Người phụ trách Văn Việt:

Trịnh Y Thư

Web:

vanviet.info

Blog:

vandoanviet.blogspot.com

Danh ngôn

“Thế giới này, như nó đang được tạo ra, là không chịu đựng nổi. Nên tôi cần có mặt trăng, tôi cần niềm hạnh phúc hoặc cần sự bất tử, tôi cần điều gì đó có thể là điên rồ nhưng không phải của thế giới này.”

Ce monde, tel qu’il est fait, n’est pas supportable. J’ai donc besoin de la lune, ou du bonheur, ou de l’immortalité, de quelque chose qui ne soit dement peut-etre, mais qui ne soit pas de ce monde.

(Albert Camus, Caligula)

.

“Tất cả chúng ta, để có thể sống được với thực tại, đều buộc phải nuôi dưỡng trong mình đôi chút điên rồ.”

Nous sommes tous obligés, pour rendre la realite supportable, d’entretenir en nous quelques petites folies.”

(Marcel Proust, À l’ombre des jeunes filles en fleurs)

.

“Nghệ thuật và không gì ngoài nghệ thuật, chúng ta có nghệ thuật để không chết vì sự thật.”

L’art et rien que l’art, nous avons l’art pour ne point mourir de la vérité.” (Friedrich Nietzsche, Le Crépuscule des Idoles)

.

“Mạng xã hội đã trao quyền phát ngôn cho những đạo quân ngu dốt, những kẻ trước đây chỉ tán dóc trong các quán bar sau khi uống rượu mà không gây hại gì cho cộng đồng. Trước đây người ta bảo bọn họ im miệng ngay. Ngày nay họ có quyền phát ngôn như một người đoạt giải Nobel. Đây chính là sự xâm lăng của những kẻ ngu dốt.”

Social media danno diritto di parola a legioni di imbecilli che prima parlavano solo al bar dopo un bicchiere di vino, senza danneggiare la collettività. Venivano subito messi a tacere, mentre ora hanno lo stesso diritto di parola di un Premio Nobel. È l’invasione degli imbecilli.”

(Umberto Eco, trích từ bài phỏng vấn thực hiện tại Đại học Turin (Ý), ngày 10 tháng 6 năm 2015, ngay sau khi U. Eco nhận học vị Tiến sĩ danh dự ngành Truyền thông và Văn hoá truyền thông đại chúng. Nguyên văn tiếng Ý đăng trên báo La Stampa 11.06.2015)

Ban Biên tập

Địa chỉ liên lạc:

1. Thơ

tho.vanviet.vd@gmail.com

2. Văn

vanviet.van14@gmail.com

3. Nghiên cứu Phê Bình

vanviet.ncpb@gmail.com

4. Vấn đề hôm nay

vanviet.vdhn1@gmail.com

5. Thư bạn đọc

vanviet.tbd14@gmail.com

6. Tư liệu

vanviet.tulieu@gmail.com

7. Văn học Miền Nam 54-75

vanhocmiennam5475@gmail.com

Tra cứu theo tên tác giả

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2026

Giá có một con ma

 Truyện ngắn của Đặng Chương Ngạn

- Chúng tôi còn một biên chế nhưng chỉ sợ em không dám nhận. Đài có một trạm đo mưa trên sườn núi lớn, nhà dân gần nhất cách  xa khoảng 5 km. Nhân viên trực ở đấy mới nghỉ việc. Nếu em trụ được công việc trên đó một năm, chúng tôi ký hợp đồng chính thức. Chậm nhất 2 năm, hay nếu em lập gia đình, chúng tôi sẽ chuyển về làm việc tại Đài khí tượng.

- Có mấy người trực ạ?

- Chỉ được phép bố trí một trung cấp. Nhận, em phải chấp nhận ăn lương trung cấp và trực 24/24 ở đấy. Nếu bỏ việc giữa chừng thì hợp đồng lao động coi như kết thúc.

- Điều kiện ngặt quá!

- Đúng vậy. Ngặt. Nên mới còn chỗ ấy. Đài hàng tháng có trăm người vào xin việc…

Tôi im lặng. Tôi vốn nhát, sợ ma, chưa một lần dám đi đêm một mình ngoài đường vắng, chưa bao giờ dám ngủ một mình. Nay sẽ phải qua đêm ở một ngôi nhà trên sườn núi. Nghĩ đến đó mồ hôi đã túa ra hai bên thái dương, đầu óc tê cứng, lạnh cả lưng và gáy…

Ông trưởng phòng tổ chức, gõ gõ cái bút bi xuống bàn:

- Thôi nhé!

- Là sao anh?

- Là việc này em không nhận được!

- Không. Em nhận. Em nhận!...

Tôi giật nảy mình. Ngạc nhiên với hai tiếng “em nhận” vừa thốt ra từ miệng như một cái máy. Cứ như ai đang nói thay tôi vậy.

Thực ra, tôi cũng không có lựa chọn nào khác. Đã một tháng nay tôi quần nát các công sở trong thành phố phương Nam này để xin việc và nơi nào cũng từ chối. Khoản tiền trại trẻ mồ côi hỗ trợ mang đi đã tiêu gần hết. Tôi vẫn nhớ lời ba nuôi: “Nếu có khó khăn cứ quay về đây. Ba và trại trẻ luôn chào đón con”.  Không lẽ, tôi lại trở về mái ấm, làm phiền ba thêm nữa…

***

Người nhân viên trực điểm đo mưa bỏ việc chứ không phải nghỉ như ông trưởng phòng tổ chức nói. Anh ta nghỉ ngang sau gần một năm bám trụ và không dám qua Đài nhận tháng lương cuối cùng. Trước người nhân viên bỏ việc, trực  điểm đo mưa này, cầm cự luôn 10 năm,  là một phế binh già không vợ, không con. Ông ấy rời khỏi trạm vào thẳng bệnh viện, rồi từ đó đi một mạch về quê, đi luôn khỏi biên chế, nhận sổ hưu.

Khi được dẫn đến bàn giao công việc, tôi hiểu tại sao người nhân viên trước tôi lại bỏ việc, chấp nhận bị bị huỷ hợp đồng.

Điểm đo mưa như một căn nhà hoang, được xây dựng từ thời Pháp, mái ngói, trần rất cao, cửa sổ cuốn vòm bằng gạch. Chỉ có mấy cái máy đo mưa tiêu chuẩn là được thay mới đâu 2-3 năm trước để đảm bảo độ chính xác. Còn lại, có lẽ trăm năm qua, không có một lần tu bổ: mái ngói bám đầy rễ cây dại, tường phủ rêu xanh, lớp vỡ bong tróc, nền gạch đất nung mòn vẹt... Cái giường sắt, bó một chân bị sét mục, bằng thanh gỗ kê sát góc. Một bàn gỗ mọt gặm và cái bếp nấu bằng củi khô lượm quanh nhà kê bằng mấy cục gạch và hai thanh sắt. May mắn người đồng nghiệp khi bỏ việc vẫn để lại nồi nhôm, nồi đất và chén đũa, cái thau nhựa cho đồng nghiệp…

Chiều, hoàng hôn nhập nhoà bao phủ sườn núi, không gian thâm u như chốn rừng hoang. Đêm xuống thì thấu tận tim sự trơ trọi, cô đơn và nỗi sợ hãi khi sống một mình giữa ngọn núi hoang vắng này. Tôi bật sáng tất cả các bóng đèn, mang cây dao bếp vào để ngay cạnh mình, đóng hết các cửa, cài chốt… nhưng không sao ngủ được. Luôn nơm nớp có một con ma nào đó bước vào cửa với mái tóc dài rũ rượi, hay đôi mắt thô lố… Cũng có thể một cánh tay rất dài thọc qua ô cửa sổ vươn tới túm lấy tôi kéo về phía nó. Câu chuyện ma nghe hồi nhỏ: sao chân em dài thế, con bé xin đi xe nhờ ngồi phía sau cười khành khạch: “Chân em còn dài n…ữ…a…” trở về trong tâm trí. Tôi quyết định, ngay khi mờ sáng, sẽ đi một mạch xuống núi…

Nhưng sáng hôm sau, tôi không xuống núi, những đồng tiền cuối cùng còn trong túi,  buổi chiều qua, tôi đã mua chăn, mền, mấy ký gạo, trứng… Bây giờ, không thể mang mấy thứ đó xuống núi và cũng không còn tiền để đủ mua một vé xe trở về với trại mồ côi.

Buổi sáng đó, thay vì xuống núi tôi đi ra điểm đo mưa vào lúc 6g00. Theo quy định mỗi ngày tôi phải đo 04 lần vào lúc 0g00, 6g00, 12g00, 18g00. Đêm hôm sau, tôi bớt sợ ma hơn. Đêm sau nữa, đã dám mở mấy cánh của sổ để lấy gió…

Khoảng một tuần thì tôi không còn nỗi sợ về ma nữa.

***

Thời gian sau, tâm trạng cô đơn ập xuống.

Nhất là vào những buổi chiều tà, nhập nhoạng, có tiếng vượn hú từ núi sau núi vọng tới. Hàng ngày thui thủi một mình. Biển thì ngay trước mặt, dốc thẳng từ trạm khí tượng xuống, nhìn rất gần, chỉ hơn trăm mét chim bay nhưng không có lối đi, muốn đến bãi biển phải vòng vèo hơn chục km. Tôi chỉ biết loanh quanh trong cái nhà trạm trăm tuổi. Khi nhớ tiếng người thì xuống chợ, hay chạy qua rẫy của một người dân cách đấy 5 km. Người làm vườn ở đấy hình như sống cô đơn quên mất luôn tiếng nói, rất lâu mới thốt lên được vài câu cụt ngủn.

Nhiều khi tôi hát to một bài hát không có đầu đuôi xua tan sự vắng lặng đến rợn người. Nhiều khi ngồi một mình trước sân, chìm trong sự tĩnh lặng, tôi bất ngờ thốt lên: “Giá có một con ma”. Kỳ lạ, một kẻ sợ ma đến đái cả ra quần khi nghe tiếng động quanh nhà, nay hết hẳn sợ ma. Bây giờ, nếu có một con ma tóc dài miên man, miệng răng nhơn nhởn xuất hiện, tôi cũng không hề run rẩy, sẵn sàng mời con ma ngồi xuống bên cạnh để trò chuyện.

Có hôm, một mình uống cạn lít rượu đế, say, tôi đi loạng quạng đi loanh quanh khu rừng bên cạnh, vừa đi, vừa gào lên: “Ma ơi! Ma!”.

“Giá có một con ma!”. Nhưng chẳng có con ma nào xuất hiện. Trong tâm trạng gần như suy sụp, với chút tiền lương dành dụm được của một năm trên núi, tôi quyết định cuối tháng, nhận được tháng lương cuối, sẽ bỏ việc. Sẽ đi tìm một việc mới… Cho dù như vậy, tôi bị huỷ hợp đồng và không còn có cơ hội để tiếp tục công việc với nghề kỹ sư khí tượng đã học.

***

Quanh trạm đo mưa, có rất nhiều cây sứ trắng cổ thụ trăm tuổi. Có lẽ, có từ thời người Pháp xây dựng cái trạm trên núi này. Bốn mùa trắng một màu hoa và rụng phủ đầy trên mặt đất.

Một chiều, nhìn ra, hết sức bất ngờ, thấy một cụ già đang lúi húi nhặt hoa. Cổng đóng, không biết cụ đi vào bằng lối nào. Thấy tôi, cụ lên tiếng: “Xin anh nhặt ít hoa sứ”. Tôi nói như reo: “Cụ cứ nhặt thoải mái đi! Con chỉ mong có người nhặt đỡ phải dọn vườn!”. Thực ra, chưa bao giờ tôi dọn vườn, hoa lá rơi cứ thế phủ dày từng lớp.

Cụ già ngoài bảy mươi, lưng hơi còng, tóc bạc trắng, cắt tỉa ngang vai cho gọn. Chân tay gầy, mảnh khảnh như em bé. Tôi hỏi cụ nhặt hoa sứ làm gì. Cụ cười trơ cả lợi vì mấy cái răng cửa đã rụng mất: “À, bà nhặt phơi khô bán cho các tiệm thuốc. Họ bảo hoa sứ khô chữa được rất nhiều bệnh: tiêu đườm, trừ ho, hạ huyết áp… À, cả bong gân, trật khớp, mụn nhọt…”. Rồi lại cười trơ lợi, hiền từ: “Cũng kiếm được chút tiền phụ con cháu lo cơm nước!”.

Từ đấy, ngày nào cũng thấy cụ ngoài vườn, dưới mấy gốc cây sứ, với cái giỏ tre… Tôi để mở cổng để cụ ra vào bất cứ lúc nào. Cứ nhìn thấy tôi là cụ bắt chuyện. Có lần cụ bước đến bên cửa sổ hỏi xin tôi nước đun sôi để nguội: “Già vẫn mang theo một bình nhưng xế chiều thì uống hết. Phơi thân dưới nắng, nên mau khát. Nhiều lần, tính hỏi anh nhưng ngại làm phiền”. Tôi lấy cho cụ ly nước. Và, từ hôm đó, tôi đặt một bình nước dưới gốc cây sứ cổ thụ  gần đấy, để cụ tiện dùng: “Chỉ là nước đun sôi để nguội, cụ cứ tự nhiên nhé!”. Cụ lại cười, trơ cả lợi: “Phiền anh quá!”.

Có lần, cụ mang cho tôi mấy trái xoài đã chín vàng.
- Cụ đừng tốn tiến mua trái cây cho con, cụ qua nhặt hoa là vui rồi.

Cụ cười, chỉ tay vào ngôi nhà cách đó khoảng 500 m, cũng ở trên lừng chừng quả núi bên kia:

- Không mất tiền mua. Xoài nhà. Vườn có những mấy cây xoài!

Cái ý định rời bỏ công việc tôi lần chần sau khi gặp cụ già. Rồi tan biến mất lúc nào không hay. Thấm thoắt, tôi ở trên núi đã hơn hai năm, vượt thời gian quy định. Tôi nhắc ông trưởng phòng tổ chức thực hiện cam kết, kiếm người thay, đưa tôi về Đài khí tượng dưới thành phố làm công việc kỹ sư. Ở trên núi lúc này, tôi không cảm thấy buồn nữa, nhưng tôi muốn được xuống núi để đi học tiếng Anh buổi tối và học thêm về nghiệp vụ.

Mấy tháng đã qua, vẫn không thấy phòng tổ chức bố trí người. Tôi gọi điện thoại gặp ông trưởng phòng, ông nói đang tìm nhân sự mới, nhưng chưa có ai chịu lên núi. Ông ấy còn nói thêm: Tôi đã thuyết phục giám đốc rút ngắn thời gian trực trên trạm xuống 12 tháng, vậy mà vẫn không tìm được người. Tôi tâm sự với cụ già nhặt hoa chuyện bực bội ấy. Cụ cười trơ cả lợi: “Việc gì cũng phải kiên nhẫn, không việc gì đúng được như ý mình đâu!”.

***

Tự nhiên tôi phát bệnh, khắp người nổi ban đỏ, mặt đỏ lựng sần sùi như một trái cam sành. Cụ già nhặt hoa ghé thăm với hộp sữa, sờ trán, bắt mạch cho tôi rồi phán như một bác sỹ: “Bị dị ứng bởi phấn hoa. Cậu báo ngay cơ quan và bác sỹ cấp cứu rời khỏi nơi đây không bị nặng sẽ không thở được”. Cụ mang gạo mới lên, nấu cho tôi một nồi cháo cá thơm lựng, gia vị có đủ hành, ngò và mấy lát gừng.

Tôi báo cơ quan, chưa gọi bệnh viện, nhưng ngày hôm sau có xe cấp cứu dừng ở đường lộ ngoài xa, y tá mang cáng vào tận trạm đưa tôi lên xe. Tất nhiên, tôi vào viện, bắt buộc Đài khí tượng phải kiếm người lên núi thay vì không thể thiếu người trực ở trạm một ngày nào. Nghe nói cậu kỹ sư mới, đưa yêu sách Đài phải trả đúng lương kỹ sư dù chỉ làm việc của một trung cấp và Đài chấp nhận.

Suốt thời gian tôi điều trị, bệnh viện không tìm ra được nguyên nhân gây bệnh, họ ghi tên bệnh theo chính lời tôi nói: Dị ứng phấn hoa và đó chính là lời cụ già nhặt hoa nói với tôi. Chăm sóc tôi là một cô y tá trẻ, xinh đẹp mới ra trường, tóc để dài gần chạm gót. Giọng nhẹ và êm ngọt như mía lùi. Qua ngày thứ ba, thấy không có ai đến thăm tôi ngoài ông trưởng phòng tổ chức bên Đài khí tượng, cô ấy hỏi tôi một cách thân tình:

“Anh có người nhà gần đây không để em báo cho họ biết?”.

Tôi kể với cô ấy: Tôi sinh ra trong một trại trẻ mồ côi, thân thích của tôi là người bố nuôi, chủ trại trẻ ở mãi ngoài miền Trung.

“Vậy bạn bè?”

Tôi lại phải kể với cô ấy: Tôi mới vào thì nhận việc trực trạm đo mưa trên núi, trong cơ quan chỉ tiếp xúc với ông trưởng phòng tổ chức, chưa kip quen ai làm việc cùng Đài khí tượng, bên ngoài càng không quen.

Cô y tá buồn rầu kết luận: Vậy anh là kẻ tứ cố vô thân giống em rồi. Hoá ra, y tá nữ cũng là trẻ mồ côi, một ngôi chùa dưới chân núi nhận nuôi cô ấy khi mới bảy tháng tuổi, lớn lên đi học trường y rồi về đây làm việc. Không có người thân nên cô ấy hầu như ở lại trực bệnh viện.

“Nếu anh cần gì thì gọi em lúc nào cũng được. Muốn nhờ gì em giúp. Coi như em là người nhà”.  Y tá Thuý nhìn tôi với một nụ cười thân thiện, gần gũi. Hình như chưa có ai cười với tôi như vậy.

Tôi nằm viện. Cứ mỗi lần sắp rời bệnh viện thì cả người lại phát ban đỏ rực đến cả bác sỹ cũng kinh ngạc không hiểu sao lại vậy, lại phải điều trị tiếp.  Vì vậy, hơn hai tháng, tôi mới được ra viện. Lúc ấy, tôi và Thuý đã như người nhà. Ra viện, Đài bố trí tôi làm việc ngay thành phố và phân cho một căn phòng nhỏ.

***

Tôi cưới vợ, chính là cô gái y tá Thuý.

Khi Thuý chuẩn bị sinh bé trai, tôi biết phải kiếm một người chăm sóc vợ và con trai ít nhất trong mấy tháng đầu. Tôi nghĩ ngay đến cụ già nhặt hoa sứ. Tôi quyết định sẽ gặp điều đình với cụ, trả tiền công cho cụ cao hơn khoản thu nhập kiếm được từ hoa sứ. Tôi lên trạm đo mưa vào buổi chiều, thời gian mà cụ thường có mặt ở đấy. Tôi nói chuyện vui với người nhân viên mới, kể lại nhiều kỷ niệm ngày tôi trực ở đây rồi đi ra sân,  loanh quanh dưới mấy gốc sứ cổ thụ. Nhưng xế chiều vẫn không thấy cụ xuất hiện.

Tôi quay vào hỏi nhân viên trạm đo mưa:

“Lâu nay, em có gặp cụ già nhặt hoa sứ ở đây không?”

Cậu nhân viên ngơ ngác:

 “Cụ già nào?”

“Một cụ khoảng 70 tuổi. Ngày nào cũng qua đây nhặt hoa sứ về phơi khô bán cho tiệm thuốc.”

Cậu nhân viên lắc đầu:

“Không. Chưa khi nào em gặp cụ. Kể từ ngày em về đây!”

Tôi hối hận vì từ khi xuống núi, tôi gần như quên mất cụ, không một lần ghé thăm. Tôi mua ít hoa qủa rồi tìm đường đến ngôi nhà um tùm cây ăn quả, ở lưng chừng ngọn núi bên kia, mà cụ từng chỉ qua nói nhà cụ ở đấy. Đi vòng vèo cũng hơn chục cây số. Mở cổng đón tôi là một người phụ nữ trẻ. Sau khi nghe tôi nói, người phụ nữ hết sức ngạc nhiên:

“Gia đình tôi ở đây đã 10 năm. Căn nhà này tôi mua, khi chồng tôi chuyển công tác vào đây trông ngọn Hải Đăng. Chúng tôi chỉ có hai vợ chồng và ba đứa con. Bên nội, bên ngoại đều ở ngoài Bắc!”

“Cụ nói  nhà mình có nhiều xoài”

“Vậy à, anh nhìn ra khắp vườn xem. Nhà tôi không có cây xoài nào. Chỉ có sầu riêng, măng cụt, nhiều gốc mít thôi.”

“Hay tôi nhầm. Có nhà ai trong khu này có cụ già không?”

“Tôi không thấy ai có mẹ già. Mẹ già đi nhặt hoa sứ càng không. Và anh nhìn quanh đi, mấy nhà bên cạnh, nhà nào có xoài đâu!”

Đúng vậy, những khu vườn um tùm nhãn, sầu riêng, mít… nhưng không có xoài!

Tôi hết sức thất vọng. Lặng lẽ rời đi. Bước chầm chậm xuống núi khi chiều đang buông. Hoá ra, cụ già cũng không nói thật khi biếu tôi mấy quả xoài cát…

***

Con trai chúng tôi tròn một tuổi. Một hôm đi làm về, nó gọi toáng lên:

“Papa cụ bà ngoại đến chơi!”

Trong nhà, một phụ nữ khoảng năm mươi tuổi bước ra, Thuý chạy theo: “Anh ơi, đây là mẹ ruột em!”.

Câu chuyện quay về 20 năm trước. Chồng mất, khi mẹ mới sinh Thuý được một tháng. Năm 1975, người bà hồi đó 50 tuổi, quyết định gửi đứa cháu bảy tháng tuổi cho một ngôi chùa, hẹn sau này sẽ về nhận lại, rồi đưa mẹ Thuý lên một con thuyền cá ra đi. Thuyền cá nhỏ nhưng chất đến hơn 100 người. Ra đến cửa biển thì chìm. Mẹ Thuý được một con tàu khác cứu, nhưng bà cùng mấy chục người khác thì chìm theo con thuyền hoặc bị sóng cuốn xác vào bờ.

Mẹ qua Úc định cư, tìm được việc làm rồi cưới chồng mới, sinh hai con trai... Nay, mẹ mới có thể quay về được. Gặp lại nhà chùa, họ cho mẹ địa chỉ của Thuý và tôi.

Đó là những ngày tháng vui bất tận của chúng tôi, nhất là Thuý, khi em được biết về gốc gác của mình, khi em được gặp lại người mẹ. Những câu chuyện về qúa khứ của chúng tôi không bao giờ dứt. Mẹ và Thuý cũng tin rằng: Tôi không phải là đứa bé mồ côi, tôi chắc chắn cũng có một gia đình. Sẽ có một ngày, cha mẹ ruột, đến tìm tôi… Nỗi buồn lớn nhất của mẹ: không tìm được một thông tin nào về ngoại, dù đã dò tin tất cả thầy chùa quanh vùng biển và đến tất cả những nơi cần đến.
Gặp chúng tôi rồi, mẹ suốt ngày ngồi chơi với cháu ngoại. Chỉ đôi khi ra ngoài để đến thắp hương viếng chùa, hay tìm gặp bạn bè.

Trước hôm quay trở về Úc, mẹ bảo chúng tôi mặc quần áo, mẹ đưa đến thăm một người quen. Cả nhà chúng tôi đi theo, mẹ dẫn đến một ngôi nhà nhỏ, cửa sơn trắng, trong khuôn viên cũng có mấy gốc sứ cổ thụ.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy mẹ không bấm chuông mà lấy từ trong giỏ chùm chìa khoá, tự mở cổng dẫn chúng tôi vào. Mẹ nói trước sự ngỡ ngàng của hai vợ chồng tôi: Mẹ mua ngôi này cho hai con. Đây không phải là quà của mẹ, mà là quà của ngoại. Khi ra đi, khi gửi Thuý cho chùa ngoại đưa cho sư thầy 25 cây vàng nhờ cất giúp. Chỉ khi bà, hoặc mẹ trở về mới giao lại. Trong trường hợp, bà và mẹ không trở về. Khi Thuý trên 25 tuổi, đã có gia đình riêng, thì giao cho Thuý… Mẹ đã nhận lại số vàng trên, mẹ cúng 10 cây để các sư tu bổ lại ngôi chùa, còn 15 cây, mẹ mua cho các con ngôi nhà này. Mấy ngày qua khi mẹ vắng nhà là mẹ đi tìm mua nhà và lo chỗ ở cho các con…

Mẹ đã mua đầy đủ cho chúng tôi các vật dụng trong nhà. Mẹ mua cả một cái tủ thờ, cánh tủ khảm ngọc trai, đầy đủ đồ thờ, trên đó mẹ treo ảnh ông, bà ngoại và ảnh cha Thuý, ảnh mẹ, gia đình mới của mẹ, phóng to, lồng trong khung kính.

Khi bước đến, thắp hương trước di ảnh ngoại, tôi đứng sững lại.

Người bà trong ảnh nhìn tôi đôi mắt hấp háy cười… chính là bà cụ nhặt hoa sứ trên núi ngày nào: khuôn mặt ấy, từng nếp nhăn, tôi luôn nhớ rõ, đôi mắt ấy, vầng trán ấy, hai cái tai to với dái tai tròn, chỉ cái miệng hai hàm răng trắng đều chưa có răng cửa nào bị rụng…

Sài Gòn tháng 5/2022