quốc bằng lời nói và hành động, và thế hệ trẻ đang trỗi dậy đã tiếp thu những nguyên tắc đó một cách nhanh chóng.” 69
Sự phẫn nộ lan rộng với tốc độ chớp nhoáng. Tại Chiết Giang (Zhenjiang còn được phiên âm là Chinkiang), một trung tâm giao thông quan trọng ở ngã ba sông Dương Tử và Đại Kênh, sinh viên đã xông vào Khu nhượng địa Anh, hành hung tổng lãnh sự và cướp bóc đồ đạc cùng tài sản của ông. Một vụ bạo loạn khác xảy ra tại Cửu Giang (Jiujiang), sâu hơn về phía thượng nguồn sông Dương Tử, khi những người biểu tình tấn công công dân Anh và Nhật Bản. Họ cũng đốt cháy Ngân hàng Đài Loan. Tại Hán Khẩu (Hankou), một đám đông đã phá hủy các cửa hàng của người Nhật và tấn công chủ sở hữu của họ. Một người đã thiệt mạng, thi thể của ông bị “nhét xuống cống thoát nước và phải mất rất nhiều công sức mới có thể vớt lên được”. Sau đó, các sinh viên cố gắng xông vào Khu nhượng địa Anh để chiếm vũ khí từ kho vũ khí. Sau khi vòi rồng được phun vào đám đông mà không có tác dụng, súng cảnh cáo được bắn lên trời, cũng không mang lại kết quả. Như một biện pháp cuối cùng, các tình nguyện viên địa phương bên trong khu nhượng địa đã nổ súng, giết chết tám người và làm bị thương nhiều người khác. 70
Borodin, hơn ai hết, hiểu rõ sự nhiệt huyết của những sinh viên trẻ khi họ đón nhận những lý tưởng mới, và họ dễ dàng bị cuốn hút bởi viễn cảnh về một xã hội mới nơi chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa tư bản bị xóa sổ. Họ là lực lượng mới, và ông đã bồi dưỡng họ ngay từ những ngày đầu. Họ tỏa ra khắp mọi miền đất nước. Tại Trùng Khánh, như viên lãnh sự Pháp đã ghi nhận, một số sinh viên địa phương đã khơi dậy được tinh thần yêu nước vào đầu tháng 6, nhưng chỉ sau khi những nhà hoạt động trẻ từ Quảng Châu đến, phong trào mới thực sự bùng nổ, khi những diễn giả kêu gọi tổng đình công xuất hiện ngay cả ở những “làng nhỏ nhất”. Vào ngày 4 tháng 7, những người biểu tình đã cướp phá tài sản của người nước ngoài và tấn công lực lượng chính phủ. Trật tự chỉ được lập lại sau khi thị trưởng tuyên bố rằng những kẻ gây rối sẽ bị bắn. 71
Từ Bắc xuống Nam, cả nước vang dội tiếng kêu gọi chống chủ nghĩa đế quốc. Một nhà quan sát sắc sảo đã báo cáo rằng các sinh viên “bằng cách la hét và đe dọa giết chóc, đốt phá, hủy diệt đang chi phối mọi thứ, thậm chí cả các quan chức”. “Còn công lý cho ngày 30 tháng 5 thì sao?” một thanh niên đã hỏi một cách tu từ trong thư gửi cho biên tập viên của một tạp chí nước ngoài. “Công lý không thể đạt được bằng lời nói, mà chỉ có thể bằng quân đội và hải quân. Nói cách khác, Sức mạnh là Công lý.” Đó là một kết luận dường như không thể tránh khỏi đối với những thanh niên chân thành khác. Wang Fanxi (Vương Hoàn [Phàm] Tây-王凡西), người sau này sẽ cống hiến cả cuộc đời cho cách mạng, đã quay lưng lại với Hu Shi (Hồ Tích) sau ngày 30 tháng 5 để theo phe Trần Độc Tú (Chen Duxiu). 72
Tuy nhiên, tại Quảng Châu, sự việc này ban đầu hầu như không gây ra tác động gì. Cái chết của Sun Yat-sen đã khiến thành phố rơi vào tình trạng bấp bênh, bởi những lính đánh thuê mà ông thuê vào tháng 2 năm 1923 ngày càng lo ngại trước sự chuyển hướng của Quốc Dân Đảng về phía Moscow. Vào ngày 6 tháng 6 năm 1925, họ đã tổ chức một cuộc nổi dậy. Cuộc nổi dậy này đã thất bại thảm hại, khi Quốc Dân Đảng đáp trả bằng lực lượng gồm 3.000 học viên Học viện Hoàng Phố và binh lính địa phương. Một cuộc truy quét có hệ thống đã được tổ chức sau khi những kẻ nổi dậy đầu hàng vài ngày sau đó, với đám đông đánh chết hoặc ném xuống sông hàng trăm binh lính đã ép buộc người dân địa phương phải phục vụ cưỡng bức. Những người khác bị “đập vỡ đầu hoặc mổ bụng” bởi binh lính của Li Fook Lum (Lí Phúc Lâm-李福林), một đồng minh của Quốc Dân Đảng. Tổng lãnh sự Mỹ ước tính số người chết là 1.500. 73
Đó là một cuộc tàn sát đẫm máu, nhưng phe Quốc dân đảng đã giành chiến thắng, cuối cùng hoàn toàn kiểm soát thành phố. Ngay lập tức, họ bắt đầu tận dụng vụ nổ súng ở Thượng Hải làm công cụ tuyên truyền để giành sự ủng hộ và củng cố thêm vị thế của mình. Ngày 20 tháng 6, các công đoàn lao động dưới sự chỉ huy của họ bắt đầu cuộc đình công, với hy vọng làm tê liệt hoạt động thương mại ở Hồng Kông, lặp lại cuộc đình công của thủy thủ ba năm trước. Một cuộc biểu tình quy mô lớn chống chủ nghĩa đế quốc đã được lên kế hoạch. Một ngày sau, các cường quốc ký Hiệp ước nhận được thông tin rằng sinh viên có ý định hy sinh bản thân bằng cách tấn công khu nhượng địa trên đảo Sa Diện (Shameen viết là Shamian theo cách phiên âm hiện đại), một hòn đảo nhỏ với các công trình kiến trúc thuộc địa bằng đá granit và gạch, được bao phủ bởi hoa giấy, nằm dưới bóng râm của những cây đa khổng lồ. Hòn đảo này, được khai hoang từ một vùng đầm lầy, được nối với thành phố bằng hai cây cầu bắc qua một con kênh hẹp chứa nước đọng từ sông Châu Giang. Nơi đây ngay lập tức được gia cố bằng dây thép gai, bao cát và súng máy. Vào ngày 23 tháng 6, Tổng Lãnh sự Anh đã liên hệ với chính quyền thành phố, cảnh báo về nguy cơ khiêu khích: “Tôi viết với giọng điệu nghiêm túc này để sau này không ai có thể nói rằng những khẩu súng của chủ nghĩa đế quốc tàn bạo đã tùy tiện thảm sát những thanh niên Trung Quốc vô tội.” 74 Vào lúc 2 giờ 30 chiều, một đoàn diễu hành gồm hàng chục nghìn người biểu tình đã đến con đường đối diện Shameen. Ban đầu trông giống như một cuộc diễu hành trật tự, nhưng sau đó sinh viên và các thành viên Hướng đạo sinh bắt đầu vẫy cờ và biểu ngữ, hô khẩu hiệu dưới sự chỉ đạo của một số kẻ kích động. Lính, do các sĩ quan cưỡi ngựa dẫn đầu, bắt đầu chiếm vị trí dưới hiên các cửa hàng dọc theo con đường. Bất ngờ, một phát súng được bắn ra từ phía người Trung Quốc. Đoàn người tan rã trong hỗn loạn, mọi người đổ xô tìm chỗ trú ẩn. Hai phát súng nữa tiếp theo, cùng với những gì các nhân chứng phía nước ngoài khẳng định là “một loạt đạn súng trường dày đặc”. Một thương nhân tơ lụa người Pháp bị trúng đạn vào đầu và tử vong ngay lập tức. Lính Anh và Pháp đáp trả bằng hỏa lực. Một sự bình lặng căng thẳng chỉ được khôi phục sau hai mươi phút. Hơn năm mươi người biểu tình bị giết bởi hỏa lực súng máy quét qua hai cây cầu, bao gồm hai mươi ba học viên và nhân viên quân sự từ Học viện Hoàng Phố. 75
Vụ việc đã gây chấn động thành phố, với hàng chục nghìn người đổ ra đường đòi trả thù. Các cửa hàng bị cấm bán hàng hóa nước ngoài, trong khi cuộc tẩy chay đã làm tê liệt hoạt động vận tải giữa Quảng Châu và Hồng Kông. Chỉ trong vòng một tuần, nền kinh tế của thuộc địa thuộc Vương quốc Anh đã bị tê liệt, cảng biển chật kín những con tàu hơi nước nằm im. Một làn sóng người đình công ồ ạt đổ về từ Hồng Kông, tạm trú trong các ngôi nhà bị chính quyền thành phố trưng dụng. Theo một chuyên gia quân sự Liên Xô, người dân lúc đó phẫn nộ đến mức “chỉ cần một lời nói vô ý cũng đủ khiến đám đông hàng nghìn người này ùa vào tấn công Shameen”. Toàn bộ chiến dịch này đã nâng cao đáng kể uy tín của chính phủ cách mạng, cô lập các thành phần ôn hòa và củng cố mặt trận thống nhất giữa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản. 76
Một số người Nga đã đề xuất một chiến dịch quân sự chống lại Hồng Kông, với lý do rằng “một tuyên bố chiến tranh công khai chống lại chủ nghĩa đế quốc sẽ làm dâng cao làn sóng phong trào cách mạng dân tộc trong nước và dẫn đến cuộc chiến tranh công khai trên diện rộng chống lại bọn ngoại bang”. 77 Ý tưởng này đã bị bác bỏ, nhưng hy vọng về một cuộc cách mạng có thể làm lung lay phe đế quốc đã được thắp lại tại Moscow. Sau khi Stalin đã thực hiện các bước đi nhằm chống lại Trotsky và cái gọi là “Phái Tả Đối lập”, vào năm 1925, ông đã thiết lập liên minh với Nikolai Bukharin. Bukharin, tác giả của cuốn “ABC về Chủ nghĩa Cộng sản” được nhiều người đọc và là tổng biên tập của Pravda – tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản – là một nhà lý luận có uy tín, coi chủ nghĩa đế quốc là một hệ thống kinh tế phụ thuộc vào thị trường quốc tế, đặc biệt là Trung Quốc. Ông tin rằng một phong trào chống ngoại bang ở Trung Quốc sẽ tạo ra điều kiện khiến người châu Âu không thể buôn bán, từ đó dẫn đến sự phá sản kinh tế trong nước và hậu quả là một cuộc cách mạng bạo lực trên đường phố. Đó là một lý thuyết đã được củng cố khi cuộc tẩy chay tàn phá Hồng Kông. 78
Sự hỗ trợ từ Moscow ngày càng gia tăng. Borodin, người đã khởi hành cùng một nhóm nhỏ cố vấn quân sự vào năm 1923, đến cuối năm 1925 đã có hàng trăm điệp viên dưới quyền chỉ huy của ông. Một cuộc điều tra chi tiết đã liệt kê tên của 88 “lãnh đạo cấp cao nhất của Comintern”, trong khi đến năm 1926, có khoảng 691 người Nga được đăng ký tại Lãnh sự quán Liên Xô. “Ở khắp mọi nơi, và thâm nhập vào từng bánh răng nhỏ nhất trong bộ máy chính trị và quân sự, ảnh hưởng của Liên Xô đã len lỏi một cách hòa bình”, Ma Su – người từng là đại diện cá nhân của Tôn Trung Sơn tại Washington – đã nhận định. 79
Dòng chảy diễn ra theo cả hai chiều, đặc biệt sau khi một trung tâm đào tạo cách mạng và tuyên truyền viên được khai trương tại Moscow vào ngày 7 tháng 11 năm 1925, trùng với kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười. Đại học Sun Yat-sen, tọa lạc gần Điện Kremlin trong một tòa nhà rộng lớn với sảnh trung tâm được trang trí bằng đèn chùm pha lê và nội thất sang trọng, đã đón nhận một nghìn sinh viên trong hai năm tiếp theo. Ngay cả khi người dân Nga bình thường phải xếp hàng dài suốt đêm trước các cửa hàng với hy vọng có được một phần thịt nhỏ theo định mức, các sinh viên lại được ăn uống đầy đủ và mặc quần áo tươm tất, cùng với khoản trợ cấp hào phóng do Moscow cấp. Trong số các sinh viên sau này trở nên nổi tiếng có Đặng Tiểu Bình, biệt danh là “Cannon Nhỏ” vì vóc dáng thấp bé và thái độ hung hăng. Tuy nhiên, nhiều người trong số họ là con trai và con gái của các thành viên có ảnh hưởng trong Quốc Dân Đảng, bao gồm cả Chiang Ching-kuo (Tưởng kinh Quốc), con trai 15 tuổi của Tưởng Giới Thạch. 80
Borodin cũng phân phát vũ khí một cách hào phóng. Giá trị của số vũ khí được cung cấp cho Quảng Châu vào tháng 10 và tháng 11 năm 1925 dao động từ 1 đến 1,5 triệu rúp. 81
Ngoài Quảng Châu, Moscow đã cố gắng tìm kiếm một đồng minh ở phía bắc, không chỉ để bảo vệ Đường sắt Đông Trung Quốc ở Mãn Châu. Đến nay, Moscow đã thành lập được tám trung tâm tuyên truyền Bolshevik trong khu vực, tất cả đều được tài trợ bởi Harbin (Cáp Nhĩ Tân) – thành phố đã phát triển thịnh vượng sau khi người Nga chọn nó làm trung tâm hành chính cho khu nhượng địa đường sắt của họ vào năm 1898. Với những đại lộ rộng rãi, lát đá phẳng phiu và những tòa nhà tân cổ điển uy nghi gợi nhớ đến Paris, Harbin đã thu hút hàng chục nghìn người di cư từ Đế quốc Nga. Công dân từ nhiều quốc gia khác cũng làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp, ngân hàng và thương mại bắt đầu phát triển rực rỡ nhờ sự xuất hiện của tuyến đường sắt. Tuy nhiên, khi phe Quốc dân đảng và phe Cộng sản, dưới sự chỉ đạo của Comintern, cố gắng tổ chức một cuộc diễu hành sau sự kiện Thượng Hải, họ đã thất bại. Vào ngày 17 tháng 6 năm 1925, hàng chục kẻ kích động từ Quảng Châu và Thượng Hải đã bị bắt giữ, cùng với 40 người Nga và Hàn Quốc làm việc cho Comintern. Một làn sóng bắt giữ tiếp theo diễn ra tại các thành phố khác ở Mãn Châu. 82
Moscow đổ lỗi cho Trương Tác Lâm (Zhang Zuolin) về thất bại này. Là một người đàn ông gầy gò, nhỏ con với đường nét khuôn mặt sắc sảo và đôi bàn tay thanh mảnh, phong thái hiền lành của ông che giấu bản tính tàn nhẫn; Trương Tác Lâm lần đầu tiên nổi tiếng khi chiến đấu bên cạnh quân Nhật trong Chiến tranh Nga-Nhật năm 1904. Đến năm 1920, vị nguyên soái này đã trở thành tổng đốc Mãn Châu, một khu vực chiến lược được cả Nga và Nhật Bản thèm muốn. Sau khi Trương đàn áp các hoạt động của phe Bolshevik dọc theo tuyến đường sắt, Tổng Lãnh sự Liên Xô tại Cáp Nhĩ Tân đã trở về Moscow, báo cáo với cấp trên rằng hệ thống giám sát tinh vi do vị nguyên soái này phát triển với sự giúp đỡ của phe Nga Trắng đã khiến việc tuyên truyền cộng sản trở nên bất khả thi. 83
Moscow đã tìm thấy một đối trọng trong Feng Yuxiang (Phùng Ngọc Tường). Khi Sun Yat-sen đang nằm trên giường bệnh chờ chết, vị Tướng Kitô giáo này bắt đầu nhắm đến vị trí của ông, tự coi mình là một lựa chọn phù hợp để lãnh đạo một chiến dịch thống nhất quốc gia. Tuy nhiên, vũ khí và đạn dược là điều cần thiết. Người Nga, mặt khác, lo ngại rằng sau khi Sun qua đời, Quốc Dân Đảng có thể từ chối chủ nghĩa cộng sản. Ngay cả trước khi Sun trút hơi thở cuối cùng, họ đã đồng ý giúp đỡ Feng. Vào tháng 4, một nhóm gồm 29 cố vấn quân sự đã đến Kalgan (sau này được gọi là Zhangjiakou), một cửa ngõ chiến lược qua Vạn Lý Trường Thành trên con đường dẫn đến Nga, nơi vị Tướng theo đạo Cơ Đốc đã thiết lập bản doanh. Họ được Moscow chi trả toàn bộ chi phí và giúp huấn luyện các sĩ quan về việc sử dụng pháo binh, súng máy, kỵ binh và bộ binh. Các xưởng sản xuất được chuyển đổi thành kho vũ khí, sản xuất đạn dược liên tục. Vũ khí được chuyển giao, bao gồm 27.000 khẩu súng trường, 90 khẩu súng máy, yên ngựa kỵ binh (“6 chiếc trong số đó chưa hoàn thiện”) và ba máy bay. Tuy nhiên, Feng đã chống lại nỗ lực của các cố vấn nhằm đưa các chính ủy và đảng viên cộng sản vào quân đội. 84
Tuy nhiên, vào tháng 1 năm 1926, vị Tướng theo đạo Thiên Chúa này đã bị đối thủ chính của mình là Trương Tác Lâm đuổi khỏi Bắc Kinh. Feng lùi bước để tránh những tổn thất thêm, và thực hiện một chuyến hành hương đến Liên Xô. Đến tháng 5, ông đã có mặt tại Moscow, nơi ông viếng lăng Lenin và phát biểu những bài diễn văn hùng hồn, khẳng định với khán giả rằng ông là “con của một người công nhân”. “Ông ta đã lừa gạt tất cả mọi người,” một nhân chứng kể lại. Stalin hứa sẽ cung cấp thêm vũ khí, trị giá 6 triệu rúp vàng, vào tháng 8 năm đó. “Moscow cung cấp vũ khí miễn phí và còn chi trả chi phí vận chuyển các lô hàng,” theo một chuyên gia. 85
Đến mùa hè năm 1926, Moscow đã thành công trong việc thành lập các đạo quân hoàn chỉnh tại Trung Quốc, trang bị, huấn luyện và chỉ huy chúng thông qua một bộ máy nhân sự khổng lồ, sẵn sàng chiến đấu chống lại chính chính phủ mà họ đã ký hiệp ước công nhận.

Chú thích:
1
David Andress, The Terror: The Merciless War for Freedom in Revolutionary France, New York: Farrar, Straus & Giroux, 2005, p. 147; Simon Schama, Citizens: A Chronicle of the French Revolution, New York: Alfred A. Knopf, 1989, pp. 668–9.
2
Karl Marx, ‘Provisional Rules of the Working Men’s International Association’, Karl Marx and Friedrich Engels, Collected Works, vol. XX, New York: International Publishers, 1985, pp. 14–16.
3
Rosa Luxemburg, The Essential Rosa Luxemburg, Chicago, IL: Haymarket Books, 2007, p. 90.
4
Victor Serge and Natalia Sedova Trotsky, The Life and Death of Leon Trotsky, Chicago, IL: Haymarket Books, 2015, p. 15; James Ryan, ‘ “Revolution is War”: The Development of the Thought of V. I. Lenin on Violence, 1899–1907’, Slavonic and East European Review, 89, no. 2 (April 2011), pp. 248–73.
5
PRO, FO 371/13239, Shanghai Publicity Bureau, ‘New Bulletin’, Aug. 1928, p. 19.
6
Jennifer Siegel, For Peace and Money: French and British Finance in the Service of Tsars and Commissars, Oxford: Oxford University Press, 2014, pp. 169–71.
7
Peter Neville, Mussolini, Abingdon: Routledge, 2015, p. 46.
8
Joseph Fletcher, ‘The Heyday of the Ch’ing Order in Mongolia, Sinkiang and Tibet’, trong Dennis Twitchett and John K. Fairbank (eds), The Cambridge History of China, Cambridge: Cambridge University Press, 1978, vol. 10, part 1, pp. 375–85; Pär Cassel, Grounds of Judgment, New York: Oxford University Press, 2012, p. 8.
9
- L. P. Dennis, ‘The Origin of the “Open Door” ’, Current History, 27, no. 5 (Feb. 1928), pp. 651–3.
10
Về các cuộc đàm phán tại Versailles, xem Bruce A. Elleman, Wilson and China: A Revised History of the Shandong Question, London: Routledge, 2002.
11
PRO, FO 371/8040, ‘Bolshevism in China’, 4 July 1922, p. 3.
12
Liu Jianyi, ‘The Origins of the Chinese Communist Party and the Role Played by Soviet Russia and the Comintern’, luận văn tiến sĩ, York University, 2000, pp. 123–6; Công trình của Liu là tiên phong trong việc hiểu rõ tầm quan trọng của các tài liệu lưu trữ Bộ Ngoại giao và sử dụng chúng để làm nổi bật vai trò then chốt của các điệp viên từ Moscow trong sự phát triển của chủ nghĩa cộng sản tại Trung Quốc.
13
Li Dazhao, ‘The Victory of Bolshevism’, trong Jonathan Spence et al. (eds), The Search for Modern China: A Documentary Collection, New York: W. W. Norton & Company, 1999, pp. 236–8, with stylistic changes.
14
Liu, ‘The Origins of the Chinese Communist Party’, pp. 132–3.
15
PRO, FO 371/5341, A. D. Blackburn, ‘Summary of Intelligence of the Shanghai Intelligence Bureau’, Aug. 1920, p. 208.
16
Liu, ‘The Origins of the Chinese Communist Party’, pp. 101–3.
17
PRO, FO 371/6612, ‘Weekly Report of the Special Bureau of Information’, 27 Nov. 1920, p. 106; PRO, FO 371/6602, G. C. Denham, ‘Bolshevism and Chinese Communism’, 9 Aug. 1921, p. 120; về Centrosoyuz, xem cả Liu, ‘The Origins of the Chinese Communist Party’, p. 104.
18
PRO, FO 371/5341, G. C. Denham, ‘Memorandum respecting Bolshevism in the Far East’, 7 April 1920, pp. 83–4.
19
Abel Bonnard, In China, New York: E. P. Dutton, 1927, p. 126.
20
MAE, 513PO/A/428bis, Chengdu Consulate, ‘Télégramme Circulaire du Ministère de l’Intérieur’, 24 Feb. 1921.
21
MAE, 513PO/A/428, ‘L’action bolchévique en Chine’, 30 April 1925, pp. 15–17; cả NARA, RG 263, SMP, box 1, document 5, D. S. McKeown, ‘History of the Communist Movement in Shanghai’, 8 May 1933.
22
Marie-Claire Bergère, Sun Yat-sen, Stanford, CA: Stanford University Press, 1998, pp. 257–8.
23
Ibid., p. 274.
24
Tony Saich, Finding Allies and Making Revolution: The Early Years of the Chinese Communist Party, Leiden: E. J. Brill, 2020, pp. 19–20.
25
PRO, FO 228/3211, 2 Nov. 1919, được trích trong Liu, ‘The Origins of the Chinese Communist Party’, p. 143; PRO, FO 371/6602, G. C. Denham, ‘Bolshevism and Chinese Communism’, 9 Aug. 1921, p. 121.
26
PRO, FO 371/5340, Shanghai Intelligence Bureau Report for June 1920, 14 July 1920, p. 39; Ishikawa Yoshihiro, The Formation of the Chinese Communist Party, New York: Columbia University Press, 2013, p. 90.
27
PRO, FO 371/6602, G. C. Denham, ‘Bolshevism and Chinese Communism’, 9 Aug. 1921, p. 120.
28
Ishikawa, The Formation of the Chinese Communist Party, p. 90.
29
Hollington K. Tong, ‘Russian Soviet Would Befriend China’, Millard’s Review of the Far East, 5 June 1920, p. 24; câu quan trọng nhất là “Chính phủ Soviet trả lại cho nhân dân Trung Quốc tuyến đường sắt Đông Trung Quốc- mà không đòi hỏi bất kỳ khoản bồi thường nào.” Các nhà sử học thường đề cập đến “Tuyên bố Karakhan ngày 25 tháng 7 năm 1919” và sự đón nhận nồng nhiệt của nó tại Trung Quốc trong phong trào Ngũ Tứ, nhưng văn bản này chỉ đến được Irkutsk vào tháng 2 năm 1920; bản tiếng Pháp chỉ được Chủ tịch Ủy ban Cách mạng Tỉnh, Iakov Davidovich Ianson, chuyển đến Bắc Kinh vào ngày 26 tháng 3; xem M. V. Kryukov, ‘Vokrug “Pervoi Deklaratsii Karakhana” po Kitaiskomu voprosu, 1919’, Novaia i novei-shaia istoriia, no. 5 (2000), pp. 30–43; việc Tuyên ngôn được gửi đến muộn đã được ghi nhận rõ ràng trong tác phẩm của Chow Tse-tsung, The May 4th Movement: Intellectual Revolution in Modern China, Cambridge, MA: Harvard University Press, 1960, p. 211.
30
MAE, 513PO/A/428bis, Military Attaché, ‘Bolshevisme en Extrême-Orient’, 25 April 1921; ‘Résumé des Renseignements’, 23 June 1921.
31
MAE, 513PO/A/428bis, M. Beauvais, French Consul in Canton, ‘Le mouvement socialiste à Canton’, 19 May 1921; tiêu đề của tờ báo là Huzhu ribao.
32
Claude Cadart, Mémoires de Peng Shuzhi: L’envol du communisme en Chine, Paris: Gallimard, 1983, pp. 205–7; Shanghai: Laodong jie, Beijing: Laodong sheng; nói chung, xem Yoshihiro, The Formation of the Chinese Communist Party, pp. 168 ff., and Saich, Finding Allies and Making Revolution, pp. 61–2.
33
Saich, Finding Allies and Making Revolution, pp. 70–7.
34
Ibid., p. 69; PRO, FO 371/6602, G. C. Denham, ‘Bolshevism and Chinese Communism’, 9 Aug. 1921, p. 119.
35
PRO, FO 371/8040, G. C. Denham, ‘Anarchism and Communism in Canton’, 25 July 1922, p. 27.
36
NARA, RG 59, file 893.000/3817, được trích trong C. Martin Wilbur, Sun Yat-sen: Frustrated Patriot, New York: Columbia University Press, 1976, p. 324, f. 74; John Foord, ‘New Hope for China’, New York Times, 26 Sept. 1920.
37
Saich, Finding Allies and Making Revolution, pp. 89–92.
38
Ibid., pp. 92–6, 109, 112 and 122.
39
‘Minutes of the Second Congress of the Communist International’, Seventh Session, 30 July 1920; xem cả Hu Shi, ‘China in Stalin’s Grand Strategy’, Foreign Affairs, 1950.
40
MAE, 513PO/A/428, ‘L’action bolchévique en Chine’, 30 April 1929.
41
- B. Powell, ‘Red Envoy to Peking Opposes Chinese Soviet’, Chicago Daily Tribune, 27 Jan. 1923; viện trợ và hỗ trợ từ Liên Xô được giữ bí mật.
42
‘Canton is Army’s Aim’, Los Angeles Times, 4 Feb. 1923.
43
MAE, 513PO/A/542, ‘La question sociale au Kouang-Tong en 1923’, 20 Feb. 1924; Harry A. Franck, Roving through Southern China, New York: The Century Co., 1925, pp. 266–71.
44
Brian T. George, ‘The State Department and Sun Yat-Sen: American Policy and the Revolutionary Disintegration of China, 1920–1924’, Pacific Historical Review, 46, no. 3 (Aug. 1977), pp. 400–2; Bergère, Sun Yat-sen, p. 313.
45
‘Telegram from A. Joffe to H. Sneevliet’, 1 May 1923, reproduced in Tony Saich, The Origins of the First United Front in China: The Role of Sneevliet [Alias Maring], Leiden: E. J. Brill, 1991, vol. 2, p. 527.
46
Alexander V. Pantsov, Victorious in Defeat: The Life and Times of Chiang Kai-shek, China, 1887–1975, New Haven, CT: Yale University Press, 2023, pp. 88–9.
47
Robert Service, Trotsky: A Biography, Cambridge, MA: Harvard University Press, 2009, p. 310; the orators are mentioned in Cadart, Mémoires de Peng Shuzhi, pp. 331–2.
48
Ghi chú của Baranovsky về Cuộc gặp giữa Đoàn đại biểu Quốc Dân Đảng và Trotsky, ngày 27 tháng 11 năm 1923, trong Mikhail L. Titarenko et al. (eds), VKP(b), Komintern i Kitai: Dokumenty (The All-Union Communist Party of Bolsheviks, the Comintern and China: Documents), Moscow: AO ‘Buklet’, 1994, vol. 1, p. 307; Chiang, ‘Diary’, 27 Nov. 1923, được trích trong Guoshiguan (eds), Jiang Zhongzheng nianpu changbian, Taipei: Guoshiguan, 2014, vol. 1, p. 226; bài phát biểu của Tưởng Giới Thạch được đề cập trong Edna Lee Booker, News is my Job: A Correspondent in War-torn China, New York: Macmillan, 1940, p. 181.
49
Nghị quyết về Vấn đề Phong trào Giải phóng Dân tộc ở Trung Quốc, ngày 28 tháng 11 năm 1923, trong Titarenko, VKP(b), Komintern i Kitai, vol. 1, pp. 308–11; Chiang, ‘Diary’, 28 Nov. 1923, được trích trong Jiang Zhongzheng nianpu changbian, vol. 1, p. 228; kết luận của Tưởng: Thư gửi Liao Zhongkai, 14 March 1924, trong Chiang Kai-shek, Soviet Russia in China: A Summing Up at Seventy, New York: Farrar, Straus & Cudahy, 1958, p. 26.
50
- Mitarevsky, World Wide Soviet Plots, Tianjin: Tientsin Press, 1927, p. 131.
51
Ibid., p. 134.
52
Booker, News is my Job, pp. 182–3; Dan Jacobs, Borodin: Stalin’s Man in China from Moscow, Cambridge, MA: Harvard University Press, 1981, pp. 124–5 and 135.
53
Nhật ký này được trích dẫn dài trong A. I. Cherepanov, Zapiski voennovo sovetnika ν Kitae (Ghi chép của một cố vấn Soviet tại Trung Quốc), Moscow: Nauka, 1964, p. 71; Sun Yat-sen, Zhongguo Guomindang diyici quanguo daibiaohui xuanyan (Tuyên ngôn Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Quốc Dân Đảng), Guangzhou: Xinmin yinshuguan, 1924.
54
Jacobs, Borodin, p. 134.
55
MAE, 513PO/A/542, G. Dufaure de la Prade, Consul in Canton, ‘Ecole de bolchévisme à Canton’, 22 Nov. 1924; PRO, FO 371/11621, G. R. V. Steward, Military Attaché, ‘Enclosure’, 21 March 1925; for the curriculum, see HIA, Huston (Jay C.) Papers, box 2, 2 April 1924.
56
Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, p. 34.
57
Jacobs, Borodin, pp. 149–50.
58
Ibid., p. 152.
59
Cherepanov, Zapiski voennovo sovetnika ν Kitae, pp. 112–14; Pantsov, Victorious in Defeat, p. 103; ‘30 Chinese Reds Die in Battle in Canton’, New York Times, 13 Oct. 1924; also HIA, Huston (Jay C.) Papers, box 2, Douglas Jenkins, American Consul General, Report on Canton, 13 Oct. 1924.
60
‘Further Fighting Expected as Canton Ruins Smoulder’, Atlanta Constitution, 17 Oct. 1924; ‘War in Canton’, South China Morning Post, 16 Oct. 1924; ‘Fires Set by Reds Burning Fiercely in Canton’, Atlanta Constitution, 16 Oct. 1924.
61
Booker, News is my Job, p. 180.
62
MAE, 513PO/A/428, ‘L’action bolchévique en Chine’, 30 April 1929, pp. 12–13.
63
NARA, RG 263, SMP, box 1, document 5, D. S. McKeown, ‘History of the Communist Movement in Shanghai’, 8 May 1933, p. 8.
64
Booker, News is my Job, pp. 185–7.
65
MAE, 513PO/A/428, ‘Message d’adieu de Sun Yat-sen’, March 1925; Wilbur, Frustrated Patriot, pp. 278–9; Sun Yat-sen, Sun Zhongshan congshu (Collected writings of Sun Yat-sen), Shanghai: Guangyi shuju, 1928, pp. 53–4.
66
PRO, FO 371/10944, Báo cáo của Cục Tình báo Mật, 24 Feb. 1925, pp. 32–3; NARA, RG 263, SMP, box 1, document 5, D. S. McKeown, ‘History of the Communist Movement in Shanghai’, 8 May 1933, pp. 11–12.
67
McKeown, ‘History of the Communist Movement in Shanghai’, pp. 11–12; PRO, FO 371/10944, H. P. King, ‘Developments’, 15 June 1925, p. 237.
68
MAE, 513PO/A/435bis, Báo cáo về Sự cố 30 tháng Năm, 14 June 1925, kể cả bằng tiếng Anh, annex 7, ‘Resume of the Incident of May 30, June 1 and June 2’ dated 22 June 1925.
69
MAE, 513PO/A/435bis, Thư của Hội Sinh viên Trường Đại học Tsing Hua, 6 June 1925; cả E. Finley Johnson, ‘Report of the International Commission of Judges Appointed to Inquire into the Causes of the Disturbances at Shanghai May 30th, 1925’, 9 Nov. 1925, p. 33.
70
PRO, FO 371/10944, H. P. King, ‘Developments’, 15 June 1925, pp. 234–5.
71
Edna Booker đã chỉ ra một cách sắc sảo vai trò then chốt của sinh viên trong việc lan rộng phong trào Cộng sản; xem Booker, News is my Job, p. 189; MAE, 513PO/A/434bis, Fernand Roy, Consul in Chongqing, ‘Agitation anti-Anglaise’, 11 July 1925.
72
Earl A. Seele, Donald of China, New York: Harper, 1948, pp. 239–40; Wang Fanxi, Memoirs of a Chinese Revolutionary, 1919–1949, New York: Columbia University Press, 1991, p. 8; Cheng Woo-fee, letter to the editor, China Press, 5 Jan. 1926, được trích trong Zack Woerner, ‘A Reluctant Imperialist: Justice Elias Finley Johnson and China’s May 30th Movement’, Senior Thesis, Bryn Mawr College, 2012, pp. 62–3.
73
HIA, Huston (Jay C.) Papers, box 2, Douglas Jenkins, Consul General in Canton, Despatch 298 to Secretary of State, 7 May 1925, as well as Douglas Jenkins, ‘Military and Political Situation’, 17 June 1925.
74
PRO, FO 371/11621, p. 79.
75
Các tài liệu chính nằm trong PRO, FO 371/11630 và 11631; một số nhà sử học dường như còn do dự về việc bên nào đã nổ súng trước, mặc dù có rất nhiều nhân chứng, bao gồm Tổng Lãnh sự Đan Mạch, Tổng Lãnh sự Thụy Điển và một Trung úy thuộc Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ; một năm sau, trong các cuộc đàm phán với Tổng Lãnh sự quyền J. F. Brenan, Eugene Chen không thể giải thích tại sao ông lại không yêu cầu tiến hành điều tra vụ nổ súng một năm trước đó; ông đã âm thầm từ bỏ các yêu cầu bồi thường, thay vào đó đề nghị hỗ trợ tài chính để giảm bớt gánh nặng thất nghiệp do cuộc đình công chống Anh gây ra, đề nghị này không ngạc nhiên khi bị từ chối (FO 371/11630).
76
PRO, FO 371/12501, Trích đoạn từ Báo cáo về Quảng Châu sau Sự kiện Shameen của Tướng Galen (Vasily Blyukher), 20 Sept. 1925, p. 204; Kit-ching Chan Lau, China, Britain and Hong Kong, 1895–1945, Hong Kong: Chinese University Press, 1990, p. 180.
77
PRO, FO 371/12501, Trích đoạn từ Báo cáo về Quảng Châu sau Sự kiện Shameen của Tướng Galen, 20 Sept. 1925, p. 204.
78
Mitarevsky, World Wide Soviet Plots, pp. 145–7.
79
‘Soviet Intrigue in Canton’, Hongkong Telegraph, 27 May 1925.
80
Yueh Sheng, Sun Yat-sen University in Moscow and the Chinese Revolution: A Personal Account, New York: Paragon Book Gallery, 1971, pp. 69–70; Gregor Benton (ed.), Prophets Unarmed: Trotskyists in Revolution, War, Jail, and the Return from Limbo, Leiden: E. J. Brill, 2015, pp. 47–51.
81
Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, pp. 51 and 56.
82
MAE, 513PO/A/428, ‘La propagande bolchevique en Chine’, 23 June 1925; cả Báo cáo từ Harbin đề ngày 16/6/ 1925, nhắc đến việc bắt giữ một nhóm 62 người tuyên truyền được Moscow tài trợ.
83
MAE, 513PO/A/428, French Consulate, Harbin, ‘L’action bolchévique en Mandchourie’, bao gồm một báo cáo ngày 28 tháng 6 năm 1925 của Tổng Lãnh sự Grandt gửi Chính Ủy Nhân dân về Ngoại giao tại Moscow, ngày 24 tháng 7 năm 1925.
84
Julie Lien-ying How, ‘Soviet Advisors with the Kuominchun, 1925–1926: A Documentary Study’, Chinese Studies in History, 19, nos 1–2 (Winter 1985), pp. 13–15; Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, pp. 30–5 and 41–9.
85
Mitarevksy, World Wide Soviet Plots, pp. 51 and 114–17; Yueh, Sun Yat-sen University in Moscow, p. 133.